- Trải nghiệm -
“Còn hai mươi phút nữa là tới mục tiêu, thưa phi cơ trưởng.”
“OK, hoa tiêu.”
Họ đã phải chật vật vượt qua dàn hỏa lực phòng không được dựng lên làm hàng rào phòng thủ ở ven biển, rồi bẻ ngoặt một góc chính xác theo kế hoạch bay trên vùng lãnh thổ bị chiếm đóng trước khi băng qua vành đai đèn rọi dày đặc bao quanh vùng Ruhr. Trên đường bay của họ có rất ít mây, thi thoảng họ có thể nhìn thấy những ánh đèn ở bên dưới - đó là một nhà máy đang làm việc hoặc một địa điểm không tuân thủ chặt chẽ mệnh lệnh tắt đèn tạm thời. Chốc chốc, những ánh đèn pin hoặc đèn xách tay lại chiếu về phía họ, và vào lúc họ bay qua lãnh thổ Hà Lan, Norman Best, cậu cơ khí viên trầm lặng của họ đã đọc to tín hiệu mã Morse[121] từ một người có thiện ý ở bên dưới, dit-dit-dit-dah[122]. Chữ V trong từ Victory (chiến thắng). Đó là một thông điệp thể hiện sự tin tưởng và an ủi mà họ thường xuyên nhìn thấy.
“Cảm ơn, anh bạn, bất kể anh là ai.” Teddy nghe thấy xạ thủ ở tháp pháo đuôi nói. Xạ thủ ở tháp pháo đuôi là một người Scotland tóc đỏ gầy giơ xương, cậu ta mười tám tuổi và rất lắm lời, nhưng cậu ta luôn cố gắng giữ mồm giữ miệng, chỉ thoải mái liến thoắng khi họ ở trên mặt đất. Tổ bay của Teddy biết rằng cậu ta thường im lặng trên hệ thống liên lạc nội bộ trừ phi có gì cần nói. Họ có thể dễ dàng tán gẫu với nhau, nhất là trên đường trở về, khi tất cả mọi người đều đã thoải mái hơn, nhưng chỉ cần một thoáng lơ là thôi, đặc biệt là đối với các xạ thủ, họ có thể sẽ tiêu đời. Chấm hết.
Giống như cậu xạ thủ ở tháp pháo đuôi, Teddy cũng muốn cảm ơn người đàn ông - hay phụ nữ - Hà Lan vô danh dưới kia. Thật là tuyệt khi biết rằng họ đang được ủng hộ. Họ đang quá tách biệt với mặt đất - ngay cả khi họ đang phá hủy nó bằng những quả bom (có lẽ phải nói rằng đặc biệt là khi họ đang phá hủy nó bằng những quả bom) - đến nỗi thi thoảng họ quên mất rằng có những quốc gia ở dưới kia coi họ là niềm hy vọng cuối cùng.
“Tôi có thể nhìn thấy những vật đánh dấu mục tiêu đang được thả xuống ở đằng trước, thưa phi cơ trưởng, cách chúng ta hai mươi dặm, màu đỏ anh đào.”
“OK, lính cắt bom.”
Đây là phi vụ cuối cùng trong kỳ quân dịch của họ. Họ bứt rứt không yên vì những linh tính chẳng lành. Họ đã đánh bại số mệnh để đi tới được buổi tối hôm nay và đều đang băn khoăn tự hỏi liệu số mệnh có tàn nhẫn đến nỗi đưa họ đi xa tới mức này rồi đốn gục họ không. (Có thể lắm. Họ biết chứ.) “Chỉ một lần nữa thôi, Chúa Jesus ơi, chỉ một lần nữa thôi.” Anh đã nghe thấy cậu lính cắt bom người Úc vô thần lẩm bẩm những lời ấy khi họ ở trên đường băng, đợi ánh đèn Aldis màu xanh lá cây[123].
Họ đã phải rất vất vả mới đạt được đến con số ba mươi cần thiết. Một vài chuyến xuất kích của họ chỉ được tính là một phần ba phi vụ. Những chuyến bay “làm vườn” - tức là rải mìn xuống những con kênh vận tải ở Hà Lan hoặc ngoài khơi bờ biển vùng Frisia - hay những chuyến bay tấn công các mục tiêu ở Pháp chỉ được ghi nhận là một phần ba phi vụ. Nước Pháp bị chiếm đóng được coi là một đất nước “thân thiện”, nhưng dù thân thiện hay không thì nó vẫn đầy rẫy những gã lính Đức đang cố bắn hạ họ. Đúng là họ dễ bị giết chết hơn khi tham gia một cuộc không kích trên bầu trời nước Đức (“Khả năng tử trận cao hơn gấp bốn lần.” Theo lời cô bạn của Ursula ở Bộ Không quân), nhưng chuyến xuất kích nào họ chả phải mạo hiểm tính mạng. Thật là vô lý, Teddy nghĩ. Hoặc, theo cách nói thẳng thắn hơn của cậu lính cắt bom: “Bất công đếch chịu được.” Keith là người đầu tiên lập thành một đội với Teddy ở Đơn vị Huấn luyện Chiến đấu OTU.
Lập đội là một việc bất ngờ khiến phần lớn trong số họ đều kinh ngạc. Tất cả các vị trí cấu thành nên một tổ bay - phi công, hoa tiêu, điện đài viên, lính cắt bom và các xạ thủ - chỉ đơn giản được dồn thành đống vào một nhà chứa máy bay và làm theo lời yêu cầu của Chỉ huy Trạm “Hỡi các chàng trai chân chính, các cậu hãy gắng hết sức mình để tự lập ra những tổ bay xuất sắc nhất nhé”, như thể việc lập đội dựa trên luật hấp dẫn bí ẩn sẽ hiệu quả hơn nhiều so với bất cứ phương thức quân sự nào. Và, kỳ lạ thay, điều đó có vẻ đúng, ít nhất là theo những gì Teddy có thể nhận thấy.
Tất cả bọn họ đều loanh quanh thơ thẩn mất một lúc như một bầy ngỗng trong sân trại vào giờ ăn, có chút lúng túng trước lời yêu cầu của viên chỉ huy. “Cứ như một vũ trường quái quỷ ấy nhỉ, người nào người nấy đều đợi được lọt vào mắt xanh của một cô nàng nào đó.” Keith nói khi cậu ta tiếp cận Teddy và tự giới thiệu mình. “Tôi là Keith Marshall, lính cắt bom.” Bộ quân phục màu xanh dương sẫm của cậu ta cho thấy cậu ta là người Úc.
Đối tượng đầu tiên Teddy nhắm đến là một hoa tiêu nhưng anh thích vẻ ngoài của Keith, và chiến tranh đã dạy cho Teddy một bài học là ta thường có thể nhìn ra tính cách của một người đàn ông từ vẻ ngoài của anh ta: một biểu cảm trong mắt, một cái liếc đây đó, nhưng chủ yếu là một vẻ gì đó mà anh không thể cắt nghĩa được, và anh tự hỏi phải chăng chính vì nét khó hiểu ấy mà anh lập tức có cảm tình với Keith. Đương nhiên, anh cũng từng nghe thấy một thầy huấn luyện nói rằng cậu ta là một “chàng trai cừ khôi, thạo việc”. Và lời khen ấy hoàn toàn đúng. Keith không đủ điều kiện để trở thành phi công (“Không thể hạ cánh thứ chết tiệt đó”) nhưng đã đứng đầu lớp trong khóa học về bom.
Người Úc có tiếng là nóng tính nhưng Keith có vẻ điềm đạm, đôi mắt xanh dương của cậu ta toát lên vẻ đăm chiêu. Cậu ta hai mươi tuổi, lớn lên ở một trại nuôi cừu, và Teddy cho rằng cậu ta đã dành phần lớn cuộc đời để nhìn chằm chằm vào chân trời xa xăm dưới ánh dương chói lóa, trái ngược với những cánh đồng xanh dịu mắt trong thời thơ ấu của Teddy. Anh cho rằng hẳn điều đó đã tạo nên cách nhìn đời của mỗi người.
Keith nói cậu ta đang mong đợi được nhìn thấy một chút gì đó của thế giới, “cho dù chỉ là Đệ tam Đế chế Đức quốc xã bị chìm trong biển lửa”.
Họ bắt tay nhau như những quý ông hào hoa phong nhã, rồi Keith nói: “Chà, phi cơ trưởng, tốt hơn hết là chúng ta nên tiếp tục đi kiếm các thành viên khác thôi, nếu không sẽ chỉ còn sót lại những người không ai cần đến. Chúng ta không muốn lựa chọn những người như vậy, phải không?” Teddy nghĩ, đây là lần đầu tiên một thành viên trong tổ bay của anh (tổ bay của anh!) gọi anh là “phi cơ trưởng”. Anh có cảm giác như cuối cùng mình đã đi đúng đôi giày của mình.
Họ cùng quét mắt khắp nhà chứa máy bay, rồi Keith nói: “Anh có nhìn thấy cậu chàng đang đứng cười bên bức tường đằng kia không? Đó là một điện đài viên. Tối qua tôi đã uống rượu với cậu ấy và cậu ấy có vẻ là một người trung thực.”
“OK.” Teddy nói. Đó có vẻ là một sự tiến cử tốt.
Cậu chàng điện đài viên ấy mười chín tuổi, quê ở Burnley, tên là George Carr. Teddy từng chứng kiến George Carr ngỏ ý sửa xe đạp hộ ai đó, cậu ta nhiệt tình tháo nó ra thành từng mảnh rồi lắp lại nguyên vẹn trước khi đem trả cho chủ nhân của nó và nói: “Đó, tôi cá là nó còn tốt hơn cả lúc mới mua ấy.” Cậu ta nói cậu ta thích mày mò mọi thứ, tính cách đó có vẻ hữu ích đối với một điện đài viên.
Đến lượt George chỉ ra cho họ một xạ thủ trên không, cậu ta cũng quen cậu chàng này trong một đêm chè chén ở nhà ăn tập thể. Cậu chàng tên là Vic Bennett, là người ở đảo Canvey và có điệu cười ngoác tận mang tai (cậu ta là người có hàm răng xấu nhất trong số những người mà Teddy từng gặp). Sau khi được giới thiệu, cậu ta vẫy gọi “một người bạn” cùng học khóa huấn luyện bắn súng với cậu ta. “Tinh như cú.” Cậu ta nói. “Nhanh như chuột. Mà vẻ ngoài cũng hơi giống chuột thật. Một con chuột màu hoe.” Đó chính là cậu chàng người Scot lắm lời. “Kenneth Nielson, nhưng mọi người đều gọi tôi là Kenny.”
Vẫn chưa có hoa tiêu, Teddy nghĩ, hoang mang khi thấy mình bị mất quyền kiểm soát quá nhanh. Việc này hơi giống trò chơi hệ quả[124], hoặc có lẽ là trò bịt mắt bắt dê.
Làm thế nào để nhận ra một hoa tiêu giỏi nhỉ? Anh tự hỏi và nhìn quanh phòng. Một người điềm tĩnh, nhưng chẳng phải tất cả bọn họ đều cần điềm tĩnh sao? Chúi mũi xuống bàn, hoàn toàn chú tâm vào công việc. Anh nghe thấy một giọng Canada chậm rãi, điềm tĩnh ở đâu đó sau lưng anh. Anh xoay người lại, xác định chủ nhân của giọng nói đó và khi nhìn thấy phù hiệu hoa tiêu của cậu ta, anh liền nói: “Tôi là Ted Todd. Tôi là một phi công đang tìm kiếm một hoa tiêu giỏi.”
“Chính là tôi đây.” Anh chàng Canada nhún vai, nói. “Chí ít cũng đủ để đáp ứng yêu cầu của anh.” Cậu ta tên là Donald McLintock. Đương nhiên được gọi tắt là Mac. Teddy thích người Canada, trong thời gian tập huấn ở đó, anh thấy họ là những người đáng tin cậy, và họ không dễ bị căng thẳng quá mức hay có trí tưởng tượng quá phong phú - vốn là những đặc điểm không tốt đối với một hoa tiêu. Giọng nói của Mac đã khơi lại trong anh những hồi ức thân thương về bầu trời thênh thang rộng mở nơi anh từng học lái máy bay trên những chiếc Tiger Moth hay Fleet Finch và xao xuyến trước tấm thảm phong cảnh khổng lồ sặc sỡ của tỉnh Ontario. Những chiếc máy bay ấy chỉ là những vật thể nhỏ bé mong manh so với những chiếc Anson và Harvard mà anh đã lái lúc tốt nghiệp, chưa kể những chiếc Wellington đồ sộ mà họ sẽ học lái ở Đơn vị Huấn luyện Chiến đấu. Các phi công chiến đấu cơ thường chế giễu gọi các phi công lái máy bay ném bom là “Tài xế xe buýt”, nhưng đối với Teddy, có vẻ như chính những chiếc “xe buýt” đó sẽ giành được chiến thắng.
“Mừng cậu nhập hội, hoa tiêu.” Teddy nói. Họ lại lịch thiệp bắt tay nhau khắp lượt. Ôi chà, họ là một tổ bay ô hợp, Teddy nghĩ. Anh khá thích điều đó. “Chỉ cần thêm một cơ khí viên người New Zealand nữa…” Keith nói, trùng khớp với những suy nghĩ của Teddy. “… Là chúng ta sẽ giống cái Hội Quốc Liên[125] quái quỷ.” Họ không kiếm được người New Zealand nào, thay vì thế họ có Norman Best, người xứ Derby, một cựu học sinh trường điểm khá nhút nhát và nghiêm túc, có tấm bằng về ngôn ngữ và một niềm tin kiên định vào Cơ Đốc giáo, nhưng đó là khi họ chuyển sang Đơn vị Huấn luyện Chuyển đổi Hạng nặng, còn hiện tại họ chỉ có từng này người thôi. Họ là một đội. Đơn giản như thế đấy. Kể từ giờ họ ăn cùng nhau, uống cùng nhau, bay cùng nhau và cuộc đời họ gắn bó chặt chẽ với nhau.
Đêm đầu tiên ấy, sau khi lập đội, cả tổ bay liền kéo nhau đi chè chén như một thủ tục bắt buộc. Noi theo tinh thần của chủ nghĩa quân bình, tất cả bọn họ phải thay phiên nhau mỗi người đãi một tuần bia. Thế là sau sáu vại bia, họ lảo đảo trở về chỗ ngủ, say bí tỉ và tuyên bố rằng tình bạn của họ là bất diệt. Teddy chưa bao giờ uống say như thế trong đời, và đêm đó, khi anh nằm trên tầng hai của chiếc giường tầng, căn phòng như xoay tròn xung quanh, anh nhận ra rằng anh cũng chưa bao giờ phấn chấn đến thế. Hay đúng hơn thì đã lâu lắm rồi anh không phấn chấn như vậy, có lẽ là từ hồi anh còn bé tí. Anh sắp có một cuộc phiêu lưu.
Tất cả bọn họ đều là hạ sĩ quan, ngoại trừ Teddy. Theo những gì anh biết, anh được phong làm sĩ quan chẳng vì lý do gì ngoài việc đã học đúng trường, cả trung học lẫn đại học, và khi được hỏi, anh đã nói rằng mình thích cricket, dù anh không thực sự thích nó lắm nhưng anh có thể thấy rằng nếu anh nói thật thì đó sẽ là một câu trả lời sai lầm. Và đó là lý do nhiều tháng sau, anh đang ở đây, trên đường tới Duisburg, với tư cách là chỉ huy của một đám đàn ông, là kẻ làm chủ vận mệnh của mình, là người nắm giữ linh hồn mình và linh hồn của một chiếc Halifax bốn động cơ kềnh càng quái quỷ có xu hướng đáng ngại là nghiêng về bên phải mỗi khi cất cánh và hạ cánh.
“Mười phút nữa là đến mục tiêu, phi cơ trưởng.”
“OK, hoa tiêu. Mười phút nữa là đến mục tiêu, lính cắt bom.”
“OK, phi cơ trưởng.”
Trên không trung, họ gọi nhau bằng vai trò của họ, nhưng dưới mặt đất, họ trở lại là chính bản thân họ - Ted, Norman, Keith, Mac, George, Vic và Kenny. Giống như những người bạn đồng hành trong một chuyến phiêu lưu trong sách truyện, Teddy nghĩ. Trong số những “đồng chí” của Augustus, có hai người tên là Norman và George, nhưng Augustus của Izzie và những đồng đội của cậu vẫn chỉ mười một tuổi, mãi mãi là trẻ con và bận rộn với việc bắn súng cao su, bắt cá tuế và sục sạo chạn thức ăn để tìm những lọ mứt - vì một lý do nào đó, có vẻ như chúng coi những lọ mứt ấy là một món ăn thiêng liêng giống như chén thánh vậy. Đứa con tinh thần mà Izzie sáng tạo ra cùng nhóm bạn vui vẻ của cậu hiện đang “góp mặt” trong cuốn Augustus và chiến tranh - kiếm chác giấy vụn bằng cách lấy báo trong hòm thư nhà người khác và thu thập sắt vụn bằng cách lấy trộm nồi niêu xoong chảo của các nhà hàng xóm, khiến họ tức điên. (“Chảo rán không phải là sắt vụn.” Bà Swift phẫn nộ nói. “Nhưng con lấy nó để phục vụ cho chiến tranh mà.” Augustus phản đối. “Mẹ lúc nào cũng nói rằng chúng ta phải quyên góp các thứ còn gì. Con chỉ đang quyên góp những chiếc chảo rán của mọi người thôi mà.”) Teddy căm phẫn nghĩ, Augustus của Izzie không phải đối mặt với hỏa lực phòng không hoặc lo lắng về một chiếc Messerschmitt sà đến chỗ mình như một con chim săn mồi đói khát.
