Sáng hôm sau, lúc đại tá Dowd xuống ăn sáng, Marian con gái ông, và Alan Kidd, con rể ông đã có mặt. Trung úy Kidd thuộc bộ tham mưu của ông Chánh án phòng Quân pháp, bộ phận luật pháp của căn cứ. Chàng mặc đồ chơi quần vợt.
Cái lối đại tá Dowd nhìn chàng trai làm cho bà Dowd thấy cần phải bênh vực con rể. Bà nói với chồng:
- Hôm nay chúng ta có bánh dâu, và em nhớ Alan rất thích...
Đại tá Dowd hỏi:
- Alan, sáng hôm nay anh chơi quần vợt à?
- Thưa ba, sáng nào con cũng tập. - Alan đang trét bơ lên miếng bánh, bỗng nhận thấy vẻ do dự của ông, liền làm một cử chỉ mòi mọc. - Ba ăn luôn đi.
- Anh đọc báo hôm nay chưa? - Đại tá hỏi:
- Con cố không đọc báo trước khi chơi. Bởi nó làm con không chú tâm đúng mức vào trái bóng. Con nghe nói vừa xảy ra vụ náo động gì đó trong căn cứ...
- Alan, con định đùa hay sao chứ?
Alan ngửa người ra thành ghế. Chàng thuộc mẫu người Mỹ gốc Anh, cao trên mét tám, nặng tám tư ký, hai lăm tuổi, một người thờ ơ, thụ động song không do công việc tạo ra mà do bản tính. Tóc chàng màu vàng, rẽ chính giữa, hai mái xõa xuống hai thái dương. Tổng thống William H. Taft đã từng để kiểu tóc này, cũng như Bộ trưởng Quốc phòng Henry L. Stimson vậy.
- Nghe nói anh có đến quân y viện căn cứ đêm qua. Ngay trước lúc tôi đến. - Đại tá Dowd nói.
- Vâng. Con nghe ồn ào, đi một vòng, có ghé qua đó.
- Và chính anh mang kem vào cho Flore?
- Thưa vâng. Hắn muốn ăn kem dâu dại. Hơi kỳ.
Đại tá nhìn đồng hồ. Alan đổ cà phê vào tách:
- Sáng nay chắc con chỉ kịp chơi vài hiệp.
Vị đại tá bỏ qua, chịu thua, ông quay sang vợ:
- Tôi đã nói với bà là đừng cho tôi ăn tôm hùm Mehico đông lạnh, tối hôm qua!
- Đâu phải tôm hùm Mehico, và cũng không hề đông lạnh nữa.
- Đó là tôm hùm Mehico, và nó đang đóng băng lại trong bụng tôi đây.
- Ba nói đúng đó, mẹ. Loại tôm này khác một chút là đuôi xòe rộng. - Vuốt ve cha vợ xong, chàng quay sang mẹ vợ, tán thưởng. - Nhưng nó ngon tuyệt. - Rồi lại quay sang đại tá. - Ba nên uống một liều an thần. Sáng nay ba có vẻ mệt mỏi.
Người nấu bếp chưa nghe lời phê về món tôm hùm, bưng bánh lên đặt xuống trước mặt đại tá. Ông nói:
- Mary, hôm nay tôi không ăn bánh, cho tôi ly cà chua ép là được.
- Ba để con ăn thay cho. - Alan nói.
- Hả, làm sao con có thể chơi quần vợt với sáu chiếc bánh dâu trong bụng?
- Anh ấy vẫn chơi tốt, ba. - Marian bênh chồng.
Nàng đang đọc báo, đọc tất cả các mục. Alan nói:
- Con chẳng bao giờ bị rắc rối vì cái bụng no cả. Đó là biệt tài của con.
Sau khi trét kem vào các cạnh của miếng bánh, chàng lấy lọ mật ong. Đây là thứ mật ong hiệu Heidi Heather, món ưa thích nhất của vị chỉ huy trưởng căn cứ, do người anh trong Ngân hàng Hoa Kỳ ở Hà Lan gửi tặng. Alan cho thìa vào hai lần, cạo đến tận đáy lọ.
- Quá nhiều mật của cây trường khế. - Đại tá Dowd nhận xét. Ông còn biết đây là loại cây có nhựa ngọt, cô được thành mật hay đường, mọc nhiều ở Canada, và lá của nó được chọn làm biểu hiện của quốc gia này.
- Thưa đại tá, loại mật trường khế hiệu Dũng sĩ Thanh Sơn của ngài, do áp lực của chính phủ Liên bang, đã phải xác nhận một cách kín đáo rằng mật của họ gồm phần lớn các hóa chất, đường, màu, và hương vị. Lúc nào rảnh rỗi, đại tá thử đọc nhãn dán ngoài. Sẽ rất ích lợi.
- Đại tá phì cười, ông thấy khoái Alan. Những hôm công việc rảnh rỗi, ông thường tìm chàng. Những nhận xét, bình phẩm của chàng thật thú vị, dễ thương. Và sau vài ly buổi tối, Alan chỉ cần một chút khuyến khích của Dowd để ngồi vào chiếc dương cầm, rồi bằng giọng cao và nhẹ của chàng, cất lên những bài hát xa xưa, như Xin hãy uống mừng ta thôi và Những hồi chuông xanh vùng Scotland mà ông ưa thích.
Những lúc đó, đại tá Dowd thấy thật gần gũi con rể. Ông đã sống đủ lâu trong khá nhiều giai tầng xã hội để có thể nhìn thấy tham vọng là động lực chính trong đời của ai đó. Thực ra, Dowd có đôi chút khuynh hướng hưởng lạc trong người, nhưng bây giờ đã chết vì không được chăm sóc, và vì những đòi hỏi gắt gao của nhiệm vụ. Song nó đã để lại một dòng kỷ niệm mong manh trong ký ức. Chẳng vì một lý do nào đáng kể, ông chợt nhớ đến nhưng lúc cảm thấy không hạnh phúc ông lại nhớ đến nàng, nhớ đến lớp lông mịn màng, thẳng và đen nơi bụng dưới nàng. Ông nhớ khi cùng nàng tắm nước nóng chung, và nhớ lối quan tâm của nàng, Em có làm anh thích không? mỗi khi làm tình với nhau. Ông quay nhìn vợ, Muriel và con gái, Marian, cả hai đều xinh đẹp, đều có những nét quí phái trên khuôn mặt. Cả hai đang nhìn ông, cố gắng đọc những ý nghĩ trong đầu ông.
Marian đặt tờ báo xuống.
- Con muốn nói chuyện với ba.
Alan ăn sạch những gi có trên đĩa chàng.
- Về chuyện gì? - Đại tá Dowd hỏi con gái.
- Về những gì ba đang suy nghĩ trong đầu.
- Trời đất! Làm sao con biết những gì trong đầu ba.
Bà bếp chạy vào. “Omaha gọi điện thoại đến.”
Đại tá đi lên cầu thang. Bà vợ nói với theo:
- Ông nên lấy lại hơi trước khi nói chuyện với họ. Rồi quay sang con gái, bà bảo:
- Marian, hãy để ba yên, hôm nay ba con đang bực.
- Mẹ, mẹ biết con đâu ở trong không quân, và con đâu có bổn phận phải hòa hợp thái độ của mình vào tâm trạng thất thường của ba.
Alan đứng lên. “Anh đi đây.”
Giọng Marian nửa nũng nịu nửa phiền trách:
- Alan, anh nên có mặt khi em nói chuyện với ba.
- Cám ơn mẹ về bữa sáng. Con ăn ngon miệng lắm.
Alan nói, lờ vợ đi, chào mẹ vợ rồi xách túi đựng vợt bước nhanh ra cửa.
- Alan, kìa anh! - Marian không buông.
Chàng quay lại, nhìn nàng:
- Em đến đây một chút. Mẹ bỏ qua cho con.
Marian bước lại gần chồng, như đứa bé sắp bị rầy la. Chàng nhìn vợ, mỉm nụ cười thiên thần của chàng, vừa trịch thượng, vừa che chở, rồi đột ngột vỗ nhẹ chiếc vợt lên tóc nàng, nói:
- Anh thực tình không muốn dính líu đến vụ này. Đừng để bản tính thờ ơ của anh làm phiền cả căn cứ. Hãy để cơ hội tạo danh vọng cho những ai ham hố nó.
Chàng nhìn nàng, tự gật đầu tán đồng thay cho nàng, rồi nghiêng một cách khả ái, như mọi hành động của chàng vẫn luôn khả ái, hôn nhẹ lên môi nàng, và nhảy ra ngoài, để nàng đứng lại với nỗi đắm say chồng.
Dù vậy, nàng vẫn chờ đợi ba nàng xuống.
Trong phòng ngủ, đại tá Dowd nằm trên giường, sẵn sàng đón nhận điều mà ông nghĩ sẽ là một cuộc đàm thoại lâu. Nhưng khi ông trình bày xong nội vụ cho thượng cấp, thì chỉ nghe mỗi một tiếng, “Trời đất!”
- Sao? - Đại tá hốt hoảng.
- Chúng tôi phải họp bàn kỹ về vụ này, rồi sẽ gọi cho anh sau. Đừng làm bất cứ việc gì cho đến khi chúng tôi gọi tối. Trong lúc chờ đợi, tôi muốn anh hãy nói vào máy ghi âm tự động đầu đường dây điện thoại này tất cả những gì xảy ra, và những biện pháp mà anh cho là nên có. Frank, gắng gọn gàng và đầy đủ. Bây giờ... khi nghe tín hiệu, anh sẽ nói nhé.
Bíp. Đại tá Dowd bắt đầu tóm tắt những chuyện xảy ra trong đêm, rồi đúc kết.
- Sẽ rất khó thắng vụ này. Nếu thượng sĩ Flores, nhờ sự giúp đỡ của chúng ta, được trắng án, thì chắc chắn sẽ tạo ra dư luận là không quân, hải quân và cả lục quân đang hưởng đặc quyền của xã hội này. Song, nếu chúng ta mặc cho thủ phạm bị trừng phạt – và xin nhấn mạnh đây là một vụ cố sát trong trường hợp quan trọng hạng nhất – thì chúng ta sẽ khiến cộng đồng nổi giận. Họ đều đã quá chán với bọn con nít đó, bọn híp pi, ý tôi là vậy. Chúng ta còn phải quan tâm đến một khía cạnh tế nhị khác nữa, nghiêm trọng hơn. Và đây chính là căn nguyên để tôi nói rằng chúng ta không thể thắng được, tức là, cách nào đi nữa, thì vẫn tạo ra cảm tưởng, là những nhân viên của chúng ta được huấn luyện kỹ lưỡng như thế chỉ để tự giải quyết lấy các vấn đề của họ bằng cách sử dụng súng ống trong khi đang cố gắng tạo ra hình ảnh binh chủng của chúng ta gồm toàn những công dân đàng hoàng, biết tôn trọng luật pháp, xin nhắc lại, những công dân, như những thường dân vậy. Thế đó, quí ngài đã thấy vấn đề phức tạp cỡ nào, đúng không? Tôi cần được chỉ thị, nhanh và rõ ràng. Tôi sẽ phải chịu áp lực của báo chí cũng như của dân chúng địa phương, và chắc chắn mỗi lúc một gia tăng. Xin hãy gọi lại sớm nhất, với một giải đáp rõ ràng. Xin chờ. Hết.
Dưới nhà, Muriel đã để sẵn bắp rang chờ ông. Chánh án trưởng phòng Quân pháp căn cứ, trung tá Earl McCord cũng đang chờ ông, cầm theo những tò báo phát hành sáng sớm. Dowd hỏi:
- Earl, khỏe không? Báo chí viết những gì vậy?
- Cám ơn, đại tá khỏe chứ? Không đến nỗi tệ lắm.
- Ông dùng cà phê? - Bà vợ đại tá hỏi.
- Vâng! - McCord gật đầu cám ơn, rồi nói, - Tôi nghĩ đại tá muốn bàn qua với tôi, trước khi đến văn phòng. Tôi muốn nói là sau khi đại tá đọc qua những câu này.
Mắt ông nhìn về phía vợ và con gái đại tá. Muriel đứng lên, nhìn về phía Marian:
- Thôi chết, tôi đang dở tay mấy việc.
- Con thì chẳng dở dang gì cả. - Marian nói.
McDord bắt dầu. “Tôi không có ý...”
Marian ngắt lời, nói với ông ta.
- Tôi biết ý ông là gì. Bây giờ, nếu ba để con nói ra điều con cần nói, và chú ý nghe một chút, thì ba sẽ khỏi bị con làm phiền nữa,
Dowd đang liếc qua những hàng tít của trang nhất, rồi lật sang trang thể thao.
- Ba, nghe con một chút đã nào.
- Marian, sáng nay ba có công việc quan trọng.
- Công việc quan trọng đó nằm trên trang thể thao?
Trung tá McCord cười để che đậy sự lúng túng. Ông sung sướng vì không gặp phải những người đàn bà kiểu này, đặc biệt cô con gái. McCord nói.
- Có lẽ tôi nên chờ dịp khác.
Ông nhìn thượng cấp, chờ chỉ thị. Marian nói:
- Mời chú ngồi xuống. Chuyện cháu sắp nói liên quan đến cả chú nữa. Ba!
- Marian, gì vậy con? - Dowd đặt báo xuống.
- Con muốn ba cho Alan một cơ hội trong vụ này. Con nghĩ ba đã hiểu lầm, – nàng nhìn McCord, – cả chú nữa, thưa chú, vì cái lối thờ ơ dễ dãi của anh ấy, và vì vậy ba đã không để ý Alan là kẻ đặc biệt...
- Marian, có bao giờ ba nói là chồng con kém thông minh không? - Đại tá nóng nảy ngắt lời.
- Ba, Alan chưa bao giờ có một cơ hội, ba đừng nhìn con kiểu đó. Chú McCord nữa. Con biết con hơi cá nhân, nhưng con là vợ anh ấy, - Nàng dừng lại một lúc để trân tĩnh. - Ba, con biết ba sẽ làm tất cả để thượng sĩ Flores được hưởng mọi sự che chở mà Không quân có thể có được, đối với ông ta...
- Không quân cho đến nay chưa biết... - Dowd nói.
- Ba khỏi cần chối. Vụ này rất quan trọng với Alan.
- Thôi được, Marian. khi khác chúng ta sẽ nói tiếp.
- Alan còn trong quân đội hai năm nữa. Con chắc ba cũng mong anh ấy xuất ngũ với một tiếng tăm, một vị thế nghề nghiệp nào đó. Ba nghe con thêm chút nào!
Trung tá McCord cầm lấy mũ. Marian quay sang:
- Trung tá McCord, chú luôn chỉ coi chồng cháu như một kẻ sành ăn chơi, trong lúc anh ấy thực sự có một đầu óc lỗi lạc và độc đáo hơn chú nhiều, nếu chú tha thứ cho cháu nói ra điều đó.
- Con cút khỏi đây, ngay lập tức! - Dowd giận dữ.
Nàng vẫn tiếp:
- Đây là lần đầu tiên con xin ba một điều, ba. Con biết mình đang làm trò cười, nhưng con bất cần...
- Ba hiểu tình yêu của con với chồng.
- Vụ này sẽ được lên trang nhất các báo, lên truyền hình nữa, và đây là một cơ hội cho Alan. Anh ấy quá tự ái để có thể xin xỏ gì, vì vậy con làm ơn xin ba, con đem lại cho ba cái cơ hội để làm một người cha tốt.
Sau khi Marian đi khỏi, Dowd quay sang McCorđ:
- Tại sao anh không ưa con rể tôi?
- Có gì đâu, cứ mỗi khi tôi trao cho nhiệm vụ gì thì anh ta nhận nó mà như thi ân cho tôi vậy. - Dowd mỉm cười. McCord tiếp. - Tuy nhiên, tôi thương con gái anh. Tôi khoái thấy một người đàn bà bênh vực, lo lắng cho chồng như vậy.
- Anh chưa trả lời câu hỏi của tôi. - Dowd nhắc.
- Ờ, ông muốn biết thật à? - Dowd gật đầu. - Anh ta không phải là một quân nhân.
- Nó mặc quân phục,
- Đi giầy thấp, kiểu môcatxanh, không buộc dây.
- Nhưng giầy màu đen. Điều đó còn nằm trong giới hạn quân kỷ. Anh nghĩ sao khi nói hắn không phải là quân nhân? Thế nào là một quân nhân?
- Đại tá, tôi lớn lên trong trại lính, và có thể cũng mù quáng như mọi quân nhân mãn đời khác. Trung úy Kidd sẽ hợp hơn khi là một nhà kinh doanh. Anh ta vui tính, khả ái, dễ kết thân với hạn bè, gọn gàng, sạch sẽ, đại lượng, hiểu biết, thông minh... tôi không bỏ sót điều gì chứ. Và thật bảnh trai nữa. Đúng như thế. Nhưng anh ta lấy quyền gì để có thái độ trịch thượng đó?
- Hắn là con một ông Chánh án nổi tiếng, Anh đã nghe tiếng Chánh án Nicolas Kidd chưa?
- Dĩ nhiên là tôi đã nghe.
- Và hắn xuất sắc từ trung học đến Luật khoa...
Chúng ta còn chuẩn bị đương đầu với một trận chiến tranh toàn diện nữa hay thôi? Ông có thể tưởng tượng một Không quân gồm toàn những tay chơi tenis? Một ngày nào đó, sẽ có người phải đứng lên, tin tưởng vào những lời hắn nói ra, và chết để bảo vệ lời nói đó. Trung úy Kidd đứng ngoài tất cả, hay là... tôi không hiểu chuyện gì cả. Ngài có hiểu nổi không?
♣ ♣ ♣
Muriel thấy con gái ngồi trước cửa sổ căn phòng con gái của nàng. Muriel là người đàn bà tế nhị, được huấn luyện để hòa hợp với tâm trạng buồn vui mỗi lúc của kẻ khác. Bà đến bên con gái, và cũng nhìn ra ngoài.
- Bỗng dưng Alan trở nên không có tham vọng gì nữa. Con không còn biết làm sao. - Marian nói.
- Bề ngoài thì nó đã có tất cả những gì nó muốn.
