Bến xe buýt đảo Staten Tháng 12 năm 1971
Mọi người vẫn tìm kiếm trong rừng những hài cốt của đám trẻ mất tích.
Co lô gái mười sáu tuổi, Sage Winters, cầm lấy vé xe buýt bằng những ngón tay run rẩy và rời khỏi ô cửa mua vé của nhà ga, những lời ám ảnh của bạn bè cứ lặp đi lặp lại trong tâm trí cô như một bài đồng dao đáng sợ thời thơ ấu. Đây không phải lần đầu tiên cô nghe được lời cảnh báo - tất cả những người sống trên đảo Staten cần đặc biệt chú ý đến xung quanh và những gì người khác nói khi bước chân vào rừng - nhưng càng nghĩ về những lời Heather và Dawn lặp lại đêm hôm trước, nỗi tức giận trong cô càng bùng lên. Tại sao họ lại nói những điều thật khủng khiếp thay vì cố gắng an ủi cô? Tại sao họ lại bới móc những tin đồn cũ về nghi lễ Satan được tổ chức bên dưới viện điều dưỡng bệnh lao bỏ hoang, thay vì đề nghị giúp cô tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra với Rosemary? Chắc chắn rồi, họ đã uống rượu, và trong thâm tâm có lẽ cũng cảm thấy sợ hãi, nhưng đây là một chuyện hệ trọng. Em gái sinh đôi của cô đã mất tích. Điều đó không có nghĩa là con bé đã chết. Điều đó không có nghĩa là truyền thuyết đô thị mà họ đã được nghe kể khi lớn lên là sự thật. Cropsey [1] chỉ là một câu chuyện đáng sợ mà các bậc cha mẹ kể cho con cái của họ để khiến chúng sợ hãi, biết cách cư xử và ở gần nhà. Và Rosemary là một “bệnh nhân” tại Trường Công lập Willowbrook - con bé không lang thang trên đường phố, nơi một kẻ giết người điên rồ có thể dễ dàng bắt gặp. Ở đó có các bác sĩ, y tá và giáo viên đang chăm sóc cho con bé, đảm bảo rằng con bé được cho ăn uống đầy đủ, được bảo vệ, tắm rửa sạch sẽ và được dạy những kỹ năng cơ bản. Ít nhất đó là những gì mà Alan - cha dượng của Sage, đã nói với cô đêm qua, khi cuối cùng ông ta cũng chịu thừa nhận Rosemary còn sống.
Rùng mình nhớ lại lúc biết sự thật về người em song sinh của mình, Sage nhét vé xe buýt vào túi áo khoác, sau đó lục trong túi xách tìm gói Kools. Cô rất cần một điếu thuốc để có thể nếm được vị. Và cả một lon Pepsi nữa, nhưng cái máy soda chết tiệt đó đã hỏng. Trên hết, cô hoàn toàn bị choáng ngợp. Đầu ong ong, miệng có vị như giấy nhám, và những suy nghĩ lẫn lộn vào nhau trong một cảm giác hoang mang nặng nề. Cảm giác tồi tệ này càng khiến cô lo lắng hơn, nhưng cô không thể đổ lỗi cho ai ngoài bản thân mình. Cô thật là một kẻ ngốc khi nghĩ rằng uống sáu ly Amaretto và mười ly rượu Schnapp bạc hà là cách tốt nhất để đối phó với cú sốc khi biết Rosemary đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần.
Cô băng qua khu vực chờ đầy bụi bẩn, vội vã đi qua những hàng ghế nhựa màu xanh khi hướng về phía lối ra, tay vẫn đang lục túi để tìm thuốc lá. Xem xét thời tiết thì có lẽ hút thuốc trong nhà ga sẽ tốt hơn, nhưng nơi này có mùi giống như bồn tiểu, và cô không muốn lỡ chuyến xe buýt đến Willowbrook. Càng sớm lên được chuyến xe ấy, cô càng ít có cơ hội thay đổi quyết định.
Nhưng có thứ gì đó cứ mắc kẹt dưới chiếc nhẫn tâm trạng [2] của cô, cản trở việc tìm kiếm trong túi. Cô dừng lại. Có phải cô đã quên cất lại cái thẻ căn cước giả của mình vào ví sau khi rời quán bar đêm qua? Khi rút tay ra và nhìn thấy thứ đó là gì, cô đã khẽ chửi thề. Một góc của chiếc bao cao su rỗng đã mắc vào bên dưới viên đá của chiếc nhẫn, và giờ nó treo trên tay cô như một tấm băng rôn. Sage kéo mảnh bao ra, đi tới thùng rác và ném nó vào. Cô lôi đống còn lại của chiếc hộp bao cao su loại sáu cái ra khỏi túi và ném chúng đi, không quan tâm ai đã nhìn thấy, miệng vẫn chửi rủa. Có một điều chắc chắn là: Người bạn trai tiếp theo của Sage sẽ phải đủ đàn ông để tự mua đống bao cao su chết tiệt ấy. Nghĩ về Noah, nước mắt cô trào ra. Nếu hôm trước cô không bắt gặp hắn ta ân ái với “con quỷ cái Yvette”, hắn đã có thể đến Willowbrook cùng cô. Thay vào đó, có lẽ hắn vẫn đang nằm trên giường, tận hưởng những ngày cuối cùng của kỳ nghỉ Giáng sinh và mơ về việc gặp lại cô sau này. Chà, hắn ta hẳn sẽ ngạc nhiên lắm. Cô đã nhét một lá thư dưới cửa phòng, bảo hắn đừng bao giờ gọi cho cô nữa. Bởi nếu có một điều mà cô không thể dung thứ thì đó là một người bạn trai lừa dối. Việc hắn ta và Yvette “chỉ” hôn nhau thôi không quan trọng - lừa dối là lừa dối. Và từ lâu Sage đã thề rằng cho dù có đau lòng đến đâu đi chăng nữa thì cô cũng sẽ không bao giờ lãng phí một phút nào của cuộc đời mình với một người giống như người mẹ quá cố, người luôn không chung thủy với cha cô.
Nghĩ về mẹ, một nỗi oán hận quen thuộc siết chặt lấy quai hàm Sage. Cô từng tin cha mẹ mình yêu nhau điên cuồng đến mức không ai và không điều gì khác là quan trọng. Ở trường trung học, cha cô là cầu thủ ngôi sao trong đội bóng rổ, còn mẹ cô là đội trưởng đội cổ vũ; họ đã kết hôn ngay sau khi tốt nghiệp. Đáng lẽ cuộc hôn nhân đó phải kéo dài mãi mãi. Sage và Rosemary cũng đã nghĩ rằng nó sẽ là mãi mãi - cho đến lần đầu tiên họ thấy cha mẹ mình cãi vã. Lần đầu tiên mẹ ném một ly Martini vào cha. Lần đầu tiên bà bảo ông biến đi. Và đó cũng là lần cuối.
Rosemary không bao giờ hiểu vì sao cha mẹ họ luôn bất hòa - chuyện này khiến cô bé thay đổi, nhưng không phải theo chiều hướng tốt hơn. Mặt khác, Sage biết họ có vấn đề nhưng không có khả năng cứu vãn, vì vậy cô cố gắng phớt lờ những cuộc cãi vã của họ. Ban đầu, khi lần đầu tiên nhận ra mẹ mình uống rượu mỗi ngày, cô nghĩ cha mình ngoại tình và ghét ông vì điều đó. Nhưng sau đó cô biết được sự thật.
