Những Cột Trụ Của Trái Đất

Lượt đọc: 25273 | 15 Đánh giá: 9,9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3 (A)

 I - “Con chó đó chắc cũng có ở đây,” mẹ William nói. “Tôi chắc chắn như vậy.”

William nhìn mặt tiền nhà thờ Kingsbridge với cảm giác lo sợ pha lẫn với nhớ thương. Nếu công nương Aliena có mặt ở thánh lễ Hiển linh này thì đó là một xấu hổ đớn đau cho gia đình cậu, tuy nhiên trái tim cậu đập nhanh hơn khi nghĩ rằng cậu sẽ được gặp lại cô.

Họ chạy nước kiệu theo con đường dẫn đến Kingsbridge, William và cha cậu trên lưng con ngựa chiến và mẹ cậu trên lưng con ngựa đua đẹp. Ba hiệp sĩ và ba người giúp việc theo sau họ. Họ đi thành một đoàn ấn tượng và thậm chí đáng sợ, và William hài lòng về nó. Các nông dân, những người đi bộ đến Kingsbridge, sợ hãi rẽ sang hai bên khi họ nghe thấy tiếng chân mạnh mẽ của đoàn ngựa đến gần.

Bà mẹ đã sôi sục vì giận. “Tất cả họ đều biết, ngay cả những nông dân tồi tệ” bà nói qua kẽ răng, “và họ còn kể chuyện khôi hài về chúng ta: ‘Khi nào cô dâu không còn là cô dâu?’ Rồi họ trả lời: ‘Khi chàng rể là William Hamleigh!’ Tôi đã đánh một người vì điều đó, nhưng tình hình vẫn không tốt hơn. Tôi muốn bắt con chó đó, lột sống da nó, treo da nó trên một cành cây để cho chim xé xác nó ra.”

William ước mong mẹ cậu đừng nói thêm gì về chuyện đó. Gia đình đã bị sỉ nhục rồi, và đó là do lỗi của William – hay mẹ cậu đã cho là như vậy – và cậu không muốn nhớ lại nó.

Họ đi trên cây cầu gỗ ọp ẹp bắc ngang qua sông dẫn đến làng Kingsbridge và thúc ngựa trên con đường chính đến tu viện. Đã có hai mươi hoặc ba mươi con ngựa đang gặm bãi cỏ thưa trên các nấm mồ ở phía bắc nhà thờ, nhưng không con nào đẹp như ngựa của nhà Hamleigh.

Họ đi đến chuồng và giao ngựa cho các đứa trẻ giữ ngựa của tu viện. Rồi họ đi theo hàng ngũ qua khoảng sân xanh: William và bố đi hai bên mẹ, đàng sau là các kỵ binh và sau cùng là các người giúp việc. Mọi người tránh qua hai bên, dành chỗ cho họ đi; nhưng William có thể thấy họ huých nhau và chỉ trỏ, và cậu có thể chắc chắn rằng họ đang xì xào về đám cưới bị hủy bỏ của cậu. Cậu liều liếc nhìn mẹ, và qua cái nhìn giận dữ trên khuôn mặt của bà, cậu nhận ra rằng bà cũng đang nghĩ như vậy.

Họ đi vào nhà thờ.

William ghét ngôi nhà thờ. Nhà thờ lạnh lẽo và âm u ngay cả khi trời đẹp, và luôn luôn thoang thoảng mùi ẩm thấp trong các góc tối và đường đi thấp hai bên. Tệ hại nhất là nhà thờ gợi cậu nhớ đến những đau khổ của hỏa ngục, và cậu sợ hỏa ngục.

Cậu đảo mắt lướt qua nhà thờ. Lúc đầu cậu không thể phân biệt được các khuôn mặt vì quá tối. Khi mắt cậu đã quen với bóng tối, cậu vẫn chưa nhìn thấy Aliena. Họ tiến lên theo lối đi. Vẫn chưa thấy bóng dáng cô đâu. Cậu vừa cảm thấy nhẹ nhõm, vừa cảm thấy thất vọng. Rồi cậu thấy cô và trái tim cậu lỡ một nhịp.

Aliena đứng phía trước bên phía nam của gian giữa, hộ tống bởi một hiệp sĩ mà William không quen biết, xung quanh còn có nhiều kỵ binh và các bà phục vụ. Mặc dù cô đứng quay lưng về phía cậu, nhưng mái tóc xoăn đen của cô vẫn không thể nhầm lẫn. Cậu đang nhìn cô thì cô quay lại. William nhìn thấy đôi gò má mềm mại và chiếc mũi cao kiêu hãnh. Đôi mắt đen của cô bắt gặp ánh mắt cậu. Cậu ngưng thở. Cặp mắt đen này bình thường đã lớn, lại mở rộng hơn khi nhìn thấy cậu. William làm bộ như không thấy cô, nhưng cậu không thể rời ánh mắt cậu đi. Cậu muốn cô mỉm cười với cậu, hay chỉ cần đôi môi đầy đặn của cô nhếch lên, không cần gì nhiều mà chỉ là dấu hiệu của một sự quen biết lịch sự. Cậu nghiêng đầu chào cô, chỉ một chút, đúng hơn là một cái gật đầu. Nét mặt cô cứng lại và cô quay lên.

William co rúm lại như thể cậu bị đau. Cậu cảm thấy mình như con chó bị đuổi ra khỏi đường, và cậu muốn cuộn tròn mình trong một góc, không muốn ai để ý đến cậu. Cậu liếc sang hai bên xem có ai đã nhìn thấy cậu và cô ấy đã trao đổi ánh mắt với nhau không. Khi cậu cùng với bố mẹ đi xa hơn về phía trước, cậu nhận ra nhiều người nhìn cậu rồi lại nhìn Aliena, huých lẫn nhau và xì xào. Cậu nhìn thẳng về phía trước, tránh cái nhìn của mọi người. Cậu cố gắng giữ cao đầu. Làm sao cô ấy lại có thể làm điều đó với chúng tôi? Cậu nghĩ. Chúng tôi là một trong các gia đình danh tiếng nhất ở miền Nam nước Anh, và cô ấy làm chúng tôi xấu hổ. Ý nghĩ này làm cậu tức giận và cậu mong được rút kiếm ra tấn công một ai đó, bất cứ người nào.

Cảnh sát trưởng của Shiring chào bố William và họ bắt tay nhau. Dân chúng quay đi chỗ khác, tìm điều gì mới mẻ để thì thầm. Sự tức giận vẫn còn sôi sục trong William. Đám quý tộc trẻ đến bên Aliena và từng người cúi đầu chào cô. Hình như cô đang mỉm cười với mọi người.

Thánh lễ bắt đầu. William tự hỏi tại sao mọi chuyện lại diễn ra xấu thế. Bá tước Bartholomew có một con trai để thừa hưởng danh hiệu và tài sản của ông. Vì thế ông muốn dùng người con gái cho một việc duy nhất là để liên minh với các thế lực khác. Aliena là một trinh nữ mười sáu tuổi, không có ý định trở thành nữ tu, nên mọi người đều nghĩ rằng một cuộc hôn nhân giữa cô và một nhà quý tộc trẻ mười chín tuổi là quá đẹp đôi. Bởi vì về mối lợi trong chính trị, cha cô đã có thể gả cô cho một bá tước béo phì bốn mươi tuổi hoặc thậm chí cho một bá tước đầu hói sáu mươi tuổi.

Khi cuộc hôn nhân đã được định đoạt, William và cha mẹ cậu đã không cần giữ kín đáo, ngược lại họ đã loan tin trong tất cả vùng xung quanh. Cuộc gặp gỡ lần đầu giữa William và Aliena chỉ là hình thức, nhưng Aliena không nghĩ như vậy.

Dĩ nhiên, họ không phải là những người xa lạ. Cậu còn nhớ cô khi cô còn trẻ. Cô có một khuôn mặt tinh quái và chiếc mũi hếch. Mái tóc ngang bướng của cô ngày đó bị cắt ngắn. Cô hay gây gỗ, cứng đầu, táo bạo và hách dịch. Cô luôn luôn tổ chức các trò chơi cho trẻ em, quyết định chúng chơi trò gì, và ai thuộc nhóm nào. Cô cũng xét xử các tranh chấp và cho điểm. William bị cô thu hút, và cũng bất bình vì tính cách chỉ huy của cô. Cậu có thể bỏ dở cuộc chơi và bắt cô chú ý đến cậu; nhưng điều đó không kéo dài, vì sau cùng cô cũng làm chủ được tình hình, khiến cậu cảm thấy bối rối, bị thua, bị bỏ rơi, bị tức giận và bị lấn át – giống như cậu đang cảm thấy bây giờ.

Sau khi mẹ cô qua đời, cô du hành nhiều với bố và William ít khi gặp cô. Tuy nhiên cậu vẫn thường thấy cô, đủ để biết rằng cô đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, hấp dẫn, và cậu rất vui khi biết cô là người đính hôn của cậu. Dù cô ấy kết hôn với cậu vì yêu cậu hay không, nhưng William vẫn muốn đi gặp cô và làm mọi chuyện để có thể cưới cô.

Cô ấy có thể còn là trinh nữ, nhưng cậu không còn. Trong số những thiếu nữ cậu quen, có nhiều cô gần đẹp như Aliena, nhưng không ai được sinh ra trong gia đình quyền quý như Aliena. Cậu đã trải qua kinh nghiệm rằng con gái bị quyến rũ bởi quần áo đẹp đẽ của cậu và cách cậu chi tiền cho rượu ngọt và những giây băng sặc sỡ; và nếu cậu dụ được họ đến một chuồng ngựa hoang vắng nào đó, thường thường họ chiều theo ý cậu - một cách sẵn sàng hay ít sẵn sàng hơn.

Thật ra William là một người dễ thân mật với phụ nữ. Lúc đầu cậu thường để họ nghĩ là cậu không thực sự để ý đến họ. Nhưng khi cậu ở một mình với Aliena, sự tự tin đã bỏ rơi cậu. Cô mặc chiếc áo lụa xanh sáng, rộng và dài. Tất cả những gì cậu có thể nghĩ, đó là về thân thể bên trong chiếc áo dài đó mà chẳng bao lâu nữa cậu có thể nhìn khi nào cậu muốn. Cậu gặp cô ấy khi cô đang đọc sách. Đó là một việc không bình thường đối với một phụ nữ không phải là nữ tu. Cậu hỏi cô đang đọc sách gì, chỉ để tâm trí cậu tránh khỏi bộ ngực của cô đang nhấp nhô dưới lớp áo lụa màu xanh.

“Nó mang tựa đề ‘Tiểu thuyết của Alexander’. Nó là câu truyện của vua Alexander đại đế và cách ông thu phục những mảnh đất tuyệt vời ở phía đông, nơi mà những viên đá quý mọc lên trên gốc nho và cây cối có thể nói chuyện.”

William không thể tưởng tượng được tại sao một người lại có thể phí phạm thời giờ vào những chuyện ngu ngốc như thế, nhưng cậu đã không nói như vậy. Cậu kể cho cô về con ngựa của cậu, về con chó và về thành quả của cậu trong săn bắn, trong đấu vật và cưỡi ngựa. Cô không ấn tượng về chuyện đó như cậu hy vọng. Cậu kể về căn nhà bố cậu đã xây cho họ, và, để giúp cô chuẩn bị cho nhiệm vụ làm vợ trong gia đình, cậu cho cô biết cậu muốn mọi việc trong gia đình ra sao. Cậu cảm thấy cô không còn lắng nghe, nhưng cậu không biết tại sao. Cậu ngồi gần cô bao nhiêu có thể, vì cậu muốn ôm ghì lấy cô, muốn cảm nhận cô và tìm hiểu xem bộ ngực này có to như cậu tưởng tượng không; nhưng cô nghiêng người ra khỏi cậu, khoanh tay và gác chéo chân. Thái độ của cô như cấm đoán, đến nỗi cậu phải từ bỏ ý định và tự an ủi mình rằng, chẳng bao lâu nữa cậu có thể làm với cô mọi chuyện cậu thích.

Tuy nhiên khi cậu ở đó, cô đã không tỏ điều gì về dự định của cô. Cô chỉ nói nhẹ nhàng: “Tôi không nghĩ chúng ta hợp nhau.” Nhưng William cho đó là sự khiêm tốn của thiếu nữ và bảo đảm với cô rằng họ rất hợp nhau.

Cậu không biết rằng ngay sau khi cậu đi khỏi, cô sẽ ập vào người bố cô và loan báo rằng cô sẽ không kết hôn với cậu. Không gì có thể lay chuyển được cô, thà rằng cô sẽ vào tu viện; và ngay cả họ có dùng dây sắt kéo cô đến bàn thờ, cô cũng sẽ không mở miệng nói lên sự đồng ý. Con chó cái! William nghĩ; con chó cái này! Nhưng cậu không thể chưởi Aliena như mẹ cậu đã chưởi cô. Cậu không muốn lột sống da Aliena. Cậu muốn nằm lên trên thân thể nóng bỏng của cô và hôn cô.

Thánh lễ Hiển Linh kết thúc với phần loan báo về cái chết của giám mục. William hy vọng tin này sẽ làm lu mờ tin giật gân về đám cưới bị hủy bỏ của cậu. Các tu sĩ ra khỏi nhà thờ theo đoàn rước, và tiếng trò chuyện vui vẻ phát ra khi cộng đoàn vừa ra tới cửa. Nhiều người trong số họ đã có quan hệ vật chất hoặc tinh thần với giám mục – ví dụ như người thuê nhà, hay như công nhân trên đất của ngài – và mọi người đều quan tâm xem ai sẽ là người nối nghiệp và người nối nghiệp có thay đổi gì không. Cái chết của một người có vị trí quan trọng luôn tạo ra nguy hiểm cho người thuộc quyền.

William theo cha mẹ xuống gian giữa và cậu ngạc nhiên khi thấy Tổng đại diện Waleran tiến về phía họ. Ông di chuyển nhanh qua đám đông, giống như con chó đen trong cánh đồng đầy bò; và giống như những con bò, đám đông lo sợ nhìn ông và rời xa ông một hai bước. Ông làm ngơ trước đám nông dân và trao đổi vài câu với mỗi người trong tầng lớp quý tộc. Khi ông đến bên gia đình Hamleigh, ông chào bố của William, bỏ qua William, rồi lại chú ý đến bà mẹ. “Cuộc hôn nhân như vậy thật xấu hổ,” ông nói.

William đỏ mặt. Tên khùng này nghĩ rằng ông lịch sự với lời phỉ báng đó sao?

Bà mẹ không quan tâm đến nó như William. “Tôi không phải là người thù lâu,” bà nói dối.

Waleran bỏ qua chuyện đó. “Tôi nghe thông tin về Bá tước Bartholomew mà có lẽ ông bà quan tâm,” ông nói. Giọng ông nhẹ nhàng, vì thế mà không ai nghe được, và William phải cố gắng lắm mới có thể theo dõi được câu chuyện. “Dường như bá tước không giữ lời thề với nhà vua đã mất.”

Ông bố nói: “Barthholomew luôn là một người đạo đức giả cứng đầu.”

Waleran nhìn đau khổ. Ông muốn họ lắng nghe chứ không bình luận. “Bartholomew và Robert, bá tước thành Gloucester sẽ không chấp nhận vua Stephan mà giáo hội và các bá tước đã chọn như ông biết.”

William tự hỏi tại sao tổng đại diện lại nói về những cuộc tranh cãi của các bá tước. Ngay bố cậu cũng nghĩ như vậy, nên ông nói: “Nhưng các bá tước không thể chống lại chuyện đó được.”

Bà mẹ thông cảm sự nóng ruột của Waleran vì những ý kiến xen vào của chồng. “Hãy nghe đã!” bà rít lên.

