Những Chú Chim Chưa Bao Giờ Được Hót

Lượt đọc: 896 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
1980 những đứa con của adam

“Mẹ ơi, con đói.”

Viola đang mải nhìn ra biển nên chẳng nghe thấy lời kêu ca ấy. Lúc đó đã là xế chiều của một ngày nóng như đổ lửa. “Một ngày ở biển!” Dominic đã hồ hởi tuyên bố vào sáng hôm đó. Hồ hởi quá mức, như thể việc đi ra biển có thể làm biến đổi cuộc đời họ theo một cách mơ hồ nào đó. Hầu như không ngày nào là anh ta không nghĩ ra ý tưởng thú vị này hay ý tưởng thú vị nọ, phần lớn trong số đó đều sẽ khiến Viola mệt bở hơi tai. (“Cháu thề rằng hôm nào Dominic cũng nghĩ ra được sáu điều bất khả thi trước bữa sáng!” Dorothy cất tiếng cười thán phục, như thể đó là một điều tốt.) Theo Viola, thế giới sẽ tốt hơn biết bao nếu không có quá nhiều ý tưởng. Cô hai mươi tám tuổi nhưng đã rệu rã quá mức. Hai mươi tám có vẻ là cái tuổi cực kì bất mãn. Cô không còn trẻ nhưng dường như chẳng có ai thực sự coi cô là một người trưởng thành. Lúc nào người ta cũng bảo cô phải làm thế này thế nọ, điều đó mới đáng bực làm sao! Cô dường như chỉ có quyền lực với các con, nhưng ngay cả cái quyền lực ấy cũng bị giới hạn bởi vô số cuộc đàm phán bất tận.

Họ đã mượn chiếc xe bán tải của Dorothy cho cuộc hành trình dài năm dặm này và nó bị hỏng (chẳng có gì đáng ngạc nhiên) khi còn cách bãi biển một dặm.

Một người lái ô tô đi ngang qua, đó là một ông lão trông khá hom hem đang điều khiển một chiếc xe hơi Morris Minor cũ kĩ. Ông đã dừng lại, làm một thao tác đơn giản dưới mui xe và - a lê hấp - chiếc xe bán tải đã được sửa xong. Vị cứu tinh của họ là một người nông dân địa phương, một trong những người hàng xóm của họ, và cả ông ta lẫn chiếc Morris Minor đều khỏe khoắn hơn vẻ bề ngoài. Chỉ có lũ trẻ nhận ra ông ta nhưng chúng không tỏ dấu hiệu gì, chúng đang choáng váng vì quá nóng nực và rầu rĩ khi chiếc xe bán tải của Dorothy bị hỏng lần thứ ba trong tháng.

“Cậu vẫn cần đưa nó đến một xưởng sửa chữa.” Ông nông dân nói với họ. “Những gì tôi làm chỉ là tạm thời thôi.”

Dominic thốt lên một câu triết lý: “Ôi dào, tất cả mọi thứ đều chỉ là tạm thời.”

Trong đầu ông nông dân hiện lên hình ảnh những ngọn núi sừng sững không thể di dời và những ngôi sao di chuyển tuần hoàn trên bầu trời, chưa kể khuôn mặt của Chúa, nhưng ông không muốn tranh cãi. Ông ngẩn ngơ bởi lũ trẻ lôi thôi lếch thếch (phảng phát bóng dáng của những người nghèo thời Nữ hoàng Victoria) đang ngồi rầu rĩ bên vệ đường cùng với mẹ chúng, trông cô giống như Đức mẹ Đồng trinh trẻ tuổi đầu bù tóc rối trong bộ đồ có vẻ vừa được lôi ra từ một cái rương quần áo.

Cô đã vội vội vàng vàng mặc lên người bộ trang phục nhái dân gypsy - khăn quấn đầu kiểu nông dân, đôi bốt DM, váy nhung dài, áo jacket thêu kiểu Anh Điêng đính những mảnh gương nhỏ xíu - mà không nghĩ đến cái thực tế rằng họ sẽ tới một bãi biển trong thời tiết nóng bức và trời sẽ càng lúc càng nóng bức hơn nữa. Cô đã sấp sấp ngửa ngửa thu thập mọi thứ cần thiết cho chuyến xuất hành này - thức ăn, nước uống, khăn tắm, đồ bơi, rồi lại thêm thức ăn, thêm khăn tắm, đổi bộ quần áo này lấy bộ quần áo khác, xô, xẻng, lại thêm thức ăn, thêm quần áo, lưới đánh cá, một quả bóng nhỏ, thêm đồ uống, một quả bóng to, kem chống nắng, mũ, những miếng vải flannel ướt được vắt và nhét vào trong một cái túi bóng, một tấm thảm để trải ra ngồi - thế nên cô chỉ đơn giản khoác lên người bộ quần áo đầu tiên mà cô có thể tìm thấy.

“Chúc một ngày tốt lành.” Ông lão nói, nghiêng chiếc mũ vải tuýt với Viola.

“Ngày hôm nay có thể tốt lành được sao?” Cô nói.

Trong lúc đó, người chủ gia đình chẳng biết gì về máy móc đang hành động như một thằng ngốc, anh ta cứ nhảy nhót loanh quanh trên đường như một chú hề. Anh ta đang mặc một cái áo phông màu loang và chiếc quần jean vá chằng vá chịt, ngay cả ở những chỗ không cần vá, Viola rất ghét chiếc quần này vì cô chính là người phải làm cái việc khâu vá ấy. Ngay đến ông nông dân cũng cảm nhận được phong cách của cả gia đình họ đã lỗi thời đến vô phương cứu chữa. Ông đã nhìn thấy bộ mặt của cái tương lai nổi loạn này - các thanh niên địa phương diễu hành ở vùng ngoại ô, quần áo te tua rách rưới, xỏ khuyên và cài kim băng, bám sát gót họ là những đứa trẻ vị thành niên theo chủ nghĩa khoái lạc hóa trang thành cướp biển, những kẻ ngoài vòng pháp luật và những người thuộc phe Bảo hoàng trong cuộc Nội chiến. Khi ông nông dân ở độ tuổi của họ, ông đã ăn mặc như cha mình và chưa bao giờ phải đắn đo về chuyện đó.

“Chúng tôi là những đứa con của thập niên sáu mươi.” Viola thường nói vậy trong những năm sau này, như thể điều đó khiến cô trở nên thú vị hơn. “Những đứa con của hoa[29]!” Mặc dù khi thập niên sáu mươi kết thúc, Viola vẫn còn mặc bộ đồng phục màu xám của trường Quaker[30], và thi thoảng lắm mới đội lên đầu vòng hoa cúc đầy vẻ trẻ con mà cô bện từ những bông hoa bứt ở rìa sân bóng vợt của trường.

Cô châm một điếu thuốc cuốn mỏng manh và rầu rĩ ngẫm nghĩ về nghiệp chướng dường như đang bám lấy số mệnh của cô. Cô rít mạnh một hơi thuốc lá rồi hếch cằm lên để khói không phả xuống đầu bọn trẻ, ra vẻ rằng mình là một bà mẹ có trách nhiệm. Khi Viola mang thai lần đầu (đứa bé trong bụng cô lúc đó là Sunny), cô đã không biết thiên chức làm mẹ sẽ đòi hỏi ở cô những gì trong tương lai. Cô không chắc mình từng nhìn thấy một đứa trẻ, nói gì đến việc bế ẵm nó, và hình dung rằng việc đó sẽ giống như nuôi một con mèo hay cùng lắm là một con chó con. (Hóa ra nó chẳng giống cả hai điều đó.) “Quán tính” là lời biện minh duy nhất của cô khi một năm sau, cô lại thấy mình mang thai, đứa trẻ lần này là Bertie.

“Đúng là vị cứu tinh của chúng tôi!” Dominic cười toe toét khi động cơ kêu lên khùng khục. Anh ta quỳ xuống trước mặt ông nông dân, hai bàn tay chắp lại cao quá đầu trong tư thế vái lạy và dập đầu xuống mặt đường trải đá răm. Viola tự hỏi phải chăng anh ta đã dùng LSD[31] - không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra điều đó vì cuộc sống của anh ta giống như một chuyến phiêu du dài bất tận, khi thì hưng phấn, như lơ lửng trên chín tầng mây, lúc lại trầm lặng như vừa rơi xuống đáy vực thẳm.

Chỉ đến khi giai đoạn này của cuộc đời cô kết thúc, Viola mới nhận ra rằng anh ta là một người mắc chứng rối loạn lưỡng cực. Thuật ngữ “lưỡng cực” xuất hiện quá muộn đối với Dominic. Lúc đó anh ta đã chết rồi. “Đi bộ trước mặt một đoàn tàu có thể gây ra cái chết cho ta.” Viola cợt nhả nói với nhóm nhạc công nữ chuyên chơi trống ở Leeds, nơi cô đang nghiên cứu về chủ đề “nữ quyền thời kỳ hậu phản văn hóa” để lấy tấm bằng thạc sĩ ngành Phụ nữ học theo một chương trình học bán thời gian. (“Hả?” Teddy nói.) Miền Bắc ở thập niên tám mươi là môi trường thuận lợi cho sự nổi loạn.

“Một thằng ngốc nhăn nhăn nhở nhở.” Ông nông dân kể với vợ khi về đến nhà. “Nhưng cũng có vẻ quý phái. Cứ tưởng người giàu phải khôn ngoan chứ.”

“Chẳng phải cứ giàu có là khôn ngoan đâu.” Bà vợ ông nông dân nói với vẻ từng trải.

“Tôi đã muốn mang cả nhà họ về đây, đãi họ một đĩa giăm bông với trứng và mời họ tắm nước nóng.”

“Chắc họ đến từ công xã.” Bà vợ nói. “Tội nghiệp bọn trẻ.” “Bọn trẻ” từng xuất hiện ở cửa nhà họ hồi mấy tuần trước. Lúc đầu, bà vợ ông nông dân tưởng chúng là dân gypsy đến để ăn xin nên đã định đuổi chúng đi, thế rồi bà nhận ra chúng là lũ trẻ sống ở trang trại bên cạnh. Bà đã mời chúng vào nhà, đãi chúng sữa với bánh, dạy chúng rải thức ăn cho ngỗng rồi dẫn chúng đi tham quan khu vắt sữa bò Red Devons.

“Tôi nghe nói họ hút ma túy và khỏa thân nhảy nhót dưới ánh trăng.” Ông nông dân nói. (Đúng vậy, nhưng điều đó không thú vị như ta tưởng đâu.)

Trước lúc lái xe đi, ông nông dân không hề nhìn thấy Bertie. Cô bé vẫn đang ngồi bên vệ đường, lịch sự vẫy tay với cái đuôi xe Morris Minor đang rời xa.

Bertie ước gì ông ta mang theo mình về nhà. Cô bé từng nhìn trộm qua cánh cổng có năm thanh chắn và ngưỡng mộ những cánh đồng ngay hàng thẳng lối của ông ta - những con bò bóng mẩy và những con cừu trắng mịn như thể chúng vừa mới được tắm rửa. Cô bé cũng từng nhìn thấy ông nông dân đội chiếc mũ nỉ mềm tả tơi, ngồi trên cái máy kéo màu đỏ giống như trong truyện, rì rì lăn bánh xuôi ngược khắp những cánh đồng ngay hàng thẳng lối ấy.

Có một lần, khi không bị giám sát, cô bé và Sunny từng tha thẩn đi vào sân trại của họ. Bà vợ ông nông dân đã cho chúng ăn bánh, uống sữa và gọi chúng là “những đứa trẻ tội nghiệp”. Bà ấy đã dẫn chúng đi xem những con bò màu đỏ to lớn đang được vắt sữa (quả là một điều kỳ diệu!), rồi chúng được uống sữa vẫn còn ấm ngay ở khu vắt sữa đó. Sau đó, bà vợ ông nông dân dẫn chúng đi cho ngỗng ăn, những con ngỗng trắng to lớn cứ kêu quàng quạc đầy kích động quanh chân Bertie và Sunny khiến chúng bật cười khanh khách. Mọi chuyện đã rất tuyệt vời cho đến khi Viola xuất hiện như một đám mây đen để đưa chúng về nhà và bộc phát chứng thở gấp khi nhìn thấy lũ ngỗng. Cô ghét ngỗng, vì một lý do bí ẩn nào đó.