Những kẻ lừa dối là những kẻ la hét và than gào, những kẻ cố gắng đổ lỗi cho người khác. Như thể việc mẹ cô nói dối về chuyện đi làm về muộn để bà có thể ngủ với sếp của mình, là lỗi của cha cô. Như thể ông là người đã phá hủy cuộc hôn nhân của ông sếp đó cùng cuộc hôn nhân của chính bà. Bất kể cha của Sage đã làm gì hay cố gắng thế nào thì ông ấy cũng không bao giờ đủ tốt với mẹ của những đứa trẻ. Ông không yêu bà đủ nhiều. Ông không đối xử với bà đủ tốt. Bất cứ điều gì ông làm cũng là không đủ. Ngoại trừ việc ông là người mang cà phê đến tận giường cho bà mỗi sáng và nấu bữa tối mỗi ngày. Ông là người đã đưa Sage và Rosemary đến trường mầm non và đảm bảo rằng chúng có quần áo sạch sẽ. Ông là người mỗi năm đều trang trí ngôi nhà và mua cây thông lớn nhất ông có thể tìm thấy vì Giáng sinh là ngày lễ mà người mẹ của họ yêu thích. Chưa từng có ai quan tâm đến mẹ của Sage nhiều như ông. Và cô chưa bao giờ có lý do để không tin tưởng ông.
Sage cũng chưa bao giờ có lý do để không tin tưởng vào Noah. Rất nhiều cô gái lảng vảng xung quanh với hy vọng thu hút được sự chú ý của hắn ta, nhưng hắn chưa bao giờ nhìn họ đến lần thứ hai. Heather và Dawn luôn hỏi liệu cô có tin hắn không, nhưng Sage biết hắn yêu cô nhiều như thế nào - hoặc ít nhất cô nghĩ là mình biết. Cô đã quen với việc nhìn thấy những gã đàn ông tiệc tùng với những cô gái khác nhau, rượu Whisky và bia tuôn trào, cùng những điếu xì gà được chuyển tay nhau. Nhưng Noah luôn ở bên cô, cười nhạo những trò hề của đám bạn mình. Cô chưa bao giờ nghĩ hắn ta sẽ lừa dối. Trong suốt cả năm họ ở bên nhau, chưa bao giờ có một tờ giấy nhắn nào nhét trong ngăn tủ của hắn, vết son môi trên cổ, thậm chí là tin đồn hắn nhìn người con gái nào khác. Cho đến bây giờ.
Cô thầm nguyền rủa hắn lần nữa, rồi khẽ chớp mắt để ngăn giọt nước mắt, từ chối khóc vì một người con trai. Cô còn nhiều việc quan trọng hơn phải lo nghĩ. Đẩy lùi hình ảnh của Noah ra khỏi tâm trí, cô lê bước về phía lối ra. Hắn ta không đáng để nghĩ đến thêm nữa. Ít nhất đó là những gì mà lý trí của cô lên tiếng. Heather và Dawn cũng không đáng để nghĩ đến. Lúc đầu, cô cảm thấy thật tệ vì tối qua đã bỏ đi, để họ lại trong quán bar mà không trả tiền cho hóa đơn của mình, nhưng giờ cô thấy mừng vì mình đã làm vậy. Nỗi đau mất em gái sáu năm trước - nỗi đau nặng nề, khủng khiếp mà cô vẫn còn cảm nhận được cho đến tận bây giờ - không phải là chuyện để đùa cợt. Họ biết cái chết của Rosemary là ngã rẽ cuộc đời cô. Cả trước và sau đó. Và đây không phải là một trò chơi khăm hay một lời cầu xin sự chú ý.
Cho đến tận bây giờ, Dawn và Heather vẫn chỉ trích cô về việc cô ghét bàn cầu cơ và sợ kim tiêm đến mức bất tỉnh khi họ cố xỏ lỗ tai cô bằng kim khâu và một cục đá. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi họ kể ra tin đồn về Cropsey và những tội ác khủng khiếp mà gã đã gây ra khi cô nói với họ rằng Rosemary đã mất tích. Và thậm chí điều đó cũng chẳng phải là vấn đề gì lớn, ngoại trừ việc họ vẫn không ngừng nói về gã ngay cả khi cô đã cầu xin họ dừng lại.
Giờ đây, khi đến gần cửa đôi của trạm xe buýt, cô đi chậm lại. Quảng cáo tuyển dụng, danh thiếp, và có vẻ như là hàng trăm tờ rơi tìm trẻ mất tích phủ đầy một bảng thông báo bên cạnh cửa ra vào - những khuôn mặt ngây thơ, tươi cười xếp thành hàng nối tiếp hàng như những bức ảnh kỷ yếu đã bạc màu. Cô luôn ghét những tờ rơi đó: từ MẤT TÍCH viết in hoa đập vào mắt, những bức ảnh mờ nhạt được chụp vào những ngày tháng vui vẻ hơn trước khi những đứa trẻ bị bắt cóc, khi mọi người vẫn còn hạnh phúc, không hề hay biết rằng một ngày nào đó chúng sẽ bị đánh cắp khỏi gia đình. Các tờ rơi được dán khắp đảo Staten, bên trong các cửa hàng tạp hóa và bưu điện, bên ngoài các sân chơi bowling và rạp chiếu phim, trên hộp thư và cột điện thoại. Thứ gì đó lạnh và cứng siết chặt trong ngực cô. Liệu khuôn mặt người em gái song sinh của cô cũng xuất hiện trên một trong những tờ rơi chết tiệt đó chứ? Và tất cả những đứa trẻ tội nghiệp, ngây thơ đó ở đâu? Chúng đã phải chịu đựng những điều khủng khiếp gì? Chúng đã chết rồi ư? Hay vẫn đang thống khổ Khóc lóc và khiếp sợ, tự hỏi tại sao cha mẹ của chúng, những người đã hứa sẽ yêu thương và bảo vệ chúng mãi mãi, vẫn chưa đến giải cứu? Cô không thể tưởng tượng ra một số phận tồi tệ hơn được nữa.
Mọi người nói chẳng có gì ngạc nhiên khi có rất nhiều trẻ em bị mất tích trên đảo Staten. Sau cùng thì đó là bãi rác của thành phố New York, một người như Cropsey sẽ dễ dàng giấu những cái xác ở đó. Cụm từ “bãi rác” theo cách gọi của họ, bắt đầu từ những năm 1800, khi thành phố bỏ mặc những người mắc bệnh truyền nhiễm trên đảo - hàng nghìn linh hồn tội nghiệp mắc bệnh sốt vàng da, sốt phát ban, dịch tả và đậu mùa. Sau đó, thành phố vứt bỏ bệnh nhân lao tại bệnh viện Seaview; những người nghèo khổ, mù, điếc, tàn tật và già yếu tại Farm Colony; và người chậm phát triển trí tuệ tại Trường Công lập Willowbrook. Đám đông vứt xác trong rừng và vùng đất ngập nước. Thành phố đổ hàng tấn rác tại Fresh Kills, nơi từng là đất đầm thủy triều đầy thực vật, ếch nhái và cá, nhưng giờ toàn là chuột và chó hoang. Có lẽ cảnh sát nên tìm những đứa trẻ mất tích ở đó.