Augustus của anh - phiên bản trưởng thành của cậu ta mà anh tưởng tượng ra - gần như chắc chắn đang né tránh cuộc đời quân ngũ. Có lẽ cậu ta sẽ trở thành dân phe phẩy, một kẻ đầu cơ trục lợi trong chiến tranh, bán rượu, thuốc lá và bất cứ thứ gì mà cậu ta có thể nhúng đôi tay dính chàm của mình vào. (“Của ngài đây, thưa ngài, mười si linh. Nhớ đừng bép xép với ai nhé!”)
Họ đang chật vật vượt qua hệ thống hỏa lực phòng không - những quả đạn pháo liên tục lóe lên và những luồng khói xám xịt phủ trùm lên họ - mặc dù tiếng động cơ Merlin đinh tai nhức óc của chiếc máy bay đã át đi những tiếng nổ.
“Hãy chú ý quan sát kĩ lưỡng nhé, mọi người.” Teddy nói.
Phía xa xa, anh có thể thấy một cơn mưa bom lửa đang ào ào trút xuống, có lẽ là từ một chiếc máy bay đang cố tăng độ cao. Nó chỉ càng giúp cung cấp thêm ánh sáng cho những chiếc chiến đấu cơ của Đức đang bay phía trên tốp máy bay ném bom có nhiệm vụ thả pháo sáng đánh dấu mục tiêu - những quả pháo sáng tuyệt đẹp, lung linh như ngọn chúc đài, dường như treo lơ lửng trong không trung, tạo nên một hành lang sáng trưng cho chiếc máy bay ném bom bất hạnh bay dọc theo. Mấy giây sau, một chiếc máy bay ném bom nổ tung thành một quả cầu lửa đỏ rực, phun ra những làn khói đen sì.
“Ghi lại điều đó, hoa tiêu.” Teddy nói.
“OK, phi cơ trưởng.”
Họ đã cất cánh muộn. Là một tổ bay giàu kinh nghiệm, thường thì họ sẽ bay gần như đầu đoàn, nhưng cái động cơ phía trong ở cánh trái của họ bị trục trặc, do đó họ trở thành chiếc máy bay cuối cùng cất cánh khỏi phi trường và bay ở ngay phần đuôi của “đàn vịt trời” khi họ tới điểm hẹn phía trên Flamborough Head. “Chà, phải có ai đó chốt đoàn chứ.” Teddy nói, cố gắng động viên các đồng đội đang chán nản, nhưng lời động viên ấy không hiệu quả lắm. Họ đều biết rằng việc bị tụt lại đằng sau sẽ khiến họ dễ dàng trở thành một mục tiêu cho các chiến đấu cơ nhắm đến - bởi vì khi ấy họ sẽ trở thành đốm sáng nhỏ tách biệt hiện lên rõ rệt trên màn hình ra đa của quân đội Đức, chứ không còn là một phần của một đội hình đông đúc chặt chẽ, khó tiêu diệt nữa.
Đương nhiên, một đội hình máy bay ném bom đông đúc cũng có mặt trái đáng sợ. Trước đây, họ từng tham gia cuộc không kích Cologne trong một đội hình có đến cả nghìn chiếc máy bay. Đó là lần đầu tiên Harris sử dụng nhiều chiếc phi cơ đến vậy trong một cuộc không kích. Trong một đoàn máy bay lớn như thế, bạn sẽ thấy mình bị luồng khí từ động cơ của chiếc máy bay đằng trước phụt thẳng vào mặt, khiến bạn di chuyển khó khăn, và suốt lúc đó sẽ tự hỏi tất cả những chiếc máy bay khác đang ở đâu. Teddy đã cảm thấy rằng mối nguy hiểm lớn nhất không phải đến từ các chiến đấu cơ hay hỏa lực phòng không của Đức mà đến từ chính họ. Họ đã được xếp thành nhiều lớp, những chiếc Stirling chậm chạp bay ở dưới cùng, những chiếc Lanc[126] có khả năng bay cao thì bay ở trên cùng, còn những chiếc Halifax thì bị kẹp ở giữa như nhân của chiếc bánh sandwich. Tốc độ chuẩn, độ cao và vị trí của mỗi chiếc máy bay đều đã được quyết định từ trước, nhưng như thế không có nghĩa là tất cả mọi người đều ở đúng chỗ của mình.
Trên đường đi, có lúc một chiếc Halifax khác bay qua ngay sát trên đầu họ, chỉ cách họ chừng sáu mét, thân hình đen ngòm kềnh càng của nó trông giống hệt một con cá voi - một con cá voi có những ống xả đỏ rực. Sau đó, trên đường tới mục tiêu, Vic Bennett, đang ở trong tháp pháo giữa, bỗng hét lên thất thanh bởi vì một chiếc Lancaster phía trên bọn họ vừa mở cửa khoang chứa bom, vậy là Teddy phải lạng lách để né tránh nó, vừa tránh vừa lo mình sẽ đâm sầm vào một chiếc máy bay khác.
Họ đã chứng kiến một cuộc va chạm ở gần họ đến mức đáng ngại, một chiếc Halifax bên cánh trái của họ tự dưng bay chéo qua đội hình máy bay ném bom và một chiếc Lancaster đã đâm sầm vào nó. Chiếc máy bay của họ - khi ấy họ vẫn còn lái chiếc máy bay có tên riêng là J-jig - chao đảo bởi sức ảnh hưởng từ vụ nổ kinh hoàng. Những dải lửa trắng sáng chói bốc lên từ những bình xăng ở hai cánh của chiếc Lanc, và Teddy hét lên với các xạ thủ của mình rằng không được nhìn vào chúng để đề phòng bị mất khả năng nhìn trong đêm tối.
Họ đã tìm ra Cologne không khó khăn gì. Lúc họ đến mục tiêu, nó đang cháy rừng rực, khắp nơi toàn là lửa và khói, chúng đã che khuất những quả pháo sáng đánh dấu, vì vậy họ tiến thẳng đến giữa đám cháy lớn nhất để thả bom rồi bỏ đi. Khi hồi tưởng lại, Teddy cảm thấy đó có vẻ là một cuộc không kích chẳng có gì ấn tượng, bất chấp quy mô đồ sộ của nó, và thành thực mà nói, bây giờ Teddy hầu như không thể nhớ nổi các chi tiết. Có cảm giác như anh đã sống rất nhiều cuộc đời. Hoặc có lẽ cuộc đời anh chỉ là một đêm trường bất tận, giống như trong thơ của Blake.
Và bản chất của thời gian cũng biến đổi. Trước kia, nó giống như một tấm bản đồ thênh thang - dường như bất tận - trải ra trước mắt anh và anh có thể lựa chọn hướng mình sẽ đi. Giờ thì tấm bản đồ chỉ trải ra dưới chân anh từng bước một và có thể biến mất vào bất cứ lúc nào. “Chị cũng cảm thấy như vậy lúc những cuộc tấn công ở London lên đến đỉnh điểm.” Ursula nói, cố gắng giải thích phép ẩn dụ vòng vo này khi anh gặp cô trong chuyến nghỉ phép đầu tiên của anh - cứ mỗi sáu tuần họ lại được nghỉ sáu ngày, và anh đã lựa chọn nghỉ phép ở London thay vì về Góc Cáo. Anh thậm chí còn chẳng nói với Sylvie là anh được nghỉ phép.
“Trước chiến tranh thì…” Ursula nói. “… Ngày nào cũng như ngày nào, đúng không? Ở nhà, đi làm, rồi lại về nhà. Thói quen làm cho các giác quan cùn đi. Thế rồi, đột nhiên người ta có cảm giác rằng họ đang sống ở rìa cuộc đời họ, như thể họ không bao giờ biết được liệu họ sắp sửa rơi xuống hay bay lên.” Teddy nhận thấy dù rơi xuống hay bay lên thì kết cục họ cũng chẳng thể hạ cánh một cách nhẹ nhàng được.
“Em cũng nghĩ vậy.” Anh đồng ý, nhận ra rằng anh không thực sự hiểu mình đang nói gì và chẳng quan tâm lắm. Anh sống cuộc đời của mình trước mặt cái chết. Đó là cách nói đơn giản, ngắn gọn, chẳng cần phải vòng vo bằng mấy phép ẩn dụ văn hoa, bóng bẩy.
“Tám phút nữa là tới mục tiêu, phi cơ trưởng.”
“OK, hoa tiêu.”
“Hãy cảnh giác, các xạ thủ.”
“Vâng, phi cơ trưởng.”
“OK, phi cơ trưởng.”
Các xạ thủ không cần nhắc nhở, đây chỉ là một cách để mọi người giữ liên lạc với nhau. Anh biết họ đang lia mũi súng khắp bầu trời, giữ vững cảnh giác như mọi khi. Tính từ phi vụ đầu tiên đến giờ, họ hầu như không phải khai hỏa những khẩu súng của mình. Lúc họ bắt đầu nổ súng cũng là lúc họ tự đánh dấu mình thành mục tiêu cho quân địch nhắm đến. Một chiếc chiến đấu cơ có thể dễ dàng bỏ sót họ trong bóng tối, nhưng nếu họ bắn một tràng đạn lửa đỏ rực ngay ở cửa máy bay, nó sẽ sớm phát hiện ra họ. Những khẩu đại bác to xác của nó sẽ có tính sát thương cao hơn những khẩu súng máy Browning nhỏ bé của họ. Các xạ thủ súng máy về cơ bản chỉ là người canh gác. Có những xạ thủ chẳng phải bắn một viên đạn nào suốt cả một kỳ quân dịch.
Chị gái Pamela của Teddy đã kết hôn với một bác sĩ, anh ta từng nói với Teddy rằng anh ta đã đọc được một mẩu tin về những thí nghiệm trong buồng ôxy, kết quả cho thấy ôxy sẽ giúp ích cho thị lực của các xạ thủ, và thị lực của họ cũng là thứ đầu tiên mất đi nếu bị thiếu ôxy. Kể từ đó, Teddy bắt đầu bắt các xạ thủ của mình đeo mặt nạ ôxy từ lúc cất cánh cho đến khi hạ cánh.
Họ đang ở chính giữa một khu vực được phòng thủ dày đặc. Một bức màn khói xám từ hàng rào hỏa lực phòng không nằm lơ lửng trước mặt họ, đó là tấm rèm khói chất nổ mà họ phải vượt qua.
So với những cuộc không kích quy mô lớn với hàng nghìn chiếc máy bay ném bom, đêm nay là một cuộc không kích tương đối vừa phải, chỉ có chừng hai trăm chiếc phi cơ - trong số đó có mười hai chiếc thuộc phi đoàn của họ - tất cả bay theo đội hình giống như một bầy ngỗng, thẳng tiến về vùng Ruhr, Thung lũng Hạnh phúc.
Họ đã nhìn thấy một chiếc Lancaster bị một chiến đấu cơ bắn trúng phần cánh và rơi xuống, bốc cháy ngùn ngụt như một chiếc lá bằng lửa đang chao rụng, và họ cũng đã nhìn thấy một “anh bạn” Halifax bị đèn pha chiếu rọi khi nó đi qua hàng rào phòng thủ của vùng Ruhr. Nó bị luồng sáng chính màu xanh dương “tóm gọn” và họ lẳng lặng theo dõi những luồng sáng phụ chuyển hướng, giống như những cỗ máy tự động vô hồn, chiếu về phía con mồi của chúng, khiến nó như bị mắc kẹt trong ánh sáng trắng chói lòa, rồi những quả đạn pháo được phóng lên một cách tàn nhẫn, nhắm vào chiếc máy bay tội nghiệp. Chiếc Halifax tuyệt vọng bổ nhào xuống theo đường xoắn ốc, nhưng những luồng sáng vẫn bám theo nó không ngừng nghỉ, và hẳn là hỏa lực phòng không hạng nặng đã bắn trúng nó bởi vì họ thấy nó nổ tung thành một quả cầu lửa khổng lồ.
“Ghi lại điều đó, hoa tiêu.” Teddy nói bằng giọng bình thản. “Có ai nhìn thấy người nào nhảy dù không?”
Những tiếng “không” lầm rầm vang lên trên hệ thống liên lạc nội bộ, tiếp đó là tiếng thốt của Keith: “Mấy thằng cha tội nghiệp.” Họ đã bị bắn hạ ngay trước mắt cậu ta, ngay trước mũi chiếc máy bay này, khi đang chuẩn bị tiếp cận mục tiêu. Quả là một cú sốc khi chứng kiến một chiếc phi cơ rơi xuống, nhưng chẳng có thời gian để nghĩ về điều đó. Kẻ bị bắn hạ không phải là ta, đó mới là điều quan trọng.
Nếu chúng con phải ra đi, Teddy cầu nguyện, xin hãy để chúng con ra đi trong tích tắc, trở thành một quả cầu lửa chứ không phải bị rơi xuống. Nhưng bằng cách nào thì cũng sẽ không có cú hạ cánh nhẹ nhàng. Không phải anh đang nghĩ gở, anh chỉ tuân theo thuyết định mệnh mà thôi. Vào lúc này - hay đúng ra là vào bất cứ lúc nào - điều mà tổ bay của anh không mong muốn nhất là một đội trưởng thoái chí. Đặc biệt là đêm nay, khi họ đều đang bồn chồn lo lắng. Teddy nghĩ trông họ cũng rệu rã nữa, một sự mệt mỏi không chỉ ở mặt thể xác. Anh còn nhận ra trông họ thật già cỗi. Mặc dù Keith chỉ vừa mới tổ chức ăn mừng sinh nhật lần thứ hai mốt bằng một bữa tiệc huyên náo ở phòng sinh hoạt của các trung sĩ. Các hoạt động ăn mừng của họ toát lên vẻ hồn nhiên, giống như những cậu bé nghịch ngợm ở một bữa tiệc ồn ào dành cho trẻ con. Những dấu chân đen như bồ hóng in trên trần nhà, những lời hát bất nhã vang lên quanh cây đàn piano sau khi các cô gái WAAF đã về đi nghỉ (thi thoảng một, hai cô gái táo bạo vẫn nán lại). Suy cho cùng, cũng không quá khác biệt so với Augustus và những người bạn nhỏ của cậu ta.
Sylvie, vốn hay trễ giờ, luôn chỉnh những cái đồng hồ ở Góc Cáo chạy nhanh hơn mười phút (một thói quen dễ khiến mọi người nhầm lẫn hơn là giúp mọi người đúng giờ). Teddy nghĩ giờ đây sẽ tốt hơn biết bao nếu có ai đó vặn ngược chiếc đồng hồ của họ, để họ tưởng rằng đây chỉ là phi vụ thứ hai chín chứ không phải phi vụ thứ ba mươi, và giải thoát họ khỏi những dự cảm u ám.
Vấn đề càng trở nên tệ hơn khi trên máy bay của họ có một phi công phụ. Cậu ta là một phi công tập sự đang chuẩn bị “nhúng chàm” trong chuyến xuất kích đầu tiên. Theo thông lệ, một tân binh thường được gửi kèm theo một tổ bay giàu kinh nghiệm để “quan sát học hỏi” trước khi dẫn dắt tổ bay của riêng mình trong các phi vụ, nhưng vì lý do nào đó, một viên phi công phụ non tay bị coi là kẻ mang lại xui xẻo. Teddy thấy niềm tin này khá vô căn cứ. Lần “nhúng chàm” đầu tiên của anh là một chuyến bay ném bom các bến cảng ở Wilhelmshaven với tổ bay của chiếc C-Charlie, lúc bấy giờ họ đang trong phi vụ thứ mười hai và gần như không quan tâm đến sự tồn tại của anh, như thể chỉ cần lờ anh đi là họ có thể giả vờ như chẳng có ai đang ngồi ở ghế lái phụ. Khi trở về, chiếc C-Charlie hầu như chẳng bị tổn hại gì - ngoại trừ vài vết thủng vì trúng hỏa lực phòng không và một động cơ bị hỏng - nhưng ngay cả sau khi đã hạ cánh, cả tổ bay vẫn né tránh anh cứ như anh có thể làm hại họ bằng một cách nào đó. Chẳng bù cho tổ bay của anh, họ sướng điên lên khi thấy anh trở lại mặt đất “bình an vô sự”, sau đó cả bọn kéo nhau đến một quán rượu địa phương để chè chén say sưa, ăn mừng sự kiện này, không quên kéo theo cả tổ mặt đất. Quán Thiên Nga Đen, được mọi người biết đến với cái tên Vịt Lấm Bùn, có ông chủ rất dễ tính. Ông ta cho phép các tổ bay được ghi nợ dù biết rằng nhiều người trong số họ sẽ chẳng bao giờ trả được khoản tiền đó. Dựa vào sổ nợ của ông ta cũng có thể tính được bao nhiêu người đã chết.
Trong kỳ quân dịch thứ hai của Teddy, có một tổ bay mới - lái chiếc W-William - bị mất phi công khi cậu ta tham gia chuyến bay với một tổ bay khác. Họ lập tức được bổ sung người thay thế, nhưng viên phi công thay thế này cũng phải tham gia một chuyến bay “dự thính” và cũng không trở về. (Suy cho cùng, có lẽ họ đúng là những kẻ mang lại vận xui.) Lúc này, tổ bay mới thiếu phi công ấy vô cùng hoang mang, giống như những chú chó lo lắng, vì vậy khi họ được chỉ định viên phi công thứ ba (đương nhiên cậu ta rất căng thẳng), Teddy đã đi kèm cả đội trong phi vụ đầu tiên của họ, cậu phi công mới phải ngồi ở ghế lái phụ của chiếc W-William, chiếc máy bay của chính cậu ta. Đó là một cuộc không kích thử nghiệm ở Berlin mà họ phải dốc toàn bộ sức lực và họ đã cố gắng giữ vững tinh thần.
