Những Cô Gái Mất Tích Ở Willowbrook

Lượt đọc: 1423 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

Đứng trên vỉa hè ở bến xe buýt, Sage rít một hơi thuốc dài nữa, nỗi uất ức thắt lại trong bụng. Sao mẹ cô có thể nói dối cô trong suốt ngần ấy năm? Sao bà có thể nói rằng Rosemary được hỏa táng vì họ không đủ tiền tổ chức tang lễ? Sao bà có thể chứng kiến Sage chịu đựng nỗi đau sâu sắc đến mức khiến cô không thể ăn hay ngủ trong nhiều tuần, trong khi bà luôn có khả năng xoa dịu nỗi đau ấy bằng cách nói ra sự thật? Tất nhiên, Sage sẽ rất đau buồn khi biết Rosemary đã bị đưa đi, nhưng sẽ tốt hơn là nghĩ rằng con bé đã chết; tốt hơn là nghĩ rằng con bé đã chết một mình và không thể thở, người gắn liền với những chiếc ống trong một căn phòng lạnh lẽo của bệnh viện. Nếu Sage biết Rosemary vẫn còn sống suốt thời gian qua, cô đã có thể đến Willowbrook để thăm em gái, mang hoa, thiệp và đồ chơi cho con bé. Được gặp con bé và nắm tay, để nói với nó rằng dù có thế nào đi chăng nữa thì cô vẫn yêu con bé.

Và làm thế nào mà một người mẹ có thể nhốt con gái của mình lại? Chẳng phải yêu thương một người là chấp nhận cả cái tốt và cái xấu của người đó, cùng giúp nhau vượt qua khó khăn hay sao? Đặc biệt là một người mẹ, đáng lẽ phải yêu thương và bảo vệ con mình đến cuối đời. Sage sẽ không bao giờ quên cuộc gặp gỡ với mẹ của Heather trong lần đầu tiên cô ở lại qua đêm - cách bà đã hỏi liệu các cô có muốn gọi pizza không và nói đùa về việc họ thức cả đêm để nói chuyện về đám con trai, hay bà đã đi loanh quanh trong bếp như thế nào vào sáng hôm sau, làm trứng và bánh kếp, hỏi họ muốn uống nước cam hay Ovaltine. Hỏi con muốn ăn gì vào bữa sáng, đó có phải là điều mà các bà mẹ hay làm không? Mẹ của Sage thì thường quên mua bánh mì và sữa.

Trong nhiều năm, Sage đã tự thuyết phục bản thân rằng mẹ cô bắt đầu trở nên xa cách sau khi Rosemary qua đời. Dù sao thì đó cũng là câu chuyện mà cô tự kể cho mình, câu chuyện giúp cô giữ được trái tim bình yên. Nhưng cô không còn tin vào điều đó nữa - nhất là khi cô biết Rosemary vẫn còn sống.

Cô nhìn qua bãi đậu xe của trạm xe buýt, xuống con đường dốc, dọc theo đường nhựa màu xám cắt ngang qua những tòa nhà ngổn ngang, cột điện thoại và dây điện. Đôi mắt của cô tự nhiên bị hút qua Vịnh Thượng New York, về phía đường chân trời của Manhattan, nơi có một mớ những tòa nhà chọc trời nổi lên trên đại dương, giống như thành phố Emerald trong bộ phim Phù Thủy Xứ Oz. Khi cô và Rosemary còn nhỏ - vẫn còn đủ nhỏ để bị mê hoặc bởi một thế giới mà hai đứa trẻ nghĩ là an toàn và chắc chắn - cha của họ đã nói rằng các thành phố sẽ không bao giờ chìm vì nó được nâng đỡ bằng phép thuật, và hàng triệu ánh sáng lấp lánh bên trong và xung quanh các tòa nhà được cung cấp năng lượng bởi bụi thần tiên. Khi ông rời đi vài năm sau đó, Sage đã tự hỏi liệu cô có thể sử dụng phép thuật để đưa ông quay trở lại. Cô từng nhìn chằm chằm vào thành phố xa xôi từ cửa sổ phòng ngủ của mình mỗi đêm, cầu xin các bà tiên và bất cứ ai có phép thuật đưa ông về nhà. Nhưng chẳng có tác dụng.

Cha cô sẽ làm gì nếu ông biết những gì mẹ cô và Alan đã làm? Liệu ông có quan tâm? Ông sẽ thông cảm chứ? Ông có cảm thấy bị xúc phạm không? Giá như cô có thể nói chuyện với cha, có lẽ ông sẽ giúp tìm kiếm. Có lẽ khi Rosemary được tìm thấy, họ có thể lại là một gia đình. Cô cắn mạnh vào môi. Đã quá muộn màng cho bụi thần tiên và những điều ước kỳ diệu rồi. Cha cô rời đi vì một lý do: Ông đã lựa chọn không trở thành một phần trong cuộc sống của họ. Không gì thay đổi được sự thật đó, bất kể nguyên nhân đằng sau nó là gì. Tất cả những gì cô có thể làm bây giờ là tìm kiếm em gái. Điều gì có thể xảy ra sau đó thì khó mà biết được.

Tiếng gầm gừ của động cơ đưa Sage ra khỏi trạng thái ngẩn ngơ. Một chiếc xe buýt vẽ hình graffiti bò quanh góc nhà ga, khói dầu diesel của nó tỏa ra trong không khí lạnh. Hình vẽ graffiti khiến cô nhớ đến những đường hầm bên dưới bệnh viện lao đổ nát, những cái tên, biểu tượng băng đảng và ngôi sao năm cánh nguệch ngoạc trên tường, nơi những đứa trẻ học trung học tụ tập uống rượu, chơi thuốc và hù dọa nhau bằng những câu chuyện về Cropsey. Ngay cả khi không có những câu chuyện kinh dị, cô vẫn luôn ghét đi vào những đường hầm, nơi mà trần và tường có thể sập bất cứ lúc nào và chôn sống cô. Nhưng mọi người đều đến đó chơi, nên cô và bạn bè cũng đến. Có lẽ chiếc xe buýt vẽ đầy hình graffiti là một dấu hiệu xấu. Không. Cô phải ngừng suy nghĩ như vậy. Cô không thể để những lý thuyết điên rồ của bạn bè gây ảnh hưởng đến mình.