- Như thế thật nguy hiểm. Hai năm nữa, chuyện gì sẽ xảy ra sau khi anh ấy rời khỏi Không quân?
- Đàn ông mỗi thời kỳ mỗi khác. – Muriel trầm ngâm. - Lúc ba con từ Nhật về, họ tưởng ông sẽ không bao giờ còn cần đến mẹ nữa. Nhưng rồi...
- Con vẫn tự hỏi phải chăng đó là lỗi ở con? Anh ấy như chiếc xe đang lao về đích bỗng dưng mất tốc độ.
- Ờ, nó vẫn luôn luôn...
- Không. Alan trước đây không vậy. Mẹ này, anh ấy luôn đứng đầu ở trung học, lên đại học cũng luôn hạng ưu. Lắm lúc con cho là mình hiểu anh ấy, nhưng nếu nghĩ cho đúng, thì con lại là một phần của nguyên nhân. Giống như Alan đang chết lần mòn vì một chứng bệnh dịu dàng nào đó, thứ bệnh mà anh ấy muốn, bởi đột nhiên anh ấy quyết định bỏ rơi tất cả. Vì vậy con nghĩ là nếu ba...
- Con à, nó còn yêu con không, mẹ muốn nói về... tình dục?
- Không được như trước. Mẹ có thấy lúc Alan xuống lầu không – lơ đãng, chế nhạo một chút, tưởng như không ai đụng chạm đến được. Anh ấy làm tình với con mà tưởng như đang ban cho con ân huệ.
Marian mân mê gấu váy, quyết định sẽ khâu nó cao lên bốn phân. Muriel nói. “Để mẹ nói với ba con.”
Marian cúi xuống hôn mẹ.
♣ ♣ ♣
Dưới lầu, Dowd đang kể với McCord về cú phone từ Omaha. Ông kết luận.
- Ngay lúc này, không thể làm gì ngoài chờ đợi. Và cố tránh báo chí. Tôi đã ra lệnh cấm khách vào căn cứ. Làm cách nào bọn híppi đó vào cổng đêm qua được?
- Thượng sĩ Flores xin cho chúng vào.
- Có vẻ là hắn đang chờ chúng. Với một khẩu súng.
- Có vẻ vậy.
- Phán đoán của anh về vụ này?
- Tôi được huấn luyện suốt đời để làm một việc.
- Thi hành pháp luật?
- Trì hoãn pháp luật. Những điểm tế nhị, phức tạp trong vấn đề giao tế dân sự liên quan nhiều đến vụ này, theo tôi, nhưng nó không thuộc địa hạt của tôi.
- Còn trong địa hạt ông, việc trì hoãn pháp luật…?
- Chỉ một câu trả lời - Tội sát nhân bậc nhất. Cố sát, không nghi ngờ. Hắn có tội.
- Nghĩa là, theo anh, hắn không có hy vọng nào?
- Đó không là quan điểm của tôi.
- Vậy quan điểm của anh là gì?
McCord băn khoăn:
- Tôi không nghĩ chúng ta có thể bênh vực hắn. Tôi không nghĩ là chúng ta có thể – đồng thời vẫn giữ hình ảnh của mình. Thật vậy. Chúng ta cần giữ một uy tín nào đó, một qui chế nào đó. Chúng ta biết những gì xảy ra. Chúng ta hiểu pháp luật.
- Có thể không, khi viện ra những lý do về tình...
- Chúng ta chỉ có một điều rõ ràng - là luật pháp.
- Anh muốn nói là anh sẽ đòi xử tử hắn, chỉ vì hắn bắn chết vài tên nghiện?
McCord nhún vai, vẻ bất lực:
- Tôi muốn đại tá hiểu tôi thương thằng cha Flores đó. Hắn là một quân nhân hoàn hảo, dưới mắt tôi.
Họ cùng im lặng một lúc, rồi đại tá Dowd thốt lên:
- Thôi, để xem Omaha nói sao.
♣ ♣ ♣
Ông không được sự giúp đỡ nào từ Omaha.
- Chỉ thị duy nhất mà chúng tôi chắc chắn cho anh là vụ này cần phải được xử trước một phiên tòa dân sự, và không sử dụng bất cứ đặc quyền nào. Nếu hắn có tội, hắn phải bị trừng trị, như bất cứ một công dân nào. Nhưng bên lề, hỏi thử anh, hắn muốn biện hộ theo chiều hướng nào?
- Nhận tội. Hắn sẵn sàng đền tội. Và hơn thế, nôn nóng muốn đền tội.
- Hắn làm sao vậy?
- Do tôn giáo, tôi nghĩ thế.
- Cảm tưởng của chúng tôi ở đây là thế này. Anh cần bảo vệ Không quân Hoa Kỳ, và quân đội nói chung. Anh phải luôn nhớ rằng chúng ta đang trong cùng một phiên tòa với nhân dân Mỹ. Chúng ta cần thận trọng trong mọi hành vi.
- Sứ mạng của chúng ta là hòa bình, phải không?
- Frank, phải coi vụ án này như diễn ra ở Okinawa vậy. Một quân nhân của chúng ta say rượu và giết một người dân bản xứ. Anh hãy nhớ lại lúc đó, ở đó, chúng ta đã phải nhượng bộ, cúi lưng như thế nào...
- Thượng sĩ Flores là một quân nhân tốt.
- Không đặc ân. Đừng dùng ảnh hưởng của chúng ta. Anh chỉ huy đạo quân chiếm đóng, nếu một quân nhân phạm lỗi, thì hắn có lỗi. À này, hỏi riêng, nói nghe hắn bắn ai vậy?
- Hai tên tóc dài.
- Hơi may, sẽ là tệ hơn nếu không phải thế.
- Một trong hai tên da đen.
- Chúa ơi! Tôi vừa nghe anh nói tóc dài.
- Thì tóc dài, nhưng để theo kiểu dân Phi châu.
- Hắn có việc gì mà phải vào đó? - Im lặng một lúc
- Frank, trong các chỉ thị của chúng tôi, không có điều khoản nào cấm anh kiếm một luật sư giỏi nhất để nhờ hắn biện hộ cho người của anh. - Đại tá Dowd không nói gì. Omaha hỏi. - Thời tiết ở đó sao?
- Ngài biết đây là vùng sa mạc mà. Gió nóng từ Mehico đến, làm chúng tôi muốn quay luôn.
- Thôi được. Liên lạc thường với tôi.
♣ ♣ ♣
Don Wheeher, nhân vật số một trong Công ty Luật sư lớn nhất vùng này đã thay đổi chương trình buổi sáng để có thể nói chuyện với đại tá Dowd ngay được, và yêu cầu đại tá đến thẳng nhà ông:
- Chúng ta có thể nói chuyện với nhau mà không bị ai dòm ngó rồi mách lẻo rằng ông đã đến tham khảo ý kiến tôi. Tôi có thể đoán là chuyện gì rồi. Vụ án mạng đêm qua phải không? - Đại tá Dowd thốt ra một âm thanh thay thế cho tiếng Phải! Wheeler tiếp. - Tôi e là không thể giúp anh được, nhưng tôi có thể cho anh vài ý kiến. Anh biết đường đến nhà tôi chứ?
Hai năm trước, khi Dowd được kéo từ Á châu vể đầy và được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng căn cứ này, ông đã được giới thiệu với các nhân vật quan trọng của thị xã sa mạc này, trong những cuộc gặp gỡ mang tính xã giao. Một trong những cuộc gặp quan trọng nhất, và cũng linh đình nhất, đã diễn ra trên ngọn đồi của Don Wheeler, nơi đó, ngôi nhà của ông ta mang tên Bốn Hướng, nhìn được ra tứ phía. Cuộc gặp diễn ra quanh chú bò quay nguyên con, trên một toa xe lửa giả. Bữa tiệc bắt đầu khá muộn, nhò đó khách khứa có thể ngồi trên sân thượng hướng tây nam ngắm hoa cúc và cảnh mặt trời lặn theo nhịp nhạc bản xứ. Bữa tiệc cũng chấm dứt khá sớm, để thực khách phái nam đang bận đồ hóa trang thành địa chủ, chăn bò, hiệp sĩ... sáng mai có thể tươi tỉnh trở lại văn phòng của họ, với những bộ đồ đứng đắn và hợp thời trang của những giám đốc ngân hàng, giám đốc bảo hiểm, nghiệp chủ, thương gia, chủ nhân hầm mỏ. Dowd nhớ rõ cuộc gặp đó, cũng như ngôi nhà. Ông chỉ ngọn đồi, bảo tài xế cho xe lên đó.
Vào nhà, Dowd ngạc nhiên thấy toàn những thùng chứa đồ, loại hay dùng để dọn nhà. Ba gia nhân người Mehico đang thu dọn đồ đạc của ông và bà Wheeler vào thùng, chằng buộc cẩn thận. Don Wheeler giải thích:
- Tôi trở lại với đàn bò của tôi.
Bà Wheeler bắt tay đại tá, mỉm cười:
- Chậm mất mươi năm.
Lần gặp trước, đại tá thấy bà mập mạp, to xù. Trong vòng hai năm, bà mất đi khá nhiều ký, và bây giờ trông già hơn ông chồng đến hai chục tuổi, như là một bà cụ bé nhỏ, khả ái.
Còn ông Wheeler thì lại có dáng dấp một kẻ khai phá miền Viễn Tây, cao trên thước tám, vai rộng, ngực nở, bụng nhỏ và thường ngày vẫn mang đôi giầy cao cổ. Dáng đi của ông hơi lắc lư một chút. Ông nói:
- Phải. Hope nói đúng. Tôi đã hứa với bà...
Bà Wheeler sửa sai:
- Ông đã tự hứa với mình.
- Phải. Tôi đã hứa rằng khi năm mươi tuổi sẽ sống theo cách mà tôi và Hope mong muốn được sống.
Bà vợ nhìn ông với ánh mắt bao dung, như đang nhìn đứa con trai mà bà rất hãnh diện:
- Hôm qua, ông sáu mươi tuổi. Vậy mà ông còn trẻ quá, phải không đại tá? Để ông sống một tháng trên lưng ngựa, thì ông sẽ như mọi kỵ sĩ khác.
Bà vỗ nhẹ lên bụng ông rồi đứng lên, nhón gót, đưa mặt cho ông, và ông hôn bà, gọi bà là cưng, và bà bỏ đi.
- Không ai xét đoán nổi bà ấy bệnh gì, - Wheeler nói. - Nhưng xem ra mỗi ngày một nặng thêm. Chúng tôi đã đến rất nhiều bác sĩ.
Đại tá Dowd không biết nói gì.
- Ông bà tính dời về đâu vậy? - Ông hỏi.
- Hai trăm ba mươi chín dặm về phía bắc. Có một khu đất với một nửa ngọn núi, một dòng suối thật đẹp, đầy cá chép, một ngôi nhà kiểu vùng quê, đầy đủ khu phụ như nhà cho gia nhân, chuồng gia súc. Nhưng đó không phải là chỗ làm giầu. Như Hope nói, chúng ta muốn sống như thế nào? Tôi thích mỗi ngày ngồi trên lưng ngựa. Tôi không muốn ngày nào cũng phải nghe tiếng xe hơi, tiếng còi hụ, tiếng máy đánh chữ lóc cóc, tiếng chuông điện thoại, tiếng than phiền, mặc cả, lừa đảo, tất cả những âm thanh đang làm nhân loại quay cuồng. Tôi không hiểu thế giới bây giờ nữa. Những gì hiểu được thì tôi lại không ưa nổi. Tôi khoái buổi sáng nhìn thấy một con rắn hổ mang hơn là gặp phần lớn các thân chủ của mình. Một tiếng tru chó sói nghe còn thân thiện hơn vô số âm thanh hàng ngày lọt vào tai tôi ở cái thành phố này. Và tôi không tìm ra thứ âm thanh nào thân mật hơn tiếng rống của con bò cái mỗi buổi chiều về chuồng. Ngày nay, vận tải hàng không cũng thành một vấn đề. Hãng TWA mỗi ngày có bốn chuyến bay, nhưng họ cách xa tôi sáu dặm và tôi có thể chịu đựng nổi. Bọn các ông còn dùng những thứ ồn ào hơn cả mức chịu đựng của tôi. Nhưng tôi cho là các ông đang bảo vệ tôi chống lại – này, đại tá, các ông bảo vệ tôi chống lại cái quái gì vậy? Cái gì? – Ông ta cười lớn. - Trông ông lúng túng quá.
Quay mặt đi, Wheeler gác chân lên chiếc ghế để bên và bắt đầu hành hạ trí nhớ của vị sĩ quan chỉ huy trưởng căn cứ. Ông hỏi những chi tiết tỉ mỉ của các sự kiện, lịch trình diễn tiến, thời gian, địa điểm, những chi tiết nhỏ nhặt nhất, và có vẻ như không để ý nghe đại tá Dowd nói gì. Lắm lúc, những câu hỏi của ông không dính líu gì đến câu trả lời ông vừa nghe. Giống như hầu hết những luật sư giỏi, Wheeler có biệt tài làm kẻ vô tội nhất cũng cảm thấy có tội chút đỉnh. Vừa lúc Dowd bắt đầu khó chịu vì điều đó, thì Wheeler quay lại và xin lỗi:
- Tôi biết tôi làm như vậy là coi ông như kẻ sát nhân. Tại thói quen. Xin lỗi nghe. – Rồi ông mỉm cười.
Dowd ngơ ngác hơn là tức giận. Wheeler để ý đến thái độ đó, vươn vai, ngáp. Rồi ông quyết định thỏa mãn tính hiếu kỳ của mình:
- Thú thật là có điều này làm tôi ngạc nhiên, song nó chẳng liên quan gì đến vụ án cả.
Chúa ôi, cha già này còn định hành hạ mình cách nào nữa đây? Dowd nghĩ. “Việc gì vậy?”
- Tôi băn khoăn rằng sao ông lại quá quan tâm đến vụ này? Chắc là ông rất gần gũi với kẻ sát nhân.
- Nói thật là tôi ghét hắn. - Đại tá Dowd đáp liền.
- Vậy thì tại sao? Cái lối lo lắng như thế đi ra ngoài nhiệm vụ của ông, phải không?
- Ờ, hắn luôn là một quân nhân đáng tin cậy.
- Vậy là ông chỉ bảo vệ một quân nhân tốt thôi?
- Tôi không nghĩ ra lý do nào khác. Chúng ta đi vào vụ án này cách nào đây?
Có thể là trực giác của Wheeler đã giúp ông, cái trực giác giúp cho một đối thủ biết bóp cuống họng đối phương đúng lúc. Ông nói:
- Tôi xin lỗi. - Rồi thêm, sau phút im lặng. - Chúng ta bỏ qua chuyện đó. Tôi biết là đã làm ông bực mình.
- Không sao. Tôi chỉ ngạc nhiên là ông nghĩ tôi liên hệ quá nhiều vào vụ này, một cách đặc biệt...
- Nó có nghĩa linh tính của ông đã nhận biết đúng. Tôi không biết có được mấy sĩ quan cao cấp chịu quan tâm đến việc tìm cách bênh vực cho... à, sáng nay họ nói gì ở Omaha?
- Làm sao ông biết tôi có trao đổi với họ?
- Tôi có biết đâu.
- Họ... dè dặt.
- Đặt nặng Không quân lên trên hết, danh dự của nó, tư thế của nó trong quần chúng, phải vậy không?
- Đại khái như vậy.
- Ông có cách nào để làm việc đó hữu hiệu nhất?
- Vấn đề là ở đó.
Wheeler mỉm cười, và Dowd thăm dò lần nữa:
- Tôi vẫn thắc mắc về câu hỏi của ông.
- Trong hành vi của con người, có một cái gì bí mật. Đó là điểm khiến tôi chú tâm đến nhiều nhất trong luật pháp. Hầu hết công việc của chúng tôi liên quan đến các kỹ nghệ gia, cùng chủ nhân các bất động sản, và nói thật, tôi khinh bọn đó. Nhưng nỗi xúc động của quần chúng tôi luôn thấy thiếu. – Wheeler lại mỉm cười, và bây giờ Dowd cười đáp lễ. Ông ta hỏi. - Chúng ta ăn trưa nhé? Theo lối nông dân.
Dowd nhận thấy, mặc dù những câu hỏi hoặc bí hiểm hoặc xóc óc của Wheeler, ông vẫn thích chuyện trò với ông ta. Wheeler nhờ bà vợ làm món xốt, và sau đó, đích thân bà đã bưng ra, nhẹ nhàng đặt xuống bàn, để muối bám quanh viền đĩa không rơi xuống. Rồi bà hôn lên trán chồng - hai người lúc nào cũng có vẻ như đang chào tạm biệt nhau – và đi khỏi, dừng lại bên vài cây hoa, cúi xuống, ngắt mấy bông hoa héo, rồi thẳng người lên, và chợt như không biết nên đi về phía nào, kêu “ồ” một tiếng, nhẹ nhàng bước vào nhà.
Đang ăn, Wheeler bảo:
- Ông chẳng việc gì phải lo lắng cả.
- Tôi cũng chẳng hiểu vì sao tôi lại quan tâm đến vụ này như vậy? - Dowd trả lời nghiêm túc.
Wheeler nhìn xuống dưới thung lũng, nơi đó thành phố trải dài dưới một màn khói vàng bẩn:
- Ông tin được không, lúc tôi mới đến ở đây, không khí trong như nước suối trên núi đá. Bây giờ mỗi khi đi xuống đó, tôi không dám thở mạnh một hơi, và cố chờ đến lúc trở về để thở cho thỏa thuê. Cái khôi hài nhất, là những gì anh nhìn thấy dưới đó, đều do những mỏ đồng nằm cách đây gần năm dặm, và họ phần lớn đều là thân chủ của tôi. Tôi làm thuê cho họ.
- Có giải pháp nào không?
- Tôi rời bỏ chiến trường bằng một cuộc triệt quân vô trật tự. Mạnh ai nấy chạy.
- Nhưng phần lớn chúng tôi kiếm đâu ra miếng đất cách đây hai trăm dặm về phía bắc, như ông?