Bertie đã nhanh tay nhặt được một chiếc lông ngỗng và mang nó về nhà để làm bùa may. Chuyến viếng thăm này giống như một câu chuyện cổ tích đối với cô bé, và cô bé luôn ước ao rằng mình có thể tìm được đường trở lại ngôi nhà trại kỳ diệu ấy. Hoặc được chở đến đó trong một chiếc Morris Minor cũ kỹ.

“Đói lắm rồi, mẹ ơi.”

“Con lúc nào chẳng đói.” Viola tươi tỉnh nói, cố gắng làm gương để chứng minh cho con trai thấy rằng không nhất thiết lúc nào cũng phải rên rỉ. “Thử nói lại mẹ nghe xem nào: “Mẹ ơi! con đói rồi ạ, mẹ có gì để ăn không ạ, thưa mẹ?” Ngài Lễ Độ sẽ nghĩ gì nào?”

Ngài Lễ Độ, cho dù ngài ta là ai, luôn bám sát cuộc sống của Sunny, đặc biệt là trong chuyện ăn uống.

Sunny lúc nào cũng kêu ca, Viola nghĩ, cái tên của thằng bé cứ như một biệt danh châm biếm vậy. Cô vẫn đang cố gắng giúp thằng bé có giọng điệu tươi vui hơn. “Con hãy rạng rỡ lên!” Cô thường nói, hoa tay múa chân và khuôn mặt tỏ ra vui vẻ quá mức. Hồi cô còn đi học trường Mount ở York, giáo viên kịch nghệ của họ thường làm điều này. Họ đã nghĩ đó là một ý tưởng kỳ quặc, nhưng bây giờ Viola có thể thấy được giá trị của việc tỏ ra vui vẻ ngay cả khi ta không muốn. Trước hết, ta có nhiều khả năng đạt được những gì ta muốn hơn. Thứ hai, mẹ ta sẽ không muốn bóp cổ ta sau mỗi năm phút. Tuy nhiên, thế không có nghĩa là cô tuân theo lời khuyên của giáo viên kịch nghệ kia. Đã lâu lắm rồi Viola không tỏ ra rạng rỡ. Nếu cô từng có khi nào làm vậy.

“Con đói.” Sunny kêu ca dữ dội hơn. Cậu có cái thói quen khủng khiếp là cắn răng khi tức giận. Cậu còn cắn người khi thực sự kích động. Viola vẫn co rúm lại vì kinh hãi khi nhớ đến chuyến viếng thăm cha cô ở miền Bắc vào năm ngoái nhân dịp sinh nhật Sunny. Chuyến đi ấy không có Dominic, đương nhiên, anh ta không làm những việc gì liên quan đến gia đình. “Gia đình ư?” Cha cô hỏi. “Nó không làm “những việc gì” liên quan đến gia đình ư? Nhưng nó một gia đình đấy thôi. Con này. Các con của nó này. Chưa kể cha mẹ, anh chị em của nó.” Dominic bị cha mẹ mình “từ mặt”, đây là điều khiến Teddy lo lắng.

“Không, ý con là những việc truyền thống trong gia đình.” Viola nói. (Phải, Viola đang quá lạm dụng từ “gì” và nói năng quá vắn tắt). Nếu Dominic không phải là cha của các con cô, chắc Viola đã ngưỡng mộ anh ta vì anh ta có thể dễ dàng phủi bỏ hết mọi trách nhiệm, với cái cớ là anh ta có quyền theo đuổi những ước mơ và thú vui của riêng mình.

Sunny đã cáu um lên lúc ông ngoại giúp cậu thổi nến trên bánh sinh nhật. Viola đã làm cái bánh ấy vào buổi sáng hôm đó trong căn bếp của cha mình, rồi xếp dòng chữ “Chúc mừng sinh nhật, Sunny” bằng những viên kẹo Smarties trên mặt bánh. Nhưng cô vụng về đến nỗi khiến cha cô tưởng rằng Bertie mới là người trang trí cái bánh.

“Khi nào chúng ta mới được ăn bánh vậy?” Sunny mè nheo. Cậu đã phải chịu đựng (tất cả bọn họ đều phải chịu đựng) món mì ống (làm từ bột chưa rây) kèm pho mát khó tiêu mà Viola đã làm. Đối với Sunny, món mì ống không phải dành cho ngày sinh nhật. Hơn nữa, đây là cái bánh của cậu mà.

“Ngài Lễ Độ sẽ không thích nghe giọng điệu đó đâu.” Viola nói.

Ngài Lễ Độ ấy là ai nhỉ? Teddy tự hỏi. Ông ta có vẻ đã tiếm quyền làm mẹ của Viola.

Viola cắt bánh và đặt một miếng trước mặt Sunny, cô chẳng hiểu tại sao thằng bé lại lao bắn về phía trước như một con rắn hổ lục và ngoạm vào cánh tay cô. Chẳng kịp nghĩ ngợi gì, cô dang tay tát thẳng vào mặt thằng bé. Cú sốc khiến thằng bé im bặt, chỉ trong một giây mà như kéo dài bất tận, cả căn phòng nín thở, chờ đợi tiếng kêu gào đinh tai nhức óc vang lên. Như thường lệ.

“Hừ, nó cắn con đau.” Viola chống chế khi nhìn thấy vẻ mặt của cha mình.

“Thằng bé mới năm tuổi, vì Chúa, Viola.”

“Nó phải học cách tự kiểm soát bản thân.”

“Con cũng vậy.” Cha cô nói, bế Bertie lên như thể cô bé cũng cần được bảo vệ trước hành vi bạo lực của mẹ mình.

“Hừ, con mong đợi gì chứ?” Viola gắt gỏng với Sunny, che giấu nỗi xấu hổ và hối hận về hành vi đáng trách của mình. Tiếng gào giờ đã biến thành tiếng rú, những giọt nước mắt đau đớn và buồn tủi nhoe nhoét trên khuôn mặt dính bánh kem sô cô la của Sunny. Cô cố gắng bế thằng bé, nhưng khi cô vừa choàng hai tay quanh người nó và nhấc nó lên, cơ thể nó liền gồng cứng lại khiến cô không thể nào giữ nổi nó. Khi cô đặt nó trở lại mặt đất, nó bắt đầu đá cô.

“Con không thể đá và cắn người khác mà không nghĩ đến hậu quả.” Viola nói, nghiêm khắc như một bà vú thời cổ, không để lộ chút dấu hiệu nào của mớ cảm xúc hỗn độn đang chiếm ngự trong lòng cô. Cô cảm thấy có một con quỷ đang quằn quại bên trong cô. Con quỷ ấy thường nói qua đôi môi nhăn nheo của Bà Vú Nghiêm Khắc. Ông Lễ Độ rụt rè ngồi xuống đằng sau Bà Vú Nghiêm Khắc ấy.

“Có, con có thể!” Sunny rống lên.

“Không, con không thể.” Bà Vú Nghiêm Khắc điềm tĩnh nói. “Bởi vì một ông cảnh sát to lớn sẽ đến nhà và bắt con đi, tống con vào tù, nhốt con ở đó đến hết đời.”

“Viola!” Cha cô nói. “Vì Chúa, hãy kiềm chế! Nó còn nhỏ mà.” Ông giơ tay ra với Sunny và nói: “Nào, đi với ông đi, ông sẽ kiếm cho cháu một chiếc kẹo.”

Chẳng phải ông vẫn luôn là tiếng nói của lý trí sao? Hay đúng hơn là “Tiếng nói của Lý trí”, Viola thầm viết hoa biệt danh của cha mình như trong kinh Cựu ước. Cái Tiếng nói của Lý trí ấy vẫn luôn cằn nhằn sau lưng cô. Cô cố tình không thừa nhận rằng nó cũng là tiếng thì thầm lo lắng của chính lương tâm cô.

Khi chỉ còn lại một mình ở bàn, Viola bật khóc. Tại sao mọi chuyện luôn kết thúc như thế này? Và tại sao người có lỗi luôn là cô? Chưa từng có ai quan tâm đến cảm giác của cô, đúng không? Ví như chẳng ai làm bánh sinh nhật cho cô. Chẳng ai còn làm bánh sinh nhật cho cô nữa. Trước kia, cha cô vẫn làm bánh cho cô, nhưng cô đã không vui vẻ đón nhận những món quà ông tự tay làm, mà lại thèm loại bánh sinh nhật trong ô kính bày hàng của tiệm Terry’s hoặc Betty’s, hai tiệm bánh nằm đối diện nhau ở hai mặt của quảng trường St Helen, giống như một cặp đối thủ đang nghênh chiến.

Sau này, vào ngày sinh nhật lần thứ năm mươi, Viola tự đặt bánh cho mình ở tiệm Betty’s, khi ấy tiệm Terry’s đã rời khỏi “cuộc chiến” từ lâu. Dòng chữ “Chúc mừng sinh nhật lần thứ năm mươi, Viola” màu tím hoa cà mỏng manh uốn lượn trên nền kem màu trắng. Viola tự mua nó vì bất chấp những lời bóng gió xa gần của bà, Bertie đã không hiểu được tầm quan trọng của việc bà đã sống được một nửa thế kỷ. Khi ấy, Viola đã sống lâu hơn mẹ bà ba năm, nhưng đó không phải là cuộc đua tranh mà bà muốn thắng. Khi ấy, mẹ bà đã lùi vào quá vãng xa xăm. Càng quên lãng mẹ mình bao nhiêu, Viola càng nhớ mong bà bấy nhiêu.

Bà không nói với ai về chiếc bánh sinh nhật lần thứ năm mươi ấy và ăn hết một mình. Nó được để đến hàng tuần lễ mặc dù vào những ngày cuối cùng, nó đã rất chua. Viola tội nghiệp!

Cô nhặt tất cả những viên kẹo Smarties màu cam ra khỏi chiếc bánh của Sunny. Chúng được sản xuất trong một nhà máy ở phía bên kia thành phố - tất cả các viên kẹo, không chỉ riêng những viên kẹo màu cam. Viola từng đi tham quan nhà máy Rowntree’s cùng trường học và nhìn thấy những màu sắc được trộn lẫn vào nhau trong thứ gì đó trông giống như máy trộn bê tông bằng đồng sáng loáng. Vào cuối chuyến tham quan, tất cả bọn họ đều được tặng một hộp sô cô la miễn phí. Hộp sô cô la của Viola chẳng bao giờ được ăn, bởi vì khi cô về đến nhà, cô đã ném nó vào cha cô. Cô không nhớ lý do tại sao. Có lẽ là vì ông không phải là mẹ cô.

Cô mang những cái đĩa bẩn vào bếp và bỏ chúng vào bồn rửa. Qua cửa sổ, cô thấy Sunny và Bertie đang ở trong vườn cùng ông ngoại, ông đang chỉ cho chúng xem những bông thủy tiên hoa vàng. (“Có đến hàng triệu bông hoa!” Sunny hồ hởi nói khi cậu chạy vào nhà.) Viola chăm chú nhìn các con, chúng đang quỳ gối giữa những bông hoa, khuôn mặt bừng lên ánh vàng. Chúng đang cười nói với cha cô. Cảnh tượng ấy khiến cô vô cùng buồn bã. Cô cảm thấy dường như mình đã sống ngoài lề hạnh phúc suốt cả cuộc đời.

