Tháng Hai
Bông giọt tuyết với sắc trắng tinh khôi nhất
Ngóc đầu lên lần đầu vào ngày lễ Nến Candlemas.
“Tôi suýt thì bỏ lỡ khóm hoa nhỏ bên con mương ở chân một hàng rào. Nước trong mương vẫn đóng băng “cứng như đá”, giống như nước ở mọi cái hồ và kênh rạch khác trên hòn đảo này. Vì vậy, năm nay tôi đã không mong đợi “loài hoa báo xuân quả cảm[43]” của Wordsworth xuất hiện đúng thời điểm. Theo truyền thống, hoa giọt tuyết nở vào ngày lễ Nến Candlemas (ngày mồng Hai tháng Hai). Ở một số vùng, nó được gọi tên là “hoa chuông Candlemas”, nhưng giữa mùa đông dài và ảm đạm chưa từng có này, chúng ta chắc chắn phải thứ lỗi cho chúng nếu chúng xuất hiện hơi muộn một chút.”
Nancy kìm nén một cú ngáp, Teddy bắt gặp nhưng không nói năng gì. Cô đang chăm chú với món đồ đan dở bên ngọn đèn tù mù. Vì thời tiết tệ hại này mà khắp nơi đều bị cắt điện, nhưng ngôi nhà của họ không bị ảnh hưởng gì, bởi lẽ ngay từ đầu nó đã không mắc điện rồi. Ở dưới nhà, họ thắp đèn dầu và đèn dầu hỏa, còn trên gác thì thắp nến. Họ túm tụm xung quanh ngọn lửa lò sưởi vốn là ngọn nguồn ấm áp duy nhất của họ, nếu không kể đến bản thân họ. Teddy cúi người để khều một khúc củi bằng thanh cời lửa rồi liếc lên nhìn Nancy, thầm nghĩ: Cô ấy sẽ tự làm hỏng mắt mình dưới ánh sáng này mất. Cô đang đan một cái áo len chui đầu không tay kiểu Fair Isle[44] phức tạp cho anh. Cô nói trong mẫu đan có Toán học. Các khuôn mẫu có trong mọi thứ. Theo Nancy, Toán học là “điều duy nhất chân thực”.
“Không phải là tình yêu sao?” Teddy nói.
“Ồ, tình yêu, đương nhiên rồi.” Nancy cộc lốc nói. “Tình yêu là điều thiết yếu, nhưng nó là một thứ trừu tượng, còn các con số là tuyệt đối. Các con số không thể bị bóp méo.” Một câu trả lời không thỏa đáng, hẳn rồi, Teddy nghĩ. Đối với anh, tình yêu mới là tuyệt đối, hơn hẳn tất cả mọi thứ. Đúng không? Với anh?
Họ đã cưới nhau vào mùa thu năm 1945 ở Phòng Hộ tịch Chelsea, mỗi bên chỉ có một người chị em gái - Ursula và Bea - để làm chứng. Teddy lúc ấy mặc quân phục nhưng không đeo huân chương. Còn Ursula đã nài nỉ Izzie cho cô mượn một bộ váy đầm mà bà mua ở Paris hồi trước chiến tranh nhưng không nói lý do tại sao. Bea đã giúp Nancy chỉnh sửa bộ váy đầm ấy để nó bớt lộng lẫy và phù hợp với cuộc sống khổ hạnh thời bây giờ hơn. Sáng hôm đó, Bea đã tới Covent Garden để mua một ít cúc đại đóa, những bông cúc to tướng lòe xòe màu gỉ sắt được cô khéo léo bó lại để tạo thành một bó hoa cưới. Bó hoa rất hợp với chiếc váy lụa màu thịt hàu. Hồi trước chiến tranh, Bea từng là sinh viên của trường St Martin, là người có tính nghệ sỹ nhất trong số tất cả các cô gái nhà Shawcross, mặc dù Millie sẽ khó lòng chấp nhận điều đó. Teddy vẫn nghĩ họ là các cô gái, mặc dù Winnie, cô chị cả, giờ đã bốn mươi tuổi rồi.
Cả Teddy lẫn Nancy đều không thể tính đến một đám cưới hoành tráng khi mà chiến tranh chỉ vừa mới kết thúc chưa lâu. “Và ai sẽ trao em cho chú rể?” Nancy nói. “Sẽ rất buồn nếu không được bố dắt đi trên lễ đường.” Thiếu tá Shawcross đã mất vài tuần trước, điều này cũng không bất ngờ lắm.
Teddy nghĩ anh hiểu Nancy - trước chiến tranh, anh thực sự hiểu cô - nhưng bây giờ cô luôn khiến cho anh bất ngờ. Anh đã cho rằng khi kết hôn, anh và Nancy sẽ dính chặt lấy nhau và hòa làm một - theo ý nghĩa trong Kinh thánh của từ này - trong khi thực tế anh liên tục nhận ra sự khác biệt giữa họ. Cô thường làm anh chao đảo khi mà anh mong đợi - hy vọng - cô giúp anh đứng vững.
Họ từng là thanh mai trúc mã của nhau, hay đúng hơn là mọi người thường gọi họ như thế. “Em ghét lối ví von đó lắm.” Nancy nói vào cái đêm trước đám cưới giản dị của họ. Họ đang uống rượu trong một quán rượu tồi tàn, gần như vắng tanh ở một con hẻm trên đường Piccadilly. Họ chọn nơi này vì nó gần ngôi trường mà cả hai người đều đang học để lấy chứng chỉ dạy học cấp tốc.
Dạy học đã là một phần trong viễn cảnh về cuộc sống toàn vẹn của họ sau chiến tranh. Thực ra đó là viễn cảnh của Nancy, Teddy chỉ đơn giản làm theo cái viễn cảnh đó vì anh không thể nghĩ ra việc gì khác. Anh không có ý định trở lại ngành ngân hàng - cái nghề khiến anh không thể chịu đựng nổi hồi trước chiến tranh - và anh cũng không thể làm phi công được nữa. Không quân Hoàng gia Anh không có lời kêu gọi nào đối với hàng tá người - có lẽ phải hàng trăm mới đúng - muốn ở lại và tiếp tục bay sau khi chiến tranh kết thúc. Đất nước đã xong việc với họ rồi. Họ đã cống hiến tất cả những gì mình có rồi đột nhiên bị thả trôi. Lòng biết ơn không còn là tôn chỉ nữa. Trong tình cảnh này, dạy học dường như là một lựa chọn tốt đối với anh. Thơ, kịch, tiểu thuyết kinh điển, đó là lĩnh vực anh từng yêu thích. Hẳn là anh có thể nhen nhóm lại tình yêu ấy và truyền tải nó đến với thế hệ sau. Đó là một việc làm tốt đẹp, đúng không?
“Em cũng nghĩ vậy.” Nancy hồ hởi nói. “Bây giờ thế giới cần nghệ thuật hơn lúc nào hết. Nó có thể dạy cho chúng ta những điều mà con người rõ ràng không thể.” Không phải là Toán học sao? “Không, Toán học chẳng thể dạy chúng ta điều gì cả. Nó chỉ là chính bản thân nó thôi.”
Teddy không nghĩ rằng nghệ thuật (“Nghệ thuật.” Anh nghĩ, nhớ đến mẹ mình) nên được dùng để làm công cụ giáo dục, nó nên là ngọn nguồn của niềm vui và sự an ủi, sự thăng hoa và sự thấu hiểu. (Thực ra, nó chỉ nên là chính “bản thân nó”.) Đối với anh, nó đã từng là tất cả những thứ như trên. Tuy nhiên, Nancy lại có xu hướng nghiêng về tính giáo dục của nó.
Người giáo viên đáng kính là người truyền đạt kiến thức, Nancy nói, có vẻ tâm đắc với ý kiến này. Họ chính là những người sẽ tạo nên tương lai tốt đẹp hơn cho thế giới bằng đóng góp nhỏ bé của họ. Cô đã gia nhập Đảng Lao động và tham dự đều đặn những cuộc họp nghiêm túc, ảm đạm. Kibbo Kift đã tạo cho cô một nền móng rất tốt.
Họ đến quán rượu vì Nancy nói cô muốn đảm bảo rằng Teddy không mắc chứng “lo lắng trước đám cưới” và “hoàn toàn chắc chắn” rằng anh muốn tiến hành đám cưới này. Anh tự hỏi liệu có phải chính cô mới là người không chắc chắn, và cô đang hy vọng anh sẽ giải thoát cho cô vào phút chót không. Họ đang uống một ly cognac ngon bất ngờ. Chủ quán đã lấy chai rượu này từ dưới quầy để dành cho “đôi uyên ương” khi ông ta biết được rằng họ sẽ kết hôn vào ngày mai. Có vẻ như nó không có nguồn gốc hợp pháp. Thi thoảng Teddy lại tự hỏi phải chăng tất cả mọi người đều kiếm được tiền từ chiến tranh, ngoại trừ những người đã chiến đấu trong lòng của nó?
“Courage, mon ami[45]!” Nancy nâng ly, tỏ lòng tôn kính với quê hương của loại rượu này. Cô cảm thấy họ cần can đảm ư?
“Vì tương lai…” Anh đáp, cụng ly với cô. Trong chiến tranh, suốt một thời gian dài anh đã không tin vào tương lai - nó đã có vẻ là một ý niệm kỳ quặc - và bây giờ khi anh đang sống trong cái “sau này” đó, như cách anh nghĩ về nó trong chiến tranh, nó phần nào càng có vẻ giống một ý niệm kỳ quặc hơn. “… Và hạnh phúc.” Anh nói thêm như thể vừa chợt nghĩ ra, bởi vì đó là điều mà người ta nên nói, dẫu chỉ để lấy may.
“Cứ như cái chuyện “Anh ấy đã cưới cô hàng xóm” ấy nhỉ!” Nancy tiếp tục rủ rỉ. “Như thể chúng ta không có lựa chọn nào trong vấn đề này, như thể đó là định mệnh của chúng ta vậy.”
“Nhưng em từng là cô hàng xóm của anh đấy thôi.” Anh nói. “Và anh đang sắp cưới em còn gì.”
“Vâng.” Cô kiên nhẫn nói. “Nhưng chúng ta đang lựa chọn. Đó là điều quan trọng. Chúng ta không chỉ nhắm mắt đưa chân bước vào một thứ gì đó.” Teddy nghĩ có lẽ anh thì có.
Họ đã biết nhau từ thuở ấu thơ, nếu không phải là người yêu của nhau thì chắc chắn cũng là đôi bạn thân thiết nhất. Khi Teddy rời Góc Cáo để đi học ở trường nội trú, Nancy là người duy nhất không phải thành viên trong gia đình được anh nhắc đến trong những lời cầu nguyện hằng đêm. Xin hãy che chở cho phụ mẫu con (anh đã học được rằng ở trường nội trú, chẳng ai gọi cha mẹ mình là “bố” và “mẹ”, ngay cả trong những lời khấn nguyện trong lòng) và Ursula, Pamela, Jimmy, Nancy và Trixie. Sau khi Trixie chết và được thay thế bằng Jock, lời cầu nguyện của anh được sửa thành và Jock và Trixie trên thiên đường. Phải, những chú chó cũng được coi là thành viên trong gia đình. Maurice chỉ được đưa vào danh sách nếu có khi nào anh chợt nghĩ đến anh ta và cảm thấy có lỗi.
“Em không cần phải kết hôn một cách miễn cưỡng.” Anh nói với cô. “Anh sẽ không ràng buộc em. Suy cho cùng, ai chả đính hôn trong chiến tranh chứ.”
“Ồ, anh đúng là đồ ngốc.” Cô nói. “Đương nhiên em muốn lấy anh. Anh có chắc là anh muốn lấy em không? Đó mới là vấn đề. Và anh chỉ được trả lời là “có” hoặc “không” thôi. Không được vòng vo.”
“Có.” Anh nói nhanh và khá to khiến hai vị khách khác của quán rượu - một ông lão và một con chó trông còn già hơn cả ông ta - vốn đang lờ đờ uể oải liền giật mình nhìn sang.
Chiến tranh đã là một vực thẳm lớn và không còn đường nào để trở lại bờ bên kia, trở lại với cuộc sống trước đây của họ, trở lại với con người họ khi ấy. Điều này không chỉ đúng với riêng họ mà còn đúng với cả châu Âu hoang tàn tội nghiệp. Chị gái Ursula của anh nói: “Người ta nghĩ về những ngọn tháp lớn bị lung lay, những Altstadt[46] với những con đường trải sỏi nhỏ hẹp, những tòa nhà thời Trung cổ, những Rathaus[47] và thánh đường, những trường học lớn, tất cả đều đã biến thành đống đổ nát.”
