Thạch Trụ Huyết

Lượt đọc: 1282 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần III

Nghe tin ở Sủng Pả có đầu lĩnh, Pủ Sá thấy lạ lắm. Là kẻ chuyên đi buôn bán thuốc phiện, da lông thú khắp mọi vùng mà Pủ Sá chưa hề biết đầu lĩnh là gì. Chuyến này về Sủng Pả, lão quyết tìm gặp bằng được kẻ đầu lĩnh kia để thỏa chí tò mò. Lão cũng muốn tìm hiểu xem cái người được gọi là “đầu lĩnh” có gì đặc biệt so với người thường và quan trọng là liệu kẻ ấy có gây khó dễ gì cho lão khi buôn bán thuốc phiện, da lông thú ở cái thung lũng Sủng Pả này không. Trong thâm tâm lão nghĩ, nếu đầu lĩnh có thực lực lão sẽ hợp tác làm ăn; còn nếu đó chỉ là hư danh thì lão sẽ trấn áp ngay từ đầu.

Lão Pủ Sá có dáng người thấp đậm, đầu hói, để râu quai nón. Nhìn lão thấy toát lên những nét vừa bí ẩn vừa hoang dã. Đôi mắt lão ti hí nhưng rất giảo hoạt, núp dưới cặp lông mày rậm như sâu róm, phía cuối có những chiếc lông dài vểnh lên như sừng trâu. Lão có một chiếc sẹo hình lưỡi rìu khá to trên mảng đầu bên phải. Lão mặc áo da bò không tay, chẳng bao giờ cài khuy, để lộ ra mảng bụng vừa đen, vừa chai lỳ, chắc như da trâu. Người yếu bóng vía lần đầu tiên nhìn thấy lão chắc hẳn sẽ lạnh buốt sống lưng.

Mặc dù đi buôn bán thuốc phiện nhưng Pủ Sá không nghiện ngập đến mức còm nhom như những người nghiện hút ở Sủng Pả. Lão rất khoẻ, ngực nở, bụng thót, bắp chân bắp tay cuồn cuộn, rắn như đá. Lần nào đến Sủng Pả lão cũng trú ngụ ở hang Thẳm Vài, một cái hang đá chỉ nghe tên ai cũng thấy sợ. Buôn bán ở thung lũng Sủng Pả đã lâu nhưng lão không thân thiết với bất cứ ai. Các mối quan hệ của lão chỉ là bán mua đơn thuần. Cái hang lão ở khá rộng, có nhiều ngóc ngách, có mạch nước nhỏ chảy suốt ngày đêm. Lão biến cái hang đá lạnh lẽo, mà người dân trong bản thường đồn “có ma quỷ hiện hình” mỗi khi trái gió giở giời, thành ngôi nhà bất khả xâm phạm của lão. Từ ngày Pủ Sá chọn hang đá này làm nơi ẩn cư, dân bản Sủng Pả ít người dám đến gần. Lão thường đi suốt ngày, tối mới về hang luyện võ, nấu nướng, ăn uống, rồi ngủ. Một số người ở bản Sủng Pả từng nhìn thấy lão luyện võ Tàu vào những đêm trăng mờ phía ngoài cửa hang. Lão đi quyền cứ như mãnh hổ. Chân tay lão cứng như sắt nhưng rất hoạt. Khi lão múa võ, tiếng quật gió từ tay chân lão kêu vù vù. Lão nhào lộn trên bãi đá nhọn nhẹ như không. Thỉnh thoảng lão cao hứng chộp lấy những tảng đá to bằng nửa con bò ném xuống vực sâu. Tiếng đá lăn kinh thiên động địa, gây náo loạn cả một vùng. Mỗi lần về Sủng Pả tìm mua da lông thú, mua thuốc phiện, Pủ Sá thường đem theo hai con ngựa. Một con lão cưỡi, một con chuyên thồ hàng. Lão chỉ đi một mình, bên hông luôn luôn mang theo thanh kiếm dài.

Gặp “đầu lĩnh” Sùng Chứ Đa, Pủ Sá hơi bất ngờ vì đó chỉ là một thằng trai mới lớn. Nhưng nhìn kỹ lão thấy ở Chứ Đa có những nét khác thường nên rất chú ý đến thằng trai này. Một lần lão rủ Chứ Đa đi theo lão về Dú Già - một bản nổi tiếng có nhiều loại da thú tốt - để xem lão trổ tài mua bán. Sau chuyến đi ấy, Pủ Sá quyết định chọn Chứ Đa làm hầu cận cho mình. Hắn nghĩ xa rằng, muốn ngày càng giàu có, ngày một thêm thế lực thì phải có những kẻ hầu cận giỏi giang, mà Chứ Đa là một kẻ như vậy.

Một hôm Pủ Sá hỏi Chứ Đa:

- Mày có thích học võ không?

Chứ Đa không biết võ là gì, bèn hỏi lại:

- Võ là gì mới được chứ?

- Là luyện cho người mình khoẻ mạnh, chân tay cứng cáp, nhanh nhẹn để đánh nhau được với nhiều người. Muốn không bị ai bắt nạt thì cần phải học võ. Muốn hơn người và sai khiến được người khác thì phải giỏi võ.

Nghe Pủ Sá nói thế, Chứ Đa thích lắm. Nó gật đầu, hào hứng nói:

- Thế thì Chứ Đa thích đấy! Nhưng học võ ở đâu? Ai dạy?

- Tao sẽ dạy mày. Nhưng tao phải nói trước điều này, học võ sẽ rất đau đớn và mệt xác. Muốn học được thì phải biết chịu đau, phải cố sức, không được nản chí!

Ngẫm nghĩ một lát, Chứ Đa bảo:

- Những thứ ấy tôi làm được!

Từ hôm ấy, cứ lúc nào rỗi là Pủ Sá lại tranh thủ dạy võ cho Chứ Đa. Pủ Sá nhận thấy Chứ Đa đúng là một kẻ hơn người. Nó tiếp thu rất nhanh những thế võ, những đường quyền khó. Nó chịu đòn, tránh đòn rất tốt. Pủ Sá nghĩ, nếu dạy dỗ tốt, nhất định Chứ Đa sẽ trở thành một hầu cận giỏi sau này.

Nhiều hôm tập võ xong, Chứ Đa thấy người mình như vỡ ra, chân tay mỏi rã rời. Nhưng nó không nản. Sự trai trẻ giúp nó mau chóng lấy lại sức lực. Nhìn Chứ Đa đi những đường quyền, phóng những “cước” vừa mạnh, vừa chính xác, Pủ Sá ưng ý lắm. Lão liên mồm khen “hảo lớ, hảo lớ”. Lão thưởng cho Chứ Đa mấy điếu thuốc phiện loại “thượng hảo hạng” để hút lấy sức. Lão bảo hút loại thuốc này thì người khoẻ ra chứ không ốm yếu như thứ thuốc phiện mà người ở bản Sủng Pả thường hút.

