Những Chú Chim Chưa Bao Giờ Được Hót

Lượt đọc: 905 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
1943 cuộc chiến của teddy

Một vưu vật

Anh ngửi thấy mùi hương của những bông hồng dại cuối cùng trong làn gió nhẹ ấm áp, cuốn theo bụi đất mù mịt. Trên các bụi cây quấn quýt ở hàng giậu đã điểm khá nhiều quả mọng đỏ chót, nhưng vẫn còn vài bông hoa nở muộn nấn ná trong những ngày nắng nóng oi bức nhất năm mà người ta gọi là “ngày chó má” này. Con chó thoáng dừng chân, hếch mũi lên trời như thể nó cũng đang thưởng thức chút hương vị ngọt ngào còn sót lại ấy.

“Rosa canina. Hoa hồng chó[165].” Teddy nói với con chó, như thể nó sẽ thích thú cái tên ấy. “Ngày chó má.” Anh nói thêm. Con chó sẽ chẳng đời nào gọi được tên mọi vật, vì vậy Teddy đã tự lãnh trách nhiệm gọi tên mọi thứ trên đời này thay cho nó.

Họ giống như hai chú chó già đang đi dạo cùng nhau, mắt họ đều trũng sâu, dấu hiệu của tuổi tác và những khó khăn vất vả họ đã trải qua. Thực ra, Teddy không biết con chó bao nhiêu tuổi, nhưng anh biết nó đã trải qua một khoảng thời gian tồi tệ trong Cuộc Oanh kích Blitz, còn Teddy, ở tuổi hai mươi chín, là một người già (anh đã nghe thấy mình bị gọi là “ông già” một cách trìu mến) khi so với các đồng đội còn lại trong tổ bay. Con chó này có tên là Lucky[166], và đúng là nó mang lại may mắn thật. Chị gái anh đã đặt tên cho nó (“Một cái tên khuôn sáo khủng khiếp, chị xin lỗi nhé!”) sau khi cứu nó từ những đường phố của thành London bị oanh tạc. “Chị nghĩ phi đoàn của em có thể thích một con vật mang lại phước lành.” Cô nói.

Lần gần đây nhất anh dẫn một con chó đi dạo trên con đường mòn này là hồi trước chiến tranh - đó là Harry, con chó của nhà Shawcross. Harry chết khi Teddy đang tập huấn ở Canada và Nancy đã viết: “Em xin lỗi vì lâu rồi không liên lạc với anh. Suốt một thời gian em không thể đặt bút lên giấy, chỉ riêng việc viết mấy từ “Harry đã chết” cũng khiến em buồn đến não nề.” Lá thư của cô tới cùng ngày với bức điện báo cho anh biết về cái chết của Hugh, và mặc dù tin tức ấy không thể khiến anh đau lòng bằng cái tin mất đi người cha thân yêu, nhưng trong tim anh vẫn nhói lên một nỗi bi thương khôn tả.

Lucky chạy ở đằng trước và bắt đầu sủa ỏm tỏi, thứ gì đó ở hàng rào đang làm nó sợ chết khiếp - chắc là một con chuột đồng hoặc một con chuột chù. Hoặc chẳng có gì sất - nó là một con chó thành thị và vùng đồng quê cùng những cư dân ở đây là một bí ẩn đối với nó. Nó có thể hoảng hốt bởi một con chim bay thấp nhưng vẫn tỉnh bơ trước âm thanh của bốn chiếc động cơ Rolls-Royce Merlin gầm rú phía trên đầu. Đáng lẽ ngay từ đầu họ nên lắp động cơ Bristol Hercules cho những chiếc máy bay Halifax, đó là loại động cơ phù hợp với chúng, còn động cơ Merlin chẳng bao giờ phát huy được hết ưu điểm của mình. Chí ít những chiếc Halifax cũng được chỉnh sửa phần cánh đuôi đứng, một phần là nhờ anh bạn Cheshire[167], anh ta đã nài ép những người có thẩm quyền sửa đổi phần cánh đuôi đứng cũ hình tam giác, bởi vì nó có thể khiến họ bị tròng trành dữ dội nếu phải lộn vòng theo đường xoắn ốc, nhưng tiếc là chúng vẫn phải sử dụng động cơ Merlin. Teddy cho rằng ai đó - một người như Maurice trong Bộ Không quân - đã quyết định lắp động cơ Merlin cho chúng. Vì tiết kiệm hoặc ngu dốt hoặc cả hai, vì hai điều đó thường đi đối với nhau. Những động cơ Hercules…

“Ôi, làm ơn, anh yêu.” Nancy nói. “Đừng nghĩ về chiến tranh nữa. Em quá mệt mỏi với nó rồi. Hãy nói về chuyện gì đó thú vị hơn chuyện ném bom đi.”

Lời nói này khiến Teddy im lặng. Anh cố nghĩ ra thứ gì đó thú vị hơn nhưng không thể. Thực ra, động cơ của chiếc Halifax chỉ là mào đầu của một chuyện mà anh biết Nancy sẽ muốn nghe, nhưng bây giờ nỗi tự ái khiến anh cáu kỉnh, quyết định không kể với cô nữa. Và đương nhiên anh muốn nói về chiến tranh và “chuyện ném bom” - đó là cuộc sống của anh và gần như chắc chắn sẽ là cái chết của anh, nhưng anh cho rằng cô không thể hiểu được điều đó, bởi vì cô vốn bị nhốt trong tòa tháp ngà của những bí mật.

“Thế thì chúng ta có thể nói về chuyện em làm gì suốt cả ngày dài.” Anh nói, khá hằn học. Cô siết chặt tay anh hơn và nói: “Ồ, anh biết là em không thể mà. Sau này, em sẽ kể hết với anh. Em hứa đấy.” Teddy nghĩ, thật kỳ quặc khi tin rằng vẫn còn có cái gọi là “sau này”.

Đó là vài ngày trước và họ đang thả bộ dọc theo lối đi dạo ven biển. (“Biển đấy.” Anh nói với Lucky đang phấn khích.) Nếu có thể lờ đi những cái bẫy của hệ thống phòng thủ ven biển khắp nơi xung quanh họ (thú thực là khó đấy), đây dường như là hoạt động bình thường của một cặp đôi vào một ngày hè. Bằng phép màu nào đó, Nancy đã xoay xở có được kỳ nghỉ phép trùng với kỳ nghỉ phép của anh. “Một cuộc hẹn hò!” Cô nói. “Lãng mạn quá!” Sau khi báo cáo xong về cuộc không kích ở Gelsenkirchen - và nhận phần thưởng là bữa ăn gồm trứng và thịt xông khói theo thông lệ vì đã sống sót trong một phi vụ - anh liền đi thẳng tới nhà ga, trải qua một chặng đường dài gần như bất tận để tới ga King’s Cross. Nancy đã đón anh ở sân ga, điều đó có vẻ lãng mạn, ít nhất cũng giống như trong phim và tiểu thuyết (mặc dù thứ đầu tiên hiện ra trong đầu anh là cuốn Anna Karenina). Chỉ đến khi nhìn thấy khuôn mặt háo hức của cô, anh mới nhận ra mình đã quên mất trông cô như thế nào. Anh không có tấm ảnh nào của cô, đó là sai lầm mà anh nghĩ mình thực sự cần phải sửa chữa. Cô đã ôm chầm lấy anh và nói: “Anh yêu, em rất nhớ anh. Anh có một con chó à? Anh chưa bao giờ nhắc đến nó.”

“Ừ, nó là Lucky.” Anh đã nuôi con chó này được một thời gian rồi. Chắc là anh đã quên kể với cô về nó.

Cô cúi người xuống, xuýt xoa nựng nịu con chó. Teddy nghĩ có lẽ cô còn để ý đến nó hơn cả anh. Nhưng anh cũng chẳng bực tức gì.

Anh đã mong họ sẽ ở lại London, nhưng cô nói đêm nay họ nên “đi đâu đó thì sẽ thú vị hơn” (Cô có vẻ quyết tâm quên lãng chiến tranh), vì thế họ đã tới một nhà ga khác và bắt một chuyến tàu ra biển. Cô đã đặt phòng trong một khách sạn lớn (“Mấy bà chủ nhà nghỉ tọc mạch lắm!”), và đã chuẩn bị sẵn một chiếc nhẫn cưới (“Mua ở Woolworths đấy!”). Họ phát hiện ra khách sạn này đầy nhóc các sĩ quan hải quân và vợ của họ, mặc dù hiện giờ ở đó chủ yếu chỉ có các bà vợ vì các viên sĩ quan dường như đang bận rộn ở đâu đó, làm các công việc mà họ phải làm mỗi khi lên bờ. Teddy cảm thầy khá ngại ngùng trong bộ quân phục của Lực lượng Không quân Hoàng gia RAF.

Một cô vợ sĩ quan đã tiến tới chỗ anh trong lúc anh đang đợi Nancy ở quầy bar và chạm vào cánh tay anh, nói: “Tôi chỉ muốn nói với anh rằng tôi nghĩ các anh đang làm một nhiệm vụ vinh quang. Cuộc chiến này không phải là của riêng Hải quân Hoàng gia, cho dù họ nghĩ như vậy, đương nhiên rồi.” Teddy chưa bao giờ nghĩ thế - theo những gì anh biết, những chiếc máy bay ném bom là lực lượng duy nhất gieo rắc chiến tranh cho kẻ địch - nhưng anh chỉ mỉm cười, gật đầu lịch sự và nói: “Cảm ơn.” Anh cảm thấy bàn tay cô ta siết chặt hơn và ngửi thấy mùi hoa dành dành trên người cô ta. Cô ta lấy ra một hộp thuốc lá và nói “Anh muốn hút một điếu không?”, rồi ghé người châm lửa từ chiếc bật lửa của anh, đúng lúc này thì Nancy xuất hiện, trông cô thật xinh đẹp trong chiếc váy màu lam nhạt. Cô vợ sĩ quan bèn nói: “Chúa ơi, đây là vợ anh ư? Anh may mắn quá! Tôi chỉ xin ít lửa thôi.” Cô ta nói thêm với Nancy rồi duyên dáng lủi đi mất.

“Khéo lắm!” Nancy cười. “Cái cách cô ta rời đi đã cứu được cô ta.”

“Ý em là gì?”

“Ồ, anh yêu, đừng có tỏ ra ngây ngô như thế, chắc anh phải hiểu cô ta đang muốn gì chứ.”

“Cái gì cơ?”

“Đương nhiên là cô ta muốn anh rồi.”

Phải, đương nhiên là anh biết điều đó, và anh tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu anh chỉ có một mình. Anh cho rằng anh sẽ lên giường với cô ta. Anh luôn ngạc nhiên trước mức độ táo bạo của những người phụ nữ trong chiến tranh, và anh đang có tâm trạng khiến bản thân dễ dàng trở thành con mồi cho họ. Cô ta có bờ vai duyên dáng và dáng vẻ tự tin, như thể cô ta biết giá trị của mình.

“Cô ta sẽ ăn tươi nuốt sống anh.” Nancy nói. Anh nhận thấy cô cho rằng anh sẽ không thích điều đó. Hoặc anh sẽ không đủ sức để chịu đựng cô ta. “Phiền anh lấy giúp em rượu gin nhé.” Cô nói thêm.

“Trông em xinh lắm.” Teddy nói.

“Ồ, cảm ơn anh, quý ngài tốt bụng. Và anh cũng rất đẹp trai.”

Anh tự thừa nhận một cách khá miễn cưỡng rằng Nancy đã đúng, đi khỏi London quả là thú vị hơn thật. Anh dậy sớm và thấy cánh tay mình bị kẹt cứng dưới thân thể cô. Mùi hoa lan chuông từ người cô vương đầy trên ga giường, nó trong lành hơn hẳn mùi hoa dành dành ngọt ngào giả tạo.

Hẳn là lũ mòng biển đã đánh thức anh dậy. Chúng đang kêu quang quác vô cùng huyên náo nhưng anh khá thích sự ồn ào ấy. Anh nhận thấy từ lúc chiến tranh nổ ra, anh chỉ toàn sống trong đất liền (không tính những chuyến bay qua biển Bắc vào ban đêm). Ngay cả ánh sáng ở nơi đây cũng khác, dù mới chỉ có một ít len vào được qua khe hở giữa các tấm rèm thêu kim tuyến dày dặn. Căn phòng họ thuê khá tốt, nó có ô cửa sổ bằng kính kéo dài đến sát sàn dẫn ra một ban công bằng sắt rèn nhìn thẳng về phía biển. Nancy nói cô đã phải trả một món tiền lớn “đủ để chuộc cả nhà vua” cho căn phòng này, và họ chỉ có thể thuê được nó bởi vì một vị thiếu tướng hải quân không cần đến nó trong đêm nay. Cô tường tận các cấp bậc của hải quân hơn Teddy nhiều. Anh vốn coi thường các lực lượng khác giống như bất cứ sĩ quan không quân nào. Anh nghĩ chắc là cô đang làm công việc gì đó liên quan đến mật mã của hải quân.

Đã quen với nếp sinh hoạt của anh nên con chó cũng thức giấc cùng lúc với anh. Họ đã biến một cái ngăn kéo bàn trang điểm thành cái giường cho nó ngủ qua đêm bằng cách lót vào đó cái chăn thừa mà họ lấy từ trong tủ quần áo ra. “Chúa ơi!” Nancy nói. “Trông nó còn êm ái hơn cả cái giường của bọn mình nữa.” Teddy cảm thấy ngại ngùng với việc làm tình cùng Nancy khi có sự hiện diện của con chó ở trong phòng. Đến chính anh cũng thấy sự e dè ấy thật kỳ quặc. Anh tưởng tượng nó đang nhìn họ với vẻ hoang mang hoặc cảnh giác, nhưng khi anh liếc về phía chiếc ngăn kéo giữa “cuộc yêu” (“Mọi chuyện vẫn ổn chứ, anh yêu?” Nancy hỏi), con chó có vẻ đã ngủ say. Liều lĩnh đúng chỗ thì mới đáng liều lĩnh.