“Đói!” Sunny gào lên với cô. Vẫn chăm chú nhìn ra biển như người gác ngọn hải đăng đang tìm kiếm một con tàu đắm, Viola quờ tay ra sau, thò vào trong ba lô và mò mẫm lục lọi trong đó một lúc trước khi lôi ra cái túi giấy đựng những chiếc sandwich còn thừa từ sáng - chúng được làm từ bột lúa mạch nhào chua và nhân là patê Tartex với dưa chuột héo. Sunny nổi khùng vì sự xuất hiện trở lại của món ăn chẳng chút hấp dẫn này. “Con không muốn thứ đó.” Cậu hét lên, ném trả chiếc sandwich cho cô. Cậu nhắm đích không chuẩn và một con chó Labrador tình cờ đi ngang qua đã tợp lấy chiếc bánh, nhai ngấu nghiến trong niềm ngạc nhiên thích thú.

“Xin lỗi, mẹ nghe không rõ?” Viola nói, giọng điệu cô chỉ ra rằng cô chẳng có ý xin lỗi chút nào.

“Con muốn thứ gì đó ngon lành.” Sunny nói. “Mẹ chẳng bao giờ cho chúng con thứ gì ngon lành cả.”

“Cứ đòi hỏi thiếu lễ phép thì chẳng bao giờ được.” Viola nói. (Điều này không đúng với con chó Labrador, Sunny nghĩ.) Dường như Bà Vú Nghiêm Khắc đã cùng đi với họ tới bãi biển. Viola đưa sandwich cho Bertie, cô bé vẫn đang mải mê đào một loạt những cái hố. Bertie nói “Cảm ơn mẹ” vì biết rằng sự lễ phép sẽ khiến mẹ dịu dàng với mình và cô bé thích điều đó. “Không có gì.” Viola nói. Sunny hằm hè trước màn kịch về sự lễ phép này, rõ ràng họ làm vậy chỉ để khiến cậu cảm thấy bẽ mặt. Giống như khi họ chơi trò Các gia đình hạnh phúc (cậu còn quá nhỏ nên chưa hiểu được tính châm biếm của nó), hễ lần nào ta không nói “ạ” và “cảm ơn”, ta sẽ mất Ông Chuột hoặc Bà Chim Cổ Đỏ, ngay cả khi ta chỉ đơn giản là quên mất. “Con ghét mẹ!” Cậu lầm bầm với Viola. Tại sao mẹ không bao giờ dịu dàng với cậu? “Dịu dàng” là lý tưởng của Sunny. Một ngày kia, vốn từ vựng về xã hội lý tưởng của cậu sẽ mở rộng hơn, nhưng bây giờ, cậu chỉ biết dùng từ “dịu dàng”. “Ghét lắm!” Cậu lại nói, với chính mình hơn là với mẹ cậu.

“La la la…” Viola nói. “Mẹ e rằng mẹ không thể nghe thấy lời con.”

Cậu hít sâu một hơi và hét to hết cỡ: “Con ghét mẹ!” Mọi người đều quay lại nhìn.

“Mẹ nghĩ có vài người ở ngoài biển không nghe thấy lời con đâu.” Viola nói với vẻ giả vờ điềm tĩnh khiến Sunny muốn phát điên. Thứ vũ khí mỉa mai lạnh lùng ấy là một mánh khóe độc ác của mẹ cậu mà cậu không có cách nào chống đỡ được. Một cơn bão kéo đến trái tim dông gió của cậu. Cậu như chực nổ tung. Như thế mẹ cậu mới biết mùi.

Hãy nhượng bộ mẹ đi, Sunny, Bertie nghĩ. Anh không bao giờ thắng được đâu. Không bao giờ. Cô bé tiếp tục bình thản đào hố, một tay điều khiển cái xẻng nhỏ cán ngắn, tay kia cầm chiếc bánh sandwich mà cô bé không có ý định ăn. Sau khi lặng lẽ đào được một lúc, cô bé dịch mông sang bên cạnh và bắt đầu đào một cái hố khác, như thể cô bé đã dự tính một kế hoạch trong đầu, mặc dù kế hoạch ấy không nằm ngoài việc đào thật nhiều cái hố trước khi hết ngày.

Bertie được đặt tên thánh là “Moon” - không phải tên thánh, chỉ là “tên” thôi - trong một “nghi lễ đặt tên” do Dorothy bày ra và tổ chức vào ban đêm trong khu rừng đằng sau nhà với sự có mặt của cả công xã. Viola trao đứa con mới sinh đang ngủ yên bình cho Dorothy. Bà ta giơ Bertie lên về phía mặt trăng như thể cô bé là một lễ vật. Trong một thoáng giây kinh ngạc, Viola đã tự hỏi phải chăng con gái cô sắp bị hiến tế. Dorothy nói Bertie có “đặc ân” là đứa trẻ đầu tiên sinh ra trong công xã. “Chúng tôi trao tương lai này cho người.” Bà ta nói với mặt trăng, nhưng mặt trăng vẫn dửng dưng với món quà này. Trời bắt đầu mưa, Bertie tỉnh giấc và òa khóc.

“Giờ thì chúng ta phải ăn mừng!” Dorothy tuyên bố khi họ đi vào trong nhà. Họ ăn dây nhau của đứa bé, đã được Jeanette rán lên với hành tây và mùi tây. Viola từ chối phần ăn của mình - cứ như là ăn thịt người vậy, cực kì đáng ghê tởm.

Và tên của các con cô quả thật là Sun và Moon[32].

May thay, Bertie còn được đặt tên lót theo tên của cụ cô bé. “Moon Roberta ư?” Teddy nói, cố gắng giữ giọng bình thản khi được thông báo tin này trên điện thoại. “Nghe lạ quá!”

“Chà, bố cũng không muốn tên mình trùng với tên người khác, đúng không ạ?” Viola nói. “Đã có quá đủ Sophie và Sarah trên đời này rồi. Con muốn con bé có một cái tên nổi bật và khác biệt.” Teddy thì nghĩ ngược lại, nhưng ông giữ kín suy nghĩ ấy trong lòng. Việc này không kéo dài lâu. Chẳng mấy chốc Sun đã trở thành Sunny, còn Bertie thì tránh bị gọi là Moony bằng cách từ chối đáp lời mỗi khi bị gọi bằng bất cứ cái tên nào liên quan đến mặt trăng, cho đến khi hầu hết mọi người đều quên mất rằng nó là cái tên nằm trong giấy khai sinh của cô bé. Dominic đã rất miễn cưỡng khi đăng ký khai sinh cho cô bé, vì anh ta nghĩ đó là yêu cầu của một “bộ máy quan liêu chuyên chế”, đây cũng chính là lý do anh ta và Viola không kết hôn với nhau.

Người duy nhất Bertie cho phép nhớ đến ý tưởng điên rồ này của cha mẹ cô bé là ông ngoại. Thi thoảng ông gọi cô bé là Bertie Moon, và Bertie cảm thấy cách gọi đó trìu mến lạ thường.

Cô bé “hoàn thành” một cái hố khác, nếu ta có thể nói là “hoàn thành một cái hố”, và thả chiếc bánh sandwich vào trong đó.

Viola đưa cho Sunny cái ba lô và nói: “Ở trong đó có một quả quýt. Đâu đó thôi.” Con trai cô càu nhàu khi nghe nói đến quả quýt.

“Ồ, con ngừng kêu ca đi, được không?” Viola lẩm bẩm, cô vẫn đang mải nhìn ra biển nên không nổi cáu với cậu.

(Tại sao mẹ lại sinh con?” Sau này, Bertie đã hỏi mẹ mình. “Mẹ sinh con chỉ để duy trì nòi giống thôi sao?”

“Đó là lý do người ta sinh con đẻ cái.” Viola nói. “Họ chỉ khoác cho việc đó một ý nghĩa cảm động hơn mà thôi.”)

Viola ước gì cô có ống nhòm. Ánh mặt trời lấp lánh trên mặt nước khiến cô khó nhìn rõ thứ gì. Có rất nhiều người trên biển và từ khoảng cách này, trông họ rất khó phân biệt, người nào người nấy chỉ là những bóng dáng bập bềnh trên mặt nước màu xanh lam như những con hải cẩu lười biếng. Cô bị cận thị nặng nhưng quá tự kiêu nên không chịu đeo kính.

Sunny tạm thời rút khỏi cuộc chiến và trở lại với trò nhặt sỏi. Cậu yêu những hòn sỏi. Cậu thích tất cả các loại đá sỏi, nhưng những hòn sỏi được biển bào nhẵn là tuyệt vời nhất. Cậu không thể tin nổi bãi biển này lại có nguồn sỏi phong phú đến thế. Có lẽ cậu sẽ không thể nhặt được hết sỏi ở đây mất.

“Bố đâu ạ?” Bertie đột nhiên ngẩng lên hỏi.

“Đang bơi.”

“Ở đâu ạ?”

“Đương nhiên là ngoài biển.”

Viola nhận thấy gần chỗ cô đang ngồi có một khúc gỗ trôi dạt trắng ởn và khô giòn, nó thòi lên khỏi mặt cát như một tấm bảng chỉ đường mảnh mai. Cô nhặt nó lên và bắt đầu vơ vẩn vẽ những ký hiệu trên nền cát khô - những ngôi sao năm cánh, những mặt trăng hình lưỡi liềm và những chữ thập ngoặc xấu xa. Cô vừa bắt đầu nghiên cứu về phép thuật. Hay “Ma thuật”[33].

“Ý con là gì - giống như cưa một người phụ nữ làm đôi à?” Teddy ngơ ngác hỏi.

“Là phép thuật bố ạ. Không phải ảo thuật. Mấy thứ đại loại như phép phù thủy, huyền thuật, Pagan giáo. Bài Tarot. Đó không phải là những trò bịp bợm, đó là những gì huyền bí.”

“Bùa chú?”

“Thi thoảng ạ.” Cô khẽ nhún vai.

Đêm qua cô đã xem bài Tarot với Jeanette. Mặt trời, Mặt trăng, Chàng khờ, các lá bài cứ nối tiếp nhau - chúng ám chỉ gia đình của cô. Nữ thượng tế - hiển nhiên là Dorothy. Tòa tháp - một thảm họa, một sự khởi đầu mới chăng? Ngôi sao - một đứa con nữa ư? Lạy trời không phải là như vậy, mặc dù Star[34] là một cái tên đẹp. Dominic đi bao lâu rồi nhỉ? Anh ta vốn bơi giỏi nhưng không giỏi đến mức có thể ở ngoài đó lâu đến thế.

Mặt trời tỏa sáng chói chang. Muốn thi triển ma thuật, ta cần tiến hành vào ban đêm, với một ngọn nến lập lòe trong bóng tối, chứ không phải trong tình trạng phơi nắng quá lâu như thế này. Viola ném khúc gỗ đi và thở dài trước sự nóng bức. Lúc này cô đã cởi giày, áo khoác, váy và khăn trùm đầu nhưng vẫn đang mặc nhiều quần áo hơn bất cứ ai trên bãi biển. Cô chỉ còn mặc một cái váy lót kiểu cổ và một cái áo chẽn dài tay lạc quẻ mà cô kiếm được trong một cửa hàng đồ cũ, chúng đều được thắt ruy băng cầu kỳ và được viền đăng ten. Viola không biết rằng chiếc váy lót này vốn là y phục của một cô nhân viên bán hàng đã chết vì bệnh lao phổi, cô ta hẳn sẽ rất sốc và chẳng hài lòng chút nào khi thấy bộ đồ lót của mình bị phơi bày trên một bãi biển ở Devon.

Viola thôi nhìn ra biển và cuốn một điếu thuốc khác. Cô ghét bãi biển. Hồi cô còn nhỏ, khi gia đình cô vẫn còn là một gia đình đủ đầy, mùa hè nào họ cũng tới những bãi biển ướt át, lạnh lẽo để nghỉ hè. Đó là một sự tra tấn đối với Viola. Đó hẳn là ý kiến của cha cô. Có lẽ mẹ cô sẽ muốn đến một nơi ấm áp và ngập tràn ánh nắng để hưởng thụ, nhưng cha cô có tính cách của một người Thanh giáo, ông coi một bãi biển bên biển Bắc là nơi có lợi cho một đứa trẻ. Cô giận dữ rít điếu thuốc. Tuổi thơ của cô đã bị phá hỏng bởi sự vô lý của ông. Cô nằm ngửa trên cát, nhìn chằm chằm lên bầu trời không một gợn mây, suy ngẫm về sự tẻ nhạt khôn kham của cuộc đời mình. Việc này chẳng mấy chốc cũng trở nên tẻ nhạt, vì vậy cô ngồi dậy và lôi một cuốn sách ra khỏi cái ba lô “không đáy”.