Hàng ngày, ngoài việc dạy võ, Pủ Sá còn cho Chứ Đa đi theo mình đến các vùng lân cận xung quanh Sủng Pả tìm mua thuốc phiện và da lông thú để gom lại đem sang bên kia biên giới bán cho người Tàu. Trong những chuyến đi ấy Pủ Sá dành khá nhiều thời gian chỉ bảo cho Chứ Đa cách thức buôn bán hai thứ hàng quí đó. Chứ Đa chỉ nghe một lần là nhớ và làm được luôn.

Quen với Pủ Sá được vài tuần thì Chứ Đa dẫn lão về nhà giới thiệu với bố mẹ. Nhìn căn nhà tồi tàn, ngồi nói chuyện với bố mẹ Chứ Đa, Pủ Sá cứ lắc đầu quầy quậy. Lão không thể giải thích được tại sao một nhà nghèo thế này, một người bố ất ơ như vậy, một người mẹ bình thường như bao người mẹ khác mà lại đẻ ra được một thằng con có khả năng đặc biệt như thế? Lão nghĩ, có thể Chứ Đa là con của Trời hoặc của Thần Rừng, Thần Núi. Nghĩ đến đó, đôi mắt Pủ Sá sáng lên tinh quái. Sau khi mời Sùng Chư Pấu mấy điếu thuốc phiện “thượng hảo hạng”, tặng Mùa mấy đồng bạc trắng, Pủ Sá nói:

- Cha mẹ Chứ Đa à. Thằng Chứ Đa là người Trời đấy. Nó không phải là con của người thường đâu. Trời gửi nó xuống cho hai người thôi. Nếu không cho nó đi theo tôi là Trời bắt nó về sớm đấy. Hai người muốn cho thằng Chứ Đa sống lâu thì phải chịu xa nó một thời gian.

Mùa nhận thấy Pủ Sá là kẻ không đáng tin và nhìn lão bằng đôi mắt chẳng lấy gì làm thiện cảm. Nhưng những lời lão vừa nói lại làm cho Mùa thấy lo và có vẻ tin lão. Mùa nghĩ thầm, nhỡ biết đâu lão ấy nói đúng thì sao? Mùa bỗng liên tưởng cái sự khác thường của thằng Chứ Đa so với những đứa bé khác kể từ lúc nó được đẻ ra đến nay. Rồi Mùa nhớ đến lời tộc trưởng Nỏ Pó, lời thầy mo nói không hay về Chứ Đa từ hơn chục năm trước, khi nó còn là một đứa bé con. Những lời nói đó đã khiến cho Mùa thấy bất an cả trong giấc ngủ, trong từng bữa ăn, bây giờ lại nghe Pủ Sá nói Chứ Đa là người Trời thì thực sự Mùa thấy hoảng sợ. Mùa nhìn sang Chư Pấu xem ý chồng thế nào, nhưng Chư Pấu đang ngập chìm đê mê trong làn khói thuốc phiện nên chẳng chú tâm đến xung quanh. Mùa lại nhìn sang Chứ Đa, thấy mặt nó tươi tỉnh khác ngày thường. Mùa khẽ nén tiếng thở dài.

Lão Pủ Sá nói vậy là có ý cả. Lão muốn có trong tay một kẻ hầu cận giỏi võ, giỏi nghề, có khả năng hơn người để dễ bề sử dụng cho kế hoạch của lão sau này. Lão đi nhiều nơi nhưng chưa bao giờ gặp được một kẻ trẻ tuổi mà nhiều triển vọng như Sùng Chứ Đa. Lão muốn mang Chứ Đa về Mã Lỳ - nơi lão đóng bản doanh - để đào luyện thành một tên hầu cận tốt. Kinh nghiệm cho lão thấy, muốn làm nên việc lớn thì phải biết tìm chọn người từ khi còn trẻ về nuôi dạy để làm tay chân tin cẩn sau này. Trong thời gian ấy phải tách chúng ra xa khỏi vòng tay bố mẹ, để chúng toàn tâm toàn ý nghe theo lời chỉ bảo của lão.

Thấy Mùa lưỡng lự chưa nói gì, Pủ Sá bồi tiếp:

- Thằng Chứ Đa mà đi theo tôi về Mã Lỳ ở phía Bắc thì sẽ nên người giỏi đấy. Sau này nó trở về sẽ mang vinh hoa, phú quí về cho bố mẹ. Hai người cứ chọn đi, cho nó đi hay ở thì tuỳ. Nhưng nó đi thì tốt hơn. Nó ở nhà chỉ sợ Trời bắt về sớm thì mất hẳn nó!

Nói xong mấy câu có ý hăm doạ, Pủ Sá bỏ đi. Trước khi bước khỏi bậc cửa lão còn ngoái đầu nói thêm:

- Nếu cho nó đi thì bảo Chứ Đa nói với tôi. Tôi sẽ quay lại đón!

❖ ❖ ❖

Bầu trời như rộng mở hơn trước mắt Chứ Đa kể từ khi nó gặp lão Pủ Sá đầu hói. Nó bỗng dưng thấy thung lũng Sủng Pả quê mình hết sức nhỏ bé, đơn điệu, cũ kỹ. Mọi ngày, mở mắt ra nó chỉ nhìn thấy xung quanh toàn một màu đá xám. Đá tầng tầng, lớp lớp giăng quanh thung lũng như chiếc váy khổng lồ của người đàn bà Mông. Nhìn lên toàn là mây đen, sương trắng dày đặc, che hết cả ánh mặt trời. Nhìn xuống chỉ thấy ngô đậu, bí dưa và cây thuốc phiện. Nhìn mọi người trong bản thấy ai cũng lam lũ, khổ sở quanh năm... Chỉ có một thứ duy nhất Chứ Đa thấy đẹp, đó là hoa cây thuốc phiện. Loài hoa này còn có cái tên rất đẹp khác là anh túc. Mỗi mùa hoa anh túc nở, cả thung lũng Sủng Pả rộng lớn chìm đắm trong bạt ngàn sắc hoa tím biếc, xen lẫn màu hồng tươi, màu xanh ngăn ngắt đẹp đến mê hồn. Những cánh hoa to như bàn tay trẻ con, mỏng mềm như lụa, ngậm muôn vàn hạt sương sớm li ti, trong veo như những hạt ngọc, đẹp chẳng khác gì vườn hoa cổ tích của các nàng Tiên. Nhưng Chứ Đa không thể nào hiểu nổi, tại sao loài cây hoa đẹp tuyệt ấy lại kết thành những quả có thứ nhựa khi tươi thì trắng như sữa, đến lúc khô lại đen như cứt gà sáp, dẻo quẹo. Cái thứ nhựa đen ấy khi đốt lên có mùi thơm đặc biệt và sự dẫn dụ kỳ lạ. Khói của nó đã làm cho bao nhiêu trai tráng khoẻ mạnh khi hút vào bị nghiện ngập đến mê man, mụ mị, trở nên thân tàn ma dại? Chứ Đa nghĩ, chính cha mình cũng là một người bị cái khói ma của thứ nhựa đen ấy làm cho tiều tuỵ như vậy. Bỗng dưng nó thấy những bông anh túc kia chẳng còn gì là đẹp nữa.