Anh ngờ rằng cái ngăn kéo tiện nghi ấy còn khiến người ta ngủ ngon hơn là tấm đệm của viên thiếu tướng hải quân, đó là một tấm đệm lổn nhổn bằng vải lông ngựa, cứng gần bằng “những cái bánh quy” của RAF. Khi Teddy thức dậy, anh cảm thấy cả người co cứng như thể vừa mới trải qua chín tiếng đồng hồ trên một chiếc máy bay Halifax. Nancy cũng đã đúng ở một điểm nữa - cô thường như vậy - cho dù tối qua có đi một mình thì anh cũng sẽ không đủ sức để đáp ứng những ve vãn của cô vợ viên sĩ quan hải quân. Anh đã quá mệt mỏi.

Trước khi Lucky nhảy lên giường và đánh thức Nancy, một việc mà nó được phép làm trong buồng của Teddy, anh chui ra khỏi chăn và nhẹ nhàng đặt chân xuống sàn nhà. Cửa sổ để mở cả đêm và anh lách mình qua những tấm rèm để ra ngoài ban công, vươn hai tay cao quá đầu, hít đầy hai buồng phổi luồng không khí trong lành. Vị muối mằn mặn mang lại cảm giác khoan khoái. Con chó chạy ra chỗ anh và anh tự hỏi nó nghĩ gì về quang cảnh này. “Biển đấy.” Anh nhắc nó. Hai đêm trước, chiếc máy bay mới của anh, chiếc Q-Queenie, đã phải hạ cánh khẩn cấp ở Carnaby. Canarby nằm bên bờ biển và có một đường băng cực kì rộng lớn để đón những chiếc máy bay “lạc bầy” hỏng hóc ì ạch băng qua biển Bắc để về nhà, cũng như những chiếc máy bay bị lạc trong bóng tối giống như chiếc Q-Queenie.

Carnaby được trang bị hệ thống FIDO[168], một từ viết tắt mà Teddy đã quên mất nó có nghĩa là gì, chỉ nhớ rằng nó có liên quan đến sương mù. Dọc hai bên đường băng được đặt các ống dẫn nhiên liệu chứa hàng nghìn gallon xăng, trong trường hợp có sương mù, người ta sẽ đốt chỗ xăng này để tạo thành một “bức tường lửa”, dẫn đường cho những chiếc máy bay bị lạc đường hoặc bị trúng đạn bay về.

Khi đã trở về phi trường của mình an toàn, Teddy thấy mình đang nói với con chó, Fido của anh, về Carnaby, nghĩ rằng nó sẽ húng thú với cái tên ấy. Đó là lúc anh nhận ra có lẽ mình đã trở nên mất trí. Anh bật cười trước ký ức ấy và gãi đầu con chó. Có sao đâu chứ? Cả thế giới đều đang mất trí mà.

Ban công tràn ngập hương vị biển, những mảng gỉ sắt lớn lộ ra qua lớp sơn trắng. Cả đất nước này đều đang trong tình trạng đổ nát. Teddy tự hỏi còn bao lâu nữa thì tình hình trở nên không thể vãn hồi, còn bao lâu nữa thì nước Anh sụp đổ thành gỉ sắt và bụi đất?

Anh không nghe thấy tiếng gõ cửa khe khẽ thông báo rằng phục vụ phòng đã mang tới khay trà buổi sáng mà họ đặt trước vào đêm qua, và ngạc nhiên khi thấy Nancy bước tới bên cạnh anh ngoài ban công, đưa cho anh một tách trà để trên đĩa lót tách. Cô đang mặc bộ pyjama bằng vải cotton bền chắc. “Không phải là loại trang phục để mặc trong kỳ trăng mật.” Cô nói.

“Đây là kỳ trăng mật sao?” Teddy hỏi, nhấp ngụm trà đã nguội trong không khí ban mai.

“Không phải, nhưng anh không nghĩ là chúng ta nên có một kỳ trăng mật ư? Đương nhiên, chúng ta phải kết hôn trước đã. Chúng ta sẽ làm vậy chứ? Kết hôn ấy?”

“Bây giờ á?” Teddy hoang mang nói. Trong một thoáng, anh nghĩ có lẽ cô đã sắp xếp một đám cưới bất ngờ, có lẽ cô đã xin được giấy phép đặc biệt để tổ chức hôn lễ ở một nhà thờ địa phương, và anh phần nào ngỡ rằng cả một đám đông những người nhà Todd và nhà Shawcross sẽ chạy ùa vào trong phòng, cất lên những lời chúc tụng. Anh nghĩ về Vic Bennett, người chẳng bao giờ có một đám cưới. Cậu ta đã dự tính đó sẽ là một bữa tiệc khiêu vũ, bất chấp tình trạng của Lilian. Anh cảm thấy tội lỗi vì đã không giữ liên lạc với người thân của Vic và chẳng biết gì về đứa con của cậu ta. Edward. Hoặc một bé gái cũng chưa biết chừng. Lilian và đứa trẻ vẫn tiếp tục sống, còn Vic thì đang bị xóa nhòa đi từng ngày cho đến khi chẳng còn ai nhớ tới cậu ta nữa. Anh ấy nói anh là người đàn ông tốt nhất mà anh ấy từng biết. Đáng lẽ Vic nên sống lâu hơn, Teddy nghĩ, thế thì cậu ta sẽ biết được nhiều người tốt hơn anh.

“Không. Không phải là bây giờ. Sau chiến tranh cơ.”

À, sau này, Teddy nghĩ. Lời nói dối trắng trợn, “Ừ.” Anh nói. “Đương nhiên là chúng ta nên kết hôn rồi. Là thế phải không? Chúng ta đang đính hôn phải không? Em muốn anh quỳ gối chứ?” Anh đặt tách trà xuống ban công và quỳ một bên gối, với con chó là nhân chứng hiếu kỳ cho hành động này, rồi anh nói: “Nancy Roberta Shawcross, anh có thể nắm tay em cùng bước vào cuộc hôn nhân không?” (Đó có phải là câu người ta thường hay nói không nhỉ?)

“Em rất sẵn lòng.” Cô nói.

“Chúng ta có cần mua nhẫn không?”

Cô giơ ngón áp út lên và nói: “Bây giờ chỉ cần cái này là đủ rồi. Một ngày kia, anh có thể mua cho em nhẫn kim cương.” Họ đã kết hôn với chiếc nhẫn mua ở cửa hàng Woolworths ấy. “Nó có giá trị về mặt tình cảm.” Cô nói khi anh đeo nó vào ngón tay cô ở Phòng Hộ tịch Chelsea sau khi chiến tranh kết thúc.

Nó chỉ là một chiếc nhẫn nhỏ xíu, và sau này, Teddy tự hỏi phải chăng họ nên tổ chức linh đình hơn. Ursula và Bea giữ vai trò vừa là khách mời, vừa là phù dâu và nhân chứng. Ursula mang cả Lucky theo, nó được thắt một cái nơ bướm bằng ruy băng màu đỏ trên cổ dề, và cô nói: “Đây là phù rể của em đấy, Teddy.”

Họ chưa bao giờ thay thế chiếc nhẫn Woolworths bằng một chiếc nhẫn đắt tiền hơn, mặc dù thi thoảng thứ hợp kim rẻ tiền ấy lại tạo ra một vòng tròn đen sì xấu xí trên ngón tay Nancy. Tuy nhiên Teddy đã mua cho cô một chiếc nhẫn kim cương, nhỏ thôi, khi Viola chào đời.

“Vậy là mình đã là vợ chồng tương lai của nhau.” Cô nói khi họ khoác tay nhau thả bộ dọc bãi biển sau bữa sáng. Họ đã khéo léo bước qua những chỗ có nhiều đá cuội và những cái bẫy chống tăng để tới bờ cát nâu thô ráp gần mép nước lộ ra khi thủy triều rút xuống. Con chó đang nghịch sóng. Chốc chốc Teddy lại ném một hòn sỏi cho nó, nhưng nó quá mải mê với những thứ mới lạ ở biển nên chẳng màng đến nhiệm vụ bình thường của một con chó là chạy đi lấy đồ đem về. “Hứa hôn.” Nancy vui vẻ nói tiếp. “Từ đó nghe cổ nhỉ! Theo anh thì nó bắt nguồn từ đâu?”

“Nó bắt nguồn từ một từ trong tiếng Anh cổ có nghĩa là “hẹn ước sẽ thành thật với nhau.” Teddy nói, hai mắt vẫn nhìn con chó.

“Đương nhiên. Nghe có lý đấy.” Cô siết chặt cánh tay anh và Teddy nghĩ về cô vợ sĩ quan tối qua. Nancy mỉm cười với anh và nói: “Anh có hạnh phúc không, anh yêu?”

“Có.” Anh không còn biết hạnh phúc nghĩa là gì nữa, nhưng nếu cô muốn anh nói rằng mình hạnh phúc, anh sẽ chiều theo ý cô. (“Sai lầm là…” Sylvie nói. “… Đánh đồng tình yêu với hạnh phúc.”) “Anh đang định kể với em chuyện này.” Anh nói, mủi lòng kể cô nghe câu chuyện về chiếc máy bay Halifax mà anh đã không kể với cô vào ngày hôm qua. “Tuần trước, anh đang chơi bài trong phòng sinh hoạt tập thể. Đêm đó bọn anh có một phi vụ, bay đến Wuppertal, và bọn anh luôn có một khoảng thời gian thư giãn vào giữa buổi chiều sau khi đã hoàn thành tất cả các thủ tục kiểm tra cần thiết và đang chờ đợi đến giờ nhận chỉ thị…” Anh cảm thấy tay cô khẽ buông lỏng. Nếu là anh, anh sẽ vui vẻ lắng nghe các chi tiết trong cuộc sống thường nhật của cô nếu cô muốn kể về chúng. “Anh kể tiếp nhé?”

“Đương nhiên rồi.”

“Chà, thế rồi anh nghe thấy tiếng động cơ máy bay - hiển nhiên là điều đó chẳng có gì bất thường, nhưng sau đó Sandy Worthington - hoa tiêu của anh - thò đầu qua cửa phòng ăn của sĩ quan và nói: “Ra đây mà xem này, anh Ted, đó là chiếc Halifax mới, chiếc Mark III.”

“Và nó tốt hơn nhiều so với những chiếc Halifax cũ, nó có một cái đuôi kiểu khác.” Nancy nhanh nhảu nói, giống như một học sinh hăng hái hài lòng về khả năng ghi nhớ những sự kiện nhàm chán của mình.

“Không, đó không phải là điều thú vị - mặc dù với anh thì nó rất thú vị bởi vì nó sẽ cứu được nhiều mạng người. Để anh kể tiếp nhé, anh đã mượn một chiếc xe đạp và đạp xe dọc theo đường băng - phòng sinh hoạt tập thể ở cách nơi đó rất xa vì phi trường của bọn anh rất rộng lớn...” Nancy nhặt một khúc gỗ dạt và ném ra biển cho con chó đuổi theo nhặt lại, ban đầu con chó cũng định chạy theo thật nhưng nghĩ thế nào nó lại thôi. “Và chiếc máy bay…” Teddy tiếp tục. “… Đang chạy dọc theo hàng rào vành đai để tới địa điểm tập kết, em thử đoán xem người lái nó là ai nào?”

“Gertie hả?”

Cuối cùng thì anh cũng có được sự chú ý của cô. “Đúng rồi, là Gertie. Đó quả là một điều bất ngờ.”

Chị gái của Nancy đang công tác ở Lực lượng Không vận Phụ trợ ATA, chuyên vận chuyển những chiếc máy bay đến và đi giữa các phi đoàn, nhà máy và đơn vị bảo dưỡng. Cô có bằng lái máy bay từ trước chiến tranh và Teddy nhớ anh từng vô cùng ghen tỵ. Mặc dù cánh đàn ông trong phi đoàn của Teddy không hay thừa nhận điều này nhưng họ rất khâm phục các cô gái ATA (“Phụ nữ.” Gertie sửa lời). Họ lái bất cứ loại máy bay nào dù mới chỉ làm quen với nó trong một thời gian ngắn - Lane, Mosquito, Spitfire, thậm chí cả American Fortress - một kỳ công của ngành hàng không mà hầu hết các phi công RAF đều sẽ gặp khó khăn khi lái.

“Tôi nghĩ đó là máy bay của cậu đấy.” Viên sĩ quan chỉ huy nói với Teddy khi họ đứng ở địa điểm tập kết cùng với Gertie, ngắm nhìn chiếc máy bay mới.

“Của tôi ư?” Teddy nói.

“Chà, cậu là một thiếu tá không quân, Ted, tôi nghĩ cậu nên có “con diều” tốt nhất.”

“Nó bay tốt lắm.” Gertie nói với anh. Và thế là chiếc Q-Queenie thuộc về anh.

Gertie được đối đãi như một sĩ quan danh dự, và được mời vào phòng ăn tập thể để uống trà (“Cả bánh nướng nữa chứ! Ngon quá!” Dù chúng chẳng ngon lành gì). Tình cờ làm sao, cô không phải bắt xe lửa về vì có một chiếc máy bay cần được đưa đến một đơn vị bảo dưỡng để nắn lại phần thân cong queo. Máy bay không được thiết kế để thực hiện những động tác thô bạo như lộn vòng theo đường xoắc ốc (Anh cũng vậy, Teddy thường nghĩ). Trong thời gian lưu lại ngắn ngủi của mình, Gertie chẳng khiến cho trái tim của người đàn ông nào rung rinh - có lẽ ngoại trừ sĩ quan chỉ huy, người đã nhận xét rằng cô là một phụ nữ “quả cảm” - bởi vì, giống như Winnie, cô là một người thẳng thắn, khá thô kệch. Teddy có thói xếp hạng các cô gái nhà Shawcross (“phụ nữ”) theo độ hấp dẫn - anh ngờ rằng ai cũng làm vậy - từ Winnie, người ít xinh đẹp nhất đến Nancy và Bea thanh tú. Trong thâm tâm, anh tin rằng Bea là người có sức hút nhất, nhưng lòng chung thủy với Nancy thường gạt đi ý nghĩ đó. “Trong mấy đứa con gái nhà Shawcross, cứ đứa sau lại nhỏ nhắn và xinh xắn hơn đứa trước.” Hugh từng nói như vậy hồi họ còn nhỏ. Millie, cô chị ở giữa, sẽ rất tức giận khi nghe thấy lời nhận xét này.

