Những Con Tuấn Mã

Lượt đọc: 497 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần IV Tiếp theo

Đến giữa buổi sáng, mưa ngừng rơi. Nước nhỏ giọt từ những tán cây trong khóm bạch dương, và giấy nhiễu treo thành những chuỗi dây ẩm ướt. Cậu đứng với những con ngựa và nhìn đám cưới hiện ra từ nhà thờ. Chú rể mặc một bộ com-lê đen tẻ ngắt rộng thùng thình; trông anh ta không phải bứt rứt mà nửa như tuyệt vọng, như thể anh ta chưa bao giờ dùng đến quần áo vậy. Cô dâu ngượng ngùng bám dính anh ta. Họ đứng chụp hình trên những bậc tam cấp và trong kiểu ăn mặc trang trọng cổ xưa trước giáo đường đó, họ thật trông như những người già. Trong bức họa toàn một màu nâu đỏ của một ngày mưa ở ngôi làng buồn tẻ đó, họ ngay lập tức trông trở nên già nua.

Trong khóm bạch dương, một bà lão mặc áo choàng rebozo nghiêng những chiếc bàn và ghế sắt để nước chảy xuống. Bà cùng những người khác bắt đầu dọn thức ăn từ những cái thùng và rổ ra; một nhóm tam tấu trong trang phục màu bạc lấm bẩn đang đứng cùng những nhạc cụ của họ. Chú rể nắm tay cô dâu để giúp nàng vượt qua vũng nước trước những bậc tam cấp nhà thờ. Một thằng nhỏ chạy ra, giậm lên vũng nước làm bắn tóe một mảng nước bùn đục ngấu lên họ, rồi tháo chạy với những đứa bạn của nó. Cô dâu nép chặt vào chú rể. Họ cau có nhìn theo lũ nhỏ nhưng chẳng làm gì được; cô dâu nhìn xuống y phục của mình rồi nhìn chú rể và phá lên cười. Chú rể cũng cười, những người dự lễ cũng cười, và họ băng qua đường, nhìn nhau cười rồi tiến vào khóm bạch dương giữa những chiếc bàn và các nhạc công bắt đầu chơi.

Với số tiền cuối cùng, cậu mua cà phê, đậu, bánh ngô và vài lon nước. Những cái lon ở trên giá lâu ngày đến độ đã xỉn màu và nhãn cũng bạc màu. Cậu qua đường, đi dọc bên những người khách dự tiệc đang ngồi ăn tại bàn; các nhạc công đã ngừng chơi và ngồi tụm vào nhau uống rượu từ những chiếc cốc bằng thiếc. Một người đàn ông ngồi đơn độc trên chiếc ghế dài có vẻ như chẳng can dự gì với đám cưới, ngước nhìn khi nghe tiếng móng lóc cóc chậm chạp trên đường và vẫy một tay với người cưỡi ngựa nhợt nhạt đang đi qua với khăn choàng và súng trường; cậu vẫy tay đáp trả rồi đi tiếp.

Cậu đi qua những ngôi nhà đất thấp cuối cùng và nhắm theo con đường hướng bắc, một đường mòn lầy lội hư hỏng qua những sườn đồi hoang vu sỏi đá đầy nhánh rẽ và đứt đoạn, và tận cùng là những phế phẩm của một khu mỏ bỏ hoang giữa những hình thù han gỉ của ống nước và trục máy bơm cùng những giàn giáo cũ kỹ. Cậu băng qua miền cao nguyên, và vào buổi chiều, cậu đi xuống sườn dốc phía bắc. Một đồng bằng trước mặt, nơi những cây ôliu ngập creozot từ những trận mưa đứng thành những khóm trang nghiêm như đã đứng hàng ngàn năm và hơn thế nữa.

Trong hoang mạc không người ở, trông già hơn bất kỳ sinh vật nào trên mặt đất.

Cậu đi tiếp, hai con ngựa theo sau, và đi sâu qua những vũng nước tù đọng và mặt trời ló dạng khỏi vùng tối đen u ám giăng về phía tây nơi màu đỏ của nó chạy xuống dải hẹp của bầu trời bên trên những dãy núi như thể máu chảy hòa vào nước. Vùng hoang mạc tinh khôi sau trận mưa hóa ra vàng óng trong ánh nắng chiều, đoạn tối sẫm dần, một sự nhuốm màu chậm chạp trên vùng chân núi. Những ngọn đồi nhô cao và những tảng đá ảm đạm của những dãy núi tối sẫm dần về hướng nam ở Mexico. Vùng ngập mà cậu vượt qua được vây quanh với những tảng đá trập trùng nằm la liệt và trong ánh chiều chạng vạng những con cáo nhỏ của hoang mạc đã nhảy ra ngồi một cách lặng lẽ và vương giả dọc những bức tường như những tượng thần ngồi nhìn đêm xuống. Những con chim bồ câu gọi bạn từ những cây keo và màn đêm rơi sầm xuống như bầu trời Ai Cập, và chỉ còn là sự tĩnh lặng và cô tịch và tiếng thở của những con ngựa và âm thanh lộp cộp những cái móng của chúng trong bóng tối. Cậu rong ruổi ngựa theo hướng sao Bắc Đẩu và dưới ánh trăng tròn cậu vượt khỏi vùng phía đông và những con sói đồng cỏ tru tréo khắp đồng bằng kéo dài đến phía nam từ đó họ vừa đi qua.

Cậu vượt qua con sông ngay phía tây của Langtry, Texas trong một cơn mưa rào nhè nhẹ. Gió từ phía bắc thổi đến, ngày lạnh. Những con gia súc dọc những bờ sông đứng buồn bã và lặng lẽ. Cậu đi theo một đường mòn gia súc dẫn xuống những rặng liễu và vượt qua bãi sậy đến nơi dòng nước đục lờ chảy qua đám sỏi cuội.

