Thấy mọi người kháo chuyện về đứa con khác thường của Chư Pấu, tộc trưởng Nỏ Pó thấy rất khó tin, bèn sang tận nơi để xem thực hư thế nào. Khi nhận thấy đúng là thằng bé này có những điều khác lạ so với những đứa trẻ trong bản, Nỏ Pó lắc đầu:
- Hầy dà!… Thầy mo bảo mùa đông mà có sấm chớp là tam giới có động đấy. Mọi chuyện sẽ không hay đâu. Thằng bé này đẻ ra trong lúc có sấm chớp lại càng không hay. Trẻ con vừa đẻ mà đã có răng là họa đấy. Phải bỏ nó lên rừng thôi!
Chư Pấu nghe Nỏ Pó nói thế cứ gật đầu cười cười. Cái cười hiện rõ sự ngờ nghệch của một kẻ ất ơ. Mùa quắc mắt nhìn tộc trưởng Nỏ Pó, rồi hoảng hốt ôm chặt thằng bé như sợ bị ai cướp đi. Mùa nhìn sang phía chồng, bảo:
- Mình mang thuốc phiện sang nhà Nỏ Pó mà hút. Con tôi để tôi nuôi!
Nghe đến thuốc phiện, mắt Chư Pấu sáng lên. Chẳng cần đợi vợ giục, Chư Pấu khật khưỡng vào chỗ bàn đèn lấy cục thuốc phiện, kéo tộc trưởng Nỏ Pó tấp tểnh bước thấp bước cao ra khỏi cửa!
Tìm cách đuổi khéo được chồng và tộc trưởng Nỏ Pó đi, Mùa yên tâm ngồi cho con bú. Thằng bé đang bú bỗng cắn mẹ một cái thật đau bằng những chiếc răng sắc nhọn, rồi đạp chân, ưỡn bụng kêu ằng ặc như thể bị đứt lưỡi. Mùa hoảng hồn bế con chạy ra cửa. Thằng bé bất ngờ cười khanh khách. Mùa sợ quá vội ôm con đến nhà thầy mo.
Thầy mo lột hết tã lót thằng bé, xem xét rất kỹ khắp người nó. Lát sau thầy nói:
- Thằng này tuổi Dần, đẻ vào giờ Tuất, khó nuôi. Nếu nuôi được lớn lên nó sẽ chẳng giống ai. Không nuôi được thì ba ngày nữa nó sẽ chết. Nếu không muốn nó chết thì phải làm lễ cúng tế thần linh để giải hạn!
Nghe thầy mo nói vậy Mùa sợ lắm. Ôm con về nhà, Mùa vội gọi chồng dậy bàn việc làm lễ cúng giải hạn cho con. Nhưng Chư Pấu mải hút thuốc phiện vẫn nằm bẹp tai không nói gì. Khi Mùa giục đến lần thứ ba Chư Pấu mới nhỏm dậy nhìn chằm chằm vào mặt thằng con trai, nói lại lời tộc trưởng Nỏ Pó:
- Hầy dà!… Thầy mo bảo mùa đông mà có sấm chớp là tam giới có động đấy. Mọi chuyện sẽ không hay đâu. Thằng bé này đẻ ra trong lúc có sấm chớp lại càng không hay. Trẻ con vừa đẻ mà đã có răng là họa đấy. Phải bỏ nó lên rừng thôi!
Mùa thấy lạ. Thường ngày Chư Pấu là người rất hay quên, nếu muốn nói điều gì thì phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần Chư Pấu mới nhớ. Vậy mà sao hôm nay Chư Pấu lại nhớ hết được câu nói của Nỏ Pó khi ông ấy chỉ nói có một lần? Hay đấy chính là lời của quỷ thần nói qua miệng Chư Pấu? Mùa bỗng thấy lo. Một nỗi lo vô hình nhưng rất dữ dội đang xâm chiếm lòng Mùa.
