Những Cột Trụ Của Trái Đất

Lượt đọc: 25272 | 15 Đánh giá: 9,9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2 (C)

III - Vào gần trưa hôm sau, Philip nhìn thấy tu viện Kingsbridge, đúng như Waleran đã dự báo. Từ phía lưng đồi đầy cây cối ông nhìn vào phong cảnh không sức sống, những cánh đồng tuyết phủ chỉ thỉnh thoảng còn lại những nhánh cây khô. Ông không thấy người nào, vì trong cái chết của mùa đông không có việc gì để làm trên cánh đồng. Một vài dặm bên kia cánh đồng phủ tuyết, ngôi nhà thờ chính tòa đứng trên một ngọn đồi; một tòa nhà đồ sộ, chồm hổm như một đài tưởng niệm trên một ngọn đồi nghĩa trang.

Philip đi theo con đường xuống dốc và Kingsbridge biến mất khỏi tầm mắt. Con ngựa điềm tĩnh đi cẩn thận theo con đường trơn trượt. Philip nghĩ về Tổng đại diện Waleran. Waleran quá đĩnh đạc, tự tin và có khả năng đến nỗi Philip thấy mình còn quá trẻ và ngây thơ, mặc dù hai người không mấy khác nhau về tuổi tác. Waleran đã dễ dàng làm chủ cuộc họp: ông đã ân cần tiễn đưa khách, lắng nghe câu chuyện của Philip, nhìn ngay ra vấn đề quan trọng là thiếu bằng chứng, nhanh chóng nhận ra rằng cách điều tra không mang lại kết quả, và nhanh chóng đưa Philip lên đường – bây giờ Philip mới nhận ra rằng không có gì bảo đảm là Waleran sẽ thực hiện điều gì đó.

Philip cười buồn bã khi nhận ra ông đã bị lừa như thế nào. Waleran ngay cả không hứa sẽ nói cho giám mục những gì Philip tường thuật. Nhưng Philip tin rằng vì tham vọng lớn, mà ông khám phá ra, một cách nào đó Waleran sẽ sử dụng thông tin này. Ông nhận ra rằng Waleran có một chút nào đó mang ơn ông.

Vì bị ấn tượng mạnh về Waleran, nên Philip càng bị hấp dẫn về một yếu điểm duy nhất của tổng đại diện: phản ứng của ông ấy đối với vợ của thợ xây Tom. Đối với Philip bà ấy dường như có sự nguy hiểm tàng ẩn. Rõ ràng Waleran thấy bà hấp dẫn. Tuy nhiên còn có điều gì hơn thế nữa. Waleran đã phải gặp bà trước đó, bởi vì ông ấy nói: tôi nghĩ bà ấy đã chết. Nó có vẻ như ông đã phạm tội với bà ấy trong một quá khứ xa. Nếu xem xét cách ông không muốn Philip quanh quẩn ở lại đó để biết thêm, chắc chắn ông có điều gì đó cảm thấy có lỗi.

Ngay cả bí mật tội lỗi này cũng không làm giảm sự đánh giá của Philip về Waleran. Waleran là một linh mục, không phải một tu sĩ. Khiết tịnh luôn là một phần thiết yếu trong đời sống của tu viện, nhưng nó không ép buộc cho các linh mục. Giám mục có các bà quản gia và cha xứ có các bà nội trợ. Giống như luật chống lại những tư tưởng xấu, luật sống độc thân là một luật rất khó giữ. Nếu Thiên Chúa không tha thứ cho các linh mục dâm đãng, chỉ có rất ít hàng giáo sĩ ở trên trời.

Kingsbridge lại xuất hiện trước mắt, khi Philip lên đến đỉnh đồi sau đó. Ngôi nhà thờ đồ sộ với nhiều mái vòm tròn, với các cửa sổ nhỏ và thấp nổi lên giữa vùng xung quanh, cũng giống như tu viện trội hẳn lên trong làng. Mặt tiền phía tây của nhà thờ, đối diện với Philip, có hai tháp đôi, một cái đã bị đổ do sấm chớp cách đây bốn năm. Nó chưa được xây lại và nó làm cho mặt tiền của nhà thờ trở nên thảm hại. Mỗi lần đến đây, Philip đều tức giận về quang cảnh này, vì đối với ông đống gạch vụn trước cổng luôn luôn là một nhắc nhớ đáng xấu hổ về sự suy sụp luân lý của tu viện Kingsbridge.

Các tòa nhà tu viện đều làm bằng đá vôi trắng, đứng thành từng nhóm xung quanh ngôi nhà thờ, giống như những kẻ âm mưu xung quanh ngôi vua. Bên ngoài bức tường thấp bao quanh tu viện có những túp lều bằng rơm và đất sét. Những nông dân canh tác trong vùng xung quanh cũng như những nhân công trong tu viện sinh sống ở đây. Một con sông nhỏ chẩy vội qua góc tây nam ngôi làng, cung cấp nước sạch cho tu viện. Một cây cầu bằng gỗ cũ kỹ bắc ngang con sông. Khi Philip đến đó, ông cảm thấy tức giận cáu kỉnh. Tu viện Kingsbridge là một sự xấu hổ cho giáo hội của Chúa và cho các tu viện, nhưng Philip không thể làm gì chống lại nó. Sự tức giận hòa lẫn với sự bất lực trở nên chua chát trong lòng ông.

Cây cầu thuộc quyền sở hữu của tu viện và tu viện thu thuế cầu. Vừa khi cây cầu kêu cọt kẹt dưới sức nặng của philip và con ngựa, môt tu sĩ già xuất hiện bên kia cầu và đi ra mở chiếc rào cản. Ông nhận ra Philip và vẫy tay. Philip nhận ra ông đi khập khiễng và nói: “Thầy Paul, chân anh bị làm sao thế?”

“Chỉ là một vết da nứt. Mùa xuân đến nó sẽ hết.”

Phlip nhìn thấy ông chỉ có đôi dép. Paul là một con chim già chịu khó, nhưng ông đã quá lớn tuổi để ở cả ngày bên ngoài trời trong thời tiết này. “Anh cần một lò sưởi,” Philip nói.

“Điều đó sẽ là một phúc lành,” Paul nói. “Nhưng cha Remigius nói rằng tiền cho lò sưởi sẽ tốn hơn tiền thu nhập của thuế cầu.”

“Anh thu bao nhiêu?”

“Một xu cho ngựa, và một xu nữa cho người.”

“Có nhiều người đi qua cầu không?”

“Vâng, có rất nhiều.”

“Vậy tại sao chúng ta không thể có một lò sưởi?”

“Dạ, các tu sĩ không phải trả, dĩ nhiên, ngoài ra những người phục vụ trong tu viện cũng như dân làng cũng không phải trả. Chỉ vài ba ngày mới có một hiệp sĩ hoặc một thợ hàn đi qua. Ngoài ra vào các ngày lễ lớn, khi mọi người trong vùng kéo nhau về dự lễ trong nhà thờ chính tòa, khi đó chúng ta thu được nhiều tiền thuế cầu.”

“Như vậy chúng ta chỉ nên thu tiền cầu trong ngày lễ lớn, và cho anh một lò sưởi,” Philip nói.

Paul nhìn Philip lo sợ. “Xin anh đừng nói gì với Remigius. Nếu không, ông ấy nghĩ tôi không hài lòng với công việc.”

“Đừng sợ,” Philip nói. Ông thúc cho ngựa đi vào để Paul không nhìn được biểu hiện trên gương mặt ông. Hành động ngu dốt nầy làm ông tức giận. Paul đã dành cả đời phục vụ Thiên Chúa và tu viện, và bây giờ, vào cuối đời ông phải đau khổ và lạnh lẽo chỉ để thu một hoặc hai tiền thuế cầu mỗi ngày. Đó không chỉ là tàn nhẫn mà còn là lãng phí, bởi vì một người lớn tuổi kiên nhẫn như Paul có thể giao cho những công việc hữu dụng khác – giả sử như nuôi gà – nó sẽ đem lại nhiều lợi nhuận cho tu viện hơn là thu thuế cầu. Nhưng tu viện trưởng lại quá già và thờ ơ, còn đối với tu viện phó Remingus chắc cũng như vậy. Đó là một tội nặng, Philip cay đắng nghĩ, khi phí phạm giá trị con người và vật chất mà Thiên Chúa đã yêu thương ban tặng.

Trong tâm trạng không thể khoan nhượng, ông thúc ngựa qua khoảng trống giữa các căn chòi đến thẳng cổng tu viện. Khuôn viên tu viện là một hình vuông, ở giữa là nhà thờ chính tòa. Tất cả những tòa nhà phía bắc và tây của nhà thờ dùng cho mục đích công cộng, thực tế và thế tục; trong khi các tòa nhà phía nam và đông dành riêng cho tu viện, tinh thần và thánh thiện.

Vì thế lối vào sân tu viện nằm ở góc tây bắc. Cổng tu viện mở và người tu sĩ trẻ trong phòng gác vẫy Philip. Ngay đàng sau cổng, bên cạnh bức tường phía tây là chuồng xúc vật, một công trình bằng gỗ, nhìn còn chắc chắn hơn là nhà ở của những người dân phía bên kia bức tường. Hai đứa trẻ ngồi trên đống rơm. Chúng không là tu sĩ, mà chỉ là nhân viên trong tu viện. Khi Philip và con ngựa đi vào, chúng miễn cưỡng đứng lên, rõ ràng không hài lòng vì người khách đến tạo thêm công việc cho chúng. Mùi hôi thối xông lên mũi Philip. Ông nhận ra chuồng ngựa từ ba bốn tuần lễ rồi chưa được quét phân. Với sự tức giận sẵn có, ông không thể bỏ qua sự lơi là của chúng. Khi ông giao dây cương ngựa, ông nói: “Trước khi các anh cột ngựa của tôi, các anh hãy dọn sạch chuồng ngựa và trải rơm mới. Sau đó dọn các chuồng ngựa khác. Nếu rơm luôn luôn ướt, móng ngựa sẽ bị thối. Các anh không có quá nhiều việc đến nỗi không thể dọn sạch chuồng được.” Cả hai trông ủ rũ, vì thế ông nói thêm: “Hãy làm như tôi nói, hoặc các anh sẽ mất ngày lương vì tội lười biếng.” Ông định đi nhưng rồi ông chợt nhớ ra điều gì. “Trong túi tôi có pho mát. Hãy đem nó xuống nhà bếp cho thầy Milius.”

Ông đi ra mà không đợi câu trả lời. Sáu mươi nhân công phục vụ cho bốn mươi lăm tu sĩ trong tu viện, đó là một dư thừa đáng xấu hổ trong đôi mắt của Philip. Những công nhân không có đủ việc làm thường dễ trở nên lười biếng đến nỗi họ còn chểnh mảng ngay cả công việc ít ỏi được giao cho họ; điều đó rõ ràng nơi hai đứa trẻ chăm sóc chuồng ngựa. Đó là những điển hình về sự lơi là của Tu viện trưởng James.

Philip đi theo bức tường phía tây, qua nhà khách, tò mò xem ngoài ông còn có người khách nào không. Nhưng căn phòng rộng lạnh lẽo và hoang vắng; trước thềm là một đống lá rụng do gió thổi xô vào từ mùa thu trước. Ông rẽ trái, đi qua sân vườn có cỏ mọc thưa thớt ngăn cách nhà khách và nhà thờ, vì trong nhà khách có cả những người ít sùng đạo cũng như phụ nữ tá túc. Ông đến mặt tiền phía tây nhà thờ, nơi có cổng cho mọi người ra vào. Đống gạch vụn của tháp chuông bị đổ vẫn nằm đó, nơi nó rơi xuống, thành một đống cao hơn đầu người.

Giống như các nhà thờ khác, nhà thờ Kingsbridge có hình dạng một cây thánh giá. Hướng tây mở vào gian giữa, tương tự như chiều đứng của cây thánh giá. Từ giữa gian cung thánh trổ ra hai phía bắc và nam, tương tự như hai cánh cây thánh giá. Đàng sau bàn thờ, phía đông của nhà thờ được dành cho các tu sĩ. Phía cuối cùng là ngôi mộ của Thánh Adolphus, nơi có rất nhiều khách hành hương đến kính viếng.

Philip bước vào gian giữa nhà thờ và nhìn xuống những mái vòm tròn và các hàng cột uy nghi hai bên. Khung cảnh càng đè nặng tâm trạng ông. Đó là một tòa nhà ẩm thấp và tối tăm; và tình trạng của nó lại tồi tệ thêm kể từ lần ông viếng thăm lần trước. Những cánh cửa sổ trong hai gian bên thấp, giống như đường hầm hẹp trong bức tường dầy. Sát trên mái nhà, ánh sáng xuyên qua những cánh cửa sổ to soi tỏ bức tranh trên trần, để thấy rõ chúng bị mờ xấu như thế nào. Hình các tông đồ và các thánh chỉ còn là bóng mờ. Mặc dù gió lạnh thổi vào – bởi vì các cửa sổ không có kính - một mùi ẩm thấp của quần áo thoang thoảng trong không khí. Từ phía kia của nhà thờ, nơi đang có một thánh lễ, vang vọng lời ca phụng vụ bằng tiếng Latin. Philip đi xuống gian giữa. Nền nhà chưa bao giờ được lót gạch, trong những góc, nơi chưa có guốc của nông dân và dép của các tu sĩ đặt đến, nó đã mọc rêu. Những vòng xoắn khắc vào hàng cột lớn, cũng như đường liên đới giữa các vòm ngày xưa được trang trí và mạ vàng. Chỗ này chỗ kia còn sót lại nét vàng mỏng, dấu vết của những bức tranh cũ. Vôi vữa giữa những viên đá đã mục nát và rơi xuống, chất thành từng đống dưới chân tường. Philip cảm thấy cơn giận của mình lại sôi lên. Các khách thăm viếng ngôi nhà thờ này phải được chiêm ngắm vẻ huy hoàng của Đấng Toàn năng. Nông dân là những người bình dị, họ phán đoán mọi sự qua những gì họ nhìn thấy. Khi thấy ngôi nhà thờ này, có lẽ họ sẽ nghĩ Thiên Chúa là đấng bất cẩn, thờ ơ, một Đấng không có khả năng nhận ra tội lỗi của họ và không biết đánh giá sự thờ phượng của họ. Và chính những người nông dân này là những người đóng góp sức lực và mồ hôi cho ngôi nhà thờ nhiều nhất. Đó là một sự xúc phạm khi đền đáp họ bằng ngôi mộ đổ nát này.

Philip quỳ gối xuống trước bàn thờ một lúc lâu, ý thức rằng ngay cả sự giận dữ đúng đắn cũng không phù hợ với tâm trí của người cầu nguyện. Khi cơn giận đã giảm, ông đứng lên và tiếp tục đi.