Cậu quan sát những chỗ xoáy xám xịt lạnh giá của dòng chảy và xuống ngựa, nới lỏng đai yên, cởi quần áo và nhét đôi ủng trong hai ống quần như cậu từng làm cách đây đã lâu và cậu để áo sơmi, áo choàng cùng súng lên sau và gập đôi dây lưng xỏ qua những đai quần để kéo siết lưng quần lại. Đoạn cậu vắt chiếc quần qua vai, trần truồng cưỡi ngựa với khẩu súng trường giơ cao và lùa hai con ngựa đi trước và thúc con Redbo vượt sông.

Cậu đặt chân lên đất Texas trong bộ dạng tái nhợt và run lẩy bẩy. Cậu ngồi một lúc trên lưng ngựa và nhìn bao quát đồng bằng về phía bắc nơi đàn gia súc đã bắt đầu hiện ra chậm chạp lừ đừ từ quang cảnh lờ mờ và cậu nghĩ về người cha đã chết trong xứ sở đó, và cậu ngồi trần truồng trên lưng ngựa trong mưa rào và ướt sũng.

Cậu cưỡi ngựa vào Langtry vào buổi đầu chiều và trời vẫn đang mưa. Cái đầu tiên cậu nhìn thấy là một chiếc xe tải nhỏ với mui xe dở lên và hai người đàn ông đang cố khởi động nó. Một trong hai người ngẩng dậy và nhìn cậu. Với họ, cậu hẳn xuất hiện với cái vẻ của loài ma quái nào đó đã tuyệt diệt trong quá khứ vì gã này đã huých khuỷu tay gã kia và cả hai cùng nhìn.

- Xin chào. - John Grady nói. - Ông bạn có thể cho tôi biết hôm nay ngày gì không?

Họ nhìn nhau.

- Hôm nay thứ năm. - Người đầu tiên nói.

- Ý tôi là ngày gì cơ.

Gã nhìn chòng chọc cậu. Gã nhìn vào những con ngựa đứng sau lưng cậu. Ngày ư? - Gã hỏi.

- Vâng, thưa ông.

- Ngày lễ Tạ ơn. - Người thứ hai nói.

Cậu nhìn họ, rồi nhìn xuống đường.

- Quán cà phê đằng kia mở cửa chứ hả?

- Vâng.

Cậu nhấc bàn tay khỏi quả táo yên ngựa và chừng như sắp quát ngựa phóng đi thì bỗng dừng lại.

- Hai ông có muốn mua một khẩu súng trường không? - Cậu hỏi.

Họ nhìn nhau.

- Bá tước có thể mua nó cho anh. - Người đầu tiên nói. - Ông ấy thường dùng.

- Ông ta là chủ quán cà phê?

- Vâng.

Cậu nắn vành mũ. Cảm ơn nhiều - cậu nói. Đoạn cậu thúc ngựa đi tới và cưỡi xuống đường dắt theo hai con ngựa đằng sau. Họ nhìn cậu đi. Không ai nói gì vì chẳng có gì để nói. Cả hai đứng nhìn theo đến khi cậu rẽ vào góc quán cà phê và chẳng thấy gì nữa.

Cậu đã đi khắp miền biên giới trong nhiều tuần để tìm kiếm chủ nhân con ngựa. Ở Ozona ngay trước lễ Giáng sinh, ba người đàn ông đã tuyên thệ trước pháp luật và cảnh sát hạt đã nhốt con vật. Phiên tòa được mở trong phòng xử của thẩm phán tại một trụ sở tòa án bằng đá cổ xưa và viên lục sự đọc cáo trạng và danh tính; vị thẩm phán quay nhìn xuống John Grady.

- Chàng trai. - Ông nói. - Anh có luật sư biện hộ không?

- Không, thưa ông. - John Grady đáp. - Tôi không cần một luật sư. Tôi chỉ cần nói cho ông nghe về con ngựa này.

Thẩm phán gật đầu. Được rồi. - ông nói. - Tiếp đi.

- Vâng, thưa ông. Nếu ông không phiền tôi xin kể mọi việc từ đầu. Từ lần đầu tiên tôi nhìn thấy con ngựa này.

- Vâng, nếu anh muốn kể thì tôi vui lòng nghe vì vậy hãy kể đi.

Cậu mất gần nửa giờ để kể. Khi nói xong cậu hỏi liệu có thể cho cậu một ly nước được không. Không ai trả lời. Vị thẩm phán quay qua viên lục sự.

- Emil, lấy cho chàng trai ly nước.

Ông ta nhìn xuống tập giấy và nhìn sang John Grady.

- Chàng trai, ta phải hỏi anh ba câu và nếu anh có thể trả lời hết thì con ngựa là của anh.

- Vâng, thưa ông. Tôi sẽ cố.

- Cho dù anh biết hay không biết chúng. Vấn đề với một kẻ nói dối là cậu không thể nhớ những gì cậu nói.

- Tôi không phải một kẻ nói láo.

- Tôi biết anh không phải. Chỉ là vì cần ghi lại. Tôi không tin ai lại có thể dựng lên một câu chuyện như anh vừa kể với tôi.

Ông sửa lại kính và hỏi John Grady rằng Trang Trại Của Đức Thánh Mẫu rộng bao nhiêu hecta. Đoạn ông hỏi tên chồng của người đầu bếp của chủ trại. Cuối cùng ông ta hạ bút ghi chép và hỏi John Grady rằng anh có mặc quần soóc không.

Một tràng cười khe khẽ vang lên trong phòng xử án nhưng vị thẩm phán và chấp hành viên không hé cười.

- Vâng, thưa ông. Tôi có.

- Tốt, ở đây không có phụ nữ vậy nếu anh không lấy làm quá ngượng thì tôi muốn anh cho tòa xem những lỗ đạn trên chân anh. Nếu anh không muốn thì tôi sẽ hỏi anh câu khác.

