Những Chàng Trai Baltimore

Lượt đọc: 1357 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 2 -

Ngày hôm sau cuộc gặp bất ngờ với Alexandra, tôi chỉ giam mình trong phòng. Tôi chỉ ra ngoài khi hoàng hôn buông xuống, trời bắt đầu mát mẻ, để chạy bộ quanh hồ.

Còn chưa biết phải làm gì nên tôi bắt đầu sắp xếp các ý tưởng trong đầu. Tôi lần lượt ghi ra giấy các chi tiết ấn tượng nhất trong câu chuyện về gia đình Goldman ở Baltimore. Tôi vẽ cây gia phả, rồi bổ sung chú thích bên cạnh, đặc biệt là về xuất thân của Woody. Cây gia phả nhanh chóng trở thành rừng rậm với chi chít các chú thích ngoài lề. Thế rồi tôi nghĩ, tốt nhất là phải viết tất cả theo danh mục, như thế thì mọi chi tiết mới rõ ràng. Tôi đặt trước mặt tấm ảnh mà bác Saul tìm được cách đây hai năm. Đó là bức ảnh chụp tôi mười bảy năm về trước, bên cạnh ba con người mà tôi yêu quý nhất: hai anh họ tôi nhưng tình cảm cũng như bạn bè là Hillel và Woody, rồi Alexandra. Nàng đã gửi cho mỗi chúng tôi một tấm ảnh này và đều viết ở mặt sau: 

MÌNH YÊU CÁC BẠN, NHỮNG CHÀNG TRAI GOLDMAN.

Hồi đó nàng mười bảy, hai anh họ tôi và tôi vừa mười lăm. Nàng có đầy đủ tố chất khiến hàng triệu người yêu quý, thế mà chúng tôi không hề phải chia sẻ nàng với ai. Bức ảnh khiến tôi chìm trong nỗi hoài vọng về thời trai trẻ đã qua, trước khi tôi mất hai anh họ tôi, trước cả khi tôi trở thành ngôi sao đang lên của nền văn chương Mỹ, và đặc biệt là trước rất nhiều so với thời điểm Alexandra Neville trở thành diva nổi tiếng như bây giờ. Trước khi cả nước Mỹ phải lòng nàng, mến mộ những bài hát của nàng, trước cả khi Alexandra khuấy đảo hàng triệu người hâm mộ bằng một loạt album mới liên tiếp. Trước cả khi nàng đi lưu diễn khắp nơi, rồi trở thành một biểu tượng quốc gia.

Vào đầu giờ tối, bác Leo vẫn trung thành với thói quen sang bấm chuông nhà tôi.

- Mọi chuyện tốt chứ, Marcus? Từ hôm qua đến giờ tôi chẳng có tin tức gì của anh. Anh có tìm ra chủ của con chó không?

- Có. Chủ của nó là bạn trai người yêu cũ của cháu.

Ông ngạc nhiên hết sức.

- Thế giới thật bé nhỏ. Cô gái ấy tên gì?

- Bác sẽ không tin cháu đâu. Alexandra Neville.

- Cô ca sĩ đó á?

- Dạ, chính là cô ấy.

- Anh biết cô ấy á?

Tôi chạy đi tìm tấm ảnh và đưa cho bác.

- Đó là Alexandra à? - Bác Leo chỉ tấm hình và hỏi.

- Vâng, hồi đó chúng cháu là một lũ thiếu niên sung sướng nhất đời.

- Mấy cậu trai này là những ai thế?

- Hai người anh họ và cháu.

- Thế bây giờ họ làm gì?

- Đó là cả một câu chuyện dài.

Tối hôm đó, bác Leo và tôi chơi cờ tới muộn hơn thường lệ. Tôi rất hài lòng vì ông đến khiến tôi thấy khuây khỏa, giúp tôi thôi nghĩ về Alexandra trong mấy tiếng liền. Thực sự tôi bị xáo trộn vô cùng khi gặp lại nàng. Trong suốt những năm qua, tôi vẫn không quên được nàng.

Ngày hôm sau, tôi không kiềm chế được nên quay lại gần nhà Kevin Legendre. Tôi cũng không biết mình đang hi vọng điều gì. Chắc là có thể gặp lại nàng. Được tiếp tục nói chuyện với nàng. Nhưng chắc nàng sẽ giận chuyện tôi quay lại. Tôi đỗ xe trên con đường song song với đường vào nhà nàng. Bỗng tôi thấy bờ giậu phía đó xao động. Tôi tò mò nhìn chăm chú một lúc lâu và bất chợt thấy con Duke chui ra. Tôi xuống xe và khẽ gọi nó. Nó nhận ra, lại gần tôi để được vuốt ve. Trong đầu tôi nảy ra một ý tưởng phi lí nhưng tôi không cản được. Có thể dùng con Duke để nối lại sợi dây đã đứt với Alexandra chăng? Tôi mở cửa sau và nó ngoan ngoãn nhảy lên. Nó tin tưởng tôi hoàn toàn. Tôi phóng xe thật nhanh về nhà. Nó nhận ra ngôi nhà. Tôi cho nó vào thư phòng, nó nằm xuống cạnh tôi và cứ thế bầu bạn với tôi trong khi tôi tập trung toàn bộ vào viết truyện về gia đình Goldman ở Baltimore.

Cách gọi “gia đình Goldman ở Baltimore” là để phân biệt với gia đình tôi, có bố mẹ tôi và tôi sống ở Montclair. Gia đình tôi được gọi là gia đình Goldman ở Montclair, New Jersey. Rồi dần dần, rút gọn cho nhanh, gia đình tôi được gọi là nhà Montclair, còn gia đình bác Saul là nhà Baltimore. Ông bà chúng tôi nghĩ ra cách gọi này trước để nói chuyện cho dễ, nên tự nhiên họ tách biệt hai gia đình theo hai nơi sinh sống khác nhau. Ví dụ khi tất cả chúng tôi đến Florida nơi ông bà sinh sống để nghỉ lễ, họ có thể nói: “Nhà Baltimore đến vào thứ Bảy còn nhà Montclair tới hôm Chủ nhật”, mới đầu kiểu phân biệt này chỉ là một cách gọi thân thương hai gia đình, nhưng về sau nó cũng trở thành cách để nêu bật đẳng cấp của gia đình Goldman ở Baltimore ngay trong nội bộ dòng tộc. Thực tế tự nó chứng minh: Nhà Baltimore là luật sư kết hôn với bác sĩ, có hai con trai theo học trường tư hàng đầu thành phố. Còn nhà Montclair có bố tôi là kĩ sư, mẹ tôi là nhân viên bán quần áo thời trang của chuỗi cửa hàng ở New Jersey thuộc một tập đoàn ở New York, còn tôi là cậu học trò trường công.