- Tôi chịu đem ông theo. Tôi có vài căn nhà, một căn cách nơi tôi ở năm dặm, vì vậy ông phải có ngựa. Mùa đông ông sẽ thấy đàn hươu từ trên núi xuống, gặm cỏ ngay trước nhà. Và bất cứ lúc nào ông cũng có thể nhìn thấy từng đàn sói, hay một con beo gấm, một con phượng hoàng. Bây giờ chúng vẫn còn đó, nhưng tốt nhất là ông nên gấp lên, chúng sắp biến mất...
- Ông nghĩ sao mà lại bảo tôi chẳng việc gì phải lo lắng. Tôi có được biết không?
- Không quân không việc gì phải nhúng tay vào vụ này. Đây là vấn đề của xã hội, và nó sẽ tìm cách tự vệ.
- Kẻ sát nhân là một thành phần của Không quân.
- Xã hội sẽ không bao giờ chịu để người của ông phải đền tội bằng mạng sống vì một việc mà mọi người đều muốn làm.
- Nhưng công lý...
- Công lý! Công lý chó gặm! Ông cũng sẽ làm như vậy nếu đó là con gái ông, đúng vậy không?
- Ờ, thì...
- Ông hãy trả lời câu hỏi của tôi đi.
- Không. Tôi không nghĩ như vậy.
- Ông sẽ làm như vậy, dù không biết là mình sẽ làm. Tôi cho ông biết thêm điều này nữa. Nếu đó là con trai tôi bắn chết một trong những tên tóc dài đó, tôi vẫn sẽ không lo lắng, hoặc mang mặc cảm tội lỗi, như ông, hay như hắn.
- Hắn không có mặc cảm tội lỗi. Hắn nói vậy, và luôn sẵn sàng đền tội.
- Tôi không cần biết hắn nói gì. Vấn đề này đã vượt khỏi tầm tay hắn. Đây là vùng đất biên giới. Chúng ta bảo vệ nhà cửa chúng ta, bảo vệ vợ con chúng ta. Ai không hiểu điều đó là thằng điên. Tôi nói thẳng cho ông biết là người của ông đã hành động đúng.
- Ờ, có thể hắn...
- Không có thể gì hết. Ông nội tôi đến đây, một tay cầm Thánh Kinh và một tay cầm súng, ông từ tiểu bang Maine đến đây, hùng dũng và hung bạo hơn cả mẫu người được điện ảnh dựng lên. Ông cắm xuống đất bốn cây trụ ranh giới, và vậy là đủ. Không bằng khoán, không giấy nhượng quyền, không ân huệ gì. Và này, ông bạn à, tôi cho ông biết thêm, là nếu có tên nào láng cháng quanh một trong năm bà cô xấu xí nhất của tôi thì... - Wheeler cười lớn. - Và nếu ông đi vắng, thì bà nội tôi sẽ thay ông chăm sóc công việc mà không phải lấn cấn gì khi tặng cho bất cứ tên lớ quớ nào một phát đạn. Vậy tôi xin hỏi thẳng, xã hội này sẽ đi đến đâu nếu ông, một Chỉ huy trưởng căn cứ Không quân Collins, lại hoài nghi về những giá trị trong vụ này? – Wheeler đứng lên. - Mời ông đến văn phòng tôi. Cho xe ông chạy theo. Ông ngồi chung với tôi.
Ngay trước khi chiếc xe chạy xuống đám khói vàng, Wheeler chỉ vào một con chim đang bay lượn phía dưới, cách độ một dặm. “Có một con, kia.”
- Chim ưng?
- Đó là phượng hoàng. Chẳng hiểu nó làm gì dưới đó, xem chừng chính nó cũng không biết nữa. Con vật khốn khổ chắc không thể nhìn thấu đám sương khói dày đặc kia, để tìm mồi. Tôi mong có thể nói cho nó biết là nó còn có vài họ hàng ở phía bắc, và hãy đến đó mà ở.
- Đẹp thật, cái lối bay lượn của nó.
- Nó có thể đâm bổ xuống như một cục đá rơi tự do! Không thể có một vật gì do con người làm đẹp bằng loài chim này. Tôi kể ông nghe chuyện này. Lúc còn bé, tôi tính kiếm một chú phượng hoàng con để huấn luyện. Vì vậy tôi với một thằng bạn, hắn chết trong trận Bremen rồi, trèo lên đinh núi, buộc chặt một sợi dây thừng và thòng tôi xuống cái triền dốc đứng, nơi có tổ chim. Song, tôi đã bị con chim mẹ nhìn thấy, dù tôi đã nhìn quanh cẩn thận trước khi trèo xuống, nhưng không phát hiện ra. Và... nó bay lại phía tôi, và phải nói với ông là tôi chỉ nhờ vào may mắn mà toàn mạng. Tôi không bao giờ quên được cái lối bà mẹ đó bảo vệ con. Ý tôi muốn nói, đây là những định luật căn bản. Này, ông bạn, những định luật, những giá trị căn bản bây giờ ra sao?
- Dowd không có câu trả lời nào. Wheeler tiếp tục.
- Ông thắc mắc, lúng túng, tham khảo về ông bố khốn khổ đã khám phá ra con gái hắn bị hư hỏng vì một tên nghiện chó đẻ, và có một phản ứng gì đó. Này, thử nói cho tôi biết xã hội này mất mát cái gì khi một tên để râu xồm xoàm mà tôi thấy hình trên mặt báo sáng nay được ném xuống đường mương?
- Theo tôi đoán, chắc chẳng mất mát gì nhiều.
- Nói thật nghe, ông có khâm phục ngươi của ông vì hắn dám hành động như vậy không?
- Ờ... Ờ...
- Tên đó đã giúp chúng ta, đại tá Dowd, và mặc dù tình cảm của ông, chân thật hơn, đã công nhận điều đó, thì tức là, chỉ có lý trí của ông phản đối. Chính vì vậy mà ông đến đây, đi làm cái công việc của một tên thiếu úy. Ông đã tỏ lòng kính trọng kẻ sát nhân, khi ông đến đây. Và ông nên tin tôi, xã hội cũng sẽ kính trọng hắn. Và tất cả chúng ta đều phải cám ơn hắn. Bởi vì dù tôi có nói xấu cái thị xã này, và cả vùng này thế nào đi nữa, thì tôi vẫn biết rằng ở đây còn những người suy nghĩ đúng, và họ sẽ không để cho người của ông bị xử tử đâu. Vậy ông chẳng việc gì phải lo lắng.
Lúc chiếc xe quẹo vào bãi đậu gần tòa nhà đặt văn phòng của Wheeler, ông ta nói:
- Tôi nhận biện hộ vụ này. Tôi muốn nói là văn phòng tôi nhận. Tôi sẽ không có mặt ở đây nhiều, nhưng tôi sẽ giao cho tên khá nhất chịu trách nhiệm, và tôi sẽ kiểm soát để chắc chắn nó làm đúng. OK?
Trong văn phòng của Wheeler có dựng một giá để yên ngựa, giữa hai cửa lớn, trên đó, có chiếc yên ngựa kiểu Mehico bằng da nạm vàng công phu. Dowd nhìn mà thán phục công trình đó.
Wheeler cúi xuống trên chiếc máy liên lạc nội bộ:
- Tôi đặt chiếc yên đó từ mười lăm năm nay, để nhắc tôi không được phép quên đàn bò của mình. Gọi Gavin McAndrews lên đây. – Quay lại Dowd. - ông có vẻ như muốn nói điều gì?
- Chỉ có thế này. Không quân rất mong muốn tránh dư luận là những quân nhân của nó được hưởng một đặc quyền gì. Lúc tôi nói chuyện với Omaha sáng nay...
- Họ thà thấy hắn ta bị xử tử. Tôi biết.
- Không hẳn vậy. Chẳng nên trách họ quá. Chúng tôi không thể để cho người ngoài thấy là người của mình thoát tội quá dễ dàng.
Có tiếng gõ cửa. Wheeler gào lên. “Gavin, vào đây!”
Bắt gặp Wheeler nhìn vào Gavin McAndrews, lập tức Dowd nhớ đến lúc bà Hope bước ra, với hai bát đựng xốt trước ngực, Don Wheeler nghiêng người sang ông, rỉ tai, “Chúng tôi không có con.”
Wheeler nói bằng giọng gay gắt, chỉ vào chiếc ghế:
- Ngồi xuống, con. Nhưng hãy bắt tay đại tá Francis Dowd trước đã. Anh nghe nói về ông rồi chứ?
- Chắc chắn đã nghe. Hân hạnh được gặp đại tá.
Dowd thấy Gavin hơi khập khiễng, chút xíu thôi.
- Đọc các báo sáng nay chưa? - Wheeler hỏi ngay.
- Tôi có đọc.
Hắn quá trẻ, Dowd nghĩ. Wheeler nói:
- Điều tôi muốn nói, cũng là lý do để đại tá chỉ huy trưởng đến đây, là vụ án mạng đêm qua trong căn cứ. Anh nghĩ sao?
Gavin nói, chậm rãi và cẩn trọng:
- Tôi chưa gặp... kẻ giết người người đó, nhưng tôi biết hắn rất được cảm tình của thị xã này, trong đó có tôi nữa. Tôi luôn mong có con, và khi đó, vào trường hợp đó, tôi sẽ nghĩ gì? Thoạt xem, thì đây là vụ án sáng tỏ, giản dị, một vụ sát nhân bậc nhất, nhưng nếu nội vụ được trình bày đúng cách, vận dụng các yếu tố tình người, thì thưa đại tá, luật pháp lại sẽ trở nên mềm dẻo và nhân đạo đến bất ngờ. Tôi tin là ông ta thậm chí còn không bị kết tội ở cả vụ giết người thứ hai. - Chàng Wheeler. - Thưa ông, chúng ta nhận vụ này?
- Anh nhận.
- Đại tá đồng ý như thế? – Gavin nhìn Dowd.
- Anh thay mặt văn phòng lo vụ này. Đại tá Dowd giao cho tôi và quyết định của tôi là vậy. - Wheeler nói.
Rồi ông ta nhìn thẳng vào Dowd, chờ đợi. Nếu định phản đối, thì đây chính là lúc thích hợp nhất. Song Dowd để mặc cho nó qua.
Wheeler không cần che đậy ý nghĩa của sự im lặng đó. Nó có nghĩa là chấp thuận.
- Vậy là được. Gavin, nói với đại tá vu giết ngươi thứ hai có ý nghĩa gì, trên phương diện tội hình.
- Khoảng năm đến bảy năm, tù ngồi. Nhưng cũng có thể nhẹ hơn. Khá co giãn. Tôi thì cho là năm năm.
Dowd nghĩ cái vẻ trẻ trung của Gavin biết đâu lại có ích, vì không tạo ra cảm tưởng về sự can thiệp của những uy quyền mạnh. Gavin nói:
- Tôi sẽ cố gắng. Chắc chắn tôi sẽ cố gắng hết mình!
- Phải cố gắng hơn thế. - Wheeler nghiêm khắc.
Ông cười, và cả ba cùng cười. Gavin nhìn đồng hồ.
- Nếu vậy, tôi phải xuống nhà giam gặp ông ta.
- Hắn không ở trong nhà giam. - Đại tá Dowd nói.
- Vậy hắn ở đâu? - Gavin hỏi.
- Trong căn cứ. Quản thúc tại gia. Tôi có nói với cảnh sát trưởng về chuyện này và ông ta nói là...
- Ông làm như vậy làm gì, trong khi rất quan tâm đến dư luận? - Wheeler bỗng ngưng lại vì thấy mình như đang nói với thuộc cấp. - Xin lỗi.
- Tôi biết, có vẻ là không đúng lắm, nhưng...
- Ông bảo không muốn gây ra cảm tưởng là người của Không quân được hưởng đặc quyền, đúng không?
- Gavin nói bằng một giọng như là rầy ông chủ, nhưng xem ra Wheeler lại khoái cái giọng đó.
- Nào, ông bình tĩnh lại. Tôi đồng ý làm vậy không đúng lắm, nhưng chúng ta sẽ sửa lại ngay, có gì đâu, bằng cách thu xếp cho hắn một phòng giam dễ chịu, tiện nghi, và...
Nếu trước đó đại tá Dowd còn nghi ngờ gì về chàng trai, thì nay hết sạch, không chỉ bởi vẻ tự tin, mà còn vì anh ta có ảnh hưởng khá lớn với Wheeler, cái mà đại tá Dowd chưa có được. Gavin nhìn sang Wheeler:
- Ông nghĩ sao nếu chúng ta chờ cho Văn phòng biện lý Quận hành động đã? Có nên để họ tống giam thân chủ của chúng ta, để họ đóng vai quan tòa oai nghiêm và uy quyền? Nên nhường hiệp đầu, theo tôi.
Wheeler nhìn Gavin với vẻ thán phục rõ rệt.
- Được! Tuyệt! - Ông quay sang Dowd. - Sao, thằng nhỏ khôn ranh quá chừng phải không?
♣ ♣ ♣
Gavin, sinh ra và lớn lên trong vùng, được biết đến như một tác phẩm của Don Wheeler. Ông từng nhìn nó đá banh trong đội bóng trường trung học, thích những gì được thấy, và đủ để chọn cậu mà trao cho học bổng do văn phòng cấp phát. Hai năm sau, Gavin nặng bảy mươi ký, được thiên hạ coi là tay đội trưởng tài ba nhất trong kỳ hội tây nam. Đến mùa bóng sau thì không ai nhắc đến cân nặng nữa mỗi khi buột miệng khen hắn. Hắn cứng rắn nhất, tháo vát nhất, gây sự ngạc nhiên nhiều nhất, kể cả hèn mọn nhất khi cần. Tuy vậy, ra khỏi sân chơi thì hắn lại ít nói đến độ không ai có thể tin được đó là chính hắn nữa. Rồi thay vì tìm cách miễn hạn quân dịch, hắn tình nguyện gia nhập Thủy quân lục chiến, rồi lại tình nguyện đi tác chiến, bị thương, để từ đó về sau chân bước hơi khập khiễng, tựa hồ như một đặc dị. Trở về, ban ngày hắn đi làm, ban đêm theo học trường Luật, không đòi hỏi sự giúp đõ của ai, còn khi được ông Wheeler tình nguyện trợ giúp, thì hắn đón nhận một cách miễn cưỡng và khiêm nhường, trái hẳn như nhận xét của ông Wheeler, rằng đám trẻ thường nghĩ thế giới có bổn phận chu cấp cho họ. Hiển nhiên, Gavin tin tưởng vào sự nỗ lực bản thân chứ không vào sự trợ cấp, song hắn kính trọng các bậc đàn anh, cùng những truyền thống của họ. Wheeler chưa tỏ bày cùng ai, nhưng ông đã quyết định từ lâu, rằng khi ông về với đàn gia súc của mình, Gavin sẽ thay ông ngồi trong cái phòng nhìn tới những ngọn núi phía bắc.
Tuy nhiên, cũng có vấn đề phải lo. Những khách hàng xộp nhất của ông chưa sẵn sàng đón nhận Gavin, bởi họ thích đặt niềm tin hơn vào những luật sư tuổi tác, nhiều kinh nghiệm – một lý do khiến ông Wheeler chưa về với đàn bò của mình được.
Khi nhìn chàng trai nói chuyện với đại tá Dowd, lần đầu tiên Wheeler nhận ra mái tóc cắt ngắn của hắn đang thưa dần, để có thể thấy một ít da đầu khi hắn cúi xuống, khuỷu tay đụng đầu gối, thế ngồi pha lẫn vẻ tôn kính và sức mạnh. Ta phải thôi coi hắn như đứa trẻ mới được, Wheeler nghĩ, hắn đã là người lớn, và thời cơ của hắn đã đến.
♣ ♣ ♣
2
Trên bãi cỏ trước nhà tang lễ Bryant, cả bọn đứng chờ Michael, im lặng và bất động.
Bên trong, ông Ernest Bryant và cô con gái bụ bẫm Ernestine, kế toán viên và kẻ thừa kế gia tài, đi nhanh vào phòng đặt xác Vinnie và Jeff Wilson.
Râu tóc Vinnie đã được cạo tỉa gọn gàng. Hal, tình nhân của mẹ hắn, đã góp bộ đồ màu sẫm, sọc nhỏ, sơ mi trắng cổ cứng, và chiếc nơ mà Hal đã mua để đi dự một dạ hội do ông Giám đốc hãng của anh ta tổ chức. Ông Bryant và cô con gái đều cho rằng Vinnie nom đã rất bảnh trai. Phấn hồng còn được xoa lên má hắn, đúng điệu hóa trang để lên truyền hình. Ánh sáng thì chưa bao giờ soi lên mặt hắn đẹp như bây giờ.
Nhưng ông Bryant và con gái đi vội vào không chỉ để ngắm công trình của chuyên viên thẩm mỹ nhà xác, mà do cú điện thoại nội bộ của người gác cổng, với giọng sợ hãi. Tới nơi, họ thấy một gã trai gầy gò, mặc quần may sẵn và áo bạc màu, quì trước mặt bà Irene Connor. Đầu gã, với mái tóc dài gợn sóng, cằm để râu thưa, hơi lắc lư lúc gã tỉ tê với người đàn bà đang trắng bệch mặt mũi. Bà ta lắc đầu nhìn đi chỗ khác, như không muốn nghe. Rồi bà xô mạnh gã ra.
Gã đứng lên, không nhìn vào xác chết, đi qua hai cha con Bryant, ra khỏi phòng.
Irene gục đầu thổn thức. Lúc thấy có bàn tay đặt nhẹ lên vai, bà ngẩng lên. Ernest Bryant nói:
- Bà hãy lên vãn phòng tôi dùng ly cà phê.
Irene gật đầu, như đứa trẻ mong được an ủi, vỗ về.
Trên lầu, trong lúc Irene kể lại cho ông Ernest nghe những lời đe dọa của Michael, thì Ernestine nhìn bọn thanh niên trên bãi cỏ, qua cửa sổ. Michael đến chỗ Juana đứng chờ. Những đứa kia túm tụm bàn tán.
- Ernie, bọn chúng còn đó không? - Ông Bryant hỏi.
Cô con gái gật đầu. Trên chiếc bàn nhỏ, cà phê và bánh ngọt đã bày ra. ông bố chỉ về chiếc tách của Irene, và cô gái bưng bình cà phê lại, rót đầy. Ông nói.