Khi hạ cánh, họ vỡ òa vì vui sướng. “Làm tốt lắm, các cậu bé.” Anh nói. Họ đúng là các cậu bé vì trong số họ chẳng có thành viên nào quá hai mươi tuổi. Họ mời anh đi uống rượu cùng trong phòng sinh hoạt chung của các trung sĩ - họ nói rằng suy cho cùng, anh cũng là một thành viên trong tổ bay của họ. Anh nhận lời nhưng ra về sớm. “Liều lĩnh đúng chỗ thì mới đáng liều lĩnh.” Anh viết cho Ursula, vì đây là một trong những câu cách ngôn mà cô tâm đắc.
“Không phải lúc nào cũng vậy.” Cô hồi đáp.
Ngày hôm sau, chiếc W-William tiếp tục đi làm nhiệm vụ, lần này là một chuyến rải mìn tương đối an toàn, họ phải thả những quả mìn mà họ gọi là “rau” xuống Langeoog ở phía đông quần đảo Frisia. Teddy cảm thấy buồn bã hơn thường lệ khi đọc những dòng chữ quen thuộc trong nhật ký của các phi vụ vào ngày hôm sau. Phi cơ này cất cánh lúc 16 giờ 20 phút và không trở về. Do đó, nó được báo cáo là mất tích. Sau chiến tranh, mỗi khi nhìn xuống biển Bắc, anh nhận thấy mình khó mà không nghĩ rằng nó là một nghĩa địa nước khổng lồ, chứa đầy những bộ khung máy bay gỉ sắt và những thi thể trẻ trung.
Trong chuyến xuất kích tiếp theo, tổ bay của chiếc C-Charlie, những người đã miễn cưỡng tiếp nhận Teddy làm phi công phụ, đã bị hết nhiên liệu khi đang tìm chỗ đậu trong màn sương mù và đâm sầm xuống những trảng đất gần Helmsley. “Phi vụ thứ mười ba của họ.” Vic Bennett nói, như thể đó chính là nguyên nhân. Cậu ta là người mê tín nhất trong số tất cả bọn họ. Khi họ bay tới Stuttgart trong phi vụ thứ mười ba - lại rơi đúng vào ngày thứ Sáu - cậu ta đã nhờ cha tuyên úy ban phước đặc biệt cho chiếc J-Jig già cỗi tội nghiệp, và cha tuyên úy - một người vui tính, nhiệt tình - đã rất vui vẻ thực hiện yêu cầu đó.
Các tổ bay tin rằng năm phi vụ đầu tiên và năm phi vụ cuối cùng là những chuyến bay nguy hiểm nhất, mặc dù theo những gì Teddy nhận thấy, các quy luật về xác suất có hiệu lực vào bất cứ thời điểm nào. Chỉ có một phần sáu trong số các tổ bay hoàn thành được kỳ quân dịch đầu tiên. (Chưa bao giờ có nhiều người bị ám ảnh bởi những con số thống kê đến thế, anh nghĩ.) Chẳng cần đến cô bạn của Ursula trong Bộ Không quân, anh cũng biết rằng tỷ lệ sống sót của lính không quân bọn anh là rất thấp. Vào đầu kỳ quân dịch này, nếu Teddy là một người đánh bạc (dĩ nhiên anh không phải người như thế), anh sẽ không đặt cược rằng họ sẽ sống sót cho đến khi nhìn thấy cháu của họ. Hoặc con của họ, vì họ thậm chí còn chưa có con. Chưa một ai trong số họ lập gia đình, và Teddy ước đoán ít nhất một nửa trong số họ là trai tân khi anh lần đầu gặp họ. Giờ thì còn ai ở trong tình trạng đó không? Anh không biết. Vic Bennett thì không, cậu ta đã đính hôn với một cô gái tên là Lillian (Lil) và lúc nào cũng nói về cô ấy, kể cả những chuyện mà họ “làm với nhau”.
Tuần tới Vic sẽ kết hôn với Lillian, tất cả bọn họ đều được mời dự đám cưới. Teddy không nghĩ Vic lại lập ra các kế hoạch như vậy. Bản thân anh không còn lập các kế hoạch nữa. Đối với anh, chỉ có hiện tại mà thôi, và sau cái hiện tại này sẽ là một cái hiện tại khác. Nếu ta may mắn. (“Em sẽ trở thành một nhà sư tuyệt vời đấy.” Ursula nói.)
“Nếu cậu nhìn vào tỷ lệ người chết…” Cô bạn của Ursula ở Bộ Không quân nói, nghiêm trang nhấm nháp một ly rượu gin màu hồng[127]. “… Vậy thì, dựa vào Toán học mà nói, cái chết là điều không thể tránh khỏi.” Tất nhiên, còn có những cách hiểu khác khi nhìn vào các số liệu ấy, cô ta vội vã nói thêm khi Ursula trừng mắt nhìn cô ta. Teddy gặp cô ta khi anh đang nghỉ phép vào tháng Năm tiếp theo. Ba người họ đi uống rượu cùng nhau rồi sau đó đi nhảy ở Hammersmith Palais. Teddy cảm thấy không vui, anh không thoải mái vì có cảm giác rằng mỗi lần cô gái ở Bộ Không quân nhìn anh, cô ta lại nhìn thấy một loạt các bảng thống kê.
Nancy có biết sự tính toán số người chết đầy lạnh lùng này trong Binh chủng Máy bay ném bom không? Có lẽ là không. Cô đang được bao bọc ở đâu đó trong chốn an toàn lãnh đạm ở một trụ sở của những người trí thức. Cô đang cố gắng sắp xếp gặp anh ở London ngay khi kỳ quân dịch này kết thúc. Cô đã viết: “Hay là em đến dự lễ cưới đồng nghiệp của anh nhỉ? Anh có thể kiếm được thiệp mời cho em không, hay các cô bạn gái sẽ bị cho ra rìa?!” Anh cảm thấy giọng điệu của lá thư này hoàn toàn sai trái. Cách cô dùng sai từ “đồng nghiệp” chẳng hạn. Vic Bennett không phải là một “đồng nghiệp”. Cậu ta là một phần của Teddy, giống như một cánh tay hay một cái chân. Cậu ta là một người bạn thân, một người bạn chí cốt, một đồng chí. Nếu nền văn minh tiếp tục tồn tại - hiện nó đang ở tình trạng bấp bênh - liệu nó có trở thành một xã hội bình đẳng không? Một Jerusalem mới đầy những người theo phong trào Cào bằng và Đào sâu? Và chắc chắn RAF không phải là nơi duy nhất mà các rào cản giai cấp bị sụp đổ, vì tất cả mọi người buộc phải chung tay góp sức với nhau. Teddy đã kề vai sát cánh với những người đàn ông - và phụ nữ - mà anh sẽ không bao giờ chạm mặt nếu vẫn đang ở trong cái thế giới của trường tư, Oxbridge[128], ngân hàng. Anh có thể là đội trưởng của họ, anh có thể là người phải chịu trách nhiệm với họ, nhưng anh không phải là thượng cấp của họ.
Anh đã đốt lá thư của Nancy trong cái lò ở lều của anh. Chúng luôn khát nhiên liệu.
“Còn bốn phút nữa là tới mục tiêu, phi cơ trưởng.”
“OK, hoa tiêu.”
“Còn bốn phút nữa là tới mục tiêu, lính cắt bom.”
“OK, phi cơ trưởng.”
“Cái động cơ chết tiệt nằm ở phía trong của cánh trái ấy vẫn đang dở chứng, phi cơ trưởng.” Norman Best nói. Đèn trên đồng hồ đo áp suất nhiên liệu cứ chập chờn suốt chuyến bay, như thể nó có sinh mệnh. Đó chính là cái động cơ đã trì hoãn việc cất cánh của họ, và Norman đã giám sát nó với vẻ nghi ngại được một lúc rồi. Vic Bennett nói may mà họ cất cánh muộn. Chả hiểu sao cậu ta lại quên mất “tấm bùa may mắn” của mình và đã thuyết phục được cô gái WAAF - người đã chở họ ra địa điểm tập kết để lên máy bay - đưa cậu ta trở lại phòng thay đồ để lấy nó trong lúc tổ mặt đất xử lý cái động cơ hư hỏng. Tổ mặt đất là những người hùng thầm lặng của “lực lượng cờ lê” - nào thợ lắp ráp, thợ sửa chữa, thợ máy, toàn bộ đều là hạ sĩ quan hoặc lính trơn, làm việc suốt ngày đêm trong mọi loại thời tiết. Họ vẫy tay tiễn các tổ bay lên đường và đón chào các tổ bay trở về. Họ có thể thức suốt đêm trong căn lều của mình vào những đêm xuất kích ảm đạm, chờ đợi chiếc máy bay “của họ” về nhà an toàn. Họ chẳng có tấm bùa may mắn nào, chỉ có những cú bắt tay lịch sự khắp lượt khi các tổ bay khởi hành và lời hẹn “Gặp lại vào sáng mai nhé!”
“Tấm bùa” đặc biệt của Vic Bennett là chiếc quần lót bằng xa tanh màu đỏ của vị hôn thê của cậu ta, cô nàng Lil đã được nói đến lúc trước. Những thứ “không thể nhắc đến” này, theo cách gọi của Vic, được gấp gọn gàng và được cất trong túi bộ đồ chiến của cậu ta trong mỗi chuyến bay. “Nếu chúng ta có thể dự đám cưới của cậu ấy…” Keith nói. “… Tớ biết tất cả chúng ta sẽ nghĩ gì khi cô dâu thẹn thùng đỏ mặt bước dọc lối đi giữa hai hàng ghế.”
“Chính tớ sẽ đỏ mặt thì có.” Kenny Nielson nói.
May mắn là điều quan trọng nhất. “Thế quái nào mà người ta lại hình tượng sự may mắn thành một quý cô chứ.” Keith nói. “Nó chỉ là một ả điếm quái quỷ.” Sự mê tín lan tràn khắp căn cứ của họ. Dường như tất cả mọi người trong phi đoàn đều có một loại bùa may cho riêng mình - một lọn tóc, một bức hình Thánh Christopher, một quân bài, một bàn chân thỏ đâu đâu cũng thấy. Có một trung sĩ không quân luôn hát bài E Donna Mobile khi họ thay đồ bay và một người khác phải xỏ chân trái vào giày trước chân phải. Nếu anh ta quên, anh ta phải cởi hết quân trang ra và mặc lại từ đầu. Anh ta đã sống sót sau cuộc chiến. Còn viên trung sĩ không quân hát bài E Donna Mobile thì không. Hàng trăm người khác với những nghi thức và vật thiêng kỳ cục riêng cũng không thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. Người chết nhiều vô số kể và những vị thần có những kế hoạch của riêng họ.
Keith không có bùa may nào, cậu ta tuyên bố rằng gia đình cậu ta là một gia đình “ngược đời”, vận may của họ trái ngược với tất cả mọi người, và cậu ta có thể đi qua dưới một cái thang với một tá con mèo đen băng qua trước mặt mà vẫn sẽ “bình an vô sự”. Tổ tiên của cậu ta là dân Di gan Ireland, bị trục xuất tới Australia vì lối sống du mục. “Có lẽ không phải là dân Di gan thực thụ.” Cậu ta nói. “Tôi nghĩ họ chỉ là những kẻ ma cà bông, lang thang, vất vưởng thôi.”
Kenny Nielson là thành viên nhỏ nhất trong một gia đình có tới mười người con, là “út ít” trong nhà, và bùa may của cậu ta là một con mèo đen nhỏ sờn mòn - chỉ đúng một con duy nhất ấy - do một cô cháu gái của cậu ta vụng về khâu lại từ những miếng nỉ. Sinh vật đó trông thảm hại như thể nó đã ở trong miệng một con chó gần cả cuộc đời vậy.
Và bùa may của Teddy chính là con thỏ rừng bằng bạc mà Ursula đã cho anh, lúc đầu anh chẳng đoái hoài đến nó nhưng bây giờ, trong mỗi chuyến bay, nó luôn được nằm gọn gàng trong túi áo anh, ngay bên trên trái tim. Anh đã vô thức lập nên nghi thức của riêng mình, đó là chạm vào con thỏ như thể nó là một thánh tích trước khi cất cánh và sau khi hạ cánh, thầm nguyện cầu và cảm ơn. Anh không thể sờ hẳn vào sinh vật nhỏ bé vô tri vô giác ấy qua lớp áo khoác bay bằng da cừu và chiếc áo phao Mae West dày cộp. Nhưng anh biết nó đang ở đó, âm thầm nỗ lực hết sức để bảo vệ anh.
Họ rầu rĩ thơ thẩn đi đi lại lại trong lúc đợi cô gái WAAF chở Vic quay lại. George Carr ăn hết khẩu phần sô cô la của mình như thường lệ. Những người khác thì để dành, nhưng George lý luận rằng cậu ta có thể chết trong cuộc không kích và “không bao giờ được thưởng thức nó nữa”. Cậu ta nói trong thời thơ ấu của cậu ta ở Lancashire, sô cô la từng là thứ của hiếm không dễ gì có được.
Họ hút điếu thuốc cuối cùng trước khi phải nhịn suốt sáu tiếng đồng hồ sắp tới hoặc có thể còn lâu hơn nữa, đi tiêu ở đuôi chiếc máy bay S-Sugar và ủ rũ nhìn chằm chằm xuống đất. Ngay cả cậu nhóc người Scotland bình thường hoạt bát cũng im như thóc. Viên phi công phụ tội nghiệp bắt đầu tỏ vẻ như thể đang trên đường tới chỗ hành hình. “Họ luôn như thế này à?” Cậu ta thì thầm với Teddy, và Teddy không thể nói với cậu bé tội nghiệp rằng: “Họ nghĩ tối nay họ sẽ tiêu đời.” Thay vì thế, anh tiết lộ cho cậu ta biết về tính nết chung của tổ bay mình và nói: “Không, họ chỉ là một đám ngốc nghếch khốn khổ thôi.”
Sáng hôm đó, Teddy đã nhận được một lá thư từ Ursula. Chỉ là một lá thư bình thường như bao lá thư khác, nhưng ở cuối thư cô đã viết “Em thế nào?”, và thứ tình cảm được dồn nén trong ba từ đơn gọn gàng ấy có vẻ đã ùa ra khỏi trang giấy, hóa thân thành thứ gì đó lớn hơn và xúc động hơn nhiều. “Ở đây ổn cả.” Anh hồi âm với sự cô đọng tương tự. “Chị không phải lo lắng cho em đâu.” Anh bổ sung thêm, tặng cô món quà trấn an là một câu nói chứa từ có hai âm tiết.
Anh đã nhờ một cô gái WAAF có nhiệm vụ xếp dù tên là Nellie Jordan đi gửi lá thư hộ anh. Cô ta vốn phải lòng anh. Các cô gái WAAF đều mê mẩn Teddy. Anh ngờ rằng lý do chỉ đơn giản là vì anh đã ở đây lâu hơn hầu hết những người khác. Đó là một lá thư cần được gửi đi, không phải là loại được cất trong ngăn kéo của anh phòng trường hợp anh không trở về. Teddy có ba lá thư cất trong ngăn kéo, một cho mẹ anh, một cho Ursula và một cho Nancy. Chúng đều có lời lẽ giống nhau, nói rằng anh yêu họ, và họ không được quá đau lòng bởi vì anh đã chết khi đang làm một việc mà anh tin tưởng, và họ nên tiếp tục cuộc sống của mình bởi vì đó là điều anh mong muốn. Đại loại vậy. Anh không nghĩ lá thư vĩnh biệt một chiều này là chỗ để xem xét, tự vấn lương tâm hoặc phơi bày sự thật. Anh đã cảm thấy kỳ lạ khi viết về bản thân mình trong một tương lai nơi anh không tồn tại, như thể anh là một câu đố trừu tượng hóc búa.
Nếu anh chết, ai đó từ ủy ban chỉnh lý - một uyển ngữ kỳ cục - sẽ tới và nhanh chóng dọn dẹp quân trang của anh. Bất cứ thứ gì khiến cho một bà mẹ hay một người vợ phải bần thần nghĩ ngợi - chẳng hạn như tranh ảnh khiêu dâm, thư gửi cho người phụ nữ khác hoặc bao cao su - sẽ được cất vào một cái túi khác. Teddy thì chẳng có bí mật gì phải giấu giếm, ít nhất là những bí mật để lại bằng chứng sờ sờ trước mắt. Thi thoảng anh tự hỏi chuyện gì xảy ra với những vật bị loại bỏ vì lòng nhân đạo này - họ chỉ đơn giản vứt chúng đi hay có một cái kho ở đâu đó chứa đầy những bí mật không mong muốn ấy? Anh không bao giờ tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này.