Ngay cả trong cách diễn tả bằng ngôn ngữ gia đình, ông bà tôi cũng gắn liền giọng điệu để thể hiện tình cảm ưu ái đối với nhà Baltimore: lúc thoát ra khỏi miệng ông bà, từ “Baltimore” cứ như thể được mạ vàng, còn “Montclair” như được nhuốm nhớt ốc sên. Những lời khen ngợi lúc nào cũng dành cho nhà Baltimore, còn nhà Montclair chỉ được nhận những lời bôi bác. Nếu vô tuyến nhà ông bà bị hỏng thì chỉ có thể tại tôi điều chỉnh loạn cả lên, nếu như bánh mì không được ngon thì là tại bố tôi mua. Ổ bánh mì bác Saul mang đến luôn tuyệt hảo, còn nếu như tivi lại hoạt động bình thường thì là nhờ Hillel sửa được. Thậm chí, ngay cả ở những tình huống giống hệt nhau thì cách đối xử cũng khác: nếu như một trong hai gia đình về ăn cơm với ông bà muộn, trong trường hợp nhà Baltimore thì ông bà sẽ nghĩ khổ thân chúng nó, chắc là lại bị kẹt xe. Nhưng nếu nhà Montclair chúng tôi tới trễ, ông bà sẽ chắc mẩm chúng tôi không bao giờ biết đúng giờ là gì. Trong mọi trường hợp thì nhà Baltimore đều là đỉnh của cái đẹp, còn nhà Montclair cần phải cố gắng cải thiện cho tốt hơn. Trứng cá hồi cao cấp nhất của nhà Montclair cũng không bao giờ có thể sánh ngang với miếng bắp cải thối của nhà Baltimore. Khi chúng tôi có dịp cùng với nhau đi nhà hàng hay các trung tâm thương mại, nếu như bất chợt gặp người quen, ông bà tôi sẽ giới thiệu thế này: “Đây là Saul, con trai tôi, một luật sư danh tiếng. Đây là con dâu tôi, Anita, một bác sĩ uy tín của bệnh viện Johns Hopkins, đây là cháu tôi Hillel, thực sự là một cậu bé thiên tài.” Thế là mỗi thành viên trong gia đình Baltimore sẽ nhận một cái bắt tay và một cái cúi đầu chào hỏi. Tiếp đó, ông tôi hờ hững giới thiệu gia đình chúng tôi, nói luôn một lèo cả bố mẹ và tôi: “Còn đây là con trai út của tôi và vợ con nó.” Thế là chúng tôi nhận được một cái gật đầu chào khá là giống với cái kiểu người ta gật đầu chào bảo vệ tòa nhà hoặc người giúp việc.

Khi tôi còn nhỏ, có một sự cân bằng hoàn hảo duy nhất giữa hai gia đình Goldman, Goldman ở Baltimore và Goldman ở Montclair, đó là số thành viên mỗi gia đình: hai gia đình chúng tôi, mỗi gia đình đều có ba người. Nhưng nếu như theo thống kê dân số chính thức thì gia đình Goldman ở Baltimore có ba thành viên, còn những người biết rõ gia đình này sẽ nói rằng họ có bốn người. Bởi vì rất nhanh sau đó, anh họ Hillel của tôi, người mà cho đến tận lúc đó vẫn chia sẻ với tôi tất cả những thói hư tật xấu của một đứa con một, đã nhanh chóng may mắn có một cậu em trai. Tiếp theo sau chuỗi sự kiện mà tôi sắp kể chi tiết đây thì người ta rất nhanh chóng thấy bên cạnh Hillel lúc nào cũng kè kè một người bạn không rời nửa bước, một người sẽ không ai tin là lại có thực nếu như không biết: anh tên là Woodrow Finn - hay Woody như chúng tôi thường gọi - đẹp trai, khỏe mạnh, cao ráo, đa tài, chu đáo và luôn có mặt khi chúng tôi cần.

Woody nhanh chóng giành được vị trí của mình trong gia đình Goldman ở Baltimore, anh vừa trở thành một thành viên của gia đình đó, vừa là một thành viên nhà tôi - một người cháu họ, một đứa con trai, một người anh em. Sự tồn tại của anh - sự hòa nhập tuyệt đối của anh - hiển nhiên tới mức mà khi không thấy anh trong buổi đoàn tụ gia đình thì ngay lập tức chúng tôi sẽ hỏi xem anh đâu rồi. Chúng tôi lo lắng không biết Woody có đến không, coi sự có mặt của Woody không chỉ là cho phải phép mà còn là dứt khoát cần thiết, để cuộc sum vầy trọn vẹn. Nếu hỏi bất kì ai còn nhớ những ngày xưa ấy xem gia đình Goldman ở Baltimore có những ai thì họ đều kể tên Woody mà không hề lăn tăn gì. Vậy là họ lại chiến thắng: trong trận đấu giữa Montclair với Baltimore, khi hai bên đang là ba đều thì tỉ số đã được nhanh chóng nâng lên 4-3 nghiêng về phía Baltimore.

Woody, Hillel và tôi là những người bạn thân thiết nhất trên đời. Những tháng năm tươi đẹp của tôi với nhà Baltimore là khi có Woody, trong những năm 1990-1998. Đây vừa là những năm tháng đầy phước lành, lại cũng là những năm tháng tạo nền tảng cho Thảm kịch sau này. Từ hồi lên mười đến khi mười tám tuổi, chúng tôi là bộ ba tuyệt đối không bao giờ tách rời. Chúng tôi giống như kiềng ba chân, bộ tam mà chúng tôi rất đỗi tự hào gọi là “Hội Goldman”. Chúng tôi yêu quý nhau như anh em ruột thịt, chúng tôi trao cho nhau những lời tuyên thệ trọng thể nhất, chúng tôi hòa máu thề mãi trung thành, giữ vững tình huynh đệ vĩnh cửu. Mặc cho tất cả những điều diễn ra sau đó, tôi vẫn tưởng nhớ những năm tháng này như một thời kì đặc biệt: thời kì huy hoàng của ba thiếu niên trên đất Mỹ được thánh thần ban phước.