Theo những gì cô còn nhớ, lúc nào cô cũng mang theo bên mình một cuốn sách. Một đứa con một bao giờ cũng thế. Văn chương đã rót vào tuổi thơ cô những mộng tưởng, và thuyết phục cô tin rằng một ngày nào đó cô sẽ là nữ chính trong câu chuyện do chính cô kể. Suốt lứa tuổi hoa niên, cô đã đắm mình vào cuộc sống của thế kỷ mười chín, đi lang thang qua các trảng đất hoang với chị em nhà Brontê, bực tức trước sự tù túng nơi những căn phòng khách của Austen. Dickens là người bạn - khá đa cảm - của cô, George Eliot là người bạn nghiêm khắc hơn. Viola hiện đang đọc lại tác phẩm Cranford. Bà Gaskell sẽ cảm thấy không thoải mái khi ở Cánh Đồng Của Adam, nơi mọi người chỉ đọc những thể loại sách như sách của Hunter S. Thompson hay những cuốn kinh yoga của Patanjali. Viola ngồi trên cát nóng, quấn một lọn tóc quanh ngón tay - đây là một thói quen cố hữu của cô khiến tất cả mọi người khó chịu trừ chính bản thân cô - và tự hỏi tại sao cô không học hành chăm chỉ hơn ở trường đại học thay vì để cho Dominic dẫn dắt lầm đường lạc lối đến nỗi giờ đây chỉ suốt ngày nằm ườn hút ma túy. Đáng lẽ bây giờ cô đã có thể trở thành một giảng viên. Thậm chí là một giáo sư. Ánh mặt trời lóe lên trên những trang sách trắng tinh của bà Gaskell và Viola ngờ rằng cô sắp bị đau đầu. Mẹ cô, về cơ bản, đã chết vì chứng đau đầu.

“Hiệp ước thân thiện” ngắn ngủi giữa họ bị Sunny phá vỡ khi cậu đổi ý về chuyện quả quýt, nhưng thay vì ăn nó, cậu lại ném nó vào Bertie. Hành động này đã dẫn đến một cuộc chiến la hét dữ dội giữa hai đứa trẻ, và cuộc chiến chỉ tạm ngưng khi Viola sử dụng chiến thuật đánh lạc hướng là cho chúng tiền để đi mua kem. Có một chiếc xe bán kem trên lối đi bộ và Viola dõi theo hai đứa trẻ đi về phía đó cho đến khi không còn nhìn thấy chúng nữa. Cô nhắm mắt lại. Năm phút bình yên, liệu đây có phải là sự đòi hỏi quá đáng không?

Viola đang học năm đầu tiên ở một ngôi trường đại học xây bằng bê tông và kính thì gặp Dominic Villiers, một cựu sinh viên trường mỹ thuật. Tuy đã bỏ học nhưng anh ta vẫn còn loanh quanh luẩn quẩn bên lề đời sống học thuật. Anh ta là con dòng cháu giống (Viola phải tra cứu cụm từ này) của một gia đình bán quý tộc. Thói nghiện ngập nổi tiếng, quá khứ từng học trường tư và việc anh ta có cha mẹ giàu có nhưng tuyệt giao với họ để sống cuộc đời của một họa sĩ nghèo khổ, tất cả những điều ấy đã tạo cho anh ta một dấu ấn đặc biệt. Viola, với khát khao nổi loạn và vứt bỏ những xiềng xích của tầng lớp trung lưu tỉnh lẻ - thông qua mối quan hệ với người khác - đã bị thu hút bởi tiếng tăm của anh ta.

Dominic cũng rất điển trai và cô cảm thấy hãnh diện khi anh ta cuối cùng cũng “vồ chụp” lấy cô (dù cho có chút lờ vờ, nếu người ta có thể vồ chụp một cách lờ vờ) sau vài tuần lượn lờ quanh cô và nói “Tới nhà anh chứ?”. Trong căn hộ dơ dáy của anh ta không có bức tranh khắc axít nào, nhưng có rất nhiều tấm toan lớn trông như bị vẩy những màu sắc căn bản lên. “Em có thể nhận ra ư?” Anh ta nói, cảm động vì cô hiểu được kỹ thuật của anh ta. Viola, vốn chẳng hiểu gì về nghệ thuật, không thể ngừng nghĩ rằng “Nhưng ngay cả mình cũng có thể làm được điều đó mà”.

“Chúng có bán được không?” Cô ngây thơ hỏi và nhận được một bài giảng kiên nhẫn về việc “làm biến chất mối quan hệ trao đổi giữa nhà sản xuất và người tiêu thụ”.

“Ý anh là cho không?” Cô ngơ ngác nói. Vì là con một nên cô chẳng bao giờ cho đi thứ gì.

“Ơ!” Sau một hồi mải mê chiêm ngưỡng tác phẩm của mình, anh ta ngoảnh lại và kêu lên một tiếng khi thấy cô đang nằm lõa thể trên tấm ga cáu bẩn.

Anh ta sống nhờ tiền trợ cấp và nói rằng điều đó thật là tuyệt, bởi vì như thế có nghĩa là nhà nước đang trả tiền cho anh ta để sáng tác nghệ thuật.

“Ý cậu là, người đóng thuế?” Teddy nói. Viola lần lữa mãi mới mang “bồ” của mình về nhà (cách gọi của Teddy, ông đã tìm kiếm một từ vô thưởng vô phạt) vì sợ rằng quan điểm bảo thủ thầm kín của cha cô và sự ngăn nắp gò bó của ngôi nhà ở York sẽ ảnh hưởng xấu đến cô. Cô cảm thấy chán ghét khi nghĩ đến mảnh vườn của cha mình. Ông đã trồng những luống hoa ngay hàng thẳng lối, gồm hoa xô đỏ, hoa ngàn sao và hoa lỗ bình với những sắc màu đỏ, trắng và xanh lam. Tại sao ông không trồng chúng thành hình quốc kỳ Anh chứ? “Bố trồng chúng không phải vì lòng yêu nước.” Ông phản đối. “Bố chỉ nghĩ rằng mấy màu đó hợp với nhau thôi.”

“Những khu vườn…” Dominic nói.

Teddy chờ anh ta nói hết câu nhưng anh ta chẳng nói gì nữa. “Cậu thích chúng ư?” Ông nhắc anh ta.

“Vâng, chúng thật tuyệt vời. Người nhà cháu có một mê cung.”

“Mê cung?”

“Vâng.” Dominic có một điều đáng khen là luôn tự hào về tư tưởng tuân theo chủ nghĩa quân bình của mình. “Công tước hay công nhân vệ sinh…” Anh ta nói. “… Với cháu đều như nhau cả.” Mặc dù Viola ngờ rằng anh ta quen biết nhiều công tước hơn là công nhân vệ sinh. “Người nhà” của anh ta, như cách anh ta gọi họ, sống ở sâu trong lòng Norfolk và thuộc về một dòng họ chuyên nghề săn bắn và chài lưới, có chút dây mơ rễ má với hoàng gia “một cách không chính thống”. Viola chưa bao giờ gặp họ. Ngay cả sau khi cô sinh Sunny và Bertie, họ vẫn kiên quyết cắt đứt liên lạc với Dominic. “Họ không muốn gặp cháu nội của họ ư?” Teddy nói. “Buồn thật đấy.”

Viola đã cảm thấy nhẹ nhõm. Cô ngờ rằng cô sẽ không bao giờ vừa mắt “người nhà” của anh ta. Teddy hỏi nguyên nhân chính xác khiến anh ta bị gia đình từ mặt là gì. “Ồ, bác biết đấy, toàn lý do quen thuộc - ma túy, hội họa, chính trị. Họ nghĩ cháu là kẻ rác rưởi, còn cháu nghĩ họ thật phát xít.”

Khi Teddy và Viola cùng nhau rửa ráy nồi niêu xoong chảo sau bữa ăn gồm món sa lát giăm bông và bánh táo vụn mà ông đã làm vào sáng hôm đó, ông nói “Chà, dù sao đi nữa, trông cậu ta cũng điển trai” sau khi tìm kiếm một ưu điểm đáng khen ngợi ở anh ta. Teddy rất “khéo tay” trong chuyện bếp núc. (“Bố phải tự công nhận như vậy.”) Dominic đang “chợp mắt” trong phòng khách. “Nó mệt quá hả?” Teddy nói. Viola chưa bao giờ nhìn thấy bố mình ngủ, dù là ngủ gà gật hay ngủ trên ghế tắm nắng.

Khi Dominic tỉnh giấc, vì Teddy không thể nghĩ ra điều gì khác (không hiểu sao ông không thể tưởng tượng ra cảnh Dominic chơi cờ), ông đã lấy ra cuốn album ảnh chứa đựng những hình ảnh ngây ngô của con gái ông ở nhiều độ tuổi và nhiều góc độ khác nhau. Viola chưa bao giờ tự nhiên khi đứng trước một cái máy ảnh. “Ở ngoài, trông con bé xinh đẹp hơn nhiều.” Teddy nói.

“Vâng, rất gợi cảm.” Dominic nói, thậm chí còn liếc mắt đưa tình với cô. Viola có chút hãnh diện. Cô nhận thấy cha cô cau mặt trước câu nói và những ẩn ý của Dominic. Bố hãy quen với việc đó đi, cô nghĩ. Bây giờ con đã là một người phụ nữ trưởng thành rồi. (“Tôi làm tình, do đó tôi tồn tại.” Cô đã viết vào trang đầu cuốn Luận bàn về phương pháp của Descartes, bản in của Penguin Classics, và hài lòng về tư tưởng đả phá của mình.)

Cô là người tiếp theo trong cả một hàng dài những cô bạn gái của Dominic, và không bao giờ hiểu được tại sao anh ta dừng lại ở cô. Nhưng hóa ra không phải dừng hẳn - chỉ là tạm dừng mà thôi. “Tuy nhiên em là người duy nhất khiến anh luôn trở về nhà.” Anh ta nói. Giống như một con chó, cô nghĩ, nhưng không phải là không có chút mãn nguyện.

Về cơ bản, họ đều là những người rất lười biếng nên ở bên nhau sẽ dễ dàng hơn là tách nhau ra.

Viola chật vật vượt qua kỳ thi tốt nghiệp và ra trường với tấm bằng hạng ba xoàng xĩnh về Triết học, Hoa Kỳ học và Văn học Anh. “Dù sao thì nó cũng không cần thiết.” Cô nói. “Điều quan trọng ở đời là sống thế nào chứ không phải là bằng cấp giấy tờ ra sao.” Cô không nói với ai về sự thất vọng khôn cùng của mình về kết quả ấy và đã không dự lễ tốt nghiệp, cô nói nó chỉ mang tính hình thức mà thôi.

“Sau này con có thể hối tiếc đấy.” Teddy nói.

“Bố chỉ muốn có một tấm ảnh con đội mũ và mặc áo choàng để treo lên tường nhằm khoe khoang chứ gì.” Cô cáu kỉnh nói.

Chà, điều đó thì có gì sai trái chứ? Teddy tự hỏi.

“Vậy là con sẽ không kết hôn?” Teddy đã ướm hỏi khi Viola nói với ông rằng cô đang mang thai Sunny.

“Thời buổi này chẳng còn ai kết hôn nữa đâu.” Cô tùy tiện nói. “Đó là một quy tắc lỗi thời của giai cấp tư sản. Tại sao con lại muốn bị còng tay với ai đó suốt phần đời còn lại chỉ vì cái xã hội độc đoán yêu cầu con phải làm thế chứ?”

“Ồ, hôn nhân không tệ đến mức ấy đâu.” Teddy nói. “Con sẽ dần quen với cái “còng tay” ấy, như cách con gọi nó.”