Gian ngang phía đông của nhà thờ được chia làm hai. Phía trước là những hàng ghế bằng gỗ, nơi dành riêng cho giờ kinh của các tu sĩ. Phía sau là mộ thánh. Philip đi xung quanh bàn thờ. Ông muuốn tìm một chỗ trong khu dành cho các tu sĩ, nhưng ông phải dừng lại vì một quan tài ngăn lối ông đi.

Ông thật sự ngạc nhiên. Không ai thông báo cho ông về cái chết của một tu sĩ nào – nhưng thực ra từ khi đến đây ông chỉ nói chuyện với ba người: với thầy Paul già, người không còn minh mẫn, và với hai đứa trẻ trong chuồng ngựa mà ông cũng chẳng cho họ điều kiện để chuyện trò. Ông bước đến gần quan tài xem ai là người đã qua đời. Ông nhìn vào bên trong, tim ông lỡ một nhịp.

Đó là Tu viện trưởng James.

Philip đứng há hốc miệng. Bây giờ mọi chuyện sẽ đổi khác, sẽ có một tu viện trưởng mới, sẽ có một hy vọng mới.

Niềm phấn khởi thầm kín là một phản ứng không thể chấp nhận được đối với cái chết của một người anh đáng kính, ngay cả mặc dù ông đã có những sai lầm nào đi nữa. Philip tập trung nét mặt và tâm trí cho phù hợp với bối cảnh tang thương. Ông quan sát người qua đời. Vị tu viện trưởng có mái tóc bạc, khuôn mặt gầy và lưng gù. Bây giờ nét mệt mỏi triền miên biến mất, và thay vì lo âu và thất vọng, dường như ông đang có sự bình yên. Khi Philip quỳ bên cạnh quan tài, ông tự hỏi không biết người đàn ông lớn tuổi này đã phải chịu đau khổ về vấn đề gì trong những năm cuối đời: một tội chưa xưng ra, hối tiếc một phụ nữ hay sai lầm với một người vô tội. Bất cứ chuyện gì đã xẩy ra, ông sẽ không nói bây giờ, nhưng trong ngày phán xét.

Mặc dù cố tập trung, Philip vẫn không khỏi nghĩ về tương lai. Tu viện trưởng James, một người thiếu quyết đoán, sợ sệt và nhu nhược đã để tu viện xuống dốc. Bây giờ cần một người mới, một người đem các nhân viên lười biếng vào kỷ luật, xây dựng lại tháp chuông nhà thờ đã đổ nát, biết sử dụng tài nguyên phong phú, tạo cho tu viện một sức mạnh về đạo đức. Philip quá háo hức để có thể ngồi yên. Ông đứng lên, đi với tâm hồn nhẹ nhàng mới về hướng các tu sĩ đang hát kinh và tìm một chỗ trống ở hàng ghế sau cùng.

Andrew thành Newyork, người phụ trách phụng vụ, đang chủ sự nghi thức. Ông là một người nóng tính, mặt đỏ. Ông thuộc thành phần lãnh đạo của tu viện, lo về hành chính. Trách nhiệm của ông bao gồm mọi việc thánh: tổ chức thánh lễ, sách lễ, di tích thánh, áo lễ và đồ trang trí trong nhà thờ, đặc biệt là về việc trùng tu nhà thờ. Dưới quyền ông là người phụ trách thánh ca, và một thủ kho để chăm sóc chén thánh và chân nến bằng vàng bạc và các đồ thánh khác. Không ai có thẩm quyền trên người phụ trách phụng vụ, ngoài tu viện trưởng và tu viện phó Remigius mà Andrew rất thân.

Andrew đọc thánh vịnh với giọng bình thường như mọi ngày. Tâm trạng Philip bấn loạn, một lúc sau ông nhận ra rằng nghi thức không đúng như quy định. Một nhóm tu sĩ trẻ ồn ào, nói chuyện và cười đùa. Philip nhận ra họ đang trêu chọc vị giáo tập già, người đang ngủ gật. Các tu sĩ trẻ - hầu hết đã là tập sinh của vị giáo tập già này – chắc vẫn còn nhớ bàn tay cứng rắn đã dẫn dắt họ. Họ ném những viên đất bẩn về phía ông. Mỗi lần, khi viên đất trúng ông, ông giật mình, quay người lại, nhưng không thức giấc. Hình như Andrew không biết gì. Philip nhìn sang vị tu sĩ chịu trách nhiệm về trật tự. Ông ngồi ở dẫy ghế bên kia và đang nói chuyện với một tu sĩ khác. Ông không quan tâm đến nghi lễ, cũng như thái độ của các tu sĩ trẻ khác.

Philip quan sát một lúc lâu, mặc dù ông không còn có thể kiên nhẫn nữa. Người cầm đầu đám tu sĩ trẻ phá rối là một chàng đẹp trai, khoảng hai mươi mốt tuổi, có một nụ cười tinh quái. Philip thấy cậu lấy đầu lưỡi dao ăn hơ trên ngọn nến, rồi lấy sáp nến bắn lên đầu hói của vị giáo tập. Sáp nóng trúng đầu làm ông tỉnh dậy, kêu lên. Các tu sĩ trẻ phá lên cười.

Philip thở dài đứng lên. Ông đến sau lưng chàng cầm đầu, nắm tai chàng và kéo chàng ra ngoài. Andrew ngước lên khỏi sách lễ, cau mày nhìn Philip khi họ đi ra: ông không biết gì về những gì vừa xẩy ra.

Xa khỏi tầm nghe của các tu sĩ khác, Philip ngừng lại, bỏ tai cậu ra và nói: “Em tên gì?”

“William  Beavis.”

“Ma quỷ nào xúi dục em trong thánh lễ?”

William nhìn hờn dỗi. “Em đã mệt mỏi với phụng vụ.”

Philip không cảm thông với các tu sĩ hay than phiền. “Mệt mỏi?” ông nói cao giọng hơn. “Hôm nay em đã làm gì?”

William nói ngang ngược. “Kinh đêm và kinh sớm, rồi kinh sáng trước bữa điểm tâm, rồi kinh giờ ba, thánh lễ, học hành và bây giờ lễ trọng.”

“Em đã ăn gì chưa?”

“Có, ăn điểm tâm rồi.”

“Và bây giờ em muốn ăn trưa?”

“Vâng.”

“Hầu hết những người bằng tuổi em phải làm việc đổ mồ hôi từ sáng sớm đến lúc mặt trời lặn trên cánh đồng, để có được bữa ăn sáng và bữa trưa… Và bên cạnh đó luôn dành một chút bánh của họ cho em. Em có biết tại sao họ làm thế không?”

“Dạ biết,” William nói, hai chân đá nhau và nhìn xuống đất.

“Tại sao?”

“Họ làm như thế vì họ muốn các tu sĩ cầu nguyện cho họ.”

“Đúng. Cơm bánh, thịt, nhà ngủ làm bằng đá được sưởi ấm bằng lửa trong mùa đông là công lao của những nông dân. Và em mệt mỏi đến nỗi không thể ngồi yên được cho họ trong thánh lễ.”

“Em xin lỗi.”

Philip quan sát kỹ William. Cậu không phải là chàng trai tệ. Lỗi lớn nhất là ở cấp trên của cậu, những người lỏng lẻo để cho chuyện đùa giỡn xẩy ra trong nhà thờ. Philip nói nhỏ nhẹ: “Nếu việc phụng vụ làm cho em mệt mỏi, tại sao em lại muốn thành tu sĩ?”

“Em là con trai thứ năm.”

Philip gật đầu. “Và khi tu viện nhận em, bố em đã tặng tu viện một miếng đất?”

“Vâng, một trang trại.”

Đó là câu chuyện thường xẩy ra: Một người có quá nhiều con trai, họ sẽ dâng một đứa con cho Chúa. Để Chúa không thể từ chối, họ dâng một tài sản để nâng đỡ con trong tu viện nghèo. Bằng cách đó nhiều người trẻ, vì họ không có ơn gọi, trở thành tu sĩ không vâng lời.

Philip nói: “Giả sử em được chuyển đến một trang trại, hay đến tu viện nhỏ của anh trong rừng, nơi mà giờ làm việc ngoài đồng nhiều hơn là giờ cầu nguyện, em có nghĩ là như thế em dễ dàng tham dự giờ kinh một cách trang nghiêm và đạo đức hơn không?”

Nét mặt William rạng rỡ ra. “Vâng, em nghĩ như vậy.”

“Anh cũng nghĩ như vậy. Anh sẽ xem có cách nào không. Nhưng đừng hy vọng quá, chúng ta phải chờ cho đến khi có một bề trên mới và xin ông chuyển em.”

“Tuy nhiên, cảm ơn anh.”

Giờ lễ chấm dứt, và các tu sĩ rời khỏi nhà thờ theo hàng ngũ. Philip đưa một ngón tay lên miệng, ra dấu chấm dứt cuộc nói chuyện. Khi các tu sĩ đi ngang qua, Philip và William đi vào hàng, theo họ ra ngoài vào dẫy hành lang tiếp giáp với phía nam của gian giữa nhà thờ và vào tu viện. Ở đó cuộc rước chấm dứt. Philip muốn đi về phía nhà bếp, nhưng bất ngờ gặp ngay vị phụ trách phụng vụ đứng trước mặt ông, chân dang rộng, bàn tay chống nạnh, ông nói: “Anh Philip.”

“Anh Andrew,” Philip nói, thắc mắc không biết ông ấy có ý định gì.

“Tại sao anh lại quấy rầy buổi lễ của tôi?”

Philip rất kinh ngạc. “Quấy rầy buổi lễ?” ông lập lại vì không tin vào tai mình. “Một tu sĩ trẻ đã không có thái độ đứng đắn. Cậu ấy…”

“Tôi có khả năng đối phó với các hành vi sai trái trong buổi lễ của tôi.” Andrew cao giọng nói. Các tu sĩ đang chuẩn bị giải tán, đứng nán lại, xem những gì xẩy ra.

Philip không thể hiểu được sự tức giận của ông ấy. Các tu sĩ trẻ và các tập sinh thường được các tu sĩ lớn tuổi nhắc bảo và chỉnh đốn lại trong giờ kinh, và không có luật nào nói rằng nhiệm vụ này chỉ dành riêng cho người phụ trách phụng vụ. Philip nói: “Nhưng anh không biết chuyện gì xẩy ra.”

“Hay có thể tôi thấy, nhưng tôi quyết định sẽ xử lý sau.”

Philip chắc chắn ông không thấy gì. “Anh đã thấy gì?” Philip thách đố.

“Đừng điều tra tôi!” Andrew hét lớn. Mặt đỏ của ông thành tím ngắt. “Anh là bề trên của một tu viện nhỏ trong rừng, nhưng tôi là người phụ trách phụng vụ ở đây từ mười hai năm nay, và tiến hành các giờ lễ trong nhà thờ chính tòa theo ý tôi. Tôi không cần sự giúp đỡ của người lạ chỉ bằng nửa tuổi tôi.”

Philip bắt đầu nghĩ có lẽ ông đã thực sự sai, nếu không tại sao Andrew lại nổi giận như thế? Nhưng quan trọng hơn, một cuộc tranh cãi ngoài hành lang không tốt cho các tu sĩ khác, và nó phải chấm dứt. Cắn răng, Philip nuốt niềm kiêu hãnh xuống, rồi cúi đầu tuân phục: “Tôi nhận lỗi và tôi khiêm nhường xin lỗi anh,” ông nói.

Andrew chuẩn bị cho một cuộc tranh luận lâu hơn, vì thế ông không hài lòng về cuộc rút lui quá sớm của đối phương. “Đừng để chuyện đó xẩy ra một lần nữa,” ông lạnh nhạt nói.

Philip không trả lời. Andrew muốn phải có lời nói sau cùng, vì thế bất cứ lời nói nào của ông cũng tạo nên cơ hội cho một lời đáp trả khác. Ông nhìn xuống đất, cắn lưỡi, trong khi Andrew nhìn ông trừng trừng. Sau cùng người phụ trách phụng vụ bỏ đi, đầu ngẩng cao.

Các tu sĩ khác nhìn Philip. Sự hạ nhục của Andrew làm ông tức giận, nhưng ông chấp nhận nó bởi vì một tu sĩ tự cao là một tu sĩ xấu. Không nói thêm lời nào, ông rời khỏi dẫy hành lang.

Khu nhà của các tu sĩ  nằm ở phía nam tu viện: phòng ngủ ở góc phía đông nam và nhà ăn ở tây nam. Philip đi về hướng tây, ngang qua nhà ăn và ra ngoài sân, từ đó ông có thể nhìn thấy nhà khách và chuồng ngựa. Ở đây trong góc tây nam của sân vườn là sân bếp, bao bọc ba phía là nhà ăn, nhà bếp, lò bánh mì và xưởng bia. Một xe ngựa chở đầy củ cải đứng trong sân đang chờ được rỡ xuống. Philip trèo lên thềm nhà bếp và đi vào.

Bầu khí như dội vào mặt ông. Không khí nặng mùi cá chiên, tiếng nồi chảo va vào nhau và tiếng ra lệnh. Ba đầu bếp mặt đỏ vì nóng và đang vội vàng chuẩn bị cho bữa ăn tối với sự giúp đỡ của sáu hay bẩy người phụ việc trẻ. Hai lò bếp nấu, mỗi cái ở một đầu nhà bếp: ngọn lửa cháy rực, bên trên có hơn hai mươi xiên cá đang được một cậu bé quay. Mùi thơm của cá làm Philip nhỏ nước miếng. Cà rốt được nấu trong nồi sắt lớn treo trên ngọn lửa. Hai thanh niên đang cắt bánh mì trắng thành những miếng dầy lớn. Giám sát sự hỗn loạn này là một tu sĩ: thầy Milius, nhà bếp trưởng, cùng lứa tuổi với Philip. Ông ngồi trên một ghế cao, quan sát các hoạt động xung quanh ông với một nụ cười bình thản như mọi sự đã được tổ chức chu đáo và hoàn hảo dưới con mắt kinh ngiệm của ông. Ông mỉm cười với Philip và nói: “Cảm ơn anh về những pho mát!”

“À, Vâng.” Philip đã quên chuyện đó, nhiều việc đã xẩy ra từ khi ông đến đây. “Nó được làm từ sữa lấy vào buổi sáng – thầy sẽ thấy nó có mùi vị khác.”

“Miệng tôi đã chẩy nước miếng rồi. Nhưng anh trông có vẻ buồn. Có chuyện gì vậy?”