- Thưa bà Connor, tôi sẽ gọi cảnh sát, như bà muốn. Nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi thì trong những trường hợp như thế này, sự hiện diện của cảnh sát chỉ làm cho vấn đề thêm rắc rối.
- Ông đâu có nghe tận tai những lời chúng nói!
Và Bryant hiểu rằng ông đang gặp một mụ điên, lại đã uống khá nhiều rượu mạnh. Ông nói với con gái:
- Gã đó đe dọa rằng chúng sẽ quật mồ lấy xác lên, nếu bà Connor chôn con theo như cách thức bà đã chọn.
Ernestine thốt ra một âm thanh của sự ghê tởm.
- Chúng không biết tôn trọng người chết hay sao?
- Bây giờ chúng ta vào đó nhìn cái xác, làm như vĩnh biệt, rồi về. - Tên mập Freddie mưu mô. - Nhưng chúng ta vẫn canh chừng nơi đây. Sandy, nếu chịu khó trang điểm, sẽ ra vẻ con nhà lành lắm. Nó ở lại nhìn ngó cho chắc ăn. Rồi đêm nay, khoảng ba bốn giờ sáng, chúng ta nhào vào cướp xác Vinnie và Jeff đem đến phía bắc khu biệt cư da đỏ chôn cất là xong...
♣ ♣ ♣
Ông Ernest Bryant nói:
- Tôi nghĩ bà nên thế này...
Irene thô bạo ngắt lời:
- Hal có gọi đến không? Người tên là Harold Hall?
- Tôi có hỏi trước đây mười lăm phút. Chưa thấy ai gọi cho bà cả. – Ernestine đáp.
- Người bạn tốt nhất của tôi! Lúc tôi cần đến anh ta nhất thì anh ta ở đâu. Đứng trước quầy hàng ư? Nhờ cô phone cho ông Hall lần nữa, bảo ông ấy làm ơn xách đít đến đây giùm, được không?
Ernestine nhìn cha. Ông Bryant nói:
- Con gọi đi. Ba muốn nói riêng với bà đây vài lời.
Irene nghi ngại nhìn ông Bryant, cái nhìn làm ông khó chịu. Ông không thích những gì đang diễn ra quanh ông, tất cả – đám thanh niên trên bãi cỏ của ông, người đàn bà này, sự ồn ào của dư luận... Những thứ đó không giúp ích gì cho cái hình ảnh mà ông cố tạo dựng cho nhà tang lễ của mình, bằng bao năm công lao và tiền bạc quảng cáo.
- Bây giờ, có một cách giải quyết êm thấm để không làm phiền đến người đã chết. - Giọng ông dịu dàng.
- Cách nào? - Giọng bà ngờ vực.
- Bà có khi nào nghĩ đến hỏa thiêu không?
- Ông nói sao?
- Chúng tôi có đầy đủ phương tiện để làm việc đó, ngay tại đây.
- Ông muôn nói là đốt xác con tôi?
- Xác chết được thiêu thành tro, đựng trong một lọ sứ đẹp và bà có thể giữ nó ở bất cứ đâu.
- Ông cho tôi là hạng người gì?
- Xin bà nghĩ kỹ một chút. Chúng ta đang ở một hoàn cảnh đặc biệt. Những điều bọn trẻ kia nói, chúng đe dọa cả tôi nữa, bà biết không, là chúng sẽ để một bọn gác trước nhà tôi, suốt ngày suốt đêm, rồi chúng sẽ đi theo đến tận nghĩa địa, và ai biết chúng có thể dở trò gì ở đó? Tôi sắp nói với bà rằng tôi, Hãng hậu sự của tôi, bắt đầu hối hận vì bị lôi cuốn vào vụ này.
- Lão già khốn kiếp, ông định dọa tôi đó à?
Irene có một chai rượu nhỏ để trong xách tay, và bây giờ bà lấy ra. ông Bryant chán ngán:
- Con nào mẹ đó!
Ông quay mặt đi, kịp thấy con gái chạy vội vào.
- Chúng nó đang xông vào, cả bọn.
Irene hét với ông Bryant, choàng tay qua cổ ông:
- Chặn chúng nó lại!
Ông gỡ tay bà ta ra, bỏ đi. Ernestine nói với ông:
- Bây giờ thì trông chúng có vẻ trật tự lắm.
Irene gọi với theo hai cha con.
- Gọi điện báo cho cảnh sát đi!
Xuống nhà, Bryant thấy không có gì phải cuống lên cả, ít nhất là lúc này. Một đám khoảng bốn chục thanh niên đang đi chậm rãi quanh xác chết. Một cô gái tròn trịa có dáng dấp Mehico đứng trên đầu quan tài. Những người đi qua, sau khi nhìn xác chết, có lẽ như đều dừng lại nói lời an ủi nào đó với nàng.
Irene Connor đã tìm được đồng xu để bỏ vào khe hộp điện thoại, hỏi phòng chỉ dẫn số máy cảnh sát rồi hét lên, “Đây là một trường hợp khẩn cấp.”
Juana đăm đăm nhìn khuôn mặt Vinnie, ngạc nhiên rằng sau khi cạo râu, hớt tóc, trông hắn thật đẹp. Nhưng nàng lại nói với Michael, người đi cuối hàng:
- Anh coi chúng làm cho Vinnie ra vậy đó!
Ernestine rỉ tai cha:
- Con mụ gọi điện thoại cho cảnh sát.
- Thôi được. Một là bà ta chấp nhận hỏa thiêu, hai là đem đi nơi khác. Con gọi cảnh sát đi. Nói với họ là con thay mặt cha, và những thanh niên kia không làm gì sai quấy cả, ngoài việc chúng ăn mặc bẩn thỉu, và có cái mùi không hiểu là mùi gì. Còn bà mẹ thì chẳng ra người mẹ có đứa con chết tẹo nào. Nói với họ vậy. Đừng để cảnh sát đến nhà mình, sẽ sạt nghiệp đấy!
♣ ♣ ♣
3
Chưởng lý quận Cy Walker rời văn phòng sớm hơn thường lệ. Ông vừa được thông báo có nhiệm vụ truy tố Flores, và ông thấy cần suy nghĩ kỹ lưỡng.
Tám năm trước, Cy Walker đã từ bỏ sự nghiệp luật sư đem lại cho ông nhiều lợi tức ở miền Đông để tìm đến một vùng khí hậu khô ráo, sạch sẽ hơn, và nhanh chóng có được một vị trí nghề nghiệp xứng đáng trong cái xã hội vùng đất Tây Nam này, nhưng công việc Chưởng lý quận này đã làm ông mất đi một khoản thu nhập nhất định so với số tiền ông kiếm được khi hành nghề luật sư tư tại Camden, New Jersey.
Vì vậy, vài tuần trước, Cy Walker đã ngỏ ý rời khỏi chức vụ đó, vậy đây sẽ là vụ cuối cùng của ông? Ở cương vị cố vấn luật pháp cho các công ty bất động sản, ông kiếm được nhiều tiền hơn, nhờ tình trạng phát triển kỹ thuật mau chóng và sự tăng trưởng đột ngột của ngành bảo hiểm. Dại gì mà ông tiếp tục phục vụ công ích xã hội. Ngay sau khi quyết định từ chức, ông đã mua chiếc xe hơi thứ hai, kiểu Camaro mui xếp, như là một bảo đảm với chính ông rằng những ngày tươi đẹp sắp đến.
Lúc về nhà, ông nghe bà vợ Corky nói về vụ án:
- Nó sáng tỏ và giản dị quá. Trăm phần trăm là anh thắng. Vậy việc gì phải lo?
- Nhưng anh có nên thắng hay không đây?
- Giết người một cách lạnh lùng, có chủ mưu, cố ý, hắn... – Bà bỗng ngưng bặt. - ồ, em hiểu ý anh rồi.
- Phải.
- Ý anh là... nếu muốn, anh sẽ thắng, nhưng nếu thắng, anh sẽ mất thiện cảm của xã hội, đúng không?
- Phải. Anh không có cách gì để thua vụ này được, nhưng chắc chắn anh sẽ mất nhiều thứ, nếu thắng.
- Hừm..
- Em à, một luật sư mở văn phòng tư không cần phải hiểu biết nhiều về luật pháp, nhưng hắn không thể không cần nhiều thiện cảm của xã hội.
- Cy, anh đang có nhiều thiện cảm.
- Sau khi thắng, anh còn được bao nhiêu? Lão thượng sĩ không quân này có thể trở thành anh hùng nơi đây, khi vụ án kết thúc.
- Anh uống gì không?
- Cho anh uống đi. Tùy em.
♣ ♣ ♣
Trở về căn cứ, đại tá Dowd cho mời Trưởng phòng Quân pháp lên gặp. Trong lúc chờ đợi, ông nghĩ đến những cầu hỏi của Don Wheeler.
Đây không phải là điều mà Wheeler muốn nói đến. Francis Dowd có thể không hành động như Flores, nếu rơi vào trường hợp của hắn ta.
Ông nhớ chính ông đã nói với hắn, Đôi lúc sức mạnh trở nên cần thiết, và sự giận dữ của chúng ta cứu thoát chúng ta.
Flores đã siết cò, nhưng có phải chính ông đã trao khẩu súng vào tay hắn? Không đến nỗi vậy, nhưng dù sao, phải chăng chính ông đã khích lệ, và hơn thế, đẩy Flores đến hành động của hắn? Như vậy, phải chăng ông đang tự biện hộ cho chính ông?
Lúc đại tá thông báo là con rể ông, trung úy Alan Kidd sẽ chịu trách nhiệm biện hộ cho thượng sĩ Cesario Flores, trung tá McCord nói:
- Đại tá có thể cho tôi biết lý do không?
- Không, ông không cần biết. Trên thực tế, Flores sẽ do Don Wheeler biện hộ, và trên danh nghĩa, sẽ do một luật sư trẻ trong văn phòng của ông ta, là Gavin McAndrews. Vai trò đại diện của chúng ta trước tòa án sẽ rất khiêm tốn.
- Nếu vậy, đại tá đã chọn đúng người.
Chiều hôm đó, ngồi bên Alan trong câu lạc bộ sĩ quan, Dowd xấu hổ khi nhớ lại hai tiếng “khiêm tốn” của McCord. Trên phương diện cá nhân mà nói thì Alan không đến nỗi thế.
♣ ♣ ♣
McCord khó khăn lắm mới tìm thấy Alan để thông báo nhiệm vụ mới cho chàng ta, để cuối cùng thấy trong ánh hoàng hôn của câu lạc bộ sĩ quan, Alan đang tán gẫu với một vài sĩ quan có vợ, lại có cả vợ chàng. Alan ngồi thoải mái trong chiếc ghế nệm dày, đã uống đến ly rượu thứ hai. McCord nói bằng giọng khiển trách:
- Anh không nghe quân cảnh réo gọi tên anh sao?
- Tôi cố gắng loại trừ cái lối réo gọi bằng loa phóng thanh công cộng trong câu lạc bộ sĩ quan căn cứ. Nó làm cho những buổi họp mặt xã giao mất thú vị.
Lúc McCord nói cho Alan biết lý do gọi, chàng chẳng bình luận gì, chỉ quay lại nhìn vợ. McCord bỏ đi. Cả bọn gọi thêm một chầu rượu, trước khi dùng bữa tối. Alan có vẻ như quan sát vợ, qua bờ ly. Cuối cùng, nàng đành hỏi:
- Alan, gì vậy anh?
Nghe hỏi câu đó, chàng đứng lên, xin kiếu. Lúc ăn món điểm tâm, người hầu bàn đem đến cho Marian một mảnh giấy nhỏ, vỏn vẹn mấy chữ Đánh côn cầu.
Tối đó, lúc lên giường, chàng bảo vợ:
- Em có nhớ anh từng kể với em rằng ba anh mỉm cười lúc tắt thở không? - Nàng gật đầu, nghi ngờ. - Một ngày nào đó anh sẽ cho em biết tại sao ông mỉm cười.
- Alan, đừng chơi trò đánh đố với em.
- Sau khi giải ngũ, anh không làm luật sư nữa đâu,
- Anh sẽ làm gì?
- Anh không biết.
- Vậy là làm sao?
- Bây giờ, ai lo phận nấy.
- Alan, đừng nói vậy.
- Anh kính nể ông già anh, và không lúc nào bằng lúc ông chết. Với hơi thở cuối cùng, ông nói rằng những nhào nặn đã biến pháp luật thành một lợi khí bảo vệ đặc quyền.
- Vì vậy ông mỉm cười?
- Không. Ông mỉm cười vì đã mất một đời người để khám phá ra điều đó.
- Vậy tại sao ông không làm gì để sửa đổi? Ông có quyền hành, uy tín... ông có thể hành động mà.
- Ông nói... giao việc đó lại cho anh.
- Và bước đầu của anh là buông?
- Không. Anh báo để em biết mà đề phòng nó có thể đến bất kỳ. Em lấy một ai đó làm chồng, và em không bị bắt buộc phải trung thành với con người đó, một khi nó thay đổi bản chất.
- Alan, anh coi thường em quá.
- Marian, anh không hề coi thường cái tinh thần thực tế của em đâu.
Chàng mỉm cười quay mặt đi, và thiếp ngủ luôn.
♣ ♣ ♣
Hal tìm được nhà lo hậu sự khác, nằm cuối thành phố. Tang nghi quán Phương Nam vốn là nhà xác của thị xã, sau bán đấu giá, và được hãng tang ma Phương Nam mua, sử dụng những tiện nghi có sẵn. Những gia đình nghèo không thể chịu nổi cái giá cắt cổ của nhà hậu sự Bryant đều đem xác thân nhân đến đây.
Chủ Tang nghi quán là Isaac Bulgaros, một người có gốc gác mơ hồ, được bạn bè trong giới gọi thân mật là Izzy. Những tiện nghi ở đây không có sự khả kính như của cha con Bryant, nhưng lại có cái vẻ thân mật, gần gũi. Chẳng hạn, Izzy hiểu ngay chủ ý của Hal. Ông cho xe đến nhà Bryant lấy xác, và mặc dù vòng vây của bọn híppi có vẻ đã giãn ra, ông cũng rất thận trọng. Chiếc xe chạy vào cổng xây theo lối cổ của nhà Hậu sự Bryant là một xe thùng bít bùng, không bảng hiệu gì cả.
Nửa giờ sau, Hal lái xe đến nhà Bryant gặp Irene đang ngồi trong phòng đợi khóc than. Hal nói ngay.
- Cưng, anh lo liệu ổn rồi. Xác đã được đem đến nhà Izzy, và xem ra không có ai biết. Bây giờ anh chỉ xin em vài điều. Thứ nhất, đừng uống rượu nữa, cho đến khi chôn cất xong.
- Hal, đừng nói với em kiểu đó.
- Thứ hai, nhớ rằng chúng sẽ sớm biết xác đã được mang đi khỏi nhà Bryant, và đang nằm chờ ở đâu đó. Nhưng chúng sẽ không thể biết là ở đâu, vì anh đã quá khôn khéo, em hiểu không? Rồi chúng sẽ tìm kiếm, gọi điện thoại, nhưng Izzy biết cách trả lời. Tiếp đó, chúng sẽ theo dõi em. Vậy anh muốn em đừng đến thăm Vinnie nữa – con trai em tên đó phải không?
- Vincent, phải.
- Cho đến khi đưa đám, anh không muốn ai đến nhà Izzy hết. Em có thể nhớ được vài điều đó không?
♣ ♣ ♣
Cả bọn chẳng những biết xác Vinnie đã chuyển đi mà còn biết đang ở Tang nghi quán Phương Nam của Izzy. Ngồi trong chiếc xe tải nhẹ mà Sandy mượn của ông nội, vài đôi mắt sắc sảo đã để ý đến chiếc xe bít bùng chạy vào nhà Bryant.
Trong phòng đợi, Sandy đã chứng kiến cảnh náo loạn của Irene, mà Sandy đoán là mẹ của Vinnie, đã hò hét và gây gổ, rằng bà không muốn lấy xác gã da đen, bà chỉ muốn xác con trai bà mà thôi.
- Ờ, vậy thì gã da đen này là ai? Chúng tôi làm hóa đơn cho bà mà.
- Làm sao tôi biết được? Ông coi tôi có giống con mọi đen không? Đừng để xác thằng đó lên xe con tôi!
Ernestine cố năn nỉ, lo lắng nhìn về phía Sandy như cầu cứu. Rồi chạy lên lầu, để mình Sandy ở lại.
Sandy chạy ra ngoài báo tin. Khi chiếc xe bít bùng chạy ra, thì chiếc tải nhẹ đuổi theo, đến gần Tang nghi quán của Izzy. Sau đó, Sandy lái xe đến đường Nữ Vương thuật lại mọi chuyện. Cả đại gia đình tụ họp đông đủ, chật ních, đến trên một trăm. Nhiều đứa còn chưa biết Vinnie nhưng vẫn kéo đến. Bất cứ phong trào nào cũng cần một thánh tử đạo.
♣ ♣ ♣
- Tôi muốn, - Michael nói, - chúng ta luôn có ít nhất là hai mươi người ngoài đó, suốt ngày đêm. Nếu gọi được thêm, càng tốt. Chúng ta đã buộc chúng mang xác Vinnie ra khỏi nhà Bryant, và ở Phương Nam, chúng ta sẽ thắng. Tôi có số điện thoại của bà mẹ nó. Cứ mười phút một ai đó hãy gọi bà ta, thật lịch sự, không cần gì phải gắt gỏng, rằng Vinnie đã trối lại là muốn chôn cất như thế nào. Và cũng phải gọi đến lão chủ Tang nghi quán, họ nói là lão ta nhận xác của cả những người nghèo khổ, vậy nên giải thích cho lão việc mà chúng ta đang lo, và điều kiện của chúng ta.
Vậy là năm chục đứa cả trai lẫn gái chất lên bất cứ thứ xe cộ gì kiếm được, hoặc bằng cách đưa ngón tay cái lên trời xin quá giang, tập hợp trước nhà Izzy, đứng chật lề đường. Bọn chúng yên lặng đến độ mà nửa giờ sau khi chúng đến, Izzy và người phụ tá của lão vẫn không biết. Và khi họ biết, thì cũng chẳng phải do một sự náo loạn nào cả. Izzy ra nói chuyện với họ.