Phi đoàn đưa tiễn Gertie rất long trọng, một phần vì cô đã giao đến chiếc “Halibag” mới toanh mà ai cũng hoan nghênh, và một phần vì mối quan hệ của cô với Teddy, anh đã giải thích rằng cô “giống như chị vợ” của anh vậy, vì anh cho rằng nếu còn có tương lai thì cô sẽ trở thành chị vợ của anh thật. Một đám đông nhỏ tụ lại tại chỗ chiếc caravan điều hành bay để tiễn cô cất cánh, Teddy đứng lẫn với họ, và họ đều vẫy tay nhiệt liệt như thể cô đang chuẩn bị lên đường tham gia cuộc không kích ở Essen, thay vì đưa chiếc Halifax tới một đơn vị bảo dưỡng OMU ở York. Cô vẫy các cánh máy bay để tạm biệt và lao vút lên bầu trời xanh trong tiếng gầm rú của động cơ. Teddy cảm thấy tự hào vì cô.

“Lâu lắm rồi em không gặp chị ấy.” Nancy nói.

“Lâu lắm rồi em chẳng gặp ai cả.”

“Em không có sự lựa chọn.” Cô đáp, hơi xẵng giọng. Anh đang không công bằng với cô, dĩ nhiên chiến tranh cũng gây cho cô nhiều tổn hại. Anh khoác tay cô chặt hơn và huýt sáo gọi con chó. “Đi nào!” Anh nói. “Anh sẽ mua cho em một cái sandwich ở tiệm trà của nhà ga. Còn lâu tàu mới khởi hành.”

“Anh thực sự biết cách đối xử với một cô gái đấy.” Nancy nói, tâm trạng đã vui vẻ trở lại.

Con chó không trở lại khi Teddy huýt sáo gọi nó. Anh quét mắt khắp bờ biển và ngoài khơi, trong lòng dâng lên một nỗi hoảng hốt mơ hồ. Con chó luôn chạy về phía anh khi anh huýt sáo. Eo biển Anh trông thật êm đềm, nhưng nó là một con chó nhỏ, và có lẽ nó đã tự làm mình kiệt sức vì bơi quá nhiều, hoặc gặp phải một con sóng ngầm hung hiểm, hoặc mắc phải một tấm lưới đánh cá. Anh nghĩ đến hình ảnh Vic Bennett chìm xuống dưới những con sóng. Thôi, chúc anh may mắn. Nancy đi đi lại lại dọc bãi biển, gọi tên con chó. Anh biết các giác quan của nó đã trở nên tinh nhạy hơn. Các thành viên của tổ mặt đất đã kể với anh rằng Lucky thường đợi anh về cùng họ, và nó luôn phát hiện ra chiếc máy bay của anh trước họ rất lâu. Nếu anh về muộn hoặc phải hạ cánh khẩn cấp ở đâu đó, con chó vẫn kiên định ở yên vị trí của mình. Sau này, khi Teddy không trở về, khi anh bị quân đội Đức bắt làm tù binh, con chó vẫn ở lì đó suốt mấy ngày, nhìn chằm chằm lên bầu trời, chờ đợi.

Cuối cùng, con chó được trả về cho Ursula chăm sóc, và khi Teddy về nhà, anh không đòi lại nó dù trong lòng rất muốn. Anh lý luận rằng anh đã có Nancy bầu bạn, còn chị gái anh chẳng có ai cả và cô cũng yêu con chó nhỏ này như anh vậy.

Không lâu trước đây, con chó đã lẻn lên chiếc Q-Queenie. Họ chẳng thể hiểu nổi nó lên được trên đó bằng cách nào. Thi thoảng nó vẫn có thói quen leo lên chiếc xe tải chở họ tới chỗ máy bay đậu, nhưng lần này chẳng ai nhớ là đã nhìn thấy nó, và mãi đến khi họ tới điểm hẹn trên bầu trời Hornsea, họ mới phát hiện ra sự có mặt của nó trên máy bay khi nó len lén đi ra - vẻ khá tội lỗi - từ chỗ trốn của nó bên dưới chỗ nghỉ ngơi bên trái của phi hành đoàn.

“Ôi chà!” Bob Booth, điện đài viên của họ thông báo trên hệ thống liên lạc nội bộ. “Dường như chúng ta có một phi công phụ nhỏ bé.” Đây là một sự vi phạm nội quy, có lẽ còn nghiêm trọng hơn cả việc đưa một cô gái WAAF lên không trung, nhưng đó chẳng phải là vấn đề. Vấn đề là họ đang ở độ cao trên một nghìn năm trăm mét, và Teddy vừa mới nhắc tất cả mọi người đeo mặt nạ ôxy vào. Con chó trông có vẻ chệnh choạng, mặc dù có thể là vì nó đang ở bên trong một chiếc máy bay ném bom bốn động cơ khổng lồ đang cố gắng đạt tới độ cao cần thiết trên biển Bắc.

Teddy chợt nhớ đến cảnh Mac hát bài Cậu bé thổi kền theo điệu Boogie Woogie trên hành trình từ Turin trở về. Anh không nghĩ Lucky có thể làm điều gì kỳ dị như thế, nhưng chắc chắn hậu quả tất yếu của tình trạng thiếu ôxy đối với người và chó đều như nhau.

Có lẽ con chó đã tò mò muốn biết họ đi đâu khi họ leo vào bên trong “con hà mã” bằng kim loại này. Có lẽ lòng trung thành của nó với Teddy hoặc mong muốn thử thách lòng can đảm của chính mình đã thúc đẩy nó. Ai biết một con chó nghĩ gì trong đầu chứ?

Ngoại trừ các xạ thủ, tất cả mọi người đều chia sẻ mặt nạ ôxy của mình với con chó, đây quả là một trải nghiệm đầy lúng túng đối với họ. “Ôxy đấy.” Teddy nói với con chó khi anh chụp chiếc mặt nạ của mình lên cái mõm nhỏ xíu của nó. May mắn thay đây chỉ là một chuyến “làm vườn” các kênh vận tải ở Hà Lan, chứ không phải một cuộc không kích dài tới tận Thành phố Lớn. Sau khi họ đã hạ cánh an toàn, Teddy phải nhét con chó vào trong chiếc áo khoác phi công của mình để lén đưa nó xuống khỏi máy bay.

Sau lần đó, Teddy luôn cố nhớ mang lên máy bay một chiếc mặt nạ ôxy dự phòng, để nhỡ may lại có một kẻ “đi lậu” khác thì họ có thể cho anh ta sử dụng bình ôxy trung tâm. Mặc dù làm gì có người bình thường tỉnh táo nào lại muốn đi lậu trên một cái máy bay ném bom chứ?

Anh quay người lại và đột nhiên nhìn thấy con chó đang lon ton chạy dọc theo bãi biển, trông nó khá mệt mỏi, nhưng vì không biết nói nên nó không thể kể với anh về bất cứ chuyến phiêu lưu nào mà nó có thể đã trải qua.

Khi nó đã về tới chỗ anh, họ thong thả bước dọc theo cầu tàu cho đến khi bị một thợ ảnh chặn lại, và họ đồng ý chụp một bức ảnh. Teddy trả tiền cho người đàn ông ấy rồi cho ông ta địa chỉ phi đoàn của anh. Rồi khi anh trở về sau chuyến nghỉ phép dài sáu ngày, bức ảnh - mà anh sớm quên bẵng - đã nằm đợi anh. Đó là một bức ảnh đẹp và anh tính sao ra vài tấm - cho Nancy chẳng hạn - nhưng mãi chẳng thực hiện. Trong ảnh, anh đang mặc quân phục, đương nhiên, còn Nancy mặc bộ váy mùa hè và đội cái mũ rơm xinh xắn, tuy nhiên không thể trông thấy cái nhẫn cưới rẻ tiền. Họ đều đang mỉm cười như thể chẳng có gì phải lo lắng trên đời này. Lucky đang ở cùng họ, cũng tỏ ra vui vẻ.

Teddy mang theo tấm ảnh trong túi áo của bộ đồ chiến, bên cạnh con thỏ bạc. Nó vẫn tồn tại trong suốt cuộc chiến và quãng thời gian Teddy bị nhốt trong trại tù binh chiến tranh, rồi sau này bị chủ nhân của nó cẩu thả ném vào một cái hộp đựng các kỷ vật và chiến lợi phẩm. “Objets de vertu[169]”, Bertie nói khi xem qua cái hộp này sau khi Teddy chuyển tới Fanning Court. Cô luôn yêu mến Nancy, người bà mà cô chưa bao giờ gặp. “Còn có cả một con chó nữa này!” Cô nói, lập tức bị thu hút bởi vẻ hớn hở của con chó nhỏ. (“Đó là Lucky.” Teddy trìu mến nói. Con chó đã chết hơn bốn mươi năm, nhưng ông vẫn cảm thấy trong tim nhói lên một nỗi buồn man mác khi nghĩ đến sự vắng mặt của nó trên cõi đời này.)

Phía trên bức ảnh bị ố một vệt dài màu nâu, và khi Bertie hỏi về nguồn gốc của nó, Teddy nói: “Ông nghĩ đó là nước trà.”

Khi kỳ quân dịch đầu tiên của Teddy kết thúc, anh đã chuyển đến một Đơn vị Huấn luyện Chiến đấu OTU với tư cách sĩ quan hướng dẫn, nhưng trước khi nhiệm vụ ấy hoàn thành, anh đã ngỏ ý muốn tiếp tục thực hiện các phi vụ. “Trời ơi, sao lại thế?” Ursula viết. “Khi mà đáng lẽ em có thể có thêm vài tháng tương đối an toàn trước khi bắt đầu một kỳ quân dịch khác?” Theo Teddy, “tương đối” là một từ rất chuẩn đối với một OTU. Khi mới tới đó, anh đã nhìn ngó khắp các cánh đồng xung quanh phi trường và đếm được ít nhất là năm cái xác máy bay chưa được dọn dẹp. Ở một OTU, người ta phải bay trên những chiếc phi cơ cũ rích - chủ yếu là những chiếc máy bay bị thải loại - như thể lính mới thì không dễ gì gặp nguy hiểm vậy. Teddy không hỏi gì về số phận của những người từng có mặt trên những chiếc máy bay nằm rải rác trên các cánh đồng ấy. Anh quyết định thà không biết còn hơn.

“Chà!” Anh viết thư hồi đáp cho chị gái. “Việc đó vẫn chưa kết thúc.” Còn lâu mới kết thúc, anh nghĩ. Hàng nghìn con chim đã bị ném vào bức tường, vậy mà nó vẫn đứng sừng sững. “Và em là một phi công giỏi.” Anh nói thêm. “Vì vậy, em nghĩ em sẽ đóng góp tốt hơn cho nỗ lực tham chiến của quân ta nếu em lái máy bay thay vì huấn luyện các tân binh.”

Anh đọc lại lá thư. Nó nghe như một lời bao biện hợp tình hợp lý. Một lời bao biện mà anh có thể đưa ra cho chị gái, cho Nancy, cho toàn thế giới, mặc dù anh có chút căm phẫn với việc cảm thấy mình cần phải bào chữa cho bản thân khi họ đang ở giữa cuộc chiến. Chẳng phải anh đã được chọn là chiến binh của gia đình sao? Mặc dù anh ngờ rằng cái nhiệm vụ cao quý này bây giờ đã được chuyển sang cho Jimmy.

Sự thật là anh chẳng muốn và cũng chẳng thể làm việc gì khác. Anh đã trở nên gắn bó với việc lái những chiếc máy bay ném bom trong các cuộc không kích. Nó rất phù hợp với bản thân anh. Nơi duy nhất mà anh yêu thích là bên trong một chiếc máy bay Halifax, với mùi bụi, mùi dầu mỡ, mùi mồ hôi chua lòm, mùi cao su, mùi kim loại và mùi ôxy. Anh muốn tiếng gầm của các động cơ làm tai mình điếc đặc, anh cần cái lạnh, tiếng ồn, sự buồn chán và chất adrenalin vắt kiệt mọi ý nghĩ của mình. Có thời anh đã tin rằng cấu trúc của chiến tranh sẽ nhào nặn nên con người anh, nhưng bây giờ anh lại nhận ra nó đang hủy hoại mình.

Anh có một tổ bay mới - các xạ thủ là Tommy và Oluf, một người Geordie[170] và một người Na Uy. Trong Liên đoàn số 4, người Na Uy ít đến nỗi chẳng thể lập ra phi đoàn của riêng họ với quân số ấy giống như những người Ba Lan đã làm. Người Na Uy cũng hăng hái trong nhiệm vụ của mình gần bằng những người Ba Lan hiếu chiến. Họ luôn tiến về phía trước. Họ xiết bao mong mỏi quê hương Ba Lan sớm được giải phóng để có thể bay về nhà. Đương nhiên, điều đó không xảy ra. Teddy thường nghĩ về họ khi đất nước Ba Lan chật vật trải qua thế kỷ hai mươi.

Tổ bay lần này của anh cũng là một tổ bay hỗn tạp. Sandy Worthington, hoa tiêu, quê ở New Zealand; Geoffrey Smythson, cơ khí viên, từng tốt nghiệp trường Cambridge. (“Toán học.” Cậu ta trịnh trọng nói, như thể đó là một tôn giáo.) Teddy thắc mắc cậu ta có biết Nancy không, và cậu ta đáp rằng có nghe nói về cô rồi hỏi có phải cô đã giành giải Fawcett không? “Đó là một cô gái thông minh.” Cậu ta nói. “Người phụ nữ thông minh.” Teddy sửa lại. Điện đài viên là Bob Booth đến từ Leeds và lính cắt bom là…

“Chúc một ngày tốt lành, anh bạn.”

“Cậu đang làm cái quái gì ở đây thế?” Teddy hỏi.