Khi Sunny ra đời, họ đang sống trong một ngôi nhà chiếm dụng bất hợp pháp ở London với mười người khác. Họ dùng chung bếp, phòng tắm với những người còn lại, và có một căn phòng mà họ có thể gọi là phòng riêng của mình. Căn phòng ấy được nhồi nhét chật ních những bức tranh của Dominic và tất cả các vật dụng cá nhân của trẻ con. Teddy đã tài trợ cho họ những vật dụng ấy khi ông nhận ra sẽ chẳng có ai khác mua chúng. Ông sợ rằng Viola sẽ chẳng biết một đứa trẻ cần những gì. “Con sẽ cần một cái nôi.” Ông nói với cô. “Và một cái chậu tắm cho trẻ con.”

“Nó có thể ngủ trong một cái ngăn kéo.” Viola nói. “Và con có thể tắm cho nó trong bồn rửa.” (“Vâng.” Dominic đồng tình. “Người nghèo vẫn làm vậy mà.”) Đặt nó nằm trong một cái ngăn kéo ư? Nó ư? Teddy bèn rút tiền tiết kiệm và gửi cho họ một cái nôi, một cái xe đẩy và một cái chậu tắm.

Dominic hầu như chẳng bao giờ hoàn thiện nổi một bức tranh. Thi thoảng, bất chấp sự cự tuyệt nền kinh tế tư bản một cách công khai, anh ta cố gắng bán một bức, nhưng những bức tranh của anh ta đem cho còn chẳng ai lấy. Viola tự hỏi liệu một ngày nào đó họ có bị chôn vùi dưới cả núi toan của anh ta không. Kết quả là họ không có tiền. Dominic từ chối hỏi xin gia đình mình bất cứ thứ gì. “Anh ấy có lòng tự trọng rất cao và luôn tuân thủ tuyệt đối những nguyên tắc của mình như thế." Cô nói với cha. “Đúng vậy.” Teddy đồng ý.

Cô giải thích với cha mình rằng chiếm dụng nhà bất hợp pháp là một việc làm hợp lý. “Tại sao lại coi đất đai là vật sở hữu trong khi đó là tài sản chung của tất cả chúng ta chứ…” Lý lẽ ấy - của ai khác, chứ không phải của cô - bất chợt tuôn ra. Cô đã không được ngủ một cách đúng nghĩa suốt hàng tuần lễ. Sunny cứ khóc tựa mèo gào suốt nửa đêm về sáng như thể đang bộc phát nỗi đau vì bị mất đi những đám mây huy hoàng[35]. (Cậu sẽ không bao giờ thực sự nguôi ngoai sau nỗi mất mát này.) Một ngày nọ, cha cô xuất hiện trên ngưỡng cửa căn hộ chiếm dụng bất hợp pháp của họ và nói: “Bố không đợi đến lúc được mời, vì nếu đợi thì chẳng biết đến khi nào bố mới được giới thiệu với cậu nhóc này.” Hiển nhiên là ông đang trách móc cô không mang đứa bé và đồ đạc của nó lên một chuyến tàu để về nhà với ông, trong khi thực tế cô hầu như chẳng bước nổi một bước.

Teddy đã mang đến một bó hoa, một hộp sô cô la và một bọc áo liền quần dành cho trẻ em. “Của hãng Mothercare đấy.” Ông nói. “Nó là một hãng mới, con đã mua ở đó bao giờ chưa? Giá mà chúng ta có loại quần áo như thế này hồi con còn nhỏ. Hồi đó chỉ toàn là áo khoác sơ sinh và giày sơ sinh chẳng có tí tính thiết thực nào. Ngày trước, thế hệ bố gọi thứ này là quần áo lót. Con định để bố đứng ngoài này mãi à?”

“Vậy ra đây là một “ngôi nhà chiếm dụng bất hợp pháp” hả?” Ông hỏi khi họ len qua những chiếc xe đạp hầu hết đã hỏng và những hộp các tông ở tiền sảnh. (“Ồ, tôi từng là một người cấp tiến, thậm chí là một kẻ vô chính phủ.” Sau này, Viola đã tuyên bố như vậy. “Sống trong một căn nhà chiếm dụng bất hợp pháp ở London - một khoảng thời gian thú vị.” Trong khi thực tế thì phần lớn thời gian cô phải chịu đựng sự lạnh lẽo, khốn khổ và cô đơn, chưa kể còn như bị trói tay trói chân, chẳng làm được trò trống gì vì phải thực hiện thiên chức làm mẹ.)

Teddy bắt tàu quay về miền Bắc ngay trong ngày và nằm thao thức cả đêm, lo lắng cho đứa con gái duy nhất và đứa cháu duy nhất của mình. Viola từng là một đứa trẻ đáng yêu, tuyệt vời. Nhưng ông cho rằng đứa trẻ nào chẳng tuyệt vời chứ. Kể cả Hitler.

“Một công xã ở nông thôn?” Teddy nói khi Viola kể với ông về nơi ở tiếp theo của cô.

“Vâng. Sống chung với những người khác. Để tránh những tác động tiêu cực của hệ thống tư bản chủ nghĩa và cố gắng tìm một lối sống mới.” Cô nói, lặp lại lời Dominic. “Và chống lại chủ trương chính thức hóa nhà thờ.” Cô nói thêm. Đó là từ dài nhất mà cô biết. Cô đã nghe người ta bàn tán về từ ấy ở khắp nơi trong trường đại học, mặc dù vẫn còn mơ hồ về ý nghĩa của nó. (“Nhà thờ ư?” Teddy thắc mắc.) “Xã hội truyền thống đang bị băng hoại về đạo đức và tài chính. Bọn con sẽ sống cuộc sống tự cung tự cấp.” Cô hãnh diện nói.

““Tự do thực sự là khi người ta sử dụng đất đai để tự nuôi dưỡng và bảo vệ bản thân.”” Teddy nói.

“Cái gì ạ?” (Con không biết sao? Teddy nghĩ. Đó là điều mà cô đã được dạy hồi còn nhỏ mà.) “Đây là câu nói của Gerrard Winstanley[36].” Ông nói. “Những người chủ trương Cào bằng Đích thực. Phái Đào sâu[37]. Con không biết thật ư?”

Ông tự hỏi còn những gì mà Viola không chịu học nữa. Teddy bị hấp dẫn bởi tất cả các phong trào duy tâm cấp tiến nảy sinh quanh cuộc Nội Chiến, ông tự hỏi nếu ông sống ở thời đó, liệu ông có gia nhập một phong trào như vậy không. Ta thấy thế giới đảo ngược. (“Đó là một khúc bi ca, không phải hoan ca.” Ursula đã trách cứ ông từ lâu lắm rồi.) Có lẽ họ đều phun ra những điều nhảm nhí giống như Viola. Ông cho rằng Kibbo Kift là “kẻ thừa kế” tự nhiên của họ. “Vương quốc yêu chuộng hòa bình và những thứ tương tự như thế.” Ông nói với Viola. “Khao khát khôi phục lại thiên đường trên mặt đất.” Ông khăng khăng. “Niềm tin về một thời đại hoàng kim.”

“Ồ, điều đó ạ…” Cô nói, cuối cùng cũng nghe thấy gì đó mà cô hiểu được. Cô đã nhìn thấy cuốn Sự theo đuổi thời đại hoàng kim trên giá sách của ai đó. Cô căm ghét việc cha cô biết quá nhiều thứ. “Bọn con quan tâm đến sự tiến hóa của vũ trụ.” Cô vui vẻ nói. Cô không biết điều đó có nghĩa là gì.

“Nhưng con có bao giờ thích vùng đồng quê đâu.” Teddy thắc mắc.

“Con vẫn không thích mà.” Viola nói. Cô chẳng vui vẻ gì với cuộc sống mới này, nhưng bất cứ thứ gì cũng tốt hơn ngôi nhà chiếm dụng bất hợp pháp bẩn thỉu, bừa bộn giống như một cái lò mổ kia.

Công xã chiếm cứ một ngôi nhà trại cũ xập xệ ở Devon, hầu hết diện tích gieo trồng đã bị bán đi, nhưng phần còn lại đủ để họ trồng lương thực và nuôi dê, gà. Ít nhất là trên lý thuyết. Từ thời Trung cổ, nó được gọi là Trang trại Long Grove, nhưng khi Dorothy mua nó ở một cuộc bán đấu giá “với cái giá rất hời” - chủ yếu là vì phần diện tích còn lại là đầm lầy, những phần đất tốt đã bị ông nông dân ở trang trại bên cạnh mua mất (phải, chính là người chủ của chiếc xe bán tải Morris Minor và cái sân đầy ngỗng) - Dorothy đã đặt lại tên cho nó là Cánh Đồng Của Adam. Một tấm biển sơn cái tên mới này bằng các màu bảy sắc cầu vồng được đóng đinh vào cánh cổng ở lối vào sân trại. Không một ai ở khu vực này gọi nó bằng cái tên mới ấy.

Khi họ tới, công xã đã tồn tại được năm năm, với ba cặp đôi khác đều ở độ tuổi ngoài hai mươi - Hilary và Matthew, Thelma và Dave (người Scotland), Theresa và Wilhelm (người Hà Lan). Viola mãi không nhớ nổi tên bọn họ. Ngoài Dorothy, còn có ba người độc thân khác nữa - một phụ nữ người Mỹ ở độ tuổi ba mươi tên là Jeanette; Brian, một cậu thiếu niên có vẻ đã bỏ nhà ra đi. (“Tuyệt!” Dominic nói.)

Và cuối cùng là Bill, một ông lão trạc ngũ tuần. Ông ta từng là thợ máy trong Lực lượng Không quân Hoàng gia Anh RAF. Viola nói: “Ồ, hồi chiến tranh bố cháu cũng thuộc lực lượng RAF đấy.” Ông ta đáp lại: “Ồ, thật sao? Phi đoàn nào?”

“Cháu không biết.” Cô nhún vai. Cô chưa bao giờ nói chuyện với cha mình về chiến tranh, và dù sao đi nữa đó đã là chuyện lâu lắm rồi. Sự thờ ơ của cô có vẻ làm Bill thất vọng. “Cháu là người yêu chuộng hòa bình.” Cô nói với ông ta.

“Tất cả chúng ta đều như vậy, cô gái thân mến ạ.” Ông ta nói.

Cô thực sự người yêu chuộng hòa bình, cô giận dữ nghĩ. Cô đã theo học ở một trường Quaker, vì Chúa, và đã tham gia một cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam. Trong cuộc biểu tình đó, cô đã cố gắng hết sức để bị bắt. Những năm tháng huy hoàng của cô vẫn còn ở phía trước - Greenham, Upper Heysford[38] - nhưng từ lâu cô đã giẫm chân lên con đường của sự phẫn nộ chính đáng. Cha cô đã lái máy bay, thả bom xuống những người khác. Có lẽ ông chính là người phải chịu trách nhiệm với việc thả bom lửa xuống Dresden - trong chương trình học của cô ở trường đại học có tác phẩm Lò sát sinh số Năm. (“Chỉ có những chiếc máy bay Lancaster mới thả bom xuống Dresden thôi.” Teddy nói. “Thì sao? Thì sao?” Con gái ông nói. “Bố nghĩ điều đó xóa được tội cho bố sao?” “Bố không đòi hỏi được xóa tội.” Teddy nói.) Chiến tranh là tội ác, Viola nghĩ, nhưng khá cụt hứng bởi sự hờ hững của Bill trước ý kiến của cô. Dường như ông ta cũng không muốn được xóa tội.

Dominic sướng rơn vì anh ta có một phòng vẽ, đó là một cái chuồng bò cũ quét vôi trắng nằm ở đằng sau. Còn Viola nhẹ nhõm vì cô không còn phải sống chung với những bức tranh của anh ta nữa.

