Những Chú Chim Chưa Bao Giờ Được Hót

Lượt đọc: 902 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
1982 lòng can đảm lúc nửa đêm về sáng

Hầu như đêm nào cậu cũng vùi mặt vào gối khóc nức nở, tự hỏi cậu đã làm gì để phải nhận lãnh tình cảnh này. Phải chăng là vì ở cậu có vấn đề gì không ổn? Tất cả mọi người đều nói thế - mẹ cậu, bà nội cậu, thậm chí thi thoảng cả em gái cậu - nhưng đó gì? Bởi vì nếu cậu biết, cậu sẽ cố gắng sửa chữa, cậu thực sự sẽ làm vậy. Cậu sẽ thực sự cố gắng. Lúc đó, có thể hình phạt kéo dài bất tận này sẽ kết thúc, mụ phù thủy độc ác xưng là bà cậu sẽ cho cậu về nhà, và chừng nào cậu còn sống, cậu sẽ không bao giờ nghịch ngợm nữa.

Hằng đêm, mỗi khi đi ngủ, Sunny lại tuyệt vọng nhớ đến một loạt quy tắc khiến cậu hoang mang bối rối, những câu chất vấn và thái độ không hài lòng (về tất cả các mặt) của mọi người - những thứ đã choán hết cả một ngày của cậu ở trang viên Jordan (đứng thẳng lưng, khép miệng khi ăn, không được mang vào trong nhà, cảm ơn rất nhiều, nhớ lau rửa lỗ tai, cháu định trồng khoai tây trong đó đấy à, tay cháu cầm cái gì đấy, cháu có vấn đề gì à?). Bất kể cậu làm gì cũng không bao giờ đúng. Điều đó khiến cậu rất căng thẳng. Và tại sao cậu không bao giờ có thể nhớ được là phải nói “ạ” và “cảm ơn” nhỉ? Bà cậu thường mắng cậu vì tội đó.

Cậu phải kìm tiếng khóc của mình, bởi vì nếu bà cậu nghe thấy, bà sẽ rầm rầm đi lên cầu thang và xông vào phòng cậu, bắt cậu im lặng và đi ngủ. “Đừng có để tao phải lên đây lần nữa.” Bà luôn nói thêm như vậy. “Một ngày nào đó tao sẽ chết vì leo cái cầu thang này mất.” Ồ, giá mà điều đó thành sự thật, Sunny nghĩ. Và tại sao bà lại để cậu ở trên này nếu việc leo cầu thang khó khăn với bà đến thế?

Mặc dù bà nói đây là “phòng trẻ” nhưng cậu thấy nó giống với một cái xà lim hơn - nó là một căn phòng gác mái khủng khiếp ở trên tầng mà bà gọi là “tầng của gia nhân”, mặc dù bà nói họ không còn có gia nhân “đúng nghĩa” nữa. Dù sao đi nữa, những người giúp việc trong nhà họ - bà Kerrich và Thomas - chẳng bao giờ lên đây. Bà cậu nói gia đình họ đang sống trong “cảnh sa sút”, đó là lý do chỉ có bà Kerrich đến đây hằng ngày để nấu nướng, dọn dẹp, và Thomas, người sống trong một ngôi nhà tranh ở cổng trang viên Jordan, phụ trách mấy việc khuân vác, sửa chữa và chăm sóc khu vườn. Sunny không ưa Thomas. Ông ta luôn nói với cậu những điều như “Thế nào? Cậu có muốn đến xem túp lều gỗ của tôi không, cậu trai?”, rồi cười hô hố như thể đó là câu bông đùa thú vị nhất, để lộ những cái lỗ đen sì trống hoác nơi những chiếc răng đã bị rụng mất. Cả Thomas và bà Kerrich đều có giọng nói kỳ cục, vừa bèn bẹt vừa lên bổng xuống trầm. (“Giọng Norfolk.” Bà Kerrich giải thích.) “Thật ra họ là người nhà quê.” Bà cậu nói. “Nhưng là người tốt. Không ít thì nhiều.”

Thomas và bà Kerrich suốt ngày càu nhàu với nhau về việc “phục tùng lệnh bà”, thậm chí còn càu nhàu nhiều hơn về Sunny và “lượng công việc tăng thêm” mà cậu đang tạo ra cho họ. Họ nói chuyện về cậu ngay trước mặt cậu như thể cậu không ở đó, như thể cậu không ngồi ở cái bàn trong bếp với họ, Thomas hút thuốc Woodbine còn bà Kerrich thì uống trà. Cậu muốn nói “Hôm nay ngài Lễ Độ đi đâu rồi?”, giống như mẹ cậu thường nói với cậu nếu cậu thô lỗ với người khác trước mặt họ. Thực ra ngài Lễ Độ sẽ rất bận rộn nếu ngài ấy sống ở trang viên Jordan. Sunny sẽ không bao giờ thô lỗ với bất cứ ai cho đến hết đời nếu họ cho cậu về nhà.

Tuy nhiên, thà ở trong bếp còn hơn là ở những nơi còn lại trong nhà. Đó là căn phòng ấm áp nhất và là nơi luôn dễ dàng có được thức ăn. Nếu cậu quanh quẩn trong bếp đủ lâu, bà Kerrich sẽ ném cho cậu thứ gì đó để ăn, cứ như bà ném một mẩu đầu thừa đuôi thẹo cho lũ chó. Ông bà nội của cậu ăn uống rất tằn tiện và cậu lúc nào cũng đói. Cậu đang tuổi ăn tuổi lớn nên cần phải ăn thật nhiều. Ngay cả mẹ cậu cũng nói thế. Tệ hơn nữa, các bữa ăn luôn kèm theo hàng loạt lời giáo huấn - khép miệng lại khi nhai, ngồi thẳng lưng, dùng dao nĩa đúng cách, mày lớn lên trong chuồng gia súc đấy à? Bà cậu nói cung cách ăn uống của cậu “thật gớm ghiếc”, có lẽ họ nên cho cậu ăn cám lợn vì kiểu ăn của cậu giống như một con lợn vậy. “Họ không còn nuôi lợn nữa.” Bà Kerrich nói. “Nếu còn, có lẽ bà ấy sẽ ném cậu vào chuồng lợn để làm thức ăn cho chúng đấy.” Câu nói đó không giống một lời đe dọa mà giống một lời khẳng định hơn.

Bà Kerrich thở dài, nói với Thomas: “Chà, tôi nên mang “cà phê sáng” cho lệnh bà thôi.” Hai từ “cà phê sáng” nặng mùi châm biếm, chỉ ra rằng bà Kerrich, với thân phận một người nhà quê, ưa thích trà đặc và ngọt hơn là loại cà phê dành cho những kẻ thượng lưu, trưởng giả. Bà nội của Sunny chẳng phải là “lệnh bà” gì cả, bà chỉ là một “bà” bình thường thôi. Bà Villiers. Bà Antonia Villiers. Hầu như mỗi lần cậu cố nói từ “bà nội” là lại bị vấp (đặc biệt là vì cậu thấy khó mà tin nổi cậu thực sự có dây mơ rễ má với bà). Tại sao cậu không thể chỉ gọi bà là Bà hay Nội thôi? Cậu từng thử một lần. Lúc ấy bà đang đứng bên ô cửa kính trong “phòng khách” trổ ra hàng hiên, theo dõi Thomas cắt cỏ (“Làm ăn chả ra sao cả!”) trong khi Sunny ngồi trên thảm, chơi bộ đồ chơi lắp ráp Meccano cũ của bố cậu mà bà nội cậu miễn cưỡng “cho cậu mượn” (“Chơi cẩn thận đấy!”), thế rồi cậu nói: “Nội ơi, cháu uống sữa được không?” Và bà quay ngoắt lại, nhìn cậu chằm chằm như thể trước kia bà chưa bao giờ nhìn thấy cậu, rồi bà nói: “Gì cơ?” Kiểu nói khá giống mẹ cậu, có điều cắm cảu hơn gấp mười lần, cứ như bà muốn cắn cậu bằng những lời lẽ đó vậy. “Bà nội ơi, cháu uống sữa được không…” Cậu vội vàng sửa lại. “… Ạ?” Cậu nói thêm. (Ngài Lễ độ gật đầu đồng tình.) Bà nội cậu chỉ tiếp tục nhìn cậu chằm chằm cho đến khi cậu nghĩ một trong hai người họ sẽ biến thành đá, nhưng cuối cùng bà lẩm bẩm “Nội ơi, cháu uống sữa được không”, như thể đó là câu hỏi khó hiểu nhất mà bà từng nghe. Thế rồi bà lại quay sang theo dõi Thomas. (“Cái gã này cứ như chưa từng nhìn thấy một thảm cỏ bao giờ ấy!”)

“Sữa ư?” Bà Kerrich cười. “Cậu chẳng bao giờ thấy no, cậu nhóc ạ, đó chính là sự phiền phức của cậu đấy.” Sunny biết rằng những cậu bé đang lớn cần phải uống sữa, ai cũng biết điều đó mà! Những người này bị làm sao vậy? Chúng cũng cần ăn bánh quy, chuối, bánh mì phét bơ mứt và tất cả những thứ mà ở trang viên Jordan cho là xa xỉ, nhưng người ông thực sự của cậu - ngoại Ted - lại coi là những bữa ăn phụ cần thiết trong ngày. Sunny đã quen sống với những người lớn dường như chẳng hiểu gì về trẻ con - những người ở Cánh Đồng Của Adam, “nhóm phụ nữ yêu hòa bình” của mẹ cậu, lớp học của cậu - nhưng ở những nơi ấy, cậu vẫn được cho ăn uống đàng hoàng, không sớm thì muộn.

“Ôi trời ơi!” Bố cậu, Dominic, nói. “Cứ như sống trong một cuốn tiểu thuyết của Dickens vậy. Thưa ngài, cháu có thể ăn thêm không ạ? Bố vẫn còn nhớ. Và rồi khi con đi học ở trường nội trú, con sẽ phải ăn những thứ chán chết mà họ cho con ăn ở đó.” Trường nội trú ư? Sunny nghĩ. Cậu sẽ không đi học trường nội trú đâu, cậu sẽ về nhà khi kỳ nghỉ hè kết thúc, trở lại ngôi trường ở York, nơi mà trước đây cậu không thích lắm nhưng bây giờ cậu đang bắt đầu cảm thấy nó giống như một thiên đường đã mất. “Ồ, đừng quá chắc chắn thế.” Bố cậu nói. “Bây giờ bà ấy đã tóm được con rồi, bà ấy sẽ không thả con ra đâu.”

Dominic đang sống ở tầng trên của chuồng ngựa (“Tháp canh của bố đấy”), và Sunny thường thấy bố mình nằm trên một cái sofa cũ tả tơi, vây quanh là những tấm toan đang vẽ dở. Tất cả những dấu vết còn sót lại của lũ ngựa là mùi phân còn vương lại khi ta bước lên những bậc đá lộ thiên dẫn tới phòng của Dominic. Bố của Sunny đang (“tự”) trục xuất mình ra khỏi tòa nhà chính.

Dominic có vẻ cũng chẳng ăn nhiều, mặc dù anh ta thường có sẵn một thanh sô cô la ở đâu đó để chia cho con trai. Anh ta nói anh ta không được khỏe, “phải nằm viện, đại loại vậy”, nhưng bây giờ anh ta đã khá hơn nhiều. Dường như mỗi lần Sunny tới gặp anh ta, anh ta đều đang ngủ, mặc dù anh ta tuyên bố là mình đang suy nghĩ. Có than phiền điều gì với anh ta cũng vô ích. Anh ta nói anh ta đang phải “uống thuốc theo đơn với liều rất nặng”. Những cái lọ nhỏ được sắp thành hàng trên ngưỡng cửa sổ. “Nó giống như một con lười vậy.” Bà của Sunny nói với ông của cậu (“Ông nội” - một từ khó gọi nữa), và mặc dù Sunny cảm thấy cậu phải bênh vực bố mình nhưng không thể không thừa nhận thực tế rằng điều bà cậu nói là đúng. Thực ra, ngay cả những con lười cũng sẽ trở nên mất kiên nhẫn với Dominic. (Sunny từng ngồi xem cùng ngoại Ted một chương trình về tự nhiên có nói đến những con lười.) Ông nội cậu chẳng có ý kiến gì về Dominic. Theo lời bà Kerrich, đó là vì ông “lẩm cẩm” rồi. “Não ông ấy đã nhũn như trứng bác.”

“Làm sao Dominic có thể thừa kế trong tình trạng đó chứ?” Bà của Sunny lải nhải, không mảy may bận lòng vì cứ phải độc thoại trong mọi cuộc nói chuyện với chồng mình - có lẽ bà thích như vậy. “Nhỡ nó chẳng bao giờ tỉnh táo thì sao? Đứa trẻ đó sẽ là niềm hy vọng duy nhất của chúng ta, lạy Chúa phù hộ.” “Đứa trẻ đó” băn khoăn tự hỏi về ý nghĩa của những lời lẽ ấy. Cậu không thực sự cảm thấy mình xứng đáng là niềm hy vọng duy nhất của ai đó. Dường như cậu là “người cuối cùng của dòng họ Villiers”. Nhưng còn Bertie thì sao? “Nó là con gái.” Bà cậu thờ ơ nói. ““Một dòng họ sẽ kết thúc ở các cô con gái.” Đó là điều sẽ được nói đến trong sách của Debrett[140].” Sunny thấy đó có vẻ là một kết thúc tốt đẹp, nhưng bà cậu nói họ cần một người thừa kế là con trai, cho dù là một đứa con ngoài giá thú. (“Nó là một thằng nhóc con hoang, đúng không?” Bà Kerrich nói với Thomas. “Theo đủ mọi nghĩa.”) “Chúng ta sẽ biến thằng bé thành người nhà Villiers.” Bà cậu nói. “Nhưng đó là một công việc rất khó khăn.”