Chán chồng quá, lại lo sợ nhỡ biết đâu Chư Pấu nghe theo lời tộc trưởng Nỏ Pó mang con bỏ vào rừng thì khổ, Mùa quyết định đem con về nhà mẹ đẻ. Đêm ấy Mùa đặt đứa con vào quẩy tấu, xếp đồ đạc lên lưng ngựa, lặng lẽ ra đi.
Mùa dắt ngựa bước đi trên con đường gập ghềnh đầy đá nhọn. Thằng bé cứ lúc khóc, lúc cười. Tiếng nó lẫn trong tiếng gió đêm hun hút, tạo nên một thứ âm thanh rờn rợn, khiến Mùa sợ hãi. Đang ngập ngừng không biết nên đi tiếp hay quay trở lại, thì Mùa gặp Dính.
- Mùa dắt ngựa đi đâu vào giờ này? - Dính ngạc nhiên hỏi.
- Tôi về nhà mẹ đẻ. Tôi chán Chư Pấu quá rồi!
Nghe Mùa nói chán chồng bỏ về nhà mẹ đẻ, Dính khuyên:
- Chư Pấu nó dại nhưng vẫn là chồng mình, đừng bỏ nó mà khổ cả hai!
Nghe Dính nói thế, Mùa nghĩ nhiều lắm. Mặc dù không có tình yêu, nhưng từ ngày về làm vợ Sùng Chư Pấu đến nay Mùa thấy chồng mình cũng tốt, biết thương vợ. Tuy không được khôn như chồng người ta, nhưng bù lại Chư Pấu thuộc dạng người dễ sai bảo. Hầu như việc gì vợ bảo làm là Chư Pấu làm ngay. Nết tốt của Chư Pấu là không bao giờ đánh vợ, nếu say rượu thì chỉ ngủ. Là con nhà khá giả nhưng Chư Pấu không cậy của. Số bạc bố mẹ để lại, Chư Pấu đưa hết cho vợ cất giữ, tự ý chi tiêu, lúc nào cần mua thuốc phiện hoặc đi chợ ăn thắng cố thì Chư Pấu lại chìa tay xin vợ. Nghĩ như vậy tự nhiên Mùa thấy thương Chư Pấu quá, liền nói với Dính:
- Tôi phải dắt ngựa đem con về với Chư Pấu thôi. Dính đi cùng tôi nhá!
Thằng bé trong quẩy tấu bất ngờ cười khanh khách. Nó đạp mạnh đến nỗi chiếc quẩy tấu rung lên bần bật.
Mùa cùng Dính dắt ngựa trở về. Đi được một đoạn bỗng thấy có ánh đuốc phía trước. Hoá ra là Chư Pấu. Thấy vợ đem con bỏ nhà đi, Chư Pấu như người phát điên, phát cuồng. Hết ngửa mặt kêu trời, Chư Pấu lại ngửa cổ nốc rượu đựng trong vỏ quả bầu khô. Thật lạ, mọi khi chỉ uống nửa bầu rượu là Chư Pấu đã say nghiêng ngả, nhưng hôm nay uống cạn đến giọt cuối cùng vẫn tỉnh như sáo. Chư Pấu đưa tay đấm ngực bùm bụp. Rồi khóc. Cào cấu tóc tai mà khóc. Khóc chán vẫn không thấy vợ con về Chư Pấu liền đốt đuốc đi tìm. Gặp vợ con và Dính giữa đường, Chư Pấu sung sướng cười như bị ma làm. Cười chán, Chư Pấu vòng ra sau lưng vợ, móc tay vào trong miệng quẩy tấu lôi lấy thằng con. Chư Pấu giơ cao thằng bé trên đầu, vục mặt vào cái chim tí xíu của nó hôn hít cuống cuồng. Mùa nhìn cảnh Chư Pấu đùa con mà thấy lòng mình rưng rưng. Đôi mắt Mùa long lanh nước. Mùa khóc trong sự sung sướng của người mẹ trẻ. Dính đến bên Mùa, nói nhỏ:
- Chư Pấu chưa phải là người bỏ đi đâu. Nó tốt đấy, yêu con thế kia cơ mà!