Ngay lúc ấy, một người phụ nữ mặc áo khoác kẻ sọc bước vào nhà ga, mang theo một luồng không khí lạnh thổi qua khu vực chờ và làm lay động những tờ rơi “MẤT TÍCH” như bàn tay của bóng ma. Người phụ nữ vội vã bước đi, va vào vai Sage, tiếp tục đi và không một lời xin lỗi.
Quay trở lại hiện tại, Sage quay lưng lại với những tờ rơi, đẩy cửa nhà ga với lực mạnh hơn mức cần thiết và bước ra ngoài trong ánh sáng không màu của mùa đông. Cô châm một điếu thuốc và rít một hơi dài. Heather và Dawn đã nói đúng về Noah. Nếu họ cũng đúng về Cropsey thì sao? Nếu gã thực sự đã bắt cóc Rosemary thì sao? Cô rít thêm một hơi thuốc nữa và bắt đầu đi dọc vỉa hè, tự nhắc mình đừng có lố bịch nữa. Một bệnh nhân tâm thần, trốn thoát với một cái móc cầm tay hay một chiếc rìu sắc như dao cạo, không săn lùng trẻ em và lôi chúng trở lại đường hầm bên dưới đống đổ nát của bệnh viện lao cũ để cống nạp chúng cho Satan. Tin vào ông kẹ còn dễ dàng hơn là thừa nhận rằng có rất nhiều kẻ độc ác trên thế giới.
Nhưng nếu Alan nói thật về việc Rosemary vẫn an toàn và được chăm sóc ở Willowbrook trong sáu năm qua, vậy thì tại sao con bé lại mất tích? Làm thế nào con bé biến mất khỏi tầm nhìn của các bác sĩ và y tá, những người được cho là đang trông chừng con bé? Có phải Sage phát hiện ra Rosemary vẫn còn sống chỉ để mất con bé thêm một lần nữa? Cô đã mất đi quá nhiều người mà cô yêu quý rồi.
Lục trong túi áo khoác để lấy vé xe buýt, Sage siết chặt nó bằng một tay và đi về phía cổng số tám, nơi xe buýt đến Willowbrook dự kiến sẽ đến bất cứ lúc nào. Nếu có thể ngừng lại tiếng búa nện thình thịch trong đầu và tiếng cồn cào trong dạ dày, có lẽ cô có thể suy nghĩ thông suốt. Điều quan trọng nhất lúc này là tìm ra cách tốt nhất để tìm Rosemary. Không nổi giận với bạn bè và bạn trai - bạn trai cũ - không cảm thấy tiếc thương cho bản thân, không lo lắng về một kẻ giết người hàng loạt không tồn tại. Cô cần trí thông minh của mình để có thể tập trung vào những việc cần làm khi đến Willowbrook. Hy vọng là bên tìm kiếm sẽ để cô giúp đỡ theo một cách nào đó. Có thể đã sáu năm kể từ khi cô gặp Rosemary, nhưng cô vẫn hiểu em gái mình hơn bất kỳ ai. Những điều ngớ ngẩn và những ý tưởng mơ hồ mà không ai khác nhìn thấy hoặc hiểu được khiến cho Rosemary cảm thấy khiếp sợ; hoàn toàn có khả năng là ai đó hoặc thứ gì đó ở Willowbrook đã làm con bé sợ hãi và phải lẩn trốn. Nếu con bé đang trốn, có lẽ khi nhìn thấy Sage đang tìm kiếm mình hoặc nghe thấy chị gái gọi tên mình, con bé sẽ xuất hiện. Tất cả những gì mà Sage biết một cách chắc chắn, đó là cô sẽ gọi tên em gái mình cho đến khi giọng khàn đặc, cho đến khi ba âm tiết đó phát ra như vỡ vụn trong tuyệt vọng, cho đến khi mọi ngóc ngách cuối cùng được tìm kiếm và tảng đá cuối cùng bị lật lên.
Gần góc nhà ga, một người đàn ông vô gia cư trong chiếc áo khoác quân đội đã sờn màu ngồi thu mình dưới tấm chăn trên vỉa hè đầy rác, mái tóc dài bóng nhờn của ông ta rủ xuống bên dưới chiếc mũ lưỡi trai Yankees sờn rách. Một tấm bìa cứng đặt bên cạnh ghi: BÁC SĨ THÚ Y KHUYẾT TẬT, XIN HÃY GIÚP ĐỠ. Ông ta ngước nhìn Sage với đôi mắt nâu buồn bã, giống như những viên bi ướt chìm sâu trên khuôn mặt đầy râu, và giơ một hộp xúp rỗng.
“Dành ít tiền cho một cựu chiến binh bị thương chứ?” Ông nói.
Cô có thể nghe thấy giọng nói của Alan trong đầu, cảnh báo cô không được đưa tiền cho những người vô gia cư vì họ sẽ dùng số tiền đó để mua ma túy và rượu. Nhưng cô cho rằng những người vô gia cư cũng phải ăn, thật không công bằng với tất cả các cựu chiến binh nếu bị đánh giá bởi hành động của một số ít người, vì vậy cô lựa chọn hình dung việc họ dùng những gì cô đưa để mua một chiếc bánh kẹp phô mai hoặc bánh táo của McDonald’s . Cô ngậm điếu thuốc, lục trong túi áo khoác để lấy tiền thừa khi mua vé xe và bỏ vào chiếc hộp của ông ta. Nó không nhiều, nhưng sẽ giúp ích.
“Xin chúc phúc cho cô” Ông nói, mỉm cười để lộ một hàm răng khấp khểnh.
Cô gật đầu một cái rồi đi tiếp, đôi vai co lại vì lạnh. Thêm nữa, trời đã bắt đầu có tuyết, cô đang mặc một chiếc áo khoác ngắn bằng da lộn và một chiếc váy ngắn bằng vải nhung với đôi chân trần và đôi guốc gỗ. Đây không phải sự lựa chọn khôn ngoan nhất cho ngày hôm nay, mà cô cũng không tính đến thời tiết. Thêm vào đó, cô đã nói với Alan rằng mình sẽ đến trung tâm mua sắm với bạn bè. Tất nhiên, nếu thực sự chú ý, ông ta sẽ nhận ra cô chưa trang điểm hay tắm rửa. Mọi người đều biết cô rất ghét việc không gội đầu sạch sẽ và chuốt mi mà vẫn đến nơi công cộng. Ít nhất là những người quan tâm cô đều biết điều này. Cô cho rằng lẽ ra mình phải biết ơn vì ông ta không chú ý - nếu biết cô đang đi đâu, ông ta có thể đã cố ngăn cô lại. Hoặc có thể không. Thật khó để nói. Nếu không liên quan đến việc đi săn, một chai rượu Whisky hay xem thể thao, thì ông ta không quan tâm nhiều đến bất cứ điều gì, đặc biệt là cô. Cô có thể ở ngoài cả đêm miễn là cảnh sát không đưa cô về nhà.
Alan chỉ quan tâm khi cuộc sống của cô trực tiếp gây bất tiện cho ông ta - chẳng hạn như tháng 10 năm ngoái, khi hiệu trưởng bắt gặp cô hút thuốc trong phòng nữ sinh và ông ta phải bỏ công việc ở bãi rác Fresh Kills để đến đón cô. Sau đó, ông ta la hét và đe dọa sẽ nhốt cô trong phòng ngủ một tuần - hoặc một tháng, hoặc đến khi nào cô rút ra được bài học cho mình. Tất nhiên, đó chỉ là một lời đe dọa. Làm thật thì sẽ mất quá nhiều sức lực.