Khi chiếc xe buýt ì ạch dừng lại bên cạnh vỉa hè, phanh hơi rít lên. Sage bỏ điếu thuốc, nghiền nát nó bên dưới chiếc guốc gỗ của mình và đi về phía chiếc xe. Nếu không có ai khác tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với Rosemary, vậy thì cô sẽ tự mình làm điều đó. Cô bước lên các bậc thang của xe buýt, đưa vé cho người lái xe thừa cân và đi về phía sau, vai khom lại để tránh va vào những hành khách khác, hai tay đan vào nhau để ở trước mặt để tránh chạm vào những chiếc ghế bẩn thỉu dán đầy băng keo. Giấy gói thức ăn cũ và tàn dư của đống đồ ăn nhẹ lạo xạo dưới chân cô, mùi hăng của khói thuốc lá cũ, dầu diesel và nước tiểu tràn ngập không khí.

Đi đến giữa lối đi, một anh chàng có bộ ria mép sẫm màu và mặc áo khoác da nhìn cô một lượt, ném cho cô một nụ cười toe toét tán tỉnh. Cô quắc mắt nhìn gã, đấu tranh với ý muốn đưa ngón tay thối lên trước mặt hoặc vô tình dùng cùi chỏ đập vào mặt gã. Sự chú ý từ người khác giới không phải là điều gì mới mẻ đối với cô, cô đã quen với việc các chàng trai và đám đàn ông nhìn chằm chằm vào cơ thể mình trước khi soi xét khuôn mặt và mái tóc màu vàng dâu của cô để xem liệu cô có xinh đẹp hoàn hảo không. Và thường thì cô không bận tâm, miễn là họ không già đến mức đủ tuổi làm cha cô và trông như có vấn đề về sức khỏe. Nhưng hôm nay, sự soi mói khiến cô cảm thấy mình giống như một con mồi. Có lẽ cô đã phát ngán với những kẻ cho rằng có thể cám dỗ người khác bằng một nụ cười rồi vứt họ đi như cỏ rác. Giống như mẹ cô đã vứt bỏ cha cô. Giống như Noah đã vứt bỏ cô. Giống như mẹ cô và Alan đã vứt bỏ Rosemary. Khi đến cuối xe buýt, cô ngồi phịch xuống một vị trí gần cửa sổ, cố gắng không khóc. Cô ghét cảm giác này, ghét tất cả mọi người và tất cả mọi thứ.

Trong lúc những hành khách khác lên xe buýt và tìm chỗ ngồi của họ, cô nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ, ngắm những bông tuyết lười biếng, mập mạp rơi xuống vỉa hè nứt toác. Khi mọi người đã yên vị và người lái xe rời xe khỏi lề đường, gió nổi lên, tuyết rơi xuống nhanh và mạnh, phủ kín vỉa hè và các tòa nhà. Cho dù em gái cô đang ở đâu, hy vọng là con bé vẫn đang an toàn.

Một lần nữa, cô tự mắng mình vì đã không mặc quần áo phù hợp. Sao cô có thể hỗ trợ tìm kiếm trong thời tiết này khi mặc một chiếc váy ngắn và đi guốc? Ít nhất thì cô cũng đang mặc một chiếc áo blouse dài tay và một chiếc áo ghi-lê len, nhưng chúng chẳng giúp ích được gì nhiều. Đó là những gì cô đã lựa chọn khi đầu óc quá choáng váng. Nếu không cảm thấy ốm yếu và lo lắng như vậy, cô đã có thể nhớ ra bây giờ là mùa đông, mặc quần ống loe và đi ủng thay vì mặc vội bộ quần áo cô đã mặc vào đêm hôm trước. Cô sẽ mang theo cả đồ ăn nhẹ và nước uống nữa. Tất nhiên, chiếc xe buýt lắc lư không giúp ích gì cho dạ dày của cô, và việc ngồi ở phía sau cũng vậy, nơi mà những góc rẽ giống như đang đung đưa trên đầu một con lắc khổng lồ. Rất may chỉ còn mươi phút nữa là đến Willowbrook. Điều cuối cùng cô cần chính là nôn mửa.

Bên ngoài khung cửa sổ xe buýt bụi bặm, các tòa nhà chung cư và mặt tiền cửa hàng hối hả chạy qua, xe ô tô đỗ nối đuôi nhau. Xe tải và các phương tiện khác lao vút qua, làm bắn lên những mảng bùn bẩn. Sau đó là một trung tâm thương mại cùng với thẩm mỹ viện, cửa hàng bán thảm, tiệm bánh và cửa hàng kim khí. Một nhóm các cậu bé mặc áo khoác đồng bộ đứng dưới mái hiên bên ngoài một chợ tạp hóa, nhìn dòng người qua lại và tỏ vẻ chán nản. Họ trông giống như Bay Boys, một băng đảng không giống băng đảng cho lắm; họ không có địa bàn và chưa bao giờ gây chiến với bất kỳ băng nhóm nào khác, nhưng họ đã tấn công gái mại dâm ở West Village. Có người nói Cropsey cũng tấn công gái mại dâm.

Mọi người vẫn tìm kiếm trong rừng những hài cốt của đám trẻ mất tích.