“Không, không có gì cả. Tôi có những lời gay gắt với Andrew.” Philip làm một cử chỉ như muốn xua đuổi câu chuyện đã qua đi. “Tôi có thể lấy một hòn đá nóng trong lò không?”

“Dĩ nhiên.”

Luôn luôn có một vài viên đá trong bếp lửa, sẵn sàng dùng để làm nóng nhanh một ít nước hoặc súp. Philip giải thích: “Thầy Paul, phục vụ trên cầu, có một vết da nứt, nhưng Remigius không cho thầy lò sưởi.” Ông dùng cái cặp dài và lấy ra một hòn đá nóng từ trong lò ra.

Milius mở tủ lấy ra một mảnh da cũ. “Đây, bọc nó trong này.”

“Cảm ơn.” Philip đặt viên đá vào giữa miếng da cũ rồi gấp các góc lại cẩn thận.

“Nhanh lên,” Miliius nói. “Sắp đến giờ ăn rồi.”

Philip rời nhà bếp. Ông đi qua sân bếp, ra đến cổng. Phía tay trái, bên trong bức tường phía tây, là nhà máy xay. Một kênh phía trên tu viện đã được đào từ nhiều năm trước để dẫn nước từ sông vào hồ nhà máy xay. Sau khi làm cho các bánh xe của nhà máy xay quay, nước chảy trong một kênh ngầm đến nhà máy bia, nhà bếp, giếng nước trong sân tu viện, nơi các tu sĩ rửa tay trước bữa ăn, và sau cùng là nhà vệ sinh bên cạnh khu phòng ngủ, sau đó nước quay về hướng nam và nhập lại vào dòng sông. Một trong những tu viện trưởng ban đầu đã có một kế hoạch thông minh.

Có một đống rơm bẩn bên ngoài chuồng, Philip nhận ra hai đứa trẻ đã theo lệnh ông và dọn chuồng. Ông ra khỏi cổng, đi qua làng về phía chiếc cầu.

Điều tôi quở trách William Beavis có đúng không? Ông tự hỏi khi ông đi ngang căn lều. Ông nghĩ đúng. Ngược lại, ông sẽ sai nếu ông làm ngơ trước những quấy rầy như vậy trong giờ kinh phụng vụ.

Ông đến cây cầu và cúi nhìn vào nơi trú ẩn của Paul. “Hãy sưởi ấm chân anh,” ông nói và đưa viên đá nóng bọc trong da. “Khi nó nguội hơn, hãy bỏ miếng da và đặt chân anh trực tiếp lên hòn đá. Nó sẽ ấm đến nửa đêm.”

Thầy Paul cảm động biết ơn. Ông bỏ dép và đặt ngay chân mình lên. “Tôi có thể cảm thấy bớt đau ngay,” ông nói.

“Nếu anh đặt hòn đá vào bếp lửa tối nay, sáng mai nó lại nóng ngay,”  Philip nói.

“Thầy Milius không chống lại chứ?” Paul lo lắng hỏi.

“Tôi bảo đảm chuyện này.”

“Anh thật tốt với tôi, anh Philip à.”

“Không có gì.” Philip bỏ đi trước khi Paul trở nên lúng túng vì biết ơn. Nó chỉ là một hòn đá nóng.

Ông trở về tu viện. Ông vào lại trong sân và rửa tay ở một bồn rửa bằng đá nơi bức tường phía nam, rồi bước vào phòng ăn. Trên bục, một tu sĩ đang đọc to. Bữa ăn theo quy luật, ngoài trừ việc đọc sách, phải giữ im lặng. Nhưng người ta vẫn nghe thấy không những tiếng nhai ăn của hơn bốn mươi tu sĩ mà còn nghe thấy tiếng thì thầm. Philip ngồi vào chỗ trống bên chiếc bàn dài. Tu sĩ bên cạnh ông đang ăn ngon. Ông bắt gặp ánh mắt Philip và thì thầm: “Hôm nay có cá tươi!”

Philip gật đầu. Ông đã nhìn thấy nó trong bếp. Dạ dầy của ông cồn cào.

Vị tu sĩ nói: “Chúng tôi nghe nói anh có cá tươi mỗi ngày trong tu viện của anh ở trong rừng.” Giọng ông có pha lẫn ghen tị.

Philip lắc đầu. “Những ngày khác chúng tôi có thịt gia cầm,” ông thì thầm.

Vị tu sĩ như có vẻ ghen tị hơn. “Ở đây chỉ có cá muối, sáu lần trong tuần.”

Một người phục vụ mang đến trước mặt Philip một miếng bánh mì lớn và một con cá thơm mùi gia vị của Milius. Philip chẩy nước miếng. Khi ông vừa lấy con dao định cắt cá, một tu sĩ ở đầu bàn đứng lên, chỉ vào ông. Đó là người giữ trật tự hay giám thị. Philip nghĩ, không biết lại chuyện gì đây?

Vị giám thị phá luật im lặng, ông có quyền đó. “Anh Philip!”

Các tu sĩ khác ngừng ăn và căn phòng chìm trong yên lặng.

Philip ngừng con dao trên con cá và nhìn lên chờ đợi.

Vị giám thị nói: “Quy luật là: người đến trễ không được ăn.”

Philip thở dài. Dường như hôm nay ông luôn luôn làm sai. Ông cất con dao, trao lát bánh và con cá lại cho người phục vụ và cúi đầu nghe đọc sách.

Trong lúc rảnh sau bữa ăn tối, ông đến nhà kho dưới nhà bếp để nói chuyện với Cuthbert Whitehead, quản lý tu viện.  Nhà kho là một hang lớn tối, với cột to thấp và cửa sổ nhỏ. Không khí khô và đầy mùi: hoa bia và mật ong, táo cũ và gia vị khô, pho mát và dấm. Thầy Cuthberth luôn có mặt ở đây, vì công việc đa dạng không cho phép ông tham dự nhiều giờ kinh phụng vụ. Điều đó cũng phù hợp với ông: ông rất thông minh, đôi chân đứng trên mặt đất và không còn nhiều giờ cho đời sống tinh thần. Là người quản lý, ông trách nhiệm cho các nhu cầu vật chất, khác với người phụ trách phụng vụ: Cuthbert cung cấp cho mọi nhu cầu thực tế của các tu sĩ, thu thập sản phẩm của trang trại trong tu viện và đem ra chợ, cũng như mua những gì mà các tu sĩ và công nhân không sản xuất được. Công việc đòi hỏi tài tổ chức và sự tính toán cẩn thận. Cuthbert không làm việc một mình: Milius, nhà bếp trưởng, chịu trách nhiệm về các bữa ăn hàng ngày và còn có một người lo về quần áo cho các tu sĩ. Cả hai ở dưới sự kiểm soát của Cuthbert. Ngoài ra còn có ba người dưới quyền ông, tuy vẫn có một sự độc lập nhất định: người lo phòng khách, người lo cho các tu sĩ già, bệnh tật trong khu nhà bên cạnh và người lo về bác ái. Mặc dù ông có nhiều người cộng tác, nhưng nhiệm vụ của ông thật lớn. Ông giữ các con số và dữ kiện trong đầu, lập luận rằng giấy mực là một sự phí phạm. Philip nghi ngờ rằng Cuthberth chưa biết đọc và biết viết. Người ta đặt tên cho ông là “Đầu trắng” vì do thời còn trẻ ông đã có tóc bạc. Bây giờ ông đã sáu mươi, những sợi tóc còn lại mọc ra từ tai và lỗ mũi của ông như thể nó muốn đua với cái đầu hói của ông. Philip, cũng là quản lý khi còn ở Wales, thông cảm với sự lo lắng và tính cáu kỉnh của ông. Vì thế Cuthberth rất thích Philip. Bây giờ biết rằng Philip đã bỏ lỡ bữa ăn tối, Cuthberth lấy ra từ thùng nửa tá lê. Chúng đã teo lại, nhưng còn ngon và Philip ăn nó với lòng biết ơn, trong khi Cuthberth càu nhàu về tài chính của tu viện.

“Tôi không thể hiểu tại sao một tu viện lại có thể ở trong tình trạng nợ nần,” Philip nói, miệng đầy trái cây.

“Tu viện không nên nợ,” Cuthberth nói. “Tu viện có nhiều đất và thu nhiều tiền thuế từ các nhà xứ hơn bao giờ hết.”

“Vậy tại sao chúng ta không giầu?”

“Anh biết hệ thống của chúng ta ở đây – tài sản của tu viện được chia cho các lãnh vực. Người phụ trách phụng vụ có đất của ông ấy, tôi có đất của tôi, phần nhỏ hơn cho cha giáo tập, cho người phụ trách nhà khách, cho người lo về y tế và bác ái. Phần còn lại dành cho tu viện. Mỗi người dùng tài sản của mình để chu toàn trách vụ của mình.

“Có gì sai trong cách tổ chức đó?”

“Vâng, tất cả tài sản này phải được chăm nom! Thí dụ như giả sử chúng ta có mảnh đất cho thuê bằng tiền mặt, chúng ta không nên trao nó cho người trả giá cao nhất rồi ngồi chờ thu tiền. Chúng ta phải tìm ra người thuê tốt và giám sát để họ làm tốt công việc; nếu không cánh đồng sẽ úng nước, đất trở thành chai cứng, và khi người thuê không có khả năng trả tiền thuê, họ sẽ trả lại đất cho chúng ta trong tình trạng tồi tệ. Hay lấy thí dụ một trang trại được chăm sóc bởi nhân viên của chúng ta và quản lý bởi các tu sĩ: nếu chỉ đến lấy các sản phẩm mà không có người thường xuyên đến theo dõi thì các tu sĩ trở thành biếng nhác và đồi trụy, nhân viên sẽ ăn cắp các loại cây trồng, và trang trại càng ngày càng sản xuất ít hơn. Ngay cả một nhà thờ cũng cần được chăm sóc. Chúng ta không nên chỉ nghĩ đến lấy tiền thuế. Chúng ta phải đặt các nhà thờ trong tay những linh mục tốt, biết tiếng Latin và có một đời sống thánh thiện. Nếu không mọi người rơi vào tình trạng không có Chúa. Họ kết hôn, sinh con và chết mà không có lời chúc phúc của giáo hội, và họ sẽ lừa dối chúng ta khi khai thuế.

“ Những người có trách nhiệm trong tu viện nên quản lý tài sản một cách cẩn thận,” Philip nói, khi ông ăn quả lê cuối cùng.

Cuthberth rót một chén rượu từ vại và đưa cho Philip. “Họ nên làm như vậy, nhưng họ có nhiều chuyện khác trong đầu. Tuy nhiên, cha giáo tập biết gì về việc đồng áng? Tại sao người phụ trách về y tế lại phải có khả năng quản lý đất đai? Tuy vậy, một tu viện trưởng cứng rắn sẽ đòi hỏi họ phải biết sử dụng hết khả năng của họ, dĩ nhiên tới một mức độ nào đó. Nhưng chúng ta có một tu viện trưởng yếu đuối từ ba mươi năm nay, và bây giờ chúng ta không có tiền để sửa sang nhà thờ chính tòa, chúng ta phải ăn cá muối sáu ngày trong tuần, và không có tập sinh nào cũng như không có khách nào đến nhà khách.”

Philip nhấp rượu nho trong yên lặng ảm đạm. Ông thấy quá khó để suy nghĩ một cách lạnh lùng về sự phung phí kinh khủng tài sản này của Thiên Chúa. Ông muốn tóm lấy những người có trách nhiệm và lay cho đến khi họ tỉnh thức. Nhưng trong trường hợp này, người có trách nhiệm nằm trong quan tài, phía sau bàn thờ. Ở đó ít nhất le lói một niềm hy vọng. “Chẳng bao lâu chúng ta sẽ có một tu viện trưởng mới,” Philip nói. “Ông ấy sẽ đưa tất cả vào trật tự.”

Cuthberth nhìn ông bằng một cái nhìn đặc biệt.

“Remigius? Ông ấy sẽ đưa mọi việc vào trật tự ư?”

Philip không chắc chắn về những gì Cuthberth nói. “Remigius sẽ không phải là tu viện trưởng mới, phải không?”

“Có thể ông ấy sẽ là.”

Philip mất tinh thần. “Nhưng ông ấy không khá hơn Tu viện trưởng James. Tại sao anh em lại bỏ phiếu cho ông ấy?”

“Vâng, họ nghi ngờ người lạ, vì thế họ sẽ không bỏ phiếu cho người họ không biết. Điều đó có nghĩa là một trong chúng ta sẽ được bầu. Và Remigius là tu viện phó, người cao cấp nhất trong số chúng ta ở đây.”

“Nhưng không có luật lệ nào quy định chúng ta phải bỏ phiếu cho người cao cấp nhất,” Philip chống lại. “Nó có thể là một người khác trong ban lãnh đạo. Nó có thể là anh.”

Cuthberth gật đầu. “Tôi đã được hỏi, nhưng tôi từ chối.”

“Tại sao?”

“Tôi đã già, Philip. Công việc tôi đang làm có thể đánh tôi ngã quỵ, nhưng chỉ vì tôi đã quen với nó nên tôi thi hành nó một cách máy móc. Đối với tôi bất cứ một trách nhiệm nào thêm cũng là quá nhiều. Tôi không có sức để lãnh đạo một tu viện xuống dốc về kinh tế và cải cách nó. Thực tế, tôi không khá hơn Remigius.”

Philip vẫn chưa có thể tin được điều đó. “Còn những người khác: người phụ trách phụng vụ, người giám thị, cha giáo tập…”

“Cha giáo tập đã già và còn mệt mỏi hơn tôi. Người phụ trách nhà khách là người say mê ăn uống và rượu chè. Và người phụ trách phụng vụ cũng như người giám thị đã cam kết bỏ phiếu cho Remigius. Tại sao? Tôi không biết, nhưng tôi đoán là Remigius hứa cho người phụ trách phụng vụ làm tu viện phó và người giám thị lên chức phụ trách phụng vụ, như một phần thưởng cho sự hỗ trợ của họ.”

Philip ngồi bệt xuống bao bột trên nền nhà. “Anh muốn nói rằng Remigius đã chuẩn bị xong cho cuộc bầu cử?”

Cuthberth không trả lời ngay. Ông đứng lên, đi tới hướng khác của nhà kho, nơi ông đã chuẩn bị theo hàng một bồn tắm bằng gỗ đầy lươn sống, một xô nước sạch, và một thùng chứa một phần ba nước muối. “Hãy giúp tôi,” ông nói. Ông lấy ra một con dao. Ông chọn một con lươn từ trong bồn tắm, đập đầu nó xuống sàn đá, sau đó dùng dao rút ruột nó. Ông đưa con lươn, vẫn còn quần quại cho Philip. “Hãy rửa nó trong xô, sau đó thả nó vào thùng,” ông nói. “Cái này sẽ làm giảm sự thèm ăn của chúng ta trong mùa chay.”