Sang năm sau, trong kỳ quân dịch thứ hai của anh, anh tình cờ mở cửa một nhà kho ở căn cứ và thấy nó treo đầy những bộ đồng phục của không quân. Lúc đầu, anh cứ nghĩ chúng là quân phục dự phòng, cho đến khi anh nhìn kĩ hơn, thấy những phù hiệu, quân hàm, cùng những tấm huân chương đeo trên dải ruy băng và nhận ra chúng được lấy từ cơ thể của những người chết và người bị thương. Nếu lúc đó anh chưa ít nhiều từ bỏ thi ca thì những bộ quân phục không người mặc ấy sẽ là một hình ảnh giàu chất thơ, khơi gợi lên cảm hứng trong anh.
Thi thoảng, khi một tổ bay mới đến một căn cứ không quân, họ thấy rằng trong những cái lều Nissan, đồ đạc của những người từng ở đó trước họ vẫn rải rác khắp nơi, như thể mấy người ấy sắp sửa trở về và bước từ ngoài vào. Ủy ban chỉnh lý sẽ xua họ ra ngoài để tiện “dọn dẹp”, gói ghém đồ đạc của người chết khi các cô gái WAAF hay cần vụ thay mới chăn ga gối. Và thi thoảng những chàng tân binh ấy sẽ xuất kích ngay trong đêm đó và không trở về, thậm chí họ còn chưa được ngủ trên những cái giường mới được dọn dẹp sạch sẽ kia. Họ có thể đến rồi đi mà chẳng một ai biết đến. Tên của họ được viết trên mặt nước, bị đốt trên mặt đất, bị tán nhỏ vào thinh không. Nhiều không đếm xuể.
Vic Bennett quay trở lại, giơ cao “thứ không thể nhắc đến” (“Tuy nhiên lại được nhắc đến quá thường xuyên.” Mac mỉa mai nói) và họ trèo lên chiếc S-Sugar, vật thay thế cho chiếc J-Jig trước đây. J-Jig là một con quái vật kềnh càng. Giống như nhiều chiếc Mark II khác, nó có vẻ chẳng muốn rời khỏi mặt đất. Nếu nó là một con ngựa, nó sẽ là loại ngựa mà ta phải động viên khuyến khích để nó bắt đầu cuộc đua, chưa nói đến việc hoàn thành vòng đua ấy, và nếu ta không hiểu được nó, nếu ta không được cảnh báo về những nhược điểm của nó, đặc biệt là cái thói lạng về bên phải như muốn tự sát, rất có thể nó sẽ kết liễu cuộc đời ta trước cả khi phi vụ của ta bắt đầu.
Đêm nay là phi vụ thứ hai họ bay bằng chiếc S-Sugar. Nó là một chiếc phi cơ vừa được xuất xưởng, mới tinh như tổ bay của nó hồi còn là tân binh vậy. Tất cả bọn họ đều đã muốn kết thúc kỳ quân dịch của mình trên chiếc J-Jig, nhưng tiếc thay giờ nó chỉ còn là một hồi ức thân thương. Nó đã mang lại may mắn cho họ, giúp họ được an toàn, và họ vẫn còn rất căm phẫn vì mất nó, tin rằng đây là một dấu hiệu nữa cho thấy họ sẽ không hoàn thành được phi vụ thứ ba mươi. Trên thân nó vẽ hình hai mươi sáu quả bom, mỗi quả tượng trưng cho một phi vụ mà nó đã hoàn thành, một chiếc chìa khóa cho phi vụ thứ hai mươi mốt, một cây kem ốc quế mà một anh chàng vui tính nào đó đã tặng cho nó nhân dịp nó tham gia cuộc không kích ở Ý. Chiếc S-Sugar tính đến nay mới chỉ tham gia một phi vụ duy nhất là chuyến không kích Dusseldorf, và họ vẫn chưa kịp đánh dấu kỷ niệm phi vụ đó. Mặc dù nó còn mới toanh nhưng chẳng ai trong số họ tin tưởng nó cả. Cái động cơ bên cánh trái quá nóng chỉ là một trong nhiều mối phiền toái của nó mà thôi.
Sĩ quan chỉ huy của họ đã đi cùng chuyến xe với Vic tới địa điểm lên máy bay và đang tỏ ra sốt ruột. “Còn mười phút.” Ông ta nói, gõ gõ vào đồng hồ đeo tay. Còn mười phút nữa để cất cánh, nếu không họ sẽ bị muộn và chuyến xuất kích này sẽ bị hủy bỏ.
Cô gái WAAF lái chiếc xe tải chở viên sĩ quan chỉ huy đi theo chiếc máy bay dọc đường vành đai, rồi đỗ lại cạnh chiếc caravan điều hành bay. Sau đó, họ trèo xuống, nhập hội với đoàn người đưa tiễn trông khá phờ phạc đang kiên nhẫn chờ đợi để vẫy chào tổ bay của Teddy. Teddy ngờ rằng vài người trong số đó đã từ bỏ hy vọng chiếc máy bay sẽ cất cánh và đã mặc kệ họ mà ra về trước.
Họ ì ạch di chuyển trên đường băng, tất cả mọi người đều hăng hái vẫy tay với họ, đặc biệt là sĩ quan chỉ huy, ông ta luôn cố gắng có mặt ở đó trước mỗi chuyến cất cánh, và thường tạo ấn tượng rằng ông ta tin nếu mình vẫy tay thật nhiệt tình - với cả hai cánh tay giơ cao, chạy theo họ bên đường băng sáng ánh đèn - ông ta sẽ giúp họ nhấc bánh xe lên thành công và kéo cái khoang chở đầy bom lên không trung. Đã có rất nhiều người thiệt mạng vì máy bay rơi ngay lúc vừa cất cánh. Vậy nên Teddy luôn cảm thấy nhẹ nhõm tột độ khi anh nhấc được chiếc Halifax lên khỏi mặt bê tông, bay lên phía trên những hàng rào và những rặng cây.
Nếu họ quay trở lại khi chưa đến được mục tiêu - chuyện này vẫn xảy ra suốt vì lý do thời tiết hoặc máy bay gặp trục trặc về kỹ thuật - thì những chuyến xuất kích ấy cũng không được tính là một phi vụ, bất kể họ đã trải qua một hành trình đáng sợ đến mức nào. “Bất công đếch chịu được.” Teddy nói. “Vô lý ghê gớm, ông bạn già ạ.” Keith nói, cố nhái theo giọng Anh của tầng lớp quý tộc nhưng nghe chả ra làm sao. Bấy giờ họ đang say sưa lè nhè nhân dịp được nghỉ ngơi trong bốn mươi tám giờ đồng hồ sau khi trở về từ Turin. Giờ Teddy mới nhận ra đáng lẽ họ không nên cố bay đến Turin mà nên trở lại giữa chừng, nhưng anh là một trong những viên phi công “kiên quyết tiến lên phía trước”. Vài người thì không.
Lần đầu tiên họ quay về giữa chừng là trong chuyến xuất kích thứ hai của họ, khi đó động cơ bên phải của họ bắt đầu rò rỉ dung dịch làm mát xuống biển Bắc và thiết bị liên lạc nội bộ của điện đài viên bị hỏng. Vì vậy lúc ấy Teddy đã đưa ra một quyết định mà anh nghĩ là đúng đắn, đó là trở về căn cứ sau khi trút hết những quả bom xuống biển Bắc. Sĩ quan chỉ huy của họ lúc đó - không phải là người bây giờ - đã không hài lòng. Ông ta không tán thành những chuyến trở về sớm, vì thế ông ta đã tra hỏi họ rất lâu về lý do tại sao họ không tiếp tục xông tới mục tiêu. Teddy nghĩ lý do đã quá hiển nhiên - động cơ sẽ bị nóng quá mức và bốc cháy (Vào những ngày đầu tiên ấy, họ chẳng lạc quan chút nào về những chuyện như vậy) và họ cần giao tiếp với điện đài viên. “Thế ư?” Sĩ quan chỉ huy nói. “Dù tình cảnh ngặt nghèo thế nào cậu cũng phải cố mà xoay xở chứ, đúng không? Và một viên phi công giỏi sẽ chẳng lăn tăn gì về chuyện chỉ bay với ba động cơ.”
Đến lúc đó, Teddy mới nhận ra rằng họ không phải những chiến binh mà chỉ là những vật hy sinh vì đại nghĩa. Những con chim bị ném vào một bức tường, với hy vọng rằng cuối cùng, nếu có đủ số chim, chúng sẽ làm vỡ bức tường đó. Các số liệu thống kê trong những cuốn sổ cái to tướng của Bộ Chiến tranh của Maurice. (“Anh ta đã trở thành một gã khốn vênh vang tự đắc.” Ursula giận dữ viết.)
Và đó cũng là lúc Teddy quyết định rằng anh sẽ không để cho lòng dũng cảm của họ bị nghi ngờ lần nữa, họ sẽ không phải là “những người anh em yếu hèn” như lời nói của Harris, mà lần nào cũng sẽ “kiên định tiến tới” mục tiêu trừ phi hoàn toàn không thể, nhưng anh cũng sẽ cố gắng hết sức để giữ được tính mạng của cả tổ bay. Trong khoảng thời gian còn lại của kỳ quân dịch đầu tiên, mỗi khi họ không phải đi làm nhiệm vụ, anh thường bắt họ tập nhảy dù và hạ cánh trên mặt nước - họ chỉ tập chay thôi vì không có điều kiện để tập trên không hay trên mặt nước thực sự, nhưng nếu họ biết phải làm gì, nếu họ thuần thục các thao tác, họ sẽ - có thể - vượt qua được những tỷ lệ u ám kia. Khi họ mới lập đội ở OTU, Vic và Kenny đã luyện bắn súng trên không nhiều hơn bất kỳ ai. Họ đã tiến hành những chuyến bay ném bom giả ở cảng Immingham, tham gia vô số cuộc tập trận chung với máy bay chiến đấu để luyện rèn kỹ năng lẩn tránh. Teddy vẫn cố gắng cho họ thực hiện càng nhiều bài tập bay đường trường càng tốt, và thường xuyên tập trận chung với những chiếc chiến đấu cơ Spitfire từ căn cứ máy bay chiến đấu ở gần chỗ họ nhất. Anh thuyết phục cả đội thông thạo mã Morse và hiểu biết về công việc của nhau, để nhỡ có rơi vào “hoàn cảnh ngặt nghèo” như lời viên sĩ quan chỉ huy máu lạnh kia, họ có thể thế chỗ nhau khi cần. Trên lý thuyết, Keith sẽ là người tốt nhất đảm nhiệm vị trí của Teddy nếu Teddy xảy ra chuyện gì, vì lúc đầu cậu ta đã được huấn luyện làm phi công, nhưng Teddy vẫn dạy cả Norman Best những bước lái máy bay sơ đẳng, “bởi vì cái gã xén lông cừu người Úc quái quỷ kia có thể lái “con diều[129]” chết tiệt này nhưng hắn sẽ không thể làm cho nó hạ cánh”. Dạo này Teddy hay chửi thề, những từ đệm khiếm nhã là thứ dễ lây nhiễm, nhưng anh vẫn cố tránh những từ bậy nhất. Đương nhiên, nếu có chuyện gì xảy ra với Teddy thật, có lẽ tất cả bọn họ đều sẽ tiêu tùng cả.
Teddy biết rằng Mac luôn vạch ra lộ trình gần với những vùng đất trung lập nhất - Thụy Sĩ hoặc Thụy Điển hoặc Bồ Đào Nha - và vào những đêm trời trong, cậu ta sẽ trau dồi kỹ năng định vị bằng thiên văn của mình. Còn cậu chàng Norman Best rụt rè, nhút nhát thường mặc cả bộ quần áo kiểu Pháp bên trong bộ đồ chiến, kể cả quần lót. Đây là bộ đồ mà cậu ta kiếm được ở Paris hồi còn là sinh viên. Trong túi cậu ta còn nhét một chiếc mũ nồi Pháp xịn nữa. Cậu ta đúng là một hướng đạo sinh, Teddy nghĩ. “Chuẩn bị sẵn sàng về mặt tinh thần bằng cách nghĩ trước bất cứ tai nạn hay tình huống nào có thể xảy ra.” Xem ra những kỹ năng sử dụng cung tên mà Teddy được học từ tổ chức Kibbo Kift sẽ chẳng giúp ích gì nhiều nếu anh phải trốn tránh ở Pháp.
Sau này, Norman phải nhảy dù xuống đất Pháp thật, khi bay cùng một tổ bay khác, trong kỳ quân dịch thứ hai của cậu ta vào năm 1943, nhưng mọi sự chuẩn bị của cậu ta đều hóa thành công cốc vì chiếc dù đã bốc cháy khi cậu ta nhảy ra khỏi máy bay, rồi cậu ta rơi thẳng xuống đất như một hòn chì dây dọi cháy rừng rực, thi thể của cậu ta không bao giờ được tìm thấy. Norman không mang theo bùa may nào, cũng không có nghi thức bắt buộc nào giống như George Carr, người phải quay vòng tròn theo chiều kim đồng hồ ba lần, giống như một chú chó đang tìm chỗ nằm, trước khi bước lên máy bay và nghĩ rằng không ai nhìn thấy.
Viên phi công tập sự khốn khổ đứng cạnh Teddy lúc cất cánh. Cậu ta tên là Guy - một cựu học sinh trường Eton, cậu ta khoe vậy với hy vọng có thể tạo nên một mối thân tình với Teddy. “Tôi không học trường Eton.” Teddy thờ ơ nói. Guy còn phải học hỏi nhiều. Nếu cậu ta sống đủ lâu. (“Đúng là một thằng ngốc.” Vic nói.)
Đương nhiên, cậu ta không phải là viên phi công tập sự đầu tiên bay cùng họ, họ từng bay với vài “kẻ lạc loài” - cách họ gọi những người có mặt trên máy bay nhưng không thuộc tổ bay của mình - khi các thành viên khác của tổ bay không thể tham gia phi vụ. George Carr từng được nghỉ phép để về dự tang cha. Mac từng bỏ lỡ một phi vụ bởi bệnh viêm dạ dày, còn Kenny từng bị trật mắt cá chân khiến cậu ta không thể tham gia một cuộc không kích ở Bremen (hậu quả từ một cuộc diễn tập nhảy dù của Teddy). Vic Bennett đã lỡ mất phi vụ cuối cùng đầy kịch tính của chiếc J-Jig ở Turin tuần trước vì bị cảm lạnh nặng.
Mac đã bay bù với một tổ bay khác nhưng cả hai xạ thủ của họ vẫn thiếu một phi vụ để hoàn thành một kỳ quân dịch. Họ sẽ phải bay cùng tổ bay khác với tư cách “kẻ lạc loài”. Những kẻ đem lại vận xui.
Trong cuộc không kích Turin, họ đã bay với một xạ thủ trên không thay thế vị trí của Vic trong tháp pháo giữa. Giọng cậu ta nặng tiếng địa phương của vùng Tây Nam (“Zummerzet[130]”) và cậu ta hầu như chẳng nói gì trong suốt chuyến đi.
Họ đã bay qua những đỉnh núi phủ đầy tuyết trắng của dãy Alps dưới ánh sáng rực rỡ của vầng trăng tròn vành vạnh. “Không nhiều người được chứng kiến cảnh này đâu, phải không, phi cơ trưởng?” Kenny Nielson nói oang oang trên hệ thống liên lạc nội bộ. Ngay cả Mac cũng ló ra từ sau bức màn của mình để “chiêm ngưỡng quang cảnh đó”. “Cũng gần bằng dãy Rocky.” Cậu ta nói. Kenny liền đáp: “Ừ, nhưng cậu chưa từng được thấy dãy Rocky từ trên cao, đúng không?” Keith bắt đầu lẩm bẩm gì đó về dãy núi Blue cho đến khi Teddy nói “Được rồi, mọi người”, trước khi họ sa đà vào cuộc tranh luận sôi nổi về các ưu, nhược điểm của những dãy núi trên thế giới.
“Kẻ lạc loài” chẳng có gì để nói về những ngọn núi. Teddy cho rằng ở Somerset không có nhiều núi. Ngoại trừ vài chuyến đi biển ở Cornwall hồi anh còn nhỏ, miền Tây Nam là vùng đất anh chưa được khám phá. Anh nghĩ nếu sống sót sau chiến tranh, anh sẽ đi một vòng quanh nước Anh, khám phá tất cả đường lớn, đường nhỏ, những ngôi làng ít người biết đến, những di tích hùng vĩ, những đồng cỏ, trảng đất và hồ nước. Tất cả mọi thứ đang được họ chiến đấu bảo vệ.
Norman nói họ vinh dự “được ban đặc ân” ngắm nhìn thế giới theo một cách mà ít người có cơ hội trải nghiệm. Một đặc ân mà họ phải trả một cái giá khủng khiếp mới có được, Teddy nghĩ.
Họ không chỉ ngơ ngẩn sững sờ trước hình ảnh của dãy Alps dưới ánh trăng mà còn sửng sốt bởi bầu trời thăm thẳm, tối đen như mực, điểm xuyết hàng ngàn hàng vạn vì sao - tựa như những hạt giống rực rỡ được một vị thần hào phóng nào đó gieo xuống, Teddy nghĩ, lại gần đến mức nguy hiểm lĩnh vực thi ca mà anh đã từ bỏ bấy lâu. Họ đã từng chứng kiến những buổi hoàng hôn và bình minh tráng lệ, đẹp đến rung động tâm can. Và có lần, trong một chuyến bay tới Bochum, họ còn được chiêm ngưỡng màn trình diễn ngoạn mục của Bắc cực quang - giống như một tấm rèm sặc sỡ rung rinh treo trên bầu trời, diễm lệ đến không bút nào tả xiết.