Đến Baltimore, được ở cùng với họ là tất cả đối với tôi. Tôi cảm thấy được là chính mình toàn vẹn nhất khi ở bên họ. Bố mẹ tôi thật đáng được ca ngợi khi cho phép tôi, vào cái độ tuổi mà rất ít trẻ con được phép một mình đi xa, tự đến Baltimore vào cuối tuần để gặp những con người tôi vô cùng yêu quý. Mỗi chuyến đi đối với tôi đều là bắt đầu một cuộc sống mới. Cuộc sống của tôi được đánh dấu bởi những kì nghỉ học rồi những ngày đi học, những ngày lễ tưởng niệm những người hùng của nước Mỹ. Thời gian trước các đợt lễ Cựu quân nhân Mỹ, ngày Martin Luther King, hay sinh nhật tổng thống Washington luôn khiến tôi cực kì phấn khích, đến độ đứng ngồi không yên. Vinh quang thay những người lính đã hi sinh vì đất nước, vinh quang thay Martin Luther King Jr một con người lỗi lạc, vẻ vang thay các vị tổng thống trung thực và đầy dũng khí đã giúp chúng ta có một ngày nghỉ vào các ngày thứ Hai thứ Ba của tháng Hai.

Để tranh thủ thêm một ngày, tôi xin bố mẹ cho đi thẳng đến nhà bác ngay khi tan học. Khi cuối cùng buổi học cũng kết thúc, tôi vội vàng chạy nhanh như chớp về nhà chuẩn bị hành lí. Túi xách đã sẵn sàng, tôi chỉ còn chờ mẹ đi làm về để chở tôi ra ga Newark. Tôi nóng ruột đứng ngồi không yên trên ghế bành bên cửa chính, chân đi sẵn giày, áo khoác đã mặc sẵn. Tôi thì quá nhanh, mẹ thì quá chậm. Để giết thời gian, tôi ngắm những bức hình chụp hai gia đình đặt trên tủ gỗ ngay cạnh. Tôi thấy dường như nhà tôi hoàn toàn tẻ nhạt trong khi họ lại vô cùng rạng rỡ. Thế mà ở Montclair, một thị trấn xinh đẹp của New Jersey, cuộc sống của tôi thuộc loại vô lo vô nghĩ, sung sướng, chẳng thiếu thốn gì. Nhưng ô tô của chúng tôi không bóng bẩy bằng, chuyện của chúng tôi không hài hước bằng, mặt trời cũng kém rạng rỡ và không khí cũng kém phần trong lành hơn.

Thế rồi, tiếng còi xe của mẹ tôi cũng vang lên. Tôi vội vàng chạy ra ngoài, lên chiếc Honda Civic cũ. Mẹ đang sơn lại móng tay và uống cà phê trong chiếc cốc giấy, ăn bánh mì hoặc đang điền vào một tờ đơn quảng cáo. Đôi khi mẹ làm tất cả cùng một lúc. Mẹ lúc nào cũng sang trọng, chải chuốt và kiểu cách. Xinh đẹp, trang điểm tuyệt vời. Nhưng khi đi làm về, lúc nào trên áo vét của mẹ cũng vẫn có ghim biển đề tên mẹ cùng dòng chữ bên dưới “Luôn sẵn lòng phục vụ” mà tôi thấy vô cùng hèn mọn. Nhà Baltimore được phục vụ, còn chúng tôi thì đi phục vụ.

Tôi trách mẹ về muộn, mẹ xin lỗi tôi. Tôi phụng phịu không chịu, mẹ dịu dàng xoa đầu tôi. Mẹ ôm tôi hôn, để lại dấu son trên má tôi, nhưng mẹ ngay lập tức dùng tay lau đi với cung cách tràn đầy yêu thương. Sau đó, mẹ chở tôi đến nhà ga để từ đó tôi sẽ đón tàu vào đầu giờ tối để đi Baltimore. Trên đường, mẹ bảo mẹ yêu tôi và ngay lúc đó đã thấy nhớ tôi rồi. Trước khi để tôi lên tàu, mẹ đưa cho tôi một cái túi giấy đựng bánh mì kẹp mà mẹ mua ở cùng cửa hàng bán cà phê, sau đó bắt tôi hứa phải “lịch sự và ngoan ngoãn”. Mẹ ôm tôi thật chặt và tranh thủ nhét vào áo tôi một tờ hai mươi đô la, sau đó sẽ nói: “Mẹ yêu con, chú mèo nhỏ của mẹ.” Thế rồi mẹ hôn tôi hai cái vào má, đôi khi là ba hay bốn cái. Mẹ nói một cái không đủ, nhưng tôi lại thấy một đã là quá quắt lắm rồi. Giờ nghĩ lại, tôi hận mình không để cho mẹ hôn lấy cả chục lần mỗi khi chia xa. Tôi hận mình đã bỏ mẹ đi quá nhiều. Tôi còn hận mình vì không biết nghĩ rằng mẹ chẳng ở với ta được bao lâu, hận mình vì đã không yêu mẹ cho đủ.

Chưa đến hai giờ đi tàu, tôi đã đến nhà ga trung tâm Baltimore. Rốt cuộc cũng đến lúc tôi chuyển sang một gia đình khác. Tôi cởi bộ quần áo quá chật của nhà Montclair và khoác lên mình trang phục của nhà Baltimore. Màn đêm bắt đầu buông xuống sân ga, bác Anita đợi tôi. Đẹp như một bà hoàng, rạng rỡ và cao sang như một vị thần, người phụ nữ ấy khiến tôi thời niên thiếu mỗi lần nhớ đến có lúc bàng hoàng ngại ngùng choàng thức dậy lúc nửa đêm. Tôi chạy về phía bác, ôm chầm lấy bác. Tôi vẫn còn cảm nhận được tay bác luồn vào tóc tôi, bác ôm chặt lấy tôi. Tôi nghe thấy bác nói: “Markie yêu quý, bác rất mừng được gặp lại cháu.” Tôi không hiểu tại sao, nhưng lúc nào cũng chỉ có mình bác gái đến ga đón tôi. Lí do chắc chắn là bác Saul phải làm việc đến muộn ở văn phòng và bác gái không muốn kéo Hillel và Woody đi cùng. Còn tôi thì tranh thủ coi bác gái như người yêu: Vài phút trước khi tàu vào ga, tôi chỉnh đốn trang phục, vuốt lại tóc tai ngắm nghía qua kính tàu. Khi tàu dừng hẳn, tôi bước xuống mà tim đập thình thịch. Tôi đã lừa dối mẹ tôi vì một người phụ nữ khác.