“Tình trạng” của cha Sunny dường như là lỗi của cậu. Như thế nào? Tại sao?

“Chỉ vì cậu tồn tại.” Bà Kerrich giải thích, đưa cho cậu một cái bánh quy Rich Tea khô khốc. “Nếu cậu Dominic không vướng vào ma túy và mẹ cậu cùng những thứ tương tự…” Bà ta nói. “… Thì cậu ấy đã có thể cưỡi ngựa hằng ngày và cưới một cô gái xinh đẹp đeo ngọc trai, mặc bộ đôi áo len chui cổ và áo len cài cúc, giống như những người cùng đẳng cấp với cậu ấy. Thay vì thế, cậu ấy lại trở thành…” - Bà ta giơ các ngón tay làm dấu nháy kép - “… Một họa sĩ”. Và rồi cậu ấy bị áp lực vì có một đứa con như cậu.” Bà Kerrich là một nguồn thông tin vô đáy, nhưng rủi một nỗi, hầu hết các thông tin của bà đều nhầm lẫn hoặc sai lệch.

Lũ chó, đánh hơi thấy bánh quy, tràn vào trong bếp và chạy xồng xộc quanh chân họ dưới gầm bàn. Chúng có ba con, thuộc giống chó spaniel[141], con nào con nấy nước dãi lòng thòng, chẳng quan tâm đến ai ngoài chính bản thân mình. Snuffy, Pippy và Loppy. Những cái tên ngớ ngẩn. Ngoại Ted có một con chó thực thụ tên là Tinker. Ngoại Ted nói Tinker “điềm tĩnh như một tảng đá”. Lũ chó của bà cậu luôn lén nhe hàm răng gớm ghiếc táp vào chân cậu, rồi khi cậu than vãn với bà cậu, bà nói: “Cháu đã làm gì chúng? Chắc là cháu đã làm gì chúng chứ gì? Chúng chẳng bao giờ cắn ai vô cớ cả.” Trong khi những gì chúng làm hoàn toàn trái ngược với lời bà nói.

“Cút ngay, lũ chó săn gớm ghiếc.” Bà Kerrich quát chúng, nhưng những lời lẽ ấy chẳng có chút tác dụng nào. Chúng thậm chí chẳng được dạy dỗ đi vệ sinh đúng chỗ nên thường để lại thứ mà bà cậu nuông chiều gọi là “những viên xúc xích nhỏ” trên khắp các tấm thảm Ba Tư đã “cũ sờn”. (“Thấy gớm!” Bà Kerrich nói.) Cả ngôi nhà đều cũ kĩ. Bà cậu thường nói nó sắp đổ sụp xuống đầu họ. Cái giọng the thé của bà đang hét lên từ nơi nào đó trong nhà: “Snuffy! Pippy! Loppy!” và lũ chó chạy ào ra khỏi bếp như một cơn lốc, nhanh như lúc chúng xộc vào vậy. “Nếu tôi có quyền, tôi sẽ xử lý hết cả lũ.” Bà Kerrich nói. Sunny ngờ rằng bà ta không chỉ nói về lũ chó.

Sunny cư xử tốt hơn lũ chó nhiều, nhưng lại bị đối xử chẳng bằng một góc so với chúng. Như thế có công bằng không chứ?

Một trong những cái chuông gọi gia nhân ở tiền sảnh bắt đầu rung lên leng keng. Những cái chuông lanh lảnh dữ dội như thể người rung chúng ở đầu dây bên kia đang nổi cơn thịnh nộ (nhưng thực ra chúng vẫn thường kêu inh ỏi như vậy). “Ôi mẹ ơi, đức ông lại gọi rồi.” Bà Kerrich nói, nhấc mình ra khỏi ghế. “Tiếng chuông triệu tập.” (Lần nào bà cũng nói vậy.) “Đức ông” cũng chẳng phải là đức ông gì cả, mà chỉ là “Đại tá Villiers”. Ông của Sunny (được cho là) hiếm khi rời khỏi cái ghế bành bên lò sưởi. Ông ta có đôi mắt ướt át màu lam nhạt, thường chẳng nói thành lời mà chỉ phát ra một âm thanh lai giữa tiếng sủa và tiếng ho, giống như một con hải cẩu, vậy mà dường như bà của Sunny và bà Kerrich đều dễ dàng hiểu được ý ông ta, còn Sunny căng hết cả đầu óc cũng chẳng dịch nổi những âm thanh ấy thành thứ tiếng Anh thông thường. Mỗi khi Sunny ở gần ông ta, ông ta sẽ tóm lấy cậu và giữ chặt, đồng thời cấu véo cậu và gào vào tai cậu: “Mày là ai?”

Sunny hoàn toàn không biết phải trả lời câu hỏi này thế nào. Hình như cậu không còn là Sunny nữa. Bà cậu nói bà không thể gọi cậu bằng một cái tên ngớ ngẩn như thế. Nếu gọi là “Sun” thì còn kỳ cục hơn, vì vậy bà nói từ bây giờ cậu sẽ được gọi là Philip, đó là tên người ông lẩm cẩm của cậu.

“Ôi trời!” Bố cậu mệt mỏi nói khi Sunny tới báo cho anh ta biết là từ bây giờ cậu sẽ có tên là Philip. “Cứ để bà ấy gọi con bằng bất cứ cái tên nào bà ấy muốn. Như thế còn hơn là cãi nhau với bà ấy. Dù sao đi nữa, một cái tên thì có là gì chứ? Đó chỉ là một cái nhãn mà họ treo trên cổ con.” Bà cậu không chỉ đổi tên của cậu mà còn dẫn cậu vào thành phố Norwich, mua cho cậu những bộ quần áo hoàn toàn mới, do đó cậu không còn mặc những cái áo len cổ lọ kẻ sọc đan bằng tay trông như chú hề và những cái quần yếm bằng vải trúc bâu thô, thay vì thế, cậu mặc quần soóc ka ki và áo dài tay “bảnh chọe”, còn đôi dép xăng đan bằng nhựa trong của cậu được thay thế bằng đôi giày Start-Rite kiểu cổ. Tệ hơn cả, bà đã đưa cậu tới một “hiệu cắt tóc dành cho quý ông” để cắt và cạo những lọn tóc dài của cậu thành kiểu đầu “ngắn ngủn ở đằng sau và hai bên”, khiến ngoại hình của cậu biến đổi hoàn toàn. Cậu thực sự không còn là chính mình nữa.

Cậu không kể với ngoại Ted về nhân dạng mới này, vì cậu cảm nhận được rằng điều đó sẽ dẫn đến nhiều câu hỏi mà cậu không trả lời xuể. Cậu vẫn trò chuyện điện thoại với ông ngoại hằng tuần. Bà cậu sẽ đứng cạnh trong lúc cậu mân mê cái ống nghe kềnh càng trong tay, “tán gẫu một chút” với ngoại Ted. Thật đáng tiếc, sự hiện diện đầy tính hăm dọa của “bà nội” đã ngăn Sunny hét lên thật to với ông về cảnh ngộ khốn khổ của mình. Cậu không giỏi “tán gẫu” lắm, vì thế, nhìn chung cậu chỉ trả lời nhát gừng những câu hỏi của Teddy. Cậu có vui không? Có ạ. Thời tiết có đẹp không? Có ạ. (Trời rất hay mưa.) Cậu có được ăn no không? Có ạ. (Không!) Và cuối cùng Teddy thường kết thúc cuộc trò chuyện bằng câu nói: “Cháu có muốn nói chuyện với Bertie không? (Có ạ) Và vì cô bé cũng chẳng giỏi “tán gẫu” giống Sunny nên suốt hai phút sau đó chúng chỉ im lặng, lắng nghe tiếng thở khò khè của nhau cho đến khi bà cậu sốt ruột nói “Đưa điện thoại lại cho bà”, rồi ra lệnh cho Bertie ở đầu dây bên kia đưa trả ống nghe cho ông ngoại cô bé. Thế rồi bà cậu vờ nhỏ nhẹ nói những lời như: “Bây giờ thằng bé đã quen với cuộc sống ở đây, tôi nghĩ nó nên ở lại thêm một thời gian nữa. Vâng, ở đây nó được tận hưởng không khí đồng quê trong lành, lại còn được ở với bố nó. Đương nhiên, đó chính là điều mà Viola yêu quý mong muốn.” Vân vân. Viola yêu quý ư? Sunny nghĩ, không thể hình dung ra viễn cảnh “bà nội” và “Viola yêu quý” ở chung trong một căn phòng.

Sunny ước rằng cậu biết một loại mật mã hoặc một thứ ngôn ngữ bí mật nào đó để có thể truyền tải sự đau khổ của cậu (Cứu cháu với!), nhưng thay vì thế cậu nói “Tạm biệt ngoại”, mặc dù cậu cảm thấy một thứ gì đó khủng khiếp (nỗi đau buồn) đang dâng lên trong cái bụng (khá trống rỗng) của mình.

“Hội chứng Stockholm[142].” Bertie nói. “Anh bắt đầu đồng cảm và gắn bó với những kẻ bắt giữ mình, giống như Patti Hearst[143].” Lúc này là năm 2011 và họ đang ngồi ở đỉnh ngọn núi Batur, ngắm mặt trời mọc. Họ đã leo lên đây nhờ ánh đèn pin từ trước khi bình minh ló dạng. Sunny đã sống ở Ball hai năm. Trước đó, anh ở Úc, và trước khi đến Úc thì anh đã ở Ấn Độ trong nhiều năm. Bertie đã đến thăm anh vài lần. Viola thì chưa bao giờ.

Bertie sẽ xoay xở tốt hơn Sunny nếu cô phải đến sống ở trang viên Jordan. Cô biết cách làm vui lòng người khác nhưng cô cũng biết khi nào thì nên chống đối. Sunny chưa bao giờ thực sự học được cách làm cả hai việc đó một cách đúng đắn.

“Họ giống như ma cà rồng ấy.” Sunny nói với Bertie. “Họ cần nạp máu tươi. Bất kể nó tanh tưởi thế nào.”

“Anh cho rằng họ tồi tệ như trong trí nhớ của anh ư?” Bertie hỏi.

“Còn tệ hơn ấy chứ, tệ hơn rất nhiều.” Sunny cười.

Về cơ bản, họ đã bắt cóc cậu và bây giờ họ đang cầm tù cậu. Ngoại Ted đã hỏi cậu rằng: “Cháu muốn có một kỳ nghỉ ngắn với bố cháu không?” Bấy giờ cậu đang được nghỉ hè. Dường như cả một đời người đã trôi qua kể từ lúc mẹ con họ rời xa Devon và công xã ở trang trại Cánh Đồng Của Adam. Devon đã trở thành một ký ức vàng, rõ ràng là vì cậu đã được tiêm nhiễm những mộng tưởng tươi đẹp thời thơ bé của em gái cậu về lũ ngỗng, những con bò màu đỏ và bánh ngọt. Khi họ chuyển tới York, Sunny đã hy vọng tất cả bọn họ đều sẽ sống với ngoại Ted, nhưng mẹ cậu nói: “Không được đâu.” Rồi vài tuần sau, mẹ cậu thuê một ngôi nhà liền kề nhỏ dơ dáy và cho cậu vào học ở “trường Steiner[144]”, một nơi cậu không thích tí nào, nhưng bây giờ cậu sẽ sẵn sàng trở về đó.

“Cháu có thể làm quen với ông bà nội của cháu.” Ngoại Ted nói, cố tỏ ra hồ hởi. “Họ sống trong một ngôi nhà bề thế ở vùng đồng quê, ở đó có chó, có ngựa, vân vân. Đến chơi với họ vài tuần chắc sẽ vui lắm, ý cháu thế nào?” Lũ ngựa đã bị tống khứ đi từ lâu còn lũ chó sẽ ăn thịt cậu nếu chúng có cơ hội. “Họ cũng có cả một mê cung nữa.” Teddy nói. Sunny cứ tưởng ông ngoại cậu nói những người ông bà mà cậu chưa từng biết này cũng “sửng sốt[145]” lắm, vì thế cậu chẳng lấy gì làm ngạc nhiên. Cậu cũng khá sửng sốt khi thấy mình bị đưa đến ở với họ. Cậu biết rằng cậu không được làm theo ý mình. Viola đã khắc sâu điều đó vào trong tâm trí cậu - “Con không được nói con muốn làm gì”, “Con sẽ làm theo những gì mẹ bảo chứ không phải những gì con muốn”, “Bởi vì mẹ nói như thế!”