Đôi khi thật khó để biết được giữa cô và Alan, ai là người đau khổ hơn. Cô không bao giờ hiểu được mẹ mình nhìn thấy gì ở ông. Bà đã hẹn hò với những người đàn ông khác sau khi bị ông sếp “đá” - những người đàn ông có công việc tốt và nhân cách đàng hoàng - nhưng có lẽ Alan là người duy nhất sẵn sàng kết hôn với một người đã có hai con. Chỉ có điều ông ta lại tự biến mình thành kẻ ngốc. Người mẹ và các con gái của bà đã từng là một giao dịch trọn gói, nhưng giờ đây chiến lợi phẩm đã biến mất và ông ta bị mắc kẹt với phần còn lại của gói hàng không mong muốn. Sage từ lâu đã hiểu được, ngay cả trước khi mẹ cô qua đời trong vụ tai nạn xe hơi vì say xỉn đó, rằng cô sẽ không bao giờ làm hài lòng Alan. Tâm trí cô đã nghĩ đến chuyện chạy trốn nhiều đến nỗi cô không thể đếm được. Nhưng cô sẽ đi đâu? Không họ hàng thân thích nào sống gần đó. Không bạn bè nào có chỗ trống để chia sẻ cho cô. Heather ngủ chung phòng với bốn chị em gái trong một căn hộ hai phòng ngủ; cha mẹ của Dawn cũng chẳng khá hơn Alan là bao, họ dốc cạn tiền vào rượu và để Dawn cùng em trai tự lo cho bản thân. Dù sao thì không ai trong số này có thể nuôi thêm một miệng ăn. Ông bà ngoại của cô đã qua đời nhiều năm trước, và sau đó mẹ cô không còn nói chuyện với người em gái duy nhất của bà. Sage không biết liệu dì của cô có còn sống hay không, chứ đừng nói đến nơi bà ấy sống. Khi cô và Noah vẫn còn bên nhau, lẽ ra cô đã có thể đến nhà hắn, ngoại trừ việc mẹ hắn nghĩ rằng cậu bé của bà là một thiên thần hoàn hảo đã giúp đỡ những cụ bà qua đường và đang giữ mình cho cuộc hôn nhân. Sẽ chẳng đời nào có chuyện bà để bạn gái của con trai - giờ đã là bạn gái cũ , ngủ chung dưới một mái nhà.
Điều tồi tệ nhất là cô không biết cha mình đang ở đâu. Không có cuộc điện thoại nào gọi đến vào dịp Giáng sinh, không thiệp sinh nhật nào được gửi đến hòm thư. Điều này rất không giống với tính cách của ông. Mẹ cô khăng khăng rằng ông đã bắt đầu lại từ đầu và không muốn dính dáng gì đến gia đình cũ của mình, nhưng có điều gì đó không đúng trong cách bà nói về điều ấy. Có lẽ nó là sự độc ác trong giọng nói của bà, hoặc cách bà tiếp tục đổ lỗi cho ông vì đã bỏ đi. Có thể là cách bà đối xử với các con gái của mình như thể chúng là gánh nặng, trong khi ông luôn nói rằng chúng là phép màu. Nếu Sage phải đoán xem tại sao họ không bao giờ nghe tin tức gì từ cha nữa, cô cá rằng đó là vì mẹ cô chưa bao giờ cho ông địa chỉ hoặc số điện thoại mới của họ khi họ chuyển đến sống cùng Alan. Tuy nhiên, có vẻ như ông vẫn có thể tìm thấy họ nếu mong muốn của ông đủ lớn.
Cô luôn muốn hỏi mẹ xem liệu bà có biết ông ở đâu hay bà có thể gọi điện cho ông không, nhưng cô chưa bao giờ có đủ can đảm để làm điều đó. Bởi vì nếu những lời mẹ cô nói có phần là thật thì thật khó để chấp nhận rằng chị em cô bị chối bỏ. Lần đầu tiên cảm thấy như bị cắt cụt chi, lần thứ hai sẽ giống như cái chết.
Cô thường tưởng tượng cha mình có một gia đình khác và tự hỏi liệu ông có thêm hai cô con gái hay có thể là một cậu con trai hay không. Đôi khi cô tự hỏi liệu mình có tình cờ bắt gặp một cô gái khác trông giống cô và Rosemary, khiến họ trở thành sinh ba thay vì sinh đôi không. Cô tự hỏi liệu họ có sống ở một khu phố tốt hơn - liệu cha cô có rời khỏi khu vực có giá thuê thấp của thị trấn, tránh xa những cụm chung cư đổ nát và những ngôi nhà hai phòng ngủ, nơi mà hầu như tất cả những người cô biết đều có cha mẹ hoặc chú bác làm việc tại bãi rác thải Fresh Kills.
Nghĩ đến gia cảnh tan nát của mình, cô nuốt nước bọt xuống cổ họng. Không ai biết cô đang ở đâu hay cô sắp làm gì. Cô cảm thấy mình như một chiếc lông vũ có thể bị gió thổi bay và sẽ chẳng có ai buồn nhớ đến.
Dĩ nhiên, Rosemary sẽ nhớ đến cô. Nếu con bé không bị đưa đi.
Rosemary. Em gái song sinh của cô. Con bé còn sống. Điều này vẫn thật khó tin. Họ sẽ cảm thấy thế nào khi gặp lại nhau? Sẽ cảm thấy ngượng ngùng ư? Hay là kinh ngạc? Liệu họ có vòng tay ôm lấy nhau và gục xuống khóc? Liệu Rosemary có nhớ cô là ai không? Đó sẽ là một cuộc hội ngộ tuyệt vời hay sẽ là một mất mát đau lòng khác? Sage rùng mình vì sợ hãi.
Đêm qua, khi biết người em song sinh của mình còn sống, cô vẫn cảm thấy chuyện giống như một giấc mơ hay thứ gì đó mà bạn sẽ thấy trong một bộ phim. Và nếu cô không ở đúng nơi, vào đúng thời điểm, cô sẽ không bao giờ biết được sự thật.
Lúc Sage quyết định lẻn ra ngoài gặp gỡ bạn bè thì đã hơn mười giờ. Cô rời khỏi phòng và rón rén đi dọc hành lang của căn hộ nằm ở tầng bốn của họ, tìm đường đi quanh những khẩu súng săn và những chiếc giỏ đựng đồ bằng nhựa chứa đầy quần áo nhàu nhĩ. Cô đã ghét nơi này từ ngày họ chuyển đến. Có lẽ là vì nó giống như cuộc sống của cô sau khi cha rời đi - hỗn loạn, lộn xộn, không chắc chắn. Căn bếp nhỏ và chật chội, với một cái lò nướng màu vàng nâu và một chiếc tủ lạnh cùng bộ đã hỏng hóc từ lâu. Tủ quần áo có mùi như chuột và nước tiểu, và mọi tiếng động lọt qua những bức tường mỏng - tiếng máy sấy tóc của ai đó, tiếng phụ nữ cười, tiếng đàn ông la hét khi xem một trận bóng trên tivi, tiếng cuộc nói chuyện điện thoại bị bóp nghẹt xuyên qua lớp thạch cao cùng với mùi bữa tối của ai đó. Rời đi vì bất kỳ lý do nào thì cũng thích hợp cả. Hoặc có thể chỉ là vì cô ghét Alan.