“Do em.” Teddy nói.
“Không, do Hitler.” Ursula nói. Cô luôn thích đổ lỗi cho Adolf thay vì người Đức nói chung. Cô từng đến đất nước ấy hồi trước chiến tranh, cô có bạn bè ở đó và vẫn đang cố gắng tìm kiếm vài người trong số họ. “Người Đức cũng là nạn nhân của Đảng Quốc xã, nhưng đương nhiên họ không thể nói ra điều đó một cách công khai.”
Khi cuộc chiến kết thúc, Ursula từng tham gia một chuyến bay thị sát và đã chứng kiến tận mắt cảnh điêu tàn cùng những đống đổ nát vẫn còn cháy âm ỉ của nước Đức. “Nhưng rồi người ta nghĩ đến những lò hỏa thiêu.” Cô nói. “Người ta nghĩ đến Hannie tội nghiệp. Cuộc tranh cãi kiểu ấy dường như luôn kết thúc ở những trại tập trung, không phải sao? Auschwitz, Treblinka. Tội ác khủng khiếp. Chúng ta đã phải chiến đấu. Nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục tiến bước. Và dù có chiến tranh hay không thì chúng ta cũng không bao giờ có thể quay đầu lại.” (Cô là triết gia trong gia đình.) “Chúng ta chỉ có thể bước vào tương lai, nỗ lực hết sức mình, đại loại thế.” Đây là khi người ta vẫn tin vào tính khả tín của thời gian - quá khứ, hiện tại, tương lai - các thời mà người ta dựa vào để xây dựng nên nền văn minh phương Tây. Trong những năm sau này, Teddy cố gắng tìm hiểu về vật lý lý thuyết theo kiểu nghiệp dư thông qua các bài báo trên tờ Telegraph và một cuộc vật lộn quả cảm với các cuốn sách của Stephen Hawking vào năm 1996, nhưng đành chịu thất bại khi gặp lý thuyết dây[48]. Từ đó, Teddy cứ thong thả đối mặt với từng ngày, từng giờ một.
Bấy giờ Ursula đã qua đời được mấy chục năm, đã bị loại trừ hoàn toàn khỏi thời gian. Nhưng vào năm 1947, thời gian vẫn là chiều thứ tư của không gian, người ta vẫn dựa vào nó để tạo nên cuộc sống thường ngày. Đối với Ursula, cuộc sống thường ngày của cô là làm việc trong ngành dân chính, và cô sẽ làm công việc đó trong hai mươi năm nữa, sống cuộc sống đường hoàng, bình lặng của một người phụ nữ độc thân có nghề nghiệp ổn định ở London thời hậu chiến. Rạp hát, các buổi hòa nhạc, triển lãm. Teddy đã luôn nghĩ chị gái mình sẽ có một niềm đam mê lớn lao nào đó - một sự nghiệp, một người đàn ông, một đứa bé (hẳn rồi). Anh còn mong được làm cậu đứa con của Ursula hơn là mong được làm cha đứa con của riêng mình (thành thật mà nói, anh có chút căng thẳng khi đối mặt với thiên chức ấy), nhưng chị gái anh đã gần bốn mươi, vì vậy anh cho rằng cô sẽ không bao giờ được làm một người mẹ.
Teddy nghĩ vợ và chị gái mình giống như hai mặt của một đồng xu sáng lóa. Trong khi Nancy là người mơ mộng thì Ursula lại là người thực tế; trong khi Nancy là người lạc quan với trái tim sôi nổi thì tâm hồn Ursula lại nặng trĩu nỗi đau thương của lịch sử. Trong khi Ursula cố gắng chấp nhận hoàn cảnh nếu bị đuổi khỏi vườn Địa Đàng vĩnh viễn thì Nancy, vẫn vui vẻ và ngoan cường, sẽ tìm cho bằng được cánh cổng để trở lại khu vườn ấy.
Teddy tìm kiếm hình tượng có liên quan như “một con chó săn lùng sục một con cáo” (trích lời Bill Morrison).
Đang cắm cúi vào chiếc áo đan kiểu Fair Isle, Nancy ngẩng lên và nói: “Anh đọc tiếp đi. Đọc tiếp về những bông hoa giọt tuyết của anh đi.”
“Em chắc chứ?” Anh nói vì cảm nhận được sự thiếu hào hứng ở cô.
“Vâng.” Cô nói một cách dứt khoát, có lẽ là nghiêm nghị.
“Bạn bè tôi ở miền Nam nước Anh vẫn chưa thấy bông giọt tuyết nào nở cả, vậy mà ngược lại, ở miền Bắc khắc nghiệt này, “niềm vui thú đầu tiên trong năm[49]” của Keble đã bắt đầu nhô những cái đầu ẻo lả của mình qua tấm chăn tuyết. (Người Pháp gọi chúng bằng cái tên vô cùng thích hợp là Perce-neige - hoa xuyên tuyết.) Nhưng có lẽ cái tên mà tôi yêu thích nhất của loài hoa xuân bé nhỏ này là “những nàng trinh nữ tháng Hai.”
Bút danh của anh là Arestis, và đây là chuyên mục hằng tháng của anh - Tản mạn về thiên nhiên, một chuyên mục ngắn trên tờ North Yorkshire Monthly Recorder. Đây là một tờ tạp chí nhỏ cả về khuôn khổ lẫn tham vọng, được mọi người biết đến với cái tên rút gọn là Recorder, chỉ được lưu hành ở địa phương, ngoại trừ một vài bản được gửi ra nước ngoài hằng tháng, tới các nước trong Khối Thịnh vượng chung và (anh bị dẫn dụ tin rằng) một cô dâu thời chiến đang sống ở Milwaukee[50]. Teddy cho rằng họ đều là dân di cư, là những người sống trong cảnh tha hương, cách xa các thông tin về những buổi đấu giá cừu và những cuộc họp của Hội Phụ nữ. Anh tự hỏi còn bao lâu nữa thì cô dâu ở Milwaukee bắt đầu cảm thấy rằng quê hương của cô xa lạ như mặt trăng?
Một người phụ nữ ở Northallerton - chưa từng có ai ở tòa soạn gặp cô - phụ trách đăng các công thức nấu ăn cũng như các mẹo vặt hữu ích, và thi thoảng giới thiệu các mẫu đan len. Ngoài ra còn có mục giải ô chữ (hoàn toàn không khó chút nào), chuyên mục thư của độc giả, các bài báo về những danh lam thắng cảnh trong vùng và các trang quảng cáo tẻ nhạt của các doanh nghiệp địa phương. Đó là loại tạp chí được bày khắp nơi trong phòng chờ của các phòng khám cho đến khi nó trở thành báo cũ hàng tháng, hay có khi hàng năm trời. Nếu không kể người phụ nữ ở Northallerton, tạp chí Recorder có đội ngũ nhân viên gồm bốn người - một nhiếp ảnh gia bán thời gian; một người phụ nữ phụ trách tất tật việc quản lý, bao gồm các mục thông cáo, quảng cáo và việc đặt báo dài hạn; biên tập viên Bill Morrison và Teddy, người làm tất cả những việc khác, bao gồm cả phụ trách chuyên mục Tản mạn về thiên nhiên.
Họ đã chuyển tới Yorkshire vì Nancy nghĩ đó sẽ là nơi họ có thể sống một cuộc sống đơn giản, tốt đẹp, một cuộc sống thôn dã, gắn liền với thiên nhiên, một cuộc sống mà người ta nên sống. Một lần nữa, Kibbo Kift đã phát huy được tác dụng của mình. Cả hai người họ đều không thể chịu đựng bộ mặt u ám, sứt sẹo của thủ đô, còn Yorkshire, theo lời Nancy, có vẻ cách xa chốn đô thị, ít bị sự cơ giới hóa và chiến tranh ảnh hưởng đến hơn. “Chà...” Teddy nói, nghĩ về vụ ném bom Hull và Sheffield, về những dãy nhà máy đen sì của West Riding và, hơn hết, những phi trường lộng gió hung hiểm nơi anh đã đóng quân trong chiến tranh và cũng là nơi phần tốt đẹp hơn - có lẽ là phần tốt đẹp nhất - của cuộc đời anh đã trải qua khi gắn bó với một chiếc máy bay ném bom Halifax ồn ào, lạnh lẽo.
“Anh thích Yorkshire, đúng không?” Nancy bâng quơ nói như thể người ta nói: “Năm nay chúng ta tới vùng Hồ nhé? Anh thích nơi đó, đúng không?”
“Thích” không phải là từ mà Teddy sẽ dùng ở thời điểm trong cuộc đời mà mỗi ngày đều mong manh và dường như có thể là ngày cuối cùng của anh trên Trái đất, và thì duy nhất là thì hiện tại bởi vì tương lai đã ngừng tồn tại, mặc dù họ đang liều lĩnh chiến đấu vì nó. Họ đã ném mình vào kẻ thù với quy mô lớn, mỗi ngày lại là một trận Thermopylae[51] mới. (“Hy sinh…” Sylvie nói. “… Là một từ khiến người ta cảm thấy việc giết chóc là cao cả.”)
Nhưng, đúng vậy, anh đã thích Yorkshire.
Họ từng nói chuyện về việc di cư. Đến Úc hoặc Canada. Teddy từng học khóa huấn luyện phi công sơ cấp ở Canada và đã thích những con người thân thiện ở đó cùng phong cách thoải mái của họ. Anh vẫn còn nhớ một chuyến đi hái đào ở đất nước ấy, còn bây giờ, trong mùa đông này, nó cứ như một giấc mơ. Trước chiến tranh, anh cũng từng du ngoạn khắp nước Pháp, chuyến đi đó thậm chí còn phù du hơn bất cứ giấc mơ nào, nhưng nước Pháp là mộng tưởng của một chàng trai trẻ, không phải là nơi dành cho một người Anh đã có gia đình vào năm 1947. Cuối cùng, họ kết luận, họ đã chiến đấu vì xứ Anh (“Nước Anh.” Nancy sửa lời anh), và sẽ thật sai trái nếu rời bỏ đất nước này trong thời khắc nó đang cần đến họ. Có lẽ việc ở lại mới là sai lầm, anh nghĩ vậy trong những năm sau này. Đáng lẽ họ nên mua tấm vé trị giá năm bảng và ra đi, nhập bọn với tất cả những cựu chiến binh bất mãn khác, những người đã nhận ra rằng Anh quốc thời hậu chiến ảm đạm giống như một đất nước thất bại hơn là một quốc gia chiến thắng.
Nancy tìm thuê được một ngôi nhà trại cũ nằm trong một thung lũng đang sắp sửa biến thành một bãi đất hoang mọc đầy thạch nam. Nó được đặt tên là Nhà Chuột (“Thật là quái gở!” Sylvie nói), mặc dù họ chẳng bao giờ hiểu được lý do tại sao nó lại được đặt tên như vậy, vì - đáng kinh ngạc thay - họ chưa bao giờ nhìn thấy một con chuột nào trong suốt thời gian sống ở đó. Có lẽ nó được gọi như thế bởi vì nó quá nhỏ, Nancy nói.
Có một cái lò bếp bằng gang vừa là lò sưởi vừa là bếp, ở mặt sau của nó còn có một thùng đun nước nóng. (“Cảm ơn Chúa!” Họ thường xuyên nói vậy một cách nồng nhiệt trong thời tiết lạnh lẽo này.) Trong bữa tối, họ thường chỉ ăn bánh mì nướng phết loại bơ được chia khẩu phần, và họ sẽ dùng một cái nĩa bằng đồng để xiên miếng bánh lên ăn ngay trước lò sưởi thay vì đối mặt với những luồng gió băng giá thổi vào qua phòng rửa bát. Cái phòng ấy nhỏ xíu, được cơi nới thêm ở mặt sau của ngôi nhà vào một thời điểm nào đó trong quá khứ. Nối liền với phòng rửa bát là một căn phòng khác nhỏ như một cái lều, trong đó có một cái chậu rửa và một cái chậu tắm, những vòi nước bằng đồng của nó đã cáu đen, còn lớp men của nó thì bong tróc, loang lổ gỉ. Không radio, không điện thoại, nhà vệ sinh thì ở ngoài trời, vì thế trong thời tiết này, họ phải sử dụng một cái bô hôi hám. Đó là tổ ấm đầu tiên của họ, và Teddy nghĩ anh đã hiểu trong tương lai họ sẽ nghĩ về nó một cách trìu mến ra sao, mặc dù bây giờ thì không.