“Đó không phải là ý của tôi.” Sunny nghe thấy ông ngoại cậu nói chuyện điện thoại với một người nào đó mà cậu không thể thấy mặt. “Nhưng mẹ nó rất sốt sắng.” Lúc này, mẹ cậu đã bỏ lại anh em cậu để “đấu tranh cho những niềm tin của mình”. Điều đó có nghĩa là gì? Các con của mẹ cậu không quan trọng bằng những niềm tin của mẹ cậu sao? Chẳng phải con cái cũng chính là niềm tin ư? Mẹ cậu đã tới trại hòa bình Greenham Common[146]. Bertie nói nó nghe như một địa danh trong truyện cổ tích (cho đến khi chính Bertie cũng đến đó). Bertie nghĩ tất cả mọi thứ đều nghe như một địa danh trong truyện cổ tích. Viola đang “vây bủa căn cứ[147]” ở đó, bất kể điều đó có nghĩa là gì. “Nó nên thử ôm ấp[148] con mình.” Sunny nghe thấy Teddy càu nhàu.

Bà nội cậu và Dominic đã lái một chiếc xe to đùng cũ kĩ đến, rồi khi họ xuống xe, ngoại Ted thì thầm vào tai Sunny “Đó là bà của cháu đấy, Sunny!”, mặc dù ông cũng chưa bao giờ gặp bà. Bà cậu mặc một cái áo lông thú xác xơ trông như được làm từ lông chuột, răng bà vàng khè như những bông hoa thủy tiên trong vườn của ông cậu. Bà có vẻ già lắm rồi, nhưng sau này nghĩ lại, Sunny cho rằng lúc ấy bà không quá bảy mươi tuổi. (“Khi ta bé, ta thấy ai cũng già hơn thực tế mà.” Bertie nói.)

“Bố!” Bertie reo lên, chạy ào qua Sunny và lao vào vòng tay của bố họ, sự hăm hở giống như một chú cún con của cô khiến cả Sunny lẫn Dominic đều kinh ngạc. “Này!” Bố họ nói, lùi lại một bước, như thể con gái anh ta có thể tấn công anh ta.

“Chào Ted!” Dominic nói với Teddy khi anh ta đã nhận ra Bertie. “Mọi chuyện thế nào ạ?”

Teddy mời họ vào nhà để uống trà. “Tôi đã làm một cái bánh ngọt, một cái bánh sandwich Victoria[149].” Ông nói và người bà mới của hai đứa trẻ cau mày, không chỉ vì cái bánh mà còn vì chuyện một người đàn ông lại đi làm bánh.

Và rồi cũng đến lúc. Trà đã uống, bánh đã ăn - hoặc không - Sunny bị nhét vào băng ghế sau của chiếc xe với ba con chó đang rất căm phẫn, và điều tiếp theo mà cậu biết là cậu đang ở Norfolk, còn người được cho là bà của cậu nói rằng cậu cần bắt đầu trưởng thành. Cậu mới có bảy tuổi thôi! Còn nhiều năm nữa cậu mới cần trưởng thành! Điều này thật không công bằng.

Cậu khốn khổ xì mũi vào gối lần cuối. Đêm nào cậu cũng trằn trọc mãi mới ngủ được, và khi vừa thiếp ngủ, cậu sẽ giật mình thức giấc, thấy mình bị bao vây bởi đủ loại vật thể gớm ghiếc lù lù hiện ra trong bóng tối xung quanh. Dưới ánh sáng ban ngày an toàn hơn, cậu có thể nhìn ra chúng là gì - những món phế thải được chất đống ở đó qua nhiều năm mà Thomas phẫn chí đã bỏ lại khi ông ta được lệnh dọn dẹp căn phòng cho “thằng bé” - một cái nôi được đan bằng tay đã sờn, một cái giường cũi bị gãy, một bộ ván trượt tuyết bị mất một tấm, một cái chao đèn khổng lồ và, tệ hơn cả, một con ma nơ canh bằng gỗ mà Sunny quả quyết rằng khi màn đêm buông xuống, nó cứ nhích lại gần cậu từng chút một, vô cùng đáng sợ, như thể nó đang chơi trò “một, hai, ba”. “Ôi trời, “phòng trẻ”.” Dominic nói. “Nó chẳng khác nào đáy địa ngục. Nếu bố có con, bố sẽ cho chúng ở căn phòng đẹp nhất trong nhà.”

“Bố chả có con còn gì.” Con trai anh ta nói.

“Ồ, ừ, chà, phải rồi, con biết ý bố là gì mà.”

Không hẳn thế, Sunny nghĩ.

Trong phòng trẻ lúc nào cũng lạnh, mặc dù đang là mùa hè. Trên tường loang vết ố và một mẩu giấy dán tường đã bị tróc ra, lơ lơ lửng lửng như lớp da bị lột. Ô cửa sổ duy nhất, lốm đốm rêu đen, đã bị kẹt chặt, nếu không Sunny đã cố trèo ra ngoài và tuột xuống một ống nước để bỏ trốn - một hành động mà Augustus thường làm trong những cuốn sách.

Ngoại Ted có rất nhiều cuốn sách về cậu bé đó, chúng có tên là Những cuộc phiêu lưu của Augustus, hình như là do chính cô của ông viết về ông. Viola đã đọc vài cuốn cho Sunny nghe. Augustus bày đủ trò nghịch ngợm nhưng có vẻ như mọi người đều nghĩ rằng đó là chuyện bình thường, vậy mà nếu Sunny chỉ cần làm rơi một hạt đậu khỏi đĩa của mình thôi, cậu sẽ trở thành đứa trẻ tồi tệ nhất trên đời trong mắt bà cậu. Thật là không công bằng!

Cậu ước gì có Bertie ở đây. Con bé sẽ chui vào giường với cậu và ủ ấm cho cậu. Con bé rất giỏi ủ ấm, ngoại Ted cũng thế. Ở trang viên Jordan này, chưa từng có ai chạm vào cậu, có chăng cũng chỉ là cấu véo hoặc đánh cậu, hoặc nếu là lũ chó thì sẽ cắn cậu. Bà nội cậu thường quật cái thước kẻ bằng gỗ dài ba mươi phân vào khoeo chân cậu. “Cái này đã giúp Dominic nên người.” Bà nói. (“Ôi dào, hãy xem cậu ta trở thành người thế nào kìa.” Bà Kerrich nói. Nhưng như thế không có nghĩa là bà Kerrich phản đối hình phạt bằng đòn roi. Ngược lại thì có.) Cậu rất hay tè dầm ra giường, từ lúc ở nhà cậu vẫn vậy, nhưng ở đây người phải đem chăn ga đi giặt là bà Kerrich. Bà ta cứ lải nhải đi lải nhải lại với cậu rằng cậu là một “thằng nhóc khó ưa”, và khi bà ta thực sự bực tức, bà ta để mặc cho cậu ngủ trên đống chăn ga ướt lạnh vào cả buổi tối hôm sau.

Trong phòng trẻ còn chứa những cuốn sách bị mủn và những bức tranh ghép hình Victory. Sunny bèn đem chúng ra để tiêu khiển. Cậu đọc rất kém nhưng lại rất giỏi trò ghép hình, mặc dù niềm vui của cậu cứ vơi dần, vơi dần khi phải ghép đi ghép lại mãi mấy bức tranh “Ngôi nhà của Anne Hathaway” hay “Vua Arthur ở Dartmoor.”

Phòng trẻ vẫn vương vãi những món đồ chơi cũ trong thời thơ ấu của Dominic. Sunny cứ liên tục giẫm phải một chú lính tinh nghịch hoặc một chiếc ô tô Dinky khiến cậu bị trượt chân, vì thế cậu thu thập những báu vật nhỏ bé này và cất vào trong một hộp giày cũ. Cậu vẫn giữ con thỏ rừng bằng bạc mà ngoại Ted đã cho cậu (dù rất khó khăn), nhưng cậu ước gì có được sự an ủi từ những hòn đá của cậu. Ở lối xe chạy vào nhà có một ít sỏi nhưng như thế vẫn chưa đủ. Bà cậu đã tước đi viên đá cuội đẹp nhất mà cậu tìm được trên bãi biển ngay trước khi họ rời Devon. (“Thứ bẩn thỉu!”) Nếu có được những hòn sỏi ấy, cậu đã có thể rải chúng để làm dấu giống như Hansel và Gretel[150] đã làm để rồi tìm được đường về nhà. Hoặc Bertie, Gretel của cậu, có thể lần theo dấu vết và tìm thấy cậu, sau đó giải thoát cậu khỏi cái lồng này. Cậu ngủ thiếp đi với ý nghĩ vui vẻ ấy.

Thế rồi, một “vấn đề gây nhiều tranh cãi” nảy sinh, đó là việc học tập của cậu. Bà Kerrich nói với Thomas rằng bà chẳng hiểu tại sao cậu không thể đi học ở trường địa phương. “Nó không đủ tốt đối với một người nhà Villiers.” Thomas nói. Mình mang họ Todd mà, Sunny nghĩ, Sunny Todd, không phải là Philip Villiers. Bao lâu nữa thì cậu quên mất điều này? Bà Kerrich nói bà nghĩ “cậu nhóc thừa kế bị chậm tiến nên lệnh bà cần gì phải xoắn xít lên về việc học tập của cậu ta nhỉ!” “Cháu không chậm tiến.” Sunny lầm bầm. Bà Kerrich nói: “Cháu chỉ được lên tiếng khi nào có người nói chuyện với cháu, cậu nhóc.” Ngài Lễ Độ lắc đầu thất vọng trước sự bất nhã của Thomas và bà Kerrich.

Bà Kerrich nói đúng, bà nội cậu không thể chấp nhận nổi trường tiểu học địa phương, mấy từ “trường công lập” khiến bà rùng mình. Cậu chưa đủ tuổi theo học ở trường nội trú mà Dominic từng học. “Chưa đến lúc.” Bà nội cậu nói. Phải đợi đến sinh nhật tám tuổi của cậu đã. Ngay cả trong mắt một đứa trẻ bảy tuổi như cậu, tám tuổi vẫn còn rất nhỏ. “Ừ.” Bố cậu nói. “Bố đã rất khổ sở khi ở đó, nhưng bố không nhớ nhà. Ai mà nhớ một nơi như thế này chứ, con có thể phát ốm khi ở trong trang viên Jordan này, và khi thoát ra khỏi nó, con sẽ cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm.” Chẳng mấy khi Dominic nói nhiều thế này. Anh ta nói anh ta đang thức dậy sau “giấc ngủ đông”, vứt bỏ tình trạng lờ đờ, uể oải của mình. “Không thuốc thang gì nữa. Giờ bố nhìn thấy mọi thứ rõ ràng hơn rồi. Bố cần thoát ra khỏi đây.”

“Con cũng thế.” Sunny nói. Có lẽ họ có thể chạy trốn cùng nhau. Sunny mường tượng hai bố con họ đang đi bộ dọc theo một con đường quê, mang theo tay nải đựng đồ đạc được làm bằng những chiếc khăn tay chấm bi màu đỏ và trắng buộc vào đầu những cái que. Có lẽ có cả một con chó nhỏ chạy lon ton bên cạnh họ.

“Họ chẳng hiểu gì về trẻ con cả.” Bố cậu nói. “Con không biết cái cảnh lớn lên ở đây là như thế nào đâu.”

Con biết mà, Sunny nghĩ. Con đang lớn lên ở đây đấy thôi.

“Họ tin dùng sự cấm đoán, đó chính là vấn đề, họ nghĩ điều đó sẽ trui rèn nên những đức tính tốt đẹp nhưng thực tế lại trái ngược. Đương nhiên, thực ra người nuôi dạy bố là một nanny[151]. Bà ta còn tồi tệ hơn tất cả bọn họ cộng lại.” Sunny không biết nanny có nghĩa là gì. Nanny duy nhất mà cậu biết là con dê ở Devon mà cậu vẫn còn nhớ. Nó hôi kinh khủng và luôn cố gắng ăn quần áo của ta nếu ở quá gần nó. Chắc hẳn một con dê thì không thể nuôi dạy bố cậu được, nhưng dạo gần đây Sunny đã gặp quá nhiều chuyện đáng kinh ngạc đến nỗi chẳng còn gì có thể khiến cậu thấy kinh ngạc nữa rồi. “Chà.” Dominic nói, trôi miên man theo dòng ký ức. “Nanny thực sự là đồ khốn kiếp.”

“Đồ khốn kiếp là gì ạ?” Sunny hỏi.

“Một người thực sự xấu xa.”

Bà nội cậu đã tìm ra “một giải pháp”. Một trường tiểu học tư thục ở địa phương, một trường ngoại trú - Thomas sẽ chở cậu đi đi về về hằng ngày. (“Ồ, cậu ta sẽ đi học ở đó sao?” Thomas nói.) “Thực ra cũng không phải là trường tốt lắm.” Bà nội cậu nói. “Nhưng chúng ta sẽ không phải xấu hổ quá về hành vi của Philip.” Hành vi gì? Dạo gần đây cậu ngoan như chuột vậy.

“Cháu sẽ đi học ở đây ông ạ.” Cậu nói với ngoại Ted trong cuộc trò chuyện điện thoại hằng tuần của hai ông cháu.

“Ông biết rồi.” Teddy nói, nghe giọng ông cũng rầu rĩ như cảm giác trong lòng Sunny vậy. “Mẹ cháu đã thỏa thuận chuyện này với Antonia. Ông sẽ cố làm gì đó, được chứ? Từ giờ cho đến lúc ấy, cháu phải thật khắc kỷ nhé, Sunny.” Sunny không biết khắc kỷ là gì nhưng đó rõ ràng không phải điều gì dễ chịu.