Philip rửa con lươn nửa sống nửa chết trong xô nước một cách cẩn thận như ông có thể, rồi thả nó vào trong nước muối.

Cuthberth bắt con lươn khác và nói: “Còn có một người, một ứng viên có thể là một tu viện trưởng cải tổ tốt và chức vụ của người đó hiện nay, mặc dù dưới tu viện phó, nhưng ngang hàng với người phụ trách phụng vụ hay quản lý.”

Philip thả con lươn vào thùng. “Ai vậy?”

“Anh.”

“Tôi?” Philip quá ngạc nhiên, ông thả con lươn trên sàn nhà. Về mặt tổ chức hành chính, ông có chức vụ trong ban lãnh đạo của tu viện, nhưng ông chẳng bao giờ nghĩ ông ngang hàng với người phụ trách phụng vụ hoặc những người khác, bởi vì tất cả đều hơn ông nhiều tuổi. “Tôi còn quá trẻ -”

“Hãy nghĩ về việc đó,” Cuthberth nói. “Anh đã sống cả đời trong tu viện. Anh đã làm quản lý vào lứa tuổi hai mươi mốt. Anh đã làm tu viện trưởng của một tu viện nhỏ từ bốn hay năm năm nay – và anh đã cải tổ nó. Đối với mọi người, rõ ràng là bàn tay Chúa ở trên anh.”

Philip bắt lại được con lươn trốn chạy trên nền nhà và bỏ nó vào thùng nước muối. “Bàn tay Chúa ở với mọi người,” ông nói như đánh lạc hướng. Một phần nào ông choáng váng với đề nghị của Cuthberth. Ông muốn một tu viện trưởng mới đầy năng lực cho Kingsbridge, nhưng ông không nghĩ chính ông sẽ đảm nhiệm chức vụ này. “Đúng, tôi có thể là một tu viện trưởng tốt hơn Remigius,” ông trầm ngâm nói.

Cuthberth trông có vẻ hài lòng. “Nếu anh có lỗi, Philip, đó là sự ngây thơ của anh.”

Philip không nghĩ mình quá ngây thơ. “Ý anh muốn nói gì?”

“Anh không quan tâm đến động cơ thúc đẩy trong con người. Hầu hết chúng ta cũng vậy. Thí dụ như cả tu viện đã giả định anh là một ứng viên và anh đến đây để thu hút phiếu của họ.”

Philip phẫn nộ. “Lý do nào đã khiến họ nghĩ như thế?”

“Hãy thử nhìn vào hành vi của chính anh bằng một cái nhìn của một đầu óc đa nghi: Anh đến đây không hẹn trước. Anh đến đây chỉ vài ngày sau khi Tu viện trưởng James qua đời, như thể có một người thân cận của anh gửi cho anh một thông điệp bí mật.”

“Nhưng làm sao họ có thể tưởng tượng được tôi đã chuẩn bị điều đó?”

“Họ không biết, nhưng họ tin rằng anh thông minh hơn họ.” Cuthberth tiếp tục làm một con lươn khác. “Và hãy nhìn xem thái độ của anh ngày hôm nay. Anh đi vào, ra lệnh dọn chuồng ngựa. Rồi anh xử sự với người phá rối trong thánh lễ. Anh nói về việc thuyên chuyển William Beavis tới nhà khác, khi mọi người đều biết rằng việc thuyên chuyển tu sĩ từ nhà này sang nhà khác là đặc quyền riêng của tu viện trưởng. Anh ngầm chỉ trích Remigius khi lấy một hòn đá nóng cho thầy Paul trên cầu. Và sau cùng anh đem một miếng pho mát thơm ngon cho nhà bếp - và chúng tôi đều có một miếng sau bữa ăn tối – và mặc dù không ai nói pho mát từ đâu đến, nhưng không ai có thể nhầm lẫn được hương vị pho mát từ tu viện St. John trong rừng.

Philip bối rối khi nghĩ rằng hành động của ông đã bị hiểu sai như vậy. “Bất cứ người nào cũng làm như thế.”

“Bất cứ tu sĩ lớn tuổi nào cũng có thể làm một việc. Nhưng không ai khác có thể làm tất cả. Anh đi vào và thay đổi! Anh đã bắt đầu cải cách. Và dĩ nhiên, người thân cận của Remigius đã phản kháng lại. Đó là lý do tại sao người phụ trách phụng vụ đã trách mắng anh trong hành lang tu viện.”

“Thì ra đó là lời giải thích! Tôi tự hỏi chuyện gì đã xẩy ra cho ông ấy.” Philip trầm ngâm khi rửa con lươn. “Và tôi đoán rằng khi người giám thị ra lệnh bắt tôi bỏ bữa ăn, đó cũng là vì cùng một lý do.”

“Chính xác.” Đó là cách hạ anh xuống trước mặt các tu sĩ khác. Tôi nghi ngờ cả hai trường hợp đều phản tác dụng: Cả hai lời khiển trách đều vô lý, tuy nhiên anh đã chấp nhận nó một cách vui vẻ. Thực tế thái độ của anh trông rất thánh thiện.”

“Tôi làm điều đó không vì mục đích gì.”

“Các thánh cũng không. Có tiếng chuông báo hiệu giờ kinh chiều. Tốt hơn anh để những con lươn lại cho tôi. Sau giờ kinh là giờ học, và trong khuôn viên tu viện cho phép thảo luận. Một số anh em muốn nói chuyện với anh.”

“Đừng đi quá xa!” Philip lo âu nói. “Mọi người giả định tôi muốn trở thành tu viện trưởng, không có nghĩa là tôi sẵn sàng ứng cử.” Viễn tượng về một cuộc tranh cử đối với ông là một điều không thoải mái. Ngoài ra ông cũng không chắc chắn với chính mình: Tôi có thực sự sẵn sàng từ bỏ tu viện của tôi trong rừng, một tu viện bây giờ đã vào nề nếp để đánh đổi lấy những vấn đề phức tạp của Kingsbridge không? “Tôi cần thời gian suy nghĩ,” ông năn nỉ.

“Tôi biết,” Cuthberth đứng thẳng lên, nhìn vào mắt Philip. “Khi anh suy nghĩ, làm ơn nhớ đến điều này: Tự hào quá mức là một tội quen thuộc, nhưng một người cũng dễ dàng chống lại ý Chúa qua sự khiêm nhường quá mức.”

Philip gật đầu. “Tôi nhớ. Cảm ơn anh.”

Ông rời khỏi nhà kho và vội vã vào tu viện. Tâm trí ông hỗn loạn khi ông theo các tu sĩ khác vào nhà thờ. Ông nhận ra ông bị cảm kích dữ dội trước viễn tượng có thể trở thành tu viện trưởng của Kingsbridge. Đã nhiều năm qua ông tức giận về cách hoạt động đáng hổ thẹn của tu viện, và bây giờ ông có cơ hội để đem tất cả vào trật tự theo ý mình. Bất ngờ ông không chắc ông có thể làm được việc đó không. Vấn đề không phải là chỉ xem những gì cần phải làm và ra lệnh làm việc đó: Con người phải được thuyết phục, bất động sản phải được quản lý, tiền bạc phải được làm ra. Đó là công việc dành cho một đầu óc khôn ngoan. Và trách nhiệm thật nặng nề!

Như mọi khi, nhà thờ cho ông bình an. Sau hành vi sai trái vào buổi sáng hôm nay, các tu sĩ bây giờ yên lặng và nghiêm trang. Khi ông lắng nghe lời kinh quen thuộc và lập lại đáp ca như ông đã làm nhiều năm nay, ông cảm thấy tâm trí ông rõ ràng hơn.

Tôi có muốn thành tu viện trưởng của Kingsbridge không? ông tự hỏi, và câu trả lời đến ngay lập tức: có! Để ngăn ngừa sự đổ nát của nhà thờ này, để sửa sang và sơn phết lại nó và đổ đầy nó với tiếng ca của hàng trăm tu sĩ và tiếng của hàng ngàn giáo dân cùng đọc lên “Lạy Cha” – Chỉ cho riêng những điều đó, ông muốn nhận trách nhiệm. Rồi còn tài sản của tu viện phải tổ chức và hồi sinh lại, làm cho chúng phát triển và sinh lợi. Ông muốn nhìn thấy từng đám trẻ ngồi học đọc và viết trong góc tu viện. Ông muốn nhà khách đầy ánh sáng và hơi ấm để các bá tước và các giám mục đến thăm và tặng lại tu viện những món quà quý giá. Ông muốn một thư viện có đầy những sách về kiến thức. Vâng, ông muốn trở thành tu viện trưởng của Kingsbridge.

Còn vì lý do nào khác không? Ông tự hỏi. Khi tôi hình dung tôi là một tu viện trưởng, tôi làm những điều này vì vinh danh Thiên Chúa, tôi có một chút tự hào nào trong trái tim tôi không?”

Ồ, có chứ.

Trong bầu khí lạnh và thánh thiện của nhà thờ, ông không thể tự lừa dối mình. Mục đích của ông là làm vinh danh Chúa, nhưng làm vinh danh Philip cũng làm ông thích thú. Ông thích ý tưởng khi ông ra lệnh mà không ai có thể từ chối. Ông tưởng tượng mình đang quyết định và xử án, khuyên bảo và khuyến khích, ban việc đền tội và ân xá như ông cảm thấy phù hợp. Ông tưởng tượng dân chúng nói: “Philip thành Gwynedd đã cải tổ nơi đây. Trước đây nó đáng khiển trách biết bao, nhưng bây giờ hãy nhìn vào nó kìa!”

Nhưng tôi sẽ làm tốt, ông nghĩ. Thiên chúa cho tôi bộ não để quản lý tài sản và khả năng để lãnh đạo các nhóm người. Tôi đã chứng tỏ điều đó khi làm quản lý ở Gwynedd và làm tu viện trưởng ở St.John trong rừng. Và khi tôi điều hành công việc, các tu sĩ được hạnh phúc. Trong tu viện của tôi không có những người già bị nứt chân và những người trẻ không thất vọng vì thiếu việc. Tôi chăm sóc đến mọi người.

Mặt khác, nếu so sánh với tu viện ở Kingsbridge thì cả hai tu viện Gwynedd và St. John trong rừng dễ dàng hơn. Tu viện ở Gwynedd luôn luôn tiến triển tốt. Tu viện chi nhánh trong rừng có vài rắc rối khi ông đảm nhận trách nhiệm, nhưng nó nhỏ bé  và dễ kiểm soát. Cải cách Kingsbridge là một công việc đòi hỏi cả đời người. Phải mất hàng tuần để tìm ra nguồn tài nguyên của nó, thí dụ như bao nhiêu đất, ở đâu và đất để làm gì, đất là rừng hay đồng cỏ hay đồng lúa mì. Phải mất cả năm để có thể kiểm soát tài sản phân tán, để tìm xem điều gì sai và đưa vào trật tự, và để nối kết các phần tử thành một tổng thể. Tất cả những gì Philip đã làm được ở tu viện trong rừng là thúc đẩy cho khoảng chục tu sĩ trẻ chịu khó làm việc ngoài đồng và cầu nguyện nghiêm trang trong nhà thờ.

Đúng rồi, ông thừa nhận, động cơ thúc đẩy tôi không tinh tuyền và khả năng của tôi không chắc chắn. Có lẽ tôi nên từ chối việc đề cử. Ít nhất qua đó tôi tránh được tội háo danh. Nhưng Cuthberth đã nói gì? “Một người cũng dễ dàng chống lại ý Chúa qua sự khiêm hạ quá mức.”

Chúa muốn gì? Sau cùng ông tự hỏi. Chúa có muốn Remigius không? Khả năng của Remigius không bằng tôi và động cơ thúc đẩy ông có lẽ cũng không tinh ròng. Còn có ứng viên khác không? Hiện tại không. Nếu Chúa không tỏ ra một chọn lựa thứ ba, chúng ta phải chọn lựa giữa tôi và Remigius. Rõ ràng rằng Remigius sẽ lãnh đạo tu viện theo cách ông đã lãnh đạo nó khi Tu viện trưởng James bị bệnh. Nợ nần và vô công rỗi việc vẫn tiếp tục, không có biện pháp nào ngăn chặn sự sụp đổ của tu viện. Và tôi? Tôi đầy tự hào và tài năng của tôi cần phải kiểm chứng. Nhưng tôi sẽ cố gắng cải tổ tu viện, và nếu Chúa cho tôi sức mạnh, tôi sẽ thành công.

Được rồi, sau đó ông nói với Chúa khi giờ kinh chấm dứt: Con sẽ nhận lời đề cử và con sẽ chiến đấu với tất cả sức mạnh của con để thắng được cuộc bầu cử; và nếu Chúa không muốn con vì bất cứ lý do nào, Chúa có thể ngăn con lại bằng cách nào Chúa muốn.

Mặc dù Philip đã sống trong tu viện hai mươi hai năm, nhưng ông sống trong thời kỳ lâu dài của các tu viện trưởng, vì thế ông chưa trải qua cuộc bầu cử tu viện trưởng nào. Nó là một biến cố độc đáo trong đời sống tu viện, bởi vì trong việc bỏ phiếu các tu sĩ không phải vâng lời – bất ngờ, mọi người đều bình đẳng.

Đã có một thời, nếu truyền thuyết là sự thật, các tu sĩ bình đẳng trong mọi sự. Một nhóm người quyết định quay lưng lại với thế giới ham muốn xác thịt và xây dựng một nơi thánh trong sa mạc, nơi họ sống cuộc sống thờ phượng Thiên Chúa và tự kềm chế bản thân; và họ chọn lấy một vùng đất cằn cỗi, phá rừng và đắp đầm lầy, rồi họ làm ruộng và cùng nhau xây nhà thờ. Trong thời kỳ này họ thật sự là anh em. Tu viện trưởng, như danh hiệu ngụ ý, chỉ có nghĩa là người đầu tiên trong số anh em ngang hàng, và họ hứa vâng lời quy luật của Thánh Biển Đức, không phải vâng lời ban lãnh đạo. Nhưng tất cả những gì còn lại từ thời dân chủ nguyên thủy đó là cuộc bầu cử tu viện trưởng và viện phụ.

Một vài tu sĩ không biết phải sử dụng quyền bầu cử của họ ra sao. Họ muốn được hướng dẫn phải bỏ phiếu ra sao, hoặc họ muốn trao quyền quyết định cho một ủy ban các tu sĩ già có kinh nghiệm. Một số người khác lạm dụng đặc quyền và trở thành xấc láo; họ đòi hỏi ân huệ cho sự ủng hộ của họ. Hầu hết các tu sĩ lo âu để có một quyết định đúng đắn.