Ở vị trí biệt lập đằng sau máy bay, Kenny Nielson tuyên bố rằng cậu ta có “chỗ ngồi tuyệt vời nhất”. Những buổi hoàng hôn đặc biệt khiến cậu ta choáng ngợp. Từ đuôi máy bay, cậu ta có thể nhìn thấy cảnh mặt trời lặn rất lâu sau khi các thành viên còn lại trong đội đã chìm vào bóng tối. “Bầu trời đang bốc cháy.” Cậu ta phấn khích thông báo sau khi Teddy nhấc chiếc Halifax khỏi đường băng và bay lên không trung. Teddy có một thoáng sợ hãi - anh hình dung kẻ thù đang tiến hành một trận Armageddon[131] với họ, nhưng rồi Vic Bennett ở tháp pháo giữa nói: “Đó là buổi hoàng hôn đẹp nhất mà tớ từng nhìn thấy.”
“Ừ, cứ như Chúa đã tô màu cho bầu trời vậy.” Kenny đáp lời. Teddy liền nói: “Chúng ta yên lặng một chút được không?” Anh nhẹ nhõm vì tận thế chưa đến gần và bàng hoàng khi thấy bản thân mình lại có ý nghĩ là nó đang đến. “Thật là diễm tuyệt!” Kenny khăng khăng, không thể buông bỏ vẻ đẹp này. Hoặc “Vẻ Đẹp”, như cách nói của Sylvie.
Vì là xạ thủ ở tháp pháo đuôi nên trong số tất cả bọn họ, Kenny là người ít có khả năng sống sót để chứng kiến một buổi hoàng hôn ở thời bình nhất. Cô bạn của Ursula nói cậu ta chỉ có một phần tư cơ hội sống tới lúc đó. Cuối cùng, đương nhiên, chính cô gái ở Bộ Không quân ấy mới là người không có tương lai, cô ta đã bị quả tên lửa Aldwych V-1 giết chết vào tháng Sáu năm 1944. Khi ấy cô ta đang vừa sưởi nắng vừa ăn sandwich trong bữa trưa trên nóc Tòa nhà Adastral, nơi Bộ Không quân đóng đô. (Tỷ lệ xảy ra chuyện đó là bao nhiêu phần trăm? Teddy tự hỏi.)
Những cô gái khác trong Bộ Không quân bị hút ra khỏi những ô cửa sổ vỡ hết kính của tòa nhà và rơi xuống đường phố mà chết. Ursula nói có một người đàn ông bị một mảnh kính rơi cứa đứt đôi người. Teddy cho rằng đối với vài người, Ursula cũng chỉ là một cô gái - cô gái ở Lực lượng Dân phòng.
Cô ta tên là Anne. Cô gái ở Bộ Không quân ấy. Khi họ chia tay nhau sau buổi tối cùng vui chơi ở Hammersmith Palais (cô ta đã nhảy một điệu foxtrot điêu luyện), cô ta đã nói với Teddy: “Chà, chúc may mắn” và không nhìn vào mắt anh.
Trong chuyến bay tới Turin, họ không gặp nhiều hỏa lực phòng không - những khẩu súng cao xạ của Ý dường như không quyết liệt lắm. Họ giội bom xuống mục tiêu từ độ cao gần năm nghìn mét, nhắm vào những điểm được đánh dấu màu đỏ. Thời tiết bắt đầu xấu đi. Dãy Alps không còn xinh đẹp nữa - thực ra, họ không còn nhìn thấy chúng - và khi họ quay về nhà, họ thấy mình phải đối mặt với một tòa tháp mây tích khổng lồ đen sì sì, to lù lù ở ngay trên đầu họ. Bên trong con quái vật này có những ánh chớp và những tia lửa sáng lóa, như thể những vụ nổ nhỏ đang diễn ra, và lúc đầu, họ cứ nghĩ đó là một phần của cuộc oanh kích - hoặc thậm chí là một loại vũ khí mới đang được thử nghiệm - phải mất vài giây họ mới hiểu ra rằng họ đang bay vào một khối mây tích đồ sộ, hung hiểm.
Không khí nhiễu động dữ dội, rung lắc chiếc J-Jig như thể nó là một chiếc máy bay đồ chơi. Như thể nó là con ruồi trong tay những cậu bé tinh nghịch. Hoặc những vị thần hung bạo. Thần Zeus giáng sấm sét, thần Thor vung cây búa. Bridget thường giải thích đó là các nàng tiên đang di chuyển đồ đạc, một hình ảnh hiền hòa phù hợp với một thời kỳ yên bình, tươi đẹp hơn. Vài nàng tiên mới đúng, Teddy nghĩ. Trên hệ thống liên lạc nội bộ, anh có thể nghe thấy những tiếng kêu ca, chửi thề, từ những lời réo gọi Chúa dè dặt, đầy sợ hãi của Norman - “Ôi, Chúa ơi” - đến những lời khiếm nhã gay gắt hơn của Keith: “Mẹ kiếp, mẹ kiếp, mẹ kiếp, hãy đưa chúng ta ra khỏi thứ quái quỷ này đi, phi cơ trưởng.”
Sau này, tất cả bọn họ đều nhất trí rằng cơn thịnh nộ của thiên nhiên ấy còn tồi tệ hơn bất cứ hệ thống hỏa lực phòng không nào mà họ từng gặp phải. Hỏa lực phòng không thì họ hiểu rõ, còn thứ họ đang đối mặt lúc bấy giờ khó lường hơn rất nhiều. Chốc chốc lại có tia chớp lóe lên, rọi sáng những gì trông như các hang động và khe nứt ác hiểm bên trong cái khối đen ngòm ấy. Những luồng khí nhiễu động thất thường khiến họ cứ liên tục chồm lên chồm xuống, hết lạng qua bên này rồi lại lạng qua bên kia - và Teddy băn khoăn tự hỏi liệu điều này có thể làm cho chiếc máy bay vỡ tan không.
Nhiệt độ bên ngoài giảm xuống đột ngột và băng bắt đầu hình thành trên hai cánh máy bay. Băng là một kẻ địch dữ tợn, nó có thể xuất hiện rất nhanh và đôi khi không báo trước - nó phải nặng đến cả tấn, đóng băng các động cơ và bộ điều chỉnh, phủ kín hai cánh máy bay trong những lớp băng dày trắng muốt. Nó có thể khiến cho chiếc máy bay trở nên nặng đến nỗi có thể rơi thẳng xuống đất hoặc vỡ tan tành ngay trên không trung.
Trên hệ thống liên lạc nội bộ liên tiếp vang lên những tiếng bật thốt “Jesus ơi”, “Chúa ơi” và “Mẹ kiếp” khi họ bị quăng quật dữ dội, thậm chí còn có cả tiếng lầm rầm tụng niệm bài Thánh vịnh 23: “Vâng, dầu khi con đi qua thung lũng phủ bóng của cái chết…” Lời tụng niệm ấy bị ngắt ngang bởi vài tiếng thở hổn hển kinh ngạc khi chiếc J-Jig đột ngột được nhả ra khỏi đám mây tích để rồi lại thấy mình bị một bóng ma ám lấy.
Ngọn lửa Thánh Elmo[132] xuất hiện khắp nơi, xanh rực và huyền ảo - một hiện tượng phát quang kỳ quái lóe lên dọc theo các mép của cánh máy bay, thậm chí xoay tròn theo các cánh quạt, bắn ra ngoài và tạo thành những vệt sáng mảnh mai lạ thường trong bóng tối, giống như những vòng pháo hoa hình xoắn ốc ma quái. Từ tháp pháo đằng sau, Kenny báo cáo rằng nó đang “nhảy nhót” giữa các họng súng của cậu ta. “Trên này cũng thế.” Xạ thủ ở tháp pháo giữa thông báo.
Hiện tượng kỳ lạ này khiến Teddy nghĩ đến các hồn ma Willis trong vở ba lê Giselle. Anh từng xem vở ba lê ấy ở Nhà hát Opera Hoàng gia hồi anh còn đi học, đó là chuyến đi do thầy giáo dạy nhạc của anh tổ chức. Các vũ công đã được chiếu sáng bởi ánh đèn xanh rờn rợn và kỳ dị, giống như thứ ánh sáng đang bám vào chiếc phi cơ J-Jig này. Nghĩ lại thì đó quả là một lựa chọn kỳ cục đối với một lớp học toàn những cậu nam sinh nội trú mười ba tuổi ồn ào, huyên náo. Khi nghe kể chuyện này, bố anh đã nhướng mày và hỏi tên thầy giáo ấy là gì (“Bố đoán thầy ấy là người ngưỡng mộ Wilde”) và ngay cả Sylvie, vốn rất yêu Nghệ thuật, cũng lấy làm nghi ngờ về sự lựa chọn mà bà nói là khá “lạ đời” này, bởi vì thường thì họ chỉ rời khỏi khuôn viên trường để đi xem một trận thi đấu bóng bầu dục. Sau đó, Teddy đã gặp ác mộng, anh mơ thấy những ma nữ ấy chộp lấy người anh và cố kéo anh xuống một nơi tối tăm, vô định.
Ngọn lửa xanh cuối cùng cũng chập chờn và tắt ngúm, động cơ phía ngoài ở cánh phải bắt đầu rung lên khùng khục rồi chạy tít mù. Teddy vừa mới tắt nó đi thì cái động cơ phiền phức phía trong cánh trái cũng bắt đầu rung lên. Nghe tiếng kêu, có cảm giác như nó sắp rụng hẳn khỏi cánh máy bay. Có lẽ nó rụng xuống cũng tốt.
Teddy bảo Mac lập ra một lộ trình bay mới để đưa họ về nhà một cách nhanh nhất. Cơn dông đã khiến cho những thiết bị đo đạc bằng từ tính của họ trở nên vô dụng. Vậy là Mac phải sử dụng phương pháp định vị dự đoán để lập ra một lộ trình mới, nhưng cậu ta còn chưa lập xong thì động cơ phía trong ở cánh trái đã bốc cháy. Tha cho tôi đi, Teddy nghĩ, rồi thực hiện một cú bổ nhào thẳng đứng (“Bám chắc vào, mọi người!”), cú bổ nhào này có kết quả đáng mừng là không những dập tắt được lửa mà còn giũ được băng trên hai cánh. Đúng là trong cái rủi có cái may, anh nghĩ. Hay phải nói ngược lại mới đúng, mọi cái may đều nằm trong cái rủi.
Động cơ phía ngoài ở cánh phải hiện đang bốc khói và vài phút sau, Keith báo cáo rằng cậu ta nhìn thấy những ngọn lửa bốc lên, thế rồi, đùng một cái, động cơ ấy phát nổ, sức ép của vụ nổ khiến chiếc máy bay gần như lộn nhào. Một tràng cảm thán báng bổ vang lên như mưa trên hệ thống liên lạc nội bộ: “Chúa Jesus ơi”, “Chết tiệt” và Teddy nói: “Ổn rồi.” Quả là ngớ ngẩn khi nói vậy, anh nghĩ. Họ đang bay bằng hai động cơ, chống chọi với một trận gió ngược, băng vẫn còn bám trên thân, không có radio và về nhà chỉ bằng phương pháp định vị dự đoán. Họ hoàn toàn không ổn chút nào.
Teddy đang tính yêu cầu mọi người rời khỏi máy bay thì một chuyện thậm chí còn đáng lo ngại hơn đã xảy ra. Mac bắt đầu hát. Mac đấy! Và không phải một bài hát ngắn nào đó từ những khu rừng xa xôi hẻo lánh ở Canada, mà oang oang biểu diễn cả một bài Cậu bé thổi kèn theo điệu Boogie Woogie. Cho dù nghe qua hệ thống liên lạc nội bộ, nó vẫn là một cuộc trình diễn khá đáng sợ, đặc biệt là khi cậu ta nhái tiếng kèn, giống như một con voi đang đau đớn. Khủng khiếp hơn nữa, ngay sau đó cậu ta cất tiếng cười man dại, khá giống kiểu hát của Charles Penrose[133] trong bài Viên cảnh sát cười. Teddy bèn bảo Norman tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra đằng sau tấm rèm của Mac.
Thì ra ống ôxy của cậu ta đã bị đông cứng. Norman cố gắng rã đông nó bằng cà phê trong bình của mình nhưng chỗ cà phê ấy giờ cũng chỉ còn âm ấm. Họ liền kéo Mac ra khỏi chỗ ngồi, cố gắng giúp cậu ta lấy dưỡng khí từ bình ôxy trung tâm và hy vọng mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Tình trạng thiếu ôxy thường khiến người ta làm những việc kỳ quặc nhất rồi sau đó giết chết họ.
Sau chiến tranh, Mac làm việc cho một công ty bảo hiểm lớn ở Toronto. Lúc Teddy gặp lại Mac trong một bữa tiệc hội ngộ của phi đoàn - bữa tiệc hội ngộ duy nhất mà Teddy tham dự - Mac đã lấy vợ, sinh được ba đứa con và nghỉ hưu sớm (“nhờ làm vài vụ đầu tư khôn ngoan”). Mac chẳng còn có vẻ thân thuộc nữa, và Teddy chợt nhận ra có lẽ mình thực sự chưa bao giờ hiểu Mac. Có lẽ Teddy chưa bao giờ hiểu bất kỳ ai trong số họ. Họ chỉ có cảm giác là mình hiểu nhau bởi cái hoàn cảnh mà họ cùng bị đẩy vào. Phiên bản Mac già dặn này có vẻ khá tự mãn trong mắt Teddy. Khoảng thời gian khủng khiếp họ cùng kề vai sát cánh bên nhau có vẻ không để lại chút dấu ấn nào đối với ông ta. Ông ta cho rằng từ thuở hồng hoang người già đã có thói quen hồi tưởng lại những cuộc chiến cũ. Jericho[134], Thermopylae[135], Nuremberg. Ông ta thực sự không muốn giống họ. Teddy rời cuộc hội ngộ sớm, nói rằng “Xin lỗi các cậu, tôi phải tếch trước đây”, dễ dàng dùng lại thứ “tiếng lóng” mà giờ đây người ta cho là đã quá cổ lỗ.
Ngay cả khi đó, sau bao nhiêu năm trôi qua, ông thấy rằng trong những đêm dài thao thức, bị chứng mất ngủ hành hạ, ông sẽ niệm những cái tên ấy. Essen Bremen Wilhelmshaven Duisburg Vegesak Hamburg Saarbrucken Dusseldorf Osnabruck Flensburg Frankfurt Kassel Krefeld Aachen Genoa Milan Turin Mainz Karlsruhe Kiel Cologne Gelsenkirchen Bochum Stuttgart Berlin Nuremberg[136]. Vài người có thể đếm cừu. Còn Teddy nhẩm đếm những thành phố và thị trấn mà ông đã cố phá hủy, những thành phố và thị trấn đã cố hủy hoại ông. Có lẽ chúng đã thành công.
Trên đường từ Turin trở về, khi đang đến gần bờ biển nước Pháp, họ gặp phải hỏa lực phòng không. Một quả đạn của súng cao xạ đã bắn trúng thân máy bay, gần như hất chiếc J-Jig rơi xuống khỏi bầu trời. Họ đang bay qua đám mây dày và trong một thoáng giây mất phương hướng, Teddy nghĩ họ đang bay lộn ngược. Chiếc máy bay nồng nặc mùi thuốc súng và có khói thoát ra từ đâu đó, mặc dù không có dấu hiệu của lửa.
Teddy kiểm tra tổ bay của mình. “Mọi người ổn chứ?” Anh hỏi. “Xạ thủ ở tháp pháo đuôi? Xạ thủ ở tháp pháo giữa? Lính cắt bom?” Người luôn khiến Teddy lo lắng nhất là xạ thủ ở tháp pháo đuôi, cậu ta bị mắc kẹt ở phía cuối, cách xa bọn họ. Anh ngạc nhiên vì một người lắm lời và thích giao du như cậu nhóc Kenny Nielson lại rất đỗi vui vẻ trong “cái ổ” lạnh lẽo và cô đơn của mình. Teddy biết bản thân anh không thể chịu đựng cái không gian chật chội, tù túng ấy.
Mọi người báo cáo về tình trạng của mình theo nhiều cách khác nhau, “Ổn”, “Tốt”, “Vẫn ở đây”, vân vân. Norman đi kiểm tra hư hại. Thân máy bay bị thủng vài lỗ và cửa thoát hiểm ở phía dưới đã bị bay mất. Cậu ta nói hẳn là hệ thống thủy lực đã bị bể bởi vì cậu ta thấy mình đang bì bõm lội trong thứ chất lỏng gì đó, nhưng chẳng có gì đang cháy cả. Họ càng lúc càng bay thấp dần và chậm dần. Họ đang ở độ cao dưới một nghìn năm trăm mét và cởi mặt nạ dưỡng khí ra. Mac hiện đã trấn tĩnh trở lại và đang nằm ở chỗ nghỉ của tổ bay.
Teddy quyết định rằng họ không thể ì ạch bay rề rề thế này lâu hơn nữa. Anh bảo mọi người chuẩn bị rời khỏi máy bay, nhưng họ đang ở ngoài biển, và họ đều nhất trí rằng họ muốn bay tiếp hơn là nhảy dù. Càng tham gia nhiều phi vụ, niềm tin của họ vào khả năng Teddy đưa họ đến mục tiêu rồi trở về nhà an toàn càng trở nên vững chắc đến không thể lay chuyển nổi. Có lẽ họ đã đặt niềm tin nhầm chỗ, Teddy rầu rĩ nghĩ.