Còn vài ngày nữa là cậu bắt đầu đi học ở trường mới, thời tiết thật đẹp, như thể nó cố ý đợi cho đến khi cậu chẳng còn mấy thời gian để hưởng thụ nó. Sunny chơi trong những khu đất hoang cỏ dại mọc um tùm suốt cả ngày dài. Chơi một mình thật là chán, cậu đã chịu hết nổi khi phải làm một hiệp sĩ cưỡi ngựa đấu thương thời Trung cổ, Robin Hood hay một nhà thám hiểm rừng già đơn độc rồi. Vì thế, cậu thấy nhẹ cả người khi bố cậu rủ: “Chúng ta đi phiêu lưu một chuyến nhé, Phil?”

Sunny cảm thấy cậu đã “phiêu lưu” đủ rồi. Mấy hôm trước, cậu tình cờ tha thẩn đi vào trong mê cung - bà cậu đã “nghiêm cấm” cậu bén mảng tới gần nó, nhưng vì cậu thậm chí còn chẳng biết nó là cái gì nên cậu khó có thể tránh nó được. Đó là một nơi đáng sợ, um tùm rậm rạp, và cậu đã quay trở lại gần như ngay lập tức - nhưng đã quá muộn! Cậu đã bị lạc, bốn bề chỉ thấy những bụi gai và những giậu thủy lạp. Lúc Thomas tới tìm cậu thì trời đã tối, ông ta huýt sáo gọi cậu như gọi một con chó vậy. Bấy giờ Sunny đã lăn ra ngủ giữa những cái rễ xù xì dưới chân hàng giậu, và Thomas đánh thức cậu bằng cách chiếu đèn pin vào mặt cậu, rồi đá nhẹ mũi giày vào người cậu một cái để dựng cậu dậy.

“Tại sao mày lại chui vào đó khi tao đã dặn mày không được làm thế?” Bà nội cậu rít lên. Đương nhiên, chẳng ai quan tâm cậu đã kinh hãi thế nào. Cậu đã quá quen với điều đó rồi, vì vậy khi bố cậu nhắc đến từ “phiêu lưu”, một giọng nói nhỏ nhẹ trong đầu cậu đã khuyên cậu phải thận trọng. Từ “phiêu lưu” thốt ra từ miệng bố cậu nghe thì có vẻ đầy hứa hẹn nhưng thực tế lại chẳng có gì hay ho. Với ngoại Ted thì thường ngược lại.

“Ừ, hôm nay hãy tạm đem nó đi đâu đó cho khuất mắt.” Bà nội “yêu quý” của cậu nói.

Mấy ngày hôm nay, Dominic cứ mải miết vẽ thâu đêm suốt sáng, vẩy sơn lên các tấm toan. “Bố đang tràn trề cảm hứng.” Anh ta nói. “Bố đang vẽ một kiệt tác.”

Vào một buổi sáng, Dominic làm tất cả bọn họ sửng sốt khi xuống nhà để ăn sáng - một bữa ăn đạm bạc ngay cả khi nó được cho là ngon lành nhất - và vui vẻ gọi “Cho cháu món thịt xông khói và trứng ngon nhất của bác, bác Kerrich!” khi bà ta rón rén bê nồi cháo loãng thường lệ đi vào. Bà ta vừa bỏ đi vừa kêu ca: “Ôi, Chúa ơi, lại bắt đầu rồi. Cậu ấy lại hưng phấn rồi.” Sunny chẳng ngạc nhiên khi cả món thịt xông khói lẫn món trứng đều không xuất hiện, cậu biết rõ tình trạng của chạn thức ăn hơn hầu hết mọi người, vì cậu suốt ngày lén lút quanh quẩn ở đó để lục lọi đồ ăn. Toàn những thứ cơm thừa canh cặn, chẳng hạn như một miếng hành muối còn sót lại hay một miếng khoai tây nguội ngắt. Thi thoảng cậu căng thẳng thò ngón tay quệt một vòng bên trong lọ mứt cam. Bà Kerrich cứ như một con diều hâu vậy.

Dominic có vẻ quên ngay món thịt xông khói và trứng mà mình vừa yêu cầu, nhẩn nha châm một điếu thuốc lá. Bà nội Sunny cũng hút thuốc rất nhiều, các bức tường ở trang viên Jordan đều nhuốm một màu vàng nhạt. Đôi mắt Dominic vằn tia máu và anh ta cứ bồn chồn nhấp nhổm như một con ếch. “Nào, Phil!” Anh ta nói trước khi Sunny kịp múc thìa cháo cho vào miệng. “Đi thôi!”

Họ đi bộ hàng tiếng đồng hồ, chỉ được bổ sung năng lượng bằng một thanh sô cô la Mars nhoe nhoét vì đã chảy một nửa mà Dominic bẻ đôi và chia cho con trai. Trước đấy, anh ta đã uống vài viên thuốc nhỏ màu hồng, anh ta đặt chúng trong lòng bàn tay và xòe ra cho Sunny nhìn, đấu tranh tư tưởng xem có nên cho con trai một mẩu nhỏ không. “Có lẽ chỉ một phần tư viên thôi nhỉ?” Anh ta trầm ngâm suy ngẫm. “Thử tưởng tượng xem một đứa trẻ mà phê thuốc thì sẽ thế nào.” Cuối cùng, anh ta quyết định không làm thế bởi vì anh ta sẽ bị “bà sói cái” “mắng nhiếc thậm tệ”.

Họ uống nước từ một cái ao nhìn khá là xanh, Dominic nói đây là một nguồn nước kỳ diệu và ở dưới đáy sâu của nó có một con cóc có viên ruby trên trán. “Nếu con nhìn thật kĩ, con có thể thấy nó đấy.” Trước nỗi thất vọng của bố cậu, Sunny không thấy gì cả. Họ lại tiếp tục lên đường, bố cậu vẫn huyên thuyên về con cóc. Sunny lúc này đã mệt lả. Chuyến cuốc bộ này chẳng giống một cuộc phiêu lưu tẹo nào.

“Con mệt rồi.” Sunny nói. “Chúng ta dừng chân một lát được không ạ?” Cậu lo lắng không biết họ sẽ quay lại trang viên Jordan kiểu gì. Chắc không phải là đi bộ suốt từng ấy chặng đường chứ? Họ đã đi hàng dặm đường và chân cậu đang run lên vì mỏi. Nếu ngoại Ted ở đây, ngoại sẽ chìa lưng cõng cậu và nói: “Ôi, ngoại già quá, chẳng cõng nổi cháu nữa rồi.”

“Đây là một bài tập rèn luyện tốt cho thể lực của con.” Dominic nói, tiếp tục sải bước. “Đi tiếp đi!”

Khuôn mặt Sunny bỏng rát. Cậu biết đáng lẽ cậu phải đội mũ và bôi kem chống nắng. Cậu khát khô cả cổ nhưng họ chẳng đi qua cái ao nào nữa, dù là một cái ao có nước màu xanh. Sunny chợt nhận ra cậu đang đi cùng một người không thực sự có trách nhiệm với cậu. Chẳng phải bố cậu vốn không phải là một người trưởng thành thực thụ sao? Nỗi sợ hãi như một mũi giáo đâm vào bụng cậu. Cậu đang không được an toàn.

Quả là nhẹ nhõm khi họ tới một khu rừng, vì nó mang đến cho họ chút bóng râm, và ở đây, Sunny tìm thấy ít mâm xôi dại chua khủng khiếp nhưng ít nhất chúng cũng là đồ ăn được.

Cứ chốc chốc họ lại dừng lại để Dominic say sưa ngắm nghía một chiếc lá dương xỉ hoặc hồ hởi ca ngợi một tiếng chim hót. “Con có nghe thấy không, Chúa Jesus ơi, con có nghe thấy không, Phil?” Khi phát hiện một cây nấm khổng lồ mọc trên một thân cây, anh ta quỳ gối xuống và nhìn chằm chằm vào nó. Cây nấm hớp hồn anh ta chừng như hàng tiếng đồng hồ, và Sunny buộc phải nói “Chúng ta đi tiếp được không bố?”, bởi vì bụng cậu đang đau quặn, có lẽ là do những quả mâm xôi chua loét mà cậu đã ăn lúc nãy, nhưng Dominic bắt đầu nhảy chồm chồm và hét lên: “Ôi Chúa ơi, ôi Chúa ơi, bố không thể tin nổi là lúc nãy bố không nhìn thấy nó - nấm ngai cóc! Nấm ngai cóc - con cóc có viên ruby trên trán - hai thứ này có liên quan đến nhau!”

“Bởi vì nó là cái ngai cho con cóc ngồi ạ?” Sunny ngơ ngác.

“Bởi vì con cóc là vua của loài nấm ngai cóc - đó chính là điều bí mật. Bí mật này có thể thay đổi mọi thứ. Chúng ta nắm được kiến thức bí mật ấy rồi. Chúng ta đã ngộ đạo.”

“Ngộ đạo í ạ?”

“Ừ. Ôi trời ơi.”

Thế rồi anh ta cứ lảm nhảm một lúc lâu. Sunny tính đến chuyện nằm xuống và phủ những chiếc lá lên người mình giống như một con vật nhỏ bé trong rừng. Cậu có thể đánh một giấc, rồi có lẽ khi tỉnh dậy, cậu sẽ thấy mình đang ở trang viên Jordan, hoặc thậm chí tuyệt vời hơn nữa là ở nhà của ngoại Ted. Nhưng không, họ tiếp tục lê bước.

Ra khỏi khu rừng, họ lại phải chịu sự tra tấn của ánh mặt trời nóng bỏng. Dominic đã ngừng nói, thực ra tâm trạng anh ta dường như đã thay đổi hoàn toàn và trở nên u ám hơn. Anh ta lẩm bẩm gì đó với chính mình, nhưng những lời lẽ ấy thực sự chẳng có ý nghĩa gì cả.

Lúc này họ đang đi bộ dọc theo một con đường mòn, hai bên là những hàng giậu lớn, thế rồi con đường đột nhiên kết thúc và họ bước sang một con đường cái nhỏ. Mặt đường bỏng rát. Hai bàn chân Sunny đau đến mức cậu nghĩ mình không thể bước tiếp được nữa. Trên đường xuất hiện hai cánh cổng màu trắng. Giữa mỗi cánh có một vòng tròn lớn màu đỏ, còn trên đỉnh của chúng có một ngọn đèn nhỏ không được thắp sáng vì trời vẫn chưa tối. Họ đi qua hai cánh cổng mở toang và Sunny nhận ra họ đang ở trên một đường ray. Cuối cùng thì cũng có thứ gì đó thú vị. Liệu có đoàn tàu nào sắp chạy qua đây không? Họ có thể đợi nó không? “Đương nhiên.” Dominic nói. “Có lẽ đó là lý do chúng ta được dẫn đến đây đấy.” Ai đã dẫn bố con cậu đến đây? Sunny tự hỏi. Vua của loài nấm ngai cóc ư? Cậu không hỏi điều này, cậu chỉ nhẹ nhõm vì bố cậu dường như đã tươi tỉnh trở lại.

Trước kia Sunny chưa bao giờ đi qua cái cổng xe lửa nào. Cậu yêu những đoàn tàu. Ngoại Ted rất hay dẫn cậu đến bảo tàng đường sắt ở York. Ông nói hồi còn nhỏ, ông cũng rất yêu những đoàn tàu.

Sunny đang mong họ sẽ băng qua các đường ray, nhưng Dominic lại ngồi phệt xuống giữa đường, ngay giữa hai cánh cổng màu trắng và bắt đầu cuốn một điếu thuốc lá. Sunny ngập ngừng phân vân bên cạnh anh ta. Ngồi trên một con đường, đặc biệt là một con đường có đường ray tàu hỏa chạy qua, không phải là một ý hay, ngay cả trong mắt một đứa trẻ bảy tuổi, nhưng mặt khác, hai chân cậu không thể chịu đựng lâu hơn nữa.

Khi băng qua con đường rải nhựa, những thanh ray được gắn với những tấm ván gỗ và bố cậu vỗ vỗ vào tấm gỗ bên cạnh mình, nói: “Nghỉ ngơi thôi, ngồi xuống đi!” Anh ta châm điếu thuốc cuốn và phát hiện ra một gói sô cô la bẹp rúm đã chảy hết ở túi quần sau, bèn sửng sốt nhìn chúng. “Oa!” Anh ta nói. “Màu tím.”

Nhìn thấy gói sô cô la, Sunny không còn chần chừ nữa, dứt khoát ngồi xuống, những tấm gỗ của đường ray cũng không quá nóng. Cậu có thể nhìn xa tít tắp dọc theo đường ray về cả hai phía. “Tuyệt chứ hả?” Dominic nói. “Giống như một bài học về phối cảnh vậy. Con có biết phối cảnh không?” Cậu không biết.

“Vật nào càng xa thì con càng phải vẽ nó nhỏ lại. Phải mất đến, ờ, hàng nghìn năm người ta mới nghĩ ra điều đó đấy.”

Chân Sunny chạm vào một thanh ray kim loại và cậu khẽ kêu lên oai oái vì nó quá nóng, “ừ, do ánh mặt trời đấy, con trai.” Dominic nói. “Nóng lắm. Mà con cũng là mặt trời mà, đúng không?” Sunny nghĩ bố cậu không thực sự nói ra những câu hoàn chỉnh, đó chỉ là những ý nghĩ lộn xộn. “Cóc[152] và Todd nữa chứ! Không phải tự dưng mà hai từ đó quá giống nhau, đúng không? Ra. Apollo. Chúng cũng là những cái tên thú vị, nhưng bố mẹ đã gọi con là Sun. Mặt trời của bố mẹ. (Hoặc có thể ông đã nói “con trai[153]”. Tên của Sunny luôn gây ra những sự nhầm lẫn.)