Thật may là căn nhà có đầy đủ nội thất, vì họ chẳng có đồ đạc gì ngoài một cây đàn piano kiểu đứng mà họ đã xoay xở nhét vào trong căn phòng ở tầng một. Nancy chơi piano khá tốt, mặc dù còn xa mới hay bằng Sylvie. Chủ nhân cũ của ngôi nhà dường như đã chết ở đây, vì thế họ đang được thừa hưởng vài món đồ của bà lão tội nghiệp ấy: những chiếc tách, đĩa lót tách, nệm ghế, đèn bàn, chưa kể cái nĩa ăn bánh mì nướng bằng đồng. Họ đoán đó là một người phụ nữ, bởi những tấm rèm và vải bọc ghế tuy là loại vải lanh sờn mòn có kiểu họa tiết thời vua James I được cả hai giới ưa chuộng, nhưng ngôi nhà này còn rải rác những tấm chăn đan bằng kim móc, những tấm thảm thêu ren, những bức tranh được đóng khung thêu hình khu vườn và những bức tượng quý bà mặc váy phồng, tất cả những điều đó đều nói lên rằng chủ nhân của nó là một bà lão. Họ coi bà là một mạnh thường quân vô hình. Ít nhất thì họ không phải dùng đám chăn ga gối nệm từng bao bọc một tử thi, vì bà Shawcross đã lục lọi tủ đựng đồ vải ở Quạ Gáy Xám để tìm cho họ bộ “dự phòng” của bà.
Họ bắt đầu thuê nhà vào tháng Năm, mùa hoa bung nở, và bị lòe bịp bởi bầu trời êm ả. (“Nhiều chữ “b” quá, anh bạn trẻ.” Bill Morrison nói. “Tôi đoán chắc là có một từ để gọi điều này.” Teddy nói: “Điệp âm.” Và Bill Morrison nói: “Chà, cố gắng đừng thế nhé!”) “Chúa ơi!” Sylvie nói khi bà đến thăm họ. “Chẳng phải đơn sơ quá sao?” Họ đã làm sandwich kẹp thịt bò muối, còn Sylvie thì mang đến trứng gà và dưa chuột muối. Thế là họ bèn luộc trứng và tổ chức một bữa ăn ngoài trời khá tươm tất. Họ ngồi trên một tấm thảm cũ, làm bẹp rúm lớp cỏ um tùm của mảnh vườn. “Các con đang đi thụt lùi đấy.” Sylvie nói. “Chẳng bao lâu nữa các con sẽ sống trong một hang động và tắm táp ở một con suối.”
“Điều đó tệ lắm sao ạ?” Nancy nói, bóc vỏ một quả trứng. “Bọn con có thể sống như dân gypsy. Con có thể sục sạo quanh các hàng rào để tìm quả mọng, gõ cửa từng nhà để bán rượu cognac pha soda và bùa may mắn. Còn Teddy có thể bắt cá, bắn thỏ.”
“Teddy sẽ không bắn thứ gì cả.” Sylvie quả quyết nói. “Nó không giết chóc.”
“Anh ấy sẽ làm vậy nếu buộc phải thế.” Nancy nói. “Anh lấy hộ em lọ muối với?”
Anh đã giết chóc, Teddy nghĩ. Nhiều người. Những người vô tội. Anh đã góp phần tàn phá châu Âu tội nghiệp. “Anh đang ngồi đây mà, em biết đấy.” Anh nói. “Ngay cạnh em.”
“Và…” Nancy tiếp tục nói, rõ ràng rất tâm đắc với ý tưởng này. “… Tóc bọn con sẽ ám mùi khói gỗ và con cái của bọn con sẽ cởi truồng chạy lông nhông.”
Đương nhiên, cô nói thế để chọc tức Sylvie. Sylvie bực bội nói: “Con từng là một nữ học giả, Nancy. Cuộc sống hôn nhân đã thay đổi thứ gì đó ở con.”
“Không, chiến tranh đã thay đổi thứ gì đó ở con.” Nancy nói. Họ im lặng trong một thoáng để nghĩ xem “thứ đó” có thể là gì.
Hồi chiến tranh, anh đã mất Nancy vì Cam kết Bảo mật. Cô đã không thể nói với anh cô đang làm gì, và anh cũng không thể nói với cô anh đang làm gì (bởi vì anh không muốn), rồi mối quan hệ của họ lung lay vì thiếu sự thấu hiểu. Cô đã thề sẽ kể với anh khi chiến tranh kết thúc (“Sau này, em sẽ kể với anh tất cả. Em hứa đấy.”), nhưng đến lúc đó, anh không còn quan tâm lắm. “Các loại mật mã và những thứ đại loại thế.” Cô thú nhận, mặc dù dĩ nhiên anh đã đoán được điều này từ lâu rồi, cô còn có thể làm gì khác chứ?
Chẳng có người nào khác từng làm việc ở Bletchley hồi chiến tranh lại nói về những gì họ đã làm, nhưng Nancy sẵn sàng vi phạm lời cam kết để “không có thứ gì ngăn cách giữa họ”. Các bí mật có thể giết chết một cuộc hôn nhân, cô nói. Vớ vẩn, Sylvie nói, chính các bí mật có thể cứu vãn một cuộc hôn nhân.
Nancy sẵn sàng phơi bày toàn bộ trái tim mình cho Teddy xem, nhưng Teddy lại có những căn buồng riêng mà anh sẽ không bao giờ mở cửa. Anh không thành thực như cô về cuộc chiến của mình - nỗi kinh hoàng, sự ác liệt, chưa kể nỗi sợ hãi, dường như là một điều hết sức riêng tư. Và còn cả sự thiếu chung thủy của anh nữa. Nancy thừa nhận đã “lên giường” với những người đàn ông khác khi cô nghĩ rằng anh đã hy sinh chứ không phải đang ở trong một trại POW[52], còn anh đã phản bội cô dù không có cái cớ là nghĩ rằng cô đã chết.
Cô không bao giờ hỏi, anh cho rằng đó là ưu điểm của cô. Và anh thấy sự thú nhận sẽ chẳng mang lại điều gì tốt đẹp. Anh đã cân nhắc điều này trong cái quán rượu nhỏ tồi tàn vào đêm trước đám cưới của họ. Anh có thể khai hết những tội lỗi và khiếm khuyết của mình, nhưng thực sự thì rốt cuộc nó cũng chẳng là gì cả, và Nancy cũng sẽ coi nó chẳng là gì cả, đó có thể mới là điều tồi tệ nhất.
Sylvie cũng mang theo một cái bánh ngọt khá cứng và những hạt carum trong bánh cứ mắc vào răng họ. Bà đã tự làm cái bánh ấy. Dù đã học nấu nướng ở giai đoạn muộn màng trong cuộc đời nhưng Sylvie vẫn còn lúng túng trong lĩnh vực này. Nancy cắt bánh và đặt từng miếng bánh vào những cái đĩa cọc cạch của bà cụ chủ nhà cũ.
“Nếu các con có một đám cưới thực thụ…” Sylvie nói. “… Các con đã có quà cưới - một bộ ấm chén bằng sứ chẳng hạn - như vậy các con sẽ không phải tiếp khách bằng những món đồ sành cọc cạch kỳ dị. Chưa kể tất cả những vật dụng thiết yếu khác của cuộc sống hôn nhân.”
“Ồ, bọn con vẫn xoay xở ổn cả khi không có những vật dụng thiết yếu ấy.” Nancy nói.
“Con đang càng lúc càng trở nên giống mẹ con đấy.” Sylvie nói. Nancy liền đáp “Cảm ơn mẹ. Con sẽ coi đó là một lời khen”, khiến Sylvie càng bực bội hơn. Đương nhiên, Sylvie chưa bao giờ nguôi ngoai chuyện Teddy và Nancy không mời bà dự đám cưới. Theo lời bà, họ đã “lén lút kết hôn”. “Đó không phải là kiểu ảnh mà con có thể lồng trong khung bạc, đúng không?” Bà thở dài khi nhìn chăm chú vào những tấm ảnh nhỏ xíu mà Bea chụp vào ngày hôm đó bằng cái máy ảnh Brownie cũ của cô.
“Bánh ngon đấy ạ.” Nancy nói, cố gắng xoa dịu Sylvie, nhưng rồi lại bị phân tâm khi một con ong lớn kiệt sức rơi xuống thảm, mắc vào những sợi len. Nancy đẩy nó leo lên lòng bàn tay cô và mang nó tới hàng rào, đặt nó vào một chỗ râm mát.
“Nó sẽ chết.” Sylvie nói với Teddy. “Chúng chẳng bao giờ hồi phục được. Chúng đã kiệt sức vì làm việc vất vả, chúng là những thành viên của Hội Giám lý trong thế giới côn trùng.”
“Nhưng bản năng của cô ấy là cứu giúp.” Teddy trìu mến nói về Nancy khi cô chăm sóc con ong, vốn chỉ là một sinh vật nhỏ nhoi trong thế giới tự nhiên rộng lớn.
“Có lẽ thi thoảng chúng ta không nên làm vậy.” Sylvie nói. “Trời nóng quá!” Bà nói thêm, cầm chiếc khăn giấy tự quạt cho mình. “Mẹ vào nhà đây. Và cái bánh này chẳng ngon tẹo nào. Nancy luôn giỏi nói dối.”
Họ đã chẳng nghĩ gì đến mùa đông khi chuyển tới Nhà Chuột. Họ vẫn bàn tính về việc nuôi một đàn gà Leghorn, học nuôi ong, đào xới khu vườn bị bỏ hoang và trồng khoai tây “trong năm đầu tiên” để cải tạo đất. “Trồng nên một khu vườn Địa Đàng.” Nancy cười. Họ thậm chí còn tính đến chuyện nuôi dê. Chẳng chuyện gì trong số đó thành hiện thực khi những đêm dài ảm đạm bủa vây họ. Họ đã dành hết thời gian và tâm sức cho nhau, giống như những con châu chấu hưởng thụ mùa hè hơn là những con kiến chuẩn bị cho mùa đông. Họ đều cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm vì chưa kịp mua một con dê.
Bây giờ, họ khó mà nhớ nổi những buổi tối mùa hè đầu tiên - khi hơi nóng trong ngày được tích trữ bên dưới những mái hiên gie ra, và những tấm rèm cotton sờn rách phất phơ uốn lượn ở khung cửa sổ mở rộng. Họ ái ân khi trời vẫn còn sáng, chìm vào giấc ngủ say, rồi thức dậy vào lúc bình minh để làm tình một lần nữa. Họ không bao giờ nhìn thấy bóng tối. Giờ thì họ phải đính một tấm chăn đắp ngựa màu xám cũ kĩ lên cửa sổ và lúc nào cũng nơm nớp sợ gió lùa. Băng đá bám đầy trên các tấm kính cửa sổ, cả ở bên trong lẫn bên ngoài.
“Ở đây cũng chẳng khá khẩm gì hơn.” Ursula viết thư cho họ từ London. Họ lấy thư từ cái hòm thư tự chế ở cuối đường. Lúc thư từ được giao đến thì họ đã đi làm, thành ra họ chưa bao giờ được chứng kiến lòng quả cảm của người đưa thư mà chỉ có thể tưởng tượng ra. Những nỗ lực của họ dường như cũng quả cảm chẳng kém. Họ đã mua một chiếc Land Rover cũ của quân đội trong một cuộc bán đấu giá bằng một phần số tiền mừng cưới (rất hào phóng) của Izzie. Món quà cưới tiêu chuẩn của bà đối với các đám cưới của gia đình là một bộ dao nĩa để ăn món cá, nhưng riêng Teddy thì được bà tặng một tấm séc có giá trị lớn trong bữa trà chiều ở tiệm Brown’s. “Augustus nợ cháu.” Bà nói. Augustus chẳng bao giờ lớn lên như Teddy, cậu vẫn vô tư lự và liên tục gây ra tội lỗi. Thi thoảng Teddy lại tự hỏi Augustus sẽ làm gì nếu cậu ta lớn lên. Anh tưởng tượng rằng nhân vật hư cấu được tạo ra từ hình tượng của chính anh này - Gus - sẽ đang quanh quẩn ở Soho dơ dáy thời hậu chiến, thường xuyên lui tới những câu lạc bộ và những quán rượu tai tiếng. Chắc chắn câu chuyện đó sẽ thú vị hơn hẳn cuốn Augustus biến mất, tác phẩm mới nhất trong series về Augustus. Cuốn sách ấy đã vượt qua màn mưa tuyết để đến chỗ họ vào hai ngày trước và hiện đang nằm chễm chệ trên nắp cây đàn piano của Nancy, chưa được ai đụng đến. Trên bìa sau của nó có giới thiệu rằng: “Trong tập truyện này, Augustus sẽ tham gia một nhóm ảo thuật ở địa phương và tiếp tục bày trò tinh quái”.