- Mẹ nó chẳng ngó ngàng gì đến nó cả. Bà ta vứt con đi khi nó mới lên bảy. - Một gã gầy trơ xương nói.
- Các người chôn cất nó làm sao? - Izzy hỏi.
Đứa nào cũng biết câu trả lời, nhưng vì nó quá đơn giản nên không đứa nào đáp được. Cuối cùng lại gã gầy trơ xương nói, “Theo lối của chúng tôi.”
Chúng hành động như một bầy đàn, Izzy nghĩ, chỉ với mục đích duy nhất, nhu cầu duy nhất, theo bản năng, không thể diễn tả ra được, nhưng có khả năng quyết định mọi hành động của đàn. Izzy hỏi tiếp.
- Cái lối của các ngươi là như thế nào?
Izzy chưa từng có cơ hội nói chuyện với một đàn. Khi kẻ đầu đàn nói, thì cả đàn hùa theo, và Izzy thấy thích cái lối chúng chiếm lề đường xi măng cứ như đó là bãi cỏ của chúng, những dáng điệu của thân thể chúng lúc đứng ngồi, trông như những chú cừu hay bò vào những khi nhàn rỗi. Nhưng đặc biệt là lúc nào cũng có mặt chúng, mỗi lúc một đông hơn, chỉ vì sự quan tâm đến một thành phần trong đàn. Lúc viên phụ tá gọi vào nghe điện, lão thấy tiêng tiếc.
Hal gọi đến, để hỏi thăm. Izzy nói trước nhà đang có đám đông, vậy nên hành động sao?
Hal không thể giải thích hay chỉ bảo cho Izzy điều gì, đành quyết định bỏ mặc và đi ngủ. Hắn thay quần áo cho Irene, đặt bà ta lên giường, rồi khóa cửa phòng lại, và... về với vợ. Đó là một quyết định khôn ngoan.
Điện thoại của Irene suốt đêm đó, reo đến cái độ nàng phải lấy xuống khỏi móc, rồi dùng chăn phủ lên. Trong những lần nhấc máy nghe, nàng biết có người từ New Orleans, người nữa từ Madison, rồi Wisconsin. Sáng hôm sau, Irene nói với Hal là họ đang phải đối đầu với một âm mưu có tính cách Liên bang.
♣ ♣ ♣
4
Chánh án Thurston Breen là niềm hãnh diện của nghành tư pháp quận. Giới thông thạo cho rằng ông còn có thể thăng tiến không biết chừng nào mà kể trong sự nghiệp phục vụ công ích.
Trước hết, nom ông như một vị Thẩm phán Tối cao Pháp viện, và nếu không như một trong những vị ngồi ở Washington thì cũng giống như vị đó, nhưng của tiểu ban này. Ông cao trung bình, và sức khỏe tuyệt hảo, nhờ các môn cưỡi ngựa và quần vợt (ông và trung úy Alan Kidd là những tay vợt buổi sáng đều đặn) và bằng cách không ăn sáng.
Nhưng cái hào quang của ông, mà ai cũng biết, là do nội tâm phát tiết ra, ông Chánh án sống bình dị, hưởng thụ đầy đủ đời sống và vị thế của ông mang lại, chấp nhận kẻ khác theo bản chất của mỗi người, có một gia đình yên ả và một bà vợ trung thành, khôn khéo, tuy không đẹp. Ông Chánh án là người thông minh và ... tóm lại, có mọi lý do để hài lòng, tự tin và hãnh diện.
Ông phục sức với những bộ đồ màu sẫm, cắt may cổ điển. Nhưng thay vì mặc áo sơ mi trắng và mang cà vạt màu xanh đậm sẽ khiến ông trông như một trùm băng nhóm muốn nhờ ăn mặc để thành người đứng đắn, thì ông lại mặc sơ mi hồng và thắt cà vạt hợp với màu sơ mi và vét. Thiên hạ thì cho rằng ông có con mắt nghệ sĩ trong việc chọn lựa màu sắc.
Song lối chọn giầy của ông thì không tha thứ nổi – giầy nâu để đi với áo xanh đen. Nhưng không hiểu bằng lối đánh xi nào, có thể bằng loại xi nhập cảng từ Anh, nên màu giầy của ông trở nên thật sẫm, giống như màu da của những bìa sách quí.
Khuôn mặt cân đối của ông hòa hợp với các đức tính như rắn rỏi, thẳng thắn, cương nghị, cộng với một chút nồng hậu. Nước da Chánh án Breen ngăm đen, mùa hè cũng như mùa đông. Những ngày u ám, ông phơi mình năm phút dưới ánh đèn.
Nhưng đáng khâm phục nhất ở Chánh án Breen là thái độ của ông tại tòa. Ông là diễn viên ăn khách nhất tiểu bang. Khi ông xử bất kỳ vụ án nào dân chúng cũng kéo đến xem đông đảo.
Ông dự tính viết một cuốn sách về hệ thống tư pháp, một ngày nào đó, và sẽ chứng minh qua bản văn, về tính nhân đạo của hệ thống tư pháp. Niềm hy vọng của ông là làm cho luật pháp trở thành dễ hiếu đối với kẻ ngây ngô nhất trong nền dân chủ. Song ông sẽ chỉ cho nó ra đời khi đã lên đến tột đỉnh của sự nghiệp, dù cái tột đỉnh đó chưa biết là bao giờ, và đến như thế nào.
Chức Thống đốc là cứu cánh của họ, và vợ ông, Sally, là một cộng sự ngang hàng trong vụ này.
Ông không bao giờ hé lộ điều gì trong phòng ngủ của mình, song những đầu óc nhiều chuyện quanh tòa án quận đã nghi ngờ cái mục đích ông theo đuổi đó. Vì thế, Chánh án Thurston Breen mới được người ta đặt cho biệt danh Thurstie11. Ông Chánh án biết, và không thích nó. Một biệt danh đôi khi làm hại một cuộc đời.
Ông Chánh án Thurston Breen trước hết phải tự trách mình vì đã chọn tên đầu là Thurston. Hơn thế, Breen vốn từ tiếng Green, và Green từ Greenbaum, và Thurston thì xuất xứ từ tiếng Theodore, và đó là gốc gác ông: Theodore Teddy! Chánh án Thurston Breen là – nguyên là thì đúng hơn – một cậu bé Do Thái lớn lên trên đường phố Nam Chicago, đã theo học trường trung học Albert Leonard và Đại học Chicago, lấy được vài chứng chỉ với hạng tàm tạm. Ra trường Luật, ông bước vào nghề, và khi không được các hãng lớn chấp nhận, ông làm việc cho một hãng nhỏ có đủ loại thân chủ.
Rồi chuyện trọng đại xảy ra. Sally cảnh báo rằng ông đang làm việc với những người mà nàng không tin cậy nổi. Thì ra người đứng đầu hãng đã từng dính líu vào những vụ tiền bạc bất lương, đã nhiều lần xách cặp rỗng đến và mang cặp đầy về.
Cuộc khủng hoảng đến vào cái hôm Sally thấy ông trong phòng ngủ, đang khóc, và trong tình trạng đó, ông nói hết những gì mà hãng của ông đã dính líu vào – nhiều tiết lộ khác sẽ đến sau đó – và ông nghĩ sự nghiệp của ông cũng như của hãng chắc sắp tàn.
Sally ôm ông, bảo đảm với ông tình yêu của nàng. Rồi khuyên ông nên từ chức ngay, một cách công khai, tách khỏi cái hãng bịp sắp bị đưa ra ánh sáng. Nàng còn cho ông những lời khuyên khác nữa – vì nghi ngờ ông đã liên hệ sâu hơn là ông thú nhận, với cả chính mình. Nàng giục ông, “Chúng mình rời khỏi nơi này đi, hãy đến một đâu đó và bắt đầu lại từ đầu.”
Đó là lý do để họ đến vùng Tây nam rộng lớn này.
Sally cũng đã từng có một sự nghiệp trước khi lấy chồng. Nàng vốn là Sarah Ritman, một nhân viên trong bộ tham mưu của Adlai Stevenson – ứng cử viên Tổng thống thất cử của đảng Cộng Hòa. Nàng chăm chỉ và có khả năng, có tài tổ chức hậu trường, và môi trường hoạt động của nàng là khu phố Nam Chicago, nơi nàng sinh ra và lớn lên. Nàng là chiếc cầu giữa vị chính khách và quần chúng, một trong những tên lính đánh thuê của Adlai, gan lì, khôn khéo, thực tế. Không có nàng, quần chúng khó có thể hiểu được vị chính khách.
Lúc thần tượng chính trị của nàng bước vào những đồng cỏ xanh tươi màu mỡ hơn ở Washington và Liên hiệp quốc thì Sarah quyết định lấy chồng và sinh con.
Sarah Ritman có đầu óc khuynh tả hơn là mức nàng có thể để cho Stevenson, hoặc cả Teddy biết đến. Nhưng thực ra, trong giai đoạn hợp tác ở cả hai trường hợp, nó chẳng quan trọng gì. Thực ra, nàng được vũ trang bằng thứ lý luận vỉa hè và những móng tay sắc.
Lúc Teddy bắt đầu lại từ đầu, nàng đổi tên thành Sally, và bắt đầu làm việc lại – cho ông. Nàng có mặt ở đó để mở cửa Văn phòng luật sư của ông, và thực ra thì nàng đã chọn địa điểm, các thư ký, tùy phái, và những thân chủ đầu tiên. Cái hình ảnh của Teddy trong quần chúng, phần lớn do nàng tạo nên – hình ảnh của ông Chánh án Breen tương lai. Họ chọn một số bạn bè, tập một số thói quen, theo một số sở thích, kiểu cách – chẳng hạn cưỡi ngựa. Cái ý kiến sưu tập nhũng khuôn sắt đóng dấu lên mông gia súc là của nàng, và chẳng bao lâu cả vùng đều biết gia đình Breen có một khuôn sắt đầy đủ nhất trong tiểu bang. Sally cũng chọn lựa lấy những công tác từ thiện, chẳng hạn giúp đỡ người da đỏ, vốn là những người làm chủ vùng đất này trước kia. Thurston thì nằm trong ủy ban đặc trách quyền lợi của lớp trẻ da đỏ trong vùng.
Ngay khi tiền bạc chảy vào, Sally bắt đầu đãi đằng khách khứa, một cách tính toán. Những ai được mời đến ngôi nhà kiểu nông trại nằm ở vùng phụ cận thành phố đều được chọn lựa thận trọng. Sally có chiếc mũi thính, đánh hơi nhanh và chính xác mùi quyền thế, ảnh hưởng, giầu sang. Đây là giai đoạn hạnh phúc nhất trong đời sống của họ.
Chuyện xảy ra ở Chicago đã được quên lãng từ lâu.
Họ còn bắt đầu nói xa nói gần rằng họ vốn gốc Do Thái, với một số bạn bè chọn lọc – và đây là một trong những hành vi khôn khéo nhất của Sally. Tiếp đó, sự tin tưởng vào các đức tính lương thiện và ngay thẳng của ông Chánh án gia tăng nhiều.
Sau khi đã đạt đến cái đỉnh thứ nhất, sau khi đã thưởng thức cái thú vị làm việc chung với nhau một cách có kết quả tốt, họ bèn bắt đầu con đường đi vào tòa nhà Thống đốc. Lần này, chiến thuật vẫn là đưa ra một hình ảnh thích hợp.
Đó là lý do khiến ông Chánh án muốn nắm vụ này, làm cho ông thốt ra những câu ám chỉ hợp lý khi ông mời một vài nhân vật dùng bữa trưa.
Lúc nhận thông báo được giao xét xử vụ này, việc đầu tiên của ông là nói với Sally các chi tiết, những gì đã xảy ra, xảy ra cách nào, những ai liên hệ, các luật sư, Cy Walker, Don Wheeler, Gavin McAndrews, bạn quần vợt của ông là Alan Kidd và vân vân.
Và ông gặp một cú sét đánh khi Sally nói:
- Teddy, anh chọn sai phe rồi.
Ông Chánh án Breen kính nể trực giác của vợ lắm, thường không bao giờ đi ngựợc lại, nhất là trong những vấn đề quan trọng. Nhưng lần này ông chống lại nàng. Vụ án này sẽ gây sự chú ý, sẽ được dư luận quan tâm hơn bất cứ vụ án nào mà ông đã xử. Ông nói với nàng như thế. Nhưng Sally vẫn ca lại điệp khúc:
- Teddy, anh chọn sai phe rồi.
- Anh chẳng về phe nào cả. Anh đại diện cho dân chúng tiểu bang này.
Ông nói bằng một giọng rắn rỏi hơn là sự tin tưởng trong lòng.
- Thôi. Dân chúng nào?
- Sare, đừng đọc lại những bài triết lý trung học nhàm tai đó với anh nữa. Thời đại này đã khác quá xa, đừng suy nghĩ theo cái lối nhà trường đó nữa...
- Nếu vậy thì được, Thurstie.
- Tôi chán cô quá rồi! Thôi, tôi đi cưỡi ngựa đây.
- Anh lại vậy nữa. Cứ mỗi lần bất đồng ý kiến anh lại đi cưỡi ngựa. Anh chỉ để ý nghe em nói sau khi đổ vỡ. Rồi lúc đó lại trách sao em không bắt anh nghe.
- Thôi được. Em nói đi.
- Anh hãy đứng ngoài vụ này. Em biết vụ án có vẻ hấp dẫn lắm. Em biết anh sẽ là diễn viên chính trên sân khấu suốt ba tháng tới, tên anh sẽ lên trang nhất nhật báo mỗi ngày, và tất cả những sự ồn ào tương tự. Nhưng cưng ơi, nghĩ kỹ lại đi. Anh sẽ bạn bè, gặp gỡ với ai trong những năm tới đây? Bọn thanh niên. Con số thanh niên rất lớn, và họ không chỉ là những cử tri của ngày mai thôi đâu; phần lớn trong chúng giờ đã có quyền đi bầu. Anh có muốn chúng nhắc đến, suốt đời anh, như là ông Chánh án dùng đặc quyển để ức hiếp con người không?
- Làm sao em biết vụ án này sẽ diễn tiến ra sao?
- Anh định nói với em là những tên khôn nạn bụng phệ ruột đầy champagne kia sẽ kết án tử hình một lính không quân của họ sao? Anh tin như vậy sao chứ? Nếu tin vậy thì nên trở lại Chicago thôi. Thurstie.
- Cấm em gọi anh tên đó!
- Teddy, em đang cố gắng giúp anh. Dù đã từng đọc bao nhiêu diễn văn khả ái, hữu ích trước bồi thẩm đoàn, anh vẫn chỉ là một ông chánh án bôi vôi...
- Và bù nhìn của giai cấp thống trị?
- Đúng thế! Bởi vì khi tên đó thoát tội, thì lớp trẻ sẽ không trách Don Wheeler và những con vật làm trò của ông ta đâu. Chúng còn khen họ đã trung thành với thân chủ. Nhưng mọi tội sẽ đổ hết lên đầu anh, người đã nỗ lực nối nhịp cầu thông cảm giữa các giai cấp và thế hệ, người hy vọng trúng cử Thông đốc bằng cách làm mất lòng càng ít người càng hay. Anh, kẻ đứng giữa, kẻ bảo thủ tiến bộ, con người đó, anh, sẽ chịu tất cả tội lỗi, và khi đó, cưng ơi, cố nhớ lại rằng người vợ Do Thái xấu xí của cưng đã cảnh báo trước.
- Vậy theo em, anh phải làm sao?
- Hãy đi Hy Lạp nghỉ mát như chúng ta đã dự tính.
- Sare, anh đã được đề cử.
- Thì anh nói bị bệnh, ai cởi áo anh ra khám mà lo. Tránh đi. Để kẻ khác cái vinh dự đó. Hay là anh ham quá đến nỗi... Xin lỗi anh, em không có ý nói như vậy.
- Sare, chắc anh phải nện cho em một trận!
- Xin mời! Cưng ơi, suy nghĩ thật sự đi. Chúng ta đã làm việc hết mình, để bây giờ anh nhảy vào một cuộc phiêu lưu có thể... tan tành hết ư? Tại sao anh lại phải phiêu lưu? Em biết, nói với anh lúc này chẳng khác nào nói với một diễn viên là đừng nên đóng cái vai mà hắn đã được khán giả tán thưởng, nhưng...
- Đừng so sánh kiểu đó. Anh đâu phải thằng hề!
- Không à? - Bỗng nàng đổi giọng. - Xin lỗi anh. Em không hiểu tại sao lại nói ra những điều khủng khiếp ấy. Pha cho em ly rượu theo lối cổ điển đi. Em sẽ không bao giờ gắt gỏng với anh nữa.
Ông pha hai ly. Sau đó, dù cố gắng, ông vẫn không làm tình với nàng được, tự nhủ, đáng đời con nhé.
Nửa đêm, ông quyết định đánh thức Sally và nói cho nàng biết ông sẽ chịu trách nhiệm về vụ án này. Sally ngáp, lẩm bẩm như một lời cảnh cáo, “Tùy anh.”
Về sáng, ông đã làm được cái việc mà ông không làm nổi trong đêm.
Trong bữa sáng, Sally không hề nhắc đến vụ án.
♣ ♣ ♣
5
Đúng như Gavin McAndrews hy vọng, Cy Walker đã thắng hiệp đầu. Việc đầu tiên ông ta làm khi thức dậy là nhấc điện thoại lên, và bằng một giọng đầy căm phẫn vì chính nghĩa, phản đối việc Flores – một kẻ sát nhân ngoài vòng pháp luật, đi thong dong trong căn cứ như một nhân vật lỗi lạc.
Báo chí nhào ngay vào vụ này. Don Wheeler đã để ý đến chuyện đó – và vì vậy, trong trận đầu, phía công tố đã ghi một bàn tuyệt đối. Cy Walker ưỡn ngực lên về điểm này, nói với cô thư ký tóc vàng của ông, “Thỉnh thoảng nên nhắc nhở bọn Không quân vênh mặt kia nhớ rằng họ không thể xử sự như một quân đội chiếm đóng trên một quốc gia bị đô hộ được.”