“Giờ con là Philip rồi.” Sunny nhắc bố mình. Người cậu dính đầy sô cô la nhão, chuyện này sẽ khiến cậu gặp rắc rối với “bà sói cái”, nhưng cậu buồn ngủ đến nỗi chẳng buồn bận tâm. Cậu bắt đầu gà gật và dựa vào thân hình gầy gò, đầy kích động của bố mình. “Và với những đường thẳng song song, giống như đường ray này, con phải có một điểm ảo[154].” Dường như điều tuyệt vời nhất lúc này là được ngủ một giấc. Những ý nghĩ rời rạc của Dominic - sự sùng bái mặt trời, luật phối cảnh, nấm ngai cóc - đều dần dần tan biến.

Cậu thức giấc bởi tiếng chuông reng reng cùng ánh đèn chớp lóe, và thấy hai cánh cổng màu trắng đang từ từ khép lại, chặn đứng con đường. Họ sẽ bị mắc kẹt ư? Cuối cùng, những cánh cổng cũng đóng sầm lại. “Oa!” Dominic nói. “Chuyện này sẽ tuyệt diệu lắm đây, con không nên bỏ lỡ nó.” Sunny ngờ rằng cậu chẳng muốn chứng kiến nó chút nào và cố gắng đứng dậy, nhưng Dominic kéo cậu xuống trở lại. “Tin bố đi, Phil, con sẽ muốn chứng kiến cảnh này. Ôi trời - nhìn kìa, nó đang đến. Nhìn thấy đoàn tàu không? Thấy không? Đếch thể tin nổi.”

Dominic đột ngột đứng dậy, kéo theo Sunny.

Vật thể nhỏ xíu ở đằng xa - Theo báo cáo của cuộc điều tra sau này, đó chính là chuyến tàu mang số hiệu 330 đi từ ga Liverpool Street tới Norwich - đang càng lúc càng lớn dần, kích thước của nó thay đổi theo từng giây. “Ở lại đi, ở lại đi!” Dominic thúc giục như thể Sunny là một chú chó. “Con làm sao thế? Con không muốn trải nghiệm chuyện này ư? Nó sẽ làm con sững sờ mê mẩn. Nào! Aaaa!…” Không, không hẳn là “aaaa” - chỉ có Augustus mới hét lên như vậy, còn người đàn ông bị đoàn tàu tốc hành đâm trực diện thì không.

“Đây rồi, đây hẳn là nơi đó.” Teddy nói. Ở băng ghế sau trên xe, Bertie hút sùm sụp chỗ nước ép còn sót lại trong hộp và nhìn quanh với vẻ hứng thú.

Một tấm biển gắn ở trụ cái cổng hình vòm bằng sa thạch thông báo rằng đây là “Trang viên Jordan”, và bên dưới là một tấm biển khác đề chữ “Tư gia”. Teddy tự hỏi không biết họ lấy cái tên này trong Kinh thánh hay đây là tên của ai khác. Nếu là vài năm trước, ông sẽ cho rằng Jordan là một cái họ. Hồi chiến tranh, ông từng biết một cô gái WAAF có tên là Nellie Jordan (không, ông không có quan hệ thân mật gì với cô ta cả), nhưng dường như bây giờ nó còn được dùng làm tên thánh - ở lớp Bertie có một Jordan (một cậu bé). Ngoài ra, cùng với những cái tên thông thường như Hannah và Emma, còn có một Saffron và một Willow (cả hai đều là con gái), và một Dharma (một đứa trẻ xanh xao, gầy gò mà Teddy chẳng bao giờ xác định được giới tính). Ở lớp của Sunny từng có một cô bé tên là Squirrel. Ít ra đó cũng là cái tên không thể gọi tắt được, đây chính là mối bận tâm của Nancy khi họ đặt tên cho Viola. “Liệu người ta có gọi con là “Vi” không anh nhỉ? Em mong là không.” Nhiều năm sau, thi thoảng Teddy lại băn khoăn về Squirrel. Liệu cô bé có đổi tên hay, ở đâu đó trong thế giới người lớn, liệu có giáo viên hoặc luật sư hay bà nội trợ nào đáp lại khi có người gọi cái tên “Squirrel”?

Căn cứ vào ngôi trường mà chúng theo học, bất cứ nghề nghiệp nào được nhắc đến ở trên đều có vẻ quá xa vời đối với chúng. Đó là ngôi trường kiểu Rudolph Steiner - theo lời Viola, phương pháp giáo dục của nó là “lấy trẻ em làm trọng tâm”, chủ trương này hoàn toàn khác với Viola, vì cô thực sự chẳng coi con cái là trọng tâm chút nào. Bây giờ cô còn chẳng chịu tham gia các buổi lễ của giáo hội Anh, và đã đồng ý để nhà Villiers lựa chọn một trường tiểu học tư thục không miễn tiền học phí ở địa phương cho Sunny tội nghiệp. Việc cô ít nhiều phủi tay với con trai đã đủ tồi tệ rồi, cô lại còn chia cách cậu với em gái của cậu nữa. Teddy có thể hình dung rất rõ mình sẽ đau khổ thế nào nếu bị tách khỏi Ursula và Pamela ở cái tuổi lên bảy non nớt. Và nhỡ đâu nhà Villiers đổi ý về Bertie thì sao? Liệu Viola có để họ nuôi cả con bé không?

“Cha mẹ của Dom có thể đem lại cho Sunny rất nhiều lợi ích.” Viola nói với Teddy. “Suy cho cùng, nó là người thừa kế của nhà Villiers, và Dom đã hòa giải với gia đình. Thực ra, anh ta đã về nhà rồi, và đang vẽ tranh.” Teddy thường quên mất rằng Dominic là một họa sĩ, có lẽ vì anh ta không thành công chút nào trong sự nghiệp cầm cọ của mình. “Và hẳn là bố cũng đồng ý rằng sẽ tốt cho Sunny khi nó lại được sống cùng cha nó.” Vân vân. Đủ các lý do để cô biện bạch cho quyết định bỏ rơi đứa con của mình. Teddy ngờ rằng nguồn cơn của việc này là tiền và nhu cầu của cô với nó.

Đương nhiên, ban đầu họ chỉ đề nghị đón Sunny về “vài tuần” vào dịp nghỉ hè, và Teddy đã không nhận ra họ có một kế hoạch dài hơi hơn. Giờ thì dường như Sunny sẽ ở lại với nhà Villiers (“Mãi mãi ạ?” Bertie nói, trên mặt hiện lên vẻ kinh hãi.) Sunny là một đứa trẻ nhạy cảm nên Teddy cảm thấy việc họ đem cậu đi và mong cậu khôn lớn bên những người phần nào xa lạ với cậu là một sai lầm. Teddy đã giấu Viola đi gặp luật sư của mình, bắt đầu đệ đơn lên tòa án chuyên xử các vụ tranh chấp trong gia đình để giành quyền giám hộ cháu ngoại. Ông không quá hy vọng vào kết quả, nhưng chúng phải có người bảo vệ chứ, đúng không?

Hai cánh cổng bằng gang sừng sững ở trang viên Jordan đang mở rộng và họ lái xe qua mà chẳng gặp trở ngại gì. Lái xe đến Norfolk mất nhiều thời gian hơn so với Teddy tính toán. Trước kia ông chưa bao giờ tới đây, nơi này nằm ở phần đuôi của bản đồ nước Anh. Họ đã đi vòng vèo trên con đường một làn trong nửa tiếng đồng hồ cuối cùng, bị cản đường bởi các loại xe cộ chậm rì rì ở các nông trại và những con cừu ngoan cố. Chỗ đồ ăn họ mang theo đã gần hết. Họ đã nạp năng lượng trong cuộc hành trình bằng những chiếc sandwich làm từ bánh mì trắng kẹp pho mát và dưa chuột muối, rồi bim bim và bánh xốp phủ sô cô la KitKat - tất cả những thứ này vốn bị Viola cấm tuyệt đối, cô đã “dặn dò” Teddy về “chế độ ăn” của Bertie và Sunny (“không được ăn thứ gì có một khuôn mặt”) - chúng chỉ được phép ăn các món như “hạt kê và rau chân vịt hầm” hay “mì ống và đậu phụ nướng”. Ông có thể chấp nhận chuyện chúng là người ăn chay (“Cháu không ăn động vật chết đâu, ngoại Ted.” Bertie nói), đó là một chế độ ăn tuyệt vời trên nhiều phương diện, nhưng ông không thích làm theo các chỉ đạo trịch thượng của Viola. “Nhập gia tùy tục.” Teddy nói. “Có nghĩa là chúng sẽ không ăn các loại thức ăn dành cho vẹt yến phụng.” Ông nhớ mình từng mua những chùm hạt kê cho Líu Lo, con vẹt yến phụng của Viola. Con chim tội nghiệp, bao nhiêu năm trôi qua như vậy mà ông vẫn còn nghĩ đến nó.

Chế độ ăn chay, trường Steiner, những chuyến đi đến các buổi họp của tổ chức Woodcraft Folk - Teddy sẵn sàng chiều theo tất cả những điều này nếu Viola cho phép bọn trẻ ở yên dưới mái nhà của ông. Ông đã sai lầm khi để Sunny tới nhà Villiers. Viola đã xuống miền Nam để tham gia biểu tình phản đối chống lại tên lửa hành trình. Và khi Teddy nhẹ nhàng khuyên nhủ rằng trách nhiệm của một người mẹ, hay đúng hơn là một người mẹ đơn thân, phải được đặt lên trên hòa bình thế giới, cô liền nói rằng đó là điều vớ vẩn nhất mà cô từng nghe, vì cô đang cố gắng bảo vệ tương lai của toàn bộ trẻ con trên đời này, một nhiệm vụ có vẻ hơi quá nặng nề đối với một con người. Trong lần đi biểu tình gần đây nhất, cô đã dẫn theo cả Sunny và Bertie tới cắm trại ở Greenham Common vài ngày. Bọn trẻ đã năn nỉ cô đừng dẫn chúng đến đó nữa - chúng đã phải trải qua cái lạnh, cái đói, và sợ hãi những viên cảnh sát cưỡi ngựa ở Thames Valley khi thấy họ đối xử với phụ nữ như với lũ du côn. Viola nói lần tới cô hy vọng mình sẽ bị bắt. Teddy nói trên đời này hầu như chẳng ai mong mình bị bắt cả. Viola liền nói ông không hiểu gì về phi bạo lực, và ông có bao giờ nghĩ đến hàng nghìn người vô tội đã bị ông ném bom trong chiến tranh không? Cô ăn nói chẳng có tí logic nào. “Chuyện đó chẳng liên quan gì đến chuyện này.” Teddy nói và Viola đáp trả: “Nó rất liên quan.” (Thật không? Ông không còn biết nữa. Nếu là Ursula thì bà sẽ có câu trả lời.) Cuối cùng, Teddy nói: “Sunny và Bertie có thể ở với bố.” Vẻ mặt Viola lúc này trông giống hệt thần Atlas khi có ai đó nói với ông ta rằng được rồi, ông ta có thể hạ bầu trời xuống rồi.

Từ bấy đến nay đã vài tháng trôi qua và cuộc sống của bọn trẻ đã vào nền nếp. Tình yêu của Teddy được thể hiện qua những hành động thiết thực - ông cho bọn trẻ tham dự những buổi hòa nhạc ở trường học, mặc quần áo sạch sẽ, ăn uống đều đặn. Sunny và Bertie có vẻ bằng lòng. Chúng từng bị ảnh hưởng bởi cách nuôi dạy được chăng hay chớ của Viola (“Tôi từng là một bà mẹ tồi tệ!” Viola vui vẻ tuyên bố) tạp chí Mẹ và bé, năm 2007. “Đúng thế!” Bertie đồng ý.)

Bấy giờ Teddy vẫn còn nuôi gà và ong. Lũ trẻ yêu cả hai loài vật đó. Chúng rất hay chơi ở ngoài trời. Teddy treo một cái xích đu trên một cành lê to lớn ở cuối vườn. Họ thường đi khám phá vùng đồng quê quanh York, ngắm những bông hoa súng ở Pocklington, thăm lâu đài Howard và Helmsley, đến Dales trong mùa sinh sản của cừu, tới tu viện Fountains và đến Whitby. Biển Bắc có vẻ bớt tang thương hơn khi ông có sự bầu bạn của Bertie và Sunny. Chúng thích đi bộ dọc theo những con đường phủ đầy dương xỉ, hoặc dã ngoại trên những trảng đất hoang tím thẫm. Chúng cảnh giác với rắn hổ lục, bươm bướm và diều hâu. (Chúng có thực sự là con của Viola không nhỉ?) Teddy giờ đã nghỉ hưu và lũ trẻ lấp kín rất nhiều khoảng trống trong cuộc đời ông. Và ông cũng lấp kín một khoảng trống lớn trong cuộc đời chúng.