Số lượng người ở đó tăng lên bởi dòng người liên tục đổ về vào cuối tuần, chủ yếu là từ London. Lúc nào cũng có những người hoàn toàn xa lạ ngủ trên sàn nhà và sofa hoặc ngồi quây quần bên nhau, hút ma túy và trò chuyện. Và trò chuyện. Và trò chuyện. Và trò chuyện. Họ có bổn phận “đóng góp” bằng cách phụ giúp làm vườn hoặc làm những việc sửa chữa nói chung, nhưng điều đó hiếm khi xảy ra.

Dorothy là nữ chúa ở đây, đương nhiên rồi. Mọi thứ đều phải chia sẻ và giữ làm của chung, nhưng bà ta vẫn nắm giữ các giấy tờ của ngôi nhà trại và sở hữu chiếc xe bán tải, phương tiện đi lại duy nhất của họ. Toàn bộ công trình này là ý tưởng của bà ta. Bà ta đã ngoài sáu mươi tuổi, thường mặc áo dài và trùm khăn lụa trên đầu, đi loanh quanh với nụ cười viên mãn trên mặt, nụ cười đó rất dễ khiến người ta bực tức nếu bản thân họ không cảm thấy viên mãn. Bà ta là một con cừu già trong mắt Viola, chắc cũng gần già bằng cha cô. Bà ta từng là một nữ diễn viên không thành công, nhưng sau đó đã “theo một người đàn ông” tới Ấn Độ rồi trở về một mình và mang theo “sự khai sáng”. (“Bà ấy đã được khai sáng như thế nào?” Viola thì thầm với Dominic. “Em không thấy bất cứ dấu hiệu nào của việc đó. Bà ấy giống tất cả những người khác, nhưng tệ hơn.”)

Dominic đã bị bà ta kiểm tra một cách nghiêm ngặt xem có phù hợp với công xã không, còn Viola mãi tới khi chuyển đến đây mới gặp Dorothy. Cô nhận thấy Dorothy tự thích giọng nói của chính mình, và bà ta khiến Viola có cảm giác như thể mình đang trở lại trường đại học. “Cánh Đồng Của Adam…” Dorothy nói một cách khoa trương. “… Là nơi biến tất cả những gì có thể xảy ra thành hiện thực. Nơi chúng ta có thể khám phá bản chất nghệ sỹ của chúng ta và giúp những người khác khám phá bản chất nghệ sỹ của họ. Chúng ta luôn di chuyển về phía ánh sáng. Cô uống trà nhé?” Bà ta hỏi với phong thái của một nữ công tước khiến Viola giật mình, cô đã bắt đầu gà gật như hồi nghe giảng trên giảng đường.

Dorothy đưa cho Viola một cái cốc dày đựng thứ nước đặc quánh, đắng ngắt. “Tôi cho rằng đây không phải loại trà mà cô biết.” Dorothy nói và Viola tự hỏi phải chăng bà ta đang cố gắng chuốc thuốc mê cho cô hay đầu độc cô. (“Em hoang tưởng quá đấy!” Dominic nói.) Cô lắc đầu khi Dorothy hỏi “Ăn bánh nướng không?” và chìa ra một cái đĩa xếp chồng chất những thứ trông như những viên đá cuội. Không gian tạm thời yên ắng trong lúc Dorothy nhai nhồm nhoàm một trong những “viên đá” ấy. “Cô sẽ thấy rằng…” Cuối cùng, bà ta tiếp tục nói. “… Chúng ta là một cấu trúc lỏng lẻo được cấu thành từ những cá nhân mạnh mẽ tình cờ đi về cùng một phía. Hướng tới một sự thấu hiểu siêu việt.”

“Vâng.” Viola cẩn trọng nói, cô không biết những lời nói tuôn ra từ đôi môi bám đầy vụn bánh của Dorothy có ý nghĩa gì. Hiển nhiên là có một thứ được gọi là thiền siêu việt[39], cô đã từng tập loại thiền đó, và cô cũng đã được học về phong trào Siêu nghiệm trong văn học Mỹ, đã cần mẫn đọc hết cuốn Walden và cuốn Thiên nhiên của Emerson, nhưng chúng có vẻ chẳng liên quan mấy đến việc đốt lá xô thơm và lầm rầm tụng niệm nghe rợn cả người (giống như một con khỉ đột trầm uất) của Dorothy.

“Để làm được như vậy, tất cả chúng ta đều phải góp sức.” Dorothy nói. Chúng ta phải làm thế sao? Viola mệt mỏi nghĩ. Cô đang bụng bầu vượt mặt và còn phải bế Sunny trên tay.

Vì chẳng có kỹ năng gì đặc biệt nên cô được giao cho những công việc bình thường - nấu nướng, lau dọn nhà cửa, nướng bánh mì, làm vườn, vắt sữa dê, “vân vân”… “Về cơ bản toàn là việc nội trợ.” Viola nói. Cô từng tham gia biểu tình đòi lương cho người nội trợ hồi cô còn học đại học, cho dù cô chưa từng mó tay vào mấy việc ấy, và bây giờ cũng chẳng vui vẻ gì khi phải làm những việc đó. Hoặc nói cho đúng hơn là cô chẳng vui vẻ gì khi phải làm những việc đó cho những người khác thay vì làm cho chính mình. Sống trong một công xã là như vậy đấy. Ngoài ra còn có “những việc vườn tược nhẹ nhàng”, nghĩa là đào xới đám đất đỏ rắn đanh đầy cây kế ở các dải đất dọc theo lề bãi cỏ đằng sau. Cô được miễn “làm nông”, tức là trồng những loại rau lấy củ và những cây bắp cải bị sâu đục. Phong trào Đào sâu, cô khốn khổ nghĩ khi đứng dưới mưa, cố gắng đào xới lớp bùn bằng một cái xẻng lung lay. Cô đã trở thành một kẻ Đào sâu đơn độc vì có vẻ như chưa từng có ai phải dính dáng đến công việc chẳng nhẹ nhàng tí nào này - các bờ cỏ đều rất rộng.

Và họ đang ở giữa nơi đồng không mông quạnh. Viola chưa bao giờ thích vùng đồng quê, đó là một nơi lạnh lẽo, bùn lầy, thiếu thốn tiện nghi. Hồi cô còn nhỏ, gia đình cô cũng từng sống trong một trang trại cũ, xung quanh vô cùng trống trải. Cô nhớ hồi đó cha cô liên tục giục giã cô ra ngoài để “tận hưởng chút không khí trong lành”, để theo ông đi dạo, tìm kiếm những con chim, những cái cây, những tổ chim, những “khối đá”. Tại sao lại có người muốn tìm kiếm một khối đá chứ? Cô nhớ mình đã vui mừng thế nào khi chuyển tới một ngôi nhà chung tường có hệ thống sưởi tập trung và những tấm thảm vừa khít ở York. Đương nhiên, niềm vui ấy không kéo dài lâu, vì một ngôi nhà đâu còn là một ngôi nhà khi không có bóng dáng của người mẹ!

Công xã có một sạp hàng trong một phiên chợ diễn ra hằng tháng ở thị trấn, ở đó họ bán những mặt hàng mà họ tự làm - những ổ bánh mì nặng trịch trông như những viên đạn được bắn ra từ máy lăng đá. Những ngọn nến nhiều màu sắc có mùi khó ngửi, khi chảy thì biến thành những cái vũng đáng ghê tởm. Và dĩ nhiên cả đồ gốm nữa. Wilhelm có một lò gốm, đó chính là nơi xuất xứ của những cái cốc và đĩa dày cộp mà họ thường dùng. Ngoài ra họ còn bán những cái giỏ liễu gai mà tất cả bọn họ đều phải đan. Giống như người mù, Viola đã nghĩ khi được đề nghị học đan những cái giỏ ấy. Đây đúng là cuộc sống của một người hầu không được trả lương vào thế kỷ mười tám, phải kiêm thêm cả việc đan giỏ. Và cô còn phải chăm sóc bọn trẻ, bởi vì dù mọi người đều nói việc của cá nhân cũng là việc chung nhưng chẳng ai tỏ ra quý mến, vồ vập Sunny, tuy vậy cô cũng chẳng trách bọn họ. Tiền được giữ trong một quỹ chung, và cô không thể lấy ra được một xu nếu không giải trình được mình chi tiêu vào việc gì. Viola nghĩ, một ngày nào đó cô sẽ ôm cái quỹ chung đó mà bỏ trốn và dùng nó để mua Coca-Cola, sô cô la, tã lót dùng một lần và tất cả những món đồ mà công xã cấm sử dụng.

Dorothy có vẻ dành nhiều thời gian để “cân bằng trung khu tập trung năng lượng tinh thần trong cơ thể” (Vài người sướng thật đấy, Viola nghĩ), và nhờ Jeanette xem bài Tarot cho bà ta. Bà ta thi thoảng đan giỏ và Viola chưa từng thấy bà ta vắt sữa dê. Đó là một con dê Toggenburg thô lỗ, nó ghét Viola nhiều như Viola ghét nó vậy.

Khoảng thời gian duy nhất mà cô cảm thấy bình yên ở Cánh Đồng Của Adam là khi cô đi ra ngoài, giả vờ tìm trứng. Lũ gà đẻ ở bất cứ chỗ nào chúng muốn. Thật kỳ cục! Teddy cũng nuôi gà, nhưng lũ gà của Teddy rất có kỷ luật, chúng chỉ đẻ trong ổ của mình mà thôi. Tuy nhiên, ngay cả trong một buổi đi tìm trứng một cách vô định như vậy, cô cũng không thoát khỏi “cuộc đột kích” của Dorothy (Bà ta thình lình xuất hiện như một con dơi vậy). “Cô là Viola Todd, đúng không?” Có lần, bà ta đột ngột đứng chắn trước mặt cô như thể quý cô Jessel[40] khi cô đang đi trên đường và hỏi cô như vậy với giọng nói chê trách. Bertie lúc ấy đang ngủ trong chiếc xe đẩy Maclaren, một vật thể quá mỏng manh đối với loại địa hình nhiều vết lún này (bánh xe luôn bị long ra). Cô đã để Sunny ở với bố nó, một hành động tương đương với việc bỏ rơi con trẻ.

Bertie cựa mình trong giấc ngủ và giơ tay lên như thể né tránh sự xuất hiện không mong muốn của Dorothy. Viola thì giật mình hoảng hốt vì cô đang tha thẩn dọc theo các hàng rào, mơ màng nghĩ đến những chiếc bánh mì nướng phết bơ nóng hổi và Đại úy Wentworth trong cuốn tiểu thuyết Thuyết phục.

“Vâng, cháu đúng là Viola Todd.” Viola dè dặt nói. Cô đã sống dưới một mái nhà với Dorothy hơn một năm nay, vậy mà bà ta vẫn không biết tên cô sao? “Không sai.”

“Có phải mẹ cô tên là Nancy không? Nancy Shawcross?”

“Có lẽ thế." Viola càng thận trọng hơn. Cô không thích tên của mẹ mình được phát ra qua đôi môi của Dorothy. Mẹ cô là một hình tượng thiêng liêng.

“Sao, bà ấy có đúng là Nancy không?” Dorothy nói.

“Bà ấy đúng là Nancy.” Viola nói, không muốn dùng thì quá khứ khi nhắc đến mẹ mình.

“Bà ấy là một trong các chị em gái nhà Shawcross phải không?”

“Bà ấy đúng là người nhà Shawcross.” Thật là tuyệt khi nói chuyện về mẹ cô như thể bà vẫn còn sống.

“Tôi biết mà!” Dorothy thốt lên vẻ kịch cỡm. “Tôi biết chị gái bà ấy - Millie. Chúng tôi từng diễn chung một sân khấu với nhau hồi còn là những diễn viên trẻ. Nhưng chúng tôi đã mất liên lạc với nhau hàng năm trời rồi. Bác gái cô thế nào?”

“Đã mất rồi.” Viola thẳng thừng đáp, sẵn sàng đưa Millie vào thì quá khứ.

Khuôn mặt Dorothy co rúm lại vẻ đau khổ. Bà ta đưa tay lên trán như thể thất vọng. “Mất rồi ư!”

“Cháu hầu như không biết bác ấy.” Viola thản nhiên nói. “Hình như bác ấy luôn ở nước ngoài.”