- Vâng, thưa ông. - John Grady đáp. - Cậu cởi khóa thắt lưng, tuột quần dài xuống đầu gối và lật chân phải sang bên cho ngài thẩm phán coi.

- Được rồi chàng trai. Cảm ơn. Nước của anh kia.

Cậu kéo quần dài lên, cài nút và khóa thắt lưng rồi với tới lấy ly nước trên bàn mà viên lục sự đã để và uống.

- Mấy cái lỗ trông kinh khủng quá. - Ngài thẩm phán nói. - Anh không được chăm sóc thuốc men gì sao?

- Không, thưa ông. Ở đó đâu có cái gì để mà...

- Tôi đoán vậy. Anh thật may mắn khi không bị hoại thư.

- Vâng, thưa ông. Nhưng tôi đã đốt chúng khá kỹ.

- Đốt chúng?

- Vâng, thưa ông.

- Anh đốt bằng gì?

- Một cái nòng súng. Tôi đốt chúng bằng cái nòng súng nung đỏ.

Phòng xử án im phăng phắc. Vị thẩm phán nghiêng người.

- Cảnh sát được chỉ thị trả tài sản bị tranh chấp cho ông Cole. Ông Smith, ông thấy rằng chàng trai này đã lấy con ngựa của ông ấy. Chàng trai, anh được tự do đi và tòa án cảm ơn vì lời chứng của anh. Tôi đã ngồi ghế quan tòa ở hạt này từ khi nó là một hạt và kể từ đó tôi đã nghe bao nhiêu chuyện khiến tôi phải có những hoài nghi kinh khủng về loài người nhưng đây không phải một trong số chúng. Ba nguyên đơn trong vụ này tôi muốn thấy có mặt ở đây trong phòng xử của tôi sau bữa trưa. Nghĩa là một giờ trưa.

Luật sư của ba nguyên đơn đứng dậy.

- Thưa ngài, đây khá rõ là một vụ lầm lẫn.

Viên thẩm phán khép sổ ghi chép lại và đứng lên. Hẳn thế rồi. - Ông ta nói. - Sai lầm tệ hại. Bãi tòa.

Đêm đó cậu gõ cửa phòng thẩm phán trong khi đèn nhà dưới vẫn còn thắp sáng. Một cô gái Mexico ra mở cửa và hỏi cậu muốn gì; cậu nói muốn gặp ngài thẩm phán. Cậu nói bằng tiếng Tây Ban Nha và cô trả lời cậu bằng tiếng Anh với đôi chút lạnh lùng và bảo cậu đợi.

Khi cậu xuất hiện trước cửa ngài thẩm phán vẫn đang áo xống chỉnh tề nhưng đã khoác một cái áo choàng tắm bằng vải flannel cũ. Nếu ông kinh ngạc nhận thấy người thanh niên lại ở đây thì ông đã không thể hiện ra. Ông đẩy mở cánh cửa ngăn.

- Vào đi chàng trai. - Ông nói. - Vào đi.

- Tôi không muốn quấy rầy ông.

- Không sao.

John Grady nắm lấy mũ.

- Tôi không ra ngoài đó đâu. - Ngài thẩm phán nói. - Vậy nếu anh muốn gặp tôi thì tốt hơn nên vào đây.

- Vâng, thưa ông.

Cậu bước vào một hành lang dài. Một cầu thang gác có lan can bên tay phải cậu dẫn lên tầng trên. Căn nhà thơm phức mùi thức ăn và đồ đạc bóng loáng. Ngài thẩm phán đang mang dép da và cậu lặng lẽ bước xuống hành lang trải thảm và bước vào một cánh cửa mở bên trái. Căn phòng đầy những sách, và ngọn lửa trong lò sưởi đang cháy.

- Chúng ta ở đây rồi - Thẩm phán nói. - Thưa mẹ Dixie, đây là John Cole.

Một phụ nữ tóc bạc đứng lên khi cậu bước vào và mỉm cười với cậu. Đoạn bà ta quay qua ngài thẩm phán.

- Mẹ lên phòng đây, Charles. - Bà nói.

- Được rồi, thưa mẹ.

Ông quay sang John Grady.

- Ngồi xuống, chàng trai.

John Grady ngồi và đặt nón trong lòng.

Họ ngồi.

- Nào nói đi. - Thẩm phán mở lời. Chẳng có lúc nào như lúc này đâu.

- Vâng, thưa ông. Tôi đoán điều tôi muốn nói trước hết là những điều ông nói tại phiên tòa làm tôi băn khoăn một chút. Cứ như thể là tôi đúng trong mọi chuyện và tôi thì không cảm nhận theo cách đó.

- Anh cảm nhận theo cách nào?

Cậu ngồi nhìn trân trân vào cái mũ. Cậu ngồi im rất lâu. Cuối cùng cậu nhìn lên. Tôi không cảm thấy là công bằng. - Cậu nói.

Thẩm phán gật gù.

- Anh không trình bày sai với tôi bất cứ điều gì về con ngựa đấy chứ?

- Không thưa ông. Không phải vậy.

- Vậy là cái gì?

- Vâng, thưa ông. Cô gái tôi muốn nói.

- Được rồi.

- Tôi đã làm việc cho người đàn ông đó và tôi tôn trọng ông ta, ông ta không bao giờ ngớt than phiền về công việc tôi làm cho ông ta, và ông ta cực kỳ tốt với tôi. Và người đàn ông đó đã leo lên chỗ cao nơi tôi đang làm việc và tôi tin là ông ta có ý định giết tôi. Và tôi là người làm cho điều đó xảy ra. Không ai ngoài tôi.

- Anh không làm cho cô ta có thai đấy chứ?

- Không, thưa ông. Tôi yêu cô ấy.