Waleran nói: “Những gì tôi nghe được là họ đang âm mưu một cuộc phản loạn và đưa Maud lên làm nữ hoàng.”

William không thể tin vào tai mình. Có thể nào một tổng đại diện lại có những tuyên bố liều lĩnh như thế, và ở ngay đây, giữa nhà thờ chính tòa Kingsbridge? Dù nó đúng hay sai, người ta cũng có thể bị treo cổ về chuyện đó.

Ông bố giật mình, nhưng bà mẹ trầm tư nói: “Robert thành Gloucester là anh em khác mẹ với Maud… Chuyện đó có thể xẩy ra.”

William tự hỏi làm sao mẹ mình lại có thể biết những tin tức nóng hổi như thế, Nhưng bà rất thông minh và bà luôn luôn đúng trong mọi chuyện.

Waleran nói: “Bất cứ ai có thể loại bỏ được Bartholomew và ngăn chặn cuộc nổi loạn, người đó sẽ được vua Stephan và Mẹ giáo hội ghi ơn đời đời.”

“Thật vậy sao?” ông bố nói với giọng bàng hoàng, nhưng bà mẹ gật đầu một cách khôn ngoan.

“Bartholomew dự kiến sẽ trở về vào ngày mai,” Waleran nói điều đó trong khi ông ngước lên, nhìn vào mắt mỗi người. Ông quay lại bà mẹ và nói: “Tôi nghĩ, ông bà sẽ là người quan tâm đến vấn đề này nhất.” Rồi ông quay đi, chào những người khác.

William chằm chằm nhìn theo ông. Đó có phải là những gì thực sự ông muốn nói?

Bố mẹ William đi ra, và cậu theo họ ra ngoài, qua cổng vòng cung lớn. Cả ba đều im lặng. William đã nghe nói về cuộc dàn xếp trước đây năm tuần về việc ai sẽ là vua, nhưng mọi việc đã xong khi Stephan được tấn phong ở tu viện Westminster ba ngày trước lễ Giáng sinh. Bây giờ, nếu Waleran đúng, mọi chuyện lại bắt đầu lại. Nhưng tại sao Waleran lại thổ lộ chuyện này cho gia đình Hamleigh?

Họ đi qua bãi cỏ xanh đến chuồng ngựa. Ngay sau khi họ xa khỏi đám đông bên ngoài cổng nhà thờ, khi không còn ai nghe lén được nữa, ông bố hào hứng nói: “Thật là một may mắn. Người đã sỉ nhục gia đình mình sẽ phải ra tòa vị tội phản quốc!”

William không nhìn thấy tại sao đó lại là một may mắn, nhưng bà mẹ hiểu, bởi vì bà gật đầu đồng ý.

Ông bố tiếp tục: “Chúng ta có thể bắt giam ông ấy bằng đầu gươm nhọn, và treo cổ ông ấy lên cành cây gần nhất.”

William chưa nghĩ đến chuyện đó, nhưng bây giờ cậu hiểu ra trong nháy mắt: nếu Bartholomew là một kẻ phản bội, người ta có thể giết ông. “Chúng ta có thể trả thù ông ấy,” William bật miệng nói. “Và thay vì bị phạt, chúng ta lại được vua ban thưởng!” Họ lại có thể ngẩng cao đầu, và –

“Kẻ ngu ngốc!” bà mẹ tức giận nói. “Kẻ mù quáng! Kẻ đần độn! Các ông muốn treo cổ Bartholomew lên cây. Các ông có muốn biết những gì sẽ xẩy ra sau đó không?”

Không ai dám nói gì. Tốt hơn không nên trả lời câu hỏi của bà, nhất là khi bà ở trong tâm trạng như thế này.

Bà nói tiếp: “Robert thành Gloucester sẽ chối là ông ấy không có bất cứ âm mưu gì, rồi ông ấy sẽ ôm lấy vua Stephen và thề trung thành; và sau cùng chính hai ông là người bị treo cổ vì tội giết người.”

William rùng mình. Ý nghĩ bị treo cổ làm cậu khiếp sợ. Cậu đã có những ác mộng về nó. Tuy nhiên cậu thấy mẹ cậu đúng: vua có thể tin hoặc giả bộ tin rằng không ai dám táo bạo chống lại ông, và ông sẵn sàng thí hai mạng sống để bảo vệ uy tín.

Ông bố nói: “Em có lý. Chúng ta sẽ trói Bartholomew như một con lợn bị đem đi giết và đem ông ấy đến giao cho nhà vua ở Winchester. Chúng ta sẽ tố cáo ông ở đó và nhận phần thưởng của vua.”

“Tại sao các ông không nghĩ thêm được chút nữa?” bà mẹ khinh khỉnh nói. Bà rất căng thẳng và William có thể thấy bà cũng háo hức như bố, nhưng chỉ qua cách khác. “Các ông nghĩ là Tổng đại diện Waleran không muốn đem kẻ phản bội này nộp cho nhà vua sao?” bà nói. “Ông ấy không muốn phần thưởng cho ông ấy sao? Các ông không biết là từ trong thâm tâm ông ấy rất muốn trở thành giám mục của Kingsbridge sao? Tại sao ông ấy lại ưu tiên dành cho các ông quyền bắt giữ Hamleigh? Tại sao ông ấy lại gặp chúng ta trong nhà thờ như một sự tình cờ, thay vì đến gặp chúng ta ở nhà? Tại sao cuộc trao đổi của chúng ta ngắn gọn và không trực tiếp?”

Bà ngưng lại một chút, như chờ đợi câu trả lời, nhưng cả hai William và ông bố biết rằng bà thật sự không cần câu trả lời. Willian nhớ lại rằng các linh mục không được dính vào chuyện đổ máu, và có lẽ đó là lý do tại sao Waleran không muốn tham dự vào việc bắt giữ Bartholomew; nhưng nghĩ sâu hơn, cậu nhận ra Waleran không có sự thận trọng này.

“Tôi sẽ nói cho các ông tại sao,” bà mẹ tiếp tục. “Bởi vì ông ấy chưa chắc chắn có phải Bartholomew là kẻ phản bội không. Thông tin của ông ấy không đáng tin cậy. Tôi không đoán được ông ấy đã lấy thông tin này ở đâu – có lẽ qua một câu chuyện trong khi say, hay nhận được tin tức này không rõ ràng, hoặc nói chuyện với một điệp viên không đáng tin cậy. Trong mọi trường hợp, ông ấy không sẵn sàng để tay mình nhúng chàm. Ông ấy sẽ không buộc tội Bartholomew một cách công khai, vì khi lời buộc tội không đúng, ông ấy sẽ bị kết án là kẻ vu khống. Ông ấy muốn người khác mạo hiểm và làm công việc bẩn thỉu cho ông ấy. Khi công việc đã xong và sự phản bội được chứng minh, ông ấy sẽ bước ra và đòi phần thưởng của mình. Nếu Bartholomew vô tội, Waleran sẽ chẳng thừa nhận đã kể cho chúng ta ngày hôm nay.”

Dường như nó đúng như bà diễn tả. Không có bà, William và ông bố có thể đã rơi vào bẫy của Waleran. Họ đóng vai trò mật thám cho ông và nhận những rủi ro thay cho ông. Nhận định về chính trị của bà mẹ thật chính xác.

Ông bố nói: “Vậy theo ý em, chúng ta nên bỏ qua chuyện này sao?”

“Chắc chắn là không,” đôi mắt bà sáng lên. “Nó vẫn là một cơ hội để tiêu diệt những người đã làm nhục chúng ta.” Cậu bé giữ ngựa đã đem ngựa ra. Bà cầm dây cương, ra hiệu cho cậu đi nhưng chưa lên ngựa ngay. Đứng bên hông ngựa, trầm tư vỗ vào cổ nó và nói nhẹ: “Chúng ta cần bằng chứng về âm mưu để khi chúng ta buộc tội, không ai có thể chối cãi được. Chúng ta phải tìm bằng chứng một cách lén lút, không tiết lộ những gì chúng ta đang tìm kiếm. Khi chúng ta có bằng chứng, chúng ta có thể bắt Bartholomew, điệu ông ta đến vua. Đối diện với bằng chứng, Bartholomew sẽ phải thú nhận và xin lỗi, khi đó chúng ta sẽ yêu cầu phần thưởng của mình.”

“Và phủ nhận là Waleran đã giúp chúng ta,” ông bố nói thêm.

Bà mẹ lắc đầu. “Hãy cho ông ấy chia sẻ chiến thắng và phần thưởng của ông ấy. Sau đó ông ấy sẽ mang ơn chúng ta. Điều đó chỉ có lợi cho chúng ta.”

“Nhưng chúng ta tìm kiếm bằng chứng về âm mưu này như thế nào?” ông bố lo lắng hỏi.

“Chúng ta phải tìm cách len lỏi vào lâu đài của Bartholomew và quan sát nó,” bà mẹ cau mày nói. “Điều đó không dễ dàng. Không người nào cho chúng ta thăm viếng, vì ai cũng biết chúng ta ghét Bartholomew.”

William chợt nẩy ra sáng kiến. “Con sẽ đi,” cậu nói.

Bố mẹ cậu, cả hai đều giật mình. Bà mẹ nói: “Người ta sẽ ít để ý đến con hơn là bố con, mẹ nghĩ như vậy, nhưng ý định của con ra làm sao?”

William đã nghĩ về điều đó. “Con có thể đến thăm Aliena,” cậu nói, và tim cậu đập nhanh hơn khi nghĩ về điều đó. “Con có thể xin cô ấy suy nghĩ lại quyết định của cô ấy. Thực sự cô ấy không biết rõ về con. Cô ấy đánh giá con sau khi chúng con gặp nhau. Con có thể là một người chồng tốt của cô ấy. Có lẽ cần phải tán tỉnh cô ấy lâu hơn.” Cậu dấu nụ cười hoài nghi để bố mẹ cậu không nhận ra là thật sự cậu muốn làm điều đó.

“Một lý do đáng tin cậy,” bà mẹ nói. Bà chăm chú nhìn William: “Lạy Chúa, con hy vọng thằng nhỏ này có một ít thông minh của mẹ nó.”

Lần đầu tiên trong những tháng qua William cảm thấy lạc quan, khi cậu được sai đến lâu đài bá tước vào ngày sau lễ Chúa Hiển Linh. Trời sáng và lạnh. Gió bắc làm lạnh đôi tai cậu và cỏ đông cứng rạo rạc dưới chân con ngựa chiến. Cậu mặc một chiếc áo choàng màu xám viền lông thỏ trên chiếc áo chẽn màu đỏ thẫm.

Walter, người giúp việc, cùng đồng hành với cậu. Khi William mười hai tuổi, Walter đã là người giám hộ của cậu, và đã dạy cậu cưỡi ngựa, săn bắn, đấu kiếm và quyền anh. Bây giờ ông vừa là người giúp việc, vừa là người đồng hành và cũng là người cận vệ. Ông cao như William nhưng bệ vệ hơn. Mặc dù lớn hơn William chín hay mười tuổi, ông vẫn còn trẻ để đi uống rượu và săn gái, nhưng cũng đủ lớn để giữ cậu khỏi những phiền toái có thể xẩy ra. Ông là bạn thân của William.

Trước viễn tượng được gặp lại Aliena, William háo hức, mặc dù cậu biết một lần nữa cậu sẽ phải đối diện với sự từ chối và sỉ nhục. Cái nhìn của cô trong nhà thờ Kingsbridge, khi cậu nhìn vào đôi mắt đen của cô, đã làm cháy lên niềm khao khát của cậu. Cậu mong muốn được nói chuyện với cô, được gần cô, nhìn thấy mái tóc quăn xù, quan sát những chuyển động dưới áo cô.

Đồng thời, cơ hội trả thù cũng nung đốt lòng thù hận trong lòng William. Cậu phấn khích với tư tưởng cậu có thể gột rửa mọi sỉ nhục mà gia đình cậu đã phải chịu đựng.

Cậu ước muốn cậu biết rõ hơn cậu muốn tìm gì trong lâu đài bá tước. Cậu chắc chắn sẽ tìm ra manh mối, xem câu chuyện của Waleran có thật không, bởi nếu nó thật thì chắc chắn phải có dấu hiệu của việc chuẩn bị chiến tranh trong lâu đài. Khi đó ngựa phải được gom lại, vũ khí phải được lau chùi, và lương thực phải được chuẩn bị. Tuy nhiên, tìm ra âm mưu là một việc, nhưng tìm ra bằng chứng của âm mưu lại là việc khác.

William không có một chút tưởng tượng gì về bằng chứng của một cuộc mưu phản phải như thế nào. Vì thế, cậu quyết định mở to mắt quan sát và hy vọng một cái gì đó sẽ xẩy ra. Đó không phải là một kế hoạch lớn lao, và trong lòng cậu có một nỗi lo dai dẳng là cơ hội trả thù sẽ vượt khỏi tay cậu.

Càng đến gần, cậu càng hồi hộp. Cậu tự hỏi không biết người ta có từ chối không cho cậu vào lâu đài không, và cậu mất một vài phút lo sợ cho đến khi cậu nhận ra rằng lâu đài là một nơi công cộng và đóng cửa lâu đài mà không có lý do là dấu hiệu có một âm mưu đang tiến hành.

Bá tước Bartholomew ở cách Shiring vài dặm. Lâu đài ở Shiring là doanh trại của cảnh sát quận, vì thế bá tước có một lâu đài riêng ở ngoại ô. Ngôi làng mọc lên xung quanh bức tường lâu đài được gọi là làng ‘lâu đài bá tước’. Willian đã đến đó, nhưng hôm nay cậu quan sát nó qua ánh mắt của kẻ tấn công.

Có một hào xâu, rộng mang hình số tám, với các tường thành bên trên nhỏ hơn bức tường phía dưới. Số đất đào lên từ hào xâu được chất đống bên trong hai vòng tròn, tạo ra thành lũy.

Ở chân vòng số tám là một cây cầu bắc qua con hào. Đây là lối vào duy nhất. Không có lối thẳng vào vòng tròn phía trên, mà người ta chỉ có thể đi qua vòng dưới, rồi đi qua cây cầu bắc ngang qua hào xâu. Vòng trên là chốn thiêng liêng.

Khi William và Walter cưỡi ngựa qua cánh đồng mênh mông, họ nhìn thấy nhiều người đến rồi đi. Hai người trang bị vũ khí đi qua cây cầu rồi phi nước đại theo hai hướng khác nhau, và một nhóm bốn người cưỡi ngựa đi qua cầu trước khi William và Walter đi vào.

William nhận ra rằng phần cuối của cây cầu dẫn đến cổng thành bằng đá vào lâu đài. Trên tường thành bằng đất, những tháp canh được chia đều, vì thế mà toàn bộ khu vực được bảo vệ chắc chắn. Tấn công trực diện lâu đài này sẽ là công việc kéo dài và đẫm máu, và gia đình Hamleigh không thể tập hợp đủ người để bảo đảm thành công, William ủ rũ kết luận.

Dĩ nhiên hôm nay lâu đài mở cửa. William giới thiệu tên mình trong phòng gác bên cạnh cổng vào lâu đài và được cho vào ngay. Trong vòng tròn phía dưới, được chia cắt với thế giới bên ngoài qua bức tường đất, là những dẫy nhà thông thường: chuồng ngựa, nhà bếp, nhà xưởng, một ngọn tháp và một nhà nguyện.

Một bầu khí rộn ràng trong lâu đài. Người giữ ngựa, người giúp việc đi vội vàng và nói lớn tiếng, chào hỏi nhau và pha trò. Một người quan sát bình thường có thể nghĩ đó chỉ là một bầu khí vui vì bá tước mới trở về, nhưng William đoán đàng sau đó còn có gì hơn nữa.