Bác Anita lái chiếc BMW màu đen mà hẳn phải bằng một năm tiền lương của cả bố mẹ tôi cộng lại. Lên xe là giai đoạn lột xác đầu tiên của tôi. Tôi đoạn tuyệt với chiếc Honda Civic cũ kĩ, thả mình trong một chiếc xe sang trọng xa xỉ và hiện đại hết cỡ, rồi nó sẽ đưa tôi rời xa trung tâm thành phố, tiến về khu nhà giàu sang chảnh Oak Park. Oak Park là một thế giới khác: vỉa hè rộng hơn, những con phố rợp bóng cổ thụ. Cơ ngơi ở đây thì nhà này lại bề thế hơn nhà nọ, những cánh cổng đua nhau chạm trổ cầu kì. Tôi thấy những người đi dạo ở đây cũng đẹp hơn, lũ chó cảnh cũng thanh lịch hơn, những người chạy bộ vào Chủ nhật ra dáng vận động viên thể thao hơn. Nếu như trong khu tôi ở tại Montclair, nhà cửa trông ra vẻ mến khách vì không nhà nào làm hàng rào thì ở Oak Park, nhà nào cũng xây tường và làm hàng rào bảo vệ. Trên những con phố yên tĩnh ở đây có cả xe an ninh với đèn đặt trên nóc xe nhấp nháy như xe cảnh sát cùng với tấm biển Tuần tra trật tự Oak Park, nhằm làm cho dân chúng cảm thấy yên tâm.

Giai đoạn lột xác thứ hai của tôi là khi chúng tôi đi qua Oak Park: bác Anita khiến tôi cảm thấy mình hơn người. Tất cả dường như quá hiển nhiên: ô tô xịn, khu nhà giàu và sự có mặt của tôi. Nhân viên tuần tra an ninh Oak Park có thói quen vẫy chào người dân khi đi ngang qua, và những người dân liền đáp lại. Cử chỉ đó báo hiệu rằng mọi việc đều tốt đẹp, bộ lạc nhà giàu có thể yên tâm đi lại đây đó. Lúc gặp xe tuần tra đầu tiên, nhân viên trên xe giơ tay chào, bác Anita đáp lại và tôi cũng vội vàng chào. Từ bây giờ, tôi đã là người nhà họ. Đến cổng, bác Anita ấn còi hai lần báo hiệu, rồi bấm điều khiển từ xa mở hai cánh cổng sắt. Bác chạy xe thẳng vào bên trong, đánh xe vào garage bốn chỗ. Tôi vừa xuống thì cũng là lúc cửa vào nhà mở ra, những âm thanh vui vẻ vang lên, hai anh họ tôi từ bên trong chạy bổ về phía tôi, kêu lên những tiếng kêu phấn khích hoan hỉ. Woody và Hillel, những người anh mà cuộc sống không bao giờ muốn trao cho tôi. Lần nào bước vào nhà, tôi cũng đều giương mắt thán phục: tất cả quá đẹp, quá xa hoa, quá bề thế. Garage của họ rộng bằng phòng khách nhà tôi. Bếp của họ to bằng cả nhà tôi. Phòng tắm của họ rộng như phòng ngủ nhà tôi, còn các phòng ngủ của họ thì đủ chỗ cho nhiều thế hệ chúng tôi cùng chung sống.

Mỗi kì nghỉ của tôi cùng gia đình bác chỉ khiến tôi thêm thán phục hai bác, và nhất là sự hoàn hảo tuyệt diệu của bộ ba Hillel, Woody và tôi. Họ như thể là máu, là thịt của tôi. Chúng tôi cùng thích các môn thể thao giống nhau, cùng thần tượng các tác giả văn chương như nhau, cùng mê các bộ phim giống nhau, thích những cô bạn gái giống nhau. Điều đó có được không phải nhờ đồng thuận hay thảo luận, mà là bởi chúng tôi giống nhau. Chúng tôi thách thức cả khoa học và tự nhiên: chúng tôi không chung một cây gia phả nhưng gen của chúng tôi có cùng một kiểu xoắn. Thỉnh thoảng chúng tôi cùng nhau đi thăm bố của bác Anita sống trong nhà dưỡng lão bị chúng tôi gọi là “nhà của người chết”. Tôi còn nhớ ông có mấy người bạn hơi bị suy não, lần nào cũng hỏi ai là Woody, rồi nhầm chúng tôi với nhau. Họ giơ ngón tay cong queo chỉ Woody rồi hỏi không chút ngượng ngùng một câu hỏi cũ xì:

- Cậu này là Goldman ở Baltimore hay Goldman ở Montclair?

Nếu bác Anita trả lời, bác sẽ giải thích bằng một giọng đầy dịu dàng trìu mến:

- Đây là Woodrow, bạn của Hill.

Thế rồi, nếu ngó quanh mà không thấy Woody ở trong phòng thì bác Anita mới giải thích thêm:

- Woody là cậu bé chúng cháu đón về nuôi, cực kì ngoan ngoãn.

Bác Anita không muốn làm cho Woody buồn, thậm chí ngay cả qua giọng nói của bác người ta cũng biết được ngay bác yêu quý Woody như chính con đẻ của mình. Với cùng câu hỏi đó, Woody, Hillel và tôi có cách trả lời khác. Vào những kì nghỉ đông ấy, trong những hành lang đẫm mùi người già, khi những đôi tay nhăn nheo túm lấy quần áo chúng tôi mà hỏi, thì chúng tôi cứ đơn giản hóa để khỏi gây khó khăn cho những trí não đã bị ăn mòn vì bệnh già:

- Cháu là một trong ba anh em họ nhà Goldman.