Bụng cô quặn lại. Cô phải ngừng nghĩ về Cropsey. Đây là một việc lãng phí thời gian và năng lượng. Đặt túi xách lên chiếc ghế trống bên cạnh, cô dựa vào cửa sổ và nhắm mắt lại, cố lờ đi sự lắc lư của chiếc xe và những mùi hương kinh khủng. Những gì cô mong muốn là đi chơi với Heather và Dawn ở trung tâm mua sắm, vui cười, chế giễu mọi người và cảm thấy buồn chán. Thay vào đó, cô chỉ có một mình và sợ hãi, nhờ những suy nghĩ mà họ đã gieo vào đầu cô. Nhưng không có thời gian cho việc thương xót bản thân. Cô cần nghĩ xem phải nói gì với những người ở Willowbrook để họ cho phép cô tham gia vào cuộc tìm kiếm. Thuyết phục họ rằng cô là chị gái của Rosemary thì dễ thôi - họ là cặp song sinh giống hệt nhau, với mái tóc vàng dâu, gò má cao và đôi mắt xanh bạc điểm chút tím. Trừ khi Rosemary đã thay đổi. Trừ khi sáu năm bị nhốt trong viện đã gột rửa và làm con bé kiệt quệ.

Mỗi lần xe buýt dừng lại để trả khách hoặc đón ai đó, Sage giật mình đứng dậy nhìn ra cửa sổ để xem họ đang ở đâu, tim cô đập thình thịch. Nhìn mọi người xuống xe buýt và đi bộ dọc theo vỉa hè phủ đầy tuyết, tất cả đều sẵn sàng bắt đầu một ngày bình thường khác - mua sắm hoặc gặp gỡ bạn bè để ăn sáng muộn và làm vài ly Mimosa, trở về nhà sau khi thức trắng đêm, thăm người dì bị ốm yếu - khiến lòng cô tràn đầy sự ghen tỵ. Ngay cả khi họ sống một mình với một con mèo già, cô vẫn khao khát được trở thành một trong số họ thay vì con người thật của mình: một cô gái đau buồn, không được yêu thương đang trên đường đến một cơ sở tâm thần để tìm kiếm người em gái đã mất tích của mình.

Cô nhắm mắt lại để không nhìn thấy bất cứ thứ gì hay bất cứ ai, và cố gắng không nghĩ quá xa về những điều sắp tới. Cách tốt nhất để đối phó với bất cứ điều gì sắp xảy ra tiếp theo là tận dụng từng phút một thay vì tưởng tượng về tất cả những điều sai trái có thể xảy ra. Nhưng khi xe buýt dừng lại càng thường xuyên và họ càng đến gần Willowbrook thì nỗi bất an của cô càng tăng lên. Có lẽ cô nên đợi cho đến khi tìm được ai đó đi cùng mình. Có lẽ cô nên đề nghị Noah đi cùng, mặc dù hắn ta đã gian díu với Yvette. Không, hắn sẽ thuyết phục cô không nên đi - và dù sao thì cô cũng không thể tin tưởng hắn. Cô cũng không tin bản thân mình sẽ không mềm lòng với hắn, đặc biệt là lúc này, khi cô cảm thấy vô cùng yếu mềm. Cô sẽ làm điều này một mình, cô không có lựa chọn nào khác. Dù sao thì cũng i quá muộn để quay lại.

Sau vài lần dừng nữa, những người duy nhất còn lại trên xe buýt là tài xế và một cặp vợ chồng người châu Á, cả hai vợ chồng đều ủ rũ nhìn ra ngoài cửa sổ. Trước khi lái xe rời điểm dừng cuối cùng để đến Willowbrook, người lái xe đã đóng cửa và liếc nhìn vào chiếc gương dài trên đầu.

“Cô đến Willowbrook?” Ông hét lên, nhìn Sage.

Cặp vợ chồng người châu Á quay lại nhìn cô, khuôn mặt nhợt nhạt không cảm xúc.

“Vâng, cô gật đầu nói. “Đúng vậy”

“Được rồi” người tài xế nói. “Tôi kiểm tra lại thôi” Ông đóng cửa lại và đánh xe rời khỏi lề đường.

Cô ngồi thẳng dậy nhìn ra ngoài cửa sổ, tỉnh táo và run lên vì căng thẳng. Sau khi đi thêm vài dãy nhà, chiếc xe buýt rẽ và lao xuống một con đường dài chỉ có một làn đường, đi qua một tấm biển màu nâu cỡ biển quảng cáo có dòng chữ: Trường Công lập Willowbrook. Sau đó, họ đi qua một cánh cổng trụ, được giữ mở bằng những sợi xích có khóa được buộc chặt vào những cây cột dày. Bên cạnh cổng, một người bảo vệ mặc đồng phục ngồi trong một phòng gác to cỡ tủ quần áo đọc tạp chí và hút thuốc. Sau khi nhìn thoáng qua chiếc xe buýt, anh ta vẫy nó vào khuôn viên Willowbrook.

Sage nắm chặt tay thành nắm đấm, các đốt ngón tay trắng bệch. Giữa cánh cổng và người bảo vệ, Willowbrook có vẻ giống một nhà tù hơn là một trường học. Việc cô đến đây một mình có lẽ là một ý hay. Cô sẽ không thể đối phó với sự lo lắng hay sợ hãi của bất kỳ ai khác. Cô hầu như không thể kìm lại cảm xúc của chính mình.

Thời gian như thể vô tận khi chiếc xe buýt đi dọc theo một con đường có lối vào hẹp, băng qua những đồng cỏ phủ đầy tuyết lởm chởm và những khu rừng dày với những con lạch đóng băng. Cơn bão cuối cùng cũng đã tan, nhưng những đống tuyết dày đã đè nặng lên những cây thường xanh và bao phủ lấy những nhánh cây phong và cây sồi trơ trụi. Ba con nai ngẩng đầu lên nhìn chiếc xe buýt chạy qua, vẫy đuôi rồi quay lại bởi đất tìm cỏ. Khung cảnh khiến Sage nhớ đến một tấm thiệp Giáng sinh, giống như thứ mà bạn sẽ thấy trên đường đến nhà ông bà của mình vào một kỳ nghỉ đông, mọi thứ đều nhẹ nhàng, yên bình và tĩnh lặng, trái ngược hoàn toàn với sự hỗn loạn đen tối trong đầu cô. Nó cũng khiến cô nhớ đến cha mình, ông từng nói về việc một ngày nào đó sẽ xây dựng một căn nhà gỗ ở vùng hoang dã. Giá như ông ở đây với cô lúc này. Giá như ông biết cô và Rosemary cần ông đến nhường nào. Chắc chắn ông sẽ giúp. Trừ khi giấc mơ của ông đã trở thành hiện thực, và ông đã xây căn nhà gỗ đó ở đâu đó trong rừng. Trừ khi ông đã có một cuộc sống hoàn toàn mới.