“Ngay cả mùa đông bất tận này cũng sẽ phải kết thúc.” Nancy nói. “Những bông hoa giọt tuyết chính là bằng chứng. Anh đã nhìn thấy chúng, đúng không? Không phải là anh bịa ra để viết báo đấy chứ?”
Anh ngạc nhiên vì cô nghĩ ra một điều như thế. “Dĩ nhiên là không.” Anh nói. Anh đang bắt đầu ước rằng mình chưa bao giờ nhìn thấy những bông hoa giọt tuyết chết tiệt ấy và chọn chúng làm chủ đề của mình. Anh đang mong đợi tháng Ba đến với sự phong phú của những loài chim và chồi non. Vào mùa xuân, Agrestis sẽ chẳng thiếu đề tài. Anh lấy một khúc củi từ trong giỏ và bỏ vào đống lửa. Nó bắn tóe những tàn lửa lấp lánh lên tấm thảm trải trước lò sưởi. Họ đều chăm chú theo dõi để xem có tia lửa nào bùng lên không, nhưng chúng chỉ kêu xèo xèo một cách vô hại rồi tắt ngúm.
“Sao anh không đọc tiếp đi?” Nancy nói.
“Em chắc chứ?”
“Vâng.” Đôi mắt cô vẫn kiên định nhìn chiếc áo đang đan. (Nancy luôn giỏi nói dối.)
“Vài người nói rằng dân La Mã đã đem những bông hoa giọt tuyết đầu tiên đến vùng này, nhưng có những người lại nói rằng chúng được trồng lần đầu bởi các tu sĩ (hay có lẽ là các nữ tu), và thực tế thì ta có thể thấy chúng trải đầy mặt đất vào mùa xuân như một tấm thảm phủ lên “chỗ đứng trống trơn, đổ nát của ca đoàn[53]” trong thơ của Shakespeare. Tuy nhiên không hiểu sao ta vẫn có cảm giác nó là một loài hoa bản địa, đã có mặt ở đây từ thuở hồng hoang, là tinh hoa của nước Anh.
Một truyền thuyết về nguồn gốc của hoa giọt tuyết kể rằng khi Adam và Eve bị trục xuất khỏi vườn Địa Đàng, họ còn phải chịu một hình phạt, đó là bị đẩy vào một mùa đông vĩnh cửu. Một thiên thần vì thương hại họ đã biến một bông tuyết thành hoa giọt tuyết, dấu hiệu cho biết mùa xuân sẽ trở lại trên thế gian.”
Nancy lại ngáp cái nữa, lần này lộ liễu hơn.
“Anh chỉ đang soát lỗi thôi.” Teddy nói. “Em không cần phải thích nó.”
Cô ngẩng lên và nói: “Em thích mà! Đừng nhạy cảm như vậy. Em chỉ mệt thôi.”
“Có lẽ những ai trong chúng ta phải chịu đựng mùa đông khắc nghiệt này sẽ có thể dễ dàng đồng cảm với những vị tổ phụ trong Kinh thánh của chúng ta. Lễ Nến Candlemas trong lịch Công giáo là lễ tẩy uế của Đức mẹ Mary…”
“Nó khá là dài dòng nhỉ? Anh có nghĩ vậy không?”
“Dài dòng ư?” Teddy nói.
Trước chiến tranh, anh đã tự coi mình là một nhà thơ và có vài bài thơ được đăng trên những tờ tạp chí văn chương ít tiếng tăm. Nhưng trong một chuyến về thăm Góc Cáo hồi chiến tranh, anh đã giở lại những tác phẩm tiền chiến này - được anh cất trong một hộp giày dưới gầm chiếc giường của mình thuở ấu thơ - và nhìn thấu bản chất của chúng: những dòng chữ nguệch ngoạc gà mờ của một trí tuệ non nớt. Về phong cách, chúng dựa vào những phép ẩn dụ vòng vo, mơ hồ, hầu như luôn cố gắng miêu tả cảm xúc của anh với thiên nhiên. Anh đã bị thu hút bởi đường cong của ngọn đồi, thung lũng và mặt nước trong thơ của Wordsworth. “Anh có một tâm hồn ngoại giáo.” Nancy từng nói với anh như vậy nhưng anh không đồng ý. Anh có tâm hồn của một cha xứ vùng quê đã đánh mất đức tin của mình. Nhưng bây giờ điều đó không quan trọng, vì vị thần Pan[54] vĩ đại thực sự đã chết rồi, và chiến tranh từ lâu đã dập tắt khát vọng làm thơ của Teddy.
Sau khi tốt nghiệp trường Oxford, anh đã nộp đơn xin ở lại trường và học tiếp thạc sĩ Triết học, trì hoãn thời điểm tìm việc. Từ sâu thẳm trong trái tim, anh vẫn muốn là một người lái tàu, nhưng anh cho rằng điều đó không thể thành hiện thực. Anh sẽ rất ngạc nhiên (và cả vui sướng nữa) nếu ai đó nói với anh rằng năm năm sau, anh sẽ được đào tạo để trở thành phi công.
Anh đã lựa chọn thơ của Blake để nghiên cứu vì thứ mà anh cho là “sự ngây ngô mù mờ” của mình (“Điều đó có nghĩa là gì?” Sylvie nói), nhưng sau một học kỳ, anh quá bồn chồn bứt rứt nên đã từ bỏ Blake và trở về Góc Cáo. Anh mệt mỏi với việc phân tích và mổ xẻ văn chương, “giống như một cuộc khám nghiệm tử thi”, anh nói với Hugh như vậy khi ông mời anh vào thư phòng của ông để uống một ly rượu mạch nha và “trò chuyện một chút” về tương lai của anh.
“Con muốn…” Teddy trầm ngâm nói. “… Đi du ngoạn một chút để thăm thú đất nước. Và có lẽ cả một chút châu Âu nữa.” Anh nói “đất nước” là để chỉ xứ Anh hơn là cả nước Anh, và nói “châu Âu” là để chỉ nước Pháp, nhưng không nói rõ ra vì Hugh có định kiến khá khó hiểu với nước Pháp. Teddy cố gắng giải thích với bố mình rằng anh muốn cảm nhận thế giới một cách trực tiếp. ““Một cuộc sống của các giác quan” như cách nói của bố. Làm nông và làm thơ. Hai việc ấy không trái ngược với nhau.” Không, không, hoàn toàn không, Hugh nói, Virgil từng sáng tác tác phẩm Nông ca và những tác phẩm đại loại vậy. Một “nhà thơ nông dân”. Hoặc một “nông dân làm thơ”. Hugh đã làm việc ở ngân hàng cả cuộc đời, đó chắc chắn không phải là cuộc sống của các giác quan.
Từ năm mười hai tuổi, Teddy đã làm việc ở trang trại của Lâu đài Ettringham vào các kỳ nghỉ, không phải vì tiền - anh thường không được trả tiền - mà vì niềm vui được lao động trong bầu không khí trong lành. (“Cô không thể nghĩ ra điều gì tồi tệ hơn.” Izzie nói. Bà đã thấy anh phụ việc ở khu vắt sữa bò trong một lần bà tới thăm Góc Cáo và suýt bị một con bò cái xéo phải.) “Trong thâm tâm, con không phải là một trí thức.” Anh nói với bố, biết rằng quan điểm này sẽ thu hút sự chú ý của Hugh, và đúng là ông đã gật đầu đồng tình. Và gắn bó với đất đai, Teddy nói, chẳng phải đó là mối quan hệ sâu sắc nhất so với tất cả sao? Từ đó sẽ sinh ra những áng thơ không chỉ là sản phẩm khô khan của tri thức (Hugh lại gật đầu) mà còn chạm đến trái tim của người đọc. Có lẽ thậm chí cả một cuốn tiểu thuyết. (Anh đã non nớt làm sao!)
“Một cuốn tiểu thuyết?” Hugh nói, không kìm được nhướng mày. “Hư cấu?” Sylvie mới là người đọc tiểu thuyết, không phải Hugh. Hugh là người đàn ông của thời đại ông. Ông thích những gì thực tế. Nhưng Teddy là một trong những đứa con cưng của Hugh. Cả Hugh và Sylvie đều bí mật xếp thứ tự những đứa con của mình, mặc dù Sylvie cũng chẳng giấu giếm điều đó lắm. Họ có cảm nhận khá giống nhau - Pamela xếp ở giữa, Maurice xếp ở dưới cùng, chỉ có một điểm khác biệt là Ursula, cô vốn được xếp ở vị trí khá xa so với trái tim Sylvie nhưng lại là người gần gũi với trái tim Hugh nhất. Đứa con cưng của Sylvie đương nhiên là Teddy, đứa con trai tuyệt vời nhất của bà. Teddy tự hỏi bà đã thích ai nhất trước khi anh ra đời. Anh ngờ rằng chẳng có ai cả.
“Chà, bố hiểu con không muốn bị mắc kẹt.” Hugh nói. Bố anh đã có cảm giác bị mắc kẹt sao? Phải chăng đó là lý do ông cho Teddy hai mươi bảng và nói với anh rằng hãy ra đi và “sống cuộc sống đích thực trong một thời gian”? Teddy từ chối món tiền ấy - điều quan trọng là anh phải tự bước trên đôi chân của mình, dù đi bất cứ đâu - nhưng anh vô cùng cảm kích sự tán thành của bố.
Mẹ anh không ủng hộ anh, điều đó cũng chẳng có gì lạ. “Con muốn làm cái gì cơ?” Sylvie nói. “Con có bằng của trường Oxford, vậy mà con lại muốn lang thang như một nhà thơ thời Trung Cổ ư?”
“Một kẻ hát rong.” Hugh nói. “Một kẻ khố rách áo ôm[55].” Ông là người rất hâm mộ Sullivan và Gilbert vĩ đại.
“Chính xác.” Sylvie nói. “Những kẻ vô công rồi nghề tha thẩn từ nông trang này sang nông trang khác, trông chờ các chủ trại thuê mình làm việc. Người nhà Beresford không như vậy.”
“Thực ra, nó là người nhà Todd mà.” Hugh nói (nhưng chẳng có tác dụng gì). “Em đã trở nên hợm hĩnh quá rồi, Sylvie.” Ông nói thêm, càng chẳng lay chuyển được bà.
“Con không định làm thế mãi.” Teddy nói. “Có lẽ chỉ một năm thôi, rồi sau đó con sẽ ổn định với một công việc gì đó.” Anh vẫn đang nghĩ về từ “nhà thơ thời Trung Cổ” của Sylvie và bị thu hút bởi ý tưởng (rất không ổn định) đó.
Và thế là anh lên đường. Anh làm công việc gieo hạt giống bắp cải ở Lincolnshire, trải qua mùa cừu sinh sản ở Northumberland, phụ giúp thu hoạch lúa mì ở Lancashire, hái dâu tây ở Kent. Anh được các bà vợ của những ông nông dân phục vụ ăn uống ở bàn ăn của những ngôi nhà trại rộng lớn. Vào mùa đông, anh ngủ trong kho thóc hay nhà kho và những ngôi nhà tranh xiêu vẹo, còn vào những đêm mùa hè ấm áp thì ngủ trong cái lều bạt cũ hơi mốc meo đã gắn bó với anh từ hồi còn tham gia sinh hoạt ở đội Sói Con và Kibbo Kift. Cuộc phiêu lưu đáng nhớ nhất của cái lều ấy còn chưa xảy ra, đó là năm 1938, khi nó theo Teddy và Nancy đi cắm trại ở Peak District, trong thời gian đó, họ (cuối cùng) thôi làm bạn bè và trở thành người yêu của nhau.
“Không thể vừa làm bạn bè vừa là người yêu sao?” Teddy thắc mắc.
“Chà, đương nhiên.” Nancy nói. Teddy nhận ra rằng anh đã quen Nancy quá lâu và quá thân thiết với cô nên không thể đột nhiên “say đắm” cô. Anh yêu cô, đương nhiên, nhưng anh không say đắm cô và chưa bao giờ như vậy. Anh tự hỏi liệu có bao giờ anh sẽ say đắm cô không?