Chiều hôm đó trong tu viện, Philip nói chuyện với hầu hết mọi người, cá nhân hoặc trong nhóm nhỏ. Thẳng thắn ông nói với họ rằng ông muốn lãnh trách nhiệm đó và ông cảm thấy ông có thể làm tốt hơn Remigius vì ông còn trẻ. Ông trả lời câu hỏi của họ, hầu hết là hỏi về đồ ăn và nước uống. Ông chấm dứt mỗi buổi nói chuyện bằng câu nói: “ Nếu mỗi người chúng ta quyết định qua suy tư và cầu nguyện, Thiên Chúa chắc chắn sẽ ban phước cho người được chọn.” Philip biết câu nói này hợp với hoàn cảnh và ông cũng tin điều đó.

“Chúng ta sẽ thắng,” Milius, nhà bếp trưởng, nói vào buổi sáng hôm sau, khi Philip và ông ăn sáng với bánh mì đen và bia.

Philip cắn một miếng lớn và uống một hớp bia để làm bánh mì mềm ra trong miệng.  Milius là một người trẻ, thông minh và sinh động. Ông bảo vệ Cuthberth và hâm mộ Philip. Ông có mái tóc đen thẳng, khuôn mặt nhỏ với các nét đều đặn. Cũng như Cuthberth, ông phục vụ Thiên Chúa qua công việc thực tế hàng ngày và bỏ bê nhiều giờ kinh phụng vụ. Philip hoài nghi về sự lạc quan của ông. “Làm sao anh lại đi đến kết luận như thế?” ông nghi ngờ hỏi lại.

“Tất cả những người về phía Cuthberth đều hỗ trợ anh – thầy phụ trách tài chính, thầy lo về y tế, cha giáo tập và tôi – bởi vì chúng tôi biết anh là người cung cấp giỏi, và đây là một vấn đề lớn của tu viện dưới sự lãnh đạo hiện nay. Rất nhiều tu sĩ bình thường muốn bỏ phiếu cho anh chỉ vì một lý do đơn giản: họ nghĩ anh sẽ lãnh đạo tu viện tốt hơn, và điều đó có nghĩa là đời sống sẽ thoải mái hơn và có thực phẩm tốt hơn.

Philip nhíu mày. “Tôi không muốn lừa dối ai. Ưu tiên của tôi là sửa sang lại nhà thờ và lo cho các giờ kinh phụng vụ được trang nghiêm. Sau đó mới lo đến ăn uống.”

“Cứ như vậy, và họ cũng biết điều đó,” Milius nói với một chút vội vàng. “Đó là lý do tại sao thầy lo nhà khách và một hai anh em khác vẫn còn muốn bỏ phiếu cho Remigius – họ ưa thích một đời sống thoải mái, dưới một ban lãnh đạo yếu nhược. Những người ủng hộ khác của ông ấy là chân tay hoặc những người mong có được những đặc quyền khi ông ấy lãnh đạo – vị phụ trách phụng vụ, cha giám thị, thầy phụ trách kho tàng và một số người khác. Thầy phụ trách thánh ca là bạn của cha phụ trách phụng vụ, nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể thu phục ông ấy về phía chúng ta, đặc biệt nếu anh hứa sẽ chỉ định một người lo về thư viện.

Philip gật đầu. Thầy phụ trách thánh ca lo về âm nhạc, và cảm thấy lo thêm về sách vở là một trách nhiệm quá nặng cho ông. “Đó là một ý tưởng tốt,” Philip nói. “Chúng ta cần một người quản thủ thư viện để xây dựng một bộ sưu tập sách quý giá.”

Milius đứng lên khỏi ghế và mài con dao nhà bếp. Ông có quá nhiều năng lực và phải làm gì với đôi tay của mình, Philip quyết định.

“Có tất cả bốn mươi bốn tu sĩ có quyền bầu cử,” Milius nói. Có tất cả bốn mươi lăm, nhưng một người đã qua đời. “Ước tính tốt nhất của tôi là có mười tám người theo chúng ta và mười người theo Remigius, còn lại mười sáu người chưa quyết định. Chúng ta cần hai mươi ba phiếu cho đủ đa số. Điều đó có nghĩa là anh cần thêm năm phiếu từ những người còn do dự.”

“Cứ như anh nói, nó có vẻ dễ dàng,” Philip nói. “Còn bao lâu nữa sẽ đến cuộc bầu cử?”

“Tôi không thể nói được. Các tu sĩ được quyền xác định ngày bỏ phiếu. Nhưng nếu chúng ta tiến hành nhanh quá, giám mục có thể từ chối công nhận cuộc bầu cử. Và nếu chúng ta chậm quá, ngài có thể ra lệnh triệu tập. Ông ấy cũng có quyền đề cử ứng viên. Cho đến bây giờ ông ấy vẫn chưa biết rằng tu viện trưởng cũ đã qua đời.”

“Như vậy nó có thể kéo dài.”

“Đúng. Và bao lâu chúng ta tin rằng mình đã có thể chiếm được đa số phiếu, anh phải trở về tu viện của anh cho đến khi mọi chuyện trôi qua.”

Philip bất ngờ với đề nghị đó. “Tại sao?”

“Sự quen thuộc tạo ra sự coi thường”. Milius thích thú mài dao. “Hãy tha thứ cho tôi nếu tôi nói một cách thiếu tôn trọng, nhưng chính vì anh đã hỏi tôi. Ở thời điểm này anh có một hào quang. Đặc biệt đối với thế hệ trẻ chúng tôi, anh là người chúng tôi ngưỡng phục. Trong tu viện nhỏ của anh, anh đã làm một phép lạ, cải tổ nó và làm cho nó trở thành độc lập. Anh là một tu sĩ kỷ cương, nhưng cũng lo cho các tu sĩ ăn uống đầy đủ. Anh sinh ra là một nhà lãnh đạo nhưng anh cũng có thể cúi đầu chấp nhận lời khiển trách như một tập sinh trẻ. Anh hiểu Kinh Thánh và anh cũng có thể làm loại pho mát tốt nhất trong vùng.”

“Và anh nói hơi quá!”

“Không nhiều quá!”

“Tôi không nghĩ là mọi người lại nghĩ về tôi như vậy – đó là điều không bình thường.”

“Tôi đồng ý với anh điểm đó,” Milius nói với một cái nhún vai. “Và nó sẽ không kéo dài một khi họ biết anh nhiều hơn. Anh sẽ đánh mất hào quang đó, nếu anh ở lại đây. Họ sẽ nhìn thấy anh móc răng và cào mông, họ sẽ nghe thấy anh ngáy và đánh rắm, họ sẽ biết tâm tính của anh, cách anh ứng xử khi anh nóng tính, khi lòng tự ái của anh bị tổn thương hay khi anh đau đầu. Chúng ta không muốn họ biết điều đó. Hãy để họ quan sát lỗi lầm và sự cẩu thả của Remigius từ ngày này qua ngày khác, trong khi hình ảnh của anh vẫn tỏa sáng và hoàn hảo trong mắt họ.”

“Tôi không thích như vậy,” Philip nói bằng giọng lo âu. “Có một cái gì đó dối trá trong đó.”

“Không có gì là không trung thực cả,” Milius chống lại. “Đó là một phản ảnh thực sự anh có thể phục vụ Thiên chúa và tu viện như thế nào nếu anh là tu viện trưởng – và Remigus sẽ lãnh đạo xấu như thế nào.”

Philip lắc đầu. “Tôi không muốn mình được coi là một thiên thần. Nhưng tốt, tôi sẽ không ở lại đây – tôi phải trở về với tu viện trong rừng của tôi. Nhưng chúng ta phải thẳng thắn với anh em. Chúng ta yêu cầu họ chọn ra một người có những sai lầm và không hoàn hảo, một người cần sự giúp đỡ và lời cầu nguyện của họ.”

“Hãy nói với họ như thế!” Milius thích thú nói to. “Điều đó sẽ làm hài lòng họ.”

Ông ấy là người không thay đổi được, Philip nghĩ. Ông đổi đề tài. “Theo anh, những anh em còn do dự thuộc thành phần nào?”

“Họ bảo thủ,” Milius nói không do dự. “Họ nhìn thấy Remigius là một người lớn tuổi, một người chỉ có vài thay đổi nhỏ. Họ có thể dự đoán được những gì sẽ tới và họ đã quen với cách lãnh đạo của ông ấy.”

Philip gật đầu đồng ý. “Và họ nhìn tôi thận trọng, như một con chó lạ có thể cắn.”

Chuông báo hiệu giờ họp. Philip uống nốt bia. “Họ dự định tấn công vào anh, Philip. Tôi không đoán được bằng cách nào, nhưng họ sẽ bêu xấu anh là trẻ trung, thiếu kinh nghiệm, bướng bỉnh và không đáng tin tưởng. Anh phải bình tĩnh, thận trọng và suy nghĩ chín chắn trước khi nói, nhưng hãy để cho tôi và Cuthberth bảo vệ anh.”

Philip bắt đầu thấy sợ hãi. Ông không quen với cách suy nghĩ này, phải cân nhắc từng cử động và tính toán xem người khác giải thích và đánh giá nó ra làm sao. Với một giọng nói không hài lòng, ông nói: “Bình thường, tôi chỉ nghĩ xem Chúa xét xử thái độ của tôi ra sao.”

“Tôi biết, tôi biết,” Milius sốt ruột nói. “Nhưng để giúp người bình thường nhìn thấy hành động của anh trong ánh sáng sự thật thì không phải là một tội.”

Philip nhíu mày. Milius có vẻ có lý.

Họ rời nhà bếp, đi ngang qua nhà ăn tới tu viện. Philip rất lo âu. Tấn công? Một cuộc tấn công nghĩa là làm sao? Có phải họ sẽ nói dối về ông? Ông phải phản kháng thế nào? Nếu người ta nói dối về ông, ông sẽ giận dữ. Ông có nên ngăn chặn sự tức giận của mình để biểu lộ sự bình tĩnh? Nhưng nếu ông xử sự như thế, các anh em khác có thể nghĩ sự bịa đặt là sự thật? Ông quyết định xử sự như ông là, có lẽ chỉ thêm một chút nghiêm trang và uy nghiêm hơn.

Nhà họp là một căn nhà tròn nhỏ bên tường phía đông của tu viện. Các băng ghế được sắp xếp theo vòng tròng quy vào tâm điểm. Nó lạnh vì không có lò sưởi. Ánh sáng đến từ cửa sổ cao nằm ở phía trên tầm mắt, nên không thể nhìn ra ngoài. Trong phòng họp họ chỉ nhìn thấy các tu sĩ khác.

Hầu hết các tu sĩ trong tu viện đã hiện diện. Họ thuộc nhiều lứa tuổi, từ mười bẩy cho đến bẩy mươi; cao và thấp, đen và trắng; tất cả mặc áo choàng giản dị bằng len thô không tẩy trắng và mang dép da. Thầy phụ trách nhà khách đã có mặt ở đó, bụng tròn và cái mũi đỏ của ông tiết lộ tính hư tật xấu của ông, một tật xấu có thể tha thứ được nếu giả sử lâu lâu ông thu được một vài khách, Philip nghĩ. Đó là thầy phụ trách về y phục, người thúc dục các tu sĩ thay áo choàng và cạo râu vào dịp lễ Giáng sinh, cũng như tắm rửa (việc tắm rửa vào dịp lễ này được khuyên nên làm, nhưng không bắt buộc). Dựa vào bức tường xa là một thầy lớn tuổi, chu đáo, trầm tư vẫn còn nhiều tóc đen hơn là trắng, người ít nói, nhưng lời nói của ông có hiệu lực. Ông có thể là một ứng viên tốt cho chức vụ tu viện trưởng, nhưng ông được coi là người khép kín. Đó là thầy Simon với cái nhìn lén lút và bàn tay không ngừng cử động, người mà (như Milius thầm thì vào tai Philip) quá thường xưng tội về tội thiếu khiết tịnh, đến nỗi người ta cho rằng ông thích xưng tội hơn là sợ tội. Ngay cả Wiliam Beavis cũng có mặt, cậu rất nghiêm trang. Thầy Paul xuất hiện, không còn khập khiễng. Cuthberth Whitehead bình tĩnh và rất tự chủ. John nhỏ, thầy thấp bé phụ trách về kho bạc cũng hiện diện, ngoài ra còn có Pierre, cha giám thị, người đã ngăn chặn bữa ăn của Phhilip ngày hôm qua. Philip nhìn quanh, ông nhận ra mọi người đang chú ý đến mình. Ông xấu hổ cúi đầu xuống.

Remigius bước vào với sự đồng hành của Andrew, cha phụ trách phụng vụ, và họ ngồi xuống bên cạnh John nhỏ và Pierre. Vì thế, Philip nghĩ, ít nhất họ đã tỏ ra họ thuộc về một phe.

Buổi họp bắt đầu với phần đọc sách về tiểu sử của vị thánh trong ngày: Simeon Stylites. Ông là một nhà ẩn tu, người đã sống cả cuộc đời trên một cái cột. Mặc dù không ai có thể phủ nhận khả năng hành xác của ngài, nhưng Philip luôn có một nghi ngờ thầm kín về giá trị thực sự của những lời chứng về ngài: đám đông lũ lượt đến với ông, nhưng họ đến để tìm kiếm của ăn tinh thần hay vì tò mò?

Sau lời nguyện đến phần đọc một chương sách của Thánh Biển Đức. Chính vì việc đọc mỗi chương hàng ngày mà tên của buổi họp cũng như của căn nhà này được mang tên đó - chapter. Remigius đứng lên đọc, và khi ông gián đoạn với cuốn sách mở trước mặt, Philip nhìn vào ông, lần đầu tiên nhìn ông qua đôi mắt một đối thủ. Remigius có một thái độ và cách ăn nói nhanh, có hiệu quả, tạo cho ông một uy quyền như thể ông có khả năng; nhưng nó hoàn toàn trái ngược với con người thật của ông. Quan sát kỹ hơn cho thấy những gì nằm sau khuôn mặt ông: đôi mắt màu xanh hơi lồi luôn chuyển động, miệng ông chần chừ hai ba lần trước khi nói, tay ông nắm lại rồi lại mở ra. Những thẩm quyền ông có là do kiêu ngạo và nóng giận và khinh thường người dưới quyền.