Chứ Đa muốn bứt phá khỏi sự cũ kỹ, chật hẹp, khốn khổ ấy. Nó muốn đi khỏi Sủng Pả một thời gian để xem bên ngoài thung lũng này còn điều gì khác nữa. Nó muốn cùng lão Pủ Sá đi buôn thuốc phiện, buôn da lông thú để biết nhiều nơi. Có lần Chứ Đa nghe Pủ Sá bảo, muốn buôn bán giỏi thì phải biết chữ Nho, biết võ và biết nhiều thứ khác, mà việc ấy thì chẳng dễ làm, nhất là học chữ. Nhưng nó không ngại, bởi nó nghĩ, chữ thì chưa biết thế nào, riêng học võ cũng chẳng khó lắm. Tuy vất vả thật nhưng cố luyện tập sẽ biết thôi. Việc khác thì người ta làm được chắc mình cũng làm được... Nghĩ vậy nhưng Chứ Đa vẫn rất lo, biết đâu cha mẹ không đồng ý cho đi theo Pủ Sá thì sao?

Khi cả nhà ăn xong bữa tối, Chứ Đa lựa lời nói với cha mẹ:

- Cha mẹ à, tôi muốn được đi với lão Pủ Sá về Mã Lỳ ở phía Bắc để học nghề buôn, học chữ Nho. Như vậy có được không?

Nghe Chứ Đa hỏi, hai vợ chồng Chư Pấu im lặng nhìn nhau. Họ im lặng vì trong thâm tâm không muốn cho con đi xa. Mặc dù lão Pủ Sá bảo đưa Chứ Đa đi là để giúp nó phương trưởng, đem vinh hoa, phú quý về cho cha mẹ, nhưng vợ chồng Chư Pấu không cần những thứ đó. Cái họ cần là cả nhà sum vầy, vợ chồng con cái luôn ở bên nhau, sướng khổ có nhau. Lão Pủ Sá là người như thế nào cả hai vợ chồng đều chưa biết rõ. Nhìn vẻ mặt đầy bí ẩn của lão thấy thật khó tin. Mã Lỳ là vùng đất xa lạ biết hay, dở thế nào? Thằng Chứ Đa vẫn còn là trẻ con, tuy có lớn nhưng chưa có khôn, đi xa thiếu sự chăm sóc của cha mẹ thì sẽ ra sao?... Bao nhiêu câu hỏi cứ quay cuồng trong đầu óc Mùa và Chư Pấu. Cuối cùng, Chư Pấu bảo:

- Xa lắm không đi được đâu. Ở nhà làm nương thôi!

Chứ Đa quả quyết:

- Đi được chứ. Chỉ cần một ngựa, một thanh kiếm, mấy đồng bạc trắng là đi được mà. Không đi thử thì làm sao mà biết!

Mùa lo lắng hỏi:

- Nhưng ăn ở đâu, ngủ ở đâu, học làm sao?

- Khắc đi, khắc biết! - Chứ Đa nói như đã nghĩ kỹ lắm rồi.

Nhìn vẻ mặt kiên quyết của con trai, cả Chư Pấu và Mùa đều thấy ái ngại. Nuôi nó bằng ấy năm trời họ hiểu rất rõ tính nết con mình. Nó đã nói là làm, ngăn cũng chẳng được. Từ ngày có Chứ Đa, không hiểu sao Mùa không đẻ thêm được đứa con nào nữa. Bây giờ nó đi xa nếu chẳng may bị làm sao thì cả nhà chết mất. Nghĩ vậy Mùa định khuyên con đừng đi, nhưng chợt nhớ đến câu lão Pủ Sá doạ: “Nếu không cho nó đi theo tôi là Trời bắt nó về sớm đấy” và nhìn thấy gương mặt Chứ Đa bắt đầu đỏ tía, trên trán nó đang hiện dần nốt bạc trắng như bôi vôi, thì cả Mùa và Chư Pấu không dám cản nữa!

Chứ Đa băn khoăn nhìn cha mẹ. Thực lòng nó cũng không muốn xa nhà, xa Thào Mỷ và các bạn chăn bò. Nhưng cái ý thích đi xa để biết thêm những điều chưa biết, muốn học hỏi bao điều mới lạ, cộng với lời rủ rê đường mật của lão Pủ Sá đã khiến nó có thêm quyết tâm. Chứ Đa nói với cha mẹ:

- Bây giờ tôi đi tìm lão Pủ Sá để nói lại việc này.

❖ ❖ ❖

Chư Pấu và Mùa không sao ngủ được. Nửa đêm nay Chứ Đa và lão Pủ Sá sẽ đi rồi. Cứ nghĩ đến cảnh phải xa con là Mùa lại thậm thụi khóc. Mùa có cảm tưởng lần này ra đi thằng Chứ Đa sẽ mãi mãi không về. Chư Pấu vùng dậy lao về phía bàn đèn. Đã khá lâu rồi Chư Pấu không hút thuốc phiện tại nhà, vì sợ Chứ Đa bắt chước hút theo thì khổ. Những lúc thèm quá Chư Pấu thường đem thuốc phiện sang nhà Nỏ Pó để hút. Nhưng hôm nay buồn quá nên Chư Pấu lại hút và hút khá nhiều. Giống như hôm Mùa đẻ Chứ Đa, hôm nay Chư Pấu hút liên tục mấy điếu liền mà vẫn chưa say.

Thấy cha mẹ không ngủ, Chứ Đa bảo:

- Cha mẹ cứ ngủ đi, lo làm gì. Nửa đêm về sáng tôi đi, chưa biết bao giờ về. Nhưng khi tôi về thì nhà ta sẽ hết khổ! Tôi nói thật đấy.