Ngài thẩm phán nghiêm trang gật gù. Ừ. - Ông nói. - Anh có thể yêu cô ta và vẫn làm cô ta phình bụng lắm chứ.

- Vâng, thưa ông.

Vị thẩm phán nhìn cậu. Chàng trai. - ông nói. - Anh làm tôi ngạc nhiên như một người có lẽ hay thường nghiêm khắc với bản thân. Từ những gì anh nói tôi nghĩ anh đã thật sự giỏi khi thoát ra khỏi đó với bộ da nguyên vẹn. Có lẽ điều tốt nhất phải làm chỉ là cuốn gói và bỏ tất cả lại sau lưng. Cha tôi thường dạy tôi rằng đừng dây dưa mãi với cái gì đang làm hại mình.

- Vâng, thưa ông.

- Còn có gì khác không?

- Vâng, thưa ông.

- Điều gì?

- Khi ở trong trại cải tạo tôi đã giết một chàng trai.

Viên thẩm phán ngồi thụt vào ghế bành. Nào. - Ông nói. - Tôi rất tiếc phải nghe điều đó.

- Điều đó vẫn làm tôi ray rứt.

- Anh hẳn đã bị đôi chút khiêu khích.

- Tôi đã, nhưng không làm sao được. Anh ta muốn đâm chết tôi. Tôi chỉ cố thắng anh ta.

- Tại sao điều đó làm anh bận lòng?

- Tôi không biết. Tôi không biết gì về anh ta. Tôi thậm chí không biết cả tên anh ta. Anh ta có thể từng là một gã trai khá tốt. Tôi không biết. Tôi không biết anh ta cần phải chết.

Cậu ngước nhìn. Ánh mắt cậu long lanh trong ánh lửa. Viên thẩm phán ngồi nhìn cậu.

- Anh biết gã không phải là một gã trai khá tốt. Phải không?

- Vâng, thưa ông. Tôi đoán thế.

- Anh hẳn không muốn làm một quan tòa, đúng không?

- Không, thưa ông. Tôi chắc chắn không muốn.

- Tôi cũng không.

- Ông?

- Tôi không muốn làm một quan tòa. Tôi là một luật sư trẻ đang hành nghề ở San Antonio và tôi trở về đây khi cha tôi bệnh và tôi đi làm việc cho ủy viên công tố hạt. Tôi chắc chắn không muốn làm một quan tòa. Tôi cảm thấy khá nhiều cái cảm giác như của anh. Nhưng tôi vẫn làm.

- Điều gì làm ông thay đổi suy nghĩ?

- Tôi không biết là mình đã thay đổi. Tôi chỉ nhìn thấy quá nhiều sự bất công trong hệ thống tòa án và tôi thấy những người cùng độ tuổi tôi đã ở những vị thế quyền lực mà tôi đã lớn lên cùng, và đã chai lì với một thực tế khô cứng khiến lương tri phải tê liệt. Tôi nghĩ chỉ là tôi không có bất kỳ sự lựa chọn nào. Không có sự lựa chọn nào. Tôi đã đưa một chàng trai trong hạt này lên ghế điện ở Huntsville năm 1932. Tôi suy nghĩ về điều đó. Tôi không nghĩ hắn là một gã trai tốt. Nhưng tôi nghĩ về chuyện đó. Liệu tôi có làm thế nữa không? Vâng, tôi sẽ tiếp tục làm thế.

- Tôi gần như đã làm vậy lần nữa.

- Làm gì, giết ai đó nữa sao?

- Vâng, thưa ông.

- Gã đại úy người Mexico?

- Vâng thưa ông. Đại úy. Bất luận hắn là gì. Hắn là cái mà họ gọi là tên mật thám. Thậm chí không phải là một cảnh sát chân chính.

- Nhưng anh cũng không.

- Không, thưa ngài. Tôi không.

Họ ngồi. Lửa trong lò đã cháy thành than. Bên ngoài gió đang gầm gào và chẳng mấy lúc nữa cậu sắp phải ra ngoài đó.

- Mặc dù không cố tâm làm chuyện đó, nhưng tôi tự nhủ là tôi có làm. Nhưng không. Tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu họ không đến và đưa gã đi. Dù sao tôi cũng mong gã chết phứt đi.

Cậu ngẩng lên khỏi ngọn lửa và nhìn viên thẩm phán.

- Tôi thậm chí đã không nổi điên với gã. Hoặc tôi không cảm thấy điều đó. Chàng trai mà gã bắn, tôi hầu như không biết về anh ta. Tôi cảm thấy tồi tệ về chuyện đó, nhưng cậu ta chẳng là gì với tôi.

- Tại sao anh nghĩ là anh muốn giết gã ta?

- Tôi không biết.

- Ồ. - Viên thẩm phán nói. - Tôi đoán đó là một chuyện gì đó giữa anh và ông trời. Anh có nghĩ vậy không?

- Vâng, thưa ông. Tôi không muốn nói tôi chờ đợi một câu trả lời. Có lẽ chẳng có câu trả lời nào hết. Tôi chỉ bứt rứt một nỗi sợ ông có thể nghĩ tôi là thứ gì đó đặc biệt. Không đâu.

- Ồ, sự bứt rứt đó không phải là một thái độ tệ hại đâu.

Cậu cầm lấy mũ và giữ nó bằng cả hai tay. Trông như cậu sắp đứng lên, nhưng không.

- Lý do tôi muốn giết gã là vì tôi đã đứng đó và để gã lôi chàng trai vào đám cây, rồi bắn cậu ta mà tôi chẳng nói gì cả.

- Điều đó hẳn đã có một tác dụng tốt?

- Không, thưa ông. Nhưng cũng chẳng làm cho nó đúng.

Viên thẩm phán nghiêng người từ ghế của mình và lấy que cời đang dựng trên lò sưởi để đẩy than vào và dựng que cời trở lại, khoanh tay lại, nhìn chàng trai.