Philip ngạc nhiên, tại sao ông lại tự đọc chương sách. Một lúc sau ông hiểu. “Bậc thứ nhất của đức khiêm nhường là sự vâng lời nhanh chóng,” Remigius đọc. Ông chọn chương năm về sự vâng phục để nhắc nhở mọi người hiện diện về vị trí của ông và sự tuân phục của người thuộc quyền. Đó là một chiến thuật đe dọa. Remigius là một người ranh mãnh. “Họ không sống như họ muốn sống, cũng không theo ước muốn và thú vui của riêng mình, nhưng theo lệnh truyền và sự hướng dẫn của người khác trong tu viện, và họ ước muốn được lãnh đạo bởi một viện phụ,” ông đọc. “Không có gì đáng nghi ngờ, những lời này chuyên chở lời nói của Chúa chúng ta: ‘Tôi không đến để làm theo ý riêng tôi, nhưng để làm theo Đấng đã sai tôi.’” Remigius vẽ ra đường hướng tranh đấu: trong bối cảnh này ông muốn trình bày thẩm quyền đã được thiết lập.

Phần tiếp theo của cuộc họp là những lời nguyện cho những người đã qua đời, và hôm nay dĩ nhiên là cầu nguyện cho linh hồn Tu viện trưởng James. Phần sống động nhất của buổi họp luôn luôn là phần sau cùng: thảo luận về công việc, thú nhận những sai lầm và vạch ra những hành vi sai trái.

Remigius bắt đầu: “Trong thánh lễ hôm qua có một sự xáo trộn.”

Philip cảm thấy nhẹ nhõm. Bây giờ ông hiểu ông sẽ bị tấn công bằng cách nào. Ông không chắc chắn hành động của ông hôm qua là đúng, nhưng ông biết tại sao họ đã làm thế và ông sẵn sàng bảo vệ mình.

Remigius tiếp tục: “Chính tôi không có mặt – tôi ở trong nhà vì có việc cần – nhưng cha phụ trách phụng vụ kể cho tôi những gì đã xẩy ra.”

Ông bị Cuthberth cắt ngang. “Đừng vì thế mà trách cứ mình, anh Remigius ạ,” ông nói bằng giọng nhẹ nhàng. “Chúng tôi biết rằng, về nguyên tắc, không bao giờ được đặt công việc của tu viện lên trên thánh lễ, nhưng chúng tôi hiểu rằng cái chết của tu viện trưởng kính mến của chúng ta đã tạo ra nhiều công việc quá khả năng thông thường của anh, mà anh phải giải quyết. Tôi chắc rằng tất cả mọi người ở đây đều đồng ý là anh không phải xin lỗi về chuyện đó.”

Con cáo già khôn ngoan, Philip nghĩ. Dĩ nhiên, Remigius không có ý định thú nhận lỗi lầm. Tuy nhiên, Cuthberth đã tha lỗi cho ông ấy, qua đó mọi người cảm thấy như Remigius đã thừa nhận một lỗi lầm. Bây giờ, ngay cả nếu Philip mắc một lỗi lầm, ông vẫn ở ngang mức độ với Remigius. Ngoài ra, Cuthberth đã gây ra sự hoài nghi khi ông cho rằng Remigius gặp khó khăn với công việc của tu viện trưởng trước. Với một vài lời nói nghe có vẻ tử tế, Cuthberth đã hạ uy quyền của Remigius. Remigius nhìn giận dữ. Philip cảm thấy niềm vui chiến thắng như làm ông nghẹt thở.

Andrew, người phụ trách phụng vụ nhìn Cuthberth buộc tội: “Tôi chắc chắn không ai trong chúng ta muốn chỉ trích vị tu viện phó của chúng ta,” ông nói. “Sự xáo trộn gây ra bởi anh Philip, người từ tu viện St. John trong rừng đến thăm viếng chúng ta. Philip đem William Beavis ra ngoài và khiển trách anh ấy trong lúc tôi đang cử hành thánh lễ.”

Remigius làm ra vẻ buồn. “Có lẽ tất cả chúng ta đều đồng ý rằng anh Philip nên làm chuyện đó sau thánh lễ.”

Philip dò xét thái độ của các tu sĩ khác. Họ dường như chẳng đồng ý cũng như chẳng không đồng ý với những gì đang nói. Họ theo dõi diễn biến như khán giả tại một giải đấu, trong đó không quan trọng ai đúng hay ai sai mà sự quan tâm duy nhất là ai sẽ thắng.

Philip muốn bào chữa là nếu tôi chờ đợi, sự xáo trộn sẽ kéo dài trong suốt buổi lễ, nhưng ông nhớ lại lời khuyên của Milius nên im lặng; Milius nói dùm ông: “Tôi cũng không thể tham dự thánh lễ như mọi khi, vì ngay trước bữa ăn tối; vì thế, xin anh kể cho tôi, anh Andrew ạ, chuyện gì đã xẩy ra để anh Philip phải nhúng tay vào?

“Có một vài xáo trộn trong đám tu sĩ trẻ,” người phụ trách phụng vụ hờn dỗi trả lời. “Tôi dự định sẽ nói với họ sau thánh lễ.”

“Tôi hiểu anh không quan tâm đến các chi tiết nhỏ, vì tâm hồn anh tập trung trong thánh lễ,” Milius nói. “Nhưng may mắn là chúng ta còn có cha giám thị, người có trách nhiệm chú ý đến những hành vi sai trái của chúng ta. Hãy kể cho chúng tôi, anh Pierre ạ, anh đã quan sát thấy gì?”

Cha giám thị nhìn một cách thù hận: “Giống như những gì cha phụ trách phụng vụ đã kể.”

Milius nói: “Dường như chúng ta phải hỏi trực tiếp anh Philip về những chi tiết đã xẩy ra.”

Milius quá khôn ngoan, Philip nghĩ. Ông đã xác định cả người phụ trách phụng vụ và người giám thị cũng không nhìn thấy gì xẩy ra trong buổi lễ. Mặc dù Philip ngưỡng phục khả năng biện chứng của Milius, nhưng ông do dự để tiếp tục cuộc chơi. Cuộc bầu một tu viện trưởng không phải là cuộc tranh tài về trí thông minh, mà là tìm kiếm ý Thiên Chúa. Ông lưỡng lự. Milius nhìn ông như muốn nói: Bây giờ là cơ hội của anh! Nhưng Philip có một sự cứng đầu nhất định, nó tỏ ra rõ nhất khi ông bị đẩy vào vị trí không rõ ràng về mặt đạo đức. Ông nhìn vào mắt Milius và nói: “Nó giống như những gì anh em đã miêu tả.”

Mặt Milius ủ rũ. Ông nhìn chằm chằm vào Philip. Ông mở miệng, nhưng rõ ràng không biết phải nói gì. Philip cảm thấy mắc lỗi, ông cúi xuống. Tôi sẽ cắt nghĩa cho anh sau, ông nghĩ, chỉ sợ ông ấy quá tức giận.

Remigius muốn tiếp tục bản cáo trạng, nhưng một giọng nói cất lên: “Tôi muốn thú nhận.”

Mọi người chăm chú nhìn. William Beavis, người gây ra vấn đề, đứng lên và có vẻ xấu hổ. “Tôi đã bắn một viên bùn vào cha giáo tập, rồi cười,” anh ấy nói bằng giọng trầm và rõ ràng. “Anh Philip đã làm tôi xấu hổ. Tôi xin Chúa tha tội cho tôi và xin anh em cho tôi việc đền tội.” Anh đột ngột ngồi xuống.

Trước khi Remigius kịp phản ứng, một tu sĩ trẻ khác đứng lên và nói: “Tôi xin thú nhận. Tôi cũng đã làm như vậy. Tôi xin việc đền tội.” Anh ấy ngồi xuống. Sự bộc phá đột ngột của lương tâm tội lỗi có sức lan truyền: tu sĩ thứ ba thú nhận, rồi thứ tư, rồi đến tu sĩ thứ năm.

Vì thế sự thật dần dần được phơi bày ra ánh sáng, mặc dù Philip đã thận trọng và ông không khỏi hài lòng. Ông thấy Milius gắng giữ nụ cười chiến thắng. Lời thú tội chứng tỏ rằng có một cuộc nổi loạn nhỏ ngay trước mũi của người phụ trách phụng vụ và người giám thị.

Remigius trừng phạt những người có tội một tuần im lặng: họ không thể nói chuyện với ai và cũng không ai có thể nói chuyện với họ. Hình phạt này nặng hơn chúng ta tưởng. Khi còn trẻ, Philip đã từng trải qua. Ngay cả một ngày bị cô lập đã là một bức xúc, một tuần lễ hoàn toàn cô lập là một cực hình.

Các tu sĩ trẻ đã làm cho Remigius nổi giận vì bị qua mặt. Sau khi họ tự thú, ông không làm được gì khác ngòai việc trừng phạt họ, mặc dù qua đó ông như thừa nhận trước mặt các tu sĩ khác rằng Philip đúng. Cuộc tấn công vào Philip đã đi sai đường, và Philip chiến thắng. Mặc dù có một chút cắn rứt, ông vui mừng vì chiến thắng đó.

Nhưng sự sỉ nhục vị tu viện phó chưa kết thúc.

Cuthberth nói tiếp. “Còn có một xáo trộn sau thánh lễ mà chúng ta phải thảo luận. Cuộc xáo trộn này xẩy ra trong hành lang tu viện.” Philip ngạc nhiên không biết sự gì lại đến đây. “Anh Andrew cáo buộc anh Philip về cách ứng xử sai trái.” Dĩ nhiên ông ấy đã làm, Philip nghĩ; mọi người đều biết việc đó. Cuthberth nói tiếp: “Như tất cả chúng ta đều biết thời gian và nơi chốn cho những cuộc buộc tội là ở đây và bây giờ, trong buổi họp này. Và đó là lý do tại sao tổ phụ chúng ta lại quy định như thế. Sự tức giận nên để nguôi ngoai qua đêm và những bất bình có thể thảo luận vào ngày hôm sau trong bầu khí của trầm tĩnh và chừng mực; và tất cả cộng đoàn có thể đóng góp trí tuệ tập thể để tìm ra giải pháp cho vấn đề. Nhưng, tôi phải nói, anh Andrew đã bất chấp nguyên tắc hợp lý này. Anh đã chống đối Philip ngay tại hành lang tu viện bằng những lời lẽ nóng nẩy, làm phiền tới mọi người. Nếu chúng ta bỏ qua, không xét về những hành vi như vậy, sẽ không công bằng với các anh em trẻ, những người đã bị phạt vì việc họ đã làm.”

Nó thật tàn nhẫn và tài giỏi, Philip vui mừng nghĩ. Câu hỏi liệu Philip có đúng khi đem Wiliam ra khỏi thánh lễ để quở trách hay không đã chẳng được thảo luận. Mỗi một cố gắng để đem nó ra lại trở thành một cuộc điều tra về hành vi của người tố cáo. Và nó phải như vậy, vì việc khiếu nại của Andrew chống lại Philip là không đúng. Cuthberth và Milius đã thành công trong việc làm cho Remius và hai người trong phe bị mất uy tín.

Khuôn mặt đỏ thường ngày của Andrew biến thành màu tím, và Remigius trông sợ hãi. Philip hài lòng – họ đáng bị như vậy – nhưng bây giờ ông sợ sự sỉ nhục họ có nguy cơ đi quá xa. “Nó không thích hợp để các anh em trẻ thảo luận về hình phạt cho các anh em lớn tuổi của họ,” Andrew nói. “Hãy để tu viện phó xử lý vấn đề này một cách riêng tư.” Nhìn quanh, ông thấy các tu sĩ khác đã chấp nhận đề nghị của ông, và ông nhận ra rằng mặc dù không cố ý ông đã đạt được điểm khác.

Dường như mọi chuyện đã qua. Philip chắc chắn những người trước kia còn do dự, nay đã theo phía ông. Nhưng Remigius lại cất giọng: “Có một vấn đề khác tôi phải nêu lên.”

Philip nghiên cứu khuôn mặt của tu viện phó. Ông nhìn tuyệt vọng. Philip liếc nhìn người phụ trách phụng vụ Andrew và người giám thị Pierre và thấy cả hai đều ngạc nhiên. Đây là một việc không dự tính trước.

“Hầu hết anh em đều biết giám mục có quyền đề cử ứng viên cho cuộc bầu cử tu viện trưởng của chúng ta,” Remigius bắt đầu. “Có thể ngài không công nhận việc chúng ta bầu. Sự phân quyền này có thể dẫn tới cuộc tranh cãi giữa giám mục và tu viện, như một vài anh em lớn tuổi đã biết qua những kinh nghiệm đau khổ. Bởi vì giám mục không có thể ép buộc chúng ta chấp nhận ứng viên của ngài, cũng như chúng ta không thể khăng khăng chống lại ngài mà đòi ứng viên của chúng ta. Trong những cuộc tranh cãi như thế chỉ có đàm phán mới tìm ra được giải pháp. Trong thực tế, kết quả tùy thuộc vào sự quyết tâm và đồng tâm của anh em – nhất là sự đồng tâm.”

Philip đã có một linh cảm xấu về việc này. Remigius đã kìm được cơn giận và trở lại bình tĩnh và kiêu căng. Philip chưa biết chuyện gì sẽ tới, nhưng cảm giác chiến thắng của mình bay mất.

“Lý do tôi đề cập đến vấn đề này hôm nay là vì tôi có hai thông tin quan trọng,” Remigius tiếp tục nói. “Thứ nhất là có nhiều hơn một ứng viên được anh em trong phòng này đề cử.” Điều đó không ai ngạc nhiên, Philip nghĩ. “Thứ hai là giám mục cũng sẽ đề cử một ứng viên.”

Remigius dừng lại. Đó là sự im lặng ý nghĩa. Đó là một tin xấu cho cả hai phe. Một người nói: “Anh có biết giám mục đề cử ai không?”

“Vâng,” Remigius nói, và trong khoảnh khắc đó Philip biết ông ấy nói dối. “Người mà giám mục chọn là anh Osbert thành Newbery.”

Một hai tu sĩ hụt hơi. Các tu sĩ khác kinh ngạc. Họ biết Osbert, bởi vì ông đã là giám thị ở Kingsbridge một thời gian. Ông là con ngoài hôn thú của giám mục, và ông coi giáo hội hoàn toàn như phương tiện để nhờ đó ông có thể sống cuộc sống lười biếng và đầy đủ. Ông chẳng bao giờ nỗ lực nghiêm túc để giữ lời khấn của mình, và luôn dựa vào tình cha con để thoát khỏi rắc rối. Viễn tượng ông sẽ là tu viện trưởng làm mọi người kinh hoàng – kể cả người theo Remigius. Chỉ có thầy phụ trách nhà khách và một hoặc hai người đồi trụy theo ông có thể ủng hộ Osbert với hy vọng có được một sự lãnh đạo nhu nhược và cẩu thả.