Giữa buổi chiều, tôi bị ông hàng xóm Leo Horowitz chạy sang quấy rầy. Ông lo lắng vì đã không gặp tôi cả ngày nên sang để chắc chắn rằng mọi việc đều ổn.

- Mọi chuyện đều ổn, bác Leo ạ. - Tôi bước ra khỏi cửa, nói cho ông yên tâm.

Chắc hẳn ông ngạc nhiên vì tôi không mời ông vào chơi, và đồ rằng tôi đang giấu giếm điều gì đó nên ông tiếp tục gặng hỏi, giọng ngập tràn hồ nghi:

- Anh có chắc không đó?

- Hoàn toàn chắc chắn, không có gì đặc biệt đâu, cháu chỉ đang làm việc thôi.

Bất chợt, ông thấy con Duke xuất hiện phía sau tôi, Duke đã thức dậy và ra xem có chuyện gì. Bác Leo trợn mắt.

- Marcus, con chó này làm gì ở nhà anh thế?

Tôi cúi đầu, xấu hổ.

- Cháu mượn nó về nhà.

- Anh làm gì cơ?

Tôi ra hiệu cho nó khẩn trương vào nhà và khép ngay cửa lại. Không ai được phép thấy con chó này ở trong nhà tôi.

- Cháu muốn gặp Alexandra. - Tôi giải thích. - Thế rồi cháu thấy con chó này chạy ra khỏi nhà. Cháu nghĩ rằng có khi mang nó về đây, giữ nó lúc ban ngày rồi đến tối lại mang trả, vờ là nó tự chạy đến nhà cháu.

- Anh điên rồi, anh bạn tội nghiệp. Nói trắng ra thì anh đi trộm chó.

- Cháu chỉ mượn tạm thôi, cháu đâu định nuôi nó luôn. Cháu chỉ giữ nó vài giờ thôi.

Bác Leo vừa nghe tôi nói vừa đi về phía nhà bếp, không hỏi han gì liền mở tủ lạnh lấy chai nước rồi ngồi xuống ghế. Ông thấy phấn khởi vì một việc bất thường xảy ra trong cuộc sống thường nhật giúp ông khuây khỏa. Mặt mũi rạng rỡ hẳn, ông gợi ý:

- Hay chúng ta chơi một ván cờ nhé? Chơi cờ sẽ khiến anh thư giãn đấy.

- Không, bác Leo, cháu thực không có thời gian đâu.

Mặt bác Leo tối sầm lại. Ông đi đến chỗ con chó đang tộp toạp uống nước trong cái nồi đặt dưới sàn.

- Thế thì anh hãy giải thích xem, Marcus: Tại sao anh lại cần con chó này đến thế?

- Vì cháu cần một lí do chính đáng để gặp Alexandra.

- Cái đấy thì tôi hiểu. Nhưng tại sao anh lại cần phải có lí do mới đến gặp cô ấy? Anh không thể cứ thế lịch sự đến chào cô ấy như một người có học, thay vì đi bắt cóc con chó của người ta à?

- Cô ấy yêu cầu cháu đừng liên lạc nữa.

- Tại sao?

- Tại vì cách đây tám năm cháu đã bỏ Alexandra.

- Quỷ quái! Đúng là anh chẳng tử tế gì rồi. Do anh không yêu cô ấy nữa à?

- Ngược lại.

- Nhưng anh lại bỏ cô ấy.

- Vâng.

- Tại sao?

- Tại vì Thảm kịch đó.

- Thảm kịch nào?

- Chuyện dài lắm ạ.

Baltimore

Những năm 1990

Mỗi năm hai lần, tôi được tận hưởng thời gian hạnh phúc với gia đình Goldman ở Baltimore, khi hai gia đình chúng tôi sum họp: một vào dịp lễ Tạ ơn tại nhà bác Saul và một vào dịp nghỉ đông ở Miami, tại nhà ông bà nội. Trong mắt tôi, những buổi sum họp ấy na ná trận đấu bóng. Một bên sân là nhà Montclair, còn bên kia là nhà Baltimore, ở giữa là ông bà Goldman vào vai vị trọng tài đếm bàn thắng thua.

Lễ Tạ ơn là dịp tôn vinh nhà Baltimore hằng năm. Cả đại gia đình tập trung trong dinh cơ lộng lẫy mênh mông ở Oak Park, tất cả hoàn hảo đến từng chi tiết từ đầu tới cuối. Tôi được ngủ cho thỏa nỗi sung sướng trong phòng của Hillel. Woody thì ở phòng ngay bên cạnh nhưng anh kéo đệm sang để chúng tôi được gần nhau ngay cả khi ngủ. Bố mẹ tôi chọn một trong ba phòng ngủ dành cho khách, phòng nào cũng khép kín có phòng tắm và công trình phụ bên trong. Còn ông bà nội thì ngủ ở một phòng khác.

Bác Saul là người đi đón ông bà ở sân bay. Suốt nửa tiếng đồng hồ sau khi họ đặt chân đến nhà Goldman ở Baltimore thì những cuộc đối thoại chỉ xoay quanh chiếc xe hơi sang trọng tiện nghi của bác.

- Trời ơi, nhìn xem này, thật là tuyệt đỉnh! - Bà thán phục khen ngợi. - Chỗ để chân rộng rãi thoải mái, thật chẳng có xe nào bằng. Nathan (bố tôi) này, mẹ nhớ lúc lên xe của con, mẹ đã nghĩ: sẽ không thêm một lần nào nữa! Đã thế còn bẩn nữa, trời ơi! Hút bụi một cái thì mất gì nào? Xe của Saul lúc nào cũng mới coóng như vừa rời xưởng. Da bọc ghế quá hoàn hảo, rõ ràng được giữ gìn chăm sóc rất tỉ mẩn.

Khi không còn gì để nói về ô tô nữa thì bà nội lại bắt đầu trầm trồ đến ngôi nhà. Bà xem mọi ngóc ngách từ ngoài hành lang trở đi cứ như mới đến lần đầu, thán phục gu thẩm mĩ hoàn hảo trong cách bài trí, chất lượng đồ gỗ, đồ nội thất, hệ thống sưởi dưới nền nhà, sự sạch sẽ, hoa trang trí và cả mùi nến thơm phức tỏa khắp các căn phòng.