Cậu để Walter ở chuồng ngựa và đi qua khu đối diện với cổng thành, nơi đây có một cây cầu bắc qua hào vào vòng trên. Khi cậu qua cầu, cậu bị một người lính gác chặn lại và hỏi cậu đi đâu, và cậu nói: “Tôi đến gặp cô Aliena.”

Người gác không biết cậu, nhưng ông nhìn cậu từ đầu đến chân, chú ý đến áo khoác đẹp và áo chẽn màu đỏ thẫm, ông định giá cậu như một người cầu hôn đầy hy vọng. “Có thể ông sẽ gặp một phụ nữ trẻ trong hội trường lớn,” ông nói với một nụ cười điệu.

Trung tâm của vòng dưới là một tòa nhà bằng đá hình vuông, ba tầng lầu với những bức tường dầy. Như thông thường, tầng trệt là một nhà kho. Hội trường lớn ở bên trên nhà kho, lên đó bằng chiếc cầu thang bằng gỗ phía ngoài và chiếc thang có thể được rút vào trong. Trong tầng trên cùng là phòng ngủ của bá tước, và đó sẽ là nơi ông đứng lần cuối cùng khi gia đình Hamleigh đến bắt ông, William nghĩ.

Bố cục của tòa nhà là một trở ngại lớn cho kẻ tấn công. William đã chẳng bao giờ quan tâm đến điều đó, bây giờ cậu nhận ra chức năng của các yếu tố khác nhau trong công trình xây dựng. Ngay cả khi kẻ tấn công vào được vòng dưới, họ còn phải vượt qua cây cầu và một cổng nhà khác, sau đó phải vượt qua pháo đài vững chắc. Để lên được đến vòng trên, có lẽ họ phải tạo ra một cầu thang, và sau đó sẽ là một cuộc chiến đẫm máu để tấn công từ hội trường lớn lên đến phòng ngủ của bá tước. Cách duy nhất để chiếm lâu đài là lén lút, William nhận ra điều đó, và cậu vẽ vời ý tưởng xem lén lút vào bằng cách nào.

Cậu trèo lên cầu thang và bước vào hội trường lớn. Đầy người trong đó, nhưng bá tước không có mặt. Ở góc xa bên tay trái là cầu thang dẫn lên phòng ngủ. Mười lăm hoặc hai mươi hiệp sĩ và kỵ binh ngồi xung quanh chân cầu thang, nói chuyện thì thầm với nhau. Đó là việc không bình thường, vì hiệp sĩ và kỵ binh thuộc hai tầng lớp xã hội khác nhau. Hiệp sĩ sở hữu đất đai và sống bằng cách cho thuê đất, trong khi những binh sĩ được trả tiền từng ngày. Hai nhóm người này chỉ thân thiện với nhau khi có mùi của chiến tranh.

William nhận ra một số người trong họ: Gilbert Catfae, một chiến sĩ già, nóng tính, có râu mép lỗi thời và bộ râu dài, đã trên bốn mươi tuổi nhưng vẫn cường tráng; Ralph thành Lyme, người tiêu nhiều tiền cho quần áo hơn cả cô dâu, hôm nay mặc áo khoác xanh với áo trong bằng lụa đỏ; Jack Fitz Guillaume là một hiệp sĩ, mặc dù ông chỉ bằng tuổi William; và nhiều khuôn mặt khác mà William đã gặp đâu đó. Cậu gật đầu chào về phía họ, nhưng họ chẳng quan tâm đến cậu – nhiều người biết cậu, nhưng cậu còn quá trẻ để trở thành quan trọng.

Cậu nhìn quanh và ngay lập tức thấy Aliena ở phía bên kia hội trường.

Hôm nay trông cô khác. Hôm qua trong buổi lễ ở nhà thờ, cô mặc bộ quần áo bằng lụa và len mịn, cùng với vòng, băng và giầy nhọn. Hôm nay cô mặc chiếc áo ngắn của một nông dân hay của một trẻ em, và đi chân trần. Cô ngồi trên ghế băng, chăm chú vào một trò chơi trên tấm bảng.

Khi William nhìn, cô kéo áo và gác chân lên nhau, tình cờ để lộ đầu gối, và cô nhăn mũi cau mày. Hôm qua cô là một phụ nữ quý phái, hôm nay cô là một đứa trẻ dễ bị tổn thương, và William thấy cô càng hấp dẫn hơn. Thình lình cậu cảm thấy xấu hổ, vì một đứa trẻ như thế mà lại có thể gây cho cậu bao nhiêu đau khổ và cậu muốn có cơ hội để cho cô biết cậu có thể làm chủ cô. Nó là cảm xúc của ham muốn.

Cô chơi với một cậu bé nhỏ hơn cô khoảng ba tuổi. Cậu bé bồn chồn, thiếu kiên nhẫn, như thể cậu không thích trò chơi này. William có thể nhìn thấy nét giống nhau của hai người. Thật vậy, William nhớ lại, cậu bé trông giống Aliena thời còn trẻ, với lỗ mũi hếch và mái tóc ngắn. Cậu chắc là Richard, em trai của cô, người thừa kế gia tài của bá tước.

William đến gần hơn. Richard ngước nhìn cậu, rồi lại chú ý đến trò chơi. Aliena đang tập trung. Tấm bảng gỗ có hình thánh giá và chia thành từng hình vuông với màu sắc khác nhau. Các viên đá trắng và đen hình như làm bằng ngà voi. Rõ ràng nó là một quà tặng mà cha cô đã đem về từ Normandie. William chú ý đến Aliena. Khi cô nghiêng mình về phía trước, cổ áo cô mở rộng và cậu có thể nhìn thấy phần đầu ngực của cô. Chúng lớn như cậu đã tưởng tượng. Cậu nuốt nước bọt.

Richard di chuyển một viên đá trên bảng, và Aliena nói: “Không, em không thể chơi như thế.”

Đứa bé phản đối: “Tại sao không?”

“Bởi vì nó không đúng như luật chơi, đồ ngu.”

“Em không thích luật chơi,” Richard nhùng nhằng nói.

Aliena khùng lên: “Em phải theo luật chơi!”

“Tại sao em phải theo?”

“Em phải theo, đó là lý do tại sao!”

“Được, em không theo,” cậu bé nói, và lật úp tấm bảng xuống nền nhà, ném các viên đá đi.

Nhanh như chớp, Aliena cho cậu bé một cái tát vào mặt.

Cậu bé khóc to lên. Niềm tự hào và khuôn mặt của cậu đau nhói. “Chị,” cậu bé ngập ngừng, “con quỷ - đồ đĩ”. Cậu bé quay mình và chạy đi, nhưng sau ba bước cậu đụng ngay William.

William dùng một cánh tay kéo cậu lên, giữ cậu trên không và nói: “Đừng cho các linh mục nghe thấy em gọi chị bằng tên như thế.”

Richard cựa quạy và la to: “Đừng làm tôi đau – hãy để tôi đi!”

William giữ cậu bé thêm một lúc. Richard thôi vùng vẫy và bắt đầu khóc to. William để cậu bé xuống và cậu chạy đi trong nước mắt.

Aliena nhìn chằm chằm vào William, quên mất trò chơi, cô cau mày. “Anh đến đây làm gì?” cô hỏi. Giọng cô trầm và bình tĩnh, giọng nói của một người lớn tuổi.

William ngồi xuống ghế băng, hài lòng về cách cậu đã xử với Richard. “Anh đến đây để gặp em,” cậu nói.

Một thoáng cảnh giác xuất hiện trên mặt cô. “Để là gì?”

Willian tìm vị trí ngồi để cậu có thể quan sát cầu thang. Cậu thấy một người chạc bốn mươi tuổi ăn mặc như một người phục vụ cao cấp, có mũ tròn và áo chẽn ngắn bằng vải tốt. Người phục vụ ra hiệu, và một hiệp sĩ và một binh sĩ lên lầu chung với nhau. William nhìn Aliena và nói: “Anh muốn nói chuyện với em.”

“Về chuyện gì?”

“Về em và anh.” Qua vai của cô, cậu nhìn thấy người phục vụ tiến đến họ. Trong cách đi của người đàn ông có một chút nữ tính. Một tay ông cầm đường mía màu nâu. Tay khác ông cầm một củ xoắn trông giống như củ gừng. Người đàn ông rõ ràng là người quản lý lâu đài và giữ tủ gia vị, một tủ khóa kín để trong phòng ngủ của bá tước, và bây giờ ông đem gia vị đến cho người nấu ăn: Đường có lẽ để làm bánh táo và gừng dùng cho cá mút đá.

Aliena dõi theo mắt nhìn của William. “Ô, chào Matthew.”

Người quản lý mỉm cười và bẻ một miếng đường cho cô. William có cảm giác Matthew rất thân thiện với Aliena. Một chút gì đó trong thái độ của Aliena tiết lộ cho ông ấy biết rằng cô đang không thoải mái, bởi vì nụ cười của ông biến thành một cái cau mày, và ông ấy nói: “Có chuyện gì không?” ông nói nhẹ nhàng.

“Không, cảm ơn ông.”

Matthew nhìn William và khuôn mặt ông tỏ vẻ bất ngờ.

“William Hamleigh trẻ phải không?”

William xấu hổ vì được biết đến, mặc dù cậu biết điều này không thể tránh khỏi. “Hãy giữ lấy đường cho trẻ em,” cậu nói, mặc dù Matthew không mời cậu ăn. “Tôi không cần đến nó.”

“Rất tốt, thưa ngài.” Cái nhìn của Matthew tỏ ra rằng ông không muốn có vấn đề với con cái của giai cấp quý tộc. Ông quay lại phía Aliena. “Bố cô mang về một số tơ lụa mềm mại tuyệt vời. Tôi sẽ chỉ cho cô xem sau.”

“Cảm ơn!” cô nói.

Matthew đi ra.

William nói: “Chàng ngốc nữ tính.”

Aliena nói: “Tại sao anh lại thiếu lịch sự với ông ấy như vậy?”

“Tôi không muốn người phục vụ của em gọi tôi là ‘William Hamleigh trẻ’.” Đó không phải là cách tốt nhất để lấy lòng phụ nữ. William nhận ra điều đó trong tâm trạng chán nản, vì chính ra cậu phải lịch lãm. Cậu mỉm cười và nói: “Nếu em là vợ anh, người phục vụ của anh sẽ gọi em là ‘thưa bà’.”

“Có phải anh đến đây để nói về chuyện đám cưới không?” cô hỏi, và William khám phá ra vẻ nghi ngờ trong giọng cô.

“Em không biết rõ về anh,” William nói bằng giọng phản đối. Cậu đã không kiểm soát được cuộc nói chuyện này, cậu đau buồn nhận ra. Cậu dự định có một cuộc nói chuyện ngắn trước khi bước vào công việc, nhưng cô quá thẳng thắn và cởi mở, đến nỗi cậu ép buộc phải nói ra điều cậu muốn. “Em đã hiểu sai về anh. Anh không biết lần trước, khi chúng mình gặp nhau, anh đã làm gì để em không thích anh; nhưng bất cứ vì lý do nào, em đã quyết định quá vội vàng.”

Cô quay mặt đi, cô tìm một câu trả lời hợp lý. Đàng sau cô, William nhìn thấy một hiệp sĩ và một binh sĩ đi xuống cầu thang, rồi đi ra ngoài, tìm kiếm một cái gì đó. Một lúc sau người đàn ông trong y phục linh mục – có lẽ thư ký của bá tước – xuất hiện phía trên và vẫy tay. Hai hiệp sĩ đứng dậy và đi lên cầu thang: Ralph thành Lyme với chiếc áo chẽn đỏ xẫm và một người đàn ông đầu hói già hơn. Rõ ràng những người trong hội trường lớn đang cuẩn bị để gặp bá tước từng người một hay hai người một trong phòng ngủ của ông. Nhưng tại sao?

“Sau một thời gian dài,” Aliena nói. Cô đè nén một số cảm xúc. Nó có thể là giận dữ, nhưng William có cảm giác như đó là nụ cười. “Sau tất cả những rắc rối, giận dữ và tai tiếng; cuối cùng khi nó đã chìm xuống, anh lại nói với tôi là tôi đã làm sai?”

Như cô ấy diễn tả, nó nghe có vẻ không thuyết phục, William nghĩ. “Nó không chìm xuống chút nào hết – mọi người vẫn bàn tán về nó, mẹ tôi vẫn giận dữ, bố tôi không thể ngẩng đầu lên giữa đám đông,” cậu nói. “Đối với chúng tôi, nó chưa chấm dứt.”

“Như vậy tất cả chỉ vì danh dự của gia đình anh, phải không?”

Có một nét nguy hiểm trong giọng nói của cô, nhưng William phớt lờ nó. Bất ngờ cậu nhận ra bá tước cần gì nơi các hiệp sĩ và binh lính này: ông gửi các thông điệp. “Danh dự gia đình ư?” cậu hỏi một cách bâng quơ. “Vâng.”

“Tôi biết tôi phải nghĩ về danh dự gia đình, về liên minh giữa các gia đình và về tất cả điều đó,” Aliena nói. “Nhưng một cuộc hôn nhân không cần tất cả những thứ đó.” Cô có vẻ đang ngẫm nghĩ để đưa ra một quyết định. “Có lẽ tôi nên kể cho anh về mẹ tôi. Bà ghét bố tôi. Bố tôi không phải là người xấu, thực tế ông là một người vĩ đại, và tôi yêu ông, nhưng ông quá nghiêm khắc và chẳng bao giờ hiểu mẹ tôi. Bà là một người vui tính, thích cười, thích kể chuyện, và yêu âm nhạc. Nhưng bố tôi đã biến bà thành bất hạnh.” Mắt Aliena đẫm nước mắt, nhưng William không để ý, vì cậu đang nghĩ về thông điệp mà bá tước gửi đi. “Đó là lý do tại sao bà mất – bởi vì ông không cho bà hạnh phúc. Tôi biết điều đó. Và ông ấy cũng biết nữa, như anh thấy. Đó là lý do tại sao ông hứa với tôi là ông sẽ chẳng bao giờ gả tôi cho một người mà tôi không thích. Bây giờ anh đã hiểu chưa?”

Thông điệp này là mệnh lệnh, William nghĩ, mệnh lệnh của Bá tước Bartholomew gửi cho bạn bè và liên minh phải sẵn sàng chiến đấu. Và những sứ giả này là bằng chứng.

Cậu nhận ra Aliena đang chằm chằm nhìn cậu. “Cưới một người mà em không thích?” cậu nói, vọng lại những chữ cuối của cô. “Em không thích anh?”

Mắt cô bừng lên giận dữ. “Anh đã không lắng nghe,” cô nói. “Anh thật ích kỷ đến nỗi anh không thể nghĩ về cảm xúc của người khác. Lần trước đến đây, anh đã làm gì? Anh nói và nói về chính anh và không hỏi tôi một câu.”

Giọng cô gần như hét lên, và khi cô ngưng lại, William thấy những người ở phía bên kia căn phòng đã yên lặng, lắng nghe. Cậu cảm thấy xấu hổ. “Đừng nói to quá!” cậu nói với cô.

Cô không màng quan tâm đến. “Anh muốn biết tại sao tôi không thích anh phải không? Được rồi, tôi sẽ kể cho anh. Tôi không thích anh vì anh không có kiến thức về văn hóa. Tôi không thích anh vì anh không thích đọc. Tôi không thích anh vì anh chỉ để ý đến chó, ngựa và chính anh.”

Gilbert Catface và Jack Fitz Guillaume bật cười to. William đỏ mặt. Những người này không là gì cả, họ chỉ là những hiệp sĩ mà họ dám cười cậu, con của Percy Hamleight. Cậu đứng lên.