Cố gắng không vấp phải đống lộn xộn, cô rón rén bước qua những bức ảnh chân dung gia đình đóng khung nhựa treo trên tường ốp gỗ - cô và Rosemary trong bộ váy diềm xếp nếp; Alan vòng tay ôm mẹ khi bà vẫn trông giống như Elizabeth Taylor, mái tóc đen ngắn hoàn hảo, đôi mắt xanh bạc lấp lánh hạnh phúc. Alan cũng đang mỉm cười trong bức ảnh, một người đàn ông có vẻ ngoài bình thường với những đường nét không có gì đặc biệt, trồng mãn nguyện và yêu vợ. Nhưng ánh mắt lại lạnh lùng và bình tĩnh. Đôi mắt che giấu bí mật. Sage biết rằng những bức ảnh, cũng giống như con người, có thể đánh lừa: Trong khoảnh khắc được ghi lại trên cuộn phim, mọi người đều trông hạnh phúc và hoàn hảo khi máy ảnh bấm - một phút sau, là tiếng cãi vã và tiếng giậm chân mạnh bước ra khỏi phòng. Hoặc là tiếng thét, tiếng kêu la và đánh đập.
Trước khi đến phòng khách, cô kiểm tra lại túi áo khoác của mình để chắc chắn rằng số tiền mặt mà cô lấy ở chiếc bàn cạnh giường ngủ của Alan vẫn còn. Thường thì cô chỉ lấy cắp tiền uống rượu của ông ta để đi chơi vào cuối tuần, nhưng hôm đó là kỳ nghỉ Giáng sinh, Heather và Dawn đã rủ cô đến một vũ trường mới ở Castleton Corners, vì Heather quen biết một trong những người bảo vệ ở đó nên họ có thể vào mà không cần chứng minh thư. Khi đến gần chỗ lối vào dẫn đến phòng khách, cô dừng lại lắng nghe, thầm cầu nguyện rằng Alan lại say khướt trước màn hình tivi. Đúng như dự đoán, tivi vẫn bật, nhưng trước sự thất vọng của cô, Alan đang nói chuyện với ai đó. Có vẻ như đó là Larry, người bạn đi săn của ông ta. Cô tiến lại gần hơn, nhòm qua khung cửa.
Giống như phần còn lại của ngôi nhà, phòng khách bừa bộn, tấm thảm màu cam sờn rách, đồ đạc bám đầy bụi. Alan ngồi ở mép chiếc ghế tựa kẻ sọc, cởi trần và nâng tạ, ngực và mặt lấm tấm mồ hôi. Larry ngả người trên đi văng, hút thuốc và uống bia, gác chân lên bàn cà phê; ít nhất là hôm đó trông có vẻ như ông ta đã tìm được cách tắm rửa. Trên tivi đang chiếu một trận bóng rổ, âm lượng vặn nhỏ. Hy vọng họ sẽ không chú ý đến Sage, cô đã sẵn sàng để lẻn ra lối cửa. Sau đó, Larry nói một điều khiến cô dừng lại.
“Con bé mất tích bao lâu rồi?”
“Gần ba ngày” Alan nói, lời nói bị ngắt quãng bởi những hơi thở khó khăn khi ông ta nhấc quả tạ lên.
Sage cau mày. Chết tiệt. Lại thêm một người mất tích.
“Tại sao họ lại gọi cho anh muộn như vậy?” Larry nói.
“Biết chết liền. Có lẽ họ nghĩ rằng họ sẽ tìm thấy con bé trước. Lẽ ra tôi nên đổi số điện thoại để không phải đối mặt với mấy chuyện vớ vẩn này.”
“Chà, họ hành xử thật tùy tiện trong việc thông báo cho anh. Tôi thấy hơi lạ đấy.”
“Không, không có gì lạ,” Alan nói. “Anh có biết nơi đó lớn cỡ nào không? Người trong điện thoại nói họ đã kiểm tra bốn mươi tòa nhà. Bốn mươi đấy. Đầu tiên, họ nghĩ con bé đi lang thang và bị lạc, có thể đã vào nhầm khu vực, nhưng giờ họ đang tìm kiếm trong rừng. Anh ta nói Willowbrook có ba trăm năm mươi mẫu Anh [3] . Anh có thể tưởng tượng có bao nhiêu đứa trẻ chậm phát triển ở đó không? Sẽ mất khá nhiều thời gian để kiểm tra tất cả những thứ đó đấy.”
Sage vắt óc suy nghĩ. Họ quen ai ở Willowbrook? Điều duy nhất cô biết về nơi này là nó dành cho những đứa trẻ thiểu năng và chậm phát triển trí tuệ, và cha mẹ của mọi đứa trẻ đều đe dọa sẽ gửi con mình đến đó khi chúng hư. Ngay cả những người chủ cửa hàng cũng xua đuổi những thanh thiếu niên rắc rối bằng cách nói rằng họ đã gọi Willowbrook đến đón chúng đi. Các cô gái được cảnh báo rằng nếu họ mang thai khi còn quá trẻ, đứa trẻ sinh ra sẽ có bộ não kém phát triển, bị bắt đi và đưa vào Willowbrook. Nhưng Sage chưa từng nghe nói về bất cứ người nào đã thực sự được gửi đến đó. Và nếu có ai đó thực sự mất tích ở Willowbrook - hoặc bất kỳ nơi nào khác trên thế giới - tại sao họ lại gọi cho Alan, trong số tất cả mọi người? Ông ta có thể làm gì để giúp đỡ chứ? “Cảnh sát có tham gia không?” Larry nói.
“Tôi không nghĩ vậy” Alan nói. “Dù sao thì vẫn chưa. Anh chàng mà tôi đã nói chuyện nói rằng anh ta là một trong những bác sĩ tâm thần ở đó. Tôi đoán là họ chưa gọi cảnh sát vì họ không muốn gây hoảng loạn.
“Vậy tại sao họ lại gọi cho anh?” Larry nói. “Anh phải làm cái quái gì với chuyện đó đây?”
“Họ phải gọi cho tôi, Alan nói. “Tôi là người giám hộ hợp pháp của Rosemary.”
Sage sững người. Alan đang nói về cái quái gì vậy? Em gái cô đã chết. Con bé đã chết vì bệnh viêm phổi sáu năm trước - mười lăm ngày trước Giáng sinh, hai đêm sau khi họ viết xong những lá thư cho ông già Noel để xin những món quà không bao giờ nhận được.
Sage sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc cô nghe tin. Cô sẽ không bao giờ quên cách không khí biến mất khỏi phổi mình, cơn đau bùng nổ trong lồng ngực, giống như ai đó đã đâm cô bằng một con dao nóng cực độ. Cô sẽ không bao giờ quên hình ảnh mình la hét cho đến khi hết hơi. Mất đi em gái là điều tồi tệ nhất từng xảy ra với cô. Sự rời bỏ của cha cô chỉ gần kề với chuyện này thôi. Cái chết của người em song sinh đã để lại một lỗ hổng trong trái tim và tâm hồn cô mà không gì có thể lấp đầy được.
Vậy làm sao mà Rosemary có thể mất tích? Người chết không mất tích. Mẹ cô đã rải tro của con bé xuống sông Hudson, những người hàng xóm đã mang bánh nướng và thịt hầm đến. Chuyện này không hợp lý chút nào.