Lúc bờ biển Anh hiện ra trong tầm mắt (“Cảm ơn Chúa!” Anh nghe Norman nói), chiếc máy bay gần như đã hết nhiên liệu. George đã hì hụi sửa radio trong mấy tiếng đồng hồ vừa rồi, xoay xở phát đi một yêu cầu hạ cánh khẩn cấp nhưng khắp nơi dường như đã cửa đóng then cài đi ngủ cả rồi. Lúc này họ bay thấp đến nỗi khi bay qua một đường ray xe lửa, họ có thể nhìn thấy một đoàn tàu đang bò ở bên dưới, ánh lửa đỏ rực từ buồng đốt của đầu máy xe lửa lấp ló thoát ra khỏi những tầm chắn đen sì của nó. Anh không nghĩ họ có thể nhảy dù thành công từ độ cao này, vì thế anh bảo họ chuẩn bị tư thế chống đỡ va chạm, nghĩa là bám chặt vào bất cứ thứ gì trong tầm tay. Nhưng vào phút chót, một giọng nữ rành rọt điềm tĩnh cất lên từ căn cứ Scampton, cho phép họ hạ cánh. Norman nói: “Chúng ta có thể làm được, phi cơ trưởng.” Teddy nghĩ họ làm được nhờ mong ước mãnh liệt của họ hơn là vì bất cứ kỹ năng nào của anh. Nếu bảy khối óc đồng tâm nhất trí có thể lái một chiếc máy bay chỉ bằng sức mạnh ý chí thì họ hoàn toàn thừa sức làm được. Thực ra chỉ có sáu bộ óc.
Họ không đáp xuống đường băng được. Không có hệ thống thủy lực nên Teddy không thể sử dụng hai cánh tà, bánh đáp máy bay sẽ không hạ xuống, do đó họ phải hạ cánh bằng bụng với vận tốc một trăm năm mươi dặm một giờ, lao quá đường băng, đâm xuyên qua hàng rào vành đai, trượt băng băng vào một cánh đồng, nẩy qua một con đường, gần như phạt cụt đầu hồi của một dãy nhà tranh trong trang trại trước khi đâm xuyên qua một hàng rào khác và cày nát một cánh đồng, tại đó, chiếc phi cơ mới chịu dừng lại sau một hồi rung lắc, chao đảo dữ dội. Vài người trong tổ bay bị ngã chúi vào vách ngăn ở phía trước, thâm tím và bầm giập, vì thế phải mất một lúc họ mới trèo được lên cái thang dẫn lên lối thoát hiểm bên trên. Những đám khói cay sè lập tức ngập tràn khoang máy bay. Teddy đứng ở chân thang, hướng dẫn mọi người trèo ra, giục họ: “Hãy nhanh chân hết mức có thể, các chàng trai.” Anh nhẩm đếm. Còn thiếu hai người, trong đó một người chính là Kenny. Cũng không thấy tăm hơi xạ thủ ở tháp pháo giữa.
Khi Teddy cuối cùng cũng ra ngoài, anh thấy rằng tháp pháo đằng sau vẫn còn gắn liền nhưng những bộ phận còn lại của chiếc máy bay đã rơi rụng hết. Chiếc J-Jig đã để lại một vệt dài ở đằng sau - bánh xe, cánh, động cơ, bình nhiêu liệu, giống như một người phụ nữ phóng đãng đang cởi phăng hết quần áo. Những gì còn lại của thân máy bay đang bốc cháy và anh thấy tổ bay vẫn còn choáng váng của mình tụ lại quanh tháp pháo đuôi của chiếc phi cơ, nơi Kenny có vẻ đang bị mắc kẹt. Keith hét lên với cậu ta: “Ra ngoài đi, thằng ngốc chết tiệt!” Mặc dù cậu ta rõ ràng không thể làm được điều đó vì cửa tháp pháo bị kẹt chặt, không chịu nhúc nhích.
Ôi, Chúa ơi, Teddy nghĩ, phi vụ ác mộng này sẽ không có hồi kết sao? Họ sẽ phải chịu hết nỗi kinh hoàng này đến nỗi kinh hoàng khác chăng? Phải, anh cho rằng vậy, vì chẳng phải chiến tranh là như thế ư?
Lúc này, thân máy bay đằng sau Kenny bốc cháy phừng phừng và Teddy kinh hãi nghĩ đến những băng đạn của Kenny, tự hỏi còn bao lâu nữa thì lửa lan đến chỗ chúng. Kenny đang điên cuồng rủa xả toàn những lời tục tĩu mà sau này ngay cả Keith cũng phải thú nhận là từ trước đến giờ cậu ta chưa từng nghe thấy. Liệu họ có phải chứng kiến cảnh Kenny chết cháy không?
Trong tháp pháo có một ô kính Perspex nhỏ đã được tháo ra để cho xạ thủ ở tháp pháo đuôi có thể nhìn rõ ràng hơn (cũng như làm cậu ta lạnh gần chết). Họ bắt đầu cổ vũ Kenny cố gắng trèo qua khe hở nhỏ xíu này. Cậu ta đã cởi bộ đồ giữ nhiệt đồ sộ nhưng bộ quân phục vẫn làm cậu ta vướng víu.
Có lần, trong một chuyến tham quan sở thú ở London, Teddy đã nhìn thấy một con bạch tuộc len mình qua một cái lỗ nhỏ đến mức không ai nghĩ là nó có thể chui lọt, đây là trò giải trí mà người chăm sóc nó rất thích biểu diễn cho các cậu bé xem. Nhưng con bạch tuộc không bị vướng víu bởi một chiếc áo khoác dã chiến và đôi giày không quân kềnh càng, hơn nữa, nó cũng không có xương. Tuy nhiên, nếu có ai thực hiện được ngón nghề giống như những trò biểu diễn của Houdini[137] này thì đó phải là cậu xạ thủ ở tháp pháo đuôi nhỏ bé giống y như một con chuột của họ.
Cậu ta xoay xở chui được đầu ra và bắt đầu luồn vai qua khe hở. Teddy cho rằng hình ảnh này khá giống lúc một đứa trẻ chào đời, mặc dù anh hoàn toàn mù tịt về quá trình đó. Khi Kenny đã luồn được vai qua khe hở, họ liền tóm lấy cậu ta và ra sức kéo, ai nấy đều gân cổ hò hét, cho đến khi cậu ta bất thình lình nẩy bật ra như một nút bần bật khỏi một cái chai, hoặc giống như Jonah[138] được con cá voi nôn mửa ra. Thế rồi, trước sự sửng sốt của họ, thay vì lập tức nhảy xuống, cậu ta gỡ mình ra khỏi tay họ, thò đầu và một cánh tay vào trong tháp pháo qua cái lỗ, một giây sau, cậu ta hân hoan rút đầu ra, giơ cao con mèo đen rách rưới nhưng vô cùng may mắn của mình.
Sau đó, tất cả bọn họ đều chạy trối chết để tránh xa cái xác máy bay. Một phút sau, cái xác ấy phát nổ, các bình ôxy vỡ tung tạo nên những lưỡi lửa trắng sáng rực vươn cao lên bầu trời lúc rạng đông, tiếp đó là tiếng lốp bốp chói tai và những viên đạn bắn tung tóe từ các băng đạn trong hai tháp pháo.
Đó chính là kết cục của chiếc J-Jig tội nghiệp, “con ngựa thồ” cần cù đã chở họ tới địa ngục rồi quay lại trong cái bụng hôi hám, đầy dầu mỡ của nó.
“Nó đã là một “con diều” tốt.” Keith nói, cất lời tán tụng. Đúng thế, tất cả bọn họ đều nhất trí.
“An nghỉ nhé!” Kenny nói.
Cú hạ cánh của chiếc J-Jig đã đánh thức thô bạo những người sống trong các ngôi nhà tranh, nhưng một người phụ nữ hiền từ tốt bụng vẫn mang ra cho họ một khay trà. Ông nông dân xuất hiện, trách mắng họ vì đã phá hỏng những cây bắp cải của ông ta, nhưng ông ta liền bị người phụ nữ hiền từ la rầy. Vào lúc đó, một chiếc xe tải trờ tới, đưa họ về căn cứ Scampton, ở đó, họ được ăn sáng rồi chờ đợi để được chở về phi đoàn của mình.
Bấy giờ họ chẳng muốn gì ngoài một giấc ngủ ngon, và hành trình trở về dường như kéo dài bất tận. Ngay cả khi đã về đến phi đoàn, họ vẫn phải trải qua thủ tục thường lệ là báo cáo với một sĩ quan tình báo. Họ xám ngoét vì mệt mỏi, khuôn mặt vẫn còn in những vết hằn từ những chiếc mặt nạ dưỡng khí, tai gần như điếc đặc vì tiếng ồn phát ra từ các động cơ của chiếc J-Jig. Đầu Teddy đau như búa bổ, một hiện tượng phổ biến sau mỗi chuyến bay.
Lúc đó đã gần đến giờ ăn trưa nhưng họ vẫn được thưởng những cốc trà pha rượu rum như thường lệ. Rồi cha tuyên úy lần lượt mang thuốc lá và bánh quy đến cho từng người và nói: “Thật là tuyệt khi thấy các cậu trở lại, các chàng trai.” Tổ mặt đất đã chờ họ cho đến khi nghe tin từ căn cứ Scampton rằng họ an toàn. Viên sĩ quan chỉ huy đã không ngủ tí nào, ngồi lì nghe họ báo cáo với sĩ quan tình báo. Họ là tổ bay hoạt động lâu nhất của ông ta, và ông ta quý mến họ như một người cha quý mến những đứa con của mình. Turin đã là phi vụ thứ hai mươi tám của họ.
Khi họ hạ cánh, không còn thấy “kẻ lạc loài” đâu cả. Họ đoán rằng hẳn là cậu ta đã mau mắn nhảy dù ra ngoài ngay khi Teddy yêu cầu họ rời khỏi chiếc J-Jig. Lúc đó họ đang ở trên bầu trời nước Pháp. Phải không nhỉ? Hoặc trên biển Bắc. Teddy mệt đến nỗi anh gần như chẳng còn nhớ nổi tên của chính mình, nói gì đến những chi tiết tỉ mỉ hơn của chuyến trở về cam go ấy. Anh chắc chắn không thể nhớ được tên của “kẻ lạc loài” đó.
“Tôi nghĩ là Fred.” George Carr nói. “Frank chứ.” Theo lời Norman. “Nhất định là một cái tên bắt đầu bằng chữ F.” Họ nhất trí với nhau như vậy, và sĩ quan tình báo phải lật giở đống giấy tờ của mình trước khi nói: “Thực ra là chữ H. Harold Wilkinson.”
“Chúng ta đoán cũng gần đúng còn gì.” George Carr nói.
Mac hoàn toàn chẳng nhớ gì về tình trạng thiếu ôxy của mình. Cậu ta nói cậu ta thậm chí còn không biết lời bài hát Cậu bé thổi kèn theo điệu Woogie Boogie, mặc dù họ cứ hát đi hát lại bài hát đó cho cậu ta nghe trong buổi chè chén sau phi vụ Turin. Họ được nghỉ bốn mươi tám tiếng và dành một nửa số thời gian ấy để ngủ, nửa còn lại thì say túy lúy quên trời quên đất ở quán rượu Betty’s ở York.
Rất lâu sau khi chiến tranh kết thúc, Teddy đã thử điều tra một chút xem có thể tìm hiểu được chuyện gì xảy ra với “kẻ lạc loài” ấy không. Không thấy có báo cáo nào về việc cậu ta nhảy dù thành công hay lẩn trốn hoặc bị bắt làm tù binh. Cậu ta là một trong những người mất tích, và cuối cùng tên của cậu ta được xuất hiện trên đài tưởng niệm Runnymede dành cho những người đàn ông không có mộ phần. Trên cái đài tưởng niệm đó, cậu ta được tưởng nhớ với cái tên Harold Wilkinson, không phải “kẻ lạc loài”. “Gã ngốc.” Vic Bennett nói. “Đáng lẽ hắn phải tin tưởng phi công của mình hơn, đúng không? Không thể tin nổi là tôi lại bị lỡ mất chuyến bay đầy kích thích đó.”
Họ vẫn còn về sớm hơn tổ bay của chiếc A-Able. Chiếc máy bay ấy cũng tham gia cuộc không kích Turin cùng với họ, nhưng trên đường về đã đổi hướng bay tới Algiers vì hai động cơ của nó bị hỏng. Tổ bay của chiếc A-Able về đến phi trường sau khi đã được chính thức đăng thông báo là mất tích. Trước sự thích thú của mọi người, họ dỡ những thùng cam xuống từ chiếc máy bay Halifax của họ, chúng được chia cho mọi người khắp phi đoàn, và một ít được đem đến cho trường tiểu học ở địa phương. Teddy ăn quả cam của mình rất chậm rãi, anh nhấm nháp từng múi và nghĩ về những mảnh nắng nóng bỏng của vùng Địa Trung Hải mà anh không bao giờ nghĩ là mình sẽ được thấy lại một lần nữa. Đúng vậy. Sau chiến tranh, Teddy không bao giờ ra nước ngoài một lần nào, ông không bao giờ đi nghỉ ở nước ngoài, không bao giờ bước lên một chiếc máy bay hiện đại hoặc một con tàu biển. Viola nói với ông rằng “chính sách biệt lập chủ nghĩa” này thật “thảm hại”, và ông nói đó không phải là một chính sách, chẳng qua mọi chuyện cứ xảy ra như thế thôi. Nó cũng không mang tính “sô vanh hiếu chiến” và “bài ngoại” - hai từ ngữ đầy tính công kích khác trong kho vũ khí bằng ngôn từ của cô. Cô buộc tội ông “không có máu phiêu lưu”, còn ông nghĩ rằng chiến tranh đã mang đến cho ông quá đủ những chuyến “phiêu lưu” cho không chỉ một mà tận mấy cuộc đời rồi, và một người đàn ông vẫn có thể phát triển bản thân một cách tốt đẹp trong chính khu vườn của mình. “II faut cuitiver noire jardin”[139], Ông nói với cô, nhưng cô chưa bao giờ nghe nói về tác phẩm Candide. Ông thậm chí còn không chắc liệu cô đã bao giờ nghe nói về Voltaire chưa.
“Cửa khoang chứa bom đã mở, phi cơ trưởng.”
“OK, lính cắt bom.”
“Giữ yên, phi cơ trưởng. Bên trái. Bên trái. Giữ yên. Sang phải một chút. Giữ yên, giữ yên. Bom đã được thả.”
Sau khi trút được gánh nặng là những trái bom, chiếc S-Sugar bay vọt lên cao. Nhưng họ vẫn chưa xong việc, vì còn phải tiếp tục bay thẳng qua mục tiêu, giữ nguyên cao độ chừng ba mươi giây nữa trong lúc pháo sáng được thả xuống, cung cấp ánh sáng cho chiếc máy ảnh trong khoang chứa bom chụp hình. Đó là bằng chứng cho thấy họ đã thực hiện việc ném bom - nếu không có nó, chuyến bay của họ có thể không được tính là một phi vụ - nhưng Teddy nghĩ có Chúa mới biết người ta sẽ nhìn thấy gì khi họ kiểm tra kết quả. Những đám mây hoàn toàn che kín mục tiêu, chưa kể màn khói thải công nghiệp đen sì vĩnh viễn trùm lên vùng Ruhr, cho dù ở dưới kia có là bề mặt của mặt trăng thì họ cũng chẳng hay biết. Họ cứ thả bom dựa vào những vật đánh dấu được lực lượng máy bay chỉ điểm mới thành lập rải xuống và hy vọng phi vụ thành công tốt đẹp.
Sau này, rất lâu sau khi chiến tranh kết thúc, khi tất cả những cuốn sách lịch sử, hồi ký và tiểu sử bắt đầu xuất hiện, khi người ta không còn muốn quên đi chiến tranh và bắt đầu muốn nhớ về nó, Teddy đã nghiên cứu kĩ về cuộc không kích này và phát hiện ra rằng, phần lớn lực lượng của họ đã ném bom xuống một nơi cách mục tiêu mười dặm về phía tây và, khi xem xét kĩ, có lẽ những chiếc máy bay ném bom phải chịu nhiều tổn hại hơn bất cứ ai trên mặt đất. Càng đọc nhiều, ông càng phát hiện ra trong những năm đó, những chuyến ném bom của họ đã thiếu chính xác đến mức nào. Ông đã nói với Mac về chuyện này ở bữa tiệc hội ngộ. “Thật là lãng phí!” Teddy nói. “Lãng phí biết bao nhiêu trái bom!” Mac nói. Teddy cho rằng vì là hoa tiêu nên Mac cảm thấy tự ái. “Chà, ý tôi thực sự không phải như vậy.” Teddy ngần ngừ. “Sự lãng phí nằm ở chỗ chúng ta đã tổn thất biết bao người và máy bay mà kết quả đem lại chẳng là bao. Chúng ta cứ tưởng mình đang làm tê liệt nền kinh tế của họ, nhưng nhiều lúc chúng ta chỉ đang giết phụ nữ và trẻ em.”
“Tôi không thể tin nổi là anh đã trở thành một kẻ cả nghĩ như vậy đấy, Ted.”
“Không phải thế.” Ông phản đối.
“Họ đã gây ra cuộc chiến đó, Ted.” Mac nói.
Và chúng ta kết thúc nó, Teddy nghĩ. Ông mừng thầm vì mình đã ngồi ngoài cuộc chiến trong một trại tù binh chiến tranh POW suốt mười tám tháng cuối cùng, nhờ đó ông đã không phải chứng kiến Binh chủng Máy bay ném bom cố gắng xóa sổ nước Đức khỏi bản đồ châu Âu.