“Hừm.” Dorothy nói, như thể bực tức bởi thông tin này. Bà ta cau mày. “Mà cô đang làm gì đấy?”

“Tìm trứng ạ.” Viola nói dối trơn tru. Ở đây ta luôn phải để cho người khác nhìn thấy mình đang làm gì đó hữu ích. Thật là mệt mỏi.

“Sao không đội cho đứa trẻ đó (chúng luôn được gọi là “đứa trẻ đó” hoặc “những đứa trẻ đó”) một cái mũ bonnet che nắng?”

“Mũ bonnet?” Viola nói, ngạc nhiên khi nghe thấy một từ cổ lỗ như thế. Đại úy Wentworth vẫy tay ra hiệu cho cô. “Cháu phải đi tiếp đây.” Cô nói. “Cháu phải đi tìm trứng.”

Khi Viola mang thai Bertie, Dorothy đã chủ trương một “cuộc sinh nở thuận tự nhiên” cho đứa trẻ mới ở Cánh Đồng Của Adam. Viola không thể nghĩ ra điều gì tệ hơn. Sunny đã được sinh ra trong một bệnh viện thực hành[41] rộng lớn và nhộn nhịp ở London, lần đó Viola đã say thuốc Pethidine[42]. Vào ban đêm, bọn trẻ được mang tới phòng chăm sóc trẻ và các bà mẹ được cho uống thuốc ngủ. Sung sướng làm sao! Họ được giữ lại đó một tuần và được phục vụ các bữa ăn chính, bữa ăn nhẹ và sữa, không phải làm gì nhiều ngoài việc cho con bú và thay tã cho con, thậm chí nhiều khi họ còn chẳng phải ra khỏi giường. Viola không có ý định từ bỏ tất cả những điều tốt đẹp đó để đổi lấy một cuộc vượt cạn cam go khốn khổ do Dorothy (một người không có con cái) sắp đặt. Viola bất giác nghĩ đến cuốn tiểu thuyết kinh dị Đứa con của Rosemary.

Cô gần như là một tù nhân. Ở trang trại không có điện thoại, và cô không biết làm thế nào để tới được bệnh viện nếu không có ai chở cô đến đó bằng chiếc xe bán tải của Dorothy. Bây giờ cô mới thấy hối hận vì hồi còn ở nhà cô đã không kiên trì học lái xe với cha mình. Cô đã không muốn bị ngồi chết gí trong một cái xe với cha cô, nghe ông chỉ dạy những thứ ông biết còn cô thì không (hầu như là tất cả mọi thứ). Ông là một giáo viên nhẫn nại đến mức khiến người khác phải bực mình. Cô đột nhiên nhớ ra một chuyện. Đó là cha cô từng mất một năm kèm cặp cô vào mỗi sáng thứ Bảy để cô có thể vượt qua môn Toán ở kỳ thi tốt nghiệp cấp hai. Ông đã dùng đúng một cây bút chì suốt cả năm - một cây bút chì mềm ngắn ngủn. Viola thì không thể giữ nổi một cây bút chì hay bút mực quá một ngày. Cô rất hay đánh mất chúng. Cô cảm thấy hoa mắt chóng mặt khi nghĩ đến môn Đại số và các phương trình, nhưng cha cô vẫn nhẫn nại giảng giải cho đến khi cô hiểu (dù cô chỉ nhớ được trong một thời gian ngắn). Dĩ nhiên, bây giờ tất cả các kiến thức đó đã bị quên lãng, vậy thì ông giúp cô học chúng để làm gì? Và sự nhẫn nại của cha cô chỉ giúp cô trầy trật vượt qua kỳ thi ấy với một mức điểm thấp, sau đó là đạt kết quả trung bình ở tất cả các môn trong kỳ thi tốt nghiệp cấp ba ngoại trừ môn Anh văn, rồi đặt được chân vào cửa một trường đại học hạng xoàng, và ra trường với một tấm bằng kém cỏi. Hãy xem điều đó đã đẩy cô tới đâu. Tới nơi đây chứ còn đâu nữa. Không tiền bạc, không nghề ngỗng, hai đứa con, một người bạn trai vô dụng. Thà rằng cô bỏ học ở tuổi mười lăm và học nghề cắt tóc còn hơn.

Đương nhiên, cuối cùng cô đã sinh Bertie ở bệnh viện và quỷ sứ đã không tới giành giật cô bé. Hắn không có nhu cầu, hắn đã có Sunny.

Hẳn là cô đã ngủ thiếp đi. Cô giật mình tỉnh giấc và cảm thấy mặt mình bỏng rát vì bị mặt trời chiếu rọi. Mất vài giây cô mới nhớ ra các con. Chúng đi mua kem bao lâu rồi? Cô cuống cuồng đứng dậy và nhìn quanh bãi biển. Không thấy bóng dáng chúng đâu. Liệu chúng có bị bắt cóc, chết đuối, ngã khỏi vách đá? Các viễn cảnh xấu nhất cứ thế hiện ra trong đầu cô, kết tội cô là một bà mẹ tồi tệ.

Cuối cùng thì cô cũng tìm thấy chúng, chúng đang kiên nhẫn nhưng có chút ủ rũ chờ đợi ở lều Trẻ Lạc. Viola thậm chí còn không biết đến sự tồn tại của cái lều này. “Con cố tình phải không?” Cô nói với Sunny khi họ chạy đua với thủy triều để thu thập những đồ đạc ướt át dính đầy cát của mình và nhét vào những cái túi. (Đây chính là lý do mình không nên tới bãi biển, cô nghĩ.)

Sunny phẫn nộ đến mức không nói nên lời. Cậu đã sợ đến mất hồn mất vía khi nhận ra mình không thể tìm được đường về từ chỗ xe bán kem. Bãi biển rộng mênh mông và gần như tất cả mọi người ở đó đều cao lớn hơn cậu. Cậu đã tưởng tượng rằng hai anh em cậu sẽ bị sóng biển cuốn đi hoặc sẽ phải ngồi lại trên bãi cát cả đêm khi xung quanh tối om, không một bóng người. Cái áp lực là người có bổn phận chăm sóc Bertie khi mẹ vắng mặt khiến cậu cuống quýt đến quẫn trí, vì thế khi một quý bà dịu dàng tốt bụng tới chỗ cậu và nói “Kìa, hai cháu đang tha thẩn ở đây làm gì vậy? Hai cháu bị lạc mẹ à?”, cậu liền cảm thấy nhẹ cả người và òa khóc. Cậu thực lòng yêu mến người phụ nữ đó biết bao.

“Đừng bao giờ làm thế nữa nhé!” Viola nói.

“Con chẳng làm gì cả.” Cậu khẽ nói. Cậu chẳng có tâm trạng để cự cãi. Sáng hôm đó, cậu giống như một cái đồng hồ bị lên dây cót quá căng. Còn bây giờ cậu chỉ khẽ kêu tích tắc.

“Bố đâu ạ?” Bertie hỏi.

“Đang bơi.” Viola cấm cảu.

“Bố bơi hàng tiếng đồng hồ rồi.”

“Ừ, đúng vậy.” Viola nói. Cô không có đồng hồ đeo tay. Teddy đã tặng cô một chiếc Timex nhỏ xinh khi cô vượt qua kỳ thi tốt nghiệp cấp hai, nhưng cô đã đánh mất nó từ lâu rồi. Cầu trời cho Dominic chết đi, cô nghĩ.

Nếu anh ta chết đuối ngoài khơi, cô có thể bắt đầu một cuộc sống mới. Đó là một cách dễ dàng để chấm dứt mối quan hệ với anh ta, dễ dàng hơn nhiều so với việc gói ghém đồ đạc và bỏ đi. Hơn nữa, cô biết đi đâu chứ? Lại còn tiền bạc nữa. Dominic có một món tài khoản ủy thác. Cô không biết nó là cái gì, nhưng anh ta đã “bất ngờ nhận” được nó từ vài tuần trước. (Anh ta nói) có một lý do phức tạp liên quan đến luật pháp khiến anh ta không thể dứt bỏ số tiền này giống như anh ta dứt bỏ “người nhà” anh ta. Nhưng anh ta có cho cô hay các con cô ít tiền nào không? Không, anh ta sẽ nộp tiền cho công xã, sẽ chuyển số tiền ấy cho Dorothy! Và tệ hơn - không, không phải là tệ hơn, mà là bớt tệ hơn một chút - cô đã phát hiện ra một lá thư từ mẹ anh ta. Bà đã thuê một thám tử tư để tìm anh ta, và trong thư, bà đã năn nỉ anh ta “hàn gắn rạn nứt” giữa họ và để cho bà gặp các cháu của bà “với mẹ của chúng, mẹ chắc chắn đó là một người phụ nữ tuyệt vời”.

Nếu Dominic chết đi, Viola sẽ được thừa hưởng tài khoản ủy thác kia thay vì Dorothy (Tại sao lại không chứ?). Rồi sau đó cô có thể chuyển đến sống trong một ngôi nhà thực thụ và có một cuộc sống bình thường. Giá mà cô đã kết hôn với Dominic và đảm bảo được quyền của mình đối với tài sản thừa kế của anh ta. Nếu vậy thì giờ cô sẽ là một góa phụ trẻ đáng thương và người ta sẽ phải đối xử tốt với cô. Thậm chí cô có thể đến sống với những người nhà chồng thuộc về một dòng họ chuyên săn bắn và chài lưới mà cô chưa từng gặp mặt kia. Suy cho cùng, họ đã nghĩ rằng cô là người phụ nữ tuyệt vời. Dĩ nhiên, khi họ gặp cô, có lẽ họ sẽ rút lại lời nhận xét ấy, nhưng ai mà biết được chứ, có lẽ dần dà cô có thể được chấp nhận vào gia tộc của họ và trở thành “người nhà” họ. Cô có thể mang họ của họ. Viola Villiers, hơi líu lưỡi một chút, giống như một bài luyện diễn thuyết, tuy nhiên cái tên đó vẫn có chút sang trọng, giống như những nữ diễn viên của thế kỷ mười tám làm nhân tình của những người đàn ông thuộc giới quý tộc và cuối cùng thường trở thành công tước phu nhân.

Có lẽ Sunny là người thừa kế của một điền trang hoặc thứ gì đó đại loại thế. Và trong một thoáng giây, cô cho phép mình tưởng tượng ra những con thiên nga đang bơi trên mặt hồ và những con công múa trên thảm cỏ. Cô không ngại chuyện họ có tính phát xít, cô thực sự không ngại điều đó, miễn là họ có hệ thống lò sưởi tập trung, máy sấy khô quần áo, bánh mì trắng thay vì bánh mì làm bằng bột lúa mạch chua, và những tấm đệm mềm mại thay vì những chiếc đệm cứng trải trên sàn nhà.

Cô có nên báo cho ai đó không? Cả ba người họ đều đã quá mệt mỏi, họ chắc chắn sẽ không đủ sức để đối mặt với những việc sẽ diễn ra sau khi họ thông báo có người mất tích. Nhưng họ sẽ về nhà bằng cách nào? Cô không biết lái xe. Cô thở dài thườn thượt.

“Mẹ ơi?” Bertie nói. Bertie nắm bắt rất tốt tâm trạng của Viola.

Họ chậm chạp lê bước trở lại lều Trẻ Lạc. Người phụ nữ hiền dịu vẫn ở đó. Sunny lao đến ôm chầm lấy bà, bám chặt vào bà.

“Cô lại lạc ai nữa à?” Bà tươi cười nói với Viola.

Sunny, Bertie, Viola và hai viên cảnh sát vạm vỡ chen chúc trong một chiếc xe tuần tra, đi thẳng về Cánh Đồng Của Adam. (“Đó là trang trại Long Grove, đúng không?” Một viên cảnh sát hỏi.) Lũ trẻ, ngồi ở băng ghế sau với Viola, lập tức ngủ thiếp đi. Da chúng trơn bóng vì lớp kem chống nắng cũ, ngoại trừ đôi chân bám đầy cát. Chúng vẫn đi chân không, Viola chẳng còn sức đâu để ép chúng đi xăng đan vào. Chúng đang bắt đầu bốc ra thứ mùi của loại quả chín nẫu.