Sage cảm thấy có một sự thay đổi đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn mình, như thể cô đang xem những bộ phim gia đình cũ nhưng không nhận ra bất cứ ai, như thể tất cả những ký ức của cô đã bị xé bỏ và thay thế bằng một thứ gì đó không xác định. Cô cũng cảm thấy sự thay đổi trong lồng ngực mình - một áp lực dày lên, cứng lại, nặng nề và khiến cô khó thở. Cô đặt một tay lên bụng, hít một hơi thật sâu và cố lấy lại bình tĩnh. Có thể cô đã nghe nhầm. Có thể cô đã hiểu lầm. Có lẽ tivi đã cắt xén lời của Alan.
Không. Cô đã nghe đúng những gì ông ta nói. Alan nói rằng Rosemary đang ở Willowbrook và con bé đã mất tích ba ngày rồi. Nghe thật bất khả thi. Thật không thể tin được. Thật điên rồ.
Cô lấy lại tinh thần, rồi bước vào phòng khách. Khi Alan nhìn thấy cô, ông ta làm rớt quả tạ và đứng dậy.
“Mày đang làm cái quái gì thế?” Ông ta nói. “Buổi sáng không phải đi học à?”
“Không. Vẫn đang trong kỳ nghỉ” Cô nói.
“Mày muốn gì?”
“Tôi muốn biết điều ông đang nói về Rosemary.”
Alan liếc nhìn Larry đầy lo lắng, rồi quay lại nhìn Sage, miệng nhếch lên thành một vẻ cau có xấu xí. Giả bộ như không biết gì, Larry nhấc chân khỏi bàn cà phê và rướn người về phía trước để dập tắt điếu thuốc trong chiếc gạt tàn đầy ắp, mắt dán chặt vào tivi.
“Mày có nghe lén cuộc nói chuyện của bọn tao không đấy?”
Alan nói với Sage bằng một giọng điệu mới, giọng điệu mà cô đã quá quen thuộc. Đó là tiếng nói của uy quyền, của những bài giảng, của việc giả vờ áp đặt các quy tắc.
“Không” Cô nói.
“Đừng có nói dối tao. Thừa nhận đi. Mày đang nghe lén.
“Không, tôi chỉ.”
“Lẻn ra ngoài một lần nữa?”
Cô lắc đầu.
“Vậy thì tại sao mày lại mặc áo khoác?”
Hai má Sage nóng bừng. Cô đã quên mình đang mặc áo khoác, quên tất cả việc rời đi để gặp gỡ bạn bè. “Hãy cho tôi biết ông đã nói gì về Rosemary.” Cô nói.
“Tao không nói gì về nó hết,” Alan nói. “Có lẽ mày cần đi kiểm tra tai đấy” Ông ta bật ra một tiếng cười khúc khích không chút hài hước và nhìn Larry, hy vọng nhận được phản ứng. Larry phớt lờ ông ta và nhấc cốc bia lên.
Cơn giận bùng lên bên dưới lồng ngực cô. Ông ta đang nói dối, như ông ta vẫn luôn làm - về việc trả tiền thuê nhà, về việc đi họp phụ huynh, về việc ông ta đã ở đâu vào những đêm ông ta không về nhà. “Có, ông có nói,” cô nói. “Tôi đã nghe thấy. Ông nói ai đó từ Willowbrook đã gọi báo cho ông biết về chuyện con bé mất tích. Và rằng họ phải gọi cho ông vì ông là người giám hộ hợp pháp của con bé.”
Một âm thanh khó chịu phát ra từ cổ họng của Alan, giống như tiếng gầm gừ của một con vật đang đào hang. Ông ta lau trán bằng mu bàn tay. “Chà, mày nghe nhầm rồi,” ông ta hầm hừ. “Giờ thì đừng có làm phiền tao nữa. Ra ngoài nốc rượu hoặc bất cứ điều gì mày làm với mấy đứa bạn hư hỏng của mày đi. Tao không quan tâm đó là gì, để cho tao yên.”
“Không” Sage nói. “Rosemary là em gái tôi. Tôi có quyền được biết chuyện gì đang xảy ra.”
Ông ta ném cho cô một cái nhìn sắc lẹm. “Mày có quyền?”
“Đúng, ông phải nói với tôi”
“Không thì sao?”
“Không thì tôi sẽ nói với sếp của ông về chuyện ông uống rượu tại nơi làm việc. Tôi biết ông bỏ thứ gì vào bình giữ nhiệt mỗi sáng”
Ông ta tiến lại gần hơn, khuôn mặt nhăn lại vì giận dữ, hai tay nắm thành nắm đấm. Mùi bia và mồ hôi nồng nặc theo sau ông ta, tỏa lên người cô như một đám mây cay nồng. “Mày đang đe dọa tao đấy à, bé con?”
“Nói cho tôi biết sự thật hoặc tôi sẽ...”
Trước khi Sage thốt lên lời tiếp theo, Alan tát mạnh vào mặt cô. Đầu cô bị hất sang một bên và răng cô va vào nhau lập cập. Cô đặt một tay lên má và trừng mắt nhìn ông ta, cố kìm lại những giọt nước mắt vì sốc và tức giận. Đã nhiều tháng kể từ lần cuối ông ta đánh cô. Lần gần đây nhất là khi ông ta tìm thấy cô ngủ trên đi văng với chiếc quần bò không kéo khóa, nồng nặc mùi bia. Cô về nhà, đi vào phòng tắm và quên kéo khóa quần lại trước khi nằm xuống xem tivi. Nhưng ông ta nghĩ cô đã ra ngoài làm việc khác, vì vậy ông ta tát cô và gọi cô là đồ con gái dâm đãng, sau đó đi theo cô xuống hành lang và đẩy mạnh cô vào phòng ngủ của mình, lên trên giường. Lúc đó cô đã quá sốc và say nên không thể làm bất cứ điều gì, nhưng ngay lúc đó cô đã quyết định rằng nếu ông ta đánh cô lần nữa, cô sẽ gọi cảnh sát.
Larry đặt cốc bia xuống và đứng dậy. “Tôi đi thì hơn.” Ông ta nói.
“Không” Alan nói, giọng cứng rắn. “Tôi muốn anh chứng kiến điều này. Như thế thì nó không thể nói rằng tôi đã nói dối về bất cứ điều gì”
Larry ngồi xuống, có vẻ như ông ta ước mình đang không có mặt tại đây. Alan đi tới chỗ ghế tựa, nhặt chiếc áo phông của mình lên và giật mạnh nó qua đầu. “Tao đã hiểu tại sao hồi đó mẹ mày không muốn mày biết sự thật, nhưng bây giờ mày đã đủ lớn để ngậm miệng lại rồi.”
Dán chặt đôi mắt đẫm lệ vào ông ta, cô nín thở, lo lắng nghe những lời ông ta sắp nói, đồng thời cảm thấy sợ hãi. “Ngậm miệng về chuyện gì?” Cô nói, chân bắt đầu run.
“Rosemary đã học tại Trường Công lập Willowbrook trong sáu năm qua,” ông ta nói. “Các bác sĩ nói rằng đó là nơi tốt nhất cho con bé”
Căn phòng bắt đầu xoay tròn quanh cô. Cô muốn được ngồi xuống hơn bất cứ điều gì, nhưng cô từ chối nhường ưu thế cho Alan. “Nhưng ông và mẹ nói rằng con bé bị viêm phổi. Ông... ông nói rằng con bé đã chết.”