- Anh sẽ làm gì nếu ngày hôm nay tôi tuyên án chống lại anh?

- Tôi không biết.

- Ồ, tôi nghĩ đó là một câu trả lời thẳng thắn.

- Đó không phải ngựa của họ. Điều đó khiến tôi áy náy.

- Vâng. - Thẩm phán nói. - Tôi nghĩ vậy.

- Tôi cần phải tìm ra con ngựa thuộc về ai. Việc đó cứ như thể cái cối đá buộc cổ tôi vậy.

- Chẳng có gì sai về phía anh cả, chàng trai. Tôi nghĩ anh sẽ sớm cảm thấy nhẹ nhõm.

- Vâng, thưa ông. Tôi đoán vậy. Nếu tôi còn sống.

Cậu đứng dậy.

- Cảm ơn vì ông đã dành thời gian mời tôi vào nhà. Và vì tất cả.

Viên thẩm phán đứng lên. "Anh có thể trở lại thăm tôi bất kỳ lúc nào," ông nói.

- Vâng, thưa ông. Tôi cảm kích điều đó.

Bên ngoài trời lạnh nhưng viên thẩm phán đứng trên hành lang với áo choàng và dép lê trong khi cậu cởi dây ngựa và dắt hai con ngựa kia rồi lên ngựa. Cậu quay ngựa, nhìn ông ta đang đứng trong ánh sáng cánh cửa, và cậu vẫy tay; viên thẩm phán vẫy tay đáp trả và cậu cưỡi ngựa xuống con phố qua những vùng sáng đèn cho đến khi cậu biến mất vào bóng đêm.

Sáng chủ nhật sau, cậu đang ngồi trong một quán cà phê ở Bracketville, Texas uống cà phê. Chẳng có ai khác trong quán ngoại trừ người đứng quầy và anh ta ngồi trên chiếc ghế đẩu sau cùng ở cuối quầy hàng phì phèo thuốc lá và đọc báo. Có một cái radio đang mở đằng sau quầy và một lúc sau có một giọng nói rằng đây là Giờ giảng phúc âm của Jimmy Blevins.

John Grady ngước lên. "Đài phát thanh đó ở đâu vậy?" cậu hỏi.

- Del Rio. - Người đứng quầy đáp.

Cậu đến Del Rio vào khoảng bốn giờ rưỡi chiều và đến lúc tìm thấy nhà của Blevins thì trời đã sắp tối. Mục sư sống trong một ngôi nhà toàn bằng gỗ màu trắng với một con đường rải sỏi và John Grady xuống ngựa tại hòm thư và dẫn những con ngựa đi lạo xạo trên đường đến mặt sau nhà và gõ cửa bếp. Một phụ nữ tóc hoe, dáng người nhỏ nhắn nhìn ra. Bà ta mở cửa.

- "Thưa?" bà ta nói. - "Tôi giúp gì được ông?

- Vâng, thưa bà. Mục sư có ở nhà không?

- Anh muốn gặp ngài vì việc gì?

- À. Tôi đoán tôi muốn gặp ngài vì một con ngựa.

- Một con ngựa?

- Vâng, thưa bà.

Bà ta nhìn qua cậu và những con vật đang đứng. "Con nào?" bà ta hỏi.

- Con hồng. Con lớn nhất ấy.

- Ngài sẽ ban phép lành cho nó, nhưng ngài sẽ không đặt tay lên nó đâu.

- Thưa bà?

- Ngài sẽ không đặt tay lên lũ súc vật.

- "Ai ngoài ấy vậy, cưng?" Một người đàn ông trong bếp gọi với ra.

- "Một chàng trai với một con ngựa," bà trả lời.

Mục sư bước ra trên hành lang. "Ôi chà chà." Ông nói và nhìn chòng chọc vào những con ngựa.

- Tôi xin lỗi đã quấy rầy thưa ngài, nhưng đó có phải ngựa của ông không?

- Ngựa của tôi? Tôi chưa bao giờ có con ngựa nào trong đời.

- Anh có muốn ngài ban phép lành cho con ngựa không? Người phụ nữ nói.

- Ngài có biết cậu bé nào chừng mười bốn tuổi tên là Jimmy Blevins không?

- Chúng tôi từng có một đứa. Đến là ương bướng. Và tai quái nữa. Cậu bé tên Jimmy Blevins? Anh muốn nói đơn giản là Jimmy Blevins?

- Vâng, thưa ngài.

- Không, không. Tôi nhớ không ra. Có bao nhiêu là Jimmy Blevins trên đời, nhưng là Jimmy Blevins Smith và Jimmy Blevins Jones kia. Không tuần nào trôi qua mà chúng tôi không nhận được một, hai lá thư kể về một Jimmy Blevins này, Jimmy Blevins nọ. Đúng vậy không cưng?

- Thật vậy.

- Chúng tôi nhận chúng từ nước ngoài, anh biết đấy. Jimmy Blevins Chang. Đứa mà chúng tôi có gần đây. Cậu bé đáng yêu kêu gào luôn miệng. Họ đã gửi những tấm hình, anh biết đấy. Ảnh chụp nhanh. Tên anh là gì?

- Cole. John Grady Cole.

Mục sư chìa tay ra và họ bắt tay nhau. Mục sư trầm ngâm. "Cole." Ông nói: "Chúng tôi có thể có một Cole. Tôi không thích khi phải nói rằng chúng tôi không có. Anh ăn tối chưa?"

- Chưa, thưa ngài.

- Cưng ơi, có thể anh Cole đây sẽ thích dùng bữa với chúng ta. Anh thích gà và bánh bao nhân táo chứ, anh Cole?

- Thưa ngài, tôi thích. Cả đời tôi luôn khoái chúng.

- Ồ, anh sẽ càng có lý do để thích hơn với bữa ăn ngon nhất mà anh từng ăn, do vợ tôi làm.