Trong tuyệt vọng, Sage đã thử một mánh khóe điên rồ mà cô và Rosemary đã từng thử khi họ còn nhỏ: cố gắng gửi suy nghĩ cho nhau và đọc được suy nghĩ của nhau. Nó chưa bao giờ hiệu quả, nhưng dù sao thì cô cũng đã thử, tập trung hết mức có thể để gửi một tin nhắn cho cha cô, cầu nguyện ông sẽ nghe thấy, hoặc bằng cách nào đó cảm nhận được sự tuyệt vọng của cô.

Chúng con cần cha. Chúng con cần cha lúc này hơn bao giờ hết. Xin hãy tìm chúng con.

Điều này thật ngu ngốc, nhưng cô không quan tâm.

Sau khi rừng cây lộn xộn trở nên thưa dần, những bãi cỏ rộng lớn phủ đầy tuyết xuất hiện cùng với những tán cây và khóm cây cảnh được đặt cách nhau với tỉ lệ hoàn hảo. Xa xa, một rặng liễu mọc dọc theo bờ một dòng suối phủ đầy băng, những cành dài trơ trụi của chúng quét xuống mặt đất. Sau đó là những dãy nhà gạch bốn tầng ở mỗi bên đường, thấp và hình chữ U, với những con số màu đen nằm bên trong các vòng tròn màu trắng trên mỗi dãy. Trước các tòa nhà, những chiếc ghế dài được sơn sắc màu tươi sáng, những bộ xích đu, vòng quay ngựa gỗ và thanh đu nằm rải rác trong sân, tất cả đều phủ đầy những chùm tuyết. Nhưng không có trẻ em chơi bên ngoài. Không có giáo viên nào trông chừng trong giờ giải lao hoặc dẫn các nhóm học sinh đi dạo. Một người đàn ông đang dọn sạch vỉa hè - kỳ lạ là không mặc áo khoác hay đeo găng tay - dừng lại để nhìn xe buýt đi qua. Nói cách khác, toàn bộ nơi này trông thật vắng vẻ.

Sage không hoàn toàn chắc chắn về điều cô mong đợi hoặc hy vọng tìm thấy. Có thể là một đội tìm kiếm mặc áo khoác màu cam với một chú chó tìm kiếm và cứu hộ, xe và máy bay trực thăng của tổ đội, và những người tình nguyện ngồi trên lưng ngựa tiến vào rừng. Chắc chắn là cô đã tưởng tượng ra những tòa nhà đổ nát với cửa sổ có chấn song và sân cỏ mọc um tùm. Thậm chí là cả những hàng rào dây thép gai và những người bảo vệ mặc đồng phục. Nhưng Willowbrook trông giống một khuôn viên đại học hơn là một nhà tù, nơi mọi thứ được chăm sóc cẩn thận và một người có thể tìm thấy sự bình yên và tĩnh lặng. Có lẽ ở đây Rosemary được đối xử tử tế. Có lẽ con bé đã kết bạn và tìm được ai đó để yêu thương và chăm sóc cho mình. Thậm chí có lẽ con bé đã cảm thấy hạnh phúc - hoặc dù sao thì cũng thấy hạnh phúc như một người bị nhốt trong viện tâm thần nên cảm thấy. Hy vọng khi Sage bước vào, cô sẽ được thông báo rằng Rosemary đã được tìm thấy, không có tổn hại nào. Rằng em gái cô đã bị lạc trong rừng hoặc cố chạy trốn, và giờ con bé đã an toàn trở về phòng thưởng thức một bát kem vani yêu thích của mình. Ngồi trở lại ghế xe buýt, Sage thở phào nhẹ nhõm. Bất kể chuyện xảy ra tiếp theo có là gì, ít nhất Willowbrook cũng không kinh khủng như cô lo sợ.

Sau đó, một tòa nhà sáu tầng hiện ra trong tầm mắt, trông giống như một con tàu cổ đại bước ra từ màn sương băng giá, một tòa nhà hình bát giác với mái nhà màu đen và các cánh lát gạch ở cả hai mặt, được trang trí bằng một mái vòm màu trắng cao không tưởng, biến mất vào những đám mây xám thấp tầng. Khi chiếc xe buýt đi vòng qua một bên của tòa nhà, Sage nhìn thấy một cánh của tòa nhà thậm chí còn dài hơn những cánh khác, khiến tòa nhà trông giống như một cây thánh giá khổng lồ. Những ống khói - nhiều đến mức cô không thể đếm nổi - nhô ra từ nhiều mái nhà màu đen như những khối xếp hình nằm rải rác trên giá. Sau đó, các tòa nhà khác hiện ra như bóng ma, nhiều trong số đó trông giống như cửa hàng, nhà để xe hoặc nhà kho. Và ở mọi nơi cô nhìn thấy, có nhiều tòa nhà hình chữ U, được đánh số và thêm những lối rẽ dẫn đến những con đường khác. Hàng rào cao bao quanh tòa nhà để ngăn người đi vào - hoặc ra; khó mà nói được điều nào mới là đúng. Khi xe buýt chạy chậm lại, cô để ý thấy một chiếc giày nằm đơn độc trên tuyết và thứ gì đó trông giống như một chiếc quần nhàu nát. Da gà nổi dọc theo cánh tay cô. Có lẽ ngay cả một nơi như Willowbrook thì vẻ bề ngoài vẫn là một sự lừa dối.