“Tao đã nói với mẹ mày rằng một ngày nào đó lời nói dối này sẽ quay lại trừng phạt cô ấy, nhưng cô ấy không nghe.”
“Tôi không hiểu. Tại sao ông lại gửi con bé đến đó? Và tại sao mẹ lại nói dối tôi về điều đó?” Cô lắc đầu, cố gắng thế nào cũng không ngăn được nước mắt. “Chẳng hợp lý chút nào.
“Ôi, thôi nào” Alan nói. “Em gái mày là một đứa chậm phát triển. Đừng làm như mày không biết điều đó.”
Sage gần như không thở được. Cô vẫn có thể nhìn thấy em gái mình, người bạn thân nhất của cô: xanh xao, xinh đẹp và gầy như cây liễu. Họ là một cặp tương xứng, hai nửa của một tổng thể mà chỉ có cặp song sinh mới có thể như vậy. Họ yêu thương nhau, thích những thứ giống nhau, xây những ngôi nhà cổ tích bằng cành và vỏ cây, chơi nhảy dây và lắc vòng, xem phim hoạt hình sáng thứ Bảy. Phải, Rosemary khác biệt, nhưng phần lớn là theo hướng tốt đẹp. Thế giới trở nên sống động trong mắt con bé, và con bé đã chia sẻ thế giới ấy với mọi người, chỉ ra những con bướm chúa và hoa bồ công anh, cách ánh nắng mặt trời lấp lánh như những viên kim cương trên tuyết và nước, ánh sáng rực rỡ của những ngọn nến sinh nhật trên trần nhà khi đèn tắt.
Nhưng cũng có những vị bác sĩ - nhiều đến mức không đếm xuể - và những cuộc viếng thăm bệnh viện trong đêm vô cùng bí ẩn. Có vẻ như con bé luôn bị ốm. Và đúng, Sage phải thừa nhận rằng đã có lúc em gái làm cô sợ hãi. Như khi con bé bực bội và vung tay, la hét và đánh bất cứ ai ở khoảng cách gần. Hay như khi con bé đứng cạnh giường của Sage vào nửa đêm, im lặng và nhìn chằm chằm. Đôi khi con bé di chuyển đồ đạc xung quanh phòng ngủ, đẩy bàn ghế và đồ chơi vào góc phòng khi Sage ngủ, rồi đến sáng hôm sau nói rằng nó không làm điều đó, rằng mọi thứ đã như vậy khi con bé thức dậy. Những lần khác, con bé nói chuyện trong khi ngủ và trò chuyện với những người không có mặt ở đó, hoặc nói chuyện lắp bắp, tất cả các từ thốt ra đều quấn vào nhau như sợi chỉ thắt nút.
Vào những ngày vui vẻ, Rosemary nói với Sage rằng con bé đã nghe thấy những giọng nói, nói về những điều khủng khiếp và luôn xin lỗi vì đã làm chị mình sợ hãi. Khi hai người xem bộ phim The Beverly Hillbillies và đếm tem xanh [4] của mẹ, con bé bắt Sage hứa sẽ ghi nhớ những câu chuyện mà nó đã kể, và Sage hứa sẽ bảo vệ em gái nếu cô có khả năng. Mẹ nói rằng Rosemary đang bối rối và Sage nên đến gặp bà bất cứ khi nào thấy em mình làm điều gì đó kỳ quặc, nhưng Sage không bao giờ muốn kể lể. Đôi khi, Sage cảm thấy như thể vấn đề của em gái là lỗi của mình, như thể cô đã làm điều gì đó gây hại đến Rosemary trước khi họ được sinh ra - lấy quá nhiều chất dinh dưỡng, lấy quá nhiều máu, chiếm quá nhiều chỗ trong bụng mẹ chẳng hạn. Xét cho cùng, Sage nặng hơn Rosemary hai cân khi mới sinh và đã chiến đấu để chào đời sớm hơn ba mươi lăm phút. Có vẻ như đôi lúc mẹ cũng đổ lỗi cho Sage, bắt cô hứa sẽ đối xử thật tốt với Rosemary, thật cảm thông cho đến khi họ có thể tìm ra được vấn đề.
Nhưng bây giờ Sage đã biết sự thật. Mẹ cô đã vứt bỏ Rosemary như vứt một đống rác. Có lẽ đó là lý do tại sao bà bắt đầu uống rượu nhiều hơn. Có lẽ cảm giác tội lỗi đã giết chết bà.
Sage nghiến chặt quai hàm. Cô không muốn khóc trước mặt Alan thêm bất cứ lần nào nữa - không muốn mang đến cho ông ta cảm giác hài lòng đó. “Lẽ ra ông nên nói với tôi sự thật.” Cô nói.
“Tao không hề có ý định giấu mày, vì vậy đừng đổ lỗi cho tao. Mẹ mày không muốn mày đi ba hoa khắp thị trấn. Các bác sĩ nói rằng Rosemary sẽ không thể khá hơn, và mày biết mọi người sẽ phản ứng thế nào khi họ phát hiện ra mày có một đứa trẻ chậm phát triển trong nhà rồi đấy. Mẹ mày sẽ không thể ló mặt ra ngoài mà không có người thì thầm sau lưng”
“Vì vậy, bà ấy để mọi người nghĩ rằng Rosemary đã chết. Bao gồm cả tôi?”
“Mày nên thấy biết ơn. Bọn tao đã cố gắng để mày không gặp phải phiền phức đấy.”
“Không gặp phải phiền phức? Người em gái sinh đôi đã chết không hề giúp tôi không gặp phải phiền phức!”
“Ôi, thôi cái trò ‘tội nghiệp tôi đi.’ Mày biết em gái mày như thế nào mà.(kt) Gir rất nhiều căn bệnh thì các sĩ lại nói nó bị tâm thần phân liệt. Nó sẽ không bao giờ khá lên được, cho dù mày và mẹ mày có mong muốn nhiều thế nào đi chăng nữa. Đưa nó đến đó là điều tốt nhất chúng ta có thể làm cho nó. Tình trạng của nó đã trở nên tệ hơn và chúng ta không thể trông nom nó nữa. Những người ở Willowbrook biết cách chăm sóc những đứa trẻ chậm phát triển như nó.”
Sự căm thù dâng trào trong cô, thiêu đốt vùng ngực và bùng lên tận tai, khiến đầu cô đau như thể nó đang bốc cháy. Sao ông ta dám xử sự như thể ông ta quan tâm tới con bé! Sao ông ta dám nghĩ rằng ông ta biết điều gì là tốt nhất cho em gái cô! “Nếu những người ở Willowbrook biết cách chăm sóc Rosemary, tại sao con bé lại mất tích?”
“Làm thế quái nào mà tao biết được?”
Hàng triệu suy nghĩ và câu hỏi nổi lên như một cơn lốc xoáy trong tâm trí Sage, khiến cô choáng váng. Trong sáu năm qua, cô vẫn cảm nhận được bóng ma của Rosemary vẫn còn lảng vảng trong mọi ngóc ngách của căn hộ. Con búp bê barbie yêu thích của con bé với mái tóc ngắn màu đỏ và mặc áo len móc. Mùi kem dưỡng da hoa oải hương mà con bé thích sử dụng. Những lọ thuốc đóng bụi trên tủ quần áo của con bé. Cô phải chấp nhận sự thật rằng người em song sinh của mình còn sống như thế nào đây? Rằng suốt thời gian qua con bé đã bị nhốt ở Willowbrook? Và còn ai khác biết sự thật nữa? “Ông đã nói với cha của chúng tôi về chuyện gửi em gái tôi đi chưa?” Cô nói.