Nhưng đó là chuyện trong tương lai. Còn bấy giờ anh đang ở trong một chuồng cừu để trông đàn cừu, đọc thơ của Housman và Clare bên ánh đèn Tilley. Anh đang tập làm thơ, những bài thơ của anh hầu như chỉ nói về phong cảnh và thời tiết (những bài thơ được cất trong hộp giày) mà ngay cả anh cũng cảm thấy tẻ nhạt. Chẳng có bài thơ nào về đàn cừu, hoặc thậm chí là cừu con. (“Những sinh vật nhỏ xíu há hốc miệng run rẩy” - Bài thơ Đàn cừu con ở Grasmere của Rossetti luôn khiến anh chùn bước.) Những con bò chẳng đem lại gì ngoài sữa. Teddy chẳng bao giờ làm được những câu thơ kiểu như Bầu trời có hai màu như một con bò khoang của Hopkins. “Anh tôn sùng Hopkins.” Anh viết thư cho Nancy từ một nơi nào đó ở phía nam bức tường thành Hadrian[56]. “Giá mà anh có thể viết được những câu thơ như của ông ấy!” Anh luôn tỏ ra vui vẻ trong những lá thư, như thể đó là phép lịch thiệp, trong khi thực tế anh đang thất vọng vì những câu thơ thô kệch của mình.
Izzie tới thăm anh trong thoáng chốc, bà ở trong một khách sạn bên hồ Windermere và đãi anh một bữa tối đắt tiền ở đây. Trong bữa ăn ấy, bà liên tục tiếp rượu cho anh và hỏi anh nhiều câu hỏi để “tạo tính chân thật” cho cuốn Augustus làm nông dân.
Một năm trôi qua nhanh chóng. Vụ thu hoạch táo sớm ở Kent đã sinh ra một bài tụng ca mùa thu sẽ làm cho thi sĩ Keats phải cảm thấy hổ thẹn (Mấy ngón tay sương giá lạnh băng/ Chưa chạm đến những quả táo hồng ươm nắng…). Anh vẫn chưa sẵn sàng từ bỏ cả thơ ca lẫn nghề nông, vì thế anh đã lên một chuyến phà ở Dover, mang theo một cuốn sổ dày sạch sẽ mới tinh trong túi. Khi đặt chân lên đất Pháp, anh bèn hướng về phía nam, đến với những ruộng nho và vụ thu hoạch nho, nghĩ tới ly nước suối Hippocrene[57] đỏ rực của Keat, mặc dù Hippocrene ở Hy Lạp chứ không phải ở Pháp, đúng không nhỉ? Anh đã không nghĩ gì đến Hy Lạp. Anh tự quở trách mình vì thiếu sót (lớn) này trong lịch trình tìm về cái nôi của nền văn minh. Sau này, anh lại tự quở trách mình lần nữa vì đã bỏ qua những kỳ quan của Venice, Florence và Rome, nhưng vào lúc đó anh đã vui vẻ né tránh phần còn lại của châu Âu. Vào năm 1936, đó là một vùng đất hỗn loạn và Teddy cảm thấy mình không cần phải trải nghiệm những biến động chính trị của nó. Trong những năm sau này, anh tự hỏi liệu anh có sai lầm không, liệu anh có nên tránh đối mặt với mầm mống của tội ác như thế không. Đôi khi chỉ cần một người đàn ông tốt đứng lên là đủ đương đầu với cái xấu, Ursula đã nói với anh như vậy trong chiến tranh. Cả hai người họ đều không thể nghĩ ra một ví dụ trong lịch sử. Ursula nêu ý kiến: “Có lẽ trừ Đức Phật. Chị không tin Chúa có thật.” Trong khi đó, có rất nhiều ví dụ chứng minh điều ngược lại, chỉ cần một người đàn ông xấu đứng dậy là cái ác sẽ lên ngôi, Teddy rầu rĩ nói.
Có lẽ sẽ có thời gian dành cho Hy Lạp. Dù sao đi nữa, hạn chót (“chừng một năm”) là do anh tự đặt ra.
Khi vụ thu hoạch nho để làm rượu vang Sauternes kết thúc, anh “nâu giòn và khỏe khoắn như một người nông dân”, đó là lời miêu tả của anh về chính mình trong một lá thư gửi cho Nancy. Tiếng Pháp của anh cũng trôi chảy hơn theo kiểu quê kệch. Sau một ngày hái nho, anh đói cồn cào và ngốn ngấu bữa tối khổng lồ mà chủ trại cung cấp cho các nhân công. Vào ban đêm, anh dựng chiếc lều bạt cũ trên một cánh đồng. Lần đầu tiên kể từ thời thơ ấu ở Góc Cáo, anh được ngủ giấc ngủ không mộng mị của người chết hoặc người vô tư, nhờ sự trợ giúp từ lượng rượu vang dồi dào trong bữa tối. Thi thoảng còn có một người phụ nữ. Anh chưa bao giờ viết một lời nào về điều này.
Trong phần đời còn lại của mình, hễ nhắm mắt là anh có thể khơi lên hình ảnh và mùi vị của những món ăn anh đã từng thưởng thức ở Pháp - mùi tỏi phi thơm lừng trong các món hầm, lá a ti sô quết bơ, món oeufs en cocotte - trứng được đúc trong những quả cà chua loại to và được đem nướng trong lò. Một súc thịt lưng cừu nướng nhồi tỏi và lá hương thảo, một tác phẩm nghệ thuật. Đây là những hương vị hoàn toàn xa lạ với khẩu vị nhạt nhẽo của người Anh. Pho mát, chua và nặng mùi, các món tráng miệng - flaugnarde với đào, clafouti với anh đào, tarte aux noix, tarte aux pommes và Far Breton - một loại bánh tạc làm từ sữa trứng và mận khô mà cho đến cuối đời anh vẫn mơ được nếm lần nữa, nhưng giấc mơ ấy không bao giờ thành hiện thực. “Mận khô và sữa trứng ư?” Bà Glover nghi ngờ nói khi anh trở về.
Bà Glover rời khỏi Góc Cáo ngay sau khi Teddy trở về, có lẽ những yêu cầu của anh về các món ăn vùng miền của nước Pháp đã dồn ép bà ra đi. “Đừng ngốc nghếch thế!” Sylvie nói. “Bà ấy nghỉ hưu để về sống với em gái.”
Đương nhiên, còn có những bữa sáng diễn ra ở cái bàn lớn trong phòng bếp chính. Không phải là món cháo dành cho người ốm ở trường nội trú hay món trứng kèm thịt muối xông khói tầm thường ở Góc Cáo. Thay vì thế anh rạch một đường trên cái bánh mì baguette mới nướng, phết pho mát Camembert vào bên trong rồi nhúng nó vào một bát cà phê đặc nóng bỏng. Khi về nhà, anh đã quên hết cách chào ngày mới này. Nhiều thập kỷ sau, khi đang sống trong cư xá Fanning Court, Teddy đột nhiên nhớ đến nó. Cái ký ức sống động ấy đã thúc giục ông lão Teddy mua một cái bánh mì baguette ở tiệm Tesco’s (“được nướng ngay tại chỗ” - vâng, nhưng từ cái gì?) và một khoanh pho mát Camembert nhỏ chưa chín, rồi rót suất cà phê sáng của mình vào một cái bát thường được dùng để đựng ngũ cốc thay vì cái ca như thường lệ. Hương vị không giống. Hoàn toàn không giống.
Khi mùa đông đến, anh đi về phương Nam - “Em giống như loài chim nhạn vậy.” Anh viết thư cho Ursula - cho đến khi biển cả ngăn bước chân anh lại. Rồi anh thuê căn phòng bên trên một tiệm cà phê tại một làng chài nhỏ, nơi vẫn chưa bị các du khách hủy hoại. Hằng ngày, anh ngồi ở một cái bàn trong tiệm cà phê duy nhất ấy, khoác một chiếc áo jacket và quấn một cái khăn để bảo vệ mình trước mùa đông của xứ Riviera, hút thuốc Gitanes và uống cà phê espresso từ những chiếc cốc nhỏ và dày màu trắng, cuốn sổ ghi chép được đặt ở trên bàn ngay trước mặt. Vào bữa trưa, anh chuyển sang rượu vang, bánh mì cùng cá tươi vừa được đánh bắt từ dưới biển lên và nướng bằng củi. Còn vào những buổi chiều êm đềm, anh háo hức chờ đợi được thưởng thức một loại rượu khai vị. Anh tự nhủ, mình đang sống cuộc sống của các giác quan, nhưng tận sâu trong lòng, anh nghi ngờ rằng mình đang trốn tránh cuộc đời và cảm thấy tội lỗi. (Dù sao đi nữa, anh là người Anh.)
Dân làng trìu mến gọi anh là “L’Ecrivain Anglais[58]”, vì anh là nhà thơ đầu tiên tới thăm họ, mặc dù ở nơi đó, các nghệ sĩ nhiều nhan nhản. Họ bị ấn tượng bởi thứ tiếng Pháp thông tục và sự cần mẫn ghi chép của anh. Anh thấy mừng vì họ không thể đọc được những bài thơ tầm thường ấy. Nếu hiểu được, họ có thể bớt ngưỡng mộ anh hơn một chút.
Anh quyết định tiếp cận với Nghệ thuật (viết hoa theo kiểu của Sylvie) một cách có phương pháp hơn.
Thi ca là những công trình nghệ thuật, không chỉ là những từ ngữ đơn giản tuôn ra bừa bãi từ trong trí óc. Anh đã viết từ “Quan sát” làm tiêu đề ở đầu cuốn sổ và các trang giấy chứa đầy những hình ảnh tẻ nhạt - “Hôm nay biển rất xanh - Xanh thẳm? Xanh ngắt? Xanh biếc?”, và “Ánh mặt trời lấp lánh trên mặt biển như một nghìn viên kim cương”, hoặc “Bờ biển như được tạo nên từ những khối màu rắn chắc và những mảnh nắng nóng bỏng.” (Anh khá hài lòng với câu này.) Và “Hôm nay Madame la propriétaire[59] đang mặc chiếc áo jacket ngắn màu xanh lá cây khôi hài”. Anh tự hỏi có bài thơ nào viết về Madame la propriétaire không? Anh nghĩ tới những cánh đồng hoa oải hương và hoa hướng dương mà anh đã nhìn thấy trong chuyến lưu trú tạm thời của mình (bây giờ chúng đã được thu hoạch hết) và khơi gợi lên các hình ảnh - “những cụm hoa lộng lẫy” và “những cái đĩa vàng của Helios[60] quay sang thờ phụng vị thần của mình”. Giá mà anh là một họa sĩ - vẽ có vẻ không khó bằng làm thơ. Anh đoán chắc rằng những bông hoa hướng dương của Van Gogh không khiến ông phải tốn nhiều tâm sức đến vậy.
“Lũ chim mòng biển đang lượn vòng và kêu quang quác phía trên đầu, phấn khích bởi những chiếc thuyền đánh cá đang trở về nhà.” Anh nắn nót viết trước khi châm một điếu Gitane nữa. Mặt trời (gần như) đã ở dưới đầu trục căng buồm - cha anh sẽ nói vậy nếu ông có mặt ở đây (sao ông lại không thích nước Pháp chứ?) - và đã đến lúc để uống pastis[61]. Anh bắt đầu nghĩ mình giống như một kẻ chơi rong, một kẻ hưởng lạc. Anh đã tiết kiệm đủ tiền để tận hưởng mùa đông ở Côte d’Azur, rồi sau đó có lẽ sẽ đi về phía bắc và tham quan Paris. “Ta không thể chết nếu chưa đến thăm Paris.” Izzie nói. Nhưng rốt cuộc đến hết đời anh vẫn chưa đặt chân tới đó.
Trước lễ Giáng sinh không lâu, anh nhận được một bức điện. Mẹ anh đang nằm viện. “Viêm phổi, khá nặng, nên về nhà ngay.” Cha anh đã viết cộc lốc như vậy. “Mẹ con có hai lá phổi giống như của bà ngoại con.” Hugh nói khi Teddy về nhà. Teddy chưa bao giờ gặp người bà này và cũng chẳng biết gì về hai lá phổi huyền thoại đã giết chết bà (theo lời kể của Sylvie). Sylvie bình phục nhanh lạ lùng và kịp về nhà trước khi năm cũ kết thúc. Teddy nghĩ bệnh tình của bà không trầm trọng đến mức họ phải đánh điện gọi anh về, và trong một thời gian anh đã nghi ngờ rằng đây là một sự thông đồng của cả gia đình, nhưng “Mẹ con cứ đòi gặp con suốt”, Hugh áy náy giãi bày. “Đứa con trai hoang đàng[62].” Cha anh đã trìu mến gọi anh như vậy khi ông đón anh ở nhà ga.