Thằng bé lại cười khanh khách.
Từ hôm ấy Chư Pấu trở thành người khác hẳn. Ngoài việc chủ động bảo vợ đi đón thầy mo về làm lễ giải hạn cho con, Chư Pấu còn thức suốt đêm để cùng vợ chăm sóc con mỗi khi nó quấy khóc. Sự yêu con của Chư Pấu thể hiện rõ nhất trong buổi lễ cúng giải hạn. Chính hôm ấy Mùa và bà con dân bản mới nhận thấy hết tình yêu thương mà Chư Pấu dành cho đứa con trai của mình. Để xua đuổi tà ma, thầy mo ngậm dầu trong miệng, vừa nhảy múa vừa thổi phù phù vào que lửa đang cầm trên tay. Đúng lúc ngọn lửa bùng lên, Chư Pấu chẳng biết từ đâu nhảy bổ vào dùng tấm lưng gầy che chắn ngọn lửa cho con, miệng quát thầy mo: “Ông làm như thế cháy con tôi thì sao?” Thầy mo phát bực đuổi Chư Pấu ra ngoài. Được một lúc Chư Pấu lại ngó cổ vào xem. Thấy trên người thằng bé có mấy giọt máu tươi, Chư Pấu hét lên rồi lao vào túm lấy thầy mo, quát tướng: “Tại sao ông làm cho con tôi chảy máu?”. Chư Pấu đâu biết đấy là những giọt máu của con gà trống giò, thầy mo cắt tiết vẩy lên người thằng bé để làm phép trừ tà.
Sự yêu thương, chiều chuộng, giúp đỡ vợ con của Chư Pấu còn được thể hiện bằng những công việc thường ngày, những việc mà trước đây chẳng mấy khi Chư Pấu làm. Ngày nào Chư Pấu cũng miệt mài đi cắt cỏ bò, lấy củi, cõng nước giúp vợ. Đêm về còn cặm cụi xay ngô để vợ đồ mèn mén. Có hôm Chư Pấu thái cỏ bò, xay ngô đến gần sáng mới đi ngủ. Nhìn Chư Pấu gầy ngẳng, gò vai duỗi cổ kéo cái giằng xay để quay chiếc cối đá to như vành thúng, miệng thở phì phò, Mùa thấy xót đau từng khúc ruột vì thương chồng. Mùa địu con bước đến gần Chư Pấu, nói những lời yêu thương:
- Để tôi xay xúm với mình cho đỡ nặng!
- Tôi khắc xay được mà. Mình cứ cho con ngủ đi. Lúc nữa xay xong, tôi bế con cho mình đồ mèn mén.
Nghe Chư Pấu nói những lời ấy, Mùa sung sướng, cảm động vô cùng. Ngồi ôm con bên bếp lửa, Mùa nhìn chồng bằng cặp mắt lóng lánh nước và nghĩ thầm: Những người chồng khôn chắc cũng chỉ làm, chỉ nói được như thế thôi. Chư Pấu của mình không còn là người khờ dạinữa rồi!
Mùa đặt con lên chiếc phản, đắp cho nó chiếc áo tà pủ của Chư Pấu rồi bước ra bên ngoài. Mùa ngửa mặt trông lên bầu trời đêm lấp lánh muôn vàn những vì tinh tú, chắp tay trước ngực, miệng lẩm bẩm: “Ông Trời ơi! Chư Pấu chồng con hết dại rồi! Con xin đa tạ Ông Trời!”
Chư Pấu bàn với Mùa đặt tên con trai là Sùng Chứ Đa. Mùa chẳng biết cái tên ấy có nghĩa là gì, nhưng vì đó là cái tên do Chư Pấu nghĩ ra, lại nghe thấy cũng hay hay nên đồng ý ngay. Thật lạ, khi Mùa nhìn vào chỗ thằng bé đang nằm, gọi tên Chứ Đa, nó liền đón nhận luôn bằng một tràng cười khanh khách.