“À, tôi đang hướng dẫn tân binh ở một OTU thì nghe tin Ted Todd trứ danh đã sớm trở lại với các phi vụ, và tôi nghĩ: Anh ta không thể bay mà không có mình được. Một phi đoàn của Úc đã cố gắng lôi cổ tôi về với họ, nhưng tôi đã nhờ vả vài mối quan hệ để được có mặt ở đây.”

Teddy xúc động đến mức gần như không nói nên lời khi nhìn thấy Keith - cậu ta là người thân thiết với anh nhất trong tổ bay cũ, và họ đã chia sẻ với nhau rất nhiều chuyện mà họ không thể nói với bất cứ ai khác, nhưng khi gặp lại nhau, họ đã kiềm chế, chỉ bắt tay chào hỏi thật nhanh gọn theo kiểu đàn ông. Sau này, càng gần đến cuối thế kỷ, Teddy nhận thấy dường như đàn ông càng ngày càng bộc lộ cảm xúc thoải mái hơn, cho đến khi thế kỷ hai mươi chuyển giao sang thế kỷ hai mốt (và sự xuất hiện của cái gọi là “thập niên hai nghìn”), họ có vẻ hoàn toàn đánh mất khả năng kiểm soát cảm xúc và có lẽ cả lý trí của họ nữa. Các cầu thủ bóng đá và vận động viên tennis thoải mái thể hiện sự mừng giận, người đàn ông bình thường trên phố ôm và hôn lên má những người đàn ông khác. “Ôi, vì Chúa, bố à.” Viola nói. “Sao bố có thể nghĩ ra một chuyện vớ vẩn như thế? Đàn ông thì phải khắc kỷ ư! Bố thực sự nghĩ rằng thế giới sẽ tốt đẹp hơn khi những người đàn ông che giấu cảm xúc của mình trong lòng sao?”

“Ừ.”

Thi thoảng ông vẫn kinh hãi khi nhớ lại cảnh tượng ông òa khóc trong căn bếp của mẹ Vic Bennett. Ông thấy chuyện đó chẳng giúp ích cho ai cả, đặc biệt là chính ông. Khi Nancy mất, ông đã khóc thầm ở chỗ riêng tư, đó có vẻ là cách tiếc thương thể hiện sự tôn trọng đối với người đã khuất.

“Cháu thấy Diana thật đáng trách.” Bertie nói.

“Diana nào?”

“Công nương Diana ấy ạ. Bà ấy khiến người ta nghĩ rằng chịu đựng sự tổn thương là một hành động quả cảm. Ở thời của ông thì ngược lại.” Họ đang ngồi trên ngọn đồi tạc hình ngựa trắng ở Kilbum, ăn những chiếc sandwich mà bà chủ quán trọ tốt bụng đã gói cho họ ở một điểm dừng chân trong chuyến đi giã biệt của họ.

Teddy nghĩ rằng, giống như một chú chó, ông đã qua cái thời của mình. “Ông đã quá già đối với cái thế giới này rồi.” Ông nói.

“Cháu cũng vậy.” Bertie nói.

Nancy chỉ có thể nghỉ một đêm, vì vậy chưa đầy hai mươi tư giờ sau khi gặp nhau ở một sân ga, họ đã phải chia tay nhau trên một sân ga khác. Anh đã tưởng họ có thể ở bên nhau lâu hơn và cảm thấy khá buồn khi anh vẫy tay tiễn cô, nhưng khi đoàn tàu biến mất, anh nhận ra có lẽ cảm giác thật sự trong lòng anh là mặc cảm tội lỗi trước nỗi nhẹ nhõm khi cô rời đi.

Keith cũng lên London trong thời gian nghỉ phép, họ gặp nhau rồi cùng với Bea và bạn cô là Hannie, một người tị nạn, họp thành một bộ tứ thuần khiết, tâm đầu ý hợp ở quán Quaglino’s. Họ đều uống nhiều rượu và Keith gắng hết sức để tán tỉnh hai người phụ nữ cùng lúc. Hannie rất xinh đẹp nhưng có vẻ không hứng thú với cậu ta, còn Bea “là hoa đã có chủ”, cô đã đính hôn với một bác sĩ, mặc dù cả hai người họ đều rất ngọt ngào với Keith. Teddy không bao giờ được gặp anh chàng bác sĩ của Bea. Vào ngày quân Đồng minh đổ bộ lên đất Pháp, anh ta tử trận trên bãi biển Vàng, vì thế sau chiến tranh, Bea kết hôn với một bác sĩ phẫu thuật.

Bea hiện đang làm việc ở đài BBC, công việc của cô là sản xuất và viết một chút kịch bản phim cùng vài công việc “hậu trường”, còn Hannie làm phiên dịch viên cho một tổ chức của chính phủ mà có vẻ không mấy ai biết đến. Trong Cuộc oanh kích Blitz, Bea đã hoạt động trong lĩnh vực y tế, khi đó, cô được tuyển vào làm việc trong một nhà xác, công việc của cô là ráp lại các mảnh thi thể người. Vì một vài lý do khó tin, nền tảng học vấn ở trường mỹ thuật đã khiến cô trở nên phù hợp với công việc này. “Em cho rằng đây chính là giải phẫu học.” Cô nói. Ngay cả Teddy, vốn quen với những thi thể đàn ông chẳng còn nguyên vẹn, cũng không nghĩ mình sẽ có gan làm một công việc như vậy. Trong những năm sau này, trong thời đại khủng bố, mỗi khi đọc về những vụ đánh bom các công viên, hộp đêm, tòa nhà chọc trời và máy bay chở khách, với các cơ thể bị nổ tung thành từng mảnh hoặc rơi từ trên cao xuống đất, Teddy lại tự hỏi liệu có ai ghép những mảnh thi thể ấy lại với nhau hay không. Sylvie đã luôn khăng khăng rằng khoa học là phương tiện cho người ta tìm ra những cách thức mới để giết hại lẫn nhau, và theo thời gian (như thể chiến tranh vẫn chưa phải là bằng chứng đầy đủ), Teddy bắt đầu nghĩ có lẽ bà đã đúng.

Teddy khiêu vũ với Hannie, chiều cao của cô rất tương xứng với anh, và cô có mùi nước hoa Soir de Paris mà cô nói là “có người” đã mang về cho cô từ Pháp, điều đó khiến anh nghĩ rằng cô hẳn đang hoạt động trong một tổ chức khá bí mật. (“Có người phụ nữ nào anh quen không như vậy không?”) Cô đeo đôi khuyên tai bằng ngọc lục bảo và phá lên cười khi anh bình luận về chúng, rồi nói: “Đồ giả đấy! Trông tôi có giống một người mua nổi ngọc lục bảo không?” Cô đã bỏ lại gia đình ở Đức và muốn “từng tên phát xít” phải chết trong đau đớn. Cũng phải thôi, Teddy nghĩ.

Tối hôm sau, họ lại sắp xếp gặp nhau rồi đi xem vở kịch Thạch tín và đăng ten cũ, và họ đều nhất trí rằng đó là một “liều thuốc” tuyệt vời để giúp họ tạm quên đi chiến tranh.

Sau chiến tranh, Teddy nghe Bea kể rằng Hannie làm việc cho Cơ quan Chiến dịch Đặc biệt SOE, và cô ấy đã nhảy dù xuống Pháp trước ngày quân Đồng minh đổ bộ lên vùng bờ biển Normandy. Ursula và Bea đã cố hết sức để tìm hiểu xem chuyện gì xảy ra với cô ấy (“Bởi vì bây giờ cô ấy chẳng còn ai khác.”). Đó là câu chuyện khủng khiếp thường thấy.

Hóa ra đôi khuyên tai ấy không phải đồ giả mà là ngọc lục bảo xịn, của Pháp,fin de siècle[171], rất đẹp và từng là đồ trang sức của mẹ cô, một người Pháp. (“Tớ còn có chút dòng máu Hungary và Đức nữa, đương nhiên rồi, và thậm chí một chút dòng máu Romania. Một người lai châu Âu!”) Đôi khuyên tai ra đời trong một xưởng chế tác kim hoàn ở Marais vào năm 1899 và, giống như các vật thể khác, chúng tồn tại lâu hơn những người từng đeo chúng rất nhiều. Hannie đã gửi chúng cho Bea “giữ hộ”. (“Cậu có thể không gặp tớ trong một vài tuần đấy.”)

“Em nghĩ cô ấy biết mình sẽ không quay lại.” Bea nói. Trước khi mất, Bea đã đưa đôi khuyên tai ấy cho Teddy, bởi vì, theo đúng nghĩa đen, ông là người duy nhất trên đời này còn nhớ đến Hannie, vì thế sau này Bertie đã đeo chúng trong ngày cưới của cô, một ngày mà, buồn thay, Teddy không còn sống để chứng kiến. Cô kết hôn vào mùa đông, với người đàn ông cô tình cờ gặp trên cầu Westminster, trong một nhà thờ Saxon ở Cotswolds, mặc chiếc váy cưới thêu ren kiểu cổ và cầm một bó hoa giọt tuyết. Sau hồi lâu tranh cãi, cô đồng ý để Viola dắt cô lên lễ đường. Một hôn lễ tuyệt vời.

Ngày hôm sau là Chủ nhật, Keith và Teddy bắt chuyến tàu sớm về Góc Cáo bởi vì Sylvie đã nằng nặc bảo họ về ăn trưa. Keith rất hào hứng, cậu ta từng tới đó chơi và chiếm được cảm tình của Sylvie. Cậu ta cũng biết cái chạn thức ăn của bà đầy ắp đồ. Ursula từ chối đi cùng họ. “Mẹ có thể có trọn vẹn em cho riêng mình.” Cô nói và cười khá ranh mãnh.

Teddy dẫn Keith sang Quạ Gáy Xám gặp bà Shawcross, bà luôn tha thiết - có lẽ còn tha thiết hơn cả Sylvie - muốn gặp bất cứ thành viên nào trong tổ bay của Teddy mà anh dẫn về Góc Cáo chơi. Anh kể với bà rằng anh đã gặp Gertie, và bà Shawcross nói: “Thú vị quá, nhưng bác lo cho con bé lắm. Tại bác cứ nghĩ về Amy Johnson[172], cháu biết đấy.” Millie lúc đó đang có mặt ở nhà “trong một thời gian ngắn” và ve vãn Keith một cách thái quá. “Cô gái đó cần được xích lại.” Cậu ta cười khi họ cuối cùng cũng thoát khỏi móng vuốt của cô. “Không phải gu của tôi.” Cậu ta nói. Cậu ta vẫn khá say mê Hannie, bạn của Bea. “Nhưng tôi không thể tưởng tượng ra cảnh đưa cô ấy về trại cừu.” Cậu ta nói. Keith chưa bao giờ nghi ngờ chuyện cậu ta sẽ trở về Úc, Teddy cảm thấy thoải mái hơn nhiều nhờ sự tin chắc ấy của cậu ta. “Cô ấy là người Do Thái, anh biết đấy.” Keith nói.

“Tôi biết.”

“Người Do Thái đầu tiên mà tôi gặp.” Keith nói, như thể đang sửng sốt lắm. (“Cô gái Do Thái.” Sylvie sẽ nói.) “Hẳn là tuyệt lắm nếu được rơi vào lưới tình.” Cậu ta nói thêm, để lộ khía cạnh lãng mạn đáng kinh ngạc. “Làm theo những gì trái tim mách bảo và những chuyện đại loại thế.”

“Cẩn thận đấy.” Teddy nói. “Cậu đang bắt đầu ăn nói giống như nam chính trong một vở kịch rồi đó.” (Hoặc một phụ nữ.) Nhiều tháng sau, chính Teddy đã “rơi vào lưới tình”. Anh đã làm theo tiếng gọi của trái tim mình và nó đã dẫn anh tới một ngõ cụt, nhưng anh không bận tâm lắm.

Một mối tình lãng mạn ngoài luồng.

Julia. Cô cao ráo và có mái tóc vàng hoe, trong mắt Teddy, cả hai đặc điểm đó đều không phải là những nét hấp dẫn ở một người phụ nữ.

“Một cô gái tóc vàng hoe tự nhiên.” Cô nhấn mạnh.

“Anh nghĩ là anh chưa từng gặp người nào như vậy.” Teddy nói.

“Giờ thì anh gặp rồi đấy.” Cô cười nói. Cô ngửa hẳn đầu ra sau mà cười, một phong thái có thể bị cho là thô lỗ nhưng thực chất lại quyến rũ. Cô không phải kiểu phụ nữ che miệng khi cười, nhưng cô có hàm răng đẹp, trắng bóc và đều tăm tắp như những viên ngọc trai. (“Gien tốt.” Cô nói. “Chăm sóc răng miệng cũng tốt nữa.”) Cô rất hay cười.

Cô từng học cùng trường với Stella. Stella đã bảo Teddy “tìm Julia” khi nào anh đến London. Stella quả là cao thượng. “Đừng phải lòng cô ấy.” Stella cảnh báo (nhưng lời cảnh báo này lại càng kích thích anh). “Cô ấy đã làm tan nát trái tim của những người đàn ông tốt hơn cả anh đấy.” Cho dù Stella không biết người đàn ông nào tốt hơn Teddy.

Teddy không muốn mình chết mà chưa từng trải qua cảm giác si mê một ai, và vì anh nghĩ rằng mình có thể chết vào bất cứ lúc nào nên đã ép buộc vị thần Cupid cho anh được nếm trải hương vị của một mối tình thời chiến. Anh đã sẵn sàng đón nhận nó.

Julia là người của tổ chức ATS, cô làm việc trong một ga ra ở trung tâm London, chuyên lái những chiếc xe tải quân đội. Người cô lúc nào cũng lấm lem dầu mỡ, còn các kẽ móng tay thì cáu bẩn. Tuy nhiên cô vẫn luôn cuốn hút. Đó là một sức hút tự nhiên, cũng giống như mái tóc vàng hoe của cô vậy. Cô là kiểu người luôn có được chỗ ngồi tốt ở một nhà hàng hoặc một rạp hát, kiểu người được người ta dâng tặng mọi thứ. Ở cô toát lên một vẻ rực rỡ chói mắt, một sức quyến rũ mê hoặc lòng người. Mê hoặc Teddy. Trong suốt một tuần.