Ông bắt đầu lập ra những kế hoạch dài hơi. Có lẽ ông nên chuyển chúng đến học ở một trường công lập, cho chúng gia nhập đội Sói Con và Chim Non[155] thay vì tổ chức Woodcraft Folk. Thế rồi, bất thình lình, Viola gọi điện yêu cầu ông để Sunny về nhà nội chơi. Teddy không muốn đưa Sunny đến Trang viên Jordan, nhưng ông có thể làm gì được chứ? Viola mới là người có toàn quyền. Quãng thời gian này, Viola tạo cảm giác là cô đang sống ở một trại phản đối chiến tranh. Chỉ khi cô trở về vào mấy tháng sau, ông mới phát hiện ra cô đã bắt bồ với Wilf Romaine sau một cuộc biểu tình lớn của chiến dịch giải trừ hạt nhân ở công viên Hyde, và kể từ đó họ đã “ăn ở” với nhau, theo cách cô nói, ở Leeds. Lần đầu tiên ông biết về việc này là khi cô nói: “Tuần sau con sẽ kết hôn, bố có muốn đến dự không?”

Con đường dài dẫn vào Trang viên Jordan từng có hai hàng du sừng sững hiên ngang đứng gác, nhưng bây giờ tất cả những gì còn lại chỉ là những gốc cây bị bệnh. Bi kịch này từng giáng xuống Lâu đài Ettringham hơn một thập kỷ trước, nhưng họ đã trồng lại những cây sồi. Đối với Teddy, dường như việc trồng sồi là một hành động thể hiện niềm tin vào tương lai. Ông muốn trồng một cây sồi. Nhiều năm sau, vào năm 1999, trong “chuyến đi giã biệt” cùng với Bertie, ông đã trở lại Lâu đài Ettringham. Nó đã trở thành một khách sạn nhưng vẫn giữ nguyên diện mạo của một trang viên. Họ đã uống rượu ở “Quán bar Daunt” và ăn một bữa không tồi trong nhà hàng ấy, nhưng lại qua đêm ở một nhà trọ rẻ hơn trong làng. Nó hầu như không còn là một ngôi làng nữa. Góc Cáo và Quạ Gáy Xám bị vây quanh bởi một khu nhà biệt lập đắt tiền mới xây. “Nhà của các cầu thủ bóng đá.” Bertie nói. Chúng được dựng lên trên đồng cỏ. Lanh, phi yến, mao lương hoa vàng, mỹ nhân thảo, cẩm chướng đỏ và cúc mắt bò. Tất cả đã biến mất.

Những thay đổi ấy khiến Teddy buồn hơn ông nghĩ, Bertie cũng thế, bởi vì đó là nơi mà cô chưa bao giờ biết và sẽ không bao giờ có thể biết được, tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, cô hiểu rằng nó đã khiến cô trở thành con người cô bây giờ. Cô muốn gõ cửa Góc Cáo, xin phép những người chủ hiện tại của nó cho phép ông cháu cô vào trong nhà, nhưng đây là cổng điện tử có gắn camera an ninh và khi Bertie nhấn chuông, chẳng có ai trả lời. Teddy vô cùng nhẹ nhõm. Một khi đã vào trong đó, ông không nghĩ mình có thể bước ra qua ngưỡng cửa ấy được nữa.

“Bệnh nấm du.” Teddy giải thích với Bertie khi họ lái xe vào trang viên Jordan. “Nó làm cho những cây du bị chết.” “Tội nghiệp chúng!” Cô nói. Khác với Lâu đài Ettringham, ở đây, những cây du bị đốn không được thay thế bởi bất cứ loại cây nào khác, vì thế cảnh lượng trông thật thê thảm, như thể từng có một cuộc chiến xảy ra trong khu đất này vậy. Vẻ hoang phế hiện lên rõ mồn một từ trước cả khi họ tới cửa chính. Viola đã nhầm to về sự giàu có của nhà Villiers. Chỉ riêng việc sửa cái mái nhà này thôi hẳn cũng khiến họ tốn cả một gia tài.

Teddy tự trách mình, có lẽ nếu đích thân ông đưa Sunny tới đây, ông sẽ sớm nhận ra gia đình Villiers thối nát thế nào cả về nhà cửa lẫn tính cách, nhưng ông đã không làm vậy mà để Dominic và mẹ anh ta lái xe đến đón cậu vào một buổi chiều lúc bắt đầu kỳ nghỉ hè.

“Antonia.” Teddy đã tươi cười nói, chìa tay ra, nhưng bà ta chỉ lạnh lùng hời hợt bắt tay ông và nói “Ông Todd”, mà không thực sự nhìn ông.

“Làm ơn gọi tôi là Ted.” Teddy nói.

“Antonia” đeo nhẫn kim cương đầy các ngón tay, chúng có màu xám xịt và đục ngầu vì cáu bẩn. Teddy từng tặng Nancy một chiếc nhẫn kim cương nhỏ xíu khi Viola ra đời - trông chẳng hào nhoáng chút nào - và bà nói đã kết hôn rồi thì ai còn đeo nhẫn đính hôn cơ chứ (“cứ như là hồi cổ ấy”), nhưng hồi chiến tranh họ chưa từng đính hôn một cách chính thức nên ông muốn bà có một kỷ vật minh chứng cho lòng tin của ông vào cuộc sống chung của họ trong tương lai. Mặc dù còn nghi ngại nhưng bà vẫn nói đó là một hành động đáng yêu. Bà dùng bàn chải và kem đánh răng để lau chiếc nhẫn mỗi tuần, vì thế nó lúc nào cũng lóng lánh. Ông đã giữ chiếc nhẫn lại để dành cho Viola, và đưa nó cho cô vào dịp sinh nhật năm cô hai mươi mốt tuổi, nhưng theo những gì ông nhớ, cô chưa từng đeo chiếc nhẫn đó.

Còn Dominic, trong chiều hôm đó, rõ ràng anh ta đã sử dụng một loại ma túy gây ảo giác - Teddy đoán là LSD - hoặc bản thân anh ta vốn điên điên khùng khùng. “Bánh ngọt!” Anh ta reo lên, xoa xoa hai bàn tay vào nhau khi Teddy bày ra một đĩa bánh ngọt. “Tuyệt quá mẹ nhỉ?” Anh ta nói, nhón lấy ba miếng bánh trên đĩa và thơ thẩn đi ra chỗ khác, để mặc Teddy và Antonia tự mình xoay xở trò chuyện với nhau.

“Bà uống trà nhé, Antonia?” Teddy mời bà ta. Không phải là ông không nhận thấy bà ta bực bội vì ông gọi tên tục của bà ta. Tuy nhiên, ông muốn bà ta chấp nhận việc ông và bà ta bình đẳng với nhau, vì họ đều là ông bà của đứa trẻ nhỏ xíu đang lúng túng, miễn cưỡng chịu đựng cái cảnh phải ngồi cùng họ.

Sunny và Bertie biến mất gần như ngay lập tức khi những vị khách của họ bước xuống khỏi chiếc ô tô, và Teddy phải dỗ dành mãi Sunny mới chịu quay trở lại phòng khách. Cậu bé cứ nhấp nha nhấp nhổm, rồi chỉ trong vài phút, khi người bà vừa mới được giới thiệu của cậu nói “Ngồi yên!” và “Đừng có nhún lên nhún xuống trên sofa như thế”, Teddy đã biết rằng để cậu đi với bà ta là một sai lầm, nhưng rốt cuộc ông vẫn để cậu đi, không phải sao?

“Bà muốn uống trà kiểu gì?” Ông lịch sự hỏi. Antonia liền đáp: “Trung Hoa, loãng, vắt thêm ít chanh.” Rồi Teddy nói: “Xin lỗi, tôi chỉ có loại trà hỗn hợp của hãng Rington thôi. Nhưng là trà sợi, không phải trà túi lọc.”

“Tôi phải ra ngoài để xem lũ chó có ổn không.” Antonia nói, đột ngột đứng dậy và đặt tách trà chưa nhấp một ngụm nào xuống. “Chúng đang ở băng ghế sau của xe.” Bà ta nói thêm khi Teddy ngây ra nhìn bà ta. Ông đã không để ý rằng bà ta có mang theo chó, ông nói với Sunny rằng “Chó kìa” và Sunny trở nên vui vẻ hơn một chút. Sunny vốn thích chó. “Sao cháu không đi ra ngoài cùng nội của cháu để xem lũ chó nhỉ?” Teddy nói, nhận thấy bà ta nhăn mặt trước từ “nội”.

Vậy mà ông vẫn để thằng bé đi với bà ta!

“Mea culpa[156].” Ông lẩm bẩm khi ông và Bertie dừng lại bên ngoài cửa chính của trang viên Jordan. Không có dấu hiệu của sự sống, không có con chó nào, không có Antonia, không có Sunny. Teddy thở dài và nói: “Hy vọng là ai đó đã đun nước, Bertie.” Người đó khó có thể là Antonia.

Lúc Antonia đã ra ngoài xem lũ chó, Teddy đi tìm Dominic và thấy anh ta đang ở vườn sau với Bertie và Tinker. Hoa hồng đang nở rộ - Teddy trồng vài cây rất đẹp bên một bức tường ngập nắng - và Dominic đã hái một bông, đó là loài hoa Belle de Crécy màu đỏ anh đào đẹp tuyệt vời. Một “chiếc giường đỏ thẫm chan chứa niềm khoái lạc[157]”, Teddy đã nghĩ đến câu thơ ấy khi ông trồng nó, và hy vọng không có con sâu vô hình nào gặm mòn trái tim hắc ám bí mật của nó, mặc dù ông biết đó là một phép ẩn dụ để ám chỉ Blake, chứ không phải là một lời cảnh báo về chuyện làm vườn.

Bertie liếc nhìn bông hồng bị ngắt và nói với Teddy: “Có sao không ông?” Cô bé có vẻ đang lo lắng giám sát Dominic, sự háo hức ban đầu của cô bé khi nhìn thấy anh ta đã bị bào mòn. Teddy tự hỏi liệu cô bé có còn nhớ đến những hành vi bất thường không thể tiên đoán được của bố mình hồi cô bé còn sống với anh ta không. Tinker đang ngồi cạnh Bertie, bám dính lấy cô bé với vẻ cảnh giác, như thể sẵn sàng hành động vào bất cứ lúc nào.

“Đương nhiên là không sao.” Teddy nói. “Cậu ấy được phép làm thế. Đó là một bông hoa xinh đẹp, phải không?” Ông nói với Dominic. Anh ta có vẻ say đắm với bông hồng đang cầm cách mặt mình không quá hai phân rưỡi.

“Vâng.” Dominic nói. “Một bông hoa lạ thường.”

“Nó có tên là Belle de Crécy.” Teddy giới thiệu.

“Ý con là, hãy nhìn nó xem, bố à, thực sự nhìn nó ấy. Tưởng tượng xem sẽ thế nào nếu ta có thể chui vào bên trong nó.”

“Chui vào bên trong nó?”

“Vâng, bởi vì dường như… có một vũ trụ bên trong nó. Có thể có cả những thiên hà đang ẩn náu ở đó. Giống như khi ta du hành trong không gian…”

“Cậu du hành trong không gian ư?” Teddy hỏi.

“Vâng, chắc chắn rồi, chúng ta đều đang du hành trong không gian. Và bố chui xuống một cái lỗ sâu[158], bố biết chứ?”

“Không rõ lắm.”

“Ý nghĩa của hoa hồng.” Dominic nói. “Đó có thể là manh mối. Oa.”

“Sao cậu không vào lại trong nhà nhỉ, Dominic?” Teddy nói. Trước khi cậu biến mất vào trong bông hồng đó và chúng ta mất cậu mãi mãi, ông nghĩ. Cứ như đang nghe mấy lời lảm nhảm vô nghĩa của một thằng ngốc vậy. Thế mà ông vẫn để Sunny đi với họ! “Vào ăn thêm ít bánh đi, Dominic.” Ông nói với giọng điệu như thể đang dỗ dành một đứa trẻ điên dại.

Đúng lúc đó, cánh cửa dẫn ra sân mở ra (đó là cánh cửa trượt, có hai lớp kính mà Teddy vừa mới lắp và rất hài lòng), rồi ba con chó vừa kêu ăng ẳng vừa chạy xồng xộc vào vườn. Tinker đang chìm trong cảm giác an toàn bởi những lời nói chẳng ra đâu vào đâu của Dominic thì bỗng giật thót khi thấy mình đột nhiên bị ba “vị khách” hằm hè bao vây.

“Snuffy! Pippy! Loppy!” Antonia hét lên từ hàng hiên. Teddy và Tinker nhìn nhau. Rồi Teddy nói “Không sao đâu, cậu nhóc” bằng giọng nói trấn an hết mức. Ông sẽ không đời nào giao con chó của mình cho nhà Villiers, vậy mà ông lại để cháu trai mình đến nhà họ.