“Được rồi,” cậu nói khẩn trương, không muốn Aliane nói tiếp.

Nhưng Aliena không lui bước. “Tôi không thích anh vì anh ích kỷ, đần độn và ngu ngốc,” cô la lên. Bây giờ tất cả các hiệp sĩ đều cười. “Tôi không thích anh, tôi khinh anh, tôi ghét anh và tôi không ưa anh. Và đó là lý do tại sao tôi không muốn lấy anh.”

Các hiệp sĩ vỗ tay reo mừng. William co rúm trong lòng. Tiếng cười của họ làm cậu nhỏ bé đi, yếu đuối và bất lực như một đứa bé, và khi còn bé, cậu luôn sợ hãi. Cậu tránh mặt Aliena, cố gắng đè nén cảm xúc trên mặt, và đi qua phòng nhanh bao nhiêu có thể, nhưng không chạy, trong khi tiếng cười to hơn. Sau cùng cậu ra đến cửa, đẩy nó và đi nhanh ra ngoài. Cậu đóng mạnh cửa sau lưng cậu và theo cầu thang chạy xuống lầu, nghẹt thở vì xấu hổ; và âm thanh của tiếng cười nhạo báng vang bên tai cậu suốt con đường qua khu sân lầy lội ra đến cổng.

Sau một dặm, con đường từ lâu đài bá tước đến Shiring cắt ngang con đường chính. Ở ngã tư đường, người du hành có thể rẽ hướng bắc để đi về Gloucester và biên giới xứ Welsh, hay rẽ hướng nam để đi Winchester và bãi biển. William và Walter quay về hướng nam.

Nỗi đau khổ của William đã trở thành thù hận và làm cậu không thốt lên lời. Cậu muốn làm khổ Aliena và giết tất cả các hiệp sĩ này. Cậu muốn đâm thanh kiếm vào những chiếc miệng đã cười cậu và ấn lưỡi kiếm xuống tận cổ, và cậu nghĩ về cách để trả thù được ít nhất một người trong số họ. Nếu điều đó thành công, cậu cũng tìm được bằng chứng cậu cần. Viễn tượng này cho cậu niềm an ủi.

Trước hết cậu phải bắt kịp một người trong số họ. Vừa tới chỗ con đường dẫn vào bờ rừng, William xuống ngựa và đi bộ, dắt theo con ngựa. Walter theo sau trong im lặng, tôn trọng tâm trạng của cậu. William đến một đoạn đường hẹp và dừng lại. Cậu quay sang Walter và nói: “Ai chiến đấu với dao giỏi hơn, anh hay tôi?”

“Tôi đánh nhau cận chiến tốt hơn,” Walter nói thận trọng. “Nhưng ông ném chính xác hơn, thưa ngài.” Họ gọi cậu là ngài khi cậu giận dữ.

“Ông có thể làm cho con ngựa chạy ngang qua ngã xuống, phải vậy không?”

“Vâng, với một cây gậy to.”

“Hãy đi và tìm một cây thích hợp, cắt nó ra và ông sẽ có một cây gậy tốt.”

Walter ra đi.

William dẫn hai con ngựa vào rừng và cột chúng trong cánh đồng ở một khoảng cách xa đường. Ông tháo yên ngựa, rồi rút ra một số dây và dây đai – đủ để trói chân tay một hay hai người. Kế hạch của cậu thật đơn giản, nhưng cậu không còn giờ để nghĩ ra một cái gì đó tốt hơn nữa, vì thế cậu phải hy vọng điều tốt nhất sẽ đến.

Trên đường trở về, cậu tìm thấy một khúc cây sồi khô cứng để dùng như dùi cui.

Walter đang đợi với cây gậy trên tay. William chọn một nơi mà Walter có thể nằm chờ đợi, đàng sau một cây sồi rậm gần con đường. “Đừng giơ cây gậy ra quá sớm, vì như thế con ngựa có thể nhẩy qua nó,” cậu cảnh báo. “Nhưng cũng đừng giơ ra quá trễ, vì ông không thể cản được chân sau của nó. Tốt nhất là thọc gậy vào giữa hai chân trước của nó. Và cố gắng cắm đầu nhọn vào mặt đất, như vậy nó sẽ không chạy qua bên cạnh được.”

Walter gật đầu. “Tôi đã nhìn thấy người ta làm rồi.”

William đi ngược lại hướng lâu đài bá tước khoảng ba mươi dặm. Nhiệm vụ của cậu là làm cho con ngựa phi nước đại để nó không kịp tránh cây gậy của Walter đưa ra. Cậu ẩn mình bên cạnh con đường đi. Sớm hay muộn, một sứ giả của Bartholomew cũng sẽ đi ngang qua đây. William mong nó sẽ tới nhanh. Cậu sốt ruột muốn thực hiện ngay kế hoạch của mình.

Những hiệp sĩ này không biết gì, khi họ cười tôi là lúc tôi đang dò thám họ, cậu nghĩ như thế và cảm thấy lòng vơi đi. Nhưng một người trong số họ chẳng bao lâu nữa sẽ biết. Rồi ông ấy sẽ hối hận vì đã cười cậu. Và thay vì cười, cậu muốn ông ấy sẽ cúi xuống đất, hôn lên giầy cậu. Ông ấy sẽ khóc lóc, cầu xin và năn nỉ xin tha, và tôi sẽ làm khổ ông ấy hơn nữa.

Cậu có một niềm an ủi khác. Nếu kế hoạch thành công, nó có thể là ngày sụp đổ của Bá tước Bartholomew và là sự sống lại của gia đình Hamleigh. Và tất cả những người đã khúc khích cười vì đám cưới bị hủy bỏ của cậu sẽ run rẩy trong sợ hãi, và một vài người trong số họ sẽ đau khổ hơn là sợ.

Sự sụp đổ của Bartholomew cũng là sự dụp đổ của Aliena, và đó là điều tốt nhất. Niềm tự hào và thái độ trịch thượng của cô sẽ phải thay đổi khi bố cô bị treo cổ như kẻ phản bội. Nếu cô ấy muốn vải lụa mịn và đường ngọt, cô ấy sẽ phải lấy William. Cậu tưởng tượng cô khiêm nhường và ăn năn đem cho cậu một bánh nóng từ trong bếp, đôi mắt to đen nhìn cậu, hăm hở lấy lòng cậu, mong chờ sự âu yếm và bờ môi mềm mại của cô hé mở chờ đợi nụ hôn của cậu.

Dòng tưởng tượng của cậu bị đứt đoạn vì tiếng vó ngựa trên bùn đông cứng. Cậu cầm con dao, nâng nó lên để cân nhắc trọng lượng và sự thăng bằng của nó. Đầu dao nhọn cả hai phía sẽ dễ đâm vào hơn. Cậu đứng dựa lưng vào thân cây. Cậu cầm đầu dao, chờ đợi và dường như nín thở. Cậu lo lắng. Cậu sợ lưỡi dao sẽ không trúng đích, hay con ngựa không ngã quỵ, hay người cưỡi ngựa có thể giết chết Walter, vì thế mà William phải một mình chiến đấu với hắn. Tiếng vó ngựa có một cái gì đó khác thường khi chúng đến gần.  Cậu thấy Walter chăm chú nhìn cậu qua bụi cây với một cái cau mày lo lắng; ông cũng nghe thấy nó. Sau đó cậu nhận ra nó không phải là một mà là hai ngựa. Cậu phải quyết định nhanh chóng. Họ có nên tấn công một lúc hai người không? Cậu để cho họ đi qua và chờ đợi cơ hội khác. Nó đáng thất vọng, nhưng nó cũng khôn ngoan nhất. Cậu vẫy tay ra hiệu cho Walter. Walter gật đầu đồng ý và lui vào nơi ẩn trốn.

Một lúc sau hai con ngựa đến trong tầm mắt. William nhìn thấy tấm lụa đỏ và nhận ra đó là Ralph thành Lyme. Rồi ông nhìn thấy đầu hói của người đồng hành với Ralph. Hai người chạy nhanh qua và mất hút.

Mặc dù thất vọng, William hài lòng vì dự đoán của cậu về việc bá tước sai các sứ giả đi là đúng. Tuy nhiên cậu lo lắng không biết Bartholomew có chính sách luôn sai hai người đi cùng một lúc không. Đó là biện pháp đề phòng tự nhiên. Ngay cả du khách cũng đi theo nhóm khi có thể để được an toàn hơn. Về mặt khác, Bartholomew có nhiều sứ điệp nhưng lại có giới hạn về nhân số, và ông có thể nhận thấy nó lãng phí khi sai hai hiệp sĩ đi vì một thông điệp. Hơn nữa, các hiệp sĩ là người có võ lực, có thể chống lại với trộm cướp trên đường. Ngoài ra, một trận chiến với các hiệp sĩ không mang lại nhiều lợi ích, vì hiệp sĩ chẳng có gì để cướp, thanh kiếm của họ cũng chẳng dễ bán và con ngựa thường cũng bị thương trong cuộc tập kích. Vì thế hiệp sĩ là người an toàn nhất trong rừng.

William dùng đầu dao gãi trên đầu. Cả hai đều có thể.

Cậu chờ đợi. Khu rừng yên lặng. Ánh mặt trời mùa đông yếu ớt chiếu thất thường qua các cành cây dầy đặc, rồi biến mất. Bụng của William cho cậu biết đã đến giờ ăn tối. Một con hưu đi qua đường, chỉ cách chỗ cậu vài mét, không biết nó đang bị một người đói theo dõi. William không còn kiên nhẫn.

Nếu có một cặp khác cưỡi ngựa đến, cậu quyết định cũng sẽ phải tấn công. Nó nguy hiểm thật, nhưng cậu có lợi thế của bất ngờ và cậu có Walter, một người chiến đấu giỏi. Ngoài ra đây là cơ hội cuối cùng của cậu. Cậu biết rằng cậu có thể bị giết chết, và cậu sợ, nhưng nó còn tốt hơn là sống trong nhục nhã triền miên. Ít nhất, chết trong một cuộc chiến là một kết thúc trong danh dự.

Điều tốt nhất là, cậu nghĩ, nếu Aliena xuất hiện một mình trên con ngựa con trắng. Cô sẽ bị ngã khỏi ngựa, cánh tay và chân bầm tím và bị bắn vào bụi cây dâu rừng. Gai sẽ làm xước da mềm mại của cô và làm cô chảy máu. William sẽ nhẩy lên mình cô và đè cô xuống đất.

Cậu tiếp tục tưởng tượng, vẽ ra cảnh cậu tận hưởng bộ ngực lên xuống của cô khi cậu giạng chân ngồi trên mình cô, tưởng tượng ra khuôn mặt kinh hoàng của cô khi cô nhận ra cô đang bị phó mặc trong tay cậu. Và cậu nghe có tiếng vó ngựa.

Lần này chỉ có một con.

Cậu đứng lên, lấy dao ra, dựa lưng vào thân cây và lắng nghe.

Nó là một con ngựa nhanh, không phải con ngựa chiến, nhưng là một con ngựa đua tốt. Nó chở một trọng lượng vừa phải, có thể là một người không vũ khí, và đi trong nhịp độ đều đặn, không có tiếng thở phì phèo. William bắt gặp ánh mắt Walter và gật đầu: Đây là bằng chứng. Ông giơ cao tay mặt, cầm con dao đằng mũi.

Từ xa, con ngựa của William hí vang.

Âm thanh vang lên trong rừng vắng. Con ngựa đang đến thay đổi ngay bước chân. Người cưỡi ngựa nói: “Ôi!” và cho ngựa đi chậm lại. William chửi thề nhỏ. Người cưỡi ngựa bây giờ sẽ cảnh giác và mọi chuyện sẽ khó khăn hơn. Quá trễ, William ước gì cậu đã đem con ngựa của cậu đi xa hơn.

Vì con ngựa bây giờ đi thong thả nên William không thể ước định được nó còn bao nhiêu xa. Mọi chuyện không như ý cậu muốn. Cậu chống lại cơn cám dỗ muốn thò đầu ra khỏi chỗ ẩn nấp. Cậu căng thẳng lắng nghe. Bất ngờ cậu nghe tiếng ngựa khịt mũi, rất gần, chỉ còn cách chỗ cậu đứng một khoảng rộng. Nó thấy cậu sau khi cậu thấy nó. Nó dè dặt và người cưỡi ngựa càu nhàu.

William chưởi thề. Cậu nhận ra ngay rằng con ngựa có thể quay lại và đi đường khác. Cậu lẻn người qua phía đàng sau con ngựa, giơ cánh tay lên ném. Cậu nhận ra người cưỡi ngựa, một người có râu, cau mày giữ dây cương: Đó là ông già Gilbert Catfae. William ném con dao.

Nó là một cú ném chính xác. Con ngựa co quắp lại. Trước khi Gilbert có thể phản ứng, nó hoảng sợ phi nước đại, tiến thẳng vào khu vực phục kích của Walter.

William chạy theo nó. Con ngựa đến chỗ của Walter trong vài phút. Gilbert không kiểm soát được con vật – ông đang khổ cực cố giữ mình trên yên ngựa. Chúng đã đến ngang với vị trí Walter, và William nghĩ: Bây giờ, Walter, bắt đầu đi!

Walter hành động quá điệu nghệ đến nỗi William không nhìn thấy cây gậy thò ra sau bụi cây. Cậu chỉ thấy chân trước ngựa quỵ xuống, như chừng tất cả sức mạnh đột nhiên biến mất. Chân sau cụp vào chân trước. Sau đó đầu ngựa gục xuống, thân sau dựng ngược lên và nó nặng nề ngã xuống.

Gilbert bị hất tung lên. William muốn đỡ ông, nhưng bị con ngựa ngã cản lối.

Gilbert rơi xuống, lăn vòng rồi đứng lên. William sợ ông chạy trốn. Và Walter xuất hiện từ bụi cây, nhẩy lên đá vào lưng Gilbert và đè ông xuống.

Cả hai người ngã mạnh xuống đất. Cả hai cùng lúc lấy lại thăng bằng, và William kinh ngạc nhìn thấy Gilbert tinh quái cầm con dao trên tay. William nhẩy qua con ngựa ngã, đong đưa cây gậy giống như Gilbert dơ con dao của mình. Cây gậy đập trúng đầu Gilbert.

Gilbert loạng choạng nhưng rồi đứng lên được. Ông này dai thật, William nghĩ. William dơ gậy lên, nhưng Gilbert nhanh hơn, và cầm dao nhẩy vào William. Willian mặc quần áo đi tán gái, chứ không phải đi đánh nhau, và mũi dao sắc đâm trúng chiếc áo khoác bằng len đẹp. Gilbert tấn công cậu, không cho cậu có cơ hội giơ cao cây gậy. Mỗi lần Gilbert lao vào, William lại lùi lại; nhưng William không có đủ giờ để phục hồi, và Gilbert luôn ở gần cậu. Thình lình William sợ chết. Rồi Walter đến đàng sau Gilbert và đá vào chân ông, làm ông ngã xuống.

William cảm thấy nhẹ nhõm. Có lúc cậu đã tưởng phải chết. Cậu cảm tạ Chúa vì đã có Walter.

Gilbert cố ngồi lên, nhưng Walter đá vào mặt ông. William đánh ông thêm hai đòn cho đến khi ông nằm im.

Họ lật ông xuống, và Walter ngồi lên đầu ông, trong khi William trói tay ông lại đàng sau. Rồi William cởi giầy của Gilbert, cột chân ông bằng một khúc dây da.

Cậu đứng lên, nhìn Walter và Walter mỉm cười. Cả hai hài lòng vì đã trói được ông trên nền đất.

Bước tiếp theo là làm cho Gilbert thú nhận.