Hàng ngày Chư Pấu vẫn hút thuốc phiện, nhưng không hút nhiều, nhờ vậy không bị say bí tỉ như trước. Rượu thì Chư Pấu chỉ uống có chừng mực và uống trong bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ. Người già trong bản bảo chính thằng con của Chư Pấu đã đổi tính, đổi nết cho cha nó. Ai cũng tin rằng, khi lớn lên nhất định thằng Chứ Đa sẽ khôn hơn cha, sẽ làm được nhiều điều kỳ lạ, khác người…
Chẳng biết người già nói có đúng không, nhưng vợ chồng Chư Pấu mừng lắm, nhất là Mùa. Bị khổ nhiều vì phải lấy người chồng dại, Mùa luôn mong ước thằng Chứ Đa lớn lên sẽ khôn ngoan, khoẻ mạnh, khôi ngô.
Từ ngày có thằng Chứ Đa, vợ chồng Chư Pấu vất vả, bận rộn thêm nhiều, nhưng cuộc sống cũng có lắm niềm vui hơn. Đêm đêm, khi Chứ Đa ngủ say, Mùa đổ ngô hạt vào cối đá xay thành bột để đồ mèn mén. Khi chưa có Chứ Đa, việc xay ngô chỉ có một mình Mùa làm. Chiếc cối đá quá to khiến Mùa phải oằn mình mới quay được những vòng nặng nhọc, trong khi đó Chư Pấu cứ vùi mình giữa đống chăn sui, thò đầu ra rít thuốc phiện từ chiếc tẩu đen sì, cáu bẩn, rồi lịm đi trong làn khói ngất ngây. Bây giờ thì Mùa không phải xay ngô một mình nữa vì đã có Chư Pấu giúp sức. Chư Pấu mải xay ngô quên cả hút thuốc phiện. Chư Pấu vừa kéo giằng xay cùng vợ, vừa nhìn thằng con bụ bẫm đẹp như thiên thần đang nằm ngủ yên lành trên chiếc phản gỗ đen bóng, dưới ánh lửa bập bùng, ấm áp, bất chấp tiếng cối đá xay ngô ù ù bên tai. Ánh mắt Chư Pấu nhìn đứa con bằng cái nhìn thánh thiện của một người cha hiền lành. Mùa liếc mắt nhìn chồng, nhìn con, lòng dạt dào niềm vui, niềm hạnh phúc đơn sơ của một người mẹ trẻ. Mùa làm lụng thâu đêm đến sáng mà không thấy mệt, đôi má lúc nào cũng đỏ rực, nóng như bếp lò.
Những buổi làm nương Mùa thường thả Chứ Đa ngồi vào chiếc quẩy tấu, cho Chư Pấu đeo sau lưng đi trước, còn mình thì đeo quẩy tấu nặng đến oãi vai theo sau. Trong chiếc quẩy tấu của Mùa đựng bao nhiêu là thứ, từ đồ ăn thức uống cho đến hạt giống, lưỡi quà, lưỡi cuốc, dao rựa… Nhìn thằng con trai có gương mặt sáng đẹp như trăng ngày rằm, đầu đội chiếc mũ nồi ngũ sắc, ngồi trong quẩy tấu ngoái cổ cười với mẹ, Mùa quên hết mọi mệt nhọc. Đôi chân tròn lẳn, trắng muốt của Mùa thoăn thoắt bước như múa dưới lớp váy thổ cẩm đong đưa. Chả mấy chốc đôi chân ấy đã đưa Mùa lên tới cái nương cao vút trên lưng chừng núi đá. Chứ Đa vẫn ngồi trong quẩy tấu, được cha treo lên cành cây to rợp bóng mát. Mùa hái cho nó một bông hoa mẫu đơn rừng thơm ngát, đỏ lựng. Chứ Đa nhìn bông hoa cười khanh khách. Những con bướm rừng đủ sắc màu từ đâu bay đến, lượn quanh bông hoa mẫu đơn trên tay Chứ Đa. Chẳng mấy chốc lũ bướm đã tụ tập thành đàn, rập rờn quây kín chiếc quẩy tấu của Chứ Đa. Chứ Đa thích thú cười đùa với lũ bướm. Tiếng cười của nó vang khắp cả triền đá xám. Tiếng cười con trẻ khiến cho cái tay chọc lỗ của Chư Pấu nhanh hơn, bàn tay bỏ hạt của Mùa thoăn thoắt như múa…