Trong bữa ăn lễ Tạ ơn, bà nội không ngớt xuýt xoa sự hoàn hảo của các món ăn. Mỗi miếng đưa vào miệng đều khiến bà thốt lên những tiếng kêu say sưa. Quả đúng là bữa ăn rất xôm: xúp bí ngòi, gà tây mềm rán rưới xi rô lá thích và xốt tiêu đen, mì macaroni nấu pho mát, bánh bí đỏ, khoai tây nghiền trộn kem, rau cải tây mọng nước cùng món đậu vô cùng tinh tế. Những món tráng miệng cũng tuyệt hảo, thường là bánh mousse sô cô la, bánh phô mai, bánh hồ đào, bánh táo nướng với lớp vỏ giòn tan. Sau khi ăn và uống cà phê xong, bác Saul đặt một chai rượu mạnh lên bàn, hồi đó tôi chẳng hiểu gì về các loại rượu. Tôi chỉ nhớ ông nội cầm chai rượu trong tay cứ như thể cầm lọ nước thánh và trầm trồ vì cái tên, số năm tuổi và màu rượu. Trong khi đó, bà nội lại tiếp tục tán dương chất lượng bữa ăn, ca ngợi ngôi nhà, thán phục sát đất cuộc sống của gia đình bác Saul, rồi đưa ra kết luận cuối cùng (lúc nào cũng chốt hạ bằng câu này):

- Saul, Anita, Hillel và Woody yêu quý, các con thật trên cả tuyệt vời.

Hồi đó, tôi cũng rất muốn ông bà nội đến Montclair để chúng tôi có thể cho ông bà thấy chúng tôi có những gì. Một lần, khi gần được mười một tuổi, tôi đòi ông bà nội đến nhà.

- Ông với bà khi nào đến Montclair ngủ ở nhà cháu một lần nhé?

Nhưng bà nội trả lời:

- Ông bà không thể đến nhà cháu được đâu, cháu yêu. Nhà cháu không đủ rộng và cũng chẳng đủ tiện nghi.

Cuộc tụ họp lần thứ hai hằng năm của đại gia đình Goldman được tổ chức vào dịp cuối năm ở Miami. Cho đến tận khi chúng tôi mười ba tuổi, ông bà Goldman vẫn sống trong một căn hộ đủ rộng để đón cả hai gia đình. Chúng tôi ở chung với nhau suốt một tuần, không rời nhau lấy nửa bước. Đối với tôi, những ngày nghỉ ở Florida là dịp để chứng kiến ông bà nội thể hiện sự thán phục vô bờ bến đối với gia đình Goldman ở Baltimore, như thể họ là những siêu nhân đến từ sao Hỏa mà suy cho cùng chẳng có điểm gì giống với phần còn lại của gia đình. Tôi có thể thấy rõ ràng sự tương đồng máu mủ hiển hiện giữa ông nội với bố tôi. Bề ngoài hai người rất giống nhau, cung cách cử chỉ cũng giống nhau và cả hai đều mắc chứng cứng kết tràng. Về vấn đề này thì cả hai có thể nói mãi mà không hết chuyện. Chứng cứng kết tràng là một trong những chủ đề trao đổi yêu thích của ông nội. Tôi nhớ ông nội là một người đãng trí, hiền lành, nhẹ nhàng và đặc biệt luôn bị táo bón. Ông đi vệ sinh thong thả như người ta đi ra nhà ga vậy. Ông sẽ kẹp một tờ báo dưới nách rồi thông báo: “Tôi đi vệ sinh đây.” Nói rồi ông hôn nhẹ lên môi bà nội một cái, như kiểu chào tạm biệt lúc người ta tiễn đưa nhau ở nhà ga và bà sẽ nói: “Hẹn chốc nữa gặp lại ông nhé.”

Ông nội lo rằng một ngày nào đó tôi cũng sẽ chịu nỗi bất hạnh của người nhà Goldman không ở Baltimore, tức là cũng bị cứng kết tràng. Ông bắt tôi hứa phải ăn thật nhiều rau giàu chất xơ, không bao giờ được nhịn nếu có nhu cầu “đi nặng”. Buổi sáng, trong khi Woody và Hillel được thỏa sức ăn các loại ngũ cốc ngọt nhiều đường thì ông bắt tôi ăn All-Bran*. Tôi là đứa duy nhất bị bắt ăn, rõ ràng là trong mắt ông nội, nhà Baltimore có những enzym tiêu hóa nào đó mà chúng tôi thiếu. Ông nội cảnh báo tôi các nguy cơ về đường tiêu hóa mà tương lai tôi sẽ mắc phải vì tôi là con của bố:

- Marcus đáng thương của ông, bố con có đại tràng y như ông. Để rồi xem, con cũng không tránh được đâu. Điều quan trọng nhất là phải ăn thật nhiều rau vào, cháu trai ạ. Phải bắt đầu từ bây giờ để giữ gìn hệ tiêu hóa.

Ông đứng đằng sau, đặt một bàn tay lên vai tôi với vẻ thương cảm, bắt tôi phải nhồi nhét ăn thật nhiều All-Bran. Hiển nhiên là vì cố tọng thật nhiều chất xơ nên tôi thường xuyên bị tiêu chảy và phải ngồi trong nhà vệ sinh rất lâu. Lúc đi ra, tôi bắt gặp ánh mắt ông nội nhìn tôi như muốn nói: “Cháu bị rồi à? Thế là xong!” Câu chuyện cứng kết tràng in đậm dấu ấn lên đầu óc tôi, đến nỗi tôi thường ra thư viện thành phố, tra cứu các loại từ điển y khoa về căn bệnh này và để ý phát hiện những triệu chứng đầu tiên của bệnh. Tôi tự nhủ rằng nếu như tôi không bị bệnh thì có thể bởi vì tôi khác, tôi giống người nhà Goldman ở Baltimore. Suy cho cùng, giữa hai người con, người mà ông bà tôi tôn sùng là bác Saul. Còn tôi là con của người này, nhưng lại thường xuyên cảm thấy tiếc nuối vì không phải là con của người kia.