Một giờ sau, ông đã có án lệnh của tòa, do một thẩm phán khác ký, không phải Thurston Breen, hạ lệnh cho cảnh sát trưởng phải tống ngay thượng sĩ Flores vào phòng giam, như bất cứ ai sẽ bị đem ra xử về tội sát nhân bậc nhất. Một giờ sau nữa, lệnh này được thi hành.
CyWalker nói với, cô thư ký Donna tóc vàng:
- Đây chỉ là hiệp đầu. Hiệp cuối sẽ là quyết định.
Nhờ đã nhiều năm làm việc cho các luật sư, Donna cũng khôn ngoan chán:
- Ông có điều gì lo lắng?
- Cái việc không ai phản đối. Wheeler âm mưu gì?
Rồi nhấc máy liên lạc nội bộ, ông nói với Donna rằng mình đi vắng, và đốt điếu xì gà buổi sáng của ông.
Điều mà Cy tính toán là làm cách nào mà ông có thể vừa thắng lại vừa thua trong vụ án này, để cho Flores thoát với một án nhẹ – cho là năm năm tù vì tội giết người thứ hai – mà vẫn không tỏ ra bất lực và thua trong một vụ án mà đến vợ ông cũng phải cho là sáng sủa và giản dị. Dĩ nhiên, sau khi mọi việc đã lắng xuống, ông có thể nháy mắt, trong lúc tội nhân ở tù ba năm – ông tính hắn ta sẽ được giảm án, chừng đó thôi – và nói với tư cách cá nhân, trước công chúng, rằng giản dị là ông nghĩ rằng một người chỉ làm cái công việc che chở bảo vệ con cái của y chống lại một bọn hoang đàng thì có tội tình gì. Nhưng khi đó, ông làm cách nào tách khỏi bên biện hộ? Như vậy là ông phải chơi trò đi thăng bằng trên dây, một việc khá gay cấn đối với sự nghiệp của ông trong địa hạt luật sư tư.
Mười một giờ, Donna mang vào cho ông tách cà phê và những chiếc bánh ngọt. Nàng nói:
- Lúc còn làm việc với luật sư Don, tôi để ý thấy họ chỉ nói chuyện thân mật với nhau – luật sư đôi bên – rồi hôm sau đọc báo, tôi thấy vụ kiện đã được dàn xếp êm đẹp. Tôi không hiểu nổi bằng cách nào, nhưng...
Nàng thường ngừng giữa câu nói.
- Tại sao ai nói đến Wheeler cũng đều gọi ông ta là luật sư Don chứ không Don Wheeler, hay Wheeler? Và khắp thành phố, không một thư ký nào có chút kinh nghiệm làm việc với một văn phòng luật sư mà chưa làm việc cho Don Wheeler?
- Được không? - Cy thốt lên trong đầu.
Ý ông là cách đó đã không thành. Cy không loại bỏ cái ý nghĩ thằng cha chó đẻ đó có thể có những kẻ do thám cho lão trong bất cứ văn phòng luật sư quan trọng nào của thành phố.
Có thể lắm. Được, vào một lúc nào đó trong diễn tiến vụ án, cái lúc có vẻ ông đang thắng thế, và vào lúc ông đã trình diễn đầy đủ cái bộ mặt căm phẫn vì đạo đức, chính nghĩa và tinh thần trọng phát, ông sẽ nói chuyện với Wheeler hay thằng thay thế cho lão, không, ông sẽ làm việc đó qua tên luật sư đại diện cho Không quân (mà Cy đã gặp vài lần trong các tiệc tùng, hội hè), Alan gì đó, một gã mang điệu bộ tay chơi, một kẻ quanh quẩn ở các câu lạc bộ. Cy đã bật cười khi hay tin Không quân chọn gã đó đại diện bên bị, không chừng họ muốn thua trong vụ này cũng nên.
Cách nào thì ông cũng sẽ ném cái vụ án mạng thứ hai cho tên “Alan Chó Đẻ Gì Đó,” chỉ việc ném cho gã rồi bỏ đi, và dù ngu ngốc cách nào thì gã cũng đủ hiểu, để mời tất cả mọi bên liên hệ vào văn phòng Chánh án Thirsty, tại sao không? Và ở đó, gã sẽ chưng diện quân phục và cấp hiệu ra đôi chút để tuyên bố án mạng thứ hai không thể bỏ qua được, tuy nhiên xét vì thế này thế nọ, cũng nên châm chước. Chắc chắn hắn sẽ được thăng thưởng, bởi vì Không quân chỉ chờ có thế. Và chắc chắn Wheeler cũng chỉ mong có thế. Chỉ có điều mình nên làm việc này càng sớm càng hay, trước khi dư luận được hâm nóng quá độ về vụ án, đúng vậy không?
Và thế là ông Chưởng lý tòa án quận Cyrus Walker có thể kết thúc sự nghiệp phục vụ nền tư pháp công với một vụ án làm cho mọi người ở cả hai ba bên đều khâm phục, rồi lên chiếc Camaro mui xếp về nhà với vợ con.
Và khi mở văn phòng luật sư riêng, ông vẫn sẽ thuê Donna, dù cô ta có là do thám cho Wheeler đi nữa.
Gavin và Alan gặp nhau, rồi cùng ăn trưa để làm quen và thiết lập những quan hệ công việc. Gavin để ý thấy Alan có vẻ thích mình, hay nhìn mình chăm chú.
- Tôi biết có người bảo anh là tôi muốn ôm lấy vụ này, – Gavin nói, - nhưng thực ra là tôi muốn hợp tác với mọi người, chứ không phải...
- Đừng thắc mắc gì về tôi, cứ nên coi tôi như người anh đành phải chấp nhận, vậy thôi. - Alan đáp.
Gavin coi đó như câu đùa, tiếp tục mô tả những gì thuộc về vấn đề của họ. Chợt chàng ngừng nói khi thấy Alan tuy có vẻ chăm chú theo dõi, nhưng bằng cái kiểu xem hơn là nghe, tức nhìn Gavin chăm chú hơn là nghe chiến thuật biện hộ chàng trình bày.
- Anh nghĩ thế nào? - Gavin hỏi, dù chưa nói xong.
- Tôi đang nghĩ anh làm tôi nhớ tới con chim cuốc, giống chim thường chạy đầu chúi về trước đó.
- Chim cuốc?
- Tôi muốn tỏ ra khâm phục anh. Tôi mong có được vài đức tính của anh.
Gavin che đậy được sự bực bội của chàng:
- Đức tính gì?
- Ồ, anh biết, chẳng hạn tham vọng, hăng say...
- Hà, được rồi. – Chàng nghĩ thằng cha này chắc hơi khùng. - Nhưng anh có nghe những gì tôi nói không?
- Anh làm ơn lập lại đoạn cuối, được không? Tôi thú nhận là đầu óc tôi lơ đãng ở đoạn đó.
Gavin đành lặp lại. Lúc thanh toán tiền, Alan nói:
- Trung tá McCord nói là tôi có thể tính vào ngân sách của căn cứ. Vậy anh đừng để tôi mất cái thú tiêu tiền của họ.
- Tôi sẽ đưa con số ra lần khác. – Gavin đáp.
- Lẽ ra nàng phải lấy hắn làm chồng. Alan nghĩ.
Kế hoạch cấp thời của Gavin là cả hai nên tới ngay nhà giam quận để gặp thượng sĩ Flores, lần đầu tiên. Họ đều có xe riêng, Gavin là chiếc hiệu Merc mà chàng mua với hy vọng vợ sẽ cho ra đời thêm hành khách mới, còn Alan lái chiếc Karmann-Ghia, do Marian tặng, mà chàng mô tả như là “một con thuyền trông khá bảnh với bộ máy thường làm ta thất vọng, tượng trưng cho cái mẫu người mà nàng sẽ nghĩ là của tôi.”
Gavin cười khi nghe câu khôi hài đó, nhưng cũng bắt đầu để ý nhiều nhận xét của Alan nhắm vào chàng.
Gavin dẫn đầu, vì biết con đường tắt. Alan theo sau, song không hiểu vì sao lại đi lạc, mãi sau mới đến.
Khi hiểu Alan hơn, Gavin sẽ biết anh ta cố tình chứ không phải lạc đường.
♣ ♣ ♣
Phía sau nhà tù, bên ngoài những cửa kính lớn của văn phòng cảnh sát trưởng, có một vườn hồng, và Gavin gặp Cesario Flores ở đó, đang làm việc, trong tình trạng coi như tự do.
Sáng hôm đó, Cesario đã nói với cảnh sát trưởng Burns, hoa hồng là mồi ngon cho nhiều loại sâu tí hon khó nhìn thấy, và rất tai hại, nếu không chăm sóc tỉ mỉ thì thà rằng đừng trồng. Cesario tình nguyện chăm sóc và cảnh sát trưởng đã chấp nhận đề nghị của ông ta.
Vì vậy, Gavin thấy Cesario đang xới đất quanh các gốc cây, và quay mặt đi khi Gavin đến làm quen. Họ nói chuyện với nhau hơn nửa giờ trước khi Alan đến và trong nửa giờ đó, Gavin chỉ biết mỗi điều là kẻ giết người này hài lòng về việc hắn làm.
- Ông gặp con gái tôi chưa? – Cesario hỏi.
- Chưa được hân hạnh.
- Khi gặp ông sẽ thấy nó xứng đáng để tôi làm vậy.
Lúc Alan đến, Cesario xin lỗi, bỏ đi. Nhìn bộ quần phục không quân, ông ta có vẻ xúc động. Một lát sau, ông ta trở lại, mang theo bình thuốc trừ sâu:
- E là chẳng ích gì. Dưới các lá bám đầy sâu.
Chỉ nói thế, rồi ông ta nằm ngửa, xịt thuốc vào các lá, ngón tay bịt chặt mũi. Gavin làm một dấu hiệu với Alan, ý nói nên về, rồi chợt nghĩ Alan có thể khó chịu vì vừa đến đã bị kéo đi, hoặc biết là cuộc gặp thân chủ đã kết thúc.
Nhưng Alan không tỏ dấu gì khó chịu, và trước đó cũng chẳng xin lỗi vì đến trễ. Lúc ra về, Gavin nói:
- Tiếc là anh không đến sớm hơn. Chúng tôi nói khá nhiều chuyện.
- Tôi biết Flores. Và không ưa hắn. – Alan trả lời.
Gavin sửng sốt:
- Tại sao không? Tôi chưa từng gặp ai lương thiện như ông ta. Vậy cái gì làm cho anh khó chịu?
- Tôi không thế khoái cái phụ phẩm của nhà binh.
- Nếu vậy, có lẽ anh không nên nhận vụ này.
Gavin thốt ra trước khi biết mình đã đi quá xa.
- Chẳng do ý muốn của tôi. Anh biết những gì rồi? – Alan mỉm cười.
- Tôi phải chất vấn can gái ông ta. Hai con nhỏ đã nói những điều mà chúng cần phải sửa đổi lại.
- Nhưng anh không thể làm vậy được. – Alan nói. Gavin không trả lời. - Sau buổi trưa, có phải anh nói với tôi là con gái hắn khai sau khi xảy ra án mạng, rằng nó mong chính ông bố nằm thay vào chỗ thằng bồ?
- Luật sư Don Wheeler đã bảo không cần để ý đến những gì thiên hạ nói ngay sau khi xảy ra án mạng. Anh coi, cha nó bắn bồ nó, nay bồ nó chết mà cha nó vẫn sống, song anh có thể nghĩ một đứa con gái, dù bất hiếu cỡ nào có thể ngồi yên nhìn cha nó bị xử tử?
- Không. - Alan phải thú nhận.
- Tôi muốn nói chuyện với cô nàng Juana đó. Anh có biết nó ở đâu, ngay lúc này?
- Tôi biết. Cô ta đang ngồi trên lề đường, trước cửa Tang nghi quán Phương Nam. Vì ghé qua đó tôi mới đến đây trễ. Bọn chúng nó tụ tập cả ở đó. Tôi chưa từng thấy bọn chúng nên đến đó để... – Alan ngừng nói đột ngột, rồi tiếp. - Anh có thật sự muốn làm cho hai cô gái con ông ta thay đổi lời khai không?
- Tôi thử đến đó xem sao. Anh về nhà ư, Alan?
- Tôi đi với anh.
Lúc Alan đến trước Tang nghi quán Phương Nam thì hai cảnh sát ngồi xe tuần tiễu cũng vừa đến, đang sắp đuổi đám đông khỏi lề đường.
Alan thấy khoảng năm chục nam nữ trẻ tuổi ngồi đó, không ai thèm để ý đến lệnh của cảnh sát.
Trong bọn, chỉ có một tên đứng, một gã trai gầy có nét mặt làm cho Alan nhớ đến bức tranh vẽ lại tổ tiên chàng lúc mới đặt chân lên bờ biển Vermont. Nét mặt gân guốc, rắn rỏi, bướng bỉnh. Hai cảnh sát Palumbo và Kock đang cố gắng tỏ ra kiên nhẫn, Alan có thể thấy điều đó, Cái ý nghĩ phải đẩy bọn con nít này ra khỏi lề đường đang làm cho họ bực bội.
Palumbo nói bằng một giọng năn nỉ:
- Thôi, thôi, về đi, ông bạn. Trời nắng quá mà.
Ông ta đang nói với Michael. Gã đáp lại bằng câu:
- Không ai nhúc nhích hết.
Gã quay lại và đụng ngay Alan đang đứng ngay sau, lắng nghe. Michael nhìn Alan cùng bộ quân phục của chàng và nhận ra đây cũng là một kẻ thù bèn ngồi xuống. Cảnh sát viên Palumbo phân bua với Alan:
- Ông thấy không, bọn chúng đang bắt buộc tôi gọi xe chống biểu tình tới.
- Chúng làm hại đến ai vậy? - Alan hỏi to.
Gavin vừa tới, đi thẳng đến người cảnh sát mang cấp hiệu cao hơn:
- Chúng muốn gì vậy, Bill?
Palumbo chào:
- Ông McAndrews. Đừng hỏi tôi chúng nó muốn gì. Ê, ông bạn tóc dài, các ông muốn gì vậy?
Michael, lúc này đang xếp bằng trong tư thái nhập định, không thèm đáp. Cảnh sát Kock chỉ vào tòa nhà:
- Theo lời ông chủ Tang nghi quán thì chúng muốn mang đi xác chết của người bạn chúng, tên bị một binh sĩ không quân bắn đó.
Giọng Palumbo, theo Alan, thì cố tỏ ra trịnh trọng:
- Dĩ nhiên người mẹ muốn chôn cất con trai. Này, ông bạn tóc dài, anh có cho người mẹ hắn có cái quyền thiêng liêng là chôn cất con trai mình không?
Michael không đáp. Tên mập Freddie không cử động. Cả bọn không ai nhúc nhích.
Rosalie và Juana thì nằm dài trên lề đường, tưởng như đâu đó là thảm cỏ xanh. Rosalie nằm ngửa, Juana nằm sấp, đầu nàng gối lên bụng cô bạn.
Juana đang nói với Rosalie là nàng ân hận vì chuyện xảy ra giữa nàng và Michael. Rosalie nói:
- Đừng quan tâm đến chuyện đó, bởi vì tao chẳng coi nó là quan trọng.
- Rosalie, tao thương mày.
- Bây giờ, tao thấy nhẹ nhõm. Tao muốn nói là mày thử nhìn coi, bụng tao bắt đầu lớn. Mày giúp tao đi đến quyết định. Tao sắp chuồn đi nơi khác.
- Sao?
- Thì tách riêng.
- Đi đâu?
- Seattle, gia đình tao sống ở đó. Tao sẽ lấy chồng. Sinh con trước, bây giờ không thể phá thai được rồi, dù muốn, bởi đó là con của Vinnie.
- Mày sẽ nói đứa nhỏ con của ai, khi có người hỏi?
- Tao nói cha nó tử trận.
Lúc đó, cảnh sát Palumbo quyết định hành động vì tưởng được Alan khích lệ. Ông ta luồn tay xuống nách Michael và lôi gã ra xe cảnh sát.
Freddie nhào tới gỡ tay ông ta khỏi thân thể bạn nó. Kock bèn dùng dùi cui nện lên đầu lên lưng nó.
Không còn bị Freddie cản trở, Palumbo lại vực Michael lên. Gã vặn mình, quẩy chân, cố vùng thoát. Palumbo rút dùi cui ra.
Đó là lúc mà Alan phải sửng sốt vì hành động của chàng, lôi Palumbo ra và nghe giọng nói ra lệnh của cha thoát khỏi miệng chàng:
- Này, làm gì vậy? Dừng lại! Tôi bảo dừng lại.
Những tiếng nói chưa thốt ra hết thì Palumbo tưởng bị tấn công từ phía sau bèn quay lại và nện dùi cui xuống vai, xuống cổ Alan, rồi cố gắng ngừng đà chiếc dùi cui lại khi nhận ra kẻ mà ông nhầm. Nhưng dùi cui đã giáng xuống.
Lần đầu tiên Alan nghĩ chàng đứng sai phe.
Nhưng đó là sự kiện có thật, đã diễn ra. Một cảnh sát đánh một sĩ quan không quân, bằng dùi cui. Mọi người đều thấy. Mọi người đều khựng lại.
Cả hai phía, đều có một giây phút lưỡng lự.
Lúc đó, Irene và Hal xuất hiện, đi qua đám đông đến cổng nhà xác. Irene trình diễn điệu bộ quí phái nhất bà có thể:
- Xin lỗi, làm ơn cho phép tôi, xin lỗi.
Nàng không có vẻ gì sợ hãi cả. Nàng đã từng thấy nhiều ẩu đả dữ dội hơn thế.
Cảnh sát trở lại xe tuần tiễu và gọi viện binh.
Gavin hỏi gã trai gần nhất:
- Cô nào là Juana?
Freddie nói:
- Ông không nói chuyện với nó được.
- Tại sao không?
- Bởi hắn không cho ông nói. – Freddie chỉ Michael.
Gavin quay sang Alan. “Cô nào là Juana vậy?’