Cuối cùng, chiếc xe buýt vòng qua nơi trông giống như lối vào chính của tòa nhà hình cây thánh giá và dừng lại, phanh hơi rít lên. Một tấm biển phía trên cánh cửa đôi ghi: BAN QUẢN LÝ. Cặp vợ chồng người châu Á đứng lên và tiến về phía lối ra, người chồng kiên nhẫn đợi người vợ đi trước. Sage hít một hơi thật sâu và lấy hết can đảm. Ngay bây giờ hoặc không bao giờ.

Cô với tay lấy túi xách, tự hỏi liệu mình có nên hút thêm một điếu thuốc nữa trước khi bước vào không, mắt vẫn nhìn ra ngoài cửa sổ. Nhưng tay cô đã đặt xuống một chiếc ghế trống. Cô thở hổn hển và nhìn xuống. Túi xách của cô đã biến mất. Chết tiệt. Đáng nhẽ cô phải biết mới phải. Lẽ ra cô nên cảnh giác, đặc biệt là khi xe buýt dừng lại ở một số khu dân cư tồi tàn hơn. Cô nhìn khắp sàn một cách điên cuồng, rồi đứng dậy tìm kiếm dưới những chiếc ghế khác. Có lẽ nó đã trượt khỏi đệm khi chiếc xe dừng lại. Nhưng không thấy túi xách đâu cả. Cô đi ra lối đi, nhìn vào trong và dưới mỗi chiếc ghế.

“Có vấn đề gì sao, thưa cô?” Người tài xế hỏi.

“Tôi nghĩ ai đó đã lấy túi xách của tôi” Cô nói.

Người lái xe đảo mắt, đánh xe vào bãi đỗ và đứng dậy để giúp đỡ.

Họ tìm kiếm khắp nơi, từ trên xuống dưới và giữa các chỗ ngồi, tìm kiếm từng centimet trên sàn nhà.

“Có gì quan trọng trong đó không?” Người tài xế hỏi, thở hổn hển và toát mồ hội. “Tiền? Thẻ căn cước?”

“Chỉ một vài đô và một ít đồ trang điểm, lược chải đầu, thuốc lá của tôi” Đề cập đến thẻ căn cước giả sẽ không giúp ích gì cho cô.

“Không có bằng lái xe ư?”

Cô lắc đầu. “Tôi không có bằng lái.

“Cái túi trông như thế nào?”

“Đó là một chiếc túi bằng da có dáng giống yên ngựa, phía trước có in hình những bông hoa màu xanh Ông quay trở lại chỗ ngồi của mình, cởi mũ ra để lau mồ hôi trên trán, và chộp lấy một bảng kẹp hồ sơ từ một cái móc trên bảng điều khiển. “Cho tôi biết tên và số điện thoại. Nếu thấy nó, người ta sẽ báo cho cô, nhưng đừng mong đợi quá”

“Sage Winters. 212-567-2345.”

Ông viết thông tin xuống và đặt bảng kẹp hồ sơ trở lại móc. “Được, tôi biết rồi, ông nói. “Rất lấy làm tiếc vì chuyện này,” rồi ông ngước lên nhìn cô. “Cô ổn chứ?”

Không, tôi không ổn. Không một chút nào. Cô gật đầu và cố mỉm cười, xúc động trước lòng trắc ẩn của ông, và lần đầu tiên, cô để ý đến ánh mắt nhân hậu của ông. Cô liếc nhìn ra ngoài cửa sổ, vào tòa nhà bằng gạch đồ sộ. “Ông có biết gì về nơi này không?”

Ông nhún vai. “Có lẽ không nhiều hơn cô đâu, ông nói. “Tôi chỉ trả người và đón họ, nên cũng không có gì nhiều để nói với cô. Tuy nhiên, tôi nhớ Robert Kennedy đã gọi nó là hố rắn. Ông chỉ ra cửa xe buýt đang mở, theo hướng mà cặp vợ chồng người châu Á đã đi. “Cặp vợ chồng đó, họ đến hai tuần một lần, và mỗi lần tôi đón họ, người phụ nữ tội nghiệp đó lại đang khóc”

Cô ước ông đã không nói với cô điều đó. “Ông có biết tại sao không?”

“Tôi nghĩ họ đến thăm con. Và thật là buồn khi tưởng tượng có người mình yêu thương ở một nơi như thế, cô có nghĩ vậy không?”

Cô gật đầu, nỗi buồn siết chặt lồng ngực. Rosemary tội nghiệp.

“Tôi xin lỗi, ông nói. “Đáng lẽ tôi không nên nói thế. Cô đang đi thăm ai đó phải không?”

Cô nuốt khan. “Em gái tôi”

“Chết tiệt! Tôi xin lỗi. Cô ấy vừa mới đến sao?”

“Không, con bé đã ở đây được sáu năm rồi.

“Ồ” ông nói, rồi nhíu mày. “Tôi biết đây không phải việc của tôi, nhưng tại sao trước đây tôi chưa từng thấy cô trên xe mình nhỉ? Cô có thường đi cùng bố mẹ không?”

Cô đáng nhẽ sẽ cười nếu không cảm thấy như muốn khóc. “Không, tôi chỉ vừa mới phát hiện ra em ý ở đây”

“Ôi, cô gái, ông nói. “Tôi xin lỗi. Điều đó hẳn là khó khăn lắm”

“Từng là vậy” cô nói. “Và giờ vẫn thế” Trong một giây ngắn ngủi, cô đã nghĩ đến việc đề nghị ông đi cùng mình, đưa cô vào trong để cô không cô đơn. Nhưng điều đó thật lố bịch.