Alan nhìn cô như thể cô có ba cái đầu. “Điều gì khiến mày nghĩ gã sẽ quan tâm?”
“Chúng tôi vẫn là con gái của ông ấy.”
“Có đúng vậy không?” Alan nói. “Tí nữa thì mày lừa được tao đấy” Ông ta rút một điếu thuốc ra khỏi bao thuốc trên bàn cà phê, châm lửa và rít một hơi dài, rồi hẩy một tay vào không khí, điếu thuốc nằm giữa các ngón tay. “Cha mày có có phải là người cho mày nơi ăn chốn ở không? Gã có phải là người trả tiền quần áo và đồ ăn cho mày không?”
Cô cụp mắt xuống, sự ghê tởm trong cô bùng lên như một cơn bão lửa. Họ đã tranh luận về chủ đề này hàng trăm lần, và cô chả bao giờ thắng. Cha cô là một người tồi tệ và sẽ luôn như vậy. Ngay cả khi ông đã gửi tiền trong suốt những năm qua thì mẹ cô và Alan cũng sẽ không bao giờ thừa nhận điều đó. Và số tiền trợ cấp đó có lẽ là lý do duy nhất khiến Alan giữ cô ở lại.
“Ông đã bao giờ đến thăm con bé chưa?” Cô nói. “Ông và mẹ có đến Willowbrook gặp con bé không?”
Alan cầm một chai bia trên bàn, tu một hơi dài rồi gật đầu. “Một lần. “Một lần?” Cô há hốc miệng nhìn ông ta. “Ông chỉ đi một lần thôi sao?”
“Mẹ mày không thể chịu đựng được việc nhìn thấy con mình như vậy. Và em gái mày thậm chí không biết bọn tao đã ở đó. Con bé giống như đang trong tình trạng hôn mê hay gì đó. Đôi mắt mở to, chỉ nhìn chằm chằm. Nó không biết chuyện gì đang xảy ra.”
“ Ôi chúa ơi !” Mẹ không muốn kiểm tra tình hình của con bé sao? Bà ấy không muốn biết chắc chắn rằng con mình vẫn ổn sao? Rosemary hẳn đã rất sợ hãi và bối rối!”
Alan đập chai bia xuống bàn, mặt đỏ bừng vì tức giận. “Giờ thì mày nghe tao nói đây! Mẹ của mày đã làm tốt nhất có thể. Đó không phải là lỗi của cô ấy, nên mày đừng đổ lỗi cho cô ấy về bất cứ điều gì.
Sage lườm ông ta, không chắc liệu cô sẽ hét lên hay nôn mửa. Em gái cô còn sống và đã bị nhốt trong một tổ chức sáu năm. Và mẹ cô chỉ đến thăm con bé một lần. Một lần. Rosemary hẳn đã rất đau lòng và kinh hãi, tự hỏi mình đã làm gì để phải chịu sự đối xử khủng khiếp như vậy. Có lẽ con bé cũng thắc mắc Sage đang ở đâu, tại sao người chị song sinh yêu quý của nó không đến gặp, tại sao chị nó không giải cứu nó hay thậm chí là gửi một lá thư hay một tấm thiệp. Cơn thịnh nộ sôi sục trong ngực Sage. “Tôi đã có thể đến thăm nó, cô nói. “Nếu ông nói với tôi sự thật.”
Ông ta nhún vai thờ ơ. “Tao không biết phải nói gì với mày. Như tao đã nói rồi đấy, điều đó không phụ thuộc vào tao.”
“Ông có thể nói với tôi sau khi mẹ mất.”
“Tại sao? Làm thế thì được gì?”
“Tôi đã có thể đến gặp con bé! Tôi đã có thể nói với nó rằng tôi yêu nó. Tôi sẽ cố gắng giúp con bé khỏe hơn.”
Alan đảo mắt. “Mày không biết mày đang nói gì đâu. Nó không dễ dàng như vậy. Mỗi chuyến thăm đều phải được lên lịch trước cả tháng trời và phần lớn là họ sẽ hủy bỏ nó vì đủ mọi loại lý do. Luôn nói rằng đó là vì lợi ích của bệnh nhân.”
“Vậy là ông đã cố gắng đến thăm con bé hơn một lần?”
“Ừ, một vài lần. Nhưng như tao đã nói, nó quá sức chịu đựng của mẹ mày”
“Còn phòng của con bé thì sao? Ông biết là con bé thường thức dậy và đi lại xung quanh vào lúc nửa đêm mà. Ông có chắc chắn rằng nó được thoải mái an vàn không?”
Ông ta lắc đầu. “Họ không cho bọn tao vào phòng nó. Họ đưa con bé ra sảnh để gặp bọn tao. Và nơi đó có mùi như đống phân vậy”
Sage giàn giụa nước mắt. Tội nghiệp Rosemary. “Ông sẽ đến Willowbrook để tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với con bé chứ?”
“Không, chúng ta không thể làm gì được. Dù sao thì con bé cũng sẽ không nhớ tao. Họ nói rằng họ sẽ gọi ngay khi tìm thấy nó”
“Nhưng chúng ta có thể góp sức cho cuộc tìm kiếm,’ Sage nói. “Chúng ta có thể giúp tìm con bé.
“Tao không thể. Tao phải làm việc.
“Ông có thể đề nghị với họ mà”
“Tao đã nói là không thể,” ông ta nói. “Và người bác sĩ trong điện thoại nói rằng tốt nhất là cứ để các chuyên gia xử lý.
Cô có thể nhìn thấy cơn giận lại đang dâng lên trong Alan, qua cách lỗ mũi ông ta phập phồng, qua cách quai hàm ông ta căng ra. Cô không quan tâm. “Ừ, đúng” cô cười khẩy. “Cầu mong cho ông không được chơi bài và uống rượu với đám bạn của mình vào giờ nghỉ trưa. Cầu mong ông chẳng thể quan tâm đến bất cứ ai ngoài bản thân ông”
Ông ta lại tiến về phía cô, sẵn sàng nổi cơn thịnh nộ. “Cẩn thận cái miệng đấy, cô gái trẻ. Miễn là mày còn sống dưới mái nhà của tao thì mày sẽ phải tôn trọng tao.”
“Tôi sẽ không bao giờ tôn trọng ông,” cô nhổ nước bọt. “Đặc biệt là sau những gì ông đã làm với Rosemary! Đặc biệt là sau khi ông nói dối tôi về chuyện của con bé trong suốt những năm qua!”
Ông ta nhe răng và giơ tay lên, nhưng cô đã xoay người lao ra khỏi phòng khách trước khi ông ta kịp đánh cô lần nữa. Cô chạy dọc hành lang và lao ra khỏi căn hộ, những giọt nước mắt giận dữ và thất vọng khiến mắt cô nhức nhối. Cô cần uống một ly. Và cô cần nói cho Heather và Dawn biết chuyện gì đã xảy ra, để họ có thể giúp cô biết phải làm gì.
Ngoại trừ việc bạn bè của cô không giúp được gì cả. Thay vào đó, họ say khướt và hỏi liệu cô có nghĩ rằng Cropsey đã bắt cóc em gái mình không, và cô sẽ làm gì nếu lần này Rosemary thực sự đã chết.