Đó là cú chốt cho mọi cuộc tranh luận. Họ đã gây ra cuộc chiến đó. Họ đã gieo gió. Họ đã chuốc lấy nó. Những câu nói sáo rỗng rập khuôn mà chiến tranh đã thổ ra. “Ăn miếng trả miếng.” Mac nói. “Và anh có thể nói những gì anh thích, Ted, nhưng một người Đức tốt là một người Đức đã chết.” (Tất cả bọn họ ư? Teddy tự hỏi. Kể cả bây giờ?)
“Tôi biết. Tôi không nói chúng ta không nên ném bom họ.” Teddy nói. “Nhưng với sự nhận thức muộn màng…”
“Vấn đề là, Ted, cho dù có cái mà anh gọi là “sự nhận thức muộn màng” ấy, nếu được yêu cầu, liệu anh có làm lại việc đó lần nữa không?”
Có. Đương nhiên là có (Auschwitz, Treblinka), nhưng ông không trả lời Mac.
Chiếc máy ảnh đóng màn trập, Teddy nghiêng chiếc S-Sugar đi để chuẩn bị quay đầu, còn Mac ấn định lộ trình cho đoạn đường về nhà. “Cũng không quá tệ.” Viên phi công phụ nói. (Tên cậu ta là Guy, phải không nhỉ? Teddy không chắc. Cậu ta có vẻ là Guy. Hay là Giles nhỉ?) Hai, ba giọng nói càu nhàu rên rỉ trên hệ thống liên lạc nội bộ. Câu nói ấy được coi là đặc biệt xui xẻo. “Chúng ta vẫn còn phải đi một chặng đường dài.” Teddy nói. Và quả thực trên đường trở về, hệ thống hỏa lực phòng không vẫn ghê gớm như lúc họ xông đến mục tiêu, nếu không muốn nói là còn khủng khiếp hơn. Họ có thể cảm nhận đạn pháo cao xạ nổ khắp nơi xung quanh họ, cùng sự rung chuyển và tiếng va đập khi những mảnh đạn vỡ trúng vào thân máy bay.
Ở mạn trái bỗng lóe lên ánh sáng chói lòa, một chiếc máy bay Lancaster bị trúng đạn vào cánh. Cái cánh máy bay ấy bị thổi bay đi, văng ra trong không trung cho đến khi nó va vào một chiếc máy bay Lancaster khác, phạt đứt tháp pháo ở giữa. Thế rồi cả hai chiếc Lancaster đều lao xuống đất theo hình xoắn ốc, lửa bốc ngùn ngụt, một cú rơi khá là duyên dáng.
“Mẹ kiếp!” Một giọng nói đầy kinh hãi vang lên trên hệ thống liên lạc nội bộ. Teddy không chắc là Vic hay George. Mẹ kiếp, anh thầm nghĩ. Anh cử Norman đi ra đằng sau để đánh giá tổn hại. “Cái lỗ to khủng khiếp.” Cậu ta nói. Không cần lời khẳng định của cậu ta, họ cũng đủ biết được điều đó, một cơn gió lạnh buốt vừa luồn vào chiếc S-Sugar. Guy có vẻ chẳng còn nghĩ rằng mọi chuyện không quá tệ nữa, cậu ta ra hiệu với Teddy rằng cậu ta sẽ đi ra đằng sau để “làm quen” với cái bồn cầu di động hiệu Elsan khai lòm. Guy. Học trường Eton. Mình phải ghi nhớ điều này, Teddy tự nhiếc móc mình. Việc “kẻ lạc loài” người Somerset bị mất tích lần trước đã khiến anh bị giày vò bởi cảm giác tội lỗi, bởi ý nghĩ mình đã lơ là bổn phận của bản thân. Suy cho cùng, anh phải chịu trách nhiệm với tất cả mọi người trên máy bay. Điều tối thiểu anh có thể làm là nhớ được tên của họ, vì Chúa. Guy không bao giờ quay lại bởi vì vào đúng lúc đó, cả hai xạ thủ đồng thanh hét lên trong hệ thống liên lạc nội bộ: “Máy bay chiến đấu ở hông trái, hãy nghiêng sang trái, lộn vòng kiểu xoắn ốc, mau!” Teddy liền đẩy cần điều khiển về phía trước, nhưng họ không kịp tránh quả đạn pháo từ một chiếc chiến đấu cơ, một tiếng rầm lớn vang lên như thể có vị thần nào đó trên trời đang ném những hòn đá vào thân máy bay. Mùi thuốc súng lấp đầy khoang phi cơ.
Teddy đã cho chiếc S-Sugar bổ nhào xuống, nhưng lúc anh nghiêng sang phải và bắt đầu bay hướng lên trên, chiếc chiến đấu cơ đã đi mất từ bao giờ mà Teddy không hề hay biết. Nó đã biến mất một cách bí ẩn như lúc nó xuất hiện và không quay lại nữa. Mac lập ra một lộ trình bay thẳng để về căn cứ, tránh những khu vực phòng thủ dày đặc quanh Rotterdam và Amsterdam, nhưng lúc họ tới bờ biển Hà Lan, họ đã hạ xuống độ cao sáu trăm mét. Chiếc chiến đấu cơ đã hoàn thành nhiệm vụ của nó. Các động cơ phía trong ở cả hai cánh của chiếc S-Sugar đều bị hỏng, cánh liệng ở bên phải đã bay mất, và năm bình chứa nhiên liệu ở cánh đều bị thủng. Ngoài ra còn có một lỗ thủng lớn trên thân máy bay. Teddy tắt những động cơ vô dụng và họ kiên trì bay tiếp, giờ đã quá muộn để quay lại vì họ đang bay qua mây. Khi cuối cùng cũng ra khỏi đó, họ đã ở ngoài biển Bắc.
Một chiếc Halifax lạc lõng khác nhập hội với họ một lúc, nhưng vì họ bay quá chậm và thấp nên người bạn đồng hành ấy đã bỏ họ lại và lao vút đi với một cú vẫy cánh giã biệt. Giờ chỉ còn lại mình họ.
Ở độ cao bốn trăm năm mươi mét, Teddy bảo các thành viên khác chuẩn bị cho việc hạ cánh xuống biển. Anh điềm tĩnh thông báo với họ rằng họ còn cách bờ biển Anh mười dặm nữa. “Lại gần hơn chút nữa đi, phi cơ trưởng.” Ai đó nói. Ý nghĩ phải hạ cánh xuống biển đã đủ tồi tệ rồi, nếu mà bị quân Đức tóm sống nữa thì đúng là không thể tưởng tượng được. “Cứ đi tiếp đi!” Norman làu bàu. “Hãy nhớ là lần trước chúng ta đã trở về được từ Turin!”
Ở độ cao ba trăm mét, họ có thể nhìn thấy những con sóng bạc đầu. Cao chừng bốn đến sáu mét. Biển động, Teddy nghĩ.
Lúc này, họ đã ném đi tất cả những gì có thể vứt bỏ được - chiếc bàn của hoa tiêu, đệm gối, bình nước, bình ôxy. Keith dùng rìu bổ vỡ các ghế ngồi, còn Vic gỡ những khẩu súng ở tháp pháo giữa và quẳng chúng đi, tiếp theo, cái tháp pháo cũng chịu chung số phận. Họ ném đi bất cứ thứ gì để có thể bay thêm một đoạn đường nữa. “Còn cách bờ biển Anh bốn dặm.” Mac thông báo, giọng cậu ta vẫn điềm tĩnh như thường lệ. Giấy tờ và bản đồ của cậu ta đã bay tung tóe khắp nơi khi họ bổ nhào xuống để tránh chiếc chiến đấu cơ, và bây giờ cậu ta đang đủng đỉnh thu thập chúng lại như thể đang đóng cửa văn phòng để nghỉ cuối tuần. Không hoảng loạn là một chuyện, Teddy nghĩ, nhưng không có ý thức về sự khẩn trương lại là một chuyện khác. Anh nhớ cái lần họ cố giải thoát Kenny khỏi cái tháp pháo ở đuôi máy bay, trong lúc mọi người cuống quýt tìm cách cứu Kenny thì Mac chỉ đứng một chỗ mà bình phẩm.
“Cứ đi đi, phi cơ trưởng.” Một giọng khác nói. Ở độ cao một trăm năm mươi mét, George Carr kẹp chặt ma níp, chuyển hệ thống IFF sang tần số cấp cứu quốc tế và đi lấy radio dùng trên xuồng hơi.
Ở độ cao một trăm hai mươi mét, đồng hồ đo nhiên liệu chỉ số 0. Họ mở các lối thoát hiểm và Teddy ra lệnh cho mọi người chuẩn bị sẵn sàng tư thế cho việc hạ cánh xuống biển. Mac nằm xuống chỗ nghỉ ở mạn phải, Norman ở mạn trái, chân họ chống vào xà dọc đằng trước. Các xạ thủ dựa lưng vào xà dọc đằng sau, George và Keith ngồi giữa hai chân họ. Họ đều đặt tay ra sau gáy hoặc đặt lên túi dù để giảm chấn động. Teddy đã huấn luyện họ rất kĩ.
Họ rơi xuống nước với vận tốc một trăm mười dặm một giờ. Khoang của lính cắt bom bị vỡ vì lực va chạm và một con sóng khổng lồ mang theo nước và xăng tràn vào bên trong chiếc S-Sugar, ngập đến tận cổ họ trước cả khi họ kịp làm phồng những chiếc áo phao Mae West. George bị va đập đến bất tỉnh và họ vụng về kéo cậu ta qua cửa thoát hiểm. Hóa ra Kenny không biết bơi, hơn nữa còn sợ nước, vì thế Mac phải dùng một tay tóm chặt gáy cậu ta và lôi qua cái khoang máy bay ngập đầy nước trong khi cậu ta vùng vẫy loạn xạ, kêu oai oái vì sợ. Teddy đi sau cùng. Thuyền trưởng luôn là người cuối cùng rời khỏi con tàu.
Chiếc xuồng hơi được xếp gọn ghẽ trong cánh máy bay giờ đã căng phồng và chắn lối thoát hiểm bên trên. Chiếc S-Sugar gần như ngập nước hoàn toàn và bắt đầu nghiêng sang trái. Trong một thoáng, Teddy đã nghĩ vậy là hết, nhưng rồi anh ngụp xuống nước và bơi qua lỗ thủng trên thân máy bay.
Họ đều ra được bên ngoài và bằng cách này hay cách khác đều leo lên được chiếc xuồng hơi. Norman cắt dây neo, rồi họ bồng bềnh trôi khỏi chiếc S-Sugar. Chiếc phi cơ vẫn đang nổi dập dềnh, nghiêng về một bên trên mặt biển dữ dằn, xám xịt, nhưng chỉ trong vài phút, nó đã bị làn nước nuốt chửng và biến mất mãi mãi.
Họ nghe thấy tiếng động cơ văng vẳng đâu đó trong bóng tối. Mac tóm lấy khẩu súng lục Verey và cố gắng bắn một viên đạn, nhưng những ngón tay của cậu ta đã sưng vù và tê cóng vì lạnh nên không thể bóp cò nổi. Họ đã ở trên mặt nước bao nhiêu tiếng đồng hồ rồi? Họ đều đã mất hết khái niệm về thời gian. Họ chỉ chắc chắn được một điều rằng đây là đêm thứ hai họ ở trên biển. Họ đã nhanh chóng nhận ra rằng việc hạ cánh xuống biển chỉ là khởi đầu cho những khó khăn của họ. Biển động dữ dội, và lúc họ vừa mới lên được xuồng hơi thì một cơn sóng nhồi khổng lồ đã hất tung bọn họ xuống biển trở lại. Ít nhất thì chiếc xuồng hơi vẫn ở nguyên tư thế cũ (một may mắn nho nhỏ), nhưng họ đã phải cố gắng hết sức, gần như là phi thường, mới có thể leo lên chiếc xuồng hơi lần nữa, chưa kể còn phải kéo theo anh chàng George bất tỉnh nữa.
Vic đã rơi mất giày ở đâu đó và đang tê tái vì lạnh. Họ thay phiên nhau xoa bàn chân cho cậu ta nhưng tay họ cũng dần trở nên tê cóng. Quần áo họ ướt sũng nước, nước ngâm vào cả da thịt, khiến cho sự lạnh lẽo và khốn khổ của họ càng tăng lên gấp bội phần.
Họ lóng ngóng dựng George Carr tội nghiệp dậy, nhưng cậu ta cứ tuột xuống đáy xuồng hơi ngập nước. Cậu ta đã hơi tỉnh nhưng rên rỉ nhiều. Chẳng rõ cậu ta có đau hay không nhưng Mac vẫn cho cậu ta một liều moóc phin và cậu ta trở nên im lặng.
Radio dùng trên xuồng hơi đã mất khi họ bị hất xuống biển, và chẳng ai biết họ đã trôi dạt bao xa từ vị trí hạ cánh lúc đầu. Khả năng một chiếc máy bay nhìn thấy họ hoặc một chiếc xuồng cứu hộ tìm ra họ dường như quá xa vời.
Lúc một người trong số họ - Norman - ráng sức bóp được cò súng thì tiếng động cơ đã biến mất hoàn toàn. Keith liền nói: “Muộn xừ nó rồi.” Viên đạn chỉ có tác dụng rọi sáng bóng tối mênh mông quanh họ và, nếu có thể, càng làm tinh thần họ sa sút hơn nữa. Teddy tự hỏi phải chăng họ đã tưởng tượng ra tiếng động cơ máy bay? Có lẽ tình cảnh này cũng giống như bị lạc trong sa mạc, chẳng mấy chốc họ sẽ nhìn thấy ảo ảnh hoặc trở thành con mồi cho tất cả các loại ảo giác và những trò lừa mị của trí óc.
“Tôi sẽ hy sinh bất cứ thứ gì để có được một điếu thuốc lá.” Keith nói.
“Tôi có một bao đấy.” Kenny nói, cố gắng lấy chúng ra khỏi túi. Họ nhìn những điếu thuốc Woodbine ướt nhẹp với vẻ tiếc nuối trước khi ném chúng qua thành xuồng. Đương nhiên, tất cả chỗ quân nhu được dành cho lúc khẩn cấp đã mất hết - thuốc lá, thức ăn và bất cứ thứ gì có thể giúp họ xốc lại tinh thần hoặc cầm cự trong nghịch cảnh này đã bị cuốn đi khi họ bị nhấn chìm lần thứ hai. Teddy tìm thấy một miếng sô cô la trong túi áo, rồi Mac dùng con dao nhíp của mình cẩn thận cắt đều nó rồi chia cho mọi người. George đã đúng khi ăn khẩu phần sô cô la của mình trước khi họ cất cánh, Teddy nghĩ - bây giờ cậu ta chẳng còn ăn được nữa rồi. Vic cũng từ chối mẩu sô cô la, cậu ta đang bị say sóng khủng khiếp.
“Tôi đã nghe biết bao câu chuyện…” Keith nói. “… Về những người đàn ông trôi dạt trên biển hàng tuần lễ trên một con thuyền không mui, và cuối cùng họ phải ăn thịt lẫn nhau, bắt đầu từ cậu bé bồi tàu.” Theo bản năng, cả hội đều quay sang nhìn Kenny. “Nhưng tôi chỉ muốn nói cho các cậu biết rằng, tôi thà ăn cái chân của mình còn hơn ăn bất cứ thằng cha nào trong số các cậu.”
“Cậu làm tôi tự ái đấy.” Mac nói. “Tôi sẽ là bữa ăn ngon cho bất cứ gã đàn ông nào.”
Thế là họ bắt đầu bàn tán sôi nổi về thức ăn, trong cái tình cảnh chẳng có khả năng nào để kiếm được thức ăn thì việc này chẳng bao giờ là một ý kiến hay, nhưng rồi dần dần cuộc trò chuyện lắng xuống và im hẳn. Họ mệt đến nỗi chẳng còn nói năng được gì và từng người rơi vào giấc ngủ chập chờn. Teddy lo rằng giấc ngủ lạnh lẽo này có thể khiến họ không tỉnh dậy được nữa, nên anh vẫn thức canh họ.
Để giữ cho trí óc bận rộn, anh tự hỏi mình sẽ ăn thứ gì. Nếu anh có thể ăn một bữa, bữa ăn đó sẽ như thế nào? Một nhà hàng hoành tráng hay một bữa tối dành cho trẻ con? Cuối cùng, anh quyết định mình sẽ ăn một cái bánh nướng nhân thịt thú săn của bà Glover, và tiếp theo là món bánh bông lan phủ mật đường và sữa trứng. Nhưng anh không quan tâm đến thức ăn, anh chỉ muốn bữa ăn ấy có đủ các thành viên trong gia đình mình ngồi quanh cái bàn kiểu Nhiếp chính Phục hưng, Hugh vẫn còn sống và ngồi ở đầu bàn, Jimmy ngồi trên đùi Pamela, các chị gái của anh vẫn là những cô bé buộc tóc bằng ruy băng và mặc váy ngắn. Bridget mang những đĩa thức ăn từ phòng bếp lên, bà Glover càu nhàu ở “hậu trường”. Sylvie duyên dáng và vô tư lự. Thậm chí có cả một chỗ dành cho Maurice. Và một con chó đang ngồi dưới gầm bàn. Hoặc hai con - vì chúng tồn tại trong trí tưởng tượng của anh chứ không phải trong huyệt mộ của chúng, vì thế cả Trixie và Jock đều ngồi cạnh nhau một cách ấm áp bên chân anh. Bất chấp những ý định tốt đẹp của anh, anh không thể giương nổi mắt nữa, và rơi vào cái hố sâu đen ngòm của giấc ngủ.