Alan chạy về phía xe tuần tiễu của cảnh sát.
- Đừng làm căng. Để tôi nói với họ nên giải tán.
Không thèm để ý đến chàng khùng, Palumbo nói với Kock:
- Coi đó, chúng gây hỗn loạn, rồi la hoảng là cảnh sát hung bạo.
Kock đang lắc chiếc răng chắc sẽ “ra đi” vì cú đấm của Freddie. Alan nói:
- Đừng vu khống. Chính các anh gây sự trước.
Palumbo đóng ập cửa xe lại.
Alan quyết định nhờ Gavin giúp đỡ. Song chàng thấy Gavin lúng túng, thậm chí e sợ khi Michael nói:
- Làm sao có thể biện hộ cho tên đó được. Lương tâm ông để đâu?
Rồi Michael bỏ đi. Alan chỉ vào xe cảnh sát:
- Anh nên ngăn họ xin Vệ binh Quốc gia đến dẹp.
Chàng quay sang Michael. Gã trai hỏi:
- Ông là ai?
Tôi cũng là một luật sư. Không quân.
- Ông bênh vực cho cha nàng?
- Phải.
- Ai sẽ là luật sư của chúng tôi?
- Công tố viên Tòa án Quận, ông ta tên là Walker.
- Ông ta ở đâu?
- Trong trụ sỏ tòa án quận. Giữa phố.
Michael gật đầu, vẻ trầm ngâm. Alan thấy cần tôn trọng giây phút suy tư của gã. Song trước khi chàng có thể làm cho gã chú ý đến thì Michael đã bỏ đi.
Đám thanh niên xúm lại quanh Michael.
Gavin nói chuyện với cảnh sát, quay lưng về phía Alan. Chợt nhìn thấy ánh mắt khác lạ của Palumbo, bèn quay nhìn.
Gavin đã từng săn chim, nghĩ: gặp đàn ngỗng trời rồi, trước khi mình kịp để ý đến thì chúng đã biến mất.
Cả bọn đang tản vội đi. Palumbo hỏi Alan:
- Làm cách nào anh giải tán được chúng vậy?
- Tôi chẳng làm gì cả.
- Xin lỗi ông, chỉ là tôi lỡ tay. - Palumbo nói.
- Rất khoái để ông thử gậy.
Alan bước lên chiếc xe Karmann-Ghia của chàng, cùng lúc chiếc xe dẹp biểu tình hụ còi, chạy tới.
♣ ♣ ♣
6
Irene lạnh lùng đi qua đám trai gái nhưng khi vào trong, vừa nhìn thấy xác Vinnie bà liền mất hết cái vẻ tự chủ, đi vội về phía phòng vệ sinh. Hal nói:
- Hãy đưa anh chai rượu nhỏ của em.
- Mặc xác em.
Hal cười lớn, và Irene đi khuất vào trong. Izzy nói:
- Anh có cô nhân tình trông rất được.
- Đầu óc nó sắp loạn lên rồi.
- Nếu không thế thì không còn là người. Xem ra bà ta thành thật lắm đó.
- Nói về thành thật thì có.
- Còn lại, vấn đề của bà ta như thế nào?
Hal nói cho ông ta biết, và vào lúc Irene bước ra khỏi phòng vệ sinh, đã được tiếp sức nhờ rượu mạnh, thì Izzy đưa ra một đề nghị, và Hal khoái đề nghị đó,
Cả ba lui vào văn phòng. Izzy nói với Irene.
- Ông Hal đã cho tôi biết hết. Vấn đề của bà tuy bất thường, nhưng không đến nỗi như bà tưởng. Bọn trẻ kia xem chừng xúc động mạnh, vì con trai bà là một anh hùng đối với chúng nó và vì vậy bà nên tôn trọng...
- Này, ông già Tên Gì Đó... - Irene nổi chứng liền.
Hal kịp chặn đứng nàng lại:
- Irene, im đi. Đừng nói một tiếng nào nữa. Ông Bulgaros đã có lòng tốt đưa ra một đề nghị...
- Vâng, vâng, xin thứ lỗi cho. Tôi muốn nghe đề nghị của ông. - Irene run rẩy.
- Ở đây, - Izzy nói, - tôi có những máy móc do nhà xác cũ để lại, còn chạy khá tốt. Đây giờ tôi thấy nên hoãn đám tang lại, thưa bà, để cơn xúc động qua đi đã. Bọn trẻ kia, với lòng chân thành của chúng, sẽ phải tin rằng đám ma đã diễn ra mà chúng không hay biết. Hoặc chúng cũng có thể nghĩ xác đã được hỏa thiêu. Tôi có những phòng ướp xác, và như thế bà có thể chờ đợi, rồi chọn thời điểm thích hợp để cử hành tang lễ cho cháu, trong khi nó vẫn được yên tĩnh tại đây. – Irene đưa mắt nhìn Hal, lúng túng. Izzy nói thêm. – Trong tình trạng hoàn toàn bảo đảm.
Hal nói một cách tin tưởng:
- Anh cho đó là giải pháp hay nhất.
- Nó có thể nằm vậy bao lâu...?
- Vô thời hạn. Hàng tháng.
- Cho phép tôi nghĩ về điều đó một lúc. - Irene nói.
- Trong lúc chờ đợi, tôi xin phép mời bà dùng gì đó.
Nụ cười của Izzy làm cho người ta tin cậy.
Và một việc được thu xếp vậy đó. Trong lúc chờ đợi.
♣ ♣ ♣
Cy Walker bảo Donna nói với chúng là được, ông sẽ gặp chúng, hơn thế nữa, ông từng muốn nói chuyện với chúng, nhưng chúng chỉ nên cử một số đại diện giới hạn vào phòng họp thôi. Hơn ba chục, cả trai lẫn gái, đã chân đất đi vào trụ sở tòa án quận, đi tới văn phòng của Cy, và còn nhiều đứa đang vào theo. Cy không thể ngồi chung với nửa trăm tên híppi được. “Nói với chúng là sáu người thôi, chỉ sáu người.”
Cả bọn tụ tập ở một góc trong phòng đợi, phía cửa đã được mở rộng, và ngoài hành lang. Những đứa đứng gần cố lắng nghe Michael nói gì với Donna. Rồi Michael gật đầu, chọn sáu đứa, bảo những đứa còn lại ra ngoài chờ, dưới những cửa vòm, gần vòi phun nước.
Freddie không hài lòng. Khuynh hướng bạo động mà cuộc gặp gỡ với cảnh sát đã thức dậy nơi hắn vẫn chưa được giải tỏa. Hắn kéo Michael sang bên:
- Tao không vào trong đó đâu. Tao quyết định rồi. Tao không thể chờ đợi cái trò cứt đó!
- Tao chưa có quyết định. - Michael nói.
- Nếu vậy, tách.
- Được.
- Bởi vì, như vậy coi như chẳng có gì.
- Mày sẽ làm gì?
- Chúng đang dàn cảnh để lão chó đẻ đó thoát tội, và chúng dựng cái trò xét xử này lên, nhưng tất cả rồi sẽ chẳng đi đến đâu hết, vì vậy tao sẽ tự lo lấy.
- Tao không muốn mày tự lo lấy.
- Đ. mẹ mày!
- Tao nói là tao không muốn mày tự lo lấy, Freddie.
- Bởi vì mày đã xơi con gái nó phải không?
- Freddie, thôi, tách!
- Nếu không thì tại sao? Michael, hôm qua, tao thử đến gặp mẹ thằng Jeff, trong tưởng tượng của tao thôi, mày hiếu không, tao đến nhà và tao không vào được, bởi vì tao không biết nói sao với bà ta?
- Freddie, mày nghe đây. – Michael nói. - Tao muốn mày chờ vài tuần lễ. Tao cũng không khoái gì mấy bọn luật pháp này, nhưng tao muốn cho chúng một cơ hội. Nếu chúng ta nhận ra vụ án này chỉ là một trò hề, thì mày biết, Vinnie là bạn thân nhất của tao, chính tao sẽ làm việc đó với lão Flores, không phải ban đêm, không phải trong bóng tối, mà sẽ đi thẳng tới nó, giữa phiên tòa, nơi chúng diễn vở tuồng công lý, để nói với chánh án việc tao sẽ làm và tại sao tao làm, rồi tao sẽ bắn nó, ngay tại đó. Tao thề với mày đấy, được chưa, Freddie?
Donna nói lớn:
- Ông Walker chờ các anh.
- Được chưa, Freddie?
- Tao chưa nói là được.
Michael đành bỏ đi, theo Donna dẫn lối.
Ý nghĩ đầu tiên của Cy lúc nhìn chúng đi vào là: bồi thẩm đoàn sẽ nghĩ gì khi thấy đám tóc dài này? Donna thì nghĩ đến việc khử trùng lại văn phòng.
Điều làm cho Cy ngạc nhiên là sự thận trọng, và lời lẽ khiêm nhường của tên cầm đầu. Đồng bọn của gã, đứa ngồi ghế, đứa ngồi bệt xuống thảm, chờ đợi. Cy nói.
- Tôi rất vui khi gặp các anh. Tôi là Cyrus Walker, Cy Walker, và tôi là công tố viên tòa án quận, có nhiệm vụ truy tố những hành vi xâm phạm đến dân chúng trong quận, và nhiệm vụ của tôi là đem hết nỗ lực để công lý được tôn trọng.
Michael hỏi đột ngột:
- Viễn tưởng thế nào?
- Viễn tưởng gì?
- Công lý được thực thi.
- Tôi nghĩ, tôi thực tình nghĩ, đây là một vụ sáng tỏ và đơn giản.
- Nghĩa là?
- Không có cách gì chúng ta – tôi và cả các anh, có thể thua trong vụ này.
- Ông tin vậy à?
- Tôi thực tình tin những gì tôi nói, thưa anh...
- Ông cứ gọi tôi là Michael.
- Cám ơn. Tôi hy vọng chúng ta chỉ gọi nhau bằng tên bởi vì chúng ta sẽ còn làm việc chung với nhau khá lâu, và bất cứ lúc nào... – Cy chợt ngừng. Ông đang sắp sửa mời chúng đến gặp ông bất cứ lúc nào chúng nó có một ý kiến gì muốn nói với ông ư. Trời đất! – Bất cứ lúc nào tôi cần, tôi muốn biết chỗ tìm anh mau nhất.
Michael nói:
- Giả sử chúng tôi muốn đến ông?
- Cứ gọi cho Lynn, rồi cô ta sẽ chuyển tới tôi, dù tôi ở bất kỳ đâu. Vì công việc, tôi đi đây đó hơi nhiều. Nhưng anh hãy nói chuyện với cô ta. Tôi sẽ gọi cô ta vào, ngay bây giờ.
Ông bấm chuông, và Donna xuất hiện.
- Đây là Donna Lynn, thư ký của tôi. Tôi định hỏi vài câu, các anh có thì giờ không?
- Chúng tôi không có nơi nào để đến cả.
- Vậy là chúng ta thông cảm nhau rồi. Tôi muốn các anh biết tôi không thuộc thành phần bảo thủ của vùng sa mạc này. Ở đây, họ còn nhiều tập tục lạc hậu. Chẳng hạn... gì vậy?
- Có được phép hút thuốc không? – Freddie hỏi.
- Được. Các anh hút thử thuốc này của tôi không?
- Không. Cám ơn.
Freddie rút từ chiếc túi xách nhỏ của hắn ra gói thuốc vụn và nhét vào chiếc tẩu, châm lửa, rít vài hơi, rồi chuyền cho từng người.
Cy nhìn đồng hồ. Chiều đang xuống. Đây là cuộc hội họp cuối cùng trong ngày, và căn phòng sẽ được thoáng khí vào sáng mai. Ông nói:
- Donna, khóa điện thoại lại, và khóa cửa luôn. Chúng ta sẽ nói chuyện với nhau thật cởi mở, nói tất cả, nói hết. Mà này, mặc dù nhiều người trong anh em là nhân chứng, nhưng không ai lập biên bản lời khai của anh em cả, đúng không?
Im lặng. Cy thấy cần phải chủ động hơn, cũng không hiểu tại sao ông lại thấy cần như vậy.
- Tại sao lại không vậy? - Michael hỏi.
- Tôi nghĩ thật phi lý và chắc chắn tôi sẽ nêu điểm đó ra trước tòa.
- Ông nghĩ đây là một trò ngụy tạo? - Freddie hỏi.
- Tôi không nghĩ thế. Điều đó không thể có trong xã hội chúng ta.
- Ông tin vậy sao? - Michael hỏi.
- Tôi tin. Cái quan niệm giao quyền xét xử bị cáo cho một bồi thẩm đoàn gồm những người ngang hàng với hắn ta đã loại bỏ sự giật dây, chi phối.
- Ngang hàng? - Freddie hỏi.
- Những người bình đẳng, giống như hắn ta.
- Cá mè một lứa. - Michael lẩm bẩm.
- Tôi chọn bồi thẩm đoàn của tôi rất cẩn thận. Donna, ngồi xuống đi. Khóa cửa rồi à?
- Thưa ông, vâng.
- Bây giờ chúng ta sẽ cố làm sáng tỏ mọi khía cạnh.
- Ai chọn những người ngang hàng? - Michael hỏi.
- Việc chọn lựa diễn ra theo một phương thức, với sự đồng ý của ba phía – quan tòa, luật sư biện hộ, và tôi, cùng dựa trên một danh sách mà chúng ta chọn lựa.
- Danh sách đó từ đâu ra?
- Rút từ danh sách cử tri.
- Và mọi người đều có tên trong danh sách đó?
- Không. Không phải là mọi người.
- Vậy những loại người nào có tên?
- Đủ hạng người, chủ tiệm, thợ thuyền, các bà nội trợ... À, tôi hiểu rồi, các anh nghĩ đúng, quả thật đây là một vấn đề. Danh sách đó phần lớn giới hạn vào giai cấp trung lưu, và ít ra trong thị xã này, thì phần lớn gồm những người có tư tưởng cứng nhắc về lẽ phải trái. Họ có thành kiến, và điều này thì tôi chẳng hài lòng tí nào, và cũng chẳng do tôi, nhưng bồi thẩm đoàn là như thế đó, và chúng ta sẽ thuyết phục họ. Vì vậy tôi mong các anh em nên mang giầy khi ra tòa. Tôi nghĩ một số các cô có thể xinh đẹp – ý tôi muốn nói là các cô khá xinh đẹp – nhưng khi tôi gọi các cô ra trước tòa để làm chứng, đặc biệt... cô Juana có đây không?
- Michael chỉ vào Juana. Cy nói:
- Tôi rất vui mừng gặp cô.
Juana gật đầu. Michael nói:
- Tôi có thể ngồi cùng khi ông chọn lựa họ không?
- Ai?
- Các bồi thẩm.
- Anh muốn à?
- Phải. Tôi muốn.
- Ờ... Tôi sợ việc đó kéo dài khá lâu và chán lắm, còn riêng văn phòng của tôi, thì sẵn sàng mời anh.
♣ ♣ ♣
Vậy là Cy Walker có một thân chủ trú ngụ luôn ở văn phòng ông. Và bên ngoài, quanh tòa án, bạn hữu Michael cắm trại mỗi ngày. Bãi cỏ đành chịu hành hạ.
Lúc nào Cy bận việc thì Michael ngồi im lặng ở phòng ngoài, bàn tay quá khô của gã khoanh lại trước ngực, mắt không nhìn vào nơi nào. Thỉnh thoảng gã đọc nhũng tờ báo lưu cữu ở văn phòng. Tạp chí ưa thích nhất của gã là tờ Forbes, Donna nhận xét. Cha gã, gã giải thích, hoạt động thương trường. Gã mỉm cười, coi nàng đồng lõa trong câu châm biếm đó, và thêm, “Ông cũng thuộc hạng giàu có.”
Donna, mặc dù không làm cho gã nói chuyện nhiều hơn, vẫn thấy thích gã. Nàng nói với người bạn gái chung phòng, “Nụ cười của nó làm mình muốn khóc.”
Cô bạn kia nói. “Chắc hắn làm cái gì đó. Mày đừng liên lụy với hắn.”
Không ngày nào Michael không xin gặp Cy với một đề nghị, hay báo cáo. Gã bảo Flores không phải là một quân nhân chuyên nghiệp luôn tự chủ như bề ngoài của lão, qua sự mô tả của Juana về những cơn giận dữ của lão ở nhà, cho gã xem vết sẹo trên lưng do Flores dùng cây sắt đánh hồi nàng mười lăm tuổi. Michael nói:
- Không chừng ông có thể nghĩ ra cách gì chọc tức hắn, làm hắn nổi điên trước tòa.
- Anh xem TV nhiều quá. – Cy đáp.
Cũng chính Michael báo Cy biết Gavin McAndrews đến gặp Juana. Chi tiết đó làm ông chú ý.
Chuyện là thế này. Sau khi Rosalie bỏ đi, Juana ở lại với Michael nhiều ngày. Nhưng nàng có vẻ buồn bã, và Michael không ngạc nhiên khi nàng bảo sẽ về nhà với mẹ và các em. Nàng bảo mẹ không còn tỉnh táo nữa, và nhà không còn ai trông nom các em.
Nhưng điều Michael không biết chính là Gavin đã đem đến cho Juana cái tin mẹ nàng không còn tỉnh táo, một mô tả hơi quá. Và cũng chính Gavin đã thuyết phục rằng bổn phận của Juana là phải về nhà.
Gavin, kẻ được cưng nhất trong các hội đoàn phụ nữ trong những năm đại học, biết rõ hiệu lực của sự kiên nhẫn đối với đàn bà, kiên nhẫn và hiện diện cụ thể. Chàng quyết định đến thăm Juana mỗi ngày.
Juana nhiều lần ra khỏi căn cứ sau bữa ăn chiều để đến ngôi nhà ở đường Nữ Vương và ngủ lại, song không vì sự nhớ nhung lưu luyến gì mà chỉ vì đói thuốc. Vinnie chết, mọi sức hút với Juana cũng chết theo.
Một đêm, bị thuốc hành hạ dữ dội, nàng khóc lóc và tự cãi vã với mình. Đó cũng là đêm nàng cho Michael biết là Gavin vẫn vào căn cứ gặp nàng, mỗi ngày.