Thành thật mà nói, Teddy khá nhẹ nhõm khi dứt được thơ. Sau lễ Giáng sinh thân mật ở Góc Cáo, anh cảm thấy sẽ thật ngớ ngẩn nếu lặn lội đường sá xa xôi để trở lại Pháp. (Để làm gì? Để làm một kẻ chơi rong ư?) Vì vậy, khi bố anh tìm được cho anh một vị trí trong ngân hàng của ông, anh đã đi làm ngay. Ngày đầu tiên, khi bước chân vào những hành lang im lìm ốp ván gỗ gụ bóng loáng, anh cảm thấy mình giống như một tù nhân đang bắt đầu thụ án chung thân. Giống như một con chim bị cắt đi đôi cánh, mãi mãi chỉ có thể ở dưới mặt đất. Là thế này ư? Cuộc đời anh kết thúc như thế này ư?
“Thế đấy, Ted.” Hugh nói. “Bố biết cuối cùng con sẽ gắn bó với thứ gì đó mà.”
Khi chiến tranh xảy ra, Teddy cảm thấy như trút được gánh nặng.
“Có chuyện gì vậy?” Nancy nói, lấy một cuộn thước dây từ giỏ đồ đan và ướm lên vai anh.
“Không có gì đâu.” Anh nói. Rồi anh trở lại với bông hoa giọt tuyết chết tiệt kia.
“Không giống như nhiều người nghĩ, từ “giọt” trong “giọt tuyết” không phải để chỉ bông tuyết mà để chỉ một chiếc khuyên tai. Ta có thể hình dung ra bông hoa mong manh này rung rinh trên tai của một người đẹp thời Nữ hoàng Elizabeth.”
“Nếu phân tích chi li ra thì, một chiếc khuyên đang đeo trên tai có thể rung rinh không chứ?” Nancy nói, đặt đôi kim đan xuống đùi và cau mày trước chiếc áo đang đan dở. Cô kéo cái dái tai mỏng manh của mình để chứng minh cho sự bất động của viên ngọc trai màu xám nhỏ bé trên đó. “Nếu nó được treo toòng teng, nó có thể rung rinh.”
Cô thật giỏi lý luận. Cô sẽ trở thành một quan tòa giỏi của tòa án tối cao. Cô có thể đưa ra một ý kiến khách quan với cung cách dễ chịu nhất. “Anh thật phũ phàng với em.” Cô cười nói. Trước kia cô từng bóng gió rằng những bài báo này khá “tẻ nhạt”. Đó là thể văn báo chí, Teddy biện bạch nghĩ, một thể loại khô khan. Nancy luôn là người cầu toàn.
Khi họ chuyển tới Yorkshire, Teddy nhận thấy mình đang ở một trường trung học bình thường dành cho nam sinh tại một thị trấn công nghiệp nhỏ chuyên sản xuất len, xập xệ và lấm lem muội khói, đang âm thầm sụp đổ, và ngay từ bài học đầu tiên - Romeo và Juliet, “Đàn bà là giống loài yếu đuối hơn nên lúc nào cũng bị ép vào tường” - trước một lớp học gồm những thằng nhóc mười ba tuổi thầm cười khẩy, anh đã biết đây là một sai lầm. Anh nhìn thấy tương lai đang trải ra trước mắt anh, hết ngày ảm đạm này đến ngày ảm đạm khác. Thấy mình nghiêm túc thực hiện bổn phận kiếm tiền để nuôi Nancy và những đứa con còn chưa chào đời nhưng đã đổ lên vai anh trách nhiệm to lớn. Và cũng thấy mình, vào ngày nghỉ hưu, là một người đàn ông bất đắc chí. Công việc này cũng chẳng khác gì công việc ở ngân hàng cả. Anh là một người khắc kỷ, đức tính đó đã được rèn giũa hồi anh còn đi học, và anh trung thành như một chú chó, vì thế anh biết anh sẽ chịu đựng cảnh sống ấy, bất kể phải hy sinh bản thân đến mức nào.
“Em đã chiến đấu vì những đứa trẻ đó.” Ursula nói khi cô đến thăm anh. “Vì sự tự do của chúng. Chúng có xứng đáng không?”
“Không, hoàn toàn không.” Teddy nói và họ đều bật cười bởi vì đó là một câu nói sáo rỗng mà họ đã chán nghe. Họ biết rằng tự do, giống như tình yêu, là một thứ tuyệt đối và không thể tùy tiện phân phát hay ban ơn.
Nancy, trái lại, rất yêu nghề. Cô là giáo viên dạy Toán ở một trường điểm dành cho những nữ sinh thông minh, ngoan ngoãn tại một thành phố nghỉ dưỡng êm đềm. Cô thích giúp chúng trở nên thông minh hơn, ngoan ngoãn hơn, và đổi lại, chúng cũng yêu quý cô. Trong đơn xin việc gửi nhà trường, cô đã nói dối rằng cô chưa kết hôn (thậm chí không phải là một góa phụ), gạt bỏ hoàn toàn Teddy ra khỏi lai lịch của cô. Cô lại là cô Shawcross. “Họ không thích những giáo viên đã có gia đình.” Cô giải thích với Teddy. “Bởi vì những giáo viên ấy sẽ nghỉ để sinh con, hoặc bị phân tâm bởi cuộc sống gia đình, bởi chồng họ.” Bị phân tâm? Đương nhiên, cô dự tính sẽ bỏ việc dạy học khi nào họ có con, nhưng điều đó còn phụ thuộc vào Chúa, mà Chúa thì không có vẻ gì là vội vã cả.
Cô biết việc dạy học giống như một cực hình đối với Teddy. Một trong nhiều ưu điểm của Nancy là cô không muốn người khác phải chịu đựng quá mức cần thiết. (Teddy luôn ngạc nhiên khi biết có bao nhiêu người như thế.) Cô động viên anh viết lách trở lại - “Lần này là một cuốn tiểu thuyết đi.” Cô nói. Cô đã đọc những bài thơ cất trong hộp giày của Teddy và anh cho rằng ý kiến của cô về chúng khá giống anh. “Một cuốn tiểu thuyết.” Cô nói. “Một cuốn tiểu thuyết cho thế giới mới, một thứ gì đó thật tươi mới và khác biệt, nói cho chúng ta biết chúng ta là ai và chúng ta nên làm gì.” Thế giới này chẳng mới mẻ gì lắm với Teddy, nó khá già cỗi và rệu rã (giống như những gì anh vẫn nghi ngờ về bản thân mình), và anh không chắc nó có gì đáng để viết thành một cuốn tiểu thuyết, nhưng Nancy có vẻ quả quyết rằng anh có tài. “Chí ít cứ thử đi.” Cô nói. “Anh sẽ không biết liệu mình có làm được không cho đến khi anh thử.”
Và thế là anh nghe theo lời dụ dỗ của Nancy. Vào các buổi tối và các ngày cuối tuần, anh đều ngồi xuống trước chiếc máy đánh chữ hiệu Remington nhỏ xíu mà cô tìm được trong một cửa hàng đồ cũ. Không còn “Những quan sát” nào nữa, anh nghĩ. Không còn những cuốn sổ ghi chép dày cộp. Cứ thế tiến hành thôi.
Anh tìm tiêu đề trước, gọi tác phẩm đầu tiên của mình trong lĩnh vực văn chương là Một lùm cây yên ắng cho chúng ta, được lấy cảm hứng từ bài thơ Endymion của Keats:
Một vưu vật là niềm vui bất tận
Mỗi ngày thêm duyên dáng, yêu kiều;
Chẳng bao giờ tan biến, phiêu diêu
Mà sẽ giữ lùm cây yên ắng
Cho chúng ta có giấc ngủ ngon
Đầy mộng đẹp và đầy sức khỏe
Cùng hơi thở êm êm khe khẽ.
“Ồ, hẳn là ông ấy phải rất khao khát “sức khỏe cùng hơi thở êm êm khe khẽ”.” Ursula nói. “Hẳn là ông ấy đã hy vọng rằng bằng cách tưởng tượng ra những thứ đó, ông ấy sẽ có được chúng.” Chị gái anh luôn nói về Keats với giọng điệu u sầu, như thể ông vừa mới qua đời. Nhưng đó là một tiêu đề vụng về, không được hấp dẫn lắm. “Em thấy ổn mà.” Nancy nói. “Ít nhất là ở thời điểm này.” Anh biết cô đang nghĩ gì. Cô tin rằng anh cần được chữa trị và viết lách có thể là liều thuốc công hiệu với anh. “Nghệ thuật là một liệu pháp.” Anh đã vô tình nghe thấy cô nói với bà Shawcross. Mẹ anh sẽ cười nhạo một ý niệm như thế. Câu mở đầu của bài thơ Endymion: “Một vưu vật là niềm vui bất tận” giống như một tín điều của Sylvie hơn. Có lẽ lựa chọn nó để làm tiêu đề thì sẽ hay hơn nhiều. Một vưu vật.
Rủi thay, Teddy phát hiện ra rằng các nhân vật hoặc cốt truyện mà anh cố tạo ra đều nhạt nhẽo và tầm thường. Các tác giả vĩ đại trong quá khứ đã đặt ra những tiêu chuẩn khiến cho mọi thủ thuật của anh đều trở nên thảm hại. Anh không thể tìm thấy sự gắn kết nào với những cuộc đời đơn điệu mà anh sáng tác. Nếu mỗi tác giả là một vị thần thì anh chỉ là một vị thần cấp thấp tội nghiệp, luẩn quẩn loanh quanh ở những ngọn đồi thấp dưới chân núi Olympus. Anh cho rằng muốn viết được tiểu thuyết thì ta phải quan tâm đến một vấn đề nào đó, nhưng anh chẳng quan tâm đến vấn đề gì để có thể viết nên một câu chuyện cả. “Về chiến tranh thì sao?” Nancy nói. Chiến tranh ư? Anh nghĩ, thầm sửng sốt khi cô nghĩ rằng một thứ quá kinh hoàng trong đời thực như thế có thể được đưa vào tiểu thuyết nhanh đến vậy. “Vậy thì cuộc đời.” Cô nói. “Cuộc đời của anh. Một Bildungsroman[63].”
“Anh nghĩ thà anh cứ sống cuộc sống của anh…” Teddy nói. “… Còn hơn là sáng tác ra nó.” Và anh sẽ viết gì chứ? Nếu loại bỏ những gì liên quan đến chiến tranh (anh thừa nhận rằng như thế phải loại trừ rất nhiều) thì chẳng có gì xảy ra với anh cả. Tuổi thơ ở Góc Cáo, một thoáng trải nghiệm cuộc sống khá cô đơn và vô nghĩa của một nhà thơ kiêm nông dân lang thang, và bây giờ là cuộc sống hôn nhân nhàm chán - cho củi vào lò sưởi, lựa chọn giữa Ovaltine hay ca cao, và Nancy sắc sảo, điềm đạm mặc áo len dài tay để chống lại cái lạnh. Không phải là anh đang phàn nàn về cuộc sống hôn nhân của mình, anh biết anh nên cảm thấy may mắn khi có nó, bởi vì đó là thứ mà nhiều người quen của anh có muốn cũng chẳng được.
“Ôi, hãy dạy tôi làm thế nào để quên nghĩ[64]…” Một cậu bé mà anh chẳng bao giờ nhớ nổi tên đọc to bằng giọng nói vô hồn. Thế rồi chuông reo, cả lớp đứng bật dậy như một đàn chim sẻ và chen lấn xô đẩy nhau để ùa ra khỏi cửa lớp trước cả khi anh cho chúng nghỉ. (“Kỷ luật có vẻ không phải là sở trường của thầy.” Thầy hiệu trưởng thất vọng nói. “Tôi cứ tưởng vì thầy là một sĩ quan RAF…”)
Teddy ngồi ở bàn giáo viên trong lớp học trồng trơn, đợi các học sinh của một lớp Anh văn năm hai lục tục kéo đến. Anh nhìn quanh căn phòng dơ dáy với mùi cao su và mùi của những cái cổ bẩn không được lau rửa. Ánh mặt trời buổi sáng dịu dàng chiếu rọi qua các ô cửa sổ, soi tỏ bụi phấn và bụi đất mà những cậu bé đã khuấy tung lên. Bên ngoài những bức tường này là cả một thế giới bao la rộng lớn.