Buổi sáng thứ hai trên biển, bầu trời xám xịt chẳng đem lại chút lạc quan nào. Biển cả đã yên ả hơn trong vài tiếng đồng hồ nhưng bây giờ lại đột nhiên có gió giật. Bọt sóng liên tục bắn lên người, lên mặt họ khiến họ ướt sũng và khó thở. Cứ tưởng rằng họ không thể nào ướt hơn được nữa nhưng hóa ra điều đó hoàn toàn có thể. Tồi tệ hơn nữa, họ phát hiện ra chiếc xuồng hơi dường như đã bị rò, và họ phải bơm không khí vào bằng những cái ống thổi khẩn cấp, nhưng một lúc sau chúng cũng bị hỏng và họ không tìm ra được cách nào để sửa chúng, cách duy nhất để họ có thể tát nước ra khỏi xuồng là dùng hai bàn tay lạnh giá để múc, khiến tay họ càng trở nên tê cóng.
George đang ở trong tình trạng vô cùng tồi tệ, Vic cũng vậy. Cả hai người họ đều không có cách nào chống đỡ những con sóng đang liên tục dập vùi họ. Teddy trườn tới bên George và cố gắng bắt mạch cho cậu ta, nhưng những con sóng xô tới quá dữ dội. Anh nghĩ George có thể đã chết nhưng không nói gì với những người khác.
Khi liếc sang Kenny, anh thấy cậu ta đang nhìn George chằm chằm với vẻ thương xót. Cậu ta đánh mắt sang Teddy và nói: “Nếu tôi chết, phi cơ trưởng, tôi thà chết cùng anh hơn là bất cứ ai khác.”
“Cậu sẽ không chết đâu.” Teddy nói khá sẵng. Họ đều sẽ tiêu tùng nếu họ trở nên tuyệt vọng. Tốt hơn hết là nên tránh những ý nghĩ tăm tối.
“Tôi biết, nhưng nếu tôi chết…”
Hẳn là các bạn đang thắc mắc viên phi công phụ của họ đâu. Guy. Chẳng ai nhìn thấy cậu ta sau khi họ bị chiếc máy bay chiến đấu tấn công, rồi khi tất cả đã ở trên xuồng, họ bàn tán một lúc về những gì có thể đã xảy ra với cậu ta. Cuối cùng, họ kết luận rằng không phải là cậu ta tự dưng tan biến trong không khí, chắc hẳn cậu ta đã bị rơi xuống qua lỗ thủng trên thân máy bay mà không ai nhìn thấy hay nghe thấy lúc họ lộn vòng theo hình xoắn ốc, để rồi lao thẳng xuống biển Bắc khi trên người không có dù.
Một con sóng lớn đầy tai họa khác đập thẳng vào người họ như thể nó là một mảng bê tông. Họ cố gắng bám chặt thành xuồng hết mức có thể, nhưng cả Vic và Kenny đều bị ngã nhào xuống nước. Teddy không biết họ lấy đâu ra sức mạnh để cứu được Kenny đang hoảng loạn (“Bởi vì cậu ta còi.” Sau này, Keith nói), nhưng họ đã cứu được cậu ta. Tuy nhiên, bất kể họ cố gắng bao lần để kéo thân hình nặng trình trịch của Vic lên chiếc xuồng hơi, cậu ta đều tuột lại xuống nước. Cứ như dã tràng xe cát, chỉ đơn giản vì họ đã quá yếu. Họ cố gắng buộc sợi dây thừng của chiếc xuồng hơi vào cánh tay Vic, nhưng Teddy thấy cậu ta chẳng có cách nào cầm cự được quá vài phút dưới nước.
Teddy ở gần Vic nhất và vẫn đang cố gắng bám chặt cậu ta khi Vic bỗng ngửa đầu lên và nhìn thẳng vào mắt Teddy, và Teddy biết cậu ta không còn chút ý chí chiến đấu nào. “Thôi, chúc anh may mắn!” Vic thì thầm và rụt tay khỏi sợi dây thừng. Cậu ta trôi đi chỉ vài thước rồi lặng lẽ biến mất dưới những con sóng, chìm xuống nấm mộ vô danh của chính mình.
George Carr chưa chết như Teddy đã lo sợ mà chết ở bệnh viện hai ngày sau đó vì “chấn động và ngâm nước”, Teddy cho rằng điều đó có nghĩa là cậu ta chết vì nhiễm lạnh.
Một con tàu của Hải quân Hoàng gia đã tình cờ tìm thấy họ khi đang đi tìm một chiếc máy bay khác cũng bị rơi xuống biển. Các thành viên trên tàu đã kéo họ lên boong, cởi quần áo ướt cho họ, đem cho họ trà nóng pha rượu rum và thuốc lá, rồi sau đó quấn chăn quanh người họ và nhẹ nhàng đặt họ nằm lên những chiếc giường tầng, như thể họ là những đứa trẻ sơ sinh. Teddy lập tức chìm vào giấc ngủ sâu nhất mà anh từng biết. Chừng một tiếng đồng hồ sau, khi Teddy được đánh thức và được đem đến thêm nhiều trà nóng pha rượu rum, anh ước gì họ cứ để anh ngủ yên trên cái giường đó mãi mãi.
Họ nằm ở bệnh viện tại Grimsby một đêm rồi bắt tàu hỏa quay trở lại phi đoàn của mình. Ngoại trừ George, đương nhiên, gia đình cậu ta đã đến đón thi thể của cậu ta và đưa về an táng ở quê nhà Burnley.
Họ được nghỉ vài ngày, nhưng Kenny vẫn còn phải bay bù cho phi vụ thứ mười ba mà cậu ta đã bị lỡ. Chẳng ai trong số họ có thể tin rằng sau tất cả những gì họ đã trải qua, người ta vẫn muốn Kenny hoàn thành đầy đủ kỳ quân dịch của mình, nhưng sĩ quan chỉ huy của họ, một người đàn ông tốt bụng trong mắt họ, nói rằng ông ta cũng đành “bó tay”, không can thiệp được gì.
Thế là, chỉ một tuần sau khi họ được kéo lên từ dưới biển như những con mèo sắp chết đuối, họ lại thấy mình đang ngồi trên đường băng, chờ đợi tín hiệu cất cánh. Những người còn lại trong tổ bay - Teddy, Mac, Norman và Keith, tất cả đều đã kết thúc kỳ quân dịch của mình - đã tình nguyện bay cùng Kenny trong chuyến không kích cuối cùng. Cậu ta đã khóc khi họ nói với cậu ta điều đó và Keith nói: “Thằng nhóc mít ướt này.”
Đó là một hành động hào hiệp, liều lĩnh. Vì một lý do nào đó, họ cảm thấy mình đã được “tôi luyện” bởi chuyến hạ cánh xuống biển vừa rồi, như thể chẳng còn chuyện gì tồi tệ có thể xảy đến với họ nữa cả. Đương nhiên, theo cô gái ở Bộ Không quân, điều này hoàn toàn không có căn cứ. Họ đã bất chấp mọi điềm gở. (Có lẽ vận may ngược đời của Keith đã có tác dụng.) Họ đã mượn phi cơ của một tổ bay khác và lựa lấy hai người để trám vào những vị trí còn trống, chuẩn bị cho chuyến xuất kích, dựa trên nguyên tắc tất cả bọn họ đều là “kẻ lạc loài” trên chuyến bay này. Họ thậm chí còn mang theo một phi công phụ, mặc dù viên phi công phụ này không phải một phi công mới đang học hỏi kinh nghiệm, mà chính là sĩ quan chỉ huy của họ, ông ta nói ông ta “có hứng thú” tham gia chuyến bay với họ. Teddy những tưởng nhờ ông ta mà họ có thể nhận được một phi vụ nhẹ nhàng - một phi vụ niken chẳng hạn, nghĩa là thả truyền đơn xuống đất Pháp - nhưng không, họ phải bay tới Thành phố Lớn trong một cuộc không kích toàn lực. Họ đều được tiêm nhiễm một nỗi cuồng nhiệt và phấn khích kỳ quặc, giống như những cậu bé chuẩn bị tham gia một cuộc thám hiểm của đội Hướng đạo.
Họ luồn lách tới Berlin rồi trở về mà không bị hỏa lực phòng không gây tổn hại gì, thậm chí còn không chạm trán chiếc chiến đấu cơ nào. Họ là một trong những chiếc máy bay đầu tiên trở về phi đoàn. Kenny trèo xuống máy bay, hôn lên mặt bê tông của đường băng. Họ bắt tay nhau và sĩ quan chỉ huy nói: “Đó, cũng không tệ, đúng không, các chàng trai?” Đáng lẽ ông ta không nên nói thế. Ông ta đã tham gia chuyến không kích định mệnh ở Nuremberg và sau này Teddy nghe nói ông ta không bao giờ trở về.
Lilian đã lộ rõ bụng bầu, cô mặc một cái váy in hoa cũ đã khá chật. Trông cô có vẻ mệt mỏi, hai mắt thâm quầng và đôi chân gầy giơ xương nổi rõ các đường gân xanh. Chẳng còn đâu vẻ tươi tắn rực rỡ, Teddy nghĩ. Khó mà tin rằng đây chính là cô nàng Lil, chủ nhân của “những thứ không thể nhắc đến” bằng xa tanh màu đỏ. Hãy xem chúng đã dẫn cô ấy đến đâu.
“Chúng ta có lễ thức canh người chết thay vì một lễ cưới.” Bà Bennett nói. “Ngồi xuống đi Lil kẻo mỏi.” Lilian vâng lời ngồi xuống trong lúc bà Bennett pha một ấm trà.
“Trước đây cháu chưa từng tới đảo Canvey.” Teddy nói. Và mẹ của Vic đáp lời: “Thì có lý do gì để cậu đến kia chứ?” Teddy nhận thấy Vic được thừa kế hàm răng xấu từ mẹ. “Cậu ấy chẳng nói gì về đứa bé cả.” Teddy nói. Bà Bennett liền đáp: “Thì có lý do gì để nó nói kia chứ?” Và Lilian nhướng mày, mỉm cười với Teddy. “Chỉ là đứa con ngoài giá thú.” Mẹ của Vic nói, rót trà từ cái ấm thiếc to tướng. Ở bà vừa có vẻ phản đối, chê bai vừa có vẻ an ủi, dỗ dành - một sự kết hợp kỳ lạ.
“Nó không phải là đứa con ngoài giá thú đầu tiên, cũng không phải là đứa cuối cùng.” Lilian nói. “Anh ấy để lại một lá thư.” Cô nói với Teddy. “Họ đều làm vậy, anh biết đấy.”
“Vâng, tôi biết.” Teddy nói.
“Đương nhiên là cậu ấy biết.” Bà Bennett nói. “Chính cậu ấy cũng sẽ để lại một lá thư.”
Teddy cho rằng mẹ của Vic không bao giờ có thể trở thành mẹ chồng chính thức của Lilian, và trong tương lai, cô gái tội nghiệp có thể thoát khỏi bà ta. Trong cái rủi cũng có chút may.
“Anh ấy đã nói…” Lilian tiếp tục nói, phớt lờ bà Bennett. “… Anh ấy đã nói khi đứa bé chào đời, nếu nó là con trai, tôi phải đặt tên cho nó là Edward.”
“Edward?” Teddy đờ đẫn lặp lại.
“Theo tên anh.”
Lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến này, Teddy đã vỡ òa. Anh bật khóc nức nở, những tiếng nấc nghẹn ngào, chối tai. Rồi Lilian đứng dậy, choàng hai tay quanh người anh, vừa kéo anh về phía cơ thể ộ ệ của cô vừa nói “Nào, nào”, giống như cô sẽ làm với đứa con của mình trong vài tháng tới.
Mẹ của Vic giờ đã dịu dàng hơn, bà nài anh ở lại ăn bữa cơm với họ, như thể món thịt bò tẩm bột ngô rán sẽ chữa lành được nỗi đau chung của họ. Anh còn được đãi thêm trà, thuốc lá và kẹo, những thứ mà họ đã mua để dành cho bữa tiệc chào mừng Vic về nhà. Anh chỉ được phép rời đi khi mí mắt bắt đầu trĩu xuống, rồi Lilian nói: “Mẹ con ta phải buông tha cho người đàn ông tội nghiệp này về thôi, con sẽ tiễn anh ấy ra bến xe buýt.”
“Tôi sẽ đi với cậu.” Bà Bennett nói, chụp một cái mũ lên đầu. Teddy nghĩ rằng giờ anh là mối liên hệ duy nhất với Vic mà họ có, vì thế họ không cam lòng để anh đi.
“Nó đã viết về cậu.” Mẹ Vic nói, nhìn thẳng về phía trước khi họ đợi ở bến xe buýt. “Nó nói cậu là người đàn ông tốt nhất mà nó từng biết.” Teddy thấy môi bà run run. Chiếc xe buýt hiện ra trong tầm mắt, miễn cho Teddy việc phải cố gắng nghĩ ra câu trả lời.
“Cháu suýt quên mất.” Anh nói. “Cậu xạ thủ ở tháp pháo đuôi của bọn cháu - Kenny Nielson - đã nhờ cháu gửi cho đứa bé một thứ.”
Teddy lấy ra con mèo đen xù xì từng là bùa may của Kenny. Nó vẫn còn nguyên vẹn sau cú ngâm mình trong nước ở biển Bắc, nhưng chắc chắn trông chẳng đỡ xấu xí hơn chút nào. Trong phi vụ cuối cùng của nó, nó đã hãnh diện ngồi chễm chệ trong buồng lái để bay suốt chặng đường đến Berlin rồi trở về.
“Trông gớm quá!” Bà Bennett nói khi nhìn thấy nó. “Cậu không thể đưa thứ này cho một đứa bé.” Nhưng Lilian vẫn cầm lấy con mèo vải nhỏ bé và nói với Teddy: “Cảm ơn anh, tôi sẽ trân trọng nó.”
“Thôi, cháu đi đây.” Teddy nói, bước lên xe buýt. “Rất vui vì được gặp hai người. Chà, chúc may mắn!” Anh nói thêm, mãi sau mới nhận ra rằng đó cũng là những lời cuối cùng của Vic.
Chu thich
[124] Trò chơi trong đó mỗi người thay phiên nhau viết một dòng trong một câu chuyện về hai người mà không biết nội dung của câu trước đó là gì.
[125] Một tổ chức liên chính phủ được thành lập vào ngày 10 tháng 1 năm 1920 sau Hội nghị Hòa bình Paris, nhằm kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ Nhất. Đây là tổ chức quốc tế đầu tiên có nhiệm vụ chủ yếu là duy trì hòa bình thế giới.
[126] Viết tắt của Lancaster.
[127] Rượu gin pha thêm vị đắng của vỏ angotua (vỏ một loài cây thuộc họ cam dùng làm thuốc giải nhiệt và thuốc bổ).
[128] Tên gọi chung của trường Oxford và Cambridge.
[129] Từ lóng chỉ máy bay.
[130] Cách phát âm theo tiếng địa phương của từ “Somerset”, một hạt ở vùng Tây Nam nước Anh.
[131] Trận chiến quyết liệt giữa thiện và ác, kết quả là tận thế và bắt đầu ngày phán xét cuối cùng.
[132] Hiện tượng plasma phát sáng xuất hiện như đốm lửa hình cầu, có thể được sinh ra trong những cơn mưa dông có sấm sét hay một vụ nổ núi lửa.
[133] Charles Penrose (1873 - 1952): một nhà hài kịch người Anh.
[134] Trận chiến đầu tiên được miêu tả lại trong Sách Joshua thuộc Cựu ước của Ki tô giáo.
[135] Một trận đánh nổi tiếng trong lịch sử giữa các thành bang Hy Lạp dưới sự dẫn dắt của Leonidas I xứ Sparta và Đế quốc Ba Tư dưới sự chỉ huy của Xerxes Đại đế, kéo dài trong khoảng ba ngày.
[136] Tên các địa danh ở Đức và Ý.
[137] Harry Houdini (1874 - 1926): là một nhà ảo thuật người Mỹ gốc Hungary, nổi tiếng với những màn tự trói mình sau đó thoát ra được.
[138] Một nhà tiên tri trong Kinh thánh, người Do Thái, sống ở thế kỷ XIII trCN, từng bị một con cá lớn nuốt chửng và thoát ra được sau ba ngày mà không bị thương tích.
[139] Tiếng Pháp, nghĩa là “Chúng ta phải vun đắp khu vườn của mình”. Một câu trích trong tác phẩm Candide của Voltaire.
[140] Một nhà xuất bản chuyên xuất bản các cuốn sách về các nghi thức truyền thống cũng như lịch sử về các dòng họ… của Anh.
[141] Giống chó tai dài và cụp, lông rậm, chân ngắn, có xuất xứ từ Tây Ban Nha và thường được xếp vào nhóm chó săn thuộc thể loại chó tha mồi.
[142] Một trạng thái tâm lý, trong đó người bị bắt cóc lâu ngày chuyển từ sợ hãi và căm ghét sang thông cảm và quý mến chính kẻ bắt cóc mình.
[143] Cháu gái của ông trùm ngành xuất bản William Randolph Hearst, sau khi bị bắt cóc đã nhập hội với những kẻ bắt cóc mình và tham gia cướp nhà băng với chúng.