“Chà, chúc may mắn nhé nhóc,” ông nói. Ông đội lại mũ lên đầu và quay về phía tay lái. “Người ta sẽ gọi nếu tìm thấy túi xách của cô, nhưng như tôi đã nói, đừng mong đợi nhiều. Trên tuyến đường này, danh sách ‘đồ bị mất’ dài hơn nhiều so với danh sách ‘đã tìm thấy’”

“Được rồi, cảm ơn ông, cô nói, và bắt đầu xuống xe buýt. Đi được nửa bậc cầu thang, cô lại nhìn ra tòa nhà đồ sộ và bất thình lình bị một cơn hoảng loạn tấn công. Cô chỉ muốn trở lại xe buýt quay trở về nhà. Cô dừng lại và quay lại đối mặt với người tài xế. “Chắc là tôi sẽ gặp lại ông sau, khi ông quay lại đón chúng tôi”

Trước sự ngạc nhiên của cô, ông cau mày. “Xin lỗi, nhóc. Thường thì sẽ là tôi, nhưng tôi phải về sớm để đưa vợ đi ăn tối nhân ngày sinh nhật cô ấy.” Sau đó, ông lại mỉm cười và nháy mắt thân thiện với cô. “Cô biết người ta hay nói gì mà, vợ vui thì đời cũng vui”

Cô cố nặn ra một nụ cười yếu ớt. Ra ngoài ăn tối để chúc mừng sinh nhật nghe có vẻ là điều tuyệt vời nhất trên thế giới lúc này. Trời ạ, đi gặp nha sĩ nghe còn hay ho hơn những gì cô sắp làm. “Ồ. Cảm ơn ông một lần nữa vì sự giúp đỡ.”

“Không vấn đề gì” ông đặt tay lên cần gạt cửa và đợi cô ra ngoài. “Bảo trọng nhé!”

Ở dưới cùng của bậc thang xe buýt, tuyết lấp đầy phần sau đôi guốc của cô, ngay lập tức biến bàn chân cô thành băng. Cô quay lại vẫy tay với người lái xe, nhưng ông đã đóng cửa lại. Khẽ chửi thề, cô đi dọc theo vỉa hè đầy tuyết, hướng về phía tòa nhà bằng gạch. Đứng ở đầu những bậc thang đóng băng, cô do dự, tự hỏi liệu có nên gõ cánh cửa đôi hùng vĩ hay cứ bước vào. Cô thử nắm cửa. Nó xoay, một bên cánh cửa mở ra, và cô đi vào trong Sau khi giậm mạnh đôi guốc phủ đầy tuyết của mình lên tấm thảm chùi chân cỡ lớn bên trong một hành lang ngắn, cô đọc tấm bảng trên tường: NƠI ĐĂNG KÝ: BỆNH TÂM THẦN CẤP TÍNH VÀ MÃN TÍNH, LÃO KHOA, PHỤ THUỘC HÓA CHẤT, CHẬM PHÁT TRIỂN TÂM THẦN VÀ KHU VỰC DÀNH CHO TRẺ EM - THANH THIẾU NIÊN. Cô cau mày. Có phải cô đã đến nhầm chỗ? Willowbrook không phải là một trường học sao? Không điều gì trên tấm biển nói về những thứ như lớp học, giáo viên hay điểm số.

Điều duy nhất cô có thể làm là đi vào và hỏi. Cô đi qua một dãy cửa đôi khác và bước vào nơi trông giống như khu vực chờ. Ngay phía trước, một nhân viên tiếp tân đeo kính mắt mèo ngồi ở bàn làm việc đang xem qua một chồng giấy tờ. Ngoại trừ một cầu thang có chăng dây thừng kỳ lạ ở một góc phía sau, phòng chờ có cảm giác thoải mái, giả tạo của phòng khám bác sĩ, với sàn lát gạch, ghế đệm, và những bức tranh vẽ núi non và hồ nước treo trên tường. Một chiếc bàn ở góc có đủ loại tạp chí - National Geographic, Psychology Today, và Better Homes e Gardens - và một căn phòng nhỏ ở một bên chứa đồ chơi, sách và ghế cỡ trẻ em. Sau đó, cô nhận thấy những bức tượng gargoyle [5] trông nham hiểm trên tay vịn của cầu thang có chăng dây thừng và ngay lập tức nhớ đến những tin đồn về các nghi lễ của quỷ Satan được tổ chức dưới viện điều dưỡng bệnh lao cũ. Đống đồ trang trí trông đáng sợ đó đang làm cái quái gì trong trường học vậy? Cô rùng mình, rồi rũ bỏ cảm giác bất an. Đây không phải là lúc để mấy truyền thuyết đô thị làm cô hoảng sợ.

Căn phòng không có ai, ngoại trừ cặp vợ chồng người châu Á trên xe buýt. Người vợ, ngồi yên như tượng đá, nhìn chằm chằm xuống sàn nhà với ánh mắt ám ảnh, trong khi người chồng đặt một bàn tay lên cánh tay bà để trấn an. Khi ngước lên, ông ta nở một nụ cười mệt mỏi với Sage.

Không muốn tỏ ra thiếu thân thiện, cô mỉm cười đáp lại rồi đi về phía lễ tân.

“Vâng?” Nhân viên tiếp tân nói, đặt xuống một tờ giấy. “Tôi có thể giúp gì cho cô?”

“Tôi đang tìm em gái tôi, Rosemary Winters, Sage nói. “Con bé là học sinh ở đây, nhưng hôm qua cha dượng của tôi nhận được cuộc gọi báo rằng nó đã mất tích”

Phần trán của người nhân viên tiếp tân nhăn lại vì bối rối - hoặc có thể đó là sự lo lắng, thật khó để nói. “Xin vui lòng chờ một chút.” Cô ta nói. Cô ta cầm một cái bìa kẹp hồ sơ, nhấc tờ giấy đầu tiên lên và lướt ngón tay dọc theo trang tiếp theo. Sau khi đặt bìa kẹp xuống, cô ta nở một nụ cười thương mại với Sage, sau đó nhấc điện thoại và chỉ về phía khu vực chờ. “Xin mời ngồi. Sẽ có người đến gặp cô trong giây lát.”