Anh đột ngột đứng dậy và đi ra khỏi lớp, len qua một đám học sinh mười một tuổi đang miễn cưỡng đi qua cửa để vào lớp. “Thưa thầy?” Một đứa trong bọn nói, giật mình khi thấy thầy giáo bỏ lại lớp học.
Anh tự ý bỏ dạy, lái xe về nhà trên con đường cái, vừa đi vừa nghĩ anh có thể dừng lại ở đâu đó và cuốc bộ một đoạn dài để cho mình thời gian suy ngẫm. Anh đang có nguy cơ trở thành một kẻ lang bạt, không thể gắn bó với bất cứ thứ gì. Các anh em trai của anh đang sống rất tốt. Jimmy đang sống một cuộc sống gấp gáp, hào nhoáng ở Mỹ, “kiếm những món tiền lớn”, trong khi Maurice là một quan chức ở Whitehall, một “cây đa cây đề”. Còn anh thì đang ở đây, thậm chí không thể làm một giáo viên quèn. Hồi chiến tranh, anh từng lập một lời thề rằng nếu anh sống sót, anh sẽ sống một cuộc sống bình lặng, không kêu ca, phàn nàn. Lời thề ấy có vẻ sẽ không được giữ trọn. Anh tự hỏi ở anh có vấn đề gì không ổn chăng?
Một người bị hỏng xe bên vệ đường đã cứu vớt anh. Teddy dừng chiếc Land Rover và đi tới để xem ông ta có cần giúp gì không. Nắp ca pô của chiếc Humber Pullman cũ kĩ của ông ta đang được dựng lên, còn người đàn ông thì nhìn chằm chằm vào động cơ xe với vẻ bất lực của người không thông thạo máy móc, như thể chỉ bằng sức mạnh của những ý nghĩ, ông ta có thể làm cho động cơ hoạt động trở lại. “A, một quý ông trên đường.” Người đàn ông cởi mũ nói khi Teddy dừng chiếc Land Rover lại. “Thứ chết tiệt này kiệt sức mất rồi. Giống hệt tôi. Bill Morrison.” Ông ta nói, giơ bàn tay núng nính ra.
Trong lúc Teddy hí hoáy với máy phát điện của chiếc ô tô, họ tán gẫu về những cây táo gai sum sê sắp thành hàng dài ven đoạn đường này. “Tháng Năm.” Bill Morrison gọi chúng bằng cái tên ấy. Ông nói trái tim ông hào hứng hẳn lên khi nhìn thấy chúng. Sau đó, Teddy không nhớ rõ cuộc trò chuyện này ra sao nhưng nó đã lan man “dây cà ra dây muống” (theo cách nói của Bill), từ vị trí của cây táo gai trong văn hóa dân gian Anh - táo gai Glastonbury, đại loại vậy - tới Nữ hoàng tháng Năm và cây nêu ngày mồng Một tháng Năm. Teddy đã kể cho ông ta nghe rằng đối với người Celts, loài cây này đánh dấu lối vào thế giới bên kia, còn người Hy Lạp cổ đại lại mang theo nó trong đám rước dâu.
“Tôi đoán anh từng học đại học, đúng không?” Bill Morrison nói. Giọng điệu ông ta mang vẻ ngưỡng mộ hơn là nhạo báng, mặc dù có lẽ cũng có một chút châm chọc. “Anh đã thử viết lách bao giờ chưa?”
“À thì...” Teddy chần chừ.
“Chúng ta đi ăn trưa nhé, chàng trai? Tôi mời.” Bill Morrison nói khi chiếc Humber cũ kĩ kêu lên khùng khục và hoạt động trở lại. Thế là Teddy thấy mình lái xe theo ông ta như một đoàn hộ tống gồm hai chiếc xe để đến một khách sạn ở Skipton, ăn một bữa trưa túy lúy với thịt bò nướng. Trong lúc ăn, Bill Morrison chăm chú tìm hiểu chi tiết về cuộc đời anh từ mọi góc cạnh.
Bill Morrison là một người đàn ông cao lớn chất phác với nước da tái xanh, ông từng “học việc” ở tòa soạn tờ Yorkshire Post, từ rất lâu trước đây, và bây giờ là một thành viên thủ cựu, bộc trực của Đảng Bảo thủ. “Tuy già nhưng còn tinh anh lắm.” Teddy đã kể lại với Nancy như vậy. Trong mắt ông, Chúa là một người Anh giáo khỏe khoắn, một người Yorkshire có lẽ chơi cricket cho đội tuyển của hạt khi không ban xuống những luật lệ từ trên núi. Theo thời gian, Teddy biết được thêm nhiều điều về trái tim rộng lượng và sự tốt bụng ẩn giấu dưới vẻ cộc cằn của ông. Ông rất thích thú khi biết Teddy đã có gia đình (“Đó là lẽ tự nhiên đối với một người đàn ông”) và thường khích anh kể về cuộc chiến của mình. Bản thân Bill đã “sống sót sau trận Somme[65]”.
Ông là biên tập viên của tờ Recorder. Rất lâu sau đó Teddy mới biết ông cũng là chủ sở hữu của tờ Recorder. “Anh có biết nó không, Ted?”
“Có.” Teddy lịch sự nói. Anh có biết không nhỉ? Anh lờ mờ nhớ lại mình từng đọc tờ tạp chí này trong phòng đợi của một phòng khám nha khoa để quên chuyện sắp bị nhổ một chiếc răng sâu. Chăm sóc răng miệng không phải là vấn đề cần được ưu tiên trong trại tù binh chiến tranh POW.
“Bởi vì tôi đang tìm người viết bài cho mục Tản mạn về thiên nhiên.” Bill Morrison nói. “Mỗi tuần chỉ vài dòng thôi - chẳng đủ để làm cần câu cơm cho anh đâu. Trước kia chúng tôi từng có một người phụ trách chuyên mục ấy với bút danh là Agrestis. Đó là tiếng Latin. Anh biết nó có nghĩa là gì không?”
“Một người nông thôn, một người nhà quê.”
“Chà, đúng vậy.”
“Chuyện gì đã xảy ra với người đó?” Teddy hỏi trong lúc suy ngẫm về lời đề nghị bất ngờ này.
“Tuổi già đã mang ông ấy đi. Ông ấy là một người nhà quê kiểu cũ. Một lão già khó chịu.” Bill Morrison trìu mến nói.
Teddy rụt rè nhắc đến kinh nghiệm làm nông của mình, những con cừu xứ Northumberland, những quả táo xứ Kent, tình yêu của anh với đồi núi, thung lũng và sông suối, biển cả. Niềm khoái lạc có được từ một hạt sồi trông như cái tách úp trên đĩa lót, chiếc lá dương xỉ đang bung mở, hoa văn trên lông của một con diều hâu. Vẻ đẹp trác tuyệt của bản đồng ca lúc bình minh trong một khu rừng hoa chuông xanh ở Anh. Anh không nhắc gì đến nước Pháp, những khối màu rắn chắc và những mảnh nắng nóng bỏng. Chúng sẽ không hợp với thị hiếu của một người đàn ông đã từng chiến đấu trong trận Somme.
Teddy được đánh giá rất tốt, cho dù anh là người miền Nam.
“Có hai người đàn ông…” Bill Morrison nói khi họ ăn món pho mát Stilton. Mất một lúc Teddy mới nhận ra rằng đây là lời dẫn dắt khá sáo mòn của một câu chuyện dí dỏm. “Một người là dân Yorkshire, vùng đất của Chúa. Người còn lại không phải là dân Yorkshire. Người không phải là dân Yorkshire nói với người kia (lúc này Teddy bắt đầu rối): “Hôm nọ tôi gặp một người Yorkshire.” Rồi người là dân Yorkshire nói: “Sao anh biết đó là người Yorkshire?” Và người không phải là dân Yorkshire (giờ thì Teddy điên cả đầu) nói: “Bởi vì thổ âm của anh ta.” Người đàn ông Yorkshire lại nói: “Không phải đâu, anh bạn, nếu anh ta là dân Yorkshire, anh ta sẽ khoe điều đó với anh ngay khi vừa mở miệng.””
“Hãy thử nhét nó vào một cây pháo giật Giáng sinh[66].” Nancy nói khi Teddy cố gắng kể lại cho cô nghe câu chuyện ấy vào tối hôm đó khi anh về nhà, đã ngà ngà say. (“Ôi trời ơi, người anh sặc mùi bia. Em khá thích đấy.”) “Và anh có một công việc mới ở một tòa soạn báo ư?”
“Không, không phải là một tòa soạn báo.” Teddy nói. “Thực sự thì cũng không phải là một công việc.” Anh nói thêm. “Chỉ vài si linh một tuần thôi.”
“Còn trường học thì sao? Anh vẫn sẽ dạy học chứ?”
Trường học, Teddy nghĩ. Chuyện sáng nay đã trở thành quá khứ. (Ôi, hãy dạy tôi làm thế nào để quên nghĩ.) Anh nói anh đã bỏ trốn. “Ồ, tội nghiệp anh yêu.” Nancy cười. “Và chuyện này sẽ dẫn đến nhiều chuyện khác tốt đẹp hơn, em biết mà, em có linh cảm như vậy.”
Đúng là thế thật. Tháng Mười với những sắc màu của mùa thu, nấm, hạt dẻ và mùa hè Anh Điêng[67] đến muộn. Tháng Mười một với “Bà mẹ Thiên nhiên bao bọc những đứa con của mình” để chuẩn bị cho cuộc chiến với cái lạnh sắp tới, và tháng Mười hai với cây nhựa ruồi không thể thiếu cùng loài chim cổ đỏ. “Hãy tìm một đề tài khiến người ta cảm động.” Bill nói, và thế là anh viết về chuyện tại sao chim cổ đỏ lại có cổ màu đỏ.
Chúng chỉ là những mẩu chuyện tẻ ngắt nhưng Bill Morrison thấy ổn vì ông không “tìm kiếm thứ gì uyên bác”.
Lại một bữa trưa túy lúy nữa ngay trước Giáng sinh và anh được mời làm một “phóng viên lưu động”. Người từng giữ vị trí này đã chết trong chiến tranh. “Ông ấy tham gia đoàn tàu hộ tống Bắc Cực[68].” Bill Morrison nói ngắn gọn, không muốn đi sâu vào chi tiết, và nói rằng ông cũng sẽ chết sớm nếu cứ phải chạy đôn chạy đáo làm công việc của hai người.
“Bây giờ anh hạnh phúc rồi chứ?” Nancy hỏi khi họ treo cành nhựa ruồi và tầm gửi mà họ đã hái ở trong rừng lên.
“Ừ.” Teddy nói sau một hồi suy ngẫm lâu hơn mức cần thiết.
Những bông giọt tuyết đáng nguyền rủa.
“Có vài người cho rằng việc hái những sứ giả mùa xuân nhỏ bé nhưng can đảm này sẽ mang lại vận xui nên họ sẽ không mang chúng vào trong nhà. Có lẽ vì chúng mọc quá nhiều trong các nghĩa địa của nhà thờ.”
Sylvie luôn hái những bông giọt tuyết đầu tiên nở hoa ở Góc Cáo. Đó quả là điều đáng tiếc vì chúng héo và tàn rất nhanh.
“Màu trắng của hoa giọt tuyết khiến người ta liên tưởng đến sự tinh khiết, vì thế loài hoa khiêm nhường này được gán cho hình tượng trong trắng, ngây thơ (có ai còn nhớ “Ban nhạc Giọt Tuyết” gồm những cô gái trẻ của thế kỷ trước không?).
Có một truyền thuyết của Đức…”
“Ôi, Chúa ơi.” Nancy lẩm bẩm.
“Chuyện gì vậy?”
“Em tuột mất một mũi đan. Anh cứ đọc tiếp đi!”
“… Kể lại rằng khi Chúa trời tạo ra vạn vật, ngài đã bảo tuyết đi hỏi xin màu sắc từ các loài hoa. Tất cả các loài hoa đều từ chối, trừ bông giọt tuyết tốt bụng. Để đền đáp ơn nghĩa này, tuyết đã cho phép nó trở thành loài hoa đầu tiên của mùa xuân.
Âm nhạc có sức mạnh hàn gắn. Nước Đức không còn là kẻ thù của chúng ta và chúng ta nên nhớ đến kho tàng thần thoại, truyền thuyết và cổ tích phong phú của họ, chưa kể những di sản văn hóa, những bản nhạc của Mozart…”
“Mozart là người Áo mà.”