Cô “xoay xở” ít ngày nghỉ phép sau bữa tối đầu tiên của họ. Cũng là đêm đầu tiên họ bên nhau. (“Chẳng việc gì phải chần chừ, cưng ạ.” Cô vừa nói vừa cởi nút áo khoác quân phục của anh.) Cô là kiểu người có thể xoay xở ngày nghỉ phép. “Bố em quen biết tất cả mọi người.” Bố cô là một “cố vấn của chính phủ”, đại loại thế, nhưng lại buông lỏng đứa con vàng con bạc duy nhất của mình. Cô đã hai mươi hai tuổi, cô không còn là một đứa trẻ. Mẹ cô đã mất. “Tiếc quá!”

Julia có “cả núi tiền” - bố cô còn là một huân tước. Teddy từng học chung trường với nhiều cậu con trai của các huân tước nên không bị chùn bước trước gia thế của cô, mặc dù anh không thể không có chút choáng ngợp với tòa dinh thự bề thế gần Regent’s Park, cũng chính là “ngôi nhà ở London” của gia đình cô. Họ còn có một “dinh thự do tổ tiên để lại” ở Northamptonshire và “một ngôi nhà” ở Ireland. “Ồ, và một căn hộ ở Paris mà một gã Gauleiter[173] đáng ghê tởm nào đó đang cư ngụ.” Bố cô đã chuyển đến sống tại một nơi nào đó ở Westminster, và Julia có một căn hộ ở Petty France.

Ngôi nhà ở London bị bỏ trống trong thời gian này. Mọi thứ vẫn được để nguyên chỗ cũ, bị bao phủ trong lớp màn bụi. Những chùm đèn khổng lồ vẫn treo trên trần, được bọc trong lớp vải che, trông giống như những món quà được gói vụng về. Những bức họa có giá trị đều bị phủ vải như thể ngôi nhà đang để tang. Những chiếc chăn mỏng bám đầy bụi và những tấm ga trải giường cũ - một số không cũ lắm - được phủ lên các món đồ nội thất. Teddy phát hiện ra một cái đi văng thời Louis XV dưới một tấm ga trải giường bằng vải bông xù, một chiếc tủ com mốt lộng lẫy của Boulle thời Louis XIV dưới một tấm vải mỏng, một cái bàn giấy dường như từng thuộc về Marie-Antoinette dưới tấm phủ giường làm bằng lông vịt biển. Anh tìm thấy một bức tranh của Gainsborough bên dưới một cái khăn lau bát đĩa. Anh lo lắng cho sự an toàn của chúng. “Em không lo lắng cho những thứ này sao?”

“Lo lắng ư?” (Từ đó không nằm trong vốn từ vựng của cô, cô vô tư đến mức vô trách nhiệm, và đó chính là điểm khiến anh bị cuốn hút.)

“Em không sợ sẽ có kẻ ăn cắp chúng hoặc một quả bom sẽ hủy hoại chúng sao?”

Julia chỉ nhún vai, nói: “Nhà em có nhiều thứ này lắm.”

Hễ mỗi lần đi qua bức tranh nhỏ của Rembrandt trên cầu thang là anh lại vén tấm vải phủ nó lên. Sẽ chẳng có ai nhớ đến nó đâu, anh nghĩ. Những con người bất cẩn ấy có xứng đáng được hưởng một báu vật như vậy không? Nếu anh lấy bức tranh Rembrandt này, cuộc đời anh sẽ thay đổi rất nhiều. Trước hết, anh sẽ là một tên trộm. Một giọng nói khác của chính anh lên tiếng.

Ở tiền sảnh có một cặp tranh của Rubens, một bức tranh của Van Dyke và một bức tranh của Bemini, toàn là các báu vật thời Phục hưng Ý. Nhưng chỉ có bức tranh nhỏ bé của Rembrandt là đánh cắp được trái tim anh. Anh có thể khoắng sạch cả ngôi nhà này. Có một cái chìa khóa giấu bên dưới một cái chậu hoa ở cửa trước. Khi anh khiển trách Julia vì sự bất cẩn, cô cười nói: “Vâng, nhưng đó là một cái chậu hoa rất nặng.” (Đúng vậy.)

“Anh có thể lấy nó nếu anh muốn, cưng ạ.” Julia nói khi cô bắt gặp anh nhìn bức tranh của Rembrandt. “Đó chỉ là một bức tranh cũ kĩ u ám.”

“Cảm ơn em, nhưng anh không lấy đâu.” Quả là một tấm gương sáng ngời về đạo đức. Trong cuộc sống sau này, anh ước gì anh đã lấy bức tranh ấy. Sẽ chẳng ai tin đó là một bức tranh thật của Rembrandt, nó sẽ được treo trên một bức tường ở vùng ngoại ô, tồn tại hoàn toàn vì niềm khoái lạc tội lỗi của anh. Đáng lẽ anh phải lấy nó. Ngôi nhà ở London đã bị trúng tên lửa V-2, vì thế bức tranh của Rembrandt đã biến mất mãi mãi.

“Đừng nói với em về nghệ thuật.” Julia nói. “Em e rằng em rất nông cạn.” Theo kinh nghiệm của Teddy, những người tuyên bố mình là người thế này thì thực tế thường sẽ ngược lại. Nhưng trong trường hợp của Julia, đó lại là sự thật. Cô cực kì dốt nghệ thuật.

Họ không tới Petty France. Thay vì thế, họ dành khoảng thời gian lãng mạn của mình ở ngôi nhà tại London hoặc, trong một đêm đáng nhớ mà họ không ngủ tí nào, ở một căn phòng hạng sang tại khách sạn Savoy, nơi cô dường như lúc nào cũng có thể thuê được. Có đến hàng lít sâm banh trong hầm rượu của ngôi nhà ở London. Và cả tuần ấy, họ cứ việc uống rượu, làm tình trên đủ loại đồ cổ vô giá. Teddy chợt nghĩ có thể từ trước đến giờ Julia vẫn sống như thế này.

Cô có một cơ thể hoàn hảo, giống như một vị nữ thần Hy Lạp. Anh có thể hình dung ra cô trong vai trò một nữ thần, lạnh lùng và hờ hững, sẵn lòng xử tội một anh chàng Actaeon[174] tội nghiệp nào đó, khiến anh ta bị chó săn xé xác đến chết. Nancy không bao giờ có thể sống trong thế giới Olympus tàn bạo ấy, cô giống một tiên nữ ngoại giáo vui tươi hơn.

“Nancy là ai?”

“Vị hôn thê của anh.”

“Ồ, cưng à, dễ thương quá!”

Anh khá bực tức bởi phản ứng của cô. Nếu có một chút ghen tuông thì sẽ tăng thêm kích thích cho trải nghiệm này. Đúng thế, đây là một trải nghiệm, trái tim anh không bao giờ thực sự bị chiếm đoạt. Anh đang chơi đùa với sự lãng mạn. Đây là chuyện xảy ra sau cuộc không kích Hamburg, sau chuyến đi nghe nhạc Beethoven, sau khi Keith chết, trước khi anh tham gia cuộc không kích ở Nuremberg, khi anh chẳng bận tâm nhiều đến bất cứ thứ gì, đặc biệt là những cô nàng tóc vàng hoe xinh đẹp nhưng nông cạn. Nhưng anh trân trọng món quà này - những cuộc làm tình phóng khoáng, mãnh liệt (hay như cách nói của Julia là “nhơ nhớp”), nhờ nó mà trong những năm sau này, khi anh trở về với cuộc sống bình thường của một người làm vườn, ít nhất anh cũng đã biết thế nào là quan hệ tình dục một cách phóng túng. Anh không thích từ đó, nhưng đó là từ duy nhất thực sự phù hợp với Julia.

Vào ngày nghỉ phép cuối cùng của anh, khi đến ngôi nhà ở London và dịch chuyển cái chậu hoa nặng nề, anh không thấy chìa khóa đâu cả, chỉ có một mảnh giấy viết dòng chữ nguệch ngoạc: “Cưng à, thật là tuyệt vời, hẹn gặp lại, Jxx”. Anh khá căm phẫn khi bị nhốt bên ngoài ngôi nhà, bởi vì anh đã bắt đầu cảm thấy khá thoải mái khi ở đó, như thể nó là nhà của chính anh vậy.

Không lâu sau, Julia được điều chuyển đến một căn cứ quân nhu, và là một trong mười bảy người bị giết chết khi một kho bom không may phát nổ. Lúc đó, Teddy đã bị nhốt trong trại POW và chẳng biết gì về sự kiện này cho đến mấy năm sau, khi anh đọc được tin về cái chết của cha cô trên tờ báo của mình (“Thượng nghị sĩ trong vụ bê bối tình dục đã bị ngã chết”).

Anh hình dung tứ chi trắng trẻo, hoàn hảo của Julia bị gãy lìa và vương vãi khắp nơi như bức tượng cổ bị vỡ. Đó là thông tin cũ đến mức anh thực sự chẳng bận tâm lắm - lúc bấy giờ Nancy vừa mới mắc bệnh. Anh cũng không biết gì về ngôi nhà ở London cho đến khi đọc được tin tức về nó trong cùng bài báo ấy (“Nhiều tác phẩm nghệ thuật vô giá đã bị mất trong chiến tranh”). Anh tiếc thương bức tranh nhỏ bé của Rembrandt hơn cả tiếc thương Julia, người mà anh đã không nghĩ đến trong suốt một thời gian dài.

Nhưng đó là chuyện trong tương lai. Bây giờ, anh đang cùng Keith từ Quạ Gáy Xám về Góc Cáo và thấy phòng khách của Góc Cáo chật ních khách khứa. Sylvie đã mời mọi người đến ăn trưa, đó là những người mà Teddy chưa bao giờ gặp và chẳng mấy hứng thú.

Họ bao gồm vợ chồng một tay ủy viên hội đồng địa phương luôn tỏ vẻ cái gì cũng biết, một luật sư (ông ta tự nhận mình là một “người độc thân hủ lậu”) có vẻ đang theo đuổi Sylvie. Có cả một bà góa phụ đã khá cao tuổi cứ cằn nhằn luôn miệng, đặc biệt là về việc chiến tranh đã khiến cho cuộc sống của bà ta khó khăn biết chừng nào, và cuối cùng là một “thầy tu”, theo cách gọi của Sylvie. Ông ta không phải một giáo sĩ bình thường mà là một giám mục - một dạng cha tuyên úy cấp cao. Ông ta ăn nói ngọt xớt, đúng như những gì Teddy nghĩ về một vị giám mục.

Họ đang uống những ly sherry thơm ngon - kể cả cánh đàn ông - rồi Sylvie nói với Keith và Teddy: “Mẹ nghĩ các con sẽ thích bia hơn.”

“Cháu sẽ không từ chối một ly đâu, cô T ạ.” Keith đáp bằng thứ tiếng Úc lịch sự nhất.

Sylvie cứ như đã tập hợp lại các nhân vật của một vở hài kịch nhạt nhẽo. Đó là loại xã hội tư sản mà bà thường chẳng mấy khi dính dáng đến, và Teddy không tài nào hiểu nổi tại sao bà lại lựa chọn mở rộng các mối quan hệ của mình với những người đức cao vọng trọng của giáo xứ này. Chỉ đến khi bà bắt đầu chỉ trỏ những dải ruy băng biểu chương và ba hoa về “các chiến công quả cảm” của anh - mặc dù anh hầu như chẳng kể với bà tí gì về những “chiến công” của mình, dù quả cảm hay không - thì anh bắt đầu ngờ rằng bà đang khoe anh trước những công dân đáng kính ấy. Anh thấy mình hoàn toàn chẳng biết nói gì khi họ thúc giục anh thuật lại vài “kỳ công gan dạ”, và anh để mặc Keith “chiêu đãi” họ những câu chuyện về các chiến tích của tổ bay anh một cách hài hước, khiến cho chiến tranh nghe giống như một chuỗi những cuộc phiêu lưu liều lĩnh, khá giống một trong những cuộc phiêu lưu của Augustus.

“Nhưng mà…” Người đàn ông độc thân nói, muốn nghe thứ gì man rợ hơn. “… Công việc của các cậu đâu phải là trò vui chơi giải trí. Các cậu chắc chắn đang oanh tạc cho Jerry[175] tối tăm mặt mũi.”

“Phải, các cậu làm tốt lắm.” Tay ủy viên hội đồng địa phương vênh vang nói. “Một “màn trình diễn” tuyệt vời. Trận Hamburg là một thành công lớn của RAF, đúng không?”

“Đúng thế, các cậu làm tốt lắm, các chàng trai.” Ông giám mục nói, khẽ nâng ly rượu sherry lên vẻ chúc tụng. “Giờ hãy tiêu diệt nốt những kẻ còn lại.”

Tất cả bọn họ ư? Teddy tự hỏi.

“Chị nên báo trước cho em biết rằng…” Ursula đã viết thư cho Teddy. “… Con lợn đã bị giết.” Teddy đã thấy con lợn của Sylvie vài lần từ lúc nó còn là con lợn con hồng hào tròn ủm mới được bà đem về nuôi. Anh khá ngưỡng mộ con lợn đó. Nó chẳng có kỳ vọng gì lớn lao, chỉ kêu ụt ịt và sục sạo quanh cái chuồng xây vội của mình, mừng húm khi bắt được một mẩu thức ăn đầu thừa đuôi thẹo được vứt về phía nó. Và bây giờ, có lẽ sinh vật tội nghiệp ấy đang được chế biến thành thịt muối, xúc xích, giăm bông và tất cả các sản phẩm khác mà số phận của nó đã định. Rồi sau đó, có lẽ những sản phẩm ấy sẽ được Sylvie - giờ đã trở thành dân chợ đen - đem đi chào hàng đến cửa từng nhà để đổi lấy tiền.

Họ sẽ ăn đùi lợn quay với rau hái ngoài vườn và nước xốt táo đóng chai được làm từ mùa thu năm ngoái, cùng món Nữ hoàng pudding[176] với nguyên liệu chủ yếu do những con gà phải làm việc quá sức cung cấp. Teddy không thể ngừng nghĩ đến hồi con lợn ấy còn sống, vẫn có đủ cả bốn cái chân cứng cáp.