Họ ăn trong nhà bếp. Người phụ nữ nói: "Chúng tôi chỉ ăn trong nhà bếp vì đằng nào cũng chỉ còn có hai chúng tôi."

Cậu không hỏi còn thiếu ai nữa. Mục sư đợi bà yên vị, rồi cúi đầu cầu nguyện ban phép lành cho bữa ăn và chiếc bàn cùng những người đang ngồi ở đó. Khá dài dòng ông tiếp tục chúc lành cho tất tần tật mọi thứ cho đến quốc gia và sau đó ông chúc lành cho vài quốc gia khác nữa. Rồi ông nói chuyện về chiến tranh và đói kém và sứ mệnh truyền giáo cùng những vấn đề khác trên thế giới với sự quan tâm đặc biệt đến nước Nga và người Do Thái và tục ăn thịt người và ông đọc lời nguyện nhân danh Chúa Jesus và giơ tay với lấy miếng bánh ngô.

- "Người ta luôn muốn biết tôi đã bắt đầu ra sao." - ông nói. - "Vâng, với tôi chẳng có gì bí mật cả. Hễ khi nghe đài tôi đều biết nó dành cho cái gì và cũng không phải không có những vấn đề về nó. Anh của mẹ tôi đã tậu một hệ thống máy thu thanh. Mua nó qua thư. Nó được gửi đến trong một hộp và anh phải lắp ráp lại. Chúng tôi sống ở miền Nam Georgia và dĩ nhiên chúng tôi đã nghe radio. Chúng tôi chưa bao giờ thật sự được tận mắt xem một vở kịch. Đó là cả một thế giới khác. Vâng. Tôi biết nó dành cho cái gì. Vì không thể không có những lý do khác nữa, anh thấy đó. Một người có thể khiến trái tim mình chai sạn tới nỗi anh ta không còn có thể nghe lời Chúa nữa, nhưng khi anh vặn radio cho thật lớn? Vâng, sự chai sạn của trái tim sẽ chẳng còn là gì nữa. Ngoại trừ là anh ta thật sự điếc đặc. Có một mục đích cho mọi thứ trong đời này, anh thấy đó. Đôi khi có thể thật khó để thấy đó là gì. Nhưng còn radio? Ồ, vâng. Không còn gì đơn giản hơn. Ngay từ đầu radio đã nằm trong kế hoạch của tôi. Đó là cái đã đưa tôi đến địa vị mục sư."

Ông lấy thức ăn đầy đĩa khi nói, đoạn ông dừng nói và ăn. Ông không phải một người to lớn nhưng ông ăn những hai đĩa to đầy ụ, đoạn thêm một suất lớn bánh gatô nhân đào và ông uống vài cốc sữa.

Ăn xong, ông lau miệng và đẩy ghế. "Ồ," ông nói, "anh thứ lỗi cho. Tôi phải đi làm việc. Có lúc Chúa cũng phải nghỉ ngơi."

Ông đứng dậy và biến mất vào nhà. Người phụ nữ dọn ra cho John Grady một suất bánh gatô thứ hai và cậu cảm ơn bà, và bà ngồi lui lại, nhìn cậu ăn.

- "Ông ấy là người đầu tiên khiến anh đặt tay trên radio anh biết đấy." - Bà ta nói.

- Thưa bà?

- "Ông ấy bắt đầu như thế. Hãy đặt tay lên radio, ông ấy cầu nguyện qua radio và chữa lành mọi người lắng nghe với bàn tay đặt trên radio."

- Vâng, thưa bà.

- "Trước đó người ta gửi đến ông vô số thứ và ông cầu nguyện trên chúng, nhưng rồi có nhiều vấn đề kéo theo chuyện đó. Người ta trông mong quá nhiều vào một người chăn chiên của Chúa. Ông đã chữa trị nhiều người và dĩ nhiên mọi người nghe điều đó qua đài phát thanh và tôi không muốn nói điều này nhưng sự việc đã tệ đi. Tôi nghĩ vậy."

Cậu ăn. Bà ta nhìn cậu.

- "Họ gửi người chết đến." - Bà nói.

- Thưa bà?

- "Họ gửi người chết đến. Đóng hòm họ và chở họ trên tàu hỏa tốc. Điều đó nằm ngoài tầm tay. Anh không thể làm được gì với một người chết. Chỉ có Chúa Jesus có thể làm điều đó."

- Vâng, thưa bà.

- Anh có muốn chút sữa nữa không?

- Vâng, cảm ơn bà. Nơi này tốt kinh khủng.

- Tôi vui vì anh thích nó.

Bà đổ sữa vào ly của cậu và ngồi lại.

- "Ông ấy làm việc vất vả với địa vị mục sư của mình. Người ta không hình dung được đâu. Anh có biết rằng tiếng nói của ông truyền đi khắp thế giới không?"

- Thật vậy sao?

- "Chúng tôi nhận những lá thư từ Trung Quốc. Thật khó tưởng tượng. Những con người bé nhỏ thân mến quây quần quanh radio ở đó. Lắng nghe Jimmy."

- Tôi không nghĩ là họ biết ngài ấy đang nói gì.

- Những lá thư từ Pháp. Những lá thư từ Tây Ban Nha. Từ cả thế giới. Giọng ông nghe như tiếng nhạc vậy, anh thấy đó. Khi ông giơ tay lên ban phúc, họ có thể đang ở Timbuctoo. Họ có thể đang ở Nam Cực. Chẳng có gì khác biệt. Tiếng nói ông ở đó. Không có nơi nào anh đến được mà không có ông ở đó. Trong không trung. Mọi lúc. Anh chỉ cần bật radio.

- Dĩ nhiên họ đã cố đóng trạm phát thanh, nhưng nó vẫn vang khắp Mexico. Đó là lý do Tiến sĩ Brinkley đã đến đây. Để nhìn thấy trạm phát thanh đó. Anh có biết rằng họ có thể nghe nó trên sao Hỏa?