Walter lật ông lại. Khi ông nhận ra William, niềm kinh ngạc biến thành nỗi sợ hãi. William hài lòng. Gilbert hối hận vì đã cười, William nghĩ như vậy. Một lúc nữa, ông sẽ còn hối hận hơn.

Ngựa của Gilbert đã đứng lên. Nó chạy đi vài mét, nhưng dừng lại. Bây giờ nó thở mạnh và chăm chú nhìn quanh mỗi khi gió xào xạc trên cây. Dao của William đã rơi ra ngoài. William nhặt lại con dao và Walter đi bắt lại ngựa.

William lắng nghe âm thanh của vó ngựa. Một người đưa thư khác có thể đến bất cứ lúc nào. Nếu điều đó xẩy ra, Gilbert phải được đem đi khỏi nơi đây và phải giữ ông im lặng. Nhưng không có con ngựa nào đến.

Walter bắt lại ngựa của Gilbert. Họ đặt Gilbbert nằm ngang sau lưng ngựa, rồi dẫn qua rừng, đến nơi William đã cột ngựa. Những con ngựa khác bồn chồn khi chúng ngửi thấy mùi máu từ vết thương con ngựa của Gilbert, vì thế William phải cột nó ở xa.

Cậu nhìn quanh để tìm một cây thích hợp. Cậu chọn một cây đu có một nhánh lớn chĩa ra, cao khỏi mặt đất khoảng tám chín mét. Cậu chỉ cho Walter. “Tôi muốn treo Gilbert lên cành cây này,” cậu nói.

Walter cười thích thú. “Ông muốn làm gì với ông ấy, thưa ngài?”

“Ông sẽ thấy.”

Khuôn mặt của Gilbert trắng bạch vì sợ. William thòng sợi dây dưới nách của người đàn ông, cột chặt phía sau và vắt nó qua cành cây.

“Nâng ông ta lên,” cậu nói với Walter.

Walter treo ông lên. Gilbert luồn lách và tách ra được khỏi tay Walter. Walter lấy khúc cây của William và đánh vào đầu Gilbert cho đến khi ông lảo đảo rồi lại treo ông ấy lên. William ném đầu dây qua cành cây nhiều lần rồi kéo chặt. Walter bỏ tay ra và Gilbert đong đưa nhẹ nhàng trên cành cây, chân ông treo cách mặt đất khoảng một mét.

“Hãy tìm một số củi,” William nói.

Họ đốt lửa phía dưới, và William đốt nó bằng đá lửa. Sau một vài phút ngọn lửa bắt đầu bắt lên. Sức nóng làm Gilbert tỉnh lại.

Khi ông nhận ra những gì đang xẩy ra cho mình, ông hoảng loạn rên rỉ: “Xin vui lòng bỏ tôi xuống. Tôi xin lỗi vì đã cười ông, xin hãy thương xót tôi.”

William yên lặng. Sự thần phục của Gilbert làm William hài lòng, nhưng đó không phải là cái mà William nhắm tới.

Khi sức nóng bắt đầu chạm tới ngón chân trần của Gilbert, ông co chân lên tránh lửa. Khuôn mặt ông đổ mồ hôi, và có mùi cháy như quần áo bị bắt lửa. William biết đã đến lúc tra hỏi: “Ông đến lâu đài ngày hôm nay để làm gì?”

Gilbbert nhìn ông với đôi mắt mở lớn. “Để tỏ lòng kính trọng của tôi,” ông nói. “Điều đó có gì là sai?”

“Tại sao ông phải tỏ lòng kính trọng?”

“Bá tước vừa trở về từ Normandy.”

“Ông được triệu tập đặc biệt phải không?”

“Không.”

Nó có thể đúng, William nghĩ. Thẩm vấn một tù nhân không đơn giản như cậu tưởng. Ông hỏi tiếp: “Bá tước đã nói gì với ông trong phòng ngủ của ông ấy?”

“Ông chào tôi và cảm ơn tôi đã đến chào đón ông ấy trở về.”

Có chút thận trọng nào trong mắt ông ấy không? William không chắc chắn. Cậu hỏi: “Còn gì nữa?”

“Ông hỏi tôi về gia đình, về làng xóm.”

“Không còn gì nữa sao?”

“Không còn gì. Tại sao ông lại quan tâm đến những gì ông ấy nói?”

“Ông ấy đã nói gì với anh về vua Stephan và hoàng hậu Maud?”

“Không nói gì cả. Tôi đã nói với ông rồi.”

Gilbert không thể co chân lâu hơn nữa, và chân ông rủ xuống trên đống lửa. Sau một giây, ông đau đớn hét lên và cơ thể ông co giật. Sự co giật giúp chân ông xa đám lửa trong giây lát. Ông nhận ra rằng sự đau đớn sẽ giảm đi khi ông đong đưa người. Tuy nhiên, mỗi cái đong đưa qua ngọn lửa lại làm ông hét lên.

Một lần nữa William tự hỏi không biết Gilbert có nói sự thật không. Không có cách nào để biết. Một lúc nào đó, ông ấy sẽ nói tất cả những gì mà William muốn ông nói. Vì thế tôi không nên nói rõ cho ông ấy biết tôi muốn nghe gì từ ông ấy, cậu nghĩ và bắt đầu lo lắng. Ai đã nghĩ rằng việc thẩm vấn là chuyện dễ dàng?

Bằng giọng bình tĩnh như nói chuyện, cậu hỏi thêm: “Ông đi đâu bây giờ?”

Gilbert hét lên trong đau đớn và tuyệt vọng: “Điều đó có liên quan gì?”

“Ông đi đâu?”

“Về nhà.”

Ông ấy đã mất trí. William biết nơi ông ấy sống. Nó ở phía bắc, nhưng ông lại đang đi về hướng nam.

“Ông đang đi đâu?” William hỏi lần nữa.

“Ông muốn gì nơi tôi?”

“Tôi biết ông nói dối,” William nói. “Hãy nói cho tôi sự thật.” Cậu nghe Walter lẩm bẩm đồng ý và cậu nghĩ: Tôi đã làm khá hơn. “Ông đang đi đâu?” cậu hỏi lần thứ tư.

Gilbert đã quá mệt để có thể đong đưa mình thêm nữa. Rên rỉ trong đau đớn, ông dừng lại trên đống lửa và cố gắng co chân lên khỏi đống lửa. Nhưng bây giờ ngọn lửa cháy quá cao, lên đến đầu gối. William ngửi thấy một mùi quen thuộc nhưng khó chịu. Sau một lúc cậu nhận ra đó là mùi thịt cháy, và nó quen thuộc, bởi vì nó giống như mùi của bữa cơm chiều. Da chân Gilbert chuyển thành màu nâu và nứt ra, lông chân thành màu đen, chất béo từ thịt ông nhỏ xuống lửa thành giọt. Sự quằn quại đau đớn của Gilbert là sự háo hức của William. Mỗi tiếng kêu của Gilbert là một rung động trong lòng cậu. Cậu có quyền lực làm cho người khác đau khổ, và cậu thích thế. Nó giống như cảm giác khi cậu gạ gẫm được một cô gái, đưa cô ấy đi xa, nơi không ai có thể nghe thấy tiếng cô kháng cự, và đẩy cô xuống đất, kéo váy cô lên tới eo, và biết rằng bây giờ không gì có thể ngăn cản cậu có được cô ấy.

Gần như miễn cưỡng, cậu hỏi lần nữa: “Ông đi đâu?”

Bằng một giọng nói giống như tiếng kêu, Gilbert nói: “Sherborne.”

“Tại sao?”

“Cắt tôi xuống, tôi sẽ kể cho ông tất cả.”

William cảm nhận chiến thắng đã gần bên. Ông rất hài lòng. Nhưng mục tiêu chưa hoàn thành. Cậu nói với Walter: “Hãy kéo chân ông ra khỏi lửa.”

Walter túm lấy áo dài của Gilbert và kéo chân ông xa lửa.

“Rồi, hãy nói đi,” William nói.

“Bá tước có năm mươi hiệp sĩ ở xung quanh Sherborn,” Gilbert nói trong tiếng kêu. “Tôi có nhiệm vụ tập hợp họ và đưa họ về lâu đài bá tước.”

William mỉm cười. Cậu hài lòng vì những dự đoán của cậu được xác minh. “Và bá tước muốn làm gì với các hiệp sĩ này?”

“Ông ấy không nói.”

William nói với Walter: “Hãy nướng ông ấy thêm một chút nữa.”

“Đừng!” Gilbert thét lên. “Tôi sẽ kể cho ông!”

Walter do dự.

“Nhanh lên,” William cảnh báo.

“Họ muốn chiến đấu cho hoàng hậu Maud, chống lại Stephan,” sau đó Gilbert nói.

Đó là bằng chứng. William vui mừng vì sự thành công của mình. “Và khi tôi hỏi ông điều này trước mặt bố tôi, ông cũng trả lời giống như vậy chứ?” cậu hỏi.

“Vâng, vâng.”

“Và khi bố tôi hỏi ông trước mặt vua, ông cũng nói sự thật chứ?”

“Vâng.”

“Hãy thề với thánh giá.”

“Tôi thề với thánh giá, tôi sẽ nói sự thật.”

“Amen,” William hài lòng nói và dập tắt ngọn lửa.

Họ trói Gilbert vào yên ngựa của ông và đi chậm rãi. Người hiệp sĩ không còn giữ thẳng mình trên ngựa được, và William không muốn ông chết, bởi vì ông chết thì sẽ không còn tác dụng. Vì thế cậu cố gắng đối xử với ông không quá tệ. Sau đó họ đi qua một dòng suối, cậu hất nước lạnh lên chân bị đốt cháy của Gilbert. Ông ấy kêu lên đau đớn, nhưng có lẽ nó sẽ tốt cho ông ấy.

William thấy một cảm xúc tuyệt vời của chiến thắng pha lẫn với cảm xúc kỳ lạ của thất vọng. Cậu chưa bao giờ giết người, và cậu muốn giết Gilbert. Tra tấn một người đàn ông mà không giết ông, cũng giống như lột trần được một cô gái mà không cưỡng hiếp cô. Càng nghĩ về điều này, cậu càng cảm thấy cần một phụ nữ.

Có lẽ khi cậu về đến nhà… không, cậu không có giờ. Cậu phải kể cho bố mẹ cậu những gì đã xẩy ra, và họ muốn Gilbert thú nhận điều này trước mặt một linh mục và có lẽ trước vài nhân chứng khác nữa; và rồi họ phải lên kế hoạch bắt Bá tước Bartholomew vào ngay ngày mai, trước khi Bartholomew có thể triệu tập được nhiều binh sĩ. Và William vẫn chưa nghĩ ra cách vào thành lén lút, mà không cần tấn công lâu dài…

Cậu nghĩ với niềm thất vọng, vì còn lâu nữa cậu mới lại thấy một người phụ nữ hấp dẫn. Vừa khi đó một người xuất hiện trên con đường trước mặt.

Một nhóm năm người tiến về phía William, trong đó có một người đàn bà tóc đen khoảng hai mươi lăm tuổi, không còn là một phụ nữ nữa, nhưng còn trẻ đủ. Càng đến gần, William càng chú ý: Bà ấy xinh đẹp, mái tóc màu nâu sẫm, cặp mắt sâu có màu vàng ròng mạnh. Bà mảnh mai, làn da rám nắng mềm mại.

“Lùi lại,” William nói với Walter. “Giữ người hiệp sĩ đàng sau ông khi tôi nói chuyện với họ.”

Nhóm người dừng lại, thận trọng nhìn cậu. Rõ ràng họ là một gia đình: một người đàn ông cao lớn có lẽ là chồng, một chàng trai trưởng thành nhưng chưa có râu và hai đứa bé theo sau. Người đàn ông trông quen thuộc, William bắt đầu nhận ra. “Ông có biết tôi không?” cậu hỏi.

“Tôi biết ông,” người đàn ông nói. “Và tôi cũng biết con ngựa của ông, vì ông mà con ngựa đã có lần sắp giết chết đứa con gái của tôi.”

Quá khứ trở lại với William. Con ngựa của ông chưa đụng đứa bé, nhưng đã gần. “Ông đã xây nhà cho tôi,” cậu nói. “Và khi tôi đuổi ông, ông đã đòi tiền bồi thường và hầu như muốn đe dọa tôi.”

Người đàn ông trông kiêu ngạo và không phủ nhận điều đó.

“Bây giờ ông không nên tự mãn nữa,” William nói với giọng cười mỉa mai. Cả gia đình dường như chết đói. Dần dần một ngày sẽ đến, ngày mà những người có ân oán với gia đình Hamleigh sẽ phải trả. “Ông có đói không?”

“Vâng, chúng tôi đang đói,” người thợ xây nói với giọng giận dữ.

William nhìn người phụ nữ lần nữa. Với đôi chân hơi dang rộng và chiếc cằm vươn cao, cô nhìn cậu không chút sợ hãi. Aliena đã khơi dậy sự ham muốn nơi cậu và bây giờ cậu muốn thỏa mãn nơi người đàn bà này. Bà đầy sức sống, cậu cảm thấy chắc chắn: bà sẽ chống cự, sẽ cào cấu. Như vậy càng tốt.

“Bà này không phải là vợ ông, phải không ông thợ xây?” cậu nói. “Tôi nhớ vợ ông – một con bò xấu xí.”

Bóng tối của đau khổ phủ trên gương mặt ông, và ông nói: “Vợ tôi đã qua đời.”

“Và ông chưa đưa bà này đến nhà thờ, phải không? Và ông chưa trả một xu nào cho linh mục.” Đàng sau William, Walter ho và những con ngựa bồn chồn. “Giả sử tôi cho ông tiền mua đồ ăn,” William nói với người thợ xây để nhử ông.

“Tôi sẽ nhận nó với lòng biết ơn,” người đàn ông nói, mặc dù lời nói của William làm ông đau khổ vì ông phải quỵ lụy.

“Tôi muốn nói về một món quà. Tôi sẽ mua vợ ông.”

Chính người đàn bà lên tiếng: “Tôi không phải để bán, cậu nhỏ ạ.”

Sự khinh miệt của cô làm William tức giận. Tao sẽ cho mày biết tao là đàn ông hay cậu nhỏ, khi tao đưa mày ra một chỗ riêng, cậu nghĩ. Cậu nói với người thợ xây: “Tôi sẽ cho ông một ký bạc để đổi lấy người đàn bà này.”

“Cô ấy không phải để bán.”

Sự tức giận của William lớn hơn. Cậu đã cho người sắp chết đói một gia tài mà lời đề nghị của cậu bị từ chối. Cậu nói: “Đồ ngu, nếu ông không lấy tiền, tôi sẽ đâm chết ông và sẽ hãm hiếp cô ấy trước mặt các đứa bé này!”

Bàn tay người thợ xây lần dưới áo khoác. Chắc chắn ông có vũ khí, William nghĩ. Ông rất cao lớn, và mặc dù ông ấy gầy như con dao, nhưng ông sẽ chiến đấu để bảo vệ vợ ông. Người phụ nữ kéo áo khoác qua bên, đặt tay lên con dao găm dài đút ở thắt lưng. Và cậu bé lớn cũng đủ gây ra rắc rối nữa.

Walter nói bằng giọng thấp nhưng mạnh mẽ: “Thưa ngài, chúng ta không có giờ cho chuyện đó nữa.”

William miễn cưỡng gật đầu. Ông phải đưa Gilbert về nhà. Không nên trì hoãn việc này chỉ vì một người phụ nữ. Cậu phải chịu đựng.