Đối với tôi, sum họp giữa nhà Montclair và nhà Baltimore là biểu hiện của cái hố sâu hoắm chia cắt hai cuộc sống của tôi: chính thức là Goldman ở Montclair, nhưng âm thầm là Goldman ở Baltimore. Tên đệm của tôi là Philip, nhưng tôi hay viết tắt trên nhãn vở hay giấy thi là Marcus P. Goldman. Sau đó, tôi viết thêm một nét khuyết ở chữ P, biến nó thành Marcus B. Goldman. Tôi làm chữ P đôi khi biến thành B. Còn cuộc sống cứ như thể giúp tôi trở nên có lí, đã chơi tôi nhiều vố đau: Khi chỉ có mình tôi ở Baltimore, tôi có cảm giác là thành viên của họ. Lúc lượn lờ chơi quanh khu phố với Hillel và Woody, đội bảo vệ đi tuần chào tất cả chúng tôi và gọi từng đứa bằng tên riêng. Nhưng lúc cùng bố mẹ đến Baltimore để sum họp gia đình vào dịp lễ Tạ ơn, tôi còn nhớ rõ sự xấu hổ chạy rần rần trong người khi chúng tôi vào Oak Park trong chiếc xe ô tô cũ kĩ của gia đình, như thể trên thanh chắn bùn viết rõ ràng rằng chúng tôi không thuộc về đế chế Goldman ở Baltimore. Nếu chạm mặt một đội tuần tra an ninh, tôi sẽ kín đáo giơ tay chào nhưng mẹ tôi vì không hiểu gì nên mắng:

- Markie, con làm trò lố bịch và ngu ngốc gì thế? Sao lại ra hiệu cho cảnh sát? Có thôi ngay không hả?

Hãi hùng nhất là khi chúng tôi bị lạc ở Oak Park. Những con phố loanh quanh lòng vòng ở đây rất dễ làm người ta bị lạc. Mẹ thì bực tức cáu bẳn, bố thì dừng xe lại ngay giữa ngã tư, rồi đôi bên cãi vã xem nên đi hướng nào cho đến khi có một nhóm an ninh xông tới xem chuyện ầm ĩ gì đang xảy ra trong chiếc xe cà tàng, trông rất ư khả nghi này. Bố tôi giải thích cho họ tại sao chúng tôi đến đây, còn tôi thì kín đáo ra hiệu chào mấy nhân viên an ninh theo kiểu thường lệ, mong họ không nghĩ là có một sợi dây quan hệ gia đình giữa hai người xa lạ này và tôi. Thế rồi nhân viên an ninh chỉ đường cho chúng tôi, nhưng đôi khi cũng có người nghi ngờ đến độ thân chinh hộ tống chúng tôi về tận nhà bác Goldman cho chắc chắn rằng chúng tôi là những người đàng hoàng. Nhìn thấy chúng tôi, bác Saul chạy ra ngay.

- Xin chào ông Goldman. - Nhân viên an ninh nói. - Xin lỗi đã làm phiền ông, tôi chỉ muốn đảm bảo rằng họ đúng là khách của ông.

- Cảm ơn Matt, (hoặc là một cái tên khác, tùy theo tấm thẻ tên cài trên ngực mà bác tôi gọi. Bao giờ bác cũng gọi họ bằng tên trên thẻ tên, dù đó là nhân viên nhà hàng, rạp chiếu phim, bốt thu phí cầu đường). Đúng rồi, mọi chuyện đều ổn cả, cảm ơn nhé.

Bác nói: mọi chuyện đều ổn cả, chứ không nói: Matt, anh thật là thô lỗ quá đi, sao anh dám nghi ngờ những con người có cùng dòng máu, da thịt với tôi, cùng bố mẹ với tôi, là người em ruột yêu quý của tôi? Sa hoàng sẽ xử tử bất kì tay lính gác nào dám đối xử với gia tộc của ngài như thế. Nhưng ở Oak Park, bác Saul ca ngợi Matt như con chó bảo vệ trung thành vì đã sủa. Khi nhân viên an ninh đi rồi, mẹ tôi mới nói:

- Vâng, đúng rồi, thế đấy, đi ngay đi, giờ thì anh thấy chúng tôi không phải là phường trộm cắp rồi đấy.

Còn bố tôi thì xin mẹ tôi yên lặng để khỏi bị để ý. Chúng tôi suy cho cùng cũng chỉ là khách mà thôi.

Trong gia sản của nhà Baltimore, chỉ có một nơi duy nhất mà nhà Montclair không hề xâm phạm, đó là dinh thự nghỉ dưỡng ở Hamptons. Vì sở thích tinh tế của mình mà bố mẹ tôi không bao giờ chịu đặt chân tới đây, chí ít là tôi chưa bao giờ thấy. Với những ai không biết Hamptons đã thay đổi thế nào từ những năm sau 1980 thì tôi xin thưa, đó từng là một nơi yên tĩnh và khiêm tốn bên bờ đại dương, nằm ngay cửa ngõ thành phố New York, là một trong những khu nghỉ dưỡng sang trọng bậc nhất bờ Đông. Ngôi nhà ở Hamptons đã tồn tại qua nhiều thế hệ nối tiếp, nhưng bác Saul không bao giờ chán kể lại chuyện bác mua được căn nhà gỗ nhỏ nhắn ở Đông Hamptons mặc cho ai nấy đều chê cười, cho rằng đó là sự đầu tư tồi tệ nhất. Họ đâu biết rằng phố Wall bùng nổ vào những năm 1980, khởi đầu cả một thời kì vàng son cho một thế hệ thương nhân. Sau đó, những người mới phất nhảy bổ về Hamptons, cả vùng đột ngột trở thành khu nhà giàu và giá bất động sản tăng vọt.

Lúc đó tôi còn quá nhỏ nên không nhớ rõ mọi chuyện, nhưng được nghe kể rằng mỗi lần bác Saul thắng một vụ kiện thì ngôi nhà ở Hamptons sẽ được nâng cấp chút đỉnh, cho đến ngày nó bị san phẳng, nhường chỗ cho một ngôi nhà hoàn toàn mới, duyên dáng tuyệt vời và đầy đủ tiện nghi. Không gian rộng lớn, nhiều ánh sáng, thường xuân bao phủ tinh tế, ở phía sau là khu sân trời với những bụi cẩm tú cầu đâm bông xanh và trắng, một bể bơi cùng một cái chòi nhỏ phủ đầy hoa nam mộc hương là nơi mà chúng tôi thường ngồi ăn uống.