- Không, thưa bà.

- Vâng, họ có thể. Khi tôi nghĩ về họ ở trên đó đang lần đầu tiên được nghe những lời của Chúa Jesus thì nước mắt tôi cứ muốn trào ra. Đúng vậy đó. Và Jimmy Blevins đã làm điều đó. Chính ông ấy.

Từ bên trong nhà có tiếng ngáy dài nặng nề vang lên. Bà mỉm cười. Cục cưng tội nghiệp. - Bà nói. - Chắc ông ấy kiệt sức rồi. Người ta không tưởng tượng được đâu.

Cậu không bao giờ tìm được chủ nhân của con ngựa. Gần những ngày cuối tháng hai, cậu trôi dạt xuống miền Bắc lần nữa, gò ngựa đi trên những rãnh tháo nước dọc lề những con đường trải nhựa. Tuần đầu của tháng ba, cậu đã quay về San Angelo và vượt qua miền nông thôn quá đỗi thân quen với mình, và cậu đến hàng rào đồng cỏ nhà Rawlins vào lúc trời vừa tối một chút trong đêm ấm áp và lặng gió đầu tiên của năm. Và vạn vật hoàn toàn tĩnh mịch và rõ ràng trên những miền đồng bằng phía tây Texas. Cậu cưỡi ngựa tới chuồng ngựa, xuống ngựa và bước đến ngôi nhà. Có ánh đèn trong phòng Rawlins và cậu đặt hai ngón tay lên miệng, huýt sáo.

Rawlins bước tới cửa sổ và nhìn ra. Trong vài phút anh ta xuất hiện từ nhà bếp và đi quanh hông nhà.

- Là anh đó hả?

- Ừ.

- Thật bất ngờ. - Anh ta nói. - Bất ngờ quá.

Anh ta tiến lại gần cậu vào ánh sáng và nhìn chòng chọc vào cậu như thể nhìn một cái gì hiếm thấy.

- Tôi đoán là cậu có thể mong con ngựa cũ của mình quay về. - John Grady nói.

- Tôi không thể tin được. Anh dắt theo con Junior đấy à?

- Nó đang đứng trong chuồng ngựa đằng kia.

- Thật bất ngờ. - Rawlins nói. - Thật không thể tin được.

Họ cưỡi ngựa lên thảo nguyên và ngồi trên đất, để lũ ngựa đi nhởn nhơ với dây cương thả xuống, và cậu kể với Rawlins tất cả những gì đã xảy ra. Họ ngồi rất lặng lẽ. Trăng vàng vọt treo trên bầu trời phía tây và những hình thù dài dẹt của những đám mây đêm trôi qua nó như một phi đội ma quái.

- Cậu đã gặp mẹ cậu chưa? - Rawlins nói.

- Chưa.

- Cậu có biết cha cậu đã qua đời?

- Có. Tôi đoán tôi biết điều đó.

- Bà ấy đã cố báo tin cho cậu ở Mexico.

- Vâng.

- Mẹ của Luisa bệnh thật rồi.

- Abuela?

- Ừ.

- Mọi người làm ăn ra sao?

- Tôi đoán là ổn cả. Tôi đã gặp Arturo trong thị trấn. Thatcher Cole tìm cho ông ta một công việc tại trường học. Quét dọn và những việc đại loại.

- Còn bà ấy?

- Tôi không biết. Bà ấy khá già rồi.

- Ừ.

- Sắp tới cậu định làm gì?

- Biến khỏi đây.

- Đi đâu?

- Tôi không biết.

- Cậu có thể phát tài với nghề khoan dầu. Lương cao lắm mà.

- Ừ. Tôi biết.

- Cậu có thể ở đây, trong nhà này.

- Tôi nghĩ tôi sắp phải đi.

- Đây vẫn là một xứ tốt lành.

- Ừ. Tôi biết điều đó. Nhưng đó không phải xứ sở của tôi.

Cậu đứng dậy, quay lưng nhìn xa xăm về phía bắc nơi những ánh điện của thành phố treo trên hoang mạc. Đoạn cậu bước đi và nắm lấy dây cương, lên ngựa, cưỡi đi, và dắt theo dây cương con ngựa của Blevins.

- Giữ lấy ngựa của cậu. - Rawlins nói. - Không thì nó đi theo tôi mất.

Rawlins bước tới, nắm dây cương con ngựa.

- Quê cậu ở đâu? - Anh ta hỏi.

- Tôi không biết. - John Grady nói. - Tôi không biết nó ở đâu. Tôi không biết điều gì đã xảy ra ở quê nhà.

Rawlins không trả lời.

- Sau này gặp lại, anh bạn già. - John Grady nói.

- Được rồi. Sau này gặp lại.

Anh ta giữ con ngựa của mình trong khi người cưỡi ngựa quay lưng và cưỡi đi và từ từ khuất sau đường chân trời. Anh ngồi trên gót chân, nhìn theo cậu ít lâu nữa, nhưng một lúc sau anh bỏ đi.

Ngày tang lễ diễn ra tại Knickerbocker trời mát lạnh và đầy gió. Cậu quay ngựa vào đồng cỏ về phía mặt xa con đường và ngồi rất lâu nhìn xuống con đường về phía bắc, nơi bầu trời ló ra u ám và một lúc sau đám đưa tang xuất hiện. Một chiếc xe tang Packard cũ kỹ cùng với nhiều những chiếc xe hơi bụi bặm đủ loại và những chiếc xe tải theo sau. Chúng kéo lê trên con đường dẫn đến nghĩa trang nhỏ của người Mexico. Người ta tràn ra trên đường và những người đưa tang trong y phục đen bạc màu đứng phía sau xe tang và họ khiêng chiếc

quan tài của Abuela qua cổng vào nghĩa trang. Cậu đứng bên kia đường giữ lấy mũ. Không ai nhìn thấy cậu. Họ khiêng bà vào nghĩa trang, theo sau là một mục sư và một chàng trai trong áo choàng trắng đang rung chuông. Họ chôn bà, họ cầu nguyện, họ khóc lóc và kêu gào, rồi dắt díu nhau ra khỏi nghĩa trang, họ than khóc và lên những chiếc xe hơi, quay đầu từng chiếc trên con đường trải nhựa hẹp và ra về trên con đường đã đưa họ đến.