Hai vợ chồng Chư Pấu chăm chỉ làm ăn được nhiều ngô, nhiều bò, nhiều lợn, nhiều gà. Chứ Đa được ăn no, ăn ngon nên lớn rất nhanh, cao hơn các bạn cùng lứa hẳn một cái đầu. Nó là đứa rất nhanh nhẹn, bạo dạn và sáng dạ. Hiềm một nỗi nó lại mắc chứng hay hung cùn. Ai trêu chọc hoặc làm trái ý là Chứ Đa đỏ mặt, tía tai liền. Nó sẵn sàng sừng sộ với bất cứ người nào làm nó tức giận. Những khi tức giận, giữa trán Chứ Đa thường nổi lên một nốt có mầu bạc trắng như bôi vôi, to bằng đầu ngón tay cái người lớn. Khi nào nó hết tức giận, mặt hết đỏ, cái nốt mầu trắng ấy mới lặn.
❖ ❖ ❖
Chứ Đa càng lớn càng khoẻ mạnh, giỏi giang. Nhìn vóc dáng nó cao ráo, đi đứng nhanh nhẹn, nước da trắng như trứng bóc ai cũng phải trầm trồ. So với bạn bè cùng lứa, Chứ Đa hơn hẳn mọi mặt. Vợ chồng Mùa nhìn ngắm con mà sướng cái bụng. Họ luôn hi vọng lớn lên nó sẽ thành một chàng trai tuấn tú. Đối với lũ trẻ con ở thung lũng Sủng Pả, Sùng Chứ Đa giống như một thủ lĩnh, bởi làm bất cứ điều gì nó cũng giỏi hơn các bạn. Nó luôn là đứa cầm đầu trong các trò chơi trẻ nhỏ. Ngoài biệt tài chỉ huy, Chứ Đa luôn yêu thương, quan tâm, giúp đỡ bạn bè. Vì thế lũ trẻ con ở bản rất quí trọng, tin tưởng nó.
Nhưng Sùng Chứ Đa chỉ thực sự được các bạn nể phục, trở thành "đầu lĩnh" của nhóm khi cả bọn rủ nhau thi thố một trò chơi rất nguy hiểm lúc đi chăn bò. Hôm ấy, sau khi thả bò và rủ nhau tìm bắt tắc kè ở các khe đá, Chứ Đa cùng bọn thằng Seo Lử, Mí Vư và cái Thào Mỷ kéo nhau đến khu vực Miệng Hổ. Đó là một vực đá hết sức hiểm trở, đáy vực lởm chởm đá nhọn. Nhìn từ xa nơi đây trông giống như cái miệng cọp khổng lồ đang nhe hàm răng nhọn hoắt dọa nạt mọi người. Phía trước Miệng Hổ là một bãi đá rộng, khá bằng phẳng. Chứ Đa nhìn Miệng Hổ, hỏi các bạn:
- Chúng mày có đứa nào dám nhảy qua không?
Mí Vư nhìn xuống đáy Miệng Hổ, lắc đầu:
- Nhảy qua làm sao được. Rơi xuống thì chết nát xương!
Seo Lử ngó xuống theo, miệng ấp úng:
- Chịu thôi. Nhìn đã sợ rồi, nhảy qua làm sao được!
Thào Mỷ không dám đến gần miệng vực. Người nó cứ run lên như bị rét.
Chứ Đa nhìn lại Miệng Hổ một lần nữa rồi quả quyết:
- Tao nhảy qua được!
Thào Mỷ vội túm tay Chứ Đa, can:
- Không nhảy qua được đâu, nguy hiểm lắm!