Cậu nhìn vào gia đình nhỏ gồm năm người đói, rách rưới, sẵn sàng chiến đấu chống lại hai người lực lưỡng có ngựa và gươm. Cậu không thể hiểu họ. “Được rồi, sau đó sẽ chết đói,” cậu nói. Cậu đá vào hông ngựa và tiếp tục đi. Chẳng bao lâu sau, họ xa khỏi tầm mắt.

II

 

Sau khi họ đi xa chỗ họ đã gặp Hamleigh được một hai dặm, Ellen nói: “Bây giờ chúng ta có thể đi chậm hơn không?”

Tom nhận ra ông đã đi quá nhanh. Ông sợ phải cùng với Alfred chiến đấu chống lại hai người vũ trang trên lưng ngựa. Tom không có vũ khí. Ông thò tay vào áo khoác để tìm chiếc búa xây tường, và ông chợt đau đớn nhớ lại là ông đã đổi nó vài tuần trước cho một bao yến mạch. Ông không biết tại sao cuối cùng William đã dừng lại, nhưng ông muốn xa họ càng xa càng tốt để tránh trường hợp bá tước trẻ tuổi này thay đổi ý định xấu xa của cậu.

Tom đã không tìm được việc làm tại cung điện giám mục ở Kingsbridge và ở các nơi khác mà ông đã cố tìm. Tuy nhiên có một mỏ đá trong vùng lân cận của Shiring, và một mỏ đá - không giống như việc xây dựng – luôn có việc làm trong mùa đông cũng như mùa hè. Dĩ nhiên, Tom có tay nghề cao trong việc xây dựng và công việc xây dựng của ông được trả cao hơn là làm mỏ đá. Nhưng ông không quan tâm đến điều đó, việc quan trọng bây giờ là nuôi sống gia đình. Mỏ đá ở Shiring thuộc Bá tước Bartholomew, và Tom nghe nói, ông ấy ở trong lâu đài cách thành phố vài dặm về phía tây.

Hoàn cảnh của ông, từ ngày có Ellen, lại càng trầm trọng hơn. Ông biết chỉ vì tình yêu, bà đã muốn chia sẻ số phận với ông mà không quan tâm đến hậu quả. Trong thực tế, bà không có ý niệm rõ ràng là Tom không dễ gì tìm ra việc làm. Bà không thực sự đối diện với khả năng là có thể họ sẽ không sống sót qua mùa đông này. Tom muốn giữ bà ở lại với ông, nhưng một phụ nữ sẽ đặt con mình lên trên hết, và Tom sợ bà ấy sẽ bỏ ông.

Họ đã ở với nhau một tuần: bẩy ngày của tuyệt vọng và bẩy đêm của hạnh phúc. Mỗi ngày Tom thức dậy, tràn đầy hạnh phúc và lạc quan. Ban ngày ông bị đói, trẻ con mệt mỏi và Ellen buồn rầu. Một số ngày họ có đồ ăn – giống như ngày họ gặp vị linh mục với phô mát – và một số ngày họ nhai thịt khô từ đồ dự trữ của Ellen. Nó giống như nhai da nai khô, nhưng vẫn tốt hơn là không có gì để nhai. Nhưng khi màn đêm về, họ nằm xuống, lạnh lẽo và cơ cực, họ ôm chặt nhau cho ấm áp; sau đó họ vuốt ve và hôn nhau. Lúc đầu Tom muốn vào bà ngay lập tức, nhưng bà nhẹ nhàng từ chối: bà muốn chơi đùa và hôn nhau lâu hơn. Ông làm theo ý bà và ông thấy thích. Ông mạnh dạn khám phá cơ thể bà, âu yếm bà ở những chỗ mà ông chưa bao giờ âu yếm Agnes. Ông vuốt ve và hôn vào tai, vào nách và vào khe mông của bà. Có những đêm họ chúi đầu trong áo choàng và cười khúc khích. Có những đêm họ trao nhau sự âu yếm dịu dàng. Một đêm kia, khi họ ở một mình trong nhà khách tu viện, và trẻ con đã ngủ say, bà đã chủ động, nài nỉ và đòi hỏi ông làm theo ý bà. Bà chỉ cho ông cách kích thích bà bằng ngón tay, và ông làm theo, kinh ngạc và bị khích động vì sự bạo dạn của bà. Khi tất cả đã qua, họ lại rơi vào một giấc ngủ sâu, nghỉ ngơi với nỗi sợ hãi, và lo âu của ngày tháng được rửa sạch trong tình yêu.

Trời đã xế trưa. Tom đoán rằng William Hamleigh đã đi xa, vì thế ông quyết định dừng lại nghỉ ngơi. Họ không còn đồ ăn gì ngoài thịt rừng phơi khô. Tuy nhiên buổi sáng hôm nay họ đã xin được vài miếng bánh của một gia đình nông dân sống đơn lẻ. Người đàn bà đã cho họ một thùng bia lớn không có nắp, và nói với họ nên giữ thùng gỗ lại. Ellen đã giữ lại nửa thùng bia cho bữa trưa.

Tom ngồi trên một gốc cây cổ thụ và Ellen ngồi bên cạnh. Bà uống bia một hơi dài rồi trao nó cho Tom. “Anh có muốn một vài miếng thịt nữa không?” bà hỏi.

Ông lắc đầu và uống vài hơi bia. Ông có thể cho tất cả vào miệng, nhưng ông muốn dành cho trẻ con. “Hãy để dành thịt,” ông nói với Ellen. “Chúng ta có thể nhận được súp ở lâu đài.”

Alfred đưa bia lên miệng uống cạn.

Jack nhìn kinh ngạc và Martha bật khóc. Alfred cười đểu.

Ellen nhìn Tom. Sau vài phút bà nói: “Anh không nên để Alfred làm như thế.”

Tom nhún vai. “Nó lớn hơn các đứa khác, vì thế nó cần nhiều hơn.”

“Nó luôn luôn nhận được phần lớn hơn. Những đứa nhỏ cũng cần một chút.”

“Đừng lên mất giờ can thiệp vào cuộc cãi nhau của trẻ con,” Tom nói.

Giọng Ellen mạnh hơn. “Anh đã nói Alfred luôn bắt nạt các em, nhưng anh không làm gì để ngăn chặn chuyện đó.”

“Đó không phải là bắt nạt,” Tom nói. “Trẻ con luôn tranh giành nhau.”

Bà lắc đầu tỏ vẻ bối rối. “Em không hiểu anh. Trong các lãnh vực khác, anh là một người đàn ông tốt. Chỉ riêng đối với Alfred là anh mù quáng.”

Bà ấy phóng đại, Tom nghĩ. Nhưng ông không muốn làm mất lòng bà, ông nói: “Hãy cho các đứa bé ít thịt.”

Ellen mở túi xách. Bà vẫn đau khổ. Bà cắt một miếng thịt cho Martha và một miếng khác cho Jack. Alfred đưa tay ra, nhưng Ellen lờ đi. Tom nghĩ bà ấy nên cho cậu một ít. Alfred không có gì sai. Ellen chỉ không hiểu cậu. Cậu là một đứa con trai lớn, Tom hãnh diện nghĩ. Cậu cần ăn nhiều cũng như cậu có một chút nóng tính, và nếu đó là một tội thì nửa số thanh niên trong tuổi thành niên sẽ bị nguyền rủa.

Họ nghỉ ngơi một lúc rồi lại lên đường. Jack và Martha đi trước, vẫn còn nhai thịt khô. Hai đứa trẻ chơi với nhau tốt, mặc dù chúng khác nhau về tuổi tác – Martha sáu tuổi và Jack khoảng mười một hay mười hai. Martha thích chơi với Jack, và Jack vui được trải qua kinh nghiệm mới là có bạn cùng chơi. Một đáng tiếc là Alfred không thích Jack. Tom ngạc nhiên về điều này: ông chờ đợi Jack, một người chưa trưởng thành, phải tùng phục Alfred; nhưng nó lại không như vậy. Alfred mạnh mẽ hơn, dĩ nhiên, nhưng thằng nhỏ Jack lại thông minh hơn.

Tom không muốn nghĩ về chúng nhiều. Ông còn nhiều chuyện phải lo nghĩ hơn là về cuộc cãi vã của trẻ con. Trong thâm tâm đôi khi ông nghĩ không biết ông có tìm được việc làm nữa không. Có lẽ họ sẽ phải lang thang ngày này qua ngày nọ cho đến khi từng người một ngã xuống mà chết: một đứa trẻ chết cóng trong một buổi sáng băng giá, rồi đứa khác không đủ sức chống trả lại cơn sốt, Ellen bị hãm hiếp và bị giết chết vì một tên côn đồ đi ngang qua như William Hamgleigh, và Tom càng ngày càng gầy hơn cho đến một ngày ông quá yếu không còn đứng dậy được vào buổi sáng, nên vẫn nằm trên mặt đất lạnh rồi rơi vào bất tỉnh.

Ellen sẽ bỏ ông trước khi những điều đó xẩy ra, dĩ nhiên. Bà sẽ trở về với hang động của bà, nơi vẫn còn một thùng táo và một bao hạt dẻ, đủ giữ cho hai người sống sót qua mùa đông, nhưng không đủ cho năm người. Trái tim Tom sẽ tan vỡ, nếu bà ấy làm điều đó.

Ông tự hỏi không biết đứa bé bây giờ ra sao. Các tu sĩ gọi nó là Jonathan. Tom thích tên gọi đó, nó có nghĩa là món quà của Thiên Chúa, như lời tu sĩ đã nói, người đã cho ông pho mát. Tom tưởng tượng bé Jonathan đỏ hỏn, nhăn nheo và đầu chưa có tóc, như khi nó được sinh ra. Bây giờ chắc nó đã khác: một tuần là một khoảng thời gian dài cho đứa bé mới sinh. Nó đã lớn, đôi mắt nó mở to và nó đã biết những gì xẩy ra xung quanh: một tiếng động sẽ làm nó hoảng sợ và một bài hát có thể ru nó ngủ. Khi nó ợ, góc miệng nó cong lên. Các tu sĩ có lẽ không biết điều đó nên lại tưởng nó đang cười.

Tom hy vọng họ sẽ chăm sóc nó tốt. Tu sĩ với pho mát cho ấn tượng rằng họ tử tế và có khả năng. Dù sao, chắc chắn họ có thể chăm sóc đứa bé tốt hơn là Tom, người vô gia cư và không còn đồng xu nào dính túi. Khi tôi trở thành thợ chính của một công trình xây dựng lớn và kiếm được bốn mươi tám xu hàng tuần cộng thêm phần phụ cấp, tôi sẽ biếu tu viện tiền, ông nghĩ.

Họ đến bìa rừng và chẳng bao lâu sau lâu đài xuất hiện trước mắt họ.

Tom lên tin thần, nhưng ông đè nén cảm xúc của mình: ông đã đau khổ hàng tháng vì thất vọng, và ông đã học được rằng càng hy vọng nhiều lúc bắt đầu thì lại càng đau khổ nhiều khi bị từ chối.

Họ đến lâu đài qua cánh đồng hoang vu. Martha và Jack tìm thấy một con chim nhỏ bị thương và cả gia đình dừng lại nhìn nó. Nó là một con chim hồng tước, quá nhỏ đến nỗi người ta có thể không nhìn thấy nó. Khi Martha cúi mình xuống, nó nhẩy đi, nhưng hầu như không còn có thể bay đi được. Cô bắt nó lên, bế sinh vật bé nhỏ trong lòng bàn tay.

“Nó run rẩy!” cô nói. “Tôi không thể cho nó ăn. Nó sợ hãi.”

Con chim không còn cố gắng trốn chạy, nhưng nằm yên trong bàn tay Martha, đôi mắt sáng của nó nhìn vào những người xung quanh. Jack nói: “Tôi nghĩ nó bị gẫy cánh.”

Alfred nói: “Để tôi xem.” Cậu lấy con chim từ tay cô.

“Chúng ta sẽ cho nó ăn,” Marhta nói. “Có lẽ nó sẽ khá hơn.”

“Không, nó sẽ không khá hơn,” Alfred trả lời và cậu vặn cổ nó bằng bàn tay to lớn của cậu.

Ellen nói: “Ôi! Trời ơi!”

Martha bật khóc lần thứ hai trong ngày hôm đó.

Alfred cười và ném con chim xuống đất.

Jack nhặt con chim lên. “Nó đã chết,” cậu nói.

Ellen nói: “Chuyện gì đã xẩy ra với mày, Alfrred?”

Tom nói: “Cậu ấy không làm gì sai. Con chim đã sắp chết.”

Tom tiếp tục đi và mọi người theo sau. Ellen lại tức giận với Alfred một lần nữa, và nó làm Tom tức. Tại sao lại gây chuyện vì một con chim hồng tước? Tom nhớ lại ông đã cảm thấy ra sao khi ông mười bốn tuổi, một đứa trẻ trong thân thể một đàn ông: đời sống có quá nhiều bực bội. Ellen đã nói, việc gì liên quan đến Alfred ông bị mù quáng, nhưng bà không hiểu.

Cây cầu gỗ dẫn qua thông hào vào tới cổng lâu đài đã xiêu vẹo và mỏng manh, nhưng có lẽ bá tước thích thế: một cây cầu là phương tiện cho kẻ xâm nhập vào và nó càng dễ gẫy thì nó lại càng chắc chắn cho lâu đài. Bức tường thành bên ngoài làm bằng đất, có các tháp đá đứng ở các khoảng cách đều nhau. Trước mặt họ, bên kia cây cầu, là một nhà gác bằng đá, giống như hai tháp với một cầu kết nối. Bao nhiêu công trình bằng đá, Tom nghĩ; không một lâu đài nào chỉ làm bằng bùn đất và gỗ. Ngày mai tôi có thể làm việc. Ông nhớ lại cảm giác được cầm công cụ tốt trong tay, cạo và đục trên khối đá, tạo các cạnh vuông và làm nhẵn mặt đá, và cảm giác khô của bụi đá trong lỗ mũi. Tối mai có thể tôi sẽ có một bụng no – no với đồ ăn do ông làm ra, không cần xin xỏ.

Đến gần hơn, với đôi mắt nhà nghề, ông thấy lỗ châu mai trên nóc nhà gác bên cổng đang ở trong tình trạng hư hại nặng. Một vài viên đá to đã rơi ra, để lại những lỗ hổng trong bức tường. Ngay trong vòm cổng chính cũng có những viên đá lỏng lẻo.

Hai lính canh ngoài cổng chăm chú một cách cảnh giác. Có lẽ họ đang chờ đợi những xáo động có thể xẩy ra. Một người hỏi Tom muốn gì.

“Thợ đá. Tôi hy vọng được thuê làm trong mỏ đá của bá tước,” ông trả lời.

“Hãy gặp quản lý của bá tước,” người lính canh tận tình giúp đỡ. “Tên ông ấy là Matthew. Có thể ông sẽ gặp ông ấy ở đại sảnh.”

“Cảm ơn,” Tom nói. “Ông ấy là người ra sao?”

Người lính gác cười với đồng nghiệp và nói: “Không thể gọi là ‘ông ấy’….,” và cả hai cùng cười.

Tom nghĩ ông sẽ sớm tìm ra tại sao họ lại cười. Ông đi vào và Ellen cùng với các trẻ theo sau. Các công trình xây dựng trong bức tường thành hầu hết bằng gỗ, mặc dù một số được nâng lên trên đế bằng đá, và chỉ có một công trình hoàn tòan bằng đá, đó là nhà nguyện. Khi họ đi ngang qua sân lâu đài, Tom nhận ra những tháp xung quanh có nhiều lỗ hổng và lỗ châu mai đã hư hại. Họ đi qua thông hào thứ hai, vào vòng trong và dừng lại trước trạm gác. Tom nói với người lính canh là ông muốn gặp ông quản lý Matthew. Sau đó họ đi vào khu tháp canh và lên cầu thang gỗ đến đại sảnh.