“Cháu không muốn đi.” Sunny nói khi họ đang đứng bên chiếc ô tô, Dominic cho cái va li nhỏ của cậu vào cốp xe. Cậu bám chặt bàn tay Teddy và Teddy phải cạy tay cậu ra nhẹ nhàng hết mức có thể. “Ông có thứ này cho cháu.” Ông nói, thò tay vào trong túi và lấy ra con thỏ rừng nhỏ bằng bạc, vật mà theo lời Ursula từng được treo trên cái xe nôi của ông. Ông nhét nó vào trong túi của Sunny và nói: “Nó đã bảo vệ ông an toàn suốt thời chiến tranh. Bây giờ nó sẽ bảo vệ cháu an toàn, Sunny. Và cháu chỉ đi có vài tuần thôi mà. Khi nào tới đó, cháu sẽ thích lắm. Tin ông đi!” Tin ông đi! Teddy đã phản bội mọi niềm tin khi để cậu đi với những người đó. Trái tim ông nặng trĩu khi dõi theo chiếc xe lăn bánh. Bertie bật khóc và Tinker liếm tay cô bé để an ủi. Có chuyện gì đó không ổn, nhưng chú chó không biết chuyện đó là gì. Bây giờ họ đang đi sửa sai đây. Họ đang đi giải cứu Sunny.

Họ xuống xe. Teddy vươn vai, nói với Bertie: “Ông già quá rồi, chẳng còn đủ sức để lái xe đường dài nữa. Tấm thân già này không thể ngồi lâu một chỗ vì xương khớp cứ co cứng cả lại.” Thay vì chuông cửa, ở đây có một cái dây kéo chuông cứng ngắc, Teddy phải giật thật mạnh nó mới có tác dụng. Họ nghe thấy tiếng chuông vang lên văng vẳng ở đâu đó bên kia cánh cửa trông như cái pháo đài. Không có tiếng bước chân người ra mở cửa. Đúng là một ngôi nhà tang tóc, Teddy nghĩ.

Dominic mất được ba tuần, Antonia mới thông báo cho Teddy. Trong thời gian đó, những cuộc điện thoại hằng tuần mà ông gọi đến cho Sunny đều không có người nhấc máy, và khi ông đang phân vân có nên lái xe xuống đó không thì cuối cùng bà ta cũng gọi điện nói rằng đã có “một bi kịch” xảy ra. Thoạt đầu, Teddy thoáng sợ hãi vì nghĩ rằng bà ta ám chỉ đến Sunny, vì vậy khi bà ta nói Dominic đã chết, ông suýt thì bật cười nhẹ nhõm, đương nhiên, đó rõ ràng không phải là một phản ứng đúng đắn, do đó ông cố gắng nói: “Dominic ư?” Ông đoán anh ta chết là vì ma túy, nhưng Antonia nói đó là “một tai nạn khủng khiếp” và sẽ “không thể” kể chi tiết. “Tôi thực sự không thể nói về chuyện đó.” Tại sao bà ta không nói với ông sớm hơn? “Tôi đã mất đứa con duy nhất.” Bà ta lạnh lùng nói. “Tôi còn phải làm nhiều chuyện khác quan trọng hơn là gọi điện cho người này người kia.”

“Người này người kia ư?” Teddy lắp bắp. “Bertie là con gái của Dominic mà.” Và Sunny nữa, ông nghĩ, Sunny tội nghiệp đương đầu với chuyện này ra sao?

Ông đã băn khoăn mãi không biết phải báo tin này với Bertie như thế nào. Cuối cùng thì cái chết của bố cô bé chẳng làm cô bé bận tâm bằng vấn đề hiện giờ anh ta đang ở đâu. Chẳng ở đâu cả, Teddy nghĩ. Hoặc có lẽ anh ta đang ở trong trái tim bí ẩn của bông hồng. Ông quyết định rằng câu trả lời phù hợp với trẻ con nhất cho câu hỏi hóc búa này là anh ta đã tái sinh. Ông gợi ý có thể bố cô bé đã biến thành một cái cây. Hoặc một con chim. Cô bé thì lại đoán bố mình đã biến thành một con mèo. Teddy cho rằng Dominic có điểm gì đó giống mèo, nhất là thói dễ ngủ của anh ta. “Bố cháu sẽ trở thành một con mèo con ạ?” Bertie hỏi. “Hay là một con mèo lớn?”

“Ông nghĩ là một con mèo con.” Teddy nói. Điều đó có vẻ hợp lý.

“Nếu ông cháu mình tìm thấy bố cháu…” Bertie cau mày nói. “… Ông cháu mình có nên nuôi bố cháu như một con thú cảnh không?”

“Có lẽ là không.” Teddy nói. “Tinker có thể không thích đâu.”

Còn Sunny tội nghiệp, suốt thời gian vừa qua cậu sống ra sao?

Cậu đã bắt đầu đến trường “trước cả khi thi thể bố cậu lạnh ngắt và được chôn dưới đất”, theo cách nói của bà Kerrich. Ngay cả trái tim sắt đá của bà ta cũng mềm đi - một chút - khi thấy Sunny phải tiếp tục cuộc sống như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Cậu mới ở trường được ba ngày thì bà cậu đã bị gọi đến để mang cậu về. “Thằng bé thực sự hung tợn.” Giáo viên quản lý ký túc xá thông báo với bà. “Nó cắn, nó đạp, nó la, nó hét với bất cứ ai trong tầm mắt. Nó đã cắn một miếng vào tay cô chủ nhiệm. Cứ như nó được một đàn sói nuôi dưỡng vậy.”

“Không phải đâu, mẹ nó đã nuôi nó đấy - nhưng tôi ngờ rằng mẹ nó cũng chẳng khác đàn sói là bao. Tôi e rằng thằng bé chưa bao giờ được rèn vào kỷ luật.” Bà quay sang Sunny - phải, cuộc trò chuyện này đang diễn ra ngay trước mặt cậu, Ngài Lễ độ đang nhăn nhó bên cạnh cậu - và nói: “Cháu có điều gì muốn nói không?” Cậu có thể nói gì đây? Cậu đã bị bắt nạt ra trò ngay từ giây phút bước chân qua cánh cửa trường học. Chúng đã chế nhạo cái chết của bố cậu, chế nhạo giọng nói của cậu (không đủ sang), chế nhạo sự dốt nát của cậu về cái “ba R[159]” gì gì đó, chế nhạo bất cứ thứ gì mà chúng có thể chế nhạo. Chúng quấy rầy cậu ở khắp nơi, liên tục cấu véo, xô đẩy cậu. Chúng tụt cái quần soóc flannel màu xám của cậu xuống tận mắt cá chân - hai lần - trong nhà vệ sinh. Có lần, một thằng nhóc đã múa may một cái thước kẻ và nói “Chọc khe nó nào”, và trò này được ngăn chặn kịp thời chỉ vì cô chủ nhiệm thò đầu qua cửa và nói: “Nào, các cậu, chơi đùa thế đủ rồi.” (“Đó chỉ là những trò nghịch ngợm thông thường của một trường nam sinh thôi mà.” Thầy hiệu trưởng nói.)

Và suốt thời gian đó, tâm trí cậu cứ bị chìm đắm vào chuyện xảy ra ở cổng xe lửa (giờ cậu đã biết tên của cánh cổng ấy). Cậu đã cố gắng giật được tay mình ra khỏi tay của bố cậu vào phút chót, sau đó bóng con tàu ầm ầm, vun vút lao tới. Cậu đã kịp nhảy ra khỏi đường đi của nó và không nhìn thấy chuyện gì xảy ra với Dominic, nhưng cũng không khó để đoán được. Từ chỗ cậu đang nằm, cậu có thể nhìn dọc theo đường ray, thấy con tàu dừng lại ở phía xa xa. Cậu không nghĩ cậu bị thương, chỉ hơi xước xát và trầy da chút thôi, nhưng cậu quyết định cứ ở yên đó và vờ như đang ngủ. Hậu quả của chuyện vừa xảy ra quá khủng khiếp, cậu không thể đương đầu nổi.

Một viên cảnh sát đã bế cậu lên và chở cậu tới bệnh viện. Ngay cả bây giờ, nếu nhắm mắt lại, cậu vẫn có thể cảm nhận được chất vải dày dặn của bộ đồng phục cảnh sát lúc cậu dựa đầu vào ngực ông ta. “Cháu ổn cả rồi, con trai[160] ạ.” Viên cảnh sát nói và Sunny tự hỏi làm thế nào mà ông ta biết tên cậu. Cậu yêu viên cảnh sát đó.

“Tôi biết chuyện xảy ra với bố thằng bé thật khủng khiếp.” Giáo viên quản lý ký túc xá tiếp tục nói (Chuyện đó cũng xảy ra với cả cháu nữa mà, Sunny nghĩ). “Và tôi tin rằng anh ấy đã chết như một vị anh hùng…” (Bà cậu khẽ gật đầu, coi đó như một lời khen) “… Nhưng bà cũng biết là một thằng bé như thế này…” Câu nói lửng lơ ấy khiến Sunny băn khoăn cậu là một thằng bé như thế nào. Hẳn nhiên là hư đốn rồi, đó là điều chẳng cần phải nói ra. Hình như cậu đã giết bố cậu. Bằng cách nào? Cậu đã làm thế bằng cách nào? Bằng cách nào?

“Bởi vì, cậu biết đấy, cậu đã ở cùng với bố cậu lúc bố cậu mất.” Bà Kerrich nói. “Và nếu cậu không ở đó thì bố cậu cũng sẽ không ở đó, đúng không? Trên cái cổng xe lửa ấy. Và đương nhiên là bố cậu đã hy sinh tính mạng để cứu cậu, không phải sao? Cứu cậu thoát khỏi đoàn tàu quái quỷ đó.”

Thật ư? Sunny nghĩ. Điều này không khớp với những mảnh ký ức đau khổ của cậu về sự kiện đó, nhưng cậu thì biết gì chứ? (“Chẳng biết gì cả.” Bà cậu nói.) Hình như kết quả điều tra đã kết luận như vậy về vụ tai nạn ấy. Bố cậu đã đẩy cậu ra khỏi đường ray. Người lái tàu bị thương (ông ta phải nghỉ dưỡng thương lâu dài vì “tai nạn” ấy) khai rằng: “Chuyện xảy ra quá nhanh. Một người đàn ông - anh Villiers - có vẻ đang giằng co với một cậu bé trên cổng xe lửa. Người đàn ông - anh Villiers - có vẻ đang cố kéo cả hai bọn họ ra khỏi đường tàu. Anh ta xoay xở đẩy được cậu bé ra chỗ an toàn nhưng bản thân anh ta lại không có đủ thời gian để tự cứu mình.” Nhân viên điều tra những vụ chết bất thường nói rằng anh Villiers sẽ được tuyên dương vì tấm lòng cao cả đầy quả cảm của mình.

“NGƯỜI CHA ANH HÙNG CHẾT VÌ CỨU CON TRAI” là tiêu đề của một bài báo trên tờ báo địa phương. Ở chỗ làm, Teddy đã sai một cấp dưới tra cứu trên tấm vi phim và tìm được bài báo về vụ tai nạn cùng với một bản báo cáo điều tra. Cái cổng xe lửa vận hành tự động, đoàn tàu 330 xuôi xuống Norwich, vân vân. Dominic Villiers, họa sĩ người bản xứ. Ông Thomas Darnley, thợ làm vườn trong vùng kiêm người giúp việc ở trang viên Jordan, nhà của Dominic Villiers, nói rằng cậu con trai nhà này có những hành vi bất ổn và “rất mê những đoàn tàu”.

“Chúa ơi!” Teddy thốt lên.

Chẳng ai đưa ra cái nhận định đúng đắn là Dominic đã tự sát trong lúc mất trí vì sử dụng LSD kết hợp với các chất kích thích khác, và anh ta đã cố kéo con trai chết cùng, mặc dù Teddy thấy điều đó còn có lý hơn hẳn chuyện cha của Sunny không thể tránh kịp một đoàn tàu đang vun vút lao đến.

Sunny tội nghiệp chẳng bao giờ biết được sự thật, cậu phải sống với gánh nặng tội lỗi suốt cả cuộc đời, hay ít nhất là cho đến khi cậu trở thành một Phật tử và vứt bỏ hết quá khứ.

(“Lúc đó anh mới bảy tuổi thôi mà!” Bertie nói. “Sao họ có thể đổ hết mọi tội lỗi lên đầu anh chứ?”)

“Chúng tôi sẽ giữ nó ở nhà.” Bà cậu nói với giáo viên quản lý ký túc xá.

Giáo viên quản lý ký túc xá cười nói: “Tôi hy vọng là bà sẽ xích thằng bé lại.”

Bây giờ cậu không chỉ tè dầm hằng đêm mà còn thường xuyên tè dầm vào ban ngày. Dường như cậu không thể kiểm soát được cả cơ thể lẫn trí óc. Điều này thật đáng sợ. Họ đã “thuê một gia sư” - một ông Alistair Treadwell - phương pháp dạy học của ông ta chỉ đơn giản là lặp lại mọi thứ mỗi lúc một to tiếng hơn cho đến khi ông ta mất kiên nhẫn. Ông Treadwell thường dành nhiều thời gian để kể với Sunny về “sự bất công” và chuyện ông ta bị một thằng nhóc hằn học với ông ta “vu cáo”. Ông ta nói ông ta thậm chí chưa bao giờ ở một mình với thằng bé đó. Nhưng một khi thanh danh của ta bị nghi ngờ thì chẳng thể làm thế nào để thay đổi được.