“Cảm ơn.” Sage nói. Cô chọn một chỗ ngồi gần quầy tiếp tân, căng tai lắng nghe cuộc nói chuyện điện thoại. Khi nhân viên tiếp tân quay lưng lại và thì thầm vào ống nghe, nỗi sợ hãi lắng xuống như một tảng đá trong lồng ngực Sage. Có thể có tin xấu về Rosemary và nhân viên tiếp tân không muốn là người nói với cô. Rồi nhân viên tiếp tân cúp máy, viết gì đó và tránh ánh mắt của Sage, bận rộn nhìn xuyên qua bàn làm việc của mình. Sage đan hai tay vào nhau và cố gắng bình tĩnh lại. Không. Cô sẽ không nghĩ như vậy. Cô đang tưởng tượng ra mọi thứ. Nhân viên tiếp tân cũng không ngước nhìn cặp vợ chồng người châu Á - và tại sao cô ta phải làm vậy? Xét theo quy mô của Willowbrook, có lẽ mỗi ngày cô ta đều gặp hàng trăm người. Và cô ta có việc phải làm. Không có thời gian để bộc lộ tình cảm với từng người bước vào phòng.

Trong khi chờ đợi, Sage không thể không hình dung ra cảnh em gái mình cũng ở trong căn phòng này, mẹ cô và Alan nói chuyện với nhân viên tiếp tân, sau đó có người đưa Rosemary đi. Mẹ cô có đề nghị được xem nơi con gái bà sẽ ở không? Liệu bà có hỏi xem liệu con bé có giường riêng, phòng riêng hay bạn cùng phòng không? Bà thậm chí có quan tâm đến chuyện đấy không? Đôi mắt của Sage ngập nước. Rosemary hẳn đã vô cùng sợ hãi và bối rối.

Cô nghĩ đến việc hỏi cặp vợ chồng người châu Á xem họ biết gì về Willowbrook. Biển báo trên đường ghi đây là trường học, nhưng có cảm giác giống bệnh viện hơn. Hoặc tệ hơn, đây là một nhà thương điên. Cô cắn móng tay, nỗi lo lắng quặn thắt trong bụng. Tất nhiên, điều này thật lố bịch - cũng vô lý như những câu chuyện về Cropsey - nhưng cô không thể ngừng nghĩ về những tin đồn khác mà cô đã nghe khi lớn lên. Có câu chuyện về các bác sĩ thí nghiệm trên trẻ em ở đó, và có người nói rằng Willowbrook được xây dựng trên đảo Staten vì chất độc từ bãi rác Fresh Kills thấm ra khỏi lòng đất sẽ cung cấp thêm những đứa trẻ chậm phát triển cho nghiên cứu khoa học.

Trước khi cô có đủ can đảm để hỏi cặp vợ chồng người châu Á câu hỏi gì đó thì cánh cửa ở phía sau một căn phòng mở ra, một người đàn ông mặc đồng phục màu trắng bước vào cùng với một cậu bé khoảng mười tuổi trong chiếc áo sơ mi flannel quá khổ, đôi bốt sờn và chiếc quần dài được giữ cho khỏi tuột bằng dây giày. Có thể là do kiểu tóc húi cua hoặc góc quai hàm thô cứng của người đàn ông mà trông anh ta có vẻ cáu kỉnh khi dắt tay cậu bé đi ngang qua phòng. Cậu bé bước đi với cái đầu cúi gằm, hai tay sờ soạng dưới cằm, những ngón tay co quắp một cách kỳ lạ. Một linh cảm khủng khiếp dâng lên trong cô. Người đàn ông mặc đồng phục trắng không phải là giáo viên. Anh ta là một người phụ tá hoặc hộ lý gì đó, kiểu người mà bạn có thể thấy trong bệnh viện hoặc nhà thương điên. Cặp vợ chồng người châu Á đứng dậy và chạy đến chỗ cậu bé.

“Ôi, Jimmy, người vợ nói, nắm lấy đôi bàn tay lóng ngóng của thằng bé đặt trong tay mình. “Cha mẹ nhớ con lắm”

“Đúng vậy, người chồng nói. “Con khỏe không, con trai?”

Jimmy ngây người nhìn họ, miệng méo sang một bên. “Chào bố mẹ cậu đi, Jimmy.” Người phụ tá nói.

“Chào bố mẹ.” Jimmy nói, cuối mỗi từ cậu lại thè lưỡi ra khỏi miệng. Giọng cậu bé trầm hơn Sage nghĩ. Có lẽ cậu lớn tuổi hơn vẻ bề ngoài.

Vẻ lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt người mẹ và bà nhẹ nhàng đặt một bàn tay lên một bên đầu của Jimmy, nơi có thứ gì đó sẫm màu giống như máu khô, chạy dọc quai hàm và cổ của cậu. “Tai của thằng bé bị làm sao vậy?”

“Cậu ấy đã cư xử thô bạo với một cậu bé khác và bị cắn.” Người phụ tá nói.

“Có vẻ như nó cần được khâu lại.” Người mẹ nói.

“Tôi sẽ nói điều đó với bác sĩ của cậu ấy.” Người phụ tá nói, giọng đầy thờ ơ.

“Còn đôi giày thể thao mới mà lần trước chúng tôi mang đến thì sao?” Người cha nói. Ông chỉ vào đôi bốt trên chân Jimmy. Trông chúng quá to và thiếu dây buộc. “Nó đâu rồi?”

Người phụ tá nhìn xuống đôi bốt như thể lần đầu tiên chú ý đến chúng. “Tôi không rõ,” anh ta nói. “Chắc cậu ấy đã làm mất chúng”

Người cha lắc đầu ngán ngẩm. “Đôi thứ ba trong năm nay rồi đấy.”