Chứ Đa nhìn Thào Mỷ, nở một nụ cười. Nó nhẹ nhàng gỡ tay Thào Mỷ, bất ngờ bật “vèo” một cái qua miệng vực đá. Nó nhảy nhẹ nhàng như một chú sóc.
Những đứa bạn của Chứ Đa ngó xuống phía dưới đáy vực, nhìn sang vách đá bên kia lắc đầu sợ hãi. Chẳng đứa nào dám nhảy qua vì sợ nhỡ trượt chân rơi xuống vực đá nhọn thì chỉ có tan xác!
Chứ Đa cười khanh khách, rồi lại nhẹ nhàng nhảy qua Miệng Hổ. Nó cứ nhảy qua nhảy lại như biểu diễn. Đứng ở bờ đá bên kia, Chứ Đa nói to:
- Nếu không đứa nào nhảy qua được thì từ nay trở đi chúng mày phải gọi tao là đầu lĩnh. Phải nghe lời tao sai khiến!
Bọn bạn của Chứ Đa chẳng hiểu "đầu lĩnh" là gì, nhưng đều đồng ý ngay lập tức vì chúng thấy Chứ Đa giỏi quá!
Từ sau bận nhảy qua Miệng Hổ, Sùng Chứ Đa thành người khác hẳn. Làm việc gì nó cũng sai bảo các bạn, cứ như một đầu lĩnh thực sự. Việc lùa bò lên nương rồi gọi bò trở về Chứ Đa đều giao cho thằng Seo Lử và Mí Vư. Hai đứa cứ tăm tắp làm theo lệnh của “đầu lĩnh”, chẳng bao giờ dám trái lời. Bắt được tắc kè chúng phải nộp lại cho Chứ Đa một nửa, cho Thào Mỷ một phần theo lệnh của "đầu lĩnh". Bù lại, nếu Mí Vư, Seo Lử bị bọn trẻ con bản khác bắt nạt hoặc trêu chọc, Chứ Đa sẽ là người ra tay bênh vực.
Riêng cái Thào Mỷ được Chứ Đa chiều chuộng hơn. Hàng ngày đi chăn bò Chứ Đa chỉ ngồi một chỗ để nói chuyện với Thào Mỷ hoặc cùng Thào Mỷ đi nhổ cây củ đá về nhâm nhi cho đỡ khát nước. Nó nhổ khóm củ đá lên, nhặt những củ to tròn, mọng nước, lau vào áo tà pủ sạch đến trong veo đưa cho Mỷ. Chứ Đa nhìn Thào Mỷ ăn củ đá bằng ánh mắt khác lạ - ánh mắt nửa người lớn, nửa trẻ con. Bắt gặp cái nhìn của Chứ Đa, đôi má Thào Mỷ hồng lên e thẹn.
Tiếng tăm của “đầu lĩnh” Sùng Chứ Đa lan dần ra các bản xung quanh. Nhiều trẻ con ở nhóm khác phần vì tò mò, phần vì nể sợ đã tìm đến Chứ Đa làm quen. Sau mỗi lần gặp Sùng Chứ Đa, đứa nào cũng nhận thấy nó xứng đáng là “đầu lĩnh” thật. Một đầu lĩnh trẻ con, nhưng đúng là “đầu lĩnh”! Con người Chứ Đa luôn toát ra một vẻ gì đó rất khác thường. Thời gian trôi đi, lũ trẻ ở Sủng Pả đến tuổi vỡ tiếng, phổng phao, trông đã ra dáng những chàng trai, cô gái. Chứ Đa là đứa khỏe mạnh, khôi ngô nhất. Nó cao lớn hơn hẳn các bạn cùng lứa. Nhìn nó giống hệt như chàng hoàng tử trong truyện cổ tích. Đôi má Thào Mỷ đã bắt đầu hồng lên như trái đào chín, gương mặt đẹp chẳng khác nào một nàng công chúa. Nó học bà nội cách se lanh dệt vải, cách khâu áo váy từ mấy năm trước. Bây giờ nó đã làm thành thạo những việc ấy như một thiếu nữ Mông thực thụ.