Họ dạy và học ở cái bàn ăn dẫu không to hơn thì cũng to bằng cả cái phòng ăn của Teddy. Ông Treadwell ăn trưa với món sandwich kẹp trứng, rồi đến chiều phả hơi thở đầy mùi trứng ấy vào khắp người Sunny. Sunny thường ngủ gà ngủ gật và khi tỉnh dậy, cậu đã thấy ông Treadwell đang đọc một cuốn sách dày (“của Tolstoy”). Ông Treadwell nói với bà của Sunny rằng cậu là đứa trẻ “thực sự không thể dạy dỗ nổi”. “Trò không học gì ở trường cũ của mình sao?” Ông ta luôn hỏi cậu như vậy. “Kể cả những thứ căn bản? Ba R?” Đương nhiên là không. Trường Steiner không dạy những thứ cơ bản ấy cho đến khi học sinh của mình hơn sáu tuổi, Sunny đến trường chỉ để vẽ bằng bút chì sáp và hát những bài hát về các chú lùn, thiên thần và thợ rèn, còn bộ ba R bí ẩn kia vẫn chỉ là một mối đe dọa ở xa tít chân trời.

Và rồi một ngày kia, trong lúc họ đang dạy và học thứ mà ông Treadwell gọi là “số học đơn giản” (nhưng Sunny lại thấy chẳng đơn giản chút nào), Sunny nhận ra cậu cần đi vệ sinh, nhưng ông Treadwell nói “Trò hãy giải phép toán này trước đã”, vì thế đến lúc cậu giải xong - hay đúng ra là đến lúc ông Treadwell bỏ cuộc, không còn đủ kiên nhẫn để ép cậu tự đưa ra câu trả lời đúng - Sunny cảm thấy rõ ràng rằng cậu sắp không nhịn nổi nữa. Nhà xí gần nhất là “phòng vệ sinh ở dưới nhà” vẫn còn cách xa hàng dặm, cậu luống cuống chạy và suýt thì ngã ngửa khi đâm sầm vào bà mình ở một góc rẽ.

“Cháu cần phải đi…” Cậu nói.

“Cháu quên nói gì nhỉ?” Bà ta nói. Cậu bắt đầu hoảng lên bởi vì không thể nghĩ ra mình đã quên gì, và cậu thực sự mót lắm rồi. Cậu đã quên nói gì nhỉ? “Làm ơn - cảm ơn - cháu xin lỗi, bà nội.” Cậu nói, cuống quýt thốt ra tất cả những gì cậu có thể nghĩ đến để trả lời cho câu hỏi đó.

“Xin thứ lỗi ạ.” Bà nói.

“OK.” Cậu nói.

“Không phải, xin thứ lỗi ạ.”

“Vâng, OK.”

“Cháu quên không nói “Xin thứ lỗi ạ”.”

Nhưng đã quá muộn, cậu thực sự không nhịn nổi nữa rồi. Cậu phải gấp rút quyết định xem giữa hai tội thì tội nào nhẹ hơn - vẫn mặc nguyên quần hay cởi quần ra. Ngài Lễ Độ sẽ làm gì nhỉ? Tốt hơn là không nên làm bẩn quần, thế là cậu bắt chước lũ chó và ngồi xổm xuống thảm.

Bà cậu gào lên như thể đang đối đầu với một kẻ giết người. “Mày làm cái gì đấy?”

“Ị ạ.” Cậu nói, trong lúc cuống quýt, cậu đã thốt ra một từ mà mẹ cậu thường nói (“Nói toạc móng heo”).

“Cái gì cơ?” Bà cậu có vẻ không thở nổi và phải vịn tay vào một vật trang trí (thực ra là một chậu hoa), khiến nó đổ nhào xuống đất vỡ tan. Tiếng động ấy khiến cả bà Kerrich và Thomas chạy ngay tới.

“Thằng nhóc bẩn thỉu gớm ghiếc này.” Bà Kerrich nói.

Nhưng lũ chó cũng làm thế mà! “Bà thường nói đây là những viên xúc xích nhỏ.” Cậu khẩn khoản nói với bà mình. Lúc này, ông Treadwell cũng đã tới nơi. Thật là vô cùng xấu hổ khi tất cả những người này đều tụ tập cả ở đây trong tình huống này.

“Mày là thằng bé đáng ghê tởm nhất trên đời.” Bà nội cậu quát và cậu hét lên đáp trả: “Còn bà là đồ khốn kiếp!”

Bốp! Ai đó (Sau này cậu mới biết là Thomas) đấm cho cậu một cú khiến cậu trượt dài trên sàn và văng vào bức tường gần nhất.

Cậu bị tống cổ về phòng mình. “Cậu không được ăn tối, cậu trẻ Fauntleroy[161] ạ.” Bà Kerrich nói. “Mà có khi cậu sẽ chẳng được cho ăn lần nào nữa ấy.” Chỗ bị va vào tường trên đầu cậu đau khủng khiếp. Cậu ước gì cậu cũng bị đoàn tàu kia chẹt chết.

Cuối cùng thì cậu vẫn được cho ăn. Sáng hôm sau, bà Kerrich mang cho cậu một bát cháo và khuyên cậu hôm nay hãy ở yên trong phòng, “ẩn mình thật kĩ”. Cậu đã làm đúng như vậy. Cậu đã ẩn mình rất kĩ ở trong phòng khi Teddy và Bertie tới trang viên Jordan.

Cuối cùng, sau nhiều lần kéo chuông, cánh cửa chính của trang viên Jordan cũng kẽo kẹt mở ra.

Bà Kerrich dẫn họ đi xuôi theo một hành lang dài. Từ tình trạng của hành lang này và thi thoảng liếc nhìn qua khung cửa mở của các căn phòng dọc theo nó, họ thấy rằng sự tiêu điều hoang phế của ngôi nhà càng trở nên rõ rệt hơn. “Hơi giống ngôi nhà của bà Havisham[162].” Teddy thì thầm với Bertie. Họ được dẫn vào một phòng khách rộng thênh thang hiện chỉ có mình thân hình quắt queo của Antonia chiếm ngự. Ông đại tá đã được đưa tới cái nhà kính bị thủng, vì sau khi Dominic chết, chẳng ai còn kiên nhẫn với ông ta được nữa.

“Tôi xin lỗi vì đã đường đột tới đây, bà Antonia.” Teddy nói.

Tối hôm đó, cả ba bọn họ đều đã quá mệt mỏi nên không thể lái xe về nhà, vì vậy, Teddy đã dừng lại nghỉ qua đêm ở một ngôi nhà trại có mở dịch vụ lưu trú rồi khởi hành ngay sáng sớm hôm sau. “Nào tới chợ, nào tới chợ để mua một con lợn béo[163].” Bertie nói khi Teddy khởi động xe. Hành trình về nhà dường như còn lâu hơn. Cả Bertie lẫn Sunny đều ngủ say sưa, cuộn tròn như những con mèo con ở băng ghế sau chiếc ô tô của Teddy trong suốt chặng đường còn lại.

Teddy những tưởng sẽ phải tranh cãi một chút với Antonia, nhưng bà ta đã trả lại Sunny cho ông ngay mà không giành giật gì. “Mang nó đi đi.” Bà ta nói. “Hoan nghênh ông.” Trên đầu Sunny có một cục u to tướng và mặc dù Teddy nói với bà ta rằng “Tôi phải gọi cảnh sát mới được”, nhưng thực ra ông rất mừng vì có thể đưa Sunny đi khỏi nơi đó.

Teddy giơ tay ra để chạm vào Sunny nhưng cậu rụt người lại. Teddy thử lại lần nữa, chậm rãi hơn, giống như đang đối mặt với một chú chó căng thẳng, lòng bàn tay úp xuống, đặt lên cái đầu trụi lủi của Sunny và cảm thấy lòng đau như cắt.

Ông đại tá chết vào mùa hè năm sau, còn Antonia vẫn tiếp tục sống lay lắt thêm nhiều năm nữa. Cơ quan dịch vụ xã hội đã phải can thiệp, Thomas và bà Kerrich bị truy tố vì tội ăn cắp đồ của bà ta. (“Chỉ là mấy món lặt vặt thôi mà.” Bà Kerrich bào chữa.) Họ cũng đã cố ép bà ta sửa đổi di chúc theo chiều hướng có lợi cho họ nhưng không thành (Lúc đó bà ta cũng lẩm cẩm rồi, như thể đó là bệnh truyền nhiễm). Theo di chúc, tài sản của bà ta vẫn để lại cho Dominic khi bà ta chết, vì vậy Bertie và Sunny được thừa hưởng tất cả. Thủ tục chứng thực di chúc kéo dài nhiều năm - giống như trong truyện Bleak House vậy, Teddy nghĩ. Lúc trang viên Jordan bị bán đi, sau khi nộp thuế di sản xong, hai anh em mỗi người còn lại vài nghìn bảng. Bertie mua một chiếc xe hơi mới, còn Sunny quyên góp số tiền của mình cho một trại trẻ mồ côi ở Ấn Độ.

Như thể theo bản năng, cả hai đứa trẻ đều thức giấc khi họ rẽ vào con đường nhà Teddy. “Về nhà rồi, về nhà rồi, hu ra[164].” Bertie ngái ngủ nói khi Teddy đỗ xe ở đường dẫn vào nhà.

Ông đã gửi Tinker cho một người hàng xóm trông giúp, và khi bà ta mở cửa trước rồi nói “Chào Ted, chuyến đi vui vẻ chứ?”, Tinker lịch sự chầm chậm lách qua chân bà ta để đón chào họ. Trái tim Sunny căng tràn cảm xúc khiến cậu không thể nói gì cả. Khi Teddy nói “Chúng ta vào trong nhà nhé? Ông biết rằng ông cần một tách trà, và ông chắc chắn cháu đang muốn một ít sữa và bánh ngọt, đúng không nào, Sunny? Ông đã làm loại bánh cháu yêu thích đấy - bánh sô cô la”, Sunny nghĩ trái tim cậu sẽ vỡ òa vì sung sướng. “Vâng ạ, ngoại Ted.” Sunny nói. “Cháu cảm ơn ngoại, cảm ơn ngoại rất nhiều, cảm ơn ngoại.” Và Teddy nói: “Không cần phải cảm ơn ông đâu, Sunny.”

Chu thich

[144] Trường học áp dụng phương thức giáo dục dựa vào lý thuyết nuôi dạy trẻ của triết gia người Áo Rudolf Steiner.

[145] Từ mê cung trong tiếng Anh là “a maze”, nghe na ná từ “amazed”, có nghĩa là “sửng sốt”, nên Sunny đã hiểu nhầm ý ông ngoại.

[146] Trại hòa bình Greenham Common được dựng lên để phản đối chiến tranh hạt nhân ở trạm không quân cũ Greenham Common của RAF, thuộc Berkshire, Anh.

[147] “Vây bủa căn cứ” là một hành động phản đối vũ khí hạt nhân ở trại hòa bình Greenham Common, trong đó một nhóm phụ nữ nắm tay nhau vây quanh căn cứ nơi chứa vũ khí hạt nhân.

[148] Từ embrace vừa có nghĩa là “bao vây”, vừa có nghĩa là “ôm ấp”.

[149] Loại bánh ga tô có hai lớp kẹp một lớp nhân ở giữa.

[150] Hai nhân vật trong câu chuyện cổ tích cùng tên trong kho tàng truyện cổ Đức do anh em nhà Grimm sưu tầm.

[151] Từ “nanny” có nghĩa là vú em, nhưng từ “nanny goat” lại có nghĩa là con dê cái, do đó Sunny đã hiểu lầm.

[152] Trong tiếng Anh, cóc là toad, đồng âm với từ Todd.

[153] Trong tiếng Anh, “con trai” là “son”, phát âm nghe giống với “sun” (mặt trời).

[154] Điểm mà các đường song song trong một mặt phẳng có vẻ gặp nhau theo luật phối cảnh.

[155] Đội Nữ Ấu sinh Hướng đạo gồm các bé gái từ 7 đến 10 tuổi.

[156] Tiếng La tinh, nghĩa là “tất cả là lỗi của tôi”.

[157] Một ý thơ trong bài thơ The Sick Rose (Tạm dịch: Bông hồng bị bệnh) của William Blake.

[158] Một đường đi lý thuyết xuyên qua không-thời gian, có thể tạo thành một lối tắt cho các quãng đường dài xuyên qua vũ trụ.

[159] Bao gồm Reading, Writing và Arithmetic: ba kỹ năng đọc, viết và làm toán, được xem là ba kỹ năng cơ bản của giáo dục cấp cơ sở.

[160] Nguyên văn: “sonny”, cách xưng hô thân mật mà người lớn tuổi gọi người nhỏ tuổi hơn. Từ này đồng âm với tên của Sunny nên cậu bé mới lầm tưởng viên cảnh sát đang gọi tên cậu.

[161] Nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết cùng tên của nữ nhà văn người Mỹ gốc Anh Frances Hodgson Burnett.

[162] Một nhân vật trong cuốn tiểu thuyết Những kỳ vọng lớn lao (Great Expectations) của Charles Dickens.

[163] Lời một bài hát thiếu nhi của Anh.

[164] Lời một bài hát thiếu nhi của Anh.

[165] Tên gọi thông tục trong tiếng Anh của hoa tầm xuân, một loài hồng dại.

[166] Trong tiếng Anh, Lucky có nghĩa là may mắn.

[167] Geoffrey Leonard Cheshire (1917 - 1992): một viên phi công của Không lực Hoàng gia Anh, từng được tặng thưởng huân chương cao quý trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.

[168] Viết tắt của Fog Investigation and Dispersal Operation, nghĩa là hệ thống làm tan sương mù.

[169] Tiếng Pháp, nghĩa là những vật nhỏ bé nhưng có giá trị lịch sử.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của kate atkinson