Mùa nghe con nói, nước mắt cứ chảy tong tong. Mùa nghĩ thương Chứ Đa chưa thực lớn khôn, lại đi đến chỗ xa lạ chẳng biết sẽ thế nào. Một hồi lâu sau, như chợt nghĩ ra điều gì, Mùa bỗng vùng dậy, bước nhanh xuống bếp, cặm cụi đồ một chõ xôi to, dỡ ra mẹt để nguội, cho vào ống bương giã chặt, nút lá chuối làm đồ ăn đi đường cho Chứ Đa và lão Pủ Sá.

Chư Pấu hỏi vợ:

- Không có gì ăn với xôi à?

Mùa thở dài:

- Vội thế này thì có gì chứ! Hay là làm thịt một con gà?

Chư Pấu chợt nhớ ra, liền nói với vợ:

- Ở giàn bếp nhà mình vẫn còn một ống thịt bò khô.

Mùa reo lên:

- A, đúng rồi. Mình lấy xuống đi!

Chư Pấu với tay lên giàn bếp lấy ống bương đựng thịt bò khô, lau sạch bồ hóng, buộc cùng với những ống xôi nếp mà Mùa đã chuẩn bị. Chư Pấu lên nhà lấy cái túi dết bằng vải lanh nhuộm chàm từ thời ông nội để lại, bên trong có mấy đồng bạc trắng, đưa cho Chứ Đa:

- Mày lấy cái này đựng quần áo cho gọn. Bạc trắng bỏ vào túi, giắt vào người kẻo mất! Phải nhớ ăn no để có sức mà cưỡi ngựa!

Nói đến chuyện cưỡi ngựa, Chư Pấu thấy Chứ Đa thật giỏi. Lứa tuổi như nó đã có mấy đứa biết cưỡi ngựa đâu. Ngay như Chư Pấu, đến bây giờ vẫn chưa biết cưỡi ngựa. Thế mà thằng Chứ Đa làm được việc ấy. Nó chỉ nhờ Pủ Sá bảo cho có một lần là làm được ngay. Mấy hôm trước nhìn Chứ Đa ngồi chễm chệ trên lưng con ngựa nâu, Chư Pấu thấy sướng cái bụng.

Dặn con xong, Chư Pấu ra phía sau nhà lấy chiếc yên ngựa xuống kiểm tra lại. Nghĩ ngợi một lúc, Chư Pấu đưa ngón tay lên miệng cắn cho chảy máu rồi bôi quệt lên khắp yên ngựa để cầu may, cầu phúc cho con trước lúc nó đi xa. Xong việc, Chư Pấu cầm tẩu thuốc phiện định hút vài điếu, nhưng nghĩ sao lại thôi. Ngần ngừ một lúc, Chư Pấu đi xuống bếp ngồi ôm gối nhìn đống lửa đang cháy âm ỉ, nghĩ ngợi mông lung. Đôi mắt Chư Pấu chợt mờ đi như có màn sương che phủ. Sống lưng Chư Pấu bỗng lạnh toát như có ai đang dùng lưỡi dao sắc nhọn khứa vào da thịt. Chư Pấu thấy trong lòng đầy những thổn thức, bất an.

Mùa ngồi bên con dặn dò đủ thứ, thỉnh thoảng lại nấc lên như người bị nghẹn.

Chứ Đa ngồi im lìm, đôi mắt mở to nhìn cha, nhìn mẹ và nhìn vào đống lửa. Chẳng biết nó đang nghĩ gì? Ngọn lửa từ bếp ánh lên trong đôi mắt nó đỏ rực.

Lão Pủ Sá lặng lẽ đến. Sau tiếng huýt gió, lão vẫy tay ra hiệu cho Chứ Đa lên ngựa. Thấy Mùa đưa cho Chứ Đa nhiều thứ lủng củng, lão tỏ ra không hài lòng, nhưng không nói gì.

Chư Pấu đứng nhìn theo con trai như hoá đá. Mùa ngã vật xuống dưới chân chồng, miệng ú ớ không cất nổi lời. Đôi tay Mùa chấp chới hướng về phía Chứ Đa cùng lão Pủ Sá đang xa dần, xa dần…

Mặt trời lấp le trên đỉnh núi Pù Sa. Mây đen dầy đặc làm cho ánh nắng buổi sớm chiếu xuống thung lũng Sủng Pả chỉ còn là thứ ánh sáng yếu ớt, vàng vọt. Tiếng gà gáy sáng râm ran khắp vùng. Chư Pấu thấy tiếng gà hôm nay không vang vọng, hào sảng như mọi ngày, ngược lại cứ âm âm, u u như từ một cõi xa xăm vọng về, nghe thật não nùng, xa lạ.

Tiếng chuông bò nhà ai thả sớm đang leng keng trên dốc đá. Chư Pấu nhìn đàn bò nhẩn nha gặm cỏ mà thèm. Chư Pấu bỗng ước mình được như những con bò kia, chẳng phải lo lắng buồn phiền điều gì. Cứ nghĩ đến việc thằng Chứ Đa bỏ nhà đi theo lão đầu hói không biết là lành hay dữ, chẳng biết bao giờ về là Chư Pấu lại loạn trí như người hoá dại, gào thét ầm ĩ. Gào thét chán, Chư Pấu vào nhà lôi thuốc phiện ra hút. Hút liên tục mấy điếu liền. Mùa đến bên chồng, nói như người mê ngủ:

- Cho tôi một điếu. Tôi hút cho say để quên thằng Chứ Đa đi!

Chư Pấu tròn mắt nhìn vợ, rồi lè nhè nói:

- Đàn bà không hút thuốc phiện được đâu. Cái này chỉ dành cho đàn ông thôi!

- Mặc kệ. Mình cứ cho tôi hút một điếu đi!

Mùi khói thuốc phiện tỏa ra ngào ngạt khiến Chư Pấu ngất ngây, nằm lịm đi trong cơn mê khói thuốc. Mùa nằm cạnh chồng, nghếch mũi hít hít cái mùi thuốc đầy ma lực, rồi thiếp đi. Họ chìm vào một giấc ngủ mộng mị. Trong cơn mê ngủ thỉnh thoảng họ lại hét lên hoảng loạn, bất chợt ngồi dậy, rồi lại nằm xuống mơ mòng.