Remigius cày thêm. “Nếu chúng ta đề cử hai ứng viên, giám mục có thể nói rằng chúng ta chia rẽ và không thể đồng tâm hợp trí được, vì thế ngài phải quyết định cho chúng ta, và chúng ta phải chấp nhận sự chọn lựa của ngài. Nếu chúng ta muốn chống lại Osbert, chúng ta chỉ nên đưa ra một ứng viên, và, có lẽ tôi phải nói thêm, chúng ta phải chắc chắn là ứng viên của chúng ta không dễ bị từ chối, thí dụ như vì lý do còn quá trẻ hoặc thiếu kinh nghiệm.”

Có tiếng rì rào của sự đồng ý. Philip bị đánh gục. Trước đây vài phút ông chắc chắn đã chiến thắng, nhưng chiến thắng đã bị lấy đi khỏi tay ông. Bây giờ tất cả theo Remigius, coi ông như một ứng viên vững chắc, ứng viên duy nhất có thể đánh bại được Osbert. Philip cảm thấy chắc chắn Remigius đã bịa chuyện về Osbert, nhưng nó không có sự khác biệt. Bây giờ các tu sĩ sợ hãi, họ quay về với Remigius; và điều đó có nghĩa là tu viện Kingsbridge sẽ còn chịu đựng nhiều năm suy tàn.

Trước khi có người nào có thể lên tiếng, Remigius nói: “Chúng ta chấm dứt nơi đây. Anh em sẽ suy nghĩ và cầu nguyện về vấn đề này khi các anh em làm việc của Chúa ngày hôm nay.” Ông đứng lên và đi ra, theo sau là Andrew, Pierre và John nhỏ, cả ba người tỏ vẻ chiến thắng.

Vừa khi họ đi khỏi, một cuộc trò chuyện vang lên giữa những người khác. Milius nói với Philip: “Tôi không ngờ Remigius lại có một thủ thuật như thế.”

“Ông ta nói dối.” Philip cay đắng nói. “Tôi chắc chắn về điều đó.”

Cuthberth nhập bọn và nghe nhận xét của Philip. “Nó thực sự không quan trọng về việc ông ta có nói dối hay không, phải thế không?” ông nói. “Mối đe dọa là đủ.”

“Sự thật cuối cùng sẽ ra ánh sáng,” Philip nói.

“Không nhất thiết,” Milius lập lại. “Giả sử như giám mục không đề cử Osbert, Remigius sẽ lập luận rằng giám mục rút lui vì sợ một cuộc tranh cãi với một tu viện hiệp nhất.”

“Tôi không sẵn sàng bỏ cuộc,” Philip cứng rắn nói.

“Chúng ta phải làm gì?” Milius hỏi.

“Chúng ta phải tìm ra sự thật,” Philip nói.

“Chúng ta không thể,” Milius nói.

Philip nghĩ nát óc. Sự thất vọng làm ông đau đớn.

Tại sao chúng ta không hỏi?” ông nói.

“Hỏi? Ý anh muốn hỏi ai?”

“Hỏi giám mục xem ý định của ngài là gì.”

“Bằng cách nào?”

“Chúng ta có thể gửi một thông điệp đến tòa giám mục, phải không?” Philip nói. Ông nhìn Cuthberth.

Cuthberth trầm ngâm. “Vâng, tôi thường gửi các thông điệp ra ngoài. Tôi có thể gửi một thông điệp đến tòa giám mục.”

Milius nói một cách hoài nghi: “Và hỏi giám mục xem ý của ngài thế nào?”

Philip nhíu mày. Đó là vấn đề.

Cuberth đồng ý với Milius. “giám mục sẽ không nói cho chúng ta biết,” ông nói.

Bất ngờ Philip có một ý tưởng. Mặt ông rạng rỡ lên, ông đấm vào lòng bàn tay khi ông nhìn thấy giải pháp.

“Không,” ông nói. “Giám mục sẽ không nói cho chúng ta. Nhưng tổng đại diện của ngài sẽ nói.”

Đêm đó Philip mơ về Jonathan, đứa trẻ bị bỏ rơi. Trong giấc mơ đứa bé ở trong hiên nhà nguyện tu viện St. John trong rừng và Philip ở phía trong, đang đọc kinh giờ nhất, trong khi con chó sói từ bìa rừng đến, đi qua cánh đồng, lướt nhẹ như con rắn và bắt đứa bé. Philip không phản ứng gì; ông sợ bị quấy rầy giờ kinh phụng vụ và sợ bị Remigius và Andrew khiển trách, cả hai đều có mặt ở đó (mặc dù trong thực tế cả hai chưa bao giờ đến tu viện này). Ông quyết định hét lên, nhưng mặc dù cố gắng, ông cũng không hét lên được thành tiếng, giống như thường xẩy ra trong giấc mơ. Ông cố gắng một lần nữa, rồi một lần nữa – và ông tỉnh dậy. Ông run rẩy trên giường, nghe hơi thở của các tu sĩ đang ngủ xung quanh ông và từ từ xác định rằng con chó sói không có thật.

Từ khi đến Kingsbridge hầu như ông không nghĩ đến đứa bé. Ông tự nghĩ ông sẽ làm gì với đứa bé nếu ông trở thành tu viện trưởng. Sau đó mọi thứ sẽ khác. Một đứa bé trong một tu viện nhỏ giữa rừng không đáng quan tâm lắm, mặc dù nó là điều bất thường. Cũng đứa trẻ này ở tu viện Kingsbridge sẽ tạo nên nhiều thắc mắc. Ngược lại, điều đó có gì là sai? Nó không phải là một tội khi cho người ta có cơ hội nói về nó. Nếu ông trở thành tu viện trưởng, ông có thể làm những gì ông cho rằng thích hợp. Ông có thể đem Johnny Eightpence theo tới Kingsbridge để lo cho đứa nhỏ. Ý tưởng này làm ông hài lòng. Đó là điều mà tôi sẽ làm, ông nghĩ. Rồi ông chợt nhớ rằng hầu như ông sẽ không thể thành tu viện trưởng.

Ông nằm thao thức cho đến bình minh, trong cơn sốt của thiếu kiên nhẫn. Ông không thể làm gì để giải quyết trường hợp của ông. Nói chuyện với các tu sĩ khác chỉ là vô ích, vì tư tưởng họ bị xâm chiếm bởi mối đe dọa về Osbert. Một vài người tiếp cận với Philip và nói họ rất buồn vì ông thất bại, như thể cuộc bầu cử đã diễn ra. Ông chống lại sự cám dỗ muốn gọi họ là hèn nhát. Ông chỉ mỉm cười nói với họ rằng có thể họ sẽ ngạc nhiên. Nhưng niềm tin của ông không đủ mạnh. Tổng đại diện Waleran có thể không ở tòa giám mục; hay ông ở đó nhưng không muốn nói cho Philip biết dự định của giám mục. Hoặc có thể nhất, theo cá tính của tổng đại diện, ông sẽ đưa ra dự định của chính ông.

Philip thức dậy lúc bình minh với các tu sĩ khác và đi vào nhà thờ cho giờ kinh sáng, giờ kinh đầu tiên trong ngày. Sau đó ông đi về phía nhà ăn, định ăn sáng với các tu sĩ khác, nhưng Milius chặn ông lại, với một cử chỉ lén lút ra hiệu cho ông vào nhà bếp. Philip theo ông, đầu óc ông căng thẳng. Sứ giả có thể đã trở về: điều đó xảy ra quá nhanh. Ông phải nhận được trả lời ngay và trở về ngay chiều hôm qua. Ngay cả như thế nó vẫn quá nhanh. Philip không thấy một con ngựa nào trong chuồng có khả năng hành trình nhanh chóng như thế. Nhưng câu trả lời là gì?

Không phải sứ giả đang đợi ông trong nhà bếp, nhưng chính là Tổng đại diện Waleran Bigod.

Philip nhìn ông ngạc nhiên. Hình dáng gầy gò trong y phục đen ngồi trên ghế trông giống như con quạ trên cành cây. Đầu lỗ mũi ông đỏ vì lạnh. Ông đang hâm nóng đôi bàn tay trắng lạnh quanh một ly rượu gia vị nóng.

“Ông đến đây thật là tốt quá,” Philip thốt ra.

“Tôi vui vì ông đã viết thư cho tôi,” Waleran lạnh lùng nói.

“Có thật là giám mục đề cử Osbert không?” Philip nôn nóng hỏi.

Waleran giơ một tay lên ngăn ông nói. “Tôi sẽ trở lại vấn đề đó. Cuthberth vừa kể cho tôi những chuyện ngày hôm qua.”

Philip giấu sự thất vọng của mình. Đây sẽ không phải là một câu trả lời thẳng. Ông quan sát khuôn mặt Waleran, cố gắng xem ông đang nghĩ gì. Waleran chắc chắn có kế hoạch riêng, nhưng Philip không đoán được kế hoạch đó là gì.

Cuthberth, người mà lúc đầu Philip không để ý, ngồi bên đống lửa và nhúng bánh mì vào bia để làm mềm bánh cho hàm răng già cỗi của ông, tiếp tục tường thuật về buổi họp tối qua. Philip bồn chồn, chân này đá chân kia và cố gắng đọc qua cử điệu của Waleran. Ông lấy một miếng bánh, nhưng ông khó nuốt trôi được. Ông uống một ly bia, chỉ để cho bàn tay mình bớt dư thừa.

“Và vì thế,” Cuthberth kết thúc, “cơ hội duy nhất của chúng tôi là cố gắng xác minh ý muốn của giám mục. Và một cách may mắn, Philip gần đây đã được gặp gỡ ông. Vì thế chúng tôi gửi tới ông một lá thư.”

Philip nóng ruột nói: “Và bây giờ ông nói cho chúng tôi biết những gì chúng tôi muốn biết?”

“Vâng, tôi sẽ nói cho ông.” Waleran đặt ly rượu gia vị xuống. “Giám mục muốn con mình trở thành tu viện trưởng Kingsbridge.”

Trái tim Philip chùng xuống. “Thế là Remigius nói sự thật.”

Waleran tiếp tục: “Tuy nhiên giám mục không dám liều tranh cãi với các tu sĩ.”

Philip nhíu mày. Đây là ít nhiều mà Remigius đã dự báo – nhưng có điều gì không hoàn toàn đúng. Philip nói với Waleran: “Ông không đến đây qua cách này chỉ để nói cho chúng tôi điều đó.”

Waleran nhìn Philip một cách khâm phục, và Philip biết ông đã đoán đúng. “Không,” Waleran nói. “Giám mục đã yêu cầu tôi kiểm tra tình hình của tu viện. Và ngài trao quyền cho tôi thay ngài đề cử một ứng viên. Thật vậy, tôi có mang theo con dấu của giám mục, vì thế tôi có thể viết thư đề cử chính thức và ràng buộc ngay tại chỗ. Các ông thấy, tôi có toàn quyền của giám mục.”

Philip cần một thời gian để tiêu hóa nó. Waleran được trao quyền đề cử ứng viên và đóng ấn nó với con dấu của giám mục. Điều đó có nghĩa là giám mục đã hoàn toàn trao việc này trong tay Waleran. Ông đang nói chuyện với người có thẩm quyền của giám mục.

Philip lấy một hơi sâu và nói: “Ông có đồng ý với những gì Cuthberth nói với ông là nếu Osbert được đề cử, có thể sẽ xẩy ra một cuôc tranh cãi mà giám mục muốn tránh không?”

“Đúng, tôi hiểu điều đó,” Waleran nói.

“Vì thế ông không muốn đề cử Osbert.”

“Không.”

Philip căng thẳng như giây cung. Các tu sĩ sẽ rất vui mừng được thoát khỏi viễn tượng đe dọa về Osbert, và vì thế sẽ biết ơn bỏ phiếu cho bất cứ ai mà Waleran đề cử.

Waleran bây giờ có uy quyền để chọn tu viện trưởng mới.

Philip hỏi: “Vậy ông sẽ đề cử ai?”

Waleran nói: “Ông… hay Remigius.”

“Khả năng của Remigius…”

“Tôi biết khả năng của ông ấy và khả năng của ông,” Waleran nói trong khi giơ bàn tay gầy guộc để ngắt lời Philip. “Và tôi cũng biết ai trong hai người sẽ là tu viện trưởng tốt.” Ông yên lặng một lúc. “Nhưng đó là vấn đề khác.”

Chuyện gì nữa đây? Philip tự hỏi. Còn sự gì khác phải xem xét, ngoài việc chọn ra tu viện trưởng tốt nhất? Ông nhìn những người khác. Milius cũng bối rối, chỉ có Cuthbert già là có một nụ cười nhẹ, như thể ông biết điều gì sẽ đến.

Waleran nói: “Cũng như ông, tôi mong những chức vụ quan trọng trong giáo hội được trao cho những người năng động, có khả năng, bất kể đến tuổi tác; thay vì được trao như phần thưởng cho những người đã phục vụ lâu dài hoặc cho những người lớn tuổi mà vẻ thánh thiện có thể lớn hơn khả năng lãnh đạo của họ.”

“Dĩ nhiên,” Philip sốt ruột nói, không nhìn thấy ý nghĩa thâm sâu mà Waleran muốn nói.

“Chúng ta phải làm việc chung với nhau cho mục đích này – cả ba các ông và tôi.”

Milius nói: “Tôi không hiểu ông muốn gì?”

“Tôi hiểu,” Cuthbert nói.

Waleran cười nhẹ với Cuthbert, rồi quay lại với Philip. “Hãy để tôi nói thẳng với các ông,” ông nói. “Giám mục đã già. Một ngày gần đây ông sẽ qua đời, và chúng ta sẽ cần một tân giám mục, cũng như hôm nay chúng ta cần tu viện trưởng mới. Các tu sĩ của Kingsbridge có quyền bầu giám mục mới, bởi vì giám mục của Kingsbridge cũng là viện phụ của tu viện.”

Philip nhăn mặt. Điều đó có nhĩa gì? Họ đang chọn một tu viện trưởng, chứ không phải chọn giám mục. Nhưng Waleran tiếp tục. “Dĩ nhiên, tu sĩ các ông không hoàn toàn tự do chọn tân giám mục, bởi vì tổng giám mục và vua cũng có những đề nghị theo quan điểm của họ; nhưng sau cùng chính các tu sĩ hợp thức hóa việc bổ nhiệm. Và khi thời điểm đó đến, ba người trong các ông có một ảnh hưởng quan trọng trên quyết định này.”

Cuthbert gật gù như chừng những gì ông đoán là đúng, và bây giờ Philip cũng vậy, cũng hiểu mơ hồ những gì sắp đến.

Waleran chấm dứt: “Ông muốn tôi đề cử ông làm tu viện trưởng. Tôi muốn ông đề cử tôi làm giám mục.”