“Tất cả mọi thứ đều là “của nhà trồng được”.” Sylvie hãnh diện nói. “Từ thịt lợn trên bàn đến mứt và trứng trong món pudding.” Có lẽ bà đang quảng cáo về hình thái kinh tế hộ gia đình của mình với người đàn ông độc thân kia. Hoặc có lẽ với ông giám mục. Teddy không thể tưởng tượng chuyện mẹ mình tái hôn. Bà đã trở thành một người phụ nữ trung niên khá kiên cường, tự mãn và tận hưởng cuộc sống tự do tự tại.

“Thứ mùi này có thể nâng cao tinh thần của một người đàn ông.” Ông giám mục nói, hếch cái mũi giám mục tinh tế để hít ngửi mùi thịt lợn quay.

“Bà thật tài ba khi có thể tự cung tự cấp như vậy.” Ông luật sư nói với Sylvie rồi nốc cạn ly rượu sherry nhỏ xíu của mình và nhìn quanh, hy vọng tìm thấy cái bình thon cổ đựng rượu.

“Đáng lẽ phụ nữ ở hậu phương phải được nhận huân chương.” Bà vợ của ông ủy viên hội đồng càu nhàu. “Vì tài vun vén khéo léo của chúng ta, nếu không vì tất cả những gì chúng ta đã phải chịu đựng.” Câu nói này như gãi đúng chỗ ngứa, khiến bà góa phụ cao tuổi lại cất tiếng càm ràm. (“Chịu đựng! Tôi cũng nghĩ vậy đấy.”)

Teddy thấy mình trở nên bức bối và bứt rứt không yên. “Thứ lỗi cho con một lát.” Anh nói, đặt cốc bia của mình xuống. “Anh vẫn ổn cả chứ, anh bạn?” Keith nói khi anh đi qua cậu ta. “Tôi chỉ đang cần chút không khí trong lành.” Teddy nói.

“Anh ấy ra ngoài hút điếu thuốc ấy mà.” Anh nghe thấy Keith bao biện cho anh.

Teddy huýt sáo gọi con chó khi anh ra ngoài, rồi nhìn thấy nó đang chăm chú ngắm nhìn lũ gà được nhốt an toàn trong cái chuồng bằng dây kẽm gai. Lucky, vốn trung thành và ngoan ngoãn cho đến hơi thở cuối cùng, đi theo Teddy ra đường.

Con chó chui qua cánh cổng dẫn vào cánh đồng bò sữa rồi hoang mang dừng lại khi thấy lũ bò. “Bò sữa đấy.” Teddy nói. “Chúng sẽ không làm gì mày đâu.” Anh nói thêm, nhưng con chó bắt đầu sủa loạn lên. Nó vừa lo lắng vừa phách lối, khiến lũ bò ngày thường vốn dễ tính cũng cảm thấy bực bội, và Teddy gọi con chó về trước khi nó có thể gây ra rắc rối.

Anh nghĩ, phi vụ Hamburg đã là một “màn trình diễn tuyệt vời”. Tình trạng thời tiết thật hoàn hảo trên chặng đường bay qua biển Bắc, và quân Đức đã làm nhiễu nhầm chuỗi xung tín hiệu của hệ thống Gee[177], do đó các hoa tiêu có thể xác định vị trí của mục tiêu một cách chính xác hơn qua hệ thống định vị vô tuyến. (Hãy nói về chuyện gì đó thú vị hơn chuyện ném bom.)

Sau chặng đường dài băng qua biển Bắc đen ngòm, quả là nhẹ nhõm khi tới được bờ biển nước Đức và nhìn thấy những quả pháo sáng đánh dấu đường đi do những chiếc máy bay chỉ điểm thả xuống, chúng trông như những ngọn nến vàng duyên dáng đang chảy và nhỏ giọt xuống mặt đất, đánh dấu “lối vào” của họ, tập hợp và dẫn họ đi về phía con đường rải bom hẹp và thẳng. Trong buổi hướng dẫn, họ đã được dặn dò kĩ càng rằng đội hình máy bay ném bom cần co cụm với nhau thật chặt chẽ, không chỉ để việc ném bom được tập trung, tránh dàn trải, mà còn để Window, thứ “vũ khí” họ đang sử dụng lần đầu tiên, có thể bảo vệ được nhiều chiếc máy bay trong đội hình nhất. Đã có vài mối nghi ngờ về thứ có tên là Window bí ẩn này, và nghe những lời miêu tả về nó trong buổi hướng dẫn, ai nấy đều sẽ nghĩ rằng các nhà nghiên cứu đã tìm ra Chén Thánh, nhưng cuối cùng các tổ bay đều rất hài lòng với nó. Window là “vũ khí bí mật” mới của họ - một phương pháp gây nhiễu xạ bằng nhôm.

Vài chiếc phi cơ đã được trang bị một loại máng trượt đặc biệt, nhưng phần lớn đều giống chiếc Q-Queenie, vẫn đang dùng máng trượt thả pháo sáng để thả Window. Đó là một công việc khó chịu và Teddy đã cắt cử Keith đảm nhiệm nó. Keith hậm hực đi xuống phần thân máy bay lạnh giá, mang theo bình ôxy di động, đèn pin và một cái đồng hồ bấm giờ. Ở đó, cậu ta phải ngồi cạnh cái máng trượt, cứ mỗi sáu mươi giây, cậu ta phải tháo dây chun buộc những gói lá nhôm và đẩy chúng ra khỏi máy bay. Nhưng chúng rất đẹp, những dải lá nhôm dài lấp lánh như bạc rơi xuống đất và làm nhiễu radar của quân Đức, do đó các chiến đấu cơ của chúng không thể xác định được vị trí của những chiếc máy bay ném bom. Họ có thể nhìn thấy những ánh đèn rọi quét qua quét lại vu vơ trên bầu trời, trong khi ánh đèn chính màu xanh dương đứng im bất lực. Những khẩu súng cao xạ của Đức chẳng biết phải nhắm vào cái gì, do đó khi họ đến gần thành phố ấy, chỉ thấy hệ thống hỏa lực phòng không bắn hú họa lên trời, giống như bắn pháo hoa trong đêm Đốt lửa[178]. Họ đã tới được mục tiêu mà không gặp phải tổn hại thực thụ nào.

Đó quả là một mục tiêu lớn. 2.300 tấn bom và hơn 350.000 quả bom lửa trong một giờ đồng hồ. Một kỷ lục thế giới. Những quả pháo sáng đánh dấu mục tiêu được những chiếc máy bay chỉ điểm thả xuống thành phố, tạo thành một “dòng suối” màu đỏ và vàng kim tuôn xuống mặt đất bên dưới, tiếp đó, đến lượt những quả pháo sáng màu xanh lá cây xinh xắn được thả xuống, do đó, nhìn tổng thể, trông chúng như những bông pháo hoa rực rỡ bung tỏa trên bầu trời đêm. Xen giữa những quả pháo sáng sặc sỡ ấy là ánh chớp lóe chói lòa của những quả bom thường và bom tấn phát nổ, cùng ánh sáng trắng lấp lánh đầy mê hoặc của hàng ngàn hàng vạn quả bom lửa đang trút xuống thành phố.

Mục đích của họ là thả những quả bom có sức công phá mãnh liệt xuống các tòa nhà, thổi bay nóc nhà, để những quả bom lửa có thể rơi vào bên trong, bốc cháy, biến những tòa nhà ấy thành những cột lửa dữ dội. Nhiệm vụ của máy bay ném bom là vậy: đốt cháy bất cứ thứ gì trên mặt đất bên dưới. Trong thành phố khô như rang, hầu như chẳng có tí hơi ẩm nào, đây chính là điều kiện lý tưởng để chỉ cho Hitler (và chính phủ Anh) thấy rằng Binh chủng Máy bay ném bom có thể làm được những gì.

Chiếc Q-Queenie bay ở tốp thứ hai, đằng sau những chiếc máy bay chỉ điểm và những chiếc máy bay Lancaster, những chiếc máy bay Lancaster đã đốt cháy mục tiêu giúp họ.

Cảnh tượng hệt như đêm Giáng sinh, ánh sáng từ những quả bom lửa lấp lóa trên bầu trời. Những ngọn lửa đỏ rực lóe lên khắp nơi, mặc dù chẳng mấy chốc chúng bắt đầu bị một màn khói đen đặc che khuất. Giữa màn pháo hoa rực rỡ này, Keith liên tục nói “Trái, phải, sang phải một chút nữa…”, cho đến khi Teddy nghe cậu ta nói “Hết bom rồi”, họ mới quay về căn cứ. Lúc đó, bốn tốp máy bay ném bom nữa vẫn đang trên đường tiến tới mục tiêu.

Đêm hôm sau, họ tới Essen, một cuộc tấn công toàn lực khác, rồi tạm nghỉ hai mươi tư tiếng đồng hồ thiết yếu trong lúc quân Mỹ tiếp quản nhiệm vụ, liên tiếp mở hai cuộc không kích Hamburg vào ban ngày, tiếp thêm bom lửa vào những đám cháy cũ và tạo ra thêm các đám cháy mới bằng những quả bom. Teddy thấy thương cảm cho những chiếc máy bay của Mỹ - vì họ bay theo đội hình chặt chẽ vào ban ngày nên phải chịu những cú đòn ác liệt nhất từ hàng rào phòng thủ của quân Đức. Vài tuần trước, chiếc Q-Queenie đã hạ cánh khẩn cấp ở căn cứ Không lực Mỹ USAAF ở Shipdham và họ đã được chào đón nồng nhiệt. Họ chẳng mấy khi có dịp gặp gỡ các đồng minh, vì vậy thật ấm áp khi thấy mình ở giữa một phi đoàn Mỹ với những tổ bay mà Tommy, anh chàng Geordie của họ, nói là “cũng giống như chúng ta”. Có điều, những người lính Mỹ ấy trẻ trung và bóng bẩy hơn, sự bóng bẩy của họ hiện vẫn chưa bị bào mòn, mặc dù nó sẽ sớm bị như vậy thôi. Và ở đó còn có nhiều thức ăn ngon hơn nữa, để rồi khi chiếc Q-Queenie trở về căn cứ của mình, nó nặng trĩu nào sô cô la, thuốc lá, hoa quả đóng hộp và lòng thành của những người bạn Mỹ.

Trong thời gian họ tạm nghỉ, thời tiết rất tốt, các tổ bay đều ngả ngớn trên những cái ghế ở bãi cỏ hoặc ngồi chơi bài ở ngoài trời. Có người còn tổ chức thi đấu cricket trên một cánh đồng gần đó, một trận đấu sôi nổi, thú vị, nhưng nhiều người chỉ đơn giản ngủ vùi vì đã bị chiến tranh vắt kiệt sức. Teddy và Keith thong thả đạp xe một chặng đường dài với hai cô gái WAAF, Lucky chạy lon ton bên cạnh họ. Khi nó đã mệt, nó được cho vào cái giỏ đằng trước chiếc xe của một cô gái WAAF và hiên ngang ngồi đó như bức tượng gắn ở mũi một con tàu, đôi tai cụp lại vì bị bạt gió. “Như thể đang ngồi trong buồng lái.” Cô gái WAAF nói. Đó là Edith, một cô gái đen đủi khiến người ta không thể không mủi lòng. Ba chàng trai gần đây nhất mà cô ta hẹn hò đã không trở về sau các phi vụ, và bây giờ chẳng có ai dám lại gần cô ta. Trong một thoáng giây u ám, Teddy đã nghĩ đến chuyện ngủ với cô ta chỉ để xem chuyện gì sẽ xảy ra với anh sau đó. Anh nghĩ có lẽ anh vẫn sẽ làm thế. Cô ta mê mẩn anh, nhưng có cô gái WAAF nào không mê mẩn anh cơ chứ.

Họ ăn sandwich kẹp patê cá, uống nước suối và có cảm giác như Đệ tam đế chế Đức quốc xã không tồn tại và nước Anh đã trở lại là một đất nước xanh tươi, tuyệt diệu như xưa.

Anh nhìn đồng hồ. Ba giờ. Mọi người ở Góc Cáo hẳn đã ăn trưa dù thiếu anh. Dù sao thì anh cũng hy vọng như vậy. Anh đã bỏ mặc Keith nằm trong nanh vuốt gớm ghiếc của họ đủ lâu rồi.

Họ băng qua đồng cỏ với đầy đủ những loài cây đặc trưng của mùa hè - lanh, phi yến, mao lương hoa vàng, mỹ nhân thảo, cẩm chướng đỏ và cúc mắt bò - và đi men theo rìa một cánh đồng lúa mì rộng lớn của Trang trại Gia đình. Những nhành lúa mì rung rinh và dập dờn trong làn gió nhẹ. Anh từng thường xuyên làm việc trên những cánh đồng này vào các vụ mùa rồi nghỉ ngơi để ăn trưa với bia và pho mát cùng các nhân công ở nông trại dưới vầng mặt trời nóng bỏng. Khó mà tin nổi cuộc sống từng bình dị đến thế. Giờ đây anh nhớ đến nó như thể nó là một khổ thơ đồng quê tiền chiến lãng mạn, Hỡi những người thợ gặt có làn da rám nắng đã mệt mỏi vì công việc nặng nhọc của tháng Tám, hãy rời khỏi cánh đồng và đến đây vui thú cùng chúng tôi, nhưng anh cho rằng đối với những người làm nghề nông, họ chẳng bao giờ liên tưởng công việc của mình với những bài thơ đồng quê của Shakespeare, và vụ gặt chỉ là một bước ngoặt khác trong một năm cày cấy vất vả triền miên.

Đám mỹ nhân thảo nằm rải rác giữa các vạt lúa mì vàng ruộm như những đốm máu đỏ, và anh nghĩ về những cánh đồng khác trong cuộc chiến tranh kia, cuộc chiến tranh của cha anh, rồi cảm thấy trong lòng hụt hẫng vô cùng khi nhớ về Hugh. Anh ước gì cha anh đang ở Góc Cáo, chờ anh trở về bên một ly bia trong vườn hoặc một cốc whiskey trong thư phòng của ông.