“Chúng tôi đưa thằng bé ra ngoài một chút được không?” Người mẹ hỏi. “Tuyết đang rơi, nhưng không khí trong lành sẽ tốt cho nó”

“Tôi không mang theo áo khoác của cậu ấy,” người phụ tá nói. “Có lẽ nên để lần tới.”

“Tôi có thể lấy áo khoác cho thằng bé,” người cha nói. “Chỉ cần cho tôi biết nó ở đâu.”

“Ông biết cha mẹ không được phép vào khu vực ấy mà, ông Chan. Tôi đã nói với ông điều đó hàng trăm lần rồi.”

“Tôi biết,” ông Chan nói. “Điều tôi muốn biết là tại sao? Tại sao anh không cho chúng tôi xem nơi con trai chúng tôi sống? Anh đang cố che giấu điều gì vậy?”

“Chúng tôi không che giấu điều gì cả, người phụ tá nói. “Nhưng những đứa trẻ khác có thể cảm thấy khó chịu khi nhìn thấy cha mẹ trong khu vực riêng, đặc biệt là những người không bao giờ có ai đến thăm. Ông được hoan nghênh đến thăm Jimmy ngay tại đây, như ông vẫn thường làm.”

“Và tại sao chúng tôi luôn phải thông báo cho anh biết khi nào chúng tôi đến, nếu không Jimmy sẽ không được phép gặp mặt?” Ông Chan nói. “Có lẽ anh cũng có thể giải thích điều đó cho tôi.

Bà Chan đã nắm lấy cánh tay Jimmy và dẫn cậu về phía phòng đồ chơi ngoài khu vực chờ, âu yếm dùng một tay xoa dọc theo vai cậu.

“Tôi không phải là người lập ra các quy tắc, ông Chan, người phụ tá nói. “Nếu có khiếu nại, ông cần trình bày vấn đề đó với một trong các bác sĩ hoặc thành viên của ban quản lý.

“Ồ, tôi đã lên kế hoạch rồi. Hội phụ huynh vừa gặp một người trong số các bác sĩ của các anh và chúng tôi sẽ làm rõ ngọn nguồn vấn đề này, anh có thể tin là vậy!”

Người phụ tá nhún vai. “Hãy cứ làm điều ông phải làm.”

Ông Chan ném cho anh ta một cái nhìn giận dữ nữa, rồi đi theo vợ và con trai vào phòng khác. Người phụ tá nhìn cho đến khi họ ổn định xong mới quay người rời đi, sau đó chú ý đến Sage và thể hiện sự do dự, vẻ mặt kỳ lạ. Thay vì rời đi, anh ta đi đến chỗ cô tiếp tân và cúi xuống, nói nhỏ. Nhân viên tiếp tân gật đầu và liếc nhìn Sage. Người phụ tá nhìn cô lần nữa, rồi rời đi qua cánh cửa cuối phòng.

Nỗi sợ hãi lại gặm nhấm bên trong cô. Họ đã nói gì về cô? Rằng có rất ít hy vọng tìm thấy Rosemary? Rằng họ cần nhờ ai đó nói với cô rằng con bé đã chết? Hay là một điều gì đó hoàn toàn khác? Cô đứng dậy tiến lại gần quầy lễ tân. “Xin lỗi, cô nói. “Nhưng tôi có cảm giác cô và người đàn ông đó đang nói về em gái tôi. Có điều gì cô cần nói với tôi không? Bất cứ điều gì?”

Cô tiếp tân lắc đầu. “Tôi xin lỗi. Tôi không biết chắc chuyện gì đang xảy ra, nhưng sẽ sớm có người đến để nói chuyện với cô.”

“Nhưng cô không hiểu, Sage nói. “Tôi vừa mới biết được em gái tôi ở đây. Tôi nghĩ nó đã chết và tôi đã đến tận đây và…”

Trước khi cô nói xong, cánh cửa phía sau phòng chờ mở ra và người phụ tá tóc húi cua quay trở lại cùng với một người đàn ông gầy gò trong chiếc áo khoác thể thao bằng vải tuýt. Người phụ tá chỉ vào Sage và họ bắt đầu tiến về phía cô, bước nhanh, người phụ tá nắm chặt tay, khuôn mặt người đàn ông nghiêm trang. Bản năng đầu tiên của cô là quay đầu bỏ chạy. Họ nghĩ rằng cô bị bệnh, họ sẽ nhốt cô lại. Có thể Alan đã nói với họ rằng cô sẽ đến vì ông ta muốn rũ bỏ cô. Có lẽ tất cả những gì ông ta nói về Rosemary đều là dối trá để đưa cô đến đây. Xét cho cùng, cô và mọi đứa trẻ trên đảo Staten đã lớn lên và được bảo rằng chúng sẽ bị gửi đến Willowbrook nếu chúng không ngoan. Giờ thì cơn ác mộng đã trở thành sự thật.

Nhưng điều đó là không thể. Alan không biết cô ở đây. Cô tống suy nghĩ đó ra khỏi đầu. Sau đó, trong khoảnh khắc tiếp theo, nội tâm cô trở nên ủ rũ. Người phụ tá và người đàn ông mặc áo khoác thể thao sẽ nói với cô rằng Rosemary đã chết. Cô có thể nhìn thấy điều đó trong mắt họ và cách họ ngậm miệng. Không. Rosemary không thể chết - không thể chết lần nữa! Những người đàn ông ấy trông căng thẳng là vì nơi này, vì những quyết định khó khăn liên quan đến công việc của họ. Có lẽ họ nghĩ cô ở đây là để mắng mỏ họ vì đã để mất Rosemary.

Trên đôi chân đẫm nước, cô đến gặp họ, đưa tay ra và hếch cằm lên, cố tỏ ra thân thiện và tự tin. Trong lòng cô cảm thấy buồn nôn.

Trước khi cô có thể mở lời, người đàn ông mặc áo khoác thể thao nói. “Cô đã ở đâu vậy, cô Winters? Chúng tôi đã rất lo cho cô.”

« Lùi
Tiến »