❖ ❖ ❖

Đi với Pủ Sá rồi Chứ Đa mới thấy sợ. Tuy là một chàng trai trẻ thông minh, can đảm, có phần ngỗ ngược, đã từng học võ Tàu và dám làm những việc ghê gớm, nhưng Chứ Đa thật sự thấy nản lòng khi theo lão Pủ Sá vượt đường xa, đá nhọn để đến Mã Lỳ, mảnh đất nó chưa hình dung được sẽ như thế nào. Tiếng móng ngựa gõ vào đá mà nó nghe cứ tưởng tiếng đập của quả tim mình nơi lồng ngực. Hình bóng cha mẹ bỗng hiện lên trước mắt Chứ Đa. Nỗi thương cha, thương mẹ trào lên trong lòng nó. Bóng Thào Mỷ cứ chập chờn phía xa xa. Chứ Đa cảm thấy ân hận vì đi xa mà không chia tay với Thào Mỷ và Seo Lử, Mí Vư - những người bạn thân nhất của nó. Cũng chỉ tại cái lão Pủ Sá gớm ghiếc kia bắt phải như vậy. Lão bảo, chuyến đi này ngoài cha mẹ ra không được cho ai biết. Lời của lão giống như lời thầy mo, đầy quyền lực và bí ẩn không thể cưỡng lại được.

Lão Pủ Sá cưỡi ngựa rất giỏi. Nhiều lúc ngựa leo dốc ngược trông như thể lão ngã đến nơi, vậy mà lão vẫn nhởn nhơ bám lấy bờm ngựa, ngoái đầu lại gọi Chứ Đa:

- Hầy dà, cố lên đi, bám chắc bờm ngựa vào! Mày sợ hay sao mà không nói năng gì cả? Hay là mày không muốn đi nữa?

Thỉnh thoảng hứng chí lên Pủ Sá lại hát mấy câu nghe như tiếng ngựa gõ móng. Lão hát rằng: “Đời trai sơn cước chẳng sợ gian nan. Không gì sướng bằng có vợ đẹp. Không gì thích bằng hút thuốc phiện và ôm gái tơ. Khoái nhất là được đâm chém...” Nghe lão hát những câu chẳng đâu vào đâu (chắc là do lão tự nghĩ ra), Chứ Đa chợt thấy sợ. Nó có cảm giác lão đầu hói này là con quỉ đội lốt người. Tự nhiên Chứ Đa thấy việc mình đi theo lão là dại dột và đầy mạo hiểm. Nhưng đã đi được mấy ngày đường rồi, quay lại đâu có dễ. Vả lại đã chắc gì con quỉ kia đồng ý. Chứ Đa bỗng thấy ân hận vì không nghe lời cha mẹ. Nó cảm thấy mệt mỏi rã rời. Nó gọi lão đầu hói:

- Pủ Sá à, nghỉ một tí đi!

Pủ Sá nghe tiếng Chứ Đa gọi liền ghìm cương ngựa. Lão ngoái lại nhìn Chứ Đa, rồi ngửa cổ cười sằng sặc. Cười chán, lão quát:

- Sắp đến chỗ có bọn cướp rồi, đi nhanh lên kẻo tốithì nguy!

Nói xong lão quất ngựa phóng đi. Chứ Đa đành thúc ngựa theo. Nó thật sự sợ hãi khi nghĩ đến bọn cướp ở biên giới. Mặc dù đã được học mấy bài võ Tàu từ Pủ Sá nhưng nó vẫn rất sợ gặp bọn cướp. Cái ác và sự dã man của bọn cướp vùng sơn cước Chứ Đa đã từng được nghe người già ở bản Sủng Pả kể nhiều lần. Lần nào nghe cũng thấy rùng mình! Chuyện ông nội và bác cả của Chứ Đa bị bọn cướp núi chém nát mặt từ ngày mẹ Mùa mới về làm dâu, làm cho Chứ Đa bị ám ảnh từ bao năm qua, bỗng như hiển hiện ngay trước mắt. Một cái gì đó lạnh toát chạy dọc sống lưng Chứ Đa, khiến nó nổi da gà.

Đầu óc Chứ Đa cứ lởn vởn nghĩ về bọn cướp. Ngồi trên lưng ngựa mà đôi mắt nó luôn lơ láo nhìn về phía các lùm cây hai bên lối ngựa đi để canh chừng. Bất ngờ con ngựa của nó trượt chân lảo đảo. Chứ Đa bị mất đà, tuột khỏi lưng ngựa rơi xuống phía vực sâu. Trong khi rơi nó chỉ kịp rú lên tuyệt vọng:

- Ôi a!... Cha mẹ ơi, chết rồi!...

❖ ❖ ❖

Trong lúc Chứ Đa gặp nạn thì ở nhà Mùa và Chư Pấu đang cãi nhau. Từ lúc Chứ Đa đi, Chư Pấu lại trở thành người ất ơ, không còn nhanh nhẹn, chịu khó như trước nữa. Thuốc phiện cũng hút nhiều hơn. Ngoài thuốc phiện, Chư Pấu còn uống rượu say suốt ngày. Trong cơn say, Chư Pấu túm lấy váy vợ lôi xềnh xệch vào nhà, vừa khóc vừa quát:

- Mày là mẹ sao lại để thằng Chứ Đa đi? Tao nhớ nó quá rồi, mày đi tìm nó về cho tao ngay! Trời ơi, tao chết mất thôi!

- Mình tưởng tôi không nhớ nó à? Tôi còn khổ hơn mình nhiều. Mình là cha không giữ nổi nó, sao lại đổ lỗi cho tôi? - Mùa cự lại chồng.

Chư Pấu rứt tóc kêu:

- Hầy dà, tao chết mất thôi! Chứ Đa ơi, con ở đâu không về với cha? Phải đi tìm, đi tìm nó về thôi!

Mùa khóc to hơn. Vừa khóc Mùa vừa nói với chồng:

- Thôi mình đừng kêu nữa! Con nó đi xa biết nơi nào mà tìm? Càng khóc càng khổ thôi! Chứ Đa nghe thấy tiếng khóc nó càng khổ mà.

Chư Pấu lao ra khỏi cửa, chạy như ma đuổi. Mùa chạy theo chồng, vấp chân vào mỏm đá, ngã sóng soài. Máu tứa ra đẫm cả bàn chân.