Con chó đã nhảy vọt vào giữa đám lúa mì và anh không còn nhìn thấy nó nữa, nhưng anh có thể nghe thấy tiếng sủa đầy phấn khích của nó, trong tiếng sủa ấy giờ tuyệt không còn chút căng thẳng, hẳn là nó đã tìm thấy một sinh vật nào đó không đáng sợ bằng con bò - chẳng hạn như một con thỏ hoặc một con chuột đồng. Teddy huýt sáo để con chó có thể xác định phương hướng và tìm được đường ra khỏi cánh đồng.

“Đến giờ về rồi.” Anh nói khi nó cuối cùng cũng trở lại.

“Mẹ nghĩ đã mất con rồi chứ.” Sylvie giận dữ nói.

“Chưa đâu mẹ.” Teddy đáp.

“Ổn cả chứ?” Keith hỏi, đưa cho anh một ly bia. Keith đang ngồi trên hàng hiên, trông cứ như đang ở nhà mình vậy. Mấy ông to bà lớn kia xem chừng đã về hết rồi.

Anh quyết định dành buổi tối cuối cùng trong kỳ nghỉ phép của mình bên chị gái Ursula. Keith đã đi chè chén với vài người bạn đồng hương của cậu ta.

Teddy thả bộ qua các công viên rồi đứng đợi bên ngoài văn phòng của Ursula để làm cô bất ngờ khi cô tan làm.

“Teddy!”

“Chính em đây.”

“Cả Lucky nữa! Thật tuyệt khi được nhìn thấy nó.” Một lần nữa, Teddy cảm thấy mình chỉ xếp thứ hai, sau con chó. Lucky mừng quýnh lên khi gặp lại Ursula. “Đúng lúc quá.” Cô nói. “Hoặc có lẽ em sẽ nghĩ ngược lại. Em có muốn đi xem hòa nhạc cùng chị không? Chị có hai vé mà người bạn định đi cùng chị lại không đi được nữa. Sau đó, chúng ta có thể ăn tối.”

“Tuyệt cú mèo.” Teddy nói, nhưng trong lòng thầm rên rỉ trước ý nghĩ đi xem một buổi hòa nhạc, đó là điều mà có lẽ anh không muốn làm nhất. Không khí biển và hai mươi tư giờ nghỉ ngơi bên Nancy, chưa kể bữa trưa ở Góc Cáo, đã vắt kiệt toàn bộ sức lực còn lại của anh, và anh thà đến một rạp chiếu bóng để ngủ thiếp đi trong bóng tối sực mùi ẩm mốc, hoặc uống đến say mềm cho đến khi quên hết sự đời ở một nơi nào đó thoải mái còn hơn.

“Ồ, tốt quá!” Ursula nói.

Cô quyết định để con chó ở lại trong văn phòng của mình. “Chị cho rằng làm thế là vi phạm quy tắc.” Cô vui vẻ nói, nhưng sẽ có nhiều người làm việc thâu đêm. “Và nó sẽ được chiều chuộng hết mức.” Lucky là một con chó “thực dụng” và nó lập tức quấn lấy một cô thư ký.

Hôm ấy là một buổi chiều tà đẹp trời. Họ thong thả dạo bộ đến Phòng hòa nhạc Hoàng gia Albert ở gần đó. Trời vẫn còn sớm và họ nghỉ chân ở một băng ghế trong Kensington Gardens, ăn chỗ sandwich còn thừa từ bữa trưa của Ursula mà cô chưa kịp ăn hết bởi vì cô đã phải “chạy ngược chạy xuôi” tới Whitehall. Những tia nắng xế chiều vẫn còn dồi dào, đủ để sưởi ấm họ. “Thực ra công việc của chị chỉ là chuyển giấy tờ đến chỗ này chỗ nọ thôi. Chị nghĩ hầu hết ai cũng vậy. Đương nhiên là ngoại trừ em.”

“Ơn Chúa!” Teddy nói, nhớ đến sự nhàm chán ở ngân hàng. Nếu may mắn sống sót sau chiến tranh, anh sẽ làm gì? Ý nghĩ về tương lai khiến lòng anh ngập tràn sợ hãi.

Chị anh đứng dậy và phủi vụn bánh trên váy. “Chúng ta nên đi thôi, chị không muốn để Beethoven phải đợi.”

Họ có được chỗ ngồi tốt, “ai đó” đã cho Ursula vé. Cô đã định dẫn bạn mình là bà Wolf theo nhưng bà ấy lại phải hủy hẹn. “Buồn thật đấy.” Ursula nói. “Bà ấy vừa biết tin người cháu trai ở lục quân đã tử trận tại Bắc Phi. Bà Wolf là một người tuyệt vời, một ngôi sao sáng, và bà ấy hết sức tin tưởng rằng âm nhạc có sức mạnh hàn gắn. Nghe nhạc Beethoven giữa chiến tranh, đặc biệt là bản nhạc này, sẽ giúp bà ấy khuây khỏa rất nhiều.”

Bản nhạc nào của Beethoven? Teddy tự hỏi. Anh đọc tờ giới thiệu chương trình. Bản giao hưởng số chín. Dàn nhạc giao hưởng BBC với đội hợp xướng Alexandra, Adrian Boult chỉ huy.

“Alle Menschen werden Brüder[179].” Ursula nói. “Em nghĩ điều đó có thể xảy ra không? Một ngày nào đó? Liệu một ngày nào đó tất cả mọi người có thể trở thành anh em? Người ta - chủ yếu là đàn ông - đã giết chóc lẫn nhau từ thuở hồng hoang. Từ khi Cain[180] ném tảng đá vào đầu Abel hoặc bất cứ việc gì tương tự.”

“Em không nghĩ Kinh thánh miêu tả rành mạch đến thế.” Teddy nói.

“Chúng ta vẫn còn những bản năng từ thuở sống trong các bộ lạc.” Ursula nói. “Sâu thẳm bên trong, chúng ta đều là người nguyên thủy, đó là lý do chúng ta phải sáng tạo ra Chúa, để ngài là giọng nói lương tâm của chúng ta, nếu không chúng ta sẽ giết hại lẫn nhau một cách bừa bãi.”

“Em nghĩ đó chính là điều chúng ta đang làm.”

Thính phòng nhanh chóng được lấp đầy, người ta loạt soạt bước vào, và hai chị em họ phải nép đầu gối sang một bên vài lần cho mọi người đi qua. Ở bên dưới, những thính giả không có ghế ngồi đang lịch sự tìm vị trí tốt ở khu vực dành cho những người đứng nghe nhạc. “Chỗ này khá tốt đấy.” Teddy nói. “Người cho chị vé chắc thích chị lắm.”

“Ừ, nhưng đây không phải chỗ tốt nhất.” Ursula nói, dường như cô thấy câu nói này rất thú vị. “Tuần trước đã có những cuộc không kích rất lớn.” Cô bỗng nhiên nói, sự thay đổi đề tài đột ngột này khiến anh bất ngờ.

“Vâng.”

“Theo em thì Hamburg đã tiêu tùng chưa?”

“Rồi. Chưa. Em không biết. Có lẽ. Từ độ cao hơn năm nghìn mét, ta không thể nhìn thấy gì nhiều. Chỉ thấy lửa thôi.” Đội hợp xướng bắt đầu vào vị trí.

“Họ đã bị giã một trận nhừ tử.” Ursula tiếp tục.

“Họ ư?”

“Người dân. Ở Hamburg.” Teddy không nghĩ mục tiêu của anh là con người. Đó là những thị trấn và thành phố. Đó là những nhà máy, ga xe lửa, sân đậu chiến đấu cơ, bến cảng. “Em có bao giờ nghi ngờ không?” Cô khăng khăng.

“Nghi ngờ?”

“Em biết đấy, về việc ném bom diện rộng.”

“Ném bom diện rộng?” Anh từng nghe thấy thuật ngữ này nhưng chẳng nghĩ nhiều về nó.

“Những cuộc tấn công bừa bãi. Dân thường được coi là một mục tiêu hợp pháp - những người vô tội. Điều đó không khiến em cảm thấy… khó chịu ư?”

Anh quay sang nhìn chị mình, kinh ngạc bởi sự thẳng thừng của cô. (Khó chịu ư?) “Bọn em không nhắm vào dân thường! Chị có thể nghĩ ra cuộc chiến nào không có ai bị giết không? Chúng ta phải phá hủy nền công nghiệp và kinh tế của họ nếu muốn giành chiến thắng. Cả nhà cửa của họ nữa, nếu cần. Em đang làm - bọn em đang làm - những gì bọn em được yêu cầu để bảo vệ đất nước của chúng ta, để bảo vệ tự do. Chúng ta đang chiến đấu với một kẻ thù không đội trời chung, và bọn em đang mạo hiểm tính mạng của mình trong mỗi chuyến bay.” Anh thấy mình như đang hùng biện và trở nên tức giận với chính mình hơn là với Ursula, vì chắc chắn chị gái anh là một trong những người hiểu rõ nhất về khái niệm “bổn phận”.

Giờ hãy tiêu diệt nốt những kẻ còn lại, ông giám mục của Sylvie đã nói như vậy vào ngày hôm qua.

“Với lại, chị định nghĩa thế nào là “vô tội”?” Anh tiếp tục. “Công nhân làm việc trong các nhà máy chế tạo bom? Hay súng, phi cơ, thép, ổ bi, xe tăng? Gestapo[181]? Hitler?” Anh bắt đầu ngoa dụ. “Và chị đừng quên chính quân Đức đã khơi mào cuộc chiến này.”

“Chị thì nghĩ chúng ta đã khơi mào nó ở Versailles.” Ursula lặng lẽ nói.

Teddy thở dài, hối hận vì phản ứng cáu kỉnh của mình. Anh tự nghĩ mình đã phản đối quá hăng. “Thi thoảng…” Anh nói. “… Em lại nghĩ giá mà mình có thể đi ngược thời gian và bắn Hitler, hoặc, tốt hơn nữa, giết chết hắn ngay từ lúc hắn mới chào đời.”

“Rồi sau đó, chị cho rằng…” Ursula nói. “… Em có thể sẽ phải đi ngược lại mãi để tháo gỡ lịch sử, đến tận thời của Cain và Abel.”

“Hoặc quả táo.”

“Suỵt!” Ai đó giận dữ nói khi nhạc công violin đầu tiên bước lên bục biểu diễn. Họ vỗ tay theo mọi người, nhẹ nhõm khi kết thúc được cuộc tranh luận. Ursula đặt tay lên cánh tay anh và thì thầm: “Chị xin lỗi. Không phải là chị đã mất niềm tin vào cuộc chiến này. Chỉ là chị muốn biết về cảm nghĩ của em. Muốn biết liệu em có ổn không, em biết đấy.”

“Đương nhiên là em ổn.” Teddy cảm thấy biết ơn khi Boult xuất hiện trong tiếng vỗ tay nhiệt liệt. Thính phòng trở nên tĩnh mịch.

Ursula nên chúc mừng anh thay vì dấy lên những nghi ngờ. Chiến dịch Gomorrah được các tổ bay coi là một thành công rực rỡ. Đó là một bước ngoặt, nó sẽ đẩy cuộc chiến đến gần thời điểm kết thúc hơn, nó sẽ giúp ích cho các đội quân trên bộ, “những cơ thể màu nâu” một ngày nào đó trong tương lai sẽ lại đổ bộ lên đất châu Âu và chiến đấu cho đến khi chiến tranh chấm dứt. “Một màn giội bom ngoạn mục.” Cơ khí viên trong tổ bay của anh là Geoff Smythson đã viết như vậy trong nhật ký hành trình của mình. Một màn trình diễn tuyệt vời, ông luật sư đã nói câu đó vào ngày hôm qua khi đang thèm nhỏ dãi con lợn tội nghiệp.

Các tổ bay đã rất vui sướng, Teddy nghĩ, liếc nhìn chị gái, giờ cô đã hoàn toàn chìm đắm trong âm nhạc. Ắt hẳn mọi người đều vui sướng, phải không?

Mãi đến sau này, khi chiến tranh kết thúc từ lâu, Teddy mới biết chiến dịch ấy đã là một “cơn bão lửa”. Hồi chiến tranh, anh không hề nghe thấy từ đó. Khi ấy anh mới biết người ta đã cố ý phái họ đến các khu dân cư. Dân chúng ở đó bị luộc chín trong những con suối và bị nướng chín trong những căn hầm. Họ bị thiêu sống hoặc bị chết ngạt, bị đốt thành tro hoặc chảy thành mỡ. Họ bị mắc kẹt như những con ruồi dính bẫy khi cố băng qua những con đường nhựa nóng chảy chỗ họ sống. Một màn giội bom ngoạn mục. (“Ăn miếng trả miếng. Lấy mắt đền mắt.” Mac nói ở bữa tiệc hội ngộ của phi đoàn. Cho đến khi tất cả mọi người đều mù hết ư? Teddy tự hỏi.) Gomorrah[182]. Armageddon. Họ giống như vị Chúa trong kinh Cựu ước đang nổi giận và trừng phạt con dân. Một khi họ bắt đầu, sẽ chẳng còn đường lui. Hamburg không phải một điểm ngoặt, nó chỉ là một trạm dừng. Cuối cùng, nó dẫn đến Tokyo, đến Hiroshima, rồi sau đó, cuộc tranh cãi về sự vô tội trở nên thừa thãi khi ta có thể bật một cái công tắc ở châu lục này để tiêu diệt hàng nghìn người trên một châu lục khác. Ít nhất thì Cain cũng phải nhìn vào mặt Abel khi ông ta giết em mình.

RAF đã trở lại để ném bom lần thứ hai vào đêm thứ Ba và thấy thành phố ấy vẫn cháy ngùn ngụt - chẳng khác nào một hỏa ngục mênh mông, như thể có một tấm thảm đỏ nóng rực trùm lên vạn vật, phủ kín mọi thứ bên dưới.

Có cảm giác như đang bay qua một ngọn núi lửa khổng lồ chứa đựng trái tim lửa của địa ngục, nơi chốc chốc lại bùng lên những vụ nổ dữ dội. Thành phố bị hủy diệt. Sự tàn khốc và vẻ đẹp khủng khiếp của nó gần như khơi lại thi hứng của Teddy. Một cuộc tận diệt thời Trung cổ, anh nghĩ.