Sau Baltimore và Miami thì Hamptons là địa điểm thứ ba mà Hội Goldman chúng tôi tụ tập hằng năm. Năm nào bố mẹ cũng cho phép tôi ở đấy suốt tháng Bảy. Tại đó, trong ngôi nhà nghỉ của hai bác, đánh bạn với Woody và Hillel, tôi đã có những mùa hè sung sướng nhất đời tuổi trẻ. Và chính chỗ đó lại là nơi nảy mầm tai họa. Mặc dù vậy, kí ức lưu lại trong tôi về thời ấy vẫn là những niềm hạnh phúc trọn vẹn nhất. Tôi nhớ lại những tháng ngày hè ấy, tất cả đều giống y hệt nhau, có mùi hương của sự bất tử phảng phất trong không gian. Chúng tôi làm gì ở đó? Chúng tôi sống những tháng ngày tuổi trẻ oai hùng. Chúng tôi chinh phục đại dương. Chúng tôi theo đuổi các cô gái như đuổi theo những cánh bướm. Chúng tôi đi câu. Chúng tôi tìm những mỏm đá để nhảy xuống biển, thách thức cuộc đời.

Nơi chúng tôi thích nhất ở Hamptons là cơ ngơi của một cặp vợ chồng tuyệt vời tên là Seth và Jane Clark. Họ đã khá luống tuổi, không có con và rất giàu - tôi nghĩ ông chồng sở hữu một quỹ đầu tư ở New York. Bác Saul và bác Anita là bạn bè với họ đã nhiều năm. Dinh cơ của họ có tên là Thiên đường trên mặt đất, cách nhà của gia đình Baltimore một dặm đường. Đó là chốn bồng lai tiên cảnh: tôi nhớ có cả một khu vườn xanh rờn cây cối, các cây đậu gỗ sum suê hoa tím, những bụi hồng rực rỡ và một đài phun nước lớn. Phía sau dinh thự, một bể bơi lớn nhìn ra một bãi tắm riêng cát trắng mịn. Ông bà Clark kệ cho chúng tôi tận hưởng, và chúng tôi ở bên nhà họ suốt, hoặc ở bể bơi hoặc ở biển. Họ còn có một chiếc ca nô nhỏ neo tại một cây cầu gỗ, thỉnh thoảng chúng tôi lại dùng để đi khám phá vịnh. Để cảm ơn sự tốt bụng của gia đình ông bà Clark, chúng tôi thường xuyên giúp họ việc vặt, chủ yếu là làm vườn, lĩnh vực chúng tôi làm cực tốt vì những lí do mà lát nữa tôi sẽ giải thích sau.

Ở Hamptons, chúng tôi mất hẳn khái niệm thời gian. Có thể điều đó đã lừa phỉnh tôi, khiến tôi có cảm giác mọi thứ đều vĩnh hằng. Chúng tôi cứ thế mãi, như thể trong thế giới màu nhiệm này, trong những con phố và ngôi nhà này, con người ta có thể tránh được sự tàn phá của thời gian.

Tôi còn nhớ cái bàn tại khoảng sân trước nhà, nơi bác Saul dùng làm “chỗ làm việc”. Ngay cạnh bể bơi. Ăn sáng xong, bác bày la liệt các tập tài liệu, kéo dây điện thoại ra tận đấy, rồi làm việc ít nhất đến tận trưa. Bác thường kể cho chúng tôi nghe các vụ án đang giải quyết mà không hề tiết lộ các bí mật nghề nghiệp. Những giải thích của bác khiến tôi phục sát đất. Chúng tôi hỏi bác tính cách nào để thắng thì bác trả lời:

- Bác sẽ thắng vì bác phải thắng. Dòng họ Goldman không bao giờ thua.

Bác hay hỏi chúng tôi nếu như ở vị trí của bác thì chúng tôi sẽ làm thế nào. Thế là chúng tôi tha hồ tưởng tượng ra mình là những luật gia lừng danh rồi ỏm tỏi nói ra tất cả những suy nghĩ nảy sinh trong đầu. Bác mỉm cười, nói sau này chúng tôi sẽ trở thành những luật sư siêu đẳng và đến một ngày, tất cả chúng tôi có thể làm việc trong hãng luật của bác. Chỉ riêng viễn cảnh này đã khiến tôi mê mẩn.

Vài tháng sau, trong một lần đến Baltimore, tôi vô tình đọc được vài mẩu báo mà bác Anita cắt ra lưu giữ cẩn thận, viết về những vụ án bác Saul xử lí tại Hamptons. Bác Saul lúc nào cũng thắng. Tất cả báo chí đều nói về bác. Tôi còn nhớ một số tít thế này:

GOLDMAN BẤT KHẢ CHIẾN BẠI

SAUL GOLDMAN, LUẬT SƯ KHÔNG BAO GIỜ THẤT TRẬN

GOLDMAN LẠI ĐẠI THẮNG

Bác chưa từng thua trong bất cứ vụ nào. Khi phát hiện ra những chiến thắng của bác, tôi càng say mê và khâm phục bác. Bác Saul của tôi là người bác cao cả nhất và là luật sư vĩ đại nhất trong số các luật sư.

Khi tôi đánh thức con Duke đang say sưa ngủ để chở nó về nhà thì trời đã nhập nhoạng. Nó thích ngủ ở nhà tôi và có vẻ chẳng muốn nhúc nhích tẹo nào. Tôi phải kéo nó ra tận ô tô đậu ngoài cổng, sau đó phải bế nó vào ghế sau. Từ cổng nhà mình, ông Leo thích thú quan sát.

- Chúc may mắn, Marcus, tôi chắc rằng nếu cô ấy không muốn gặp anh nữa thì có nghĩa là cô ấy vẫn còn yêu anh lắm.

Tôi lái xe đến nhà Kevin Legendre và bấm chuông cửa.

« Lùi
Tiến »