Xe tang đã đi khỏi. Có một chiếc xe tải nhỏ đỗ từ đằng xa con đường; cậu đội mũ và ngồi đó trên chỗ dốc của rãnh tháo nước. Một lúc sau, có hai người đàn ông đi xuống con đường dẫn ra khỏi nghĩa trang với những cái xẻng trên vai và họ bước xuống con đường, đặt những cái xẻng vào thùng xe tải rồi vào xe lái đi.

Cậu đứng, rồi bước qua đường và đi vào nghĩa trang qua những mộ phần bằng đá cũ kỹ và qua những tấm bia nhỏ cùng những dòng chữ nhỏ nhỏ khắc trên chúng, những bông hoa bằng giấy bạc màu vì ánh mặt trời, một bình sứ, một bức tượng Đức Mẹ bằng chất dẻo. Những cái tên cậu biết hoặc không biết. Villareal, Sosa, Reyes. Jesusita Holguin. Nació. Falleció. Một con sếu bằng sứ. Một bình thủy tinh đục sứt mẻ. Những vườn hoa gợn sóng đằng xa, gió thổi trên những cây tuyết tùng. Armendares. Ornelos. Tiodosa Tarín, Salomer Jaquez. Epitacio Villareal Cuéllar.

Cậu đứng, mũ cầm tay, trên mặt đất, vô định. Người phụ nữ này đã làm việc cho gia đình cậu năm mươi năm. Bà đã chăm nom mẹ cậu khi còn bé và bà đã hiểu biết và chăm sóc những chàng trai hoang dã nhà Glady vốn là những chú bác của mẹ cậu và tất cả đã chết từ lâu. Cậu đứng đó, cầm chiếc mũ và gọi tên bà, nói lời vĩnh biệt bà bằng tiếng Tây Ban Nha, đoạn quay lưng đội mũ và ngoảnh gương mặt đầm đìa nước mắt vào trong gió lộng và trong một khoảnh khắc cậu đã dang rộng đôi tay như thể để giữ lấy thăng bằng hoặc để chúc phúc cho mặt đất hoặc có lẽ như để làm chậm lại thế giới đang quay cuồng và dường như chẳng màng gì đến những chuyện sinh lão hoặc giàu nghèo hoặc tăm tối hoặc xanh xao hoặc tôi hoặc anh. Chẳng còn lại gì cho những tranh đấu của họ, chẳng còn gì cho tên tuổi của họ. Chẳng còn lại gì cho kẻ sống cũng như kẻ chết.

Vào ngày thứ tư, cậu vượt qua sông Pecos tại Iraan Texas và cưỡi ngựa qua khỏi những nhánh sông đứt đoạn nơi những giàn khoan ở Yates Field nằm dọc theo đường chân trời nhô lên và lõm xuống như những con chim máy. Như những con chim nguyên thủy to lớn vươn mình từ sắt thép bởi tin đồn trong một xứ sở có lẽ là nơi từng tồn tại những con chim đó. Lúc bấy giờ vẫn còn có những người da đỏ cắm trại trên những bình nguyên phía tây và vào cuối ngày trên lưng ngựa cậu đã vượt qua một khóm lưa thưa những ngôi nhà của họ dựng trên cái hoang mạc tịch liêu và run rẩy đó. Chúng có lẽ cách một phần tư dặm về phía bắc, những túp lều tạm bợ làm từ những sào chống và bụi cây với vài tấm da dê phủ lên chúng. Những người da đỏ đứng nhìn cậu. Cậu có thể thấy chẳng ai trong họ nói gì với nhau hoặc bình luận về cái kẻ cưỡi ngựa là cậu hoặc có một cái vẫy tay hoặc gọi cậu. Họ hoàn toàn chẳng có chút hiếu kỳ về cậu. Như thể họ đã biết tất tật những gì cần biết. Họ đứng và nhìn cậu đi qua, đơn độc biến mất khỏi khung cảnh. Chỉ là vì cậu sẽ biến mất.

Hoang mạc nơi cậu đi qua rực đỏ một màu, bụi đất đỏ nhuốm chân con ngựa của cậu, con ngựa cậu dắt đi. Chiều đến một cơn gió thổi qua nhuộm đỏ cả bầu trời trước mặt cậu. Chẳng thấy có mấy con gia súc vì đây quả thật một vùng cằn cỗi tuy nhiên đến chiều tối cậu chợt gặp một con bò đơn độc gồng mình trong gió bụi dưới hoàng hôn đỏ thẫm như máu một con thú bị hạ sát. Bụi đỏ thẫm bay là là trong ánh mặt trời. Cậu kiễng gót chân nhảy lên con ngựa. Cậu cưỡi đi dưới ánh mặt trời phủ màu đồng lên gương mặt và ngọn gió đỏ ối từ phía tây thổi qua khắp vùng đất u tối. Những chú chim hoang mạc nhỏ nhỏ ríu rít giữa những cây dương xỉ khô quắt, và người cưỡi ngựa cùng con ngựa đi qua, người trước ngựa sau, những chiếc bóng dài trôi đi như bóng của một sinh vật duy nhất. Đi qua và mịt mờ dần trong mảnh đất đang tối sầm lại, thế giới mà họ phải đến.

Cormac McCarthy

Nguyễn Quang dịch

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của cormac mccarthy