Chư Pấu bỏ nhà đi tìm con. Đi một ngày, hai ngày và nhiều ngày. Chư Pấu cứ theo hướng Bắc mà đi. Đi mãi. Đôi chân mỏi nhừ không muốn bước nữa, nhưng vẫn cố lết đi. Rồi Chư Pấu chợt thấy đói. Đói cồn cào. Khi không còn sức để bước nữa Chư Pấu mới nhớ ra là đã mấy ngày nay mình không có cái gì cho vào bụng. Cơn đói thuốc phiện cũng bất chợt ùa về khiến Chư Pấu lả đi, ngã dụi. Thật may Chư Pấu lại ngã vào đúng cái nương anh túc mới tàn. Mắt Chư Pấu sáng lên khi nhìn thấy những quả anh túc to như ngón chân cái, xung quanh còn bám khá nhiều vệt nhựa đen. Chư Pấu vội vặt mấy quả ấn vào mồm nhai ngấu nghiến. Lát sau Chư Pấu lịm đi. Khi tỉnh dậy Chư Pấu thấy người khoẻ khoắn hơn, liền vặt thêm mấy quả anh túc nhiều nhựa đen, giắt vào cạp quần xoắn lá tọa, nhằm hướng Bắc bước tiếp. Nhưng chỉ đi được vài quăng dao thì lại ngã khuỵu, bụng sôi lên òng ọc vì đói. Chư Pấu đưa mắt nhìn quanh hai bên đường, ngóng xem có thứ quả rừng nào gần đấy có thể ăn được, nhưng chẳng thấy có một thứ gì. Chư Pấu loạng choạng bước tiếp. Đôi chân rệu rã loắng quắng đưa Chư Pấu đến một nương ngô cũ. Chư Pấu đưa mắt khắp nơi tìm xem có bắp ngô nào còn sót lại. Tìm mãi cũng thấy một bắp ngô còi, to bằng nắm tay trẻ con, chỉ có vài chục hạt. Chư Pấu vội đưa lên miệng gặm. Đối với Chư Pấu, những hạt ngô lúc này chẳng khác gì những hạt ngọc. Nó đã giúp Chư Pấu bớt đi cơn đói khủng khiếp đang hành xác. Chưa bao giờ Chư Pấu thấy những hạt ngô ngon đến như vậy! Chư Pấu tìm tiếp nhưng chỉ được thêm vài bắp còi cọc. Chư Pấu bẻ chúng nhét vào cạp quần để dành, phòng khi quá đói. Cơn đói tạm yên thì cơn khát ở đâu bất chợt kéo đến. Chư Pấu cảm thấy họng mình như có lửa đốt. May cho Chư Pấu, ngay lối đi mọc đầy những cụm rớn đá. Chư Pấu nhổ lên, vặt những củ rớn mọng nước vã vào miệng, nhai ngấu nghiến.

Vài bắp ngô còi, mươi quả anh túc cuối mùa, mấy cụm rớn đá không giúp được Chư Pấu thoát cảnh đói cơm, đói thuốc, đói nước. Chính trong lúc tuyệt vọng ấy Chư Pấu gặp được cái quán ven đường. Người ta làm cái quán này bằng bốn cây cọc gỗ đóng xuống đất, đặt trên đỉnh cọc mấy tầu lá cọ để che mưa nắng. Giữa chừng các cọc được làm một chiếc sàn đặt những thứ cần bán. Trên sàn có một đĩa xôi, mấy chục quả đào, mấy chiếc bánh ngô, vài củ khoai lang luộc, một vỏ bầu khô đựng rượu, xung quanh là những chiếc cốc bằng ống nứa cắt ngắn, phía trong là một ống bương đựng nước uống. Cạnh đó là chiếc ống tre có hai đầu mặt, được khoét một lỗ nhỏ để bỏ bạc vụn. Mắt Chư Pấu sáng lên khi nhìn thấy những thức ăn, thức uống có thể giúp mình thoát khỏi cơn đói khát khủng khiếp đang hành hạ, được bày sẵn trên sàn quán. Đã có lần Chư Pấu được cha dẫn đi chơi xa, hai cha con từng bắt gặp một cái quán như thế này. Cha bảo đây là quán tự giác, không có người bán hàng. Ai muốn mua gì thì cứ tự lấy những thứ mình cần, rồi bỏ bạc vụn vào ống tre. Người mua cứ liệu chừng số hàng mình mua để bỏ bạc vào ống. Chư Pấu hỏi cha: “Nếu mình lấy hàng mà không bỏ bạc vụn vào ống tre thì có sao không?” Cha bảo: “Người tốt không ai làm thế. Người có cái quán này không biết, nhưng có trời biết, đất biết”.

Đang cơn đói, Chư Pấu véo luôn nắm xôi nhai ngâu ngấu. Đột nhiên Chư Pấu phát ho. Cơn ho dồn dập như người hít phải khói độc. Đến lúc cơn ho bớt đi Chư Pấu mới nhận ra là tại mình. Đĩa xôi này là để lau lông quả đào chứ không phải để ăn. Ai mua đào, trước khi ăn thì lau quả đào vào đĩa xôi. Xôi dẻo sẽ làm sạch lông nhặm trên vỏ quả đào. Chư Pấu chén phải cái thứ xôi đầy lông nhặm ấy nên phát ho. Chư Pấu bỏ xôi, bóc bánh ngô ăn. Ăn xong mấy chiếc bánh ngô, Chư Pấu với tay lấy bầu rượu, uống liền mấy cốc. Xong xuôi, Chư Pấu móc bạc vụn bỏ ống. Sờ khắp người chẳng thấy túi bạc đâu Chư Pấu mới nhớ ra là lúc đi mình không mang theo thứ gì. Chẳng biết làm cách nào, Chư Pấu đành bỏ đi. Nhưng chợt nhớ tới lời cha nói ngày trước: “Người tốt không ai làm thế. Người có cái quán này không biết, nhưng có trời biết, đất biết”, Chư Pấu bỗng đứng khựng lại nghĩ cách. Rồi chợt nhớ ra mấy chiếc răng bọc vàng, Chư Pấu vội nhe hàm răng, đưa tay cậy lớp vàng bọc một chiếc răng cửa hình lưỡi cuốc của mình, bỏ vào ống tiền. Chư Pấu yên tâm bước đi mặc dù trong bụng vẫn thấy tiêng tiếc chiếc răng vàng, của để dành trong miệng từ bao năm nay của mình.

Chư Pấu tiếp tục bước về phía Bắc. Đường xa, đá nhọn, gai góc không làm Chư Pấu nản lòng. Nỗi mong ước tìm thấy Chứ Đa đã tạo nên sức lực cho Chư Pấu. Nhưng cái đói, cái khát vẫn đánh quỵ người cha yêu con ấy. Suốt mấy ngày liền Chư Pấu không gặp được cái quán tự giác nào nữa, cũng chẳng có nương ngô, nương anh túc cũ, ngoại trừ những cụm rớn đá là còn khá sẵn trên đường. Sức vóc vốn còm nhom của Chư Pấu không chịu nổi trước cái đói khát nên cứ lịm dần, lịm dần. Chư Pấu kiệt sức nằm thoi thóp ở rìa đường. Trong cơn mê sảng Chư Pấu thấy có người đến cào cấu vào mặt, vào cổ mình. Chư Pấu đưa cánh tay lẻo khẻo gạt cái vật gì sắc nhọn đang khía vào cổ, miệng phều phào:

- Để yên cho tao nằm. Tao đói mệt lắm rồi! Tránh ra đi!