“Hoa tiêu, tới đây xem này.” Anh nói, thuyết phục Sandy Worthington bước ra khỏi bức rèm của mình. “Cậu sẽ chẳng bao giờ thấy thứ gì như thế này lần nữa đâu.”

Keith không cần phải dẫn đường cho họ, họ có thể nhìn thấy đám cháy từ cách xa hàng dặm. Rồi khi họ bay qua chảo lửa ngùn ngụt đó, cậu ta nói: “Hãy xúc thêm một xẻng than vào đống lửa nhé, phi cơ trưởng?”

Một cột khói dày đen kịt bốc cao lên tận máy bay, và họ có thể cảm nhận được hơi nóng khủng khiếp đang dâng lên từ bên dưới. Họ có thể ngửi thấy mùi khói và thứ gì đó còn khó chịu hơn qua những chiếc mặt nạ ôxy. Khi họ trở về phi đoàn, họ phát hiện ra lớp kính perspex[183] của chiếc Q-Queenie đã bị bao phủ dưới một lớp muội khói mỏng.

Khói và muội khói đã dâng lên cao hàng nghìn mét trên không trung để bủa vây họ. Ngoài ra còn có một thứ khác nữa mà Teddy sẽ không bao giờ quên và cũng chẳng bao giờ có thể nhắc đến được - mùi thịt cháy bốc lên từ giàn thiêu.

Khi đó, trong thâm tâm, anh biết rằng một ngày nào đó anh sẽ phải trả giá.

Thi thoảng một chiếc chiến đấu cơ của Đức sẽ thâm nhập vào đội hình máy bay ném bom khi họ bay qua biển Bắc để trở về - một thủ đoạn cực kì đê tiện. Nó có thể bắn hạ một chiếc máy bay đang trên đường về nhà hoặc thậm chí đang chuẩn bị hạ cánh, khi sự an toàn đang ở ngay trước mắt họ. Sau trận Hamburg vài tuần, sau những chuyến luồn lách né tránh hàng tháng trời, cuối cùng chiếc Q-Queenie cũng bị tóm gọn trên đường trở về từ một cuộc không kích ở Berlin.

Chặng đường dài trở về từ Thành phố Lớn khá vất vả khiến cả tổ bay đều buồn ngủ và lạnh cóng. Họ đã ăn sô cô la, uống cà phê, uống những viên thuốc giúp tỉnh táo, và thở phào nhẹ nhõm khi cuối cùng cũng nhìn thấy ngọn đèn đỏ trên chóp nhà thờ của ngôi làng gần phi trường nhất. Teddy đoán chừng ngọn đèn đó được thắp lên để ngăn họ đâm vào nóc nhà thờ, nhưng họ luôn coi nó là ngọn hải đăng dẫn lối cho họ về nhà. Những ngọn đèn hai bên đường băng sáng lên, và họ nghe thấy giọng nói vui vẻ của một cô gái WAAF trên đài kiểm soát không lưu cho phép họ hạ cánh, nhưng cô vừa mới dứt lời thì những ngọn đèn hai bên đường băng bất chợt tắt phụt, cả phi trường chìm trong cảnh tối tăm, và trên radio vang lên thông báo có kẻ xâm nhập.

Teddy tắt đèn của chiếc Q-Queenie và kéo cần điều khiển để chiếc phi cơ lại bay vọt lên. Tới nơi nào đó, bất cứ đâu ngoài nơi này, bởi vì anh có thể nhìn thấy những chùm đạn lửa vút qua trước mặt họ, rồi các xạ thủ hét lên rằng có kẻ địch, nhưng dường như cả hai người họ đều không biết kẻ địch đó đang ở đâu, vậy nên những khẩu súng của họ đang nhả đạn bừa bãi khắp bầu trời. Họ đang ở quá thấp nên không thể lộn vòng theo đường xoắn ốc, tốc độ cũng quá chậm, không đủ để làm bất cứ điều gì, và anh nghĩ có lẽ điều tốt nhất anh có thể làm là hạ cánh bừa xuống bất cứ thứ gì bên dưới họ.

Trước khi anh kịp làm gì, chiếc chiến đấu cơ đã nã hỏa pháo liên tục vào chiếc Q-Queenie. Càng má của nó hẳn đã trúng đạn bởi vì họ phải hạ cánh bằng một bánh xe và chiếc máy bay nghiêng về một bên, một cánh hướng lên cao, một cánh chúc xuống đất, và họ trượt ra khỏi đường băng, lao rầm rầm qua một cánh đồng trước khi đâm sầm vào một cái cây mà tất cả bọn họ đều thề là chưa bao giờ thấy ở đó, nhưng nó vẫn sừng sững đủ để khiến họ lộn nhào như một con côn trùng khổng lồ, và cả thế giới bên trong chiếc Q-Queenie đều bị lộn ngược.

Đằng sau Teddy vang lên rất nhiều tiếng rên rỉ, nhưng đó là tiếng rên rỉ của những người bị hất văng đi, thâm tím và bầm giập, chứ không phải của những kẻ bị thương chí mạng. Anh có thể nghe thấy những lời chửi rủa giận dữ bằng tiếng Na Uy. Chỉ có Keith là im lặng, và Sandy Worthington cùng anh chàng xạ thủ người Geordie ở tháp pháo giữa đá tung cánh cửa thoát hiểm vốn ở dưới - nhưng bây giờ lại ở bên trên - và kéo cậu ta qua đó.

Khi họ ra khỏi chiếc máy bay chổng ngược, những ngọn đèn hai bên đường băng lại sáng lên. Teddy ngạc nhiên khi thấy họ vẫn đang ở trong phạm vi của phi trường, xe cứu thương cùng xe cứu hỏa đang lao như bay về phía họ. Ngoại trừ việc họ bị lộn ngược - hoặc có lẽ bởi vì điều này - đây quả là một cú hạ cánh ngoạn mục. Vì “hành động quả cảm” này, trên chiếc áo đồng phục của Teddy lại có thêm một dải ruy băng biểu chương nữa - đi kèm tấm huân chương DFC[184] của anh.

Keith đã bị mất nhiều máu, cậu ta bị trúng đạn từ trước khi họ đâm vào thân cây. Cậu ta im lìm như đã chết, mặc dù đôi mắt mở he hé và ngón tay út đang rung rung. Không có lời trăng trối nào cả. Thôi, chúc anh may mắn.

Họ đặt cậu ta trên mặt đất và Teddy kéo cậu ta lên đùi mình, lóng ngóng ôm cậu ta trong tay như hình ảnh Đức mẹ Sầu bi tàn khốc. Vận may của Keith không còn ngược đời. Và nó đã cạn kiệt. Teddy biết cậu ta sẽ chẳng cầm cự nổi quá vài giây nữa. Anh nhìn khoảnh khắc ấy đến khi ngón tay cậu ta ngừng rung rung và đôi mắt mở hé mất đi ánh sáng, và anh tiếc rằng mình không thể nghĩ ra bất cứ điều gì nói với Keith để có thể giúp cậu ta cảm thấy khá hơn khi phải rời bỏ cõi đời này. Nhưng quả thực có nói gì cũng vậy cả thôi, đúng không?

Khi Teddy trở về doanh trại, anh cởi bộ đồng phục lấm lem máu và dốc hết các đồ vật trong các túi ra. Thuốc lá, con thỏ rừng bằng bạc và, cuối cùng, bức ảnh chụp anh, Nancy và con chó trong chuyến đi dạo bên bờ biển. Trên đầu tấm ảnh có một vết bẩn vẫn còn ướt. Là máu của Keith. Nó có vẻ quý giá, như một thánh tích. Sau này, khi cháu gái của Teddy hỏi dấu vết đó là gì, Teddy đã trả lời là “Trà”, không phải vì sợ cô sẽ không còn hứng thú nữa, mà vì đó là chuyện riêng tư của Teddy.

Anh chỉ bộc lộ những cảm xúc của mình với con chó, vùi mặt vào lớp lông ở cổ nó để kìm nén sự xúc động. Nó chịu đựng một lúc rồi vùng vẫy thoát ra khỏi vòng tay anh.

“Tao xin lỗi.” Teddy nói, tự trấn tĩnh lại.

Nhưng đó là chuyện của vài tuần sau, là chuyện trong tương lai. Còn bây giờ, hiện tại, trong Phòng hòa nhạc Hoàng gia Albert, Beethoven đang “tiến hành trọng trách bí mật của mình”[185] đối với Teddy.

Teddy quyết định chỉ cảm thụ âm nhạc và ngừng tìm kiếm những lời lẽ để miêu tả nó, cho đến khi phần bốn của bản giao hưởng bắt đầu và Roy Henderson, giọng nam trung, cất tiếng hát (O Freunde![186]), tóc gáy anh liền dựng đứng hết cả. Bên cạnh anh, Ursula gần như run lên vì xúc động, giống như một chiếc lò xo cuộn xoắn, một con chim sẵn sàng bật lên khỏi mặt đất vào bất cứ lúc nào. Khi phần cuối cùng của bản giao hưởng sắp kết thúc, khi sức mê hoặc tuyệt diệu của nó khiến người ta gần như không thể chịu đựng nổi, Teddy có cảm giác kỳ cục rằng anh có thể sẽ phải thực sự bám lấy chị gái để ngăn cô bay vào không trung.

Họ rời khỏi Phòng hòa nhạc Albert và bước vào buổi tối êm dịu. Họ im lặng một lúc lâu khi hoàng hôn bủa vây quanh mình.

“Thiêng liêng quá!” Ursula nói, cuối cùng cũng phá vỡ sự im lặng. “Trên đời này vẫn có thứ thần thánh như vậy đấy - không phải Chúa, chúng ta không còn tin vào Chúa, mà là một thứ gì đó. Có phải là tình yêu không nhỉ? Không phải là thứ tình yêu trai gái ngớ ngẩn, mà là thứ gì đó sâu sắc hơn…?”

“Em nghĩ có lẽ đó là một thứ không có tên.” Teddy nói. “Chúng ta muốn đặt tên cho mọi thứ. Có lẽ đó là sai lầm của chúng ta.”

“Và Adam gọi mỗi sinh vật là gì thì nó sẽ là tên của sinh vật đó[187]. Việc có được cái quyền thống trị mọi thứ quả là một lời nguyền khủng khiếp.”

Trong tương lai - bởi vì hóa ra Teddy vẫn có một tương lai - Teddy quyết định rằng anh sẽ cố gắng luôn sống tử tế. Đó là điều tốt nhất mà anh có thể làm. Đó là tất cả những gì anh có thể làm. Và suy cho cùng, thứ mà họ cho là siêu nhiên kia có thể đúng là tình yêu.

Chu thich

[170] Chỉ những người sống ở vùng Tyneside (miền Đông Bắc nước Anh).

[171] Tiếng Pháp, nghĩa là “cuối thế kỷ”, thường dùng để chỉ cuối thế kỷ XIX.

[172] Amy Johnson (1903 - 1941): nữ phi công người Anh đầu tiên bay một mình từ Anh tới Úc.

[173] Người đứng đầu một tỉnh ở Đức thời Hitler cầm quyền.

[174] Một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, vì phạm tội bất kính với nữ thần Artemis mà bị nàng xử phạt.

[175] Từ lóng chỉ người Đức.

[176] Món tráng miệng làm bằng ruột bánh mì và sữa có thêm lòng trắng trứng và đường.

[177] Một hệ thống định vị vô tuyến được Không lực Hoàng gia Anh sử dụng trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.

[178] Lễ hội được tổ chức vào đêm mồng 5 tháng 11 hằng năm ở Anh, có đốt lửa và bắn pháo hoa để kỷ niệm sự kiện Guy Fawkes định cho nổ tung trụ sở nghị viện Anh.

[179] Tiếng Đức, nghĩa là “tất cả mọi người đều sẽ là anh em”.

[180] Cain và Abel là hai người con trai đầu của Adam và Eva. Người anh Cain trồng trọt, còn người em Abel chăn gia súc. Khi hai người hiến tế lên Thiên Chúa, Ngài yêu thích lễ vật của Abel hơn. Sau đó, Cain đã giết hại Abel, gây nên cái chết đầu tiên của nhân loại.

[181] Tên gọi tắt của Geheime Staatspolizei, là lực lượng cảnh sát bí mật (hoặc Mật vụ) của tổ chức SS do Đức Quốc xã lập ra.

[182] Tên một thành phố thuộc Palestine cổ đại, vì quá xấu xa và trụy lạc mà đã bị Đức Chúa trời thiêu hủy.

[183] Một chất dẻo trong, nhẹ, dai, làm kính máy bay.

[184] Distinguished Flying Cross: Huân chương chữ thập cao quý vì thành tích đặc biệt khi phục vụ trong không quân.

[185] Tác giả lấy ý từ bài thơ Frost at Midnight (Tạm dịch: Sương giá nửa đêm) của Samuel Taylor Coleridge.

[186] Tiếng Đức, nghĩa là “Hỡi các bạn!”

[187] Trích sách Sáng thế ký, quyển sách đầu tiên trong Cựu ước.

[188] Nguyên văn là “heads”, có nghĩa là những cái đầu, nhưng còn có nghĩa là những cơn nhức đầu.

[189] Nancy dùng từ trong bài thơ I Wandered Lonely as a Cloud (Tạm dịch: Tôi lang thang lẻ bóng như một đám mây) của William Wordsworth, trong đó có nhắc đến thủy tiên hoa vàng.

[190] Trong tiếng Anh, từ blind ngoài nghĩa là cửa chớp, bức mành mành, còn có nghĩa là đui mù.

[191] Trong Kinh thánh chép rằng, trên đường tới thành Damascus, thánh Paul đã bị một luồng sáng chói lọi từ trên trời chiếu vào làm cho bị mù, từ đó ông mới tin theo Chúa.

[192] Trung tâm giải mật mã của Anh thời Chiến tranh Thế giới thứ Hai.

[193] Tên gọi tắt thông dụng của Lực lượng Nữ Hải quân Hoàng gia.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của kate atkinson