Tom thấy cả hai, ông quản lý và bá tước, ngay khi ông bước vào. Ông nhận ra họ qua quần áo. Bá tước Bartholomew mặc áo dài, phía tay áo bùng lên và viền có thêu ren. Quản lý Matthew mặc một áo dài ngắn hơn, giống như Tom đang mặc, nhưng bằng vải mềm mại. Trên đầu ông đội một mũ tròn nhỏ. Cả hai người ở gần lò sưởi – bá tước ngồi và ông quản lý đứng. Tom đi về phía họ, nhưng dừng lại ở một khoảng cách đủ xa để tỏ lòng kính trọng. Ông chờ đợi cho đến khi họ chú ý đến ông. Bá tước Bartholomew là một người cao lớn, khoảng năm mươi, tóc bạc và một khuôn mặt xanh xao, gầy và kiêu căng. Ông không trông giống như một người có sự hào phóng. Ông quản lý trẻ hơn. Cách ông đứng gợi cho Tom nhớ lại lời nhận xét của người lính gác: ông trông có vẻ nữ tính. Tom không biết phải nghĩ gì về ông ấy.

Còn có nhiều người khác trong đại sảnh, nhưng không ai để ý đến Tom. Ông chờ đợi, cảm thấy hy vọng rồi lại lo sợ. Cuộc nói chuyện của bá tước với ông quản lý kéo dài như bất tận. Sau cùng cuộc nói chuyện cũng kết thúc, và người quản lý quay sang một bên. Tom tiến về phía trước, nén tim lại. “Ông có phải là Matthew không?” ông hỏi.

“Đúng.”

“Tôi tên là Tom. Thợ xây dựng tổng thể chính. Tôi là một nghệ nhân tốt, và con cái tôi đang đói. Tôi nghe ông có một mỏ đá.” Ông nín thở.

“Chúng tôi có một mỏ đá, nhưng chúng tôi không cần khai thác đá nữa,” Matthew nói. Ông nhìn về phía bá tước, ông ấy lắc đầu. “Không,” Matthew nói. “Chúng tôi không thể thuê ông.”

Tốc độ quyết định nhanh chóng đó phá vỡ tim Tom. Nếu người ta trân trọng, suy nghĩ thận trọng về nó rồi từ chối ông, ông có thể dễ chấp nhận hơn. Matthew không phải là người độc ác, Tom nghĩ, nhưng ông quá bận rộn, và Tom và gia đình chết đói của ông chỉ là một việc phải giải quyết nhanh bao nhiêu có thể.

Tom nói một cách tuyệt vọng: “Tôi có thể sửa chữa vài chỗ trong lâu đài này.”

“Chúng tôi có một quản gia lo tất cả chuyện đó cho chúng tôi,” Matthew nói.

Quản gia là một người lo lắng mọi chuyện trong lâu đài, thường được đào tạo như một thợ mộc. “Tôi là thợ xây,” Tom nói. “Bức tường tôi xây sẽ chắc chắn hơn.”

Matthew khó chịu khi phải tranh cãi với ông, và dường như muốn nói điều gì đó giận dữ; rồi ông ấy thấy đám trẻ và mặt ông dịu lại. “Tôi rất muốn cho ông một công việc, nhưng chúng tôi không cần ông.”

Tom gật đầu. Bây giờ ông nên khiêm tốn chấp nhận những gì ông quản lý nói, cố tạo ra bộ mặt đáng thương để xin một bữa ăn và một chỗ ngủ qua đêm. Nhưng Ellen đang ở với ông, và ông sợ bà sẽ bỏ đi, vì thế ông thử thêm lần nữa. Ông nói lớn tiếng để bá tước có thể nghe được: “Tôi hy vọng trong tương lai gần, ông không có cuộc đánh nhau nào.”

Hiệu quả còn kinh khủng hơn ông chờ đợi. Matthew rùng mình, và bá tước đứng lên rồi nói: “Tại sao ông lại nói điều đó?”

Tom nhận ra ông đã đánh trúng tim đen. “Bởi vì công trình phòng thủ của ông hư hại nặng nề,” ông nói.

“Hư hại làm sao?” bá tước nói. “Phải cụ thể.”

Bá tước phát cáu nhưng lắng nghe. Tom lấy một hơi dài. Sau này tôi không còn cơ hội nữa, Tom nghĩ. “Vữa trong tường ở cổng thành đã rơi ra. Với một cây xà beng, kẻ thù có thể cạy ra một vài viên đá, và khi đã có một lỗ hổng thì rất dễ để kéo bức tường đổ xuống. Ngoài ra” – ông vội vã không kịp thở, không cho ai nhẩy vào bình luận hay phản đối – “Ngoài ra, các lỗ châu mai của ông đã hư hại. Trong trường hợp có tấn công, chúng không còn là chỗ bảo vệ cho các binh lính bắn cung và hiệp sĩ của ông nữa...”

“Tôi biết lỗ châu mai dùng làm gì,” bá tước ngắt lời ông. “Còn gì nữa không?”

“Có. Phòng dự trữ trong tòa nhà này có cửa bằng gỗ. Nếu tôi tấn công vào lâu đài, tôi sẽ đi qua cửa đó và châm lửa đốt.”

“Và nếu ông là bá tước, ông sẽ ngăn chặn điều đó như thế nào?”

“Tôi sẽ chuẩn bị một đống đá, một đống cát và vôi, và một thợ xây chờ sẵn để xây chặn cửa ra vào khi gặp nguy hiểm.”

Bá tước Bartholomew nhìn Tom. Đôi mắt xanh nhạt của ông cau lại và vầng trán ông nhăn lên. Tom không hiểu vẻ mặt của ông. Có phải ông ấy giận Tom vì đã chỉ trích quá nhiều về sự phòng thủ của lâu đài? Người ta sẽ chẳng bao giờ có thể nói một bá tước sẽ phản ứng như thế nào khi bị chỉ trích. Tốt nhất, cứ để họ có những sai sót của họ. Nhưng Tom là người tuyệt vọng.

Sau cùng, dường như bá tước đã tìm ra được kết luận. Ông quay sang Matthew và nói: “Thuê người này.”

Tiếng kêu vui mừng trào lên cổ và Tom phải giữ lại. Ông không thể tin được điều ấy. Ông nhìn Ellen và cả hai mỉm cười hạnh phúc. Martha, người không phải ý tứ như người lớn, la lên: “Hurra!”

Bá tước quay đi, nói chuyện với một hiệp sĩ đứng gần. Matthew mỉm cười với Tom. “Ông đã ăn trưa chưa?” ông hỏi.

Tom nuốt nước bọt. Ông cảm thấy quá hạnh phúc đến nỗi gần khóc. “Chưa, chúng tôi chưa ăn gì.”

“Tôi sẽ đưa ông xuống nhà bếp.”

Với sự háo hức, họ theo người quản lý ra khỏi đại sảnh, đi qua cây cầu tới vòng dưới. Nhà bếp là một tòa nhà bằng gỗ, chân tường bằng đá. Matthew nói họ đợi bên ngoài. Có mùi ngọt ngào trong không khí, chứng tỏ họ đang nướng bánh trong đó. Bụng Tom cồn cào và nước miếng chẩy đầy trong miệng. Một lúc sau ông quản lý đi ra và đưa cho Tom một bình bia lớn. “Lát nữa họ sẽ đem bánh mì và thịt nguội ra,” ông nói. Rồi ông bỏ đi.

Tom uống một hơi rồi đưa bình cho Ellen. Bà đưa cho Martha trước, sau đó bà uống một hớp và trao bình cho Jack. Trước khi Jack uống, Alfred dành lấy. Jack quay đi, giữ bình bia không cho Alfred lấy. Tom không muốn đám trẻ cãi nhau, nhất là vào lúc này, khi mọi chuyện dường như đã tốt đẹp. Ông định can thiệp – qua đó ông lại phá vỡ quy tắc của chính ông về việc không can thiệp vào cuộc xung đột của trẻ con – vừa khi đó Jack quay người lại và ngoan ngoãn đưa bình cho Alfred.

Alfred đặt bình lên miệng và bắt đầu uống. Tom mới chỉ uống một ngụm và ông nghĩ bình bia sẽ lại đến phiên ông; nhưng Alfred dường như muốn uống cạn. Và một điều kỳ lạ xẩy ra: khi Alfred nâng bình cao hơn để uống cạn, một con vật nhỏ rơi ra trên mặt cậu.

Alfred kêu lên kinh hãi và bỏ bình xuống. Cậu gạt con vật có lông ra khỏi mặt, nhẩy lui lại. “Cái gì vậy?” cậu rít lên. Con vật rơi xuống đất. Cậu nhìn xuống, mặt trắng bệch và run rẩy vì ghê sợ.

Tất cả đều nhìn. Nó là con chim hồng tước đã chết.

Tom bắt gặp ánh mắt của Ellen, và cả hai nhìn Jack.

Bây giờ cậu đứng lặng lẽ, quan sát Alfred đang kinh hoàng. Trên khuôn mặt thông minh của cậu hiện lên nụ cười hài lòng.

Jack biết cậu sẽ phải trả giá cho việc đó.

Alfred sẽ trả thù bằng một cách nào đó. Khi những người khác không để ý, có thể Alfred sẽ đấm vào bụng cậu. Đó là một cú đấm được cậu ấy yêu thích, vì nó gây đau đớn nhưng không để lại dấu vết. Jack đã nhìn thấy cậu ấy đấm Martha nhiều lần như vậy.

Nhưng một cú đấm như thế thì cũng xứng đáng để được nhìn khuôn mặt sợ hãi và kinh hoàng của Alfred khi con chim hồng tước chết rớt ra từ bình bia.

Alfred ghét Jack. Đó là một trải nghiệm mới cho Jack. Mẹ cậu luôn yêu cậu, ngoài ra không ai có tình cảm gì cho cậu. Không có lý do gì cắt nghĩa được sự thù hận của Alfred. Cậu ấy cũng đối xử như vậy với Martha. Cậu ấy luôn véo cô, kéo mái tóc cô và làm cô vấp ngã. Khi Martha thích thú cái gì, cậu ấy thường tìm cách phá vỡ nó. Mẹ của Jack nhìn thấy những gì đang xẩy ra và ghét cậu ấy, nhưng bố của Alfred dường như nghĩ rằng nó hoàn toàn bình thường, ngay cả mặc dù bản thân ông là người tốt, hiền lành và rõ ràng yêu Martha. Toàn bộ vấn đề phức tạp, nhưng nó hấp dẫn.

Mọi thứ đều hấp dẫn. Jack đã chẳng bao giờ có thời gian thú vị như vậy trong đời cậu. Mặc dù Alfred, mặc dù luôn cảm thấy đói, mặc dù mẹ cậu luôn để ý tới Tom thay vì tới cậu, Jack say mê những biến cố kỳ lạ và những kinh nghiệm mới.

Tòa lâu đài là cái cuối cùng trong loạt các kỳ diệu. Cậu đã nghe về lâu đài: trong những buổi tối mùa đông ở trong rừng, mẹ cậu đã dạy cậu những bài hát, những truyện thơ bằng tiếng Pháp về các hiệp sĩ và phù thủy; và lâu đài trong truyện được miêu tả như chốn nương thân và lãng mạn. Bởi vì cậu chưa bao giờ nhìn thấy tận mắt một lâu đài, nên cậu tưởng tượng nó là một phiên bản, giống nhưng lớn hơn hang động cậu đang sống. Lâu đài thực tế quá tuyệt vời: nó quá lớn, có quá nhiều tòa nhà, quá nhiều người, mỗi người làm công việc của mình. Người lo cho ngựa, người kéo nước, người cho gà ăn, người làm bánh, người mang vác, mang rơm cho sàn nhà, mang củi cho lò sưởi, bao bột, kiện vải, kiếm, yên ngựa và thư từ. Tom kể cho cậu rằng thông hào và tường không phải tự nhiên mà có, nhưng nó đã được đào và xây dựng bởi hàng chục nhân công cùng nhau làm viiệc.

Vào cuối ngày, khi trời đã tối, những người đã vất vả trong ngày kéo nhau đến đại sảnh của pháo đài. Đèn bấc được đốt lên và lửa được khêu cao hơn, và những con chó trốn lạnh cũng đến gần. Đàn ông và đàn bà cùng nhau mang những chân bàn và mặt bàn từ trong kho bên cạnh và xếp bàn thành hình chữ T, rồi đặt các ghế dựa phía trên chữ T và các băng ghế dọc theo phần dưới. Jack chưa bao giờ thấy nhiều người cùng nhau làm việc như thế, và cậu ngạc nhiên là họ làm việc một cách vui vẻ. Họ mỉm cười và cười to khi họ nâng những mặt bàn nặng, cùng nhau hò hét “hai, ba!” và “về phía tôi, về phía tôi,” và “nào, đặt xuống.” Jack ghen tị với tình đồng đội của họ và tự hỏi liệu một ngày nào đó cậu có thể chia sẻ với họ tình đồng đội này không.

Một lúc sau, tất cả cùng ngồi vào ghế băng. Một trong những người phục vụ trong lâu đài phân phối những bát to bằng gỗ và muỗm bằng gỗ, đếm to mỗi khi ông đặt nó xuống bàn; sau đó ông đi một vòng nữa và đặt một lát bánh mì dầy màu nâu trên mỗi bát. Một người phục vụ khác đem chén và đổ đầy bia từ những bình bia lớn. Jack, Martha và Alfred cùng ngồi chung ở cuối chữ T, mỗi đứa lấy một chén bia, vì thế mà chúng không còn phải cãi nhau. Jack cầm chén của cậu lên, nhưng mẹ cậu nói cậu nên chờ đã.

Sau khi bia đã được chia, cả hội trường yên lặng. Jack chờ đợi, háo hức như mọi khi, xem chuyện gì sẽ xẩy ra. Một lúc sau Bá tước Bartholomew xuất hiện ở cầu thang phòng ngủ. Ông đi xuống, theo sau là người quản lý Matthew, rồi đến ba hoặc bốn người khác ăn mặc sang trọng, một cậu bé, và một sinh vật tuyệt đẹp mà Jack chưa bao giờ nhìn thấy.

Đó là một thiếu nữ hay một bà, cậu không biết rõ. Cô mặc áo trắng, đuôi áo dài kéo trên đất khi cô xuống cầu thang. Mái tóc đen bao trùm khuôn mặt cô, và cô có cặp mắt đen, đen thẫm. Jack nhận ra rằng đây là người, mà những bài hát nói về, khi chúng ám chỉ đến những công chúa xinh đẹp trong lâu đài. Không ngạc nhiên gì về việc các hiệp sĩ khóc khi công chúa chết.

Khi cô đến chân cầu thang Jack nhận ra cô còn rất trẻ, chỉ lớn hơn cậu vài tuổi; nhưng đầu cô ngẩng cao và cô đi đến đầu bàn như một nữ hoàng. Cô ngồi xuống bên cạnh Bá tước Bartholomew.

“Cô ấy là ai?” Jack hỏi thầm.

Martha trả lời: “Cô ấy chắc là con của bá tước.”

“Tên cô ấy là gì?”

Martha nhún vai, nhưng một cô gái có khuôn mặt bẩn thỉu ngồi bên cạnh Jack nói: “Cô ấy được gọi là Aliena. Cô ấy đẹp tuyệt vời.”

Bá tước cụng ly với Aliena, rồi chậm rãi nhìn mọi người xung quanh bàn và uống. Đó là dấu hiệu mà mọi người chờ đợi. Tất cả mọi người làm theo, họ nâng ly trước khi uống.