Có lẽ các con của cô sẽ sống tốt hơn nếu không có cô. Đáng lẽ cô nên để chúng ở lại với bà vợ của ông nông dân, cô nghĩ, khéo léo biến sự ích kỷ thành lòng vị tha. Cô chợt nhớ đến những con ngỗng trong sân và rùng mình. Hồi nhỏ, cô từng bị một con ngỗng rượt theo và mổ tới tấp, kể từ đó cô rất sợ chúng. Cha mẹ cô - lúc đó cô vẫn còn đủ cả cha lẫn mẹ - đã cười cợt cô. Lũ ngỗng luôn cảm nhận được nỗi sợ hãi của cô, chúng thường chạy về phía cô như một lũ du thủ du thực, xúm đen xúm đỏ xung quanh cô, vừa mổ vào cô vừa kêu quang quác. “Đừng tỏ ra mình là một con ngỗng ngu ngốc, Viola.” Teddy thường nói với cô như vậy. Ông luôn bảo cô phải như thế này, đừng có thế kia. (Tiếng nói của Lý trí.) Mẹ cô từng kể cho cô nghe một câu chuyện có tên là Cô gái chăn ngỗng. Theo những gì Viola còn nhớ, trong câu chuyện có một con ngựa biết nói bị chặt đầu.

Có lẽ cô nên đề nghị viên cảnh sát cứ tiếp tục lái xe đến tận York và thả cô ở nhà cha cô. Cô ngạc nhiên khi thấy mình nhớ nhà. Cô không chỉ nhớ những con phố hẹp và những nhà thờ thời Trung cổ, nhớ bức tường bao và thánh đường lớn, mà còn nhớ ngôi nhà chung tường ở vùng ngoại ô mà cô đã dành nửa cuộc đời mình để cười nhạo.

“Bà Todd?” Cô đã bảo mấy viên cảnh sát cứ gọi cô là “chị Todd” nhưng họ chẳng buồn đoái hoài đến ý tưởng mới mẻ này. Vì cô đã là mẹ trẻ con nên họ sẽ không gọi cô là “Cô”.

“Chúng ta đến nơi rồi, bà Todd. Bà đã về đến nhà rồi.”

Không hẳn, cô nghĩ.

Viola đã kể về tình cảnh khốn khổ của mình với người phụ nữ ở lều Trẻ Lạc. Bà ấy lập tức lo liệu mọi việc: thông báo với lực lượng bảo vệ bờ biển, tàu cứu đắm địa phương, cảnh sát và vài người khác, phần lớn là những người đang thơ thẩn quanh lối đi dạo bên bờ biển, hứng thú với “vở kịch” này nhưng thất vọng vì chẳng có gì để xem mấy. Có vẻ như quá nhiều nhân lực, vật lực đã được huy động chỉ để tìm kiếm duy nhất một người bị mất tích khi đang bơi trên biển.

Viola đã thuật lại mọi việc. Cũng không có gì nhiều. Dominic đã nói “Anh đi bơi đây” rồi chạy xuống biển, lao mình vào trong làn nước, tay chân vẫy vùng và chẳng thấy quay lại nữa. Chẳng khai thác được gì thêm từ lời khai này, vì vậy hai viên cảnh sát lực lưỡng bèn đưa họ trở lại Cánh Đồng Của Adam. Sunny bướng bỉnh bám chặt vào người phụ nữ ở lều Trẻ Lạc như con sao sao bám vào tảng đá, mẹ cậu phải cạy mãi mới tách cậu ra được. “Cậu bé tội nghiệp!” Người phụ nữ thốt lên. Viola liền nói: “Bà có thể giữ nó nếu bà muốn.” Hiển nhiên là người phụ nữ ở lều Trẻ Lạc nghĩ rằng đó là một lời nói đùa.

Cánh cửa ngôi nhà trại bật mở khi chiếc xe cảnh sát dừng lại và Dorothy bước ra, trừng mắt với Viola và nói: “Cô dẫn lũ heo đến cửa nhà tôi sao?” Hai viên cảnh sát phẫn nộ thấy rõ khi bị gọi xách mé như vậy bởi một người phụ nữ tuy mặc váy dài nhưng rõ ràng là một bà cụ đã nghỉ hưu và đáng lẽ phải cư xử có hiểu biết hơn.

“Các người không thể vào nhà nếu không có giấy khám nhà.” Dorothy hống hách nói.

“Chúng tôi không có ý định vào nhà.” Một viên cảnh sát nói, hít ngửi không khí một cách khoa trương. Mặc dù trong nhà có rất nhiều ma túy nhưng thứ mùi duy nhất có thể ngửi thấy lại là mùi dầu thơm hoắc hương nồng nặc của Dorothy.

Lúc này, Dorothy đã bước ra sân trại và đứng chống nạnh, bảo vệ lãnh địa của mình. “Các người sẽ không được bước qua đây.” Bà ta nói như thể đang bảo vệ một rào chắn.

“Ồ, vì Chúa!” Viola nói. Cô đã quá mệt mỏi với chuyện nhảm nhí này.

“Cô đã ở nơi quái quỷ nào vậy, Viola? Chúng tôi cứ thắc mắc chuyện gì đã xảy ra với cô. Dominic đang ở trong phòng vẽ, cậu ta đã về hàng tiếng đồng hồ rồi.”

“Anh ấy đã về ư? Về đây?” Viola hỏi.

“Hừ, còn ở đâu được chứ?”

“Đó là ông Villiers mà chúng ta đang nói đến ư?” Một viên cảnh sát xen vào. “Ông Dominic Villiers?”

“Quý ông đã khiến chúng ta phải mở một cuộc tìm kiếm quy mô lớn ngoài biển?” Người kia nói. “Người đã khiến chúng ta phải huy động cả một chiếc trực thăng cứu hộ của lực lượng RAF để tìm kiếm?”

“Vậy là sau một hồi ngụp lặn trên biển, cậu ta lên bờ nhưng không thể tìm thấy cô nên cứ thế lái xe về nhà?” Người nông dân hỏi.

“Chỉ mặc độc cái quần bơi?” Bà vợ của ông nông dân nói, lắc đầu vẻ không tin trước sự thật này. Viola có thể thấy rằng cô đã đẩy hai vợ chồng họ tới giới hạn của trí tưởng tượng. Họ sẽ không bao giờ hành xử như Dominic bởi vì họ là người bình thường.

Cô đã gói ghém đồ đạc vào trong một cái túi, lấy hết số tiền từ quỹ chung nhân lúc không ai để ý rồi đi bộ sang trang trại kế bên. Thậm chí chẳng ai nhận ra cô đã bỏ đi. Cô đã chuẩn bị tinh thần để đương đầu với lũ ngỗng nhưng dường như chúng đã đi ngủ.

“Ồ, là cô à!” Ông nông dân đã nói. Chuyện xảy ra lúc sáng nay dường như đã quá xa xôi đối với tất cả bọn họ.

Bà vợ của ông nông dân tắm táp cho bọn trẻ. Khi chúng từ phòng tắm đi ra, quấn khăn tắm quanh người, trông chúng sạch sẽ, tinh tươm như chưa bao giờ lấm bẩn. Sau đó, chúng được mặc cho bộ pyjama mà bà vợ ông nông dân để dành cho các cháu của bà khi chúng về thăm bà. Bà đã hâm nóng món hầm và khoai tây. Viola cùng các con ngầm nhất trí rằng họ sẽ không nhắc đến việc mình là người ăn chay. Viola cảm thấy cô đã có đủ rắc rối rồi (ha!), không cần phải làm phức tạp mọi chuyện thêm nữa (họ đang ở trong một trang trại, cô tự biện minh). Sau đó, khi bà vợ của ông nông dân lấy ra món tráng miệng mà bà làm có kem chế biến từ sữa của những con bò có bộ lông màu đỏ bóng mẩy, Viola không nói “Đừng ăn thứ đó! Thành phần của nó có men dịch vị tiết ra từ một enzyme trong dạ dày của bò!”, giống như cô thường nói về pho mát. Thay vì thế, cô lặng lẽ nuốt nó xuống. Thật là ngon!

Họ ngủ lại ở đó, trên những tấm ga giường cũ sạch sẽ, lũ trẻ ngủ trên một chiếc giường đôi. Ngay từ khi còn rất nhỏ, trước cả khi biết nói, Bertie đã có thói nói mê khi ngủ, cô bé cứ ú ớ suốt đêm, nhưng đêm nay, Sunny nhẹ nhõm khi thấy cô bé ngủ im. Cậu đặt một hòn sỏi dưới gối để tạo cảm giác an tâm. Khi cậu tỉnh dậy vào sáng hôm sau, đó là vật đầu tiên mà cậu tìm. “Ôi trời ơi!” Viola nói khi cậu đặt nó bên cạnh đĩa ăn sáng của cậu.

Họ ăn món trứng bác vàng ruộm như vầng mặt trời. Rồi bà vợ của ông nông dân lại mặc cho bọn trẻ bộ đồ mới mà bà định để dành cho cháu của bà. Sunny diện chiếc quần soóc sạch sẽ và cái áo Aertex nhỏ xíu, trong khi Bertie mặc chiếc váy in hoa với phần thân trên may kiểu xếp nếp hình tổ ong và cổ áo kiểu Peter Pan màu trắng. Trông chúng cứ như con cái của nhà khác vậy.

Ông nông dân chở họ tới nhà ga, từ đó họ bắt một chuyến tàu tới London, và từ ga King’s Cross ở London, họ lại bắt một chuyến tàu khác tới York.

“Chào các con!” Teddy nói khi ông mở cửa và nhìn thấy “nhóm người tị nạn” nhỏ bé đang đứng trên bậc thềm. “Quả là một điều bất ngờ tuyệt diệu!”

Chu thich

[29] Từ lóng chỉ dân hippie.

[30] Trường của Hiệp hội Giáo hữu.

[31] Một loại ma túy gây ảo giác cực mạnh.

[32] Trong tiếng Anh, Sun có nghĩa là mặt trời, còn Moon có nghĩa là mặt trăng.

[33] Trong tiếng Anh, từ này còn có nghĩa là “ảo thuật”.

[34] Trong tiếng Anh, Star có nghĩa là ngôi sao.

[35] Một hình ảnh trong bài thơ Ode: Intimations of Immortality (Tạm dịch: Tụng ca: Những dấu hiệu của sự bất tử) của William Wordsworth. Trong đó nói rằng trước khi sinh ra con người ta ở một thế giới khác tươi đẹp hơn.

[36] Gerrard Winstanley (1609 - 1676): một nhà cải cách tôn giáo người Anh.

[37] Một nhóm người thuộc Tin lành giáo ở Anh đòi xóa bỏ quyền tư hữu đất đai trong thời kỳ Nội chiến. Nhóm này ban đầu có tên là True Levellers (Cào bằng Đích thực), là những người theo tư tưởng của Gerrard Winstanley; sau đổi thành Diggers (Đào sâu).

[38] Tên các căn cứ của Lực lượng Không quân Hoàng gia Anh, nơi những người biểu tình lập nên các trại phản đối chiến tranh.

[39] Kĩ thuật nhập thiền và thư giãn bắt nguồn từ Ấn Độ giáo, bao gồm việc lặp đi lặp lại cho mình nghe một câu đặc biệt.

[40] Nhân vật hồn ma trong cuốn tiểu thuyết kinh dị The turn of the screw của Henry James.

[41] Loại bệnh viện có liên kết chặt chẽ với một trường y khoa, và là nơi huấn luyện thực hành cho sinh viên y khoa và bác sĩ thực tập nội trú.

[42] Một loại thuốc giảm đau gây buồn ngủ.

[43] Trích một câu thơ trong bài To a snowdrop (Tạm dịch: Dành tặng một bông hoa giọt tuyết) của William Wordsworth.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của kate atkinson