Khi Chư Pấu bị con hổ đói ngoạm hai hàm răng sắc nhọn vào cổ mới giật mình mở mắt. Nhận ra hổ dữ, Chư Pấu gào lên thất thanh:

- Ôi a, chết rồi... Chứ Đa ơi!... Mùa ơi!...

Đêm ấy ở nhà Mùa không thể nào ngủ được. Nỗi lo cho chồng, cho con chiếm hết tâm trí của người đàn bà khốn khổ. Đã mấy lần Mùa toan đi tìm Chư Pấu nhưng cái móng chân vấp đá bị tróc mấy hôm trước chưa khỏi khiến Mùa không thể nào đi được. Vừa chợp mắt Mùa đã gặp ác mộng. Một con hổ dữ từ đâu nhảy xổ ra quắp lấy cổ Mùa. Nó đưa đôi hàm răng sắc nhọn ngoặm lấy yết hầu khiến Mùa không thở được. Mùa cố vùng vẫy để thoát ra. Đến khi bàn chân đạp phải chiếc vung nồi kêu loảng xoảng thì Mùa mới giật mình tỉnh giấc. Từ đó Mùa không thể nào ngủ lại được. Mùa ngồi dậy khui to đống lửa, ôm đầu gối chờ trời sáng, trong lòng chồng chất những âu lo.

❖ ❖ ❖

Thật may cho Chứ Đa, nó rơi ngay xuống bụi si đá. Tuy mình mẩy, mặt mũi rớm máu, đau nhừ tử nhưng không đến nỗi phải bỏ xác dưới vực sâu. Sau pha hú hồn, Chứ Đa chắp tay lạy trời đất đã cứu giúp nó khỏi cái chết đau thương.

Pủ Sá dừng ngựa nhìn xuống nơi Chứ Đa đang quì lạy, cười hềnh hệch, rồi hỏi:

- Chưa chết à? May đấy. Bò lên đi!

Lão lại thúc ngựa chạy tiếp.

Con ngựa nâu của Chứ Đa vẫn đứng chờ chủ. Nó hí lên ằng ặc, khua móng gọi Chứ Đa. Chứ Đa ứa nước mắt bám đá leo lên. Nó thấy hận Pủ Sá đã không giúp gì mình. Nhưng chính trong lúc khốn quẫn ấy trong đầu Chứ Đa lại loé lên một ý nghĩ dữ dội, rằng mình phải vượt qua tất cả bằng chính sức lực và sự khôn ngoan của mình để sống, để không phụ thuộc vào những kẻ như Pủ Sá.

Thấy Chứ Đa lên tới đường mòn, con ngựa nâu của nó quỳ xuống đón chủ lên lưng. Chứ Đa vỗ vỗ vào tai ngựa nói điều gì đấy, rồi thúc ngựa đuổi theo Pủ Sá. Đuổi mãi chẳng thấy lão đầu hói đâu, Chứ Đa nổi cơn bực mình. Nó gầm lên, thúc ngựa chạy tiếp. Bỗng có tiếng hét rất to phía sau, tiếp đó là một bóng người lao đến vung kiếm loang loáng. Chứ Đa vội nhảy khỏi lưng ngựa, bám vào tảng đá lớn thủ thế. Nó nghĩ rằng mình đã gặp bọn cướp. Chứ Đa chưa kịp định thần thì Pủ Sá hiện ra. Lão xoa bụng cười hềnh hệch, vỗ vai Chứ Đa khen:

- Hảo lớ, hảo lớ!

Lão giơ trước mặt Chứ Đa một con chồn bị chém gần đứt cổ, rồi bảo:

- Buộc ngựa xuống dưới kia. Nướng thịt chồn ăn đã! Con chồn này tao vừa chém được. Tại nó mải ăn quá nên mới chết. Thật khốn nạn cho những kẻ chết vì ăn!

Pủ Sá sai Chứ Đa đốt lửa lấy than nướng thịt. Lão tự tay lột da con chồn, đặt lên cái chạc ba của cành cây tươi mà Chứ Đa vừa gác trên chốc đống than hồng rực. Mùi thịt nướng bốc lên ngào ngạt khiến Chứ Đa thèm ứa cả nước miếng.

❖ ❖ ❖

Nửa tuần trăng không thấy Chư Pấu về, Mùa lo lắng ra vào không yên. Chõ mèn mén đồ đã ba ngày mà vẫn gần như còn nguyên. Mỗi bữa Mùa chỉ ăn được vài thìa gỗ vì thấy miệng đắng ngắt. Hôm nay cái móng chân vấp đá đỡ đau, Mùa quyết định đi tìm chồng vì thấy ruột gan mình nóng như lửa đốt. Linh tính mách bảo có điều chẳng lành đã xảy ra với Chư Pấu. Nhưng biết tìm ở đâu bây giờ? Mùa cảm thấy lo sợ vì mất phương hướng. Nhưng tình chồng vợ khiến Mùa không thể ngồi ở nhà chờ chồng lâu hơn được nữa. Mùa lủi thủi, lặng lẽ chuẩn bị cho chuyến đi chẳng dám nhờ ai, hỏi ai. Khoác quẩy tấu lên lưng, Mùa cứ nhằm hướng Bắc mà đi. Đường xa, đá nhọn không làm Mùa nản chí, chùn chân, cứ bước đi trong niềm hi vọng gặp được chồng, gặp được con - những người yêu thương nhất. Từ ngày Chứ Đa đi theo lão Pủ Sá thì Chư Pấu lại sinh hư, nhưng Mùa không hề kêu ca hoặc ghét bỏ chồng. Mùa nghĩ, dù chồng dại nhưng có chồng vẫn hơn. Quanh năm vất vả việc nhà, việc nương rẫy Mùa quen rồi. Thậm chí Mùa thấy mình thật hạnh phúc khi có chồng con bên cạnh, nhất là thằng Chứ Đa vừa khoẻ mạnh vừa thông minh, lanh lợi. Nhìn nó ăn mỗi bữa hết mấy bát to mèn mén mà sướng cái bụng. Mùa nghĩ, hạnh phúc của người đàn bà Mông thực ra chẳng có cái gì khác ngoài việc làm nương và chăm sóc chồng con. Đó cũng chính là sự an ủi lớn nhất đối với Mùa. Nghĩ được như vậy Mùa cảm thấy như có thêm sức lực để quên đi sự mệt nhọc mỗi ngày. Mùa cặm cụi làm quần quật từ sáng sớm đến nửa đêm để lo cái ăn, cái mặc cho hai vợ chồng, lo tiền mua thuốc phiện cho Chư Pấu. Và trong sâu thẳm cõi lòng, Mùa còn lẳng lặng tích cóp, dành dụm một ít bạc trắng để sau này thằng Chứ Đa đi học chữ nho, học nghề buôn về sẽ cho nó để lấy vốn làm ăn, có tiền cưới vợ. Vậy mà bây giờ cả hai cha con Chứ Đa đều đã bỏ Mùa mà đi!