Thì ra là vậy.

Philip nhìn chăm chú vào Waleran. Mọi chuyện thật đơn giản. Tổng đại diện muốn làm một cuộc trao đổi.

Philip bị sốc. Nó không hoàn toàn là sự mua bán chức vụ trong giáo hội, một hành động được gọi là tội của Simony; nhưng nó cũng có cảm giác thương mại khó chịu.

Ông cố gắng nghĩ một cách khách quan về đề nghị này. Điều đó có nghĩa là ông sẽ thành tu viện trưởng. Trái tim ông đập nhanh hơn khi ông nghĩ về nó. Điều đó cũng có nghĩa là Waleran có lẽ sẽ thành giám mục vào một thời điểm nào đó. Ông sẽ là một giám mục tốt chăng? Chắc chắn ông là người có thẩm quyền và ông dường như không có tệ nạn nghiêm trọng. Ông phục vụ Thiên Chúa một cách thực tế và trong thế giới, cũng như Philip vậy. Philip nhận thấy thái độ trắng trợn của Waleran, nhưng ông cũng cảm thấy nó xuất phát từ ý muốn thật là bảo vệ và phát triển giáo hội.

Ai có thể là ứng viên khi giám mục qua đời? Có lẽ Osbert. Những chức vụ trong giáo hội được truyền từ cha sang con không mới lạ, mặc dù các giáo sĩ phải sống độc thân. Dĩ nhiên, nếu Osbert là giám mục, ông sẽ là một gánh nặng cho giáo hội hơn là ông trở thành tu viện trưởng, Philip nghĩ. Thà rằng ủng hộ một ứng viên xấu như Waleran, hơn là để cho Osbert thành giám mục. Còn có các ứng viên khác không? Không thể đoán được. Có thể còn nhều năm nữa giám mục mới qua đời.

Cuthbert nói với Waleran: “Chúng tôi không thể bảo đảm ông sẽ được bầu.”

“Tôi biết,” Waleran nói. “Tôi chỉ yêu cầu các ông đề cử tôi. Đó cũng chính xác là điều tôi làm cho các ông – một sự đề cử.”

Cuthbert gật đầu. “Tôi đồng ý với điều đó,” ông nói long trọng.

“Tôi cũng vậy,” Milius nói.

Tổng đại diện và hai tu sĩ nhìn Philip. Ông do dự, giằng co. Đây không phải là cách để chọn giám mục, ông biết; nhưng tu viện ở trong tay ông. Nó không đúng để đánh đổi chức vụ thánh này lấy chức vụ thánh kia, như người buôn bán ngựa, nhưng nếu ông từ chối, kết quả có thể là Remigius thành tu viện trưởng và Osbert thành giám mục.

Tuy nhiên, những lý luận hợp lý bây giờ có nghĩa gì? Ước muốn được trở thành tu viện trưởng giống như một sức mạnh không thể cưỡng lại được ở trong ông, và ông không thể từ chối, bất kể lợi và hại. Ông nhớ lại lời nguyện ông đã nói với Chúa hôm qua rằng ông muốn tranh đấu cho trách vụ này. Ông ngước mắt lên và nói lời nguyện khác: Nếu Chúa không muốn điều đó xẩy ra, thì xin hãy làm tê liệt miệng lưỡi con, ngăn hơi thở con trong họng và ngăn cản con nói.

Rồi ông nhìn Waleran và nói: “Tôi chấp nhận.”

Giường của tu viên trưởng rất lớn – ít nhất ba lần lớn hơn giường mà Philip đã từng ngủ qua. Tủ giường bằng gỗ cao bằng nửa người, trên đó có nệm lông. Có màn cửa chung quanh để tránh gió lùa và trên màn cửa được thêu cảnh trong Kinh thánh bởi bàn tay của một nữ bệnh nhân ngoan đạo. Philip quan sát chiếc giường với chút suy tư. Dường như đối với ông, một phòng ngủ riêng cho tu viện trưởng là một lãng phí – Philip chưa từng có trong đời một phòng ngủ riêng, và đêm nay là đêm đầu tiên ông ngủ một mình. Chiếc giường quá lớn. Ông suy nghĩ có nên cho đem đến một chiếc nệm rơm từ phòng ngủ, và đem chiếc giường này vào khu bệnh viện, nơi nó sẽ làm giảm bớt nỗi đau của các tu sĩ già không. Nhưng dĩ nhiên giường này không chỉ dành cho Philip. Khi tu viện có một vị khách đặc biệt, thí dụ như giám mục hay bá tước hay ngay cả nhà vua, thì những vị khách này sẽ ngủ trong phòng này, còn tu viện trưởng sẽ dời đi nơi khác. Vì thế, thực sự  Philip không có thể bỏ nó đi được.

“Ông sẽ ngủ ngon đêm nay,” Waleran nói, không mang chút ghen tỵ nào.

“Tôi nghĩ như vậy,,” Philip nói với vẻ ngờ vực.

Mọi chuyện đến quá nhanh. Waleran đã viết một lá thư cho tu viện, ngay trong nhà bếp, yêu cầu các tu sĩ phải tổ chức ngay cuộc bầu cử và ông đề cử Philip. Ông ký tên lá thư bằng tên giám mục và đóng dấu bằng triện giám mục. Rồi cả bốn người họ vào trong nhà họp.

Vừa khi Remigius nhìn thấy họ vào, ông biết cuộc tranh đấu đã kết thúc. Waleran đọc lá thư, và các tu sĩ vỗ tay khi ông xướng tên Philip. Remigius đủ thông minh để từ bỏ cuộc bỏ phiếu và thừa nhận sự thất cử của mình.

Philip trở thành tu viện trưởng.

Ông tiếp tục điều hành buổi họp còn lại và kết thúc nó nghiêm chỉnh. Sau đó ông đi qua bãi cỏ đến nhà tu viện trưởng ở góc đông nam sân tu viện, để chính thức nhận nơi ở.

Khi thấy chiếc giường ông nhận ra đời ông đã thay đổi hoàn toàn và không thể quay ngược lại. Bây giờ ông trở thành đặc biệt, khác xa các tu sĩ khác. Ông có uy quyền và đặc quyền. Và ông có trách nhiệm. Ông là người duy nhất đảm bảo cho cộng đoàn nhỏ gồm bốn mươi lăm tu sĩ này được sống và được thịnh vượng. Nếu họ đói, đó là lỗi của ông; nếu họ thành đồi trụy, đó là tội của ông; nếu họ làm thiệt hại giáo hội của Chúa, Chúa sẽ bắt Philip chịu trách nhiệm. Ông đã tìm gánh nặng này, ông nhắc nhở mình, bây giờ ông phải chịu.

Nhiệm vụ đầu tiên của ông trong trách vụ tu viện trưởng là hướng dẫn các tu sĩ vào nhà thờ tham dự thánh lễ. Hôm nay là lễ Chúa hiển linh, ngày thứ mười hai sau lễ Giáng sinh, và là ngày lễ nghỉ. Tất cả dân làng sẽ tham dự thánh lễ, và có nhiều người khác đến từ các vùng xung quanh. Một nhà thờ chính tòa khang trang với một cộng đoàn tu sĩ mạnh mẽ và thánh lễ trang trọng sẽ thu hút cả hàng nghìn người. Ngay cả Kingsbridge buồn tẻ cũng thu hút được hầu hết hàng quý tộc địa phương, bởi vì thánh lễ cũng là dịp cho họ gặp người láng giềng và nói chuyện kinh doanh.

Trước thánh lễ Philip còn có vài việc để nói chuyện với Waleran, bởi vì bây giờ họ chỉ còn lại một mình. “Thông tin mà tôi trao đổi với ông,” ông bắt đầu, “về bá tước Shiring…”

Waleran gật đầu. “Tôi quên mất chuyện đó, thật ra nó còn quan trọng hơn vấn đề ai sẽ là tu viện trưởng hoặc giám mục. Họ chờ ông ấy ở Shiring ngày mai.”

“Ông dự định như thế nào?” Philip lo lắng hỏi.

“Tôi muốn dùng ngài Percy Hamleigh. Tôi hy vọng ông ấy sẽ có mặt trong thánh lễ hôm nay.”

“Tôi có nghe nói về ông ấy, nhưng tôi chưa gặp ông ấy.” Philip nói.

“Hãy để ý đến một ông béo có một bà vợ xấu và một người con đẹp trai. Ông không lầm bà ấy được đâu – trông bà ấy chướng mắt lắm.”

“Điều gì làm ông tin rằng họ sẽ theo vua Stephen chống lại Bartholomew?”

“Họ ghét Bá tước Bartholomew thậm tệ.”

“Tại sao?”

“Con trai của họ, William, đã đính hôn với con gái bá tước, nhưng cô ấy lại từ chối anh ấy, và đám cưới bị hủy bỏ. Đó là một sự sỉ nhục cho gia đình Hamleigh. Cho đến bây giờ họ vẫn còn đau đớn về chuyện đó và chỉ tìm cơ hội trả thù Bartholomew.”

Philip gật đầu hài lòng. Ông vui vì đã trút được trách nhiệm và tu viện Kigsbridge có đủ vấn đề mà ông cần giải quyết. Waleran có thể lo những công việc bên ngoài thế giới.

Họ rời nhà tu viện trưởng và đi trở lại tu viện. Các tu sĩ đang đợi. Philip đứng đầu hàng và đoàn rước bắt đầu di chuyển.

Nó là một giây phút thật đẹp khi ông đi vào nhà thờ với giọng ca của các tu sĩ đàng sau ông. Ông yêu thích điều đó nhiều hơn là ông tưởng. Ông tìm kiếm lời giải thích tại sao ông lại có cảm giác hạnh phúc này. Ông nói với lòng mình rằng vị trí mới, ưu việt của ông hiện nay biểu tượng quyền lực mà ông phải chu toàn tốt. Ông ước muốn Viện phụ Peter từ Gwynedd có thể nhìn thấy ông – vị viện phụ già đó chắc sẽ hài lòng lắm!

Ông hướng dẫn các tu sĩ vào hàng ghế trong cung thánh. Một lễ trọng như thế này thông thường được giám mục cử hành. Hôm nay thánh lễ do người đại diện của giám mục chủ sự, Tổng đại diện Waleran. Khi Waleran bắt đầu, Philip đảo mắt tìm kiếm gia đình mà Waleran đã miêu tả. Có khoảng một trăm năm mươi người đứng trong gian giữa, những người giầu có trong áo choàng mùa đông nặng nề và giầy da, các nông dân trong áo khoác thô và guốc gỗ. Philip không gặp khó khăn để tìm ra gia đình Hamleigh. Họ đứng phía trên, gần bàn thờ. Ông nhìn thấy người đàn bà trước. Waleran đã không phóng đại – bà xấu ghê gớm. Mặc dù bà đội khăn mỏ quạ, nhưng khuôn mặt bà lộ ra. Ông nhìn thấy da bà bị ung nhọt mà tay bà luôn luôn rờ vào. Bên cạnh bà là người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi: đó phải là Percy. Quần áo của ông tỏ ra ông thuộc hạng giầu có và quyền lực đáng kể, nhưng không thuộc hàng đầu của các lãnh chúa và bá tước. Người con trai đứng dựa vào một cột lớn trong gian giữa. Anh là một thanh niên đẹp với mái tóc vàng và đôi mắt ngạo mạn. Một cuộc hôn nhân với một gia đình quý tộc sẽ giúp gia đình Hamleigh vượt qua được biên giới phân chia hàng quý tộc tỉnh lẻ và hàng quý tộc của vương quốc. Nó chẳng ngạc nhiên gì khi họ tức giận vì cuộc hôn nhân bị hủy bỏ.

Philip tập trung lại vào thánh lễ. Đối với Philip, Waleran cử hành thánh lễ quá nhanh. Ông tự hỏi mình lần nữa không biết việc ông đề cử Waleran làm giám mục khi đức giám mục hiện tại qua đời có đúng không? Ông là người dấn thân, nhưng ông coi thường phụng vụ. Quyền lực và sự giầu sang của giáo hội sau cùng chỉ có nghĩa khi phục vụ để cứu các linh hồn. Philip quyết định không nên quan tâm đến Waleran quá nhiều. Những gì xẩy ra đã xẩy ra; và giám mục có thể ngăn chặn tham vọng của Waleran nếu ngài sống thêm hai mươi năm nữa.

Cộng đoàn rối loạn. Dĩ nhiên, không ai trong họ biết đáp lại trong thánh lễ, ngoại trừ một số kinh quen thuộc và đáp lại Amen; chỉ có các linh mục và tu sĩ tích cực tham gia. Một số người tham dự trong thinh lặng tôn kính, những người khác đi xung quanh, chào hỏi lẫn nhau và chuyện trò. Họ là những người chất phát, Philip nghĩ: mình phải làm gì để thu hút sự chú ý của họ.

Thánh lễ sắp kết thúc và Waleran nói với cộng đoàn: “Hầu hết quý vị đã biết tu viện trưởng quý mến của Kingsbridge đã qua đời. Thi thể của ngài vẫn nằm đây với chúng ta trong nhà thờ này, và sẽ được an táng trong nghĩa trang tu viện sau bữa ăn chiều nay. Giám mục và các tu sĩ đã chọn cha Philip thành Gwynedd, người đã dẫn chúng tôi vào nhà thờ sáng nay, làm người nối nghiệp.”

Ông ngừng lại, và Philip đứng lên định dẫn cuộc rước ra. Nhưng Waleran nói tiếp: “Tôi có một tin buồn khác để thông báo.”

Philip ngạc nhiên. Ông kịp thời ngồi xuống.

“Tôi vừa nhận được tin,” Waleran nói. Ông ấy không nhận được tin gì, Philip biết rõ vì họ ở cùng nhau cả buổi sáng hôm nay. Tổng đại diện lại muốn chuyện gì đây?

“Thông tin nói với chúng ta về một mất mát làm chúng ta đau buồn,” một lần nữa ông ngừng lại.

Một người nào đó qua đời – nhưng là ai? Waleran đã biết chuyện đó trước khi ông đến, nhưng ông giữ bí mật và ông ấy giả vờ như mới nghe tin ấy. Tại sao?

Philip chỉ có thể nghĩ về một chuyện có thể xẩy ra – và nếu điều đó đúng, Waleran còn tham vọng và vô đạo đức hơn Philip tưởng tượng. Có thực sự là ông ấy đã lừa dối tất cả họ? Có phải Philip chỉ là con tốt trong ván cờ của Waleran kkhông?

Những lời nói cuối cùng của Weleran xác nhận sự lo âu đó. “Anh chị em thân mến,” ông nói nghiêm trọng, “giám mục của Kingsbridge đã qua đời.”

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của ken follett