“Ừ, đúng rồi.” Teddy nói. “Không hiểu sao anh lại quên mất điều đó. Vậy thì là Beethoven. Brahms, Bach, Schubert. Schubert có phải là người Đức không nhỉ?”
“Không phải, ông ấy cũng là người Áo.”
“Haydn thì sao?” Anh đánh bạo nói.
“Người Áo.”
“Nhiều người Áo quá nhỉ? Vậy thì - những di sản văn hóa của nó gồm âm nhạc của Bach, Brahms, Beethoven…”
Nancy khẽ gật đầu, như một giáo viên đồng ý sự sửa chữa của một học sinh. Chắc là cô đang đếm những mũi đan.
“Trong số những người này, Beethoven là…”
“Chúng ta đã bỏ bẵng bông hoa giọt tuyết rồi đấy. Sao anh lại đi nói về người Đức vậy?”
“Bởi vì anh đang nhắc đến một truyền thuyết của Đức.” Teddy nói.
“Nhưng bài viết của anh nghe như nói về việc tha thứ cho người Đức vậy. Anh đã tha thứ cho họ rồi ư?”
Anh đã tha thứ cho họ rồi ư? Có lẽ về mặt lý thuyết thì đúng, nhưng tận sâu trong tim anh, nơi sự thật ngự trị, thì không. Anh nghĩ về tất cả những người quen đã bị giết. Những người chết, giống như các thiên thần và ác quỷ, nhiều không đếm xuể.
Đã ba năm kể từ khi cuộc chiến của anh kết thúc. Vào năm cuối cùng, anh đã bị loại khỏi vòng chiến đấu và bị nhốt trong một trại tù binh chiến tranh POW gần biên giới Ba Lan. Anh đã nhảy dù ra khỏi một chiếc máy bay đang bốc cháy trên lãnh thổ nước Đức và không thể tránh được việc bị bắt giữ vì một bên mắt cá chân bị vỡ. Máy bay của anh đã bị hỏa lực phòng không bắn hạ trong cuộc không kích dữ dội xuống Nuremberg. Lúc bấy giờ anh còn chưa biết rằng đó là đêm tồi tệ nhất của cuộc chiến đối với Binh chủng Máy bay ném bom - chín mươi sáu máy bay bị mất tích, năm trăm bốn mươi lăm người bị giết, nhiều hơn cả toàn bộ cuộc Không chiến Anh Quốc[69]. Nhưng đến lúc anh trở về nhà, đó chỉ còn là tin tức cũ kĩ, nguội lạnh, Nuremberg gần như đã bị quên lãng. “Anh đã rất dũng cảm.” Nancy động viên anh với vẻ dửng dưng, như thể cô đang khen ngợi vì anh vừa đạt điểm cao trong một bài kiểm tra Toán - ít nhất là Teddy cảm thấy như vậy.
Bây giờ, đối với anh, cuộc chiến là một mớ hỗn độn những hình ảnh ngẫu nhiên ám ảnh anh trong giấc ngủ - dãy Alps dưới ánh trăng, một lưỡi cánh quạt bay qua không trung, một khuôn mặt tái nhợt trong làn nước. Thôi, chúc anh may mắn. Thi thoảng là mùi tử đinh hương nồng nàn, có lúc là một bản nhạc khiêu vũ ngọt ngào. Và lúc nào cũng vậy, vào cuối cơn ác mộng sẽ có một đoạn kết không thể tránh khỏi, lửa cháy bùng bùng và cú va chạm choáng váng khi bị rơi xuống đất. Khi gặp ác mộng, chúng ta thường tự mình tỉnh dậy trước cái kết khủng khiếp, trước cú rơi, nhưng Teddy phải nhờ đến Nancy đánh thức. Cô phải vỗ về, an ủi anh, và anh sẽ nhìn chằm chằm vào bóng tối trong một lúc lâu, tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra với anh nếu cô không thể đánh thức anh dậy vào một đêm nào đó.
Trong chiến tranh, anh đã cam chịu chấp nhận cái chết. Thế rồi, chiến tranh đột nhiên kết thúc và anh bỗng thấy mình có một ngày hôm sau, rồi lại một ngày hôm sau và một ngày hôm sau nữa. Một phần trong anh không bao giờ thích nghi được với việc mình có một tương lai.
“Beethoven.” Anh bướng bỉnh bắt đầu lại. Ta không thể bắt Beethoven phải chịu trách nhiệm cho cuộc chiến. Anh chợt nhớ đến một ký ức - anh và Ursula ngồi trong Phòng hòa nhạc Hoàng gia Albert - đó là năm nào nhỉ, 1943 thì phải? - họ cùng nghe Bản giao hưởng số Chín của Beethoven, Ursula gần như run lên vì xúc động trước sức truyền cảm của âm nhạc. Anh cũng đã cảm nhận được nó, sức mạnh của thứ gì đó nằm bên ngoài nhịp sống nhỏ bé thường ngày. Anh lắc lắc người như một chú chó bị ướt lông.
“Anh ổn chứ, anh yêu?”
Anh “ừ” một tiếng. Anh muốn xua tan chiến tranh, muốn xua tan sự khủng khiếp và bi thương của nó. Những điều này anh không thể nói thành lời.
“Và, anh biết đấy…” Nancy, với tâm hồn bình thản, tiếp tục nói. “Em nghĩ chẳng ai muốn nghe nhắc đến chiến tranh khi họ đọc chuyên mục Tản mạn về thiên nhiên của Agrestis đâu. Ngược lại là đằng khác.”
“Anh pha ca cao nhé?” Anh đề nghị để thoát khỏi chủ đề này. “Hay em muốn uống Ovaltine hơn?”
“Ovaltine anh ạ.”
“Em sẽ làm hỏng mắt mình đấy.” Anh nói khi rót chai sữa đã bị đông một nửa vào một cái nồi và đặt nó lên bếp.
“Em thôi rồi đây.” Cô nói, thoăn thoắt quấn những cuộn len có màu sắc khác nhau.
Sữa trong nồi đột nhiên dềnh lên và Teddy vội bắc cái nồi xuống trước khi sữa trào ra. Khuôn mặt anh đỏ bừng vì lửa, khiến anh nhớ đến vết bỏng trên cổ. Nó lồ lộ ngay phía trên cổ áo anh với lớp da màu hồng nhăn nheo và bóng loáng, dấu hiệu cho thấy còn có những vết sẹo khác nữa ở những nơi kín đáo hơn.
“Chà, Trung tá Không quân Todd.” Nancy nói. “Em nghĩ đã đến giờ đi ngủ rồi.”
Cô luôn nhắc đến cấp bậc thời chiến của anh với chút châm biếm, như thể anh đã giả vờ có nó. Anh không biết tại sao cô lại làm thế, nhưng điều đó khiến lòng anh chùng xuống đôi chút.
Họ đi lên Ultima Thule, cái tên mà họ đặt cho căn phòng ngủ trên gác mái giống như cái tủ ướp đá của họ. Teddy rùng mình khi anh cởi các lớp quần áo và nhảy lên giường như thể đang lao vào vùng nước băng giá của biển Bắc.
Họ nhanh chóng sưởi ấm cho nhau sau cú sốc ban đầu khi chạm vào những tấm chăn lạnh giá và luồng không khí rét mướt. Trong thời tiết thế này, việc ân ái trở nên bạo liệt hơn, chẳng còn chút lãng mạn nào. (“Người ta không bao giờ lạnh khi có một ông chồng ở bên.” Chị gái Millie của Nancy viết thư cho cô từ vùng đất Arizona khô cằn nóng bức. “Đặc biệt là một ông chồng đẹp trai như chồng em!”)
Một trận bão tuyết đã nổi lên, nghe như ai đó đang ném liên tiếp những quả bóng tuyết vào cửa sổ. Họ là một cặp Adam và Eve mới, bị đày đọa trong mùa đông vĩnh hằng.
Nancy hôn lên má anh và nói: “Chúc anh ngủ ngon, trái tim yêu dấu của em.” Nhưng Teddy đã ngủ mất rồi.
Nancy thổi tắt ngọn nến bên cạnh giường và đợi những cơn ác mộng của Teddy bắt đầu.
Họ phải có một đứa con, cô nghĩ. Họ phải có một đứa con để hàn gắn những tổn thương của Teddy, để hàn gắn thế giới này.
Chu thich
[44] Một kiểu đan truyền thống tạo ra mẫu hoa văn bằng nhiều màu sắc khác nhau, được đặt tên theo tên của Fair Isle (đảo Fair) thuộc quần đảo Shetland.
[45] Tiếng Pháp: nghĩa là “Can đảm lên, bạn của tôi”.
[46] Tiếng Đức, nghĩa là thị trấn cổ, thành phố cổ.
[47] Tiếng Đức, nghĩa là tòa thị chính.
[48] Một thuyết hấp dẫn lượng tử.
[49] Trích một câu thơ trong bài thơ Tuesday in Easter week (Tạm dịch: Ngày thứ Ba trong tuần lễ Phục sinh) của John Keble (1792 - 1866), một nhà thơ người Anh.
[50] Thành phố lớn nhất trong tiểu bang Wisconsin của Mỹ.
[51] Một trận đánh nổi tiếng trong lịch sử giữa các thành bang Hy Lạp và Đế quốc Ba Tư, kéo dài trong khoảng ba ngày. Trận đánh này thường được dùng để làm ví dụ cho sức mạnh của một đội quân yêu nước, chiến đấu vì dân tộc, vì quốc gia.
[52] Trại giam tù binh chiến tranh.
[53] Một hình ảnh ẩn dụ trong bài thơ sonnet số 73 của William Shakespeare.
[54] Trong thần thoại Hy Lạp, Pan là vị thần của sự hoang dã và âm nhạc đồng quê. Vào thế kỷ XVIII và XIX, thần Pan trở thành một biểu tượng đặc biệt của phong trào lãng mạn ở Tây Âu cũng như phong trào ngoại giáo trong thế kỷ XX.
[55] Một câu thoại trong vở kịch Nhật hoàng của W. S. Gilbert và Arthur Sullivan.
[56] Một pháo đài phòng thủ đánh dấu biên giới phía tây bắc của Đế quốc La Mã trong ba thế kỷ, được xây dựng theo lệnh của Hoàng đế La Mã Hadrian và được đặt tại Vương quốc Anh.
[57] Trong thần thoại Hy Lạp, Hippocrene là một con suối trên đỉnh núi Helicon, tương truyền nước suối có thể truyền thi hứng cho người uống nó. Nhà thơ John Keats đã ví loại rượu ông uống với con suối này trong một bài thơ của mình.
[58] Tiếng Pháp, nghĩa là “tác giả người Anh”.
[59] Tiếng Pháp, nghĩa là “bà chủ nhà”.
[60] Thần Mặt trời trong thần thoại Hy Lạp.
[61] Tiếng Pháp, nghĩa là “rượu pha hạt hồi”.
[62] Cụm từ trong một dụ ngôn của Chúa Jesus được ký thuật trong Phúc âm Luke. Chuyện kể về người con trai trở về sau khi tiêu xài hoang phí toàn bộ tài sản của mình.
[63] Tiếng Đức, nghĩa là tiểu thuyết giáo dục nhân cách, viết về những năm tháng hình thành nhân cách và trí tuệ của một nhân vật nào đó.
[64] Trích trong vở kịch Romeo và Juliet của William Shakespeare.
[65] Một trong những trận đánh lớn nhất của Chiến tranh Thế giới thứ Nhất.
[66] Cuộn giấy có hình viên kẹo lớn màu sắc sặc sỡ. Vào đêm Giáng sinh, hai người sẽ cầm hai đầu “cây pháo” này và cùng giật mạnh, nó sẽ phát ra tiếng nổ và rơi ra những món đồ chơi hoặc món quà ở bên trong, đôi khi có cả những mẩu truyện cười.
[67] Kiểu thời tiết khô nóng thi thoảng xảy ra vào đầu mùa thu.
[68] Đoàn tàu hộ tống các tàu chở hàng đi từ Anh, Iceland và Bắc Mỹ đến các hải cảng ở miền Bắc Xô Viết trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
[69] Tên thường gọi của một cuộc không chiến dai dẳng giữa Đức Quốc xã và Anh Quốc vào mùa hè - thu năm 1940 trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
[70] Arthur Neville Chamberlain (1869 - 1940): là một chính trị gia bảo thủ người Anh, đã từng là Thủ tướng Anh từ năm 1937 đến năm 1940.
[71] William Wordsworth có bài thơ với tiêu đề là Ode: Intimations of Immortality (Tạm dịch: Tụng ca: Những dấu hiệu của sự bất tử).