Mùa vấp ngã. Vết thương cũ ở móng chân toác ra, rỉ máu. Mệt và đau quá Mùa muốn nằm vật xuống nương đá ngủ một giấc dài. Nhưng nghĩ lo cho Chư Pấu không biết giờ này ở đâu, sống chết ra sao, Mùa lại gắng sức gượng dậy đi tiếp. Phía trước là con đường đầy chông gai, đá nhọn, vô vàn sự bất trắc. Loáng qua mắt Mùa là bóng vằn đen khủng khiếp của hổ dữ. Tim Mùa như muốn vỡ tung. Mùa ôm lấy ngực khuỵu xuống. Trong cơn sợ hãi Mùa chỉ còn biết dựa lưng vào vách đá nhắm mắt lại phó mặc cho số phận. Đá xám đã che chở cho Mùa. Mùa thiếp đi một giấc dài. Trong cơn mơ Mùa thấy Chứ Đa cưỡi ngựa trắng về đón mẹ. Nó cao lớn, khôi ngô, đầy dũng mãnh, tươi cười thúc ngựa về phía Mùa. Tiếng vó ngựa của nó mỗi lúc một gần, nghe rất rền vang, mạnh mẽ.

Mùa tỉnh giấc. Chẳng có con ngựa trắng nào cả. Trước mắt Mùa là một cuộc đuổi nhau của bầy bò rừng. Những con bò đực hung hãn đang đánh nhau dữ dội để tranh giành bò cái đến kỳ động dục. Mùa gượng dậy bám mô đá đứng lên, lê bước về phía không có bầy bò rừng để đề phòng bất trắc. Đói khát, mệt nhọc khiến Mùa liêu xiêu, đến nỗi không đeo nổi cả cái quẩy tấu rỗng không. Mùa gỡ quẩy tấu khỏi lưng, nằm vật ra bãi cỏ, thở dốc và bỗng thấy khát khô cổ, Mùa với tay nhổ cụm rớn đá, nhặt những củ to mọng nước vã vào miệng. Ăn được vài khóm, Mùa thấy người tỉnh táo hơn, lại gượng dậy, nhẫn nại đi tiếp. Hình như có người đang đi phía trước. Có cả tiếng nói nữa. Mùa cố bước thật nhanh, hi vọng gặp được bạn đồng hành. Nhưng Mùa càng bước nhanh thì hình bóng và bước chân của những người đi trước lại càng mất hút. Mùa dừng lại thở lấy hơi, thì lạ thay, những người phía trước cũng dừng lại đợi. Trông dáng họ rất quen, như thể cái lưng của Chứ Đa và đôi chân khật khưỡng của Chư Pấu. Mùa khấp khởi cất tiếng gọi:

- Chứ Đa ơi! Chư Pấu à? Có phải cha con Chư Pấu đấy không?

Không có tiếng trả lời. Chỉ có tiếng thình thịch phát ra từ chính quả tim trong lồng ngực. Mắt Mùa hoa lên muôn vàn tia sáng xen lẫn những khoảng tối, xoay tròn tít tắp khiến Mùa ngả nghiêng, phải cố vịn vào vách đá cho khỏi ngã. Mùa cảm thấy mình không còn đủ sức lực để đi tiếp. Đôi tay Mùa bải hoải, rã rời, không thể bám chắc được vào vách đá, ngã thụp ngay dưới chân mình. Đúng lúc ấy Mùa nghe thấy bên tai mình có tiếng ai đó nói như một sự thúc giục: “Mùa ơi! Hãy cố lên đi! Nếu nằm xuống bây giờ thì ngươi sẽ không bao giờ đứng dậy được nữa! Ngươi còn phải đi tìm con, tìm chồng cơ mà!”. Mùa cố bám đá đứng dậy và thấy đôi tay, đôi chân mình bắt đầu vững hơn, khoẻ khoắn hơn.

Gió bỗng thổi ù ù. Mây đen ở đâu kéo đến phủ kín bầu trời. Tiếng cành cây rơi, tiếng đá lăn nghe rợn người. Những con chim rừng bay nháo nhác tìm chỗ trú ẩn. Trên những cây to từng đàn sóc đang chuyền cành vội vã tìm nơi tránh gió. Mùa cảm thấy lẻ loi, cô độc và yếu đuối trước trận cuồng phong bất chợt của thiên nhiên. Mùa vội chạy về phía trước mặt, vừa chạy vừa ngửa cổ lên trời gọi Chư Pấu, gọi Chứ Đa, cứ như thể hai cha con họ đang ở ngay trên đầu mình. Có cái gì cớp nhớp dưới chân. Mùa nhìn xuống và giật mình rú lên. Trước mắt Mùa là đầu lâu Chư Pấu cùng những khúc xương chân tay, những dẻ xương sườn đã thâm đen lẫn trong lần áo tà pủ rách tướp. Đôi mắt Chư Pấu trợn trừng, lưỡi thè ra lặt lẽo từ trong cái miệng đầy bọt dãi! Mùa gục xuống bên phần thi thể còn sót lại của chồng. Chiếc khăn vuông thổ cẩm dệt bằng sợi lanh bung ra, phủ lên đầu lâu Chư Pấu. Mùa vừa bò quanh vừa hét lên hoảng loạn. Tiếng hét của Mùa chìm lẫn trong tiếng sấm, tiếng gào thét của trận cuồng phong!...

Trời bắt đầu mưa. Mưa sầm sập như thác đổ. Đá lở lăn lông lốc theo những dòng nước trắng xoá. Đất đá cuốn theo dòng nước kết tụ thành đống phủ lên phần thi thể còn lại của Chư Pấu, giống như một ngôi mộ mới đắp.

Mùa tỉnh lại, bỗng thấy khoẻ khắn lạ thường. Ngơ ngác trước ngôi mộ Chư Pấu do thiên nhiên vùi đắp, đôi mắt Mùa nhìn nháo nhác xung quanh như thể đang tìm những người đã đắp mộ cho chồng mình. Tịnh không một bóng người. Cả một vùng không gian rộng lớn chỉ có đá và đá. Nhìn hết tầm mắt chẳng thấy một ngôi nhà nào. Mùa ngỡ như mình đã lạc vào một cõi hư vô. Bất ngờ Mùa ôm lấy ngôi mộ Chư Pấu kêu khóc vật vã, rồi lại lịm đi...

« Lùi
Tiến »