Đồ ăn tối được đựng trong vạc hấp lớn. Bá tước được phục vụ trước, rồi đến con gái của ông, rồi đến con trai và những người đàn ông ngồi ở đầu bàn; sau đó các người khác tự phục vụ. Đó là cá muối trong một nồi gia vị. Jack múc vào chén và ăn hết sạch, rồi ăn bánh mì chấm với nước súp dầu. Trong lúc nhai cậu nhìn Aliena, bị thu hút bởi mọi việc cô làm, từ cách cô dùng đầu dao tách xương cá nhỏ ra, rồi thanh nhã đưa vào miệng qua hàm răng trắng muốt, cho đến giọng nói uy quyền khi cô gọi người phục vụ và ra lệnh cho họ. Tất cả mọi người dường như thích cô. Họ tới nhanh khi cô gọi, mỉm cười khi cô nói, và vội vã thi hành khi cô ra lệnh. Các đàn ông trẻ xung quanh bàn hay nhìn cô, Jack quan sát thấy, và một số người thể hiện khi họ nghĩ cô đang nhìn về phía họ. Nhưng chủ yếu cô quan tâm đến những người lớn tuổi ngồi chung với bố cô, lo lắng cho họ có đủ bánh và rượu, đặt câu hỏi với họ và lắng nghe họ trả lời. Jack tự hỏi cảm giác sẽ như thế nào khi một nàng công chúa xinh đẹp nói chuyện với cậu, rồi nhìn cậu bằng đôi mắt lớn khi cậu trả lời.

Sau bữa ăn tới phần âm nhạc. Hai người đàn ông và một đàn bà chơi nhạc với chuông cừu, trống và ống điếu được làm từ xương động vật và chim muông. Bá tước nhắm mắt, thả hồn trong âm nhạc, nhưng Jack không thích âm điệu ám ảnh, u sầu họ chơi. Cậu thích những bài hát vui vẻ mẹ mình hát. Những người khác dường như cũng có cảm tưởng như vậy, vì họ bồn chồn, cựa quậy, và có chung một cảm giác nhẹ nhõm khi âm nhạc kết thúc.

Jack hy vọng được đến gần Aliena, nhưng cậu bị thất vọng vì cô rời khỏi phòng vừa khi âm nhạc chấm dứt và bước lên cầu thang. Chắc cô có một phòng ngủ riêng trên lầu, cậu nghĩ như thế.

Các trẻ em và một số người lớn chơi cờ tướng, hay chơi với nhau suốt buổi tối và những người chăm chỉ khác làm thắt lưng, mũ, tất, găng tay, khăn quoàng cổ, ống điếu, hột xúc xắc, xẻng và roi ngựa. Jack chơi cờ tướng và lần nào cậu cũng thắng. Một binh lính tức giận vì bị thua một đứa trẻ và mẹ cậu bảo cậu ngừng chơi. Cậu đi xung quanh hội trường, lắng nghe cuộc nói chuyện. Một số người nói chuyện lý lẽ, cậu nhận thấy, họ nói chuyện về cánh đồng và về thú vật, về các giám mục và vua chúa; trong khi đó một số khác chỉ trêu chọc nhau và kể những câu chuyện hài hước. Cậu cảm thấy tất cả đều hấp dẫn.

Sau cùng, đèn bấc tắt dần. Bá tước đã đi ngủ, và sáu mươi, bẩy mươi người khác cuộn mình trong áo khoác, nằm xuống ngủ trên nền nhà đã phủ rơm.

Như thường lệ, mẹ cậu và Tom ngủ chung với nhau, dưới áo khoác lớn của Tom, và bà ôm ông như bà đã ôm Jack khi cậu còn bé. Cậu nhìn ghen tị. Cậu có thể nghe thấy họ nói chuyện thì thầm với nhau, và mẹ cậu cười nhỏ, thân mật. Một lúc sau thân thể họ chuyển động theo nhịp dưới áo khoác. Lần đầu tiên khi cậu thấy điều đó, Jack đã lo lắng thật sự, nghĩ rằng dù nó có là gì đi nữa thì nó vẫn gây đau đớn; nhưng họ hôn nhau khi làm điều đó và mặc dù một đôi khi mẹ cậu rên rỉ, cậu có thể nói đó là tiếng rên rỉ thỏa mãn. Cậu không dám hỏi mẹ về điều đó, cậu cũng không biết tại sao. Bây giờ, khi ngọn lửa đã tàn, cậu nhìn thấy các cặp khác cũng làm như thế, và nó buộc cậu đi đến kết luận rằng đó là chuyện bình thường. Nó chỉ là một bí mật khác, cậu nghĩ, và chẳng bao lâu sau cậu thiếp đi trong giấc ngủ.

Trẻ em dậy sớm vào ban sáng, nhưng bữa sáng chưa được dọn lên, cho đến khi nào thánh lễ kết thúc, và thánh lễ chỉ bắt đầu khi nào bá tước thức dậy, vì thế chúng phải chờ đợi. Một người phục vụ dậy sớm thúc dục họ lấy củi cho đủ dùng trong ngày. Người lớn bắt đầu tỉnh dậy khi gió lạnh ban sáng thổi qua cửa. Và khi các trẻ em mang củi vào, chúng gặp Aliena.

Cô xuống cầu thang như buổi tối hôm qua, nhưng hôm nay cô trông khác. Cô mặc áo ngắn và đi giầy cao. Mái tóc lợn sóng của cô được cột lại phía sau, lộ ra chiếc cằm duyên dáng, đôi tai nhỏ và chiếc cổ trắng. Đôi mắt đen to, mà tối qua trông nghiêm trang và người lớn, bây giờ lấp lánh niềm vui. Theo sau cô là cậu bé mà tối qua đã ngồi chung bàn với cô và bá tước. Cậu trông lớn hơn Jack một hai tuổi, nhưng cậu chưa trưởng thành đủ như Alfred. Cậu tò mò nhìn Jack, Martha và Alfred, nhưng người con gái lên tiếng trước. “Các bạn là ai?” cô hỏi.

Alfred trả lời: “Bố tôi là thợ xây, ông sẽ sửa sang lại lâu đài này. Tôi là Alfred. Em gái tôi là Martha. Đây là Jack.”

Khi cô đến gần, Jack ngửi thấy mùi hoa oải hương và cậu thầm thán phục vì làm sao một người lại có thể có mùi của loài hoa? “Bạn bao nhiêu tuổi?” cô hỏi Alfred.

“Mười bốn.” Alfred khúm núm trước cô, Jack có thể nói như vậy. Sau một lúc Alfred buột miệng: “Bạn bao nhiêu tuổi?”

“Mười lăm. Các bạn muốn ăn gì không?”

“Có.”

“Đi với tôi!”

Tất cả đi theo cô ra khỏi sảnh đường và xuống cầu thang. Alfred nói: “Nhưng họ không dọn ăn sáng trước thánh lễ.”

“Họ làm những gì tôi nói với họ,” Aliena hất đầu lên nói.

Cô dẫn họ qua cây cầu tới vòng bên dưới và nói chúng đợi trước nhà bếp, trong khi cô đi vào. Martha thì thầm với Jack: “Có phải cô đẹp không?” Cậu im lặng gật đầu. Một vài phút sau Aliena đi ra với một bình bia và một bánh mì trắng. Cô bẻ bánh thành từng miếng to và trao cho mỗi người, sau đó cô cũng chuyển bình bia cho họ.

Sau đó Martha bẽn lẽn hỏi: “Mẹ bạn đâu?”

“Mẹ tôi đã qua đời,” Aliena nói nhanh.

“Bạn có buồn không?” Martha hỏi.

“Tôi đã buồn, nhưng đã lâu rồi.” Cô chỉ vào cậu bé bên cạnh. “Richard không còn nhớ gì đến nó nữa.”

Richard phải là em của cô, Jack nghĩ.

“Mẹ tôi cũng đã qua đời,” Martha nói và nước mắt tràn ra.

“Lâu chưa?” Aliena hỏi.

“Mẹ tôi chết cách đây một tuần.”

Giọt nước mắt của Martha dường như chẳng làm Aliena mủi lòng, Jack nghĩ; trừ khi cô cố gắng giấu nỗi đau của mình. Cô hỏi đột ngột: “Vậy người đàn bà đi theo các bạn là ai?”

Jack háo hức nói: “Đó là mẹ tôi.” Cậu vui vì được nói với cô.

Cô quay về phía cậu như lần đầu tiên cô thấy cậu. “Vậy, bố bạn đâu?”

“Tôi không có bố,” cậu nói. Cậu thích thú khi cô nhìn cậu.

“Ông ấy cũng chết rồi sao?”

“Không,” Jack nói. “Tôi chưa bao giờ có bố.”

Một khoảnh khắc của yên lặng, rồi Aliena, Richard và Alfred phá lên cười. Jack bối rối và nhìn trống vắng vào họ; và tiếng cười của họ tăng lên cho đến khi cậu thấy xấu hổ. Không có bố thì có gì đáng cười? Ngay cả Martha cũng mỉm cười, nước mắt cô đã biến đi.

Alfred nói với giọng chế giễu: “Làm sao có bạn, nếu bạn không có bố?”

“Từ mẹ tôi. Tất cả những gì non trẻ đều sinh ra từ mẹ chúng,” Jack nói, lòng đầy hoang mang. “Ông bố có liên quan gì đến chuyện đó?”

Mọi người lại cười to hơn. Richard nhẩy cỡn lên vì thích thú, rồi chỉ ngón tay vào Jack. Alfred nói với Aliena: “Cậu ấy không biết gì. Chúng tôi tìm thấy cậu ấy ở trong rừng.”

Má Jack nóng lên vì xấu hổ. Cậu đã quá vui vì được nói với Aliena, và bây giờ cô nghĩ cậu là một thằng hề, một người rừng ngu dốt. Điều tề hại nhất là cậu vẫn không biết cậu sai ở chỗ nào. Cậu muốn khóc và nó lại càng tồi tệ hơn. Miếng bánh mắc nghẹn trong cổ họng và cậu nuốt không trôi. Cậu nhìn Aliena, khuôn mặt dễ thương của cô phảng phất sự thích thú, và cậu không còn có thể chịu đựng được nữa, cậu ném miếng bánh xuống đất và bỏ đi.

Không quan tâm đi đâu, cậu đi cho đến khi tới bờ tường lâu đài. Cậu leo theo con dốc lên đến đỉnh tường. Ở đó, cậu ngồi trên nền đất lạnh, nhìn ra bên ngoài, thương phận mình, ghét Alfred và Richard và ngay cả Martha và Aliena. Nàng công chúa vô tâm, cậu nghĩ.

Chuông vang lên báo hiệu giờ lễ. Nghi thức tôn giáo lại là một bí ẩn khác đối với cậu. Nghi thức dùng một ngôn ngữ chẳng phải tiếng Anh, cũng chẳng phải tiếng Pháp. Linh mục hát và nói với các bức tượng, bức ảnh và ngay cả với những đấng vô hình. Mẹ cậu luôn tránh dự nghi thức khi có thể. Khi dân cư trong lâu đài trên đường đến nhà nguyện, Jack nhổm qua đầu bức tường thành, ngồi phía bên kia để không ai có thể thấy cậu.

Lâu đài được bao bọc bởi những cánh đồng bằng phẳng và hoang vu, phía xa có rừng cây. Hai khách đi bộ qua đồng bằng về hướng lâu đài. Bầu trời đầy mây sám. Jack tự hỏi không biết trời có đổ tuyết không.

Hai người khách sớm nữa xuất hiện trong tầm mắt của Jack. Hai người ngồi trên lưng ngựa. Họ phi nhanh về lâu đài, vượt qua hai người khách trước. Họ đi ngựa qua cây cầu gỗ tới cổng gác. Tất cả bốn khách phải đợi đến khi thánh lễ xong, vì ngoại trừ những người lính gác, tất cả dân cư đều ở trong nhà nguyện.

Một giọng nói bất ngờ làm Jack giật mình: “Thì ra con ở đây.” Đó là mẹ cậu. Cậu quay sang mẹ, và bà nhận thấy ngay là cậu rất buồn. “Có chuyện gì vậy con?”

Cậu muốn được bà an ủi, nhưng cậu cứng lòng nói: “Con có bố không?”

“Có,” bà nói. “Mỗi người đều có bố.” bà quỳ xuống bên cậu.

Cậu quay mặt đi. Cậu bị sỉ nhục là do lỗi của mẹ cậu, vì bà đã không kể cho cậu nghe về bố cậu. “Điều gì đã xẩy ra với bố?”

“Bố con đã qua đời.”

“Khi con còn nhỏ?”

“Trước khi con được sinh ra.”

“Làm sao ông ấy có thể là bố con, nếu ông ấy chết trước khi con sinh ra?”

“Trẻ nhỏ phát triển từ tinh trùng. Tinh trùng phát ra từ người đàn ông và được ươm trồng trong lòng người mẹ. Và tinhh trùng lớn thành đứa bé trong bụng bà ta, và khi nó sẵn sàng, nó được sinh ra.”

Jack ngồi yên lặng một lúc, nghiền ngẫm với thông tin này. Cậu liên tưởng tới cái mà người lớn làm ban đêm. “Tom cũng đang trồng tinh trùng trong mẹ phải không?”

“Có thể.”

“Như vậy chúng ta sẽ có đứa trẻ mới.”

Bà gật đầu. “Một đứa em trai cho con, con có thích không?”

“Con không quan tâm,” cậu nói. “Tom đã lấy mất mẹ của con rồi. Một em trai không thay đổi được gì hết.”

Bà đặt tay quanh cậu và ôm cậu. “Không ai có thể lấy mẹ khỏi con được,” bà nói.

Lời đó làm cậu cảm thấy thoải mái hơn.

Họ ngồi với nhau một lúc, rồi bà nói: “Ở đây lạnh quá. Chúng ta đi về lò sưởi, chờ bữa ăn sáng.”

 Cậu gật đầu. Họ đứng lên, đi theo dốc tường thành xuống dưới. Không còn dấu hiệu nào của bốn khách đến thăm. Có lẽ họ vào nhà nguyện.

Khi Jack và mẹ cậu theo cầu thang xuống tầng dưới, Jack hỏi: “Tên bố con là gì?”

“Jack, cùng tên với con,” bà nói. “Người ta gọi ông ấy là Jack Shareburg.”

Điều đó làm cậu hứng khởi. Cậu có cùng tên với bố cậu. “Vì thế nếu có người khác cũng có tên là Jack, con có thể nói với mọi người rằng con là Jack Jackson.”

“Con có thể, Người ta không luôn luôn gọi con như con muốn, nhưng con có thể thử.”

Jack gật đầu. Cậu cảm thất tốt hơn. Bây giờ cậu có thể cảm nhận mình như là Jack Jackson. Cậu không phải xấu hổ nữa. Ít nhất cậu biết cậu có bố, và cậu biết tên của bố cậu: Jack Shareburg.

Họ đến cổng nhà ở vòng trên. Không có lính gác. Mẹ Jack ngừng lại, nhăn mặt. “Mẹ có cảm giác là lạ, hình như ở đây có gì bất thường xẩy ra,” bà nói. Giọng bà bình tĩnh và chậm rãi, nhưng Jack nhận ra trong đó có sự sợ hãi và cậu linh cảm một điều xấu sẽ xẩy ra.

Mẹ cậu bước vào phòng gác trong tầng trệt của chòi canh. Một lúc sau Jack nghe hơi thở hổn hển của bà. Cậu vào phía sau bà. Bà đang bị sốc, bàn tay che miệng, nhìn chằm chằm xuống sàn nhà.

Người lính gác nằm thẳng trên mặt đất, cánh tay mềm nhũn để hai bên. Cổ ông bị cắt, một vũng máu tươi trên đất bên cạnh ông. Và không nghi ngờ gì nữa, ông đã chết.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của ken follett