- Hắn nói gì với em?
- Anh không có gì phải ghen cả.
- Anh không ghen.
- Sao không? Hắn cũng bảnh đấy chứ?
- Tôi muốn cô cho tôi biết hắn nói gì với cô, hắn… Juana nghe này. Hắn...
- Anh không muốn biết là hắn... ngủ với em sao?
- Không, anh chỉ muốn biết...
- Sao không? Tại sao anh không thích biết? – Nàng lại khóc lóc. - Vinnie, anh ơi, anh tốt với em quá. Chẳng ai để ý gì đến em cả, Michael, tại sao anh không làm tình với em?
- Anh thích làm tình với em lắm chứ?
- Anh nói dối. Vinnie đâu thèm để ý đến chuyện đó. Vinnie còn bảo muốn anh làm tình với em đấy.
- Juana, im đi.
- Thứ thuốc anh cho em rất tệ. Vinnie chẳng bao giờ cho em thuốc nào tồi tệ như vậy.
- Nàng nhảy khỏi giường và mặc quần áo vào.
Gã nhìn theo nàng đi bằng những bước dài, đầu hơi ngả ra sau.
- Tôi nghe nó kể vậy đấy. – Gã nói với Cy.
- Gavin đã đánh trúng phóc, phải không?
- Trúng cái gì?
- Nhược điểm.
- Của ai?
- Của hắn. Và hy vọng sẽ biến thành của chúng ta.
- Tôi không hiểu ý ông.
- Đêm xảy ra án mạng, cả Juana và lẫn Elizabeth đều đã cung khai với cảnh sát. Hai biên bản được ký đó là lợi khí của chúng ta. Thằng khốn nạn Gavin tính…
- Hắn có thể làm cho nó thay đổi lời khai không?
- Có thể lắm.
- Bồi thẩm đoàn có biết hai cô gái nói láo không? Họ có biết ai là người dụ dỗ chúng không?
- Tôi nghĩ vậy. Có thể...
- Nhưng ông không chắc lắm, phải không?
- Tất cả nằm trong đó, giấy trắng mực đen, với chữ ký của chúng nó và chữ ký của viên cảnh sát lấy cung. Như vậy... dĩ nhiên là tôi chắc.
Sự thật là Michael bắt đầu làm Cy xấu hổ, bởi ông không dám chắc mình thực sự muốn thắng vụ án này. Ngược với ý muốn, ông đã đón tiếp niềm nở gã trai, nói chuyện với gã một cách thẳng thắn, có lúc còn để gã nghe ông cầu nhầu về những rắc rối gặp phải, tức là để hắn có dịp nhìn thấy những yếu điểm của ông. Cy bảo Donna pha thêm cà phê cho gã trai lúc nàng mang cà phê cho ông, và khi nàng ra ngoài mua bánh mì kẹp thịt cho ông, Cy nhắc mua thêm cho gã. Ông nói nhỏ với nàng, “Trông hắn như kẻ sống bằng nước lã. Giúp hắn mập thêm đôi chút, với khoản chi phí bần tiện đó.”
Sau mỗi ngày làm việc, Michael và Cy lại bàn luận về vụ án. Gã trai muốn biết mọi khía cạnh của vụ án, nhìn từ cả bên trong lẫn bên ngoài, các nghi thức của tòa án và những căn bản lý thuyết của hệ thống pháp lý, sức mạnh và những lạm dụng... Michael đặc biệt quan tâm đến hệ thông bồi thẩm đoàn, và Cy trao cho gã cuốn sách để gã mang về nhà đọc suốt đêm, đọc xong vào trưa hôm sau, rồi chạy ngay đến văn phòng của Cy, cầm cuốn sách, trong đó gã đã luồn những mảnh giấy đánh dấu những đoạn gã muốn hỏi. Trên mảnh giấy, gã viết bằng nét chữ nhỏ, rắn rỏi, Bồi thẩm là quan tòa.
- Một bồi thẩm đoàn gồm những người bình đẳng, lại cái tiếng đó nữa, trong sách nói là phải bình đẳng với hắn. Bình đẳng. Ngang hàng. – Michael nói.
- Phải. Phải như vậy. – Cy thì biết quá rõ bồi thẩm đoàn sẽ như thế nào.
- Bình đẳng với ai? – Gã trai hỏi.
- Dĩ nhiên là với bị cáo.
- Ông muốn nói những tên thợ máy, bà nội trợ, những người gốc Mehico, và... Không quân?
- Ờ, đã có lần chúng ta có một bồi thẩm Mehico.
Cy không nhớ nổi đã lần nào có một bồi thẩm người Mehico. Michael hỏi thêm:
- Họ lập danh sách từ đâu ra?
Cy mô tả cái vòng cầu khổng lồ bằng sắt trong tòa án, nguyên là nồi nấu nước sôi, để trong phòng khóa kín của tòa nhà trụ sở tòa án, và trong vòng cầu đó chứa tên tất cả cử tri trong thị xã.
- Ai chọn?
Cy giải thích từng điểm một, các cách thức chọn lựa, đôi khi mất cả tháng, trước khi mười hai bồi thẩm và hai dự khuyết được chọn xong, được sự chấp thuận của Chánh án Breen và luật sư hai bên, dựa trên sự vô tư của họ. Ông còn nói là Gavin và ông, mỗi người có quyền phủ quyết tám lần mà không cần nêu lý do.
Rồi Cy chợt ngưng khi thấy Michael không nghe.
Gã chăm chú nhìn ông. Nếu có lần nào Cy cảm thấy bị xét đoán, thì chính là lúc này.
Ông sợ hãi gã con trai chỉ nặng trên năm mươi ký lô này sao, và ông nghĩ gì đây? Ông hỏi, sự bực bội với chính mình được đổ cho gã trai.
- Chuyện gì vậy?
- Không có gì cả. Tôi thích xem cách thức chọn lựa bồi thẩm đoàn. Được không?
- Để xem. Bằng cách nào đó. Có thể. Tôi sẽ cố gắng.
- Ông nói dối. Quá dễ! Ối kẻ qua đường vẫn vào xem.
- Tôi sẽ cố gắng. Ít ra anh có thể vào vài buổi.
Tại sao gã này có thể tin ông nhỉ?
♣ ♣ ♣
Vậy là Michael ngồi ở ghế cuối trong phòng xử suốt thời gian chọn lựa bồi thẩm, riêng biệt, lơ đãng, lịch sự trong chiếc quần nhung mềm, sơ mi trắng cũ, chân mang xăngđan. Tay áo sơ mi dài được xắn lên.
Michael là kẻ đến trước nhất, mỗi buổi sáng. Và ra về muộn nhất, sau khi Chánh án Breen lách mình qua cánh cửa đẩy vào văn phòng ông. Những người khác thì thu xếp giấy tờ nhét vào cặp. Lúc đó, Michael đứng lên, và với vẻ mệt mỏi hình như là cố ý, chậm rãi bước qua phòng xử, để lại phía sau một hồi xì xào bực dọc.
Sự thật là tất cả thành viên của tòa án đều thấy họ đang bị phán xét, và họ không ưa điều đó. Song họ che giấu sự thù nghịch và nghi kỵ bằng bộ mặt vui tươi và những câu đùa cợt cố ý. Họ tin Michael chẳng những có cái gì đó, mà còn nghĩ gã sâu độc, và nguy hiểm nữa. Có người bảo nên lục xét người gã. Đề nghị đó kỳ cục quá nên không ai nói thẳng ra, nhưng ai nấy đểu hỏi gã làm cái quái gì mà ngày nào cũng ngồi đúng chỗ ấy vậy?
Một buổi sáng, Gavin đi về phía gã và hỏi, “Anh nghĩ thế nào về tất cả những việc này?” Chàng chỉ nhận được một cái gật đầu quái đản, có thể đủ mọi thứ ý nghĩa, nhưng không được câu trả lời nào. Gavin đành đứng trơ ra đó, rồi phải viện cớ bỏ đi, thâm tâm tức tối.
Đây là lúc Alan bắt đầu quan tâm đến bên ngoài.
Alan không liên quan gì đến việc chọn lựa bồi thẩm đoàn. Gavin toàn quyền lo vụ đó, không hỏi gì chàng, mặc dù ngày ngày vẫn ngồi cạnh nhau. Vì vậy, chàng rảnh rang theo đuổi cuộc điều tra riêng của mình.
Chàng ngồi gần Michael. Mỗi sáng, chàng chào gã, và mỗi buổi chiều, mỉm cười tạm biệt, không tỏ thái độ gì khi không được Michael đáp ứng. Alan làm quen với gã, như người ta làm quen với con chó, hay đứa trẻ, không trông đợi gì nhiều.
Cuối cùng, chàng nhận được phần thưởng. Michael bỗng hỏi. “Tại sao họ có vẻ thân mật vậy?” Michael chỉ những người trong phòng xử.
- Ờ, thì họ là bạn bè nhau cả.
Ngay lúc đó, chàng không hiểu ý Michael, chỉ vui mừng khi nghe những lời đầu tiên đó, và sau bữa trưa, chàng đến ngồi bên gã. Đêm đó, chàng mơ thấy mình nôn nóng gọi điện cho Michael. Sáng ra, chàng không nhớ mình muốn nói gì với gã.
Alan bắt đầu thấy những điều kẻ khác khó thấy. Đó là, mặc dù đôi mắt Michael có vẻ đờ đẫn, nhưng gã đang thu nhận toàn bộ những gì xảy ra, như một người đang hồi tưởng quá khứ, một cách tổng thể, không quan tâm đến chi tiết.
Nhiều người để ý tới việc Alan ngồi cạnh Michael và thấy Michael thỉnh thoảng lẩm bẩm với chàng. Cuối một ngày nọ, Gavin hỏi:
- Anh làm cái trò gì với tên đi hoang đó?
- Thực ra thì tôi cũng không biết.
- Ờ, vậy thì cố khám phá ra, rồi cho tôi biết với?
Alan hỏi Michael, “Uống cà phê không?” và nhận được một gật đầu trả lời, cái gật đầu mang ý nghĩa gì cũng được, hay chẳng có nghĩa gì cả, và chàng kiên nhẫn cho đến khi Michael đứng lên, theo chàng băng qua đường sang quán cà phê. Michael nhìn khắp quán, làm như gã chưa bao giờ bước vào một hàng quán nào, rồi ngồi xuống, lơ đãng. Alan nhanh chóng biết người khách bí mật của phòng xử tòa án không có tiền, và đói. Michael gọi bánh mặn, và trong khi chờ đợi, ăn hết đĩa bích qui nhạt trên bàn. Cuối cùng Alan hỏi.
- Anh nghĩ gì?
- Anh biện hộ cho Flores?
- Tôi được Không quân chỉ định.
- Anh làm tất cả những gì mà Không quân ra lệnh?
- Tôi nghĩ vậy.
Michael gật đầu vài lần, rồi im lặng. Sau đó nói:
- Luật sư có thường tin vào việc làm của họ không?
- Câu hỏi được lắm. Có đủ hạng luật sư.
- Anh thuộc hạng nào?
- Miễn cưỡng. Tôi trở thành một luật sư vì cha tôi muốn con trai ông là luật sư.
- Cha anh thuộc về hạng nào? Hạng tin tưởng?
- Mãnh liệt! Tôi cũng vậy, trong phạm vi luật sư.
Michael đã ăn xong phần bánh của hắn, Alan hỏi:
- Ăn thêm vài cái bánh mặn nhé?
- Được.
- Lần cuối anh ăn là lúc nào?
- Ờ, chắc không phải hôm qua. – Gã nhìn Alan. - Anh là kẻ duy nhất tôi gặp biết yêu cha.
- Ông là một tín đồ chân chính.
- Còn anh?
- Tôi? Cũng vậy.
- Anh tin gì?
- Trò hề đang diễn ra trong đó. - Alan nói.
- Anh giỡn sao?
- Không. Chúng ta chỉ được có thế. Những nguyên tắc lũ lượt sụp đổ, vì vậy chúng ta đành phải dựa vào sự phán đoán của những người trung bình.
- Anh tin vào... những điều anh đang nói?
- Phải. Cha tôi thường nói hệ thông bồi thẩm đoàn dựa trên một tiền đề phi lý, cho rằng, một người khùng là một người khùng, nhưng mười hai người khùng cộng lại sẽ thành khôn ngoan.
- Anh thật sự tin điều đó?
- Tôi tin...
Đột nhiên Michael cười lớn:
- Ha ha ha, tôi hiểu ra rồi. Cha anh tiếu lâm nặng.
- Tại sao anh cứ hỏi tôi có tin vào những gì tôi đã nói là tôi tin?
- Bởi vì vài hôm trước, một luật sư đồng nghiệp của anh đã đưa ra những điều đó với tôi, nhưng tôi nghĩ là anh nói thật.
- Phải. Anh đang thấy một tên trong bọn chúng.
- Bọn nào?
- Bọn bịp của chế độ.
Michael gật gù mấy lần. Alan kiên nhẫn:
- Tại sao anh cứ gật đầu kiểu đó vậy?
- Để thiên hạ không thấy được là tôi lắc đầu.
- Tôi mong được ăn trưa với anh mỗi ngày. Tôi khoái nói chuyện với anh.
- Anh nói thật?
- Tại sao tôi phải nói dối?
- Đó là điều tôi đang cố tìm hiểu. – Michael nói.
Hôm sau, họ lại ăn chung. Đến bữa trưa thứ ba thì Michael ngạc nhiên khi thấy mình có thể nói chuyện với Alan dễ dàng hơn bất cứ ai khác trước đây.
- Tôi phải luôn luôn nhắc nhở mình rằng anh đang đứng ở phe bên kia, trong vụ này, phe cãi tội cho bị cáo.
Alan làm gã ngạc nhiên thêm. “Tôi biết điều đó.”
Một điều kỳ lạ xảy ra. Ngồi cạnh gã, Alan bắt đầu nhìn hoạt cảnh trước mắt không phải như một người được hưởng đặc quyền, và chàng đang ở trong hàng ngũ những kẻ hưởng đặc quyền, mà chỉ như Michael, từ phía bên ngoài, nơi mà Alan chưa bao giờ có mặt.
Chàng đột nhiên hiểu ra cái nghĩa câu nói, Họ có vẻ thân mật. Nơi đây, thiên hạ đang đặt kế hoạch sát nhân chứ chẳng có việc gì khác, trong bầu không khí xã giao nhộn nhịp này. Chàng hỏi Michael:
- Anh muốn nói rằng tất cả bọn họ cùng một phe?
Michael nhìn mà không trả lời.
Họ đều hiểu, khi Cy Walker và Gavin McAndrews biểu diễn trò phản đối với mỗi chọn lựa, thì cả hai cùng sẽ không gặp khó khăn gì trong việc tuyển lựa mười hai nhân vật tin cậy, và rồi đó cũng là một bồi thẩm đoàn giống như bao phiên tòa trước.
Alan nhận xét, tòa án bây giờ chỉ như cuộc họp của những bạn đồng lớp, mới trở lại sau một mùa nghỉ hè tuyệt hảo, thích thú gặp lại nhau. Còn đối với vụ án, thì họ đã từng trải qua trước đây: và bây giờ họ cũng sẽ trải qua lần nữa, như một cơ hội để biểu dương tình thân hữu với nhau thôi.
Có những giờ, những phút, những giây trong đó, Alan có một cảm tưởng hết sức kỳ cục, một cảm tưởng – hay cảm giác – mà chàng không thể mô tả được, ngoại trừ biết nó giống như cái cảm giác của một kẻ đang rơi xuống, rơi xuống mãi. Cái cảm giác hoàn toàn mới mẻ đó, đôi lúc chàng cảm thấy có thể vớ được một lan can quen thuộc nào để dừng lại, để làm chậm đà rơi xuống, nhưng chàng không muốn dừng, không muốn chậm lại. Vì vậy, chàng cứ để nó rơi. Xuống tới đâu? Tách rời khỏi tất cả? Tự cô lập? Mất tin tưởng ở mọi người? Và ở chính chàng?
Michael cũng đang trong một đường rơi khác, còn nhanh hơn. Lắm lúc, trong lúc những mảnh da trên thân thể gã giá lạnh, những khi gã nghe luật sư hai bên chào hỏi nhau, trao đổi thuốc lá, chuyện phiếm, cà phê, đường, bánh, kẹo, thì gã nghĩ đến Vinnie, và thoáng nghe những lời bập bẹ của họ, Ông bạn! Bà chị! Thế nào? Nghe gì không? Ai vậy? Không phải ông ta chứ? Phải, chính ông ta! Không! Không thể được! Thế à? Vâng. Michael nghĩ đến thằng bạn bị giết của gã.
Gã nhớ lại những ngày chung sống trong lúc chứng kiến hoạt cảnh trong phòng xử, nhìn những mụ đàn bà biểu diễn mông, vú, chân, đùi... mà vẫn có vẻ đứng đắn, mắt liếc xem đàn ông có chú ý đến họ không, và nhìn những gã đàn ông vừa từ tiệm hớt tóc cạo mặt ra, mỗi người chăm chú quan sát mọi diễn biến để có thể ước lượng được hành vi tương lai của mình, trao đổi số điện thoại và địa chỉ, rồi nhìn những cặp bắt đầu kết lại với nhau, mặc mẹ chuyện gì xảy ra trong những ngày tới.
Nhìn những trò vào đề của một thứ làm tình đó, Michael nhớ lại cái quyết định của gã và Vinnie nửa giờ trước khi hắn bị bắn chết với vũ khí mà hiện nay đã thành món trưng bày số một. Michael nhớ đến Mehico.
Gã biết mình đang đi tối đâu – đi xuống, nhưng xuống đâu? Điên loạn? Có thể lắm. Vào một tâm lý hận thù không phân biệt? Dĩ nhiên. Và gã cũng để rơi xuống, không chống cưỡng, bởi thấy rằng sự lệch lạc mà gã đang sắp rơi vào còn gần sự thật hơn là cái thực tế đang bày ra quanh gã.
Gã đứng lên. Đây là khoảng ngừng nghỉ tự nhiên sau khi mỗi ứng viên bồi thẩm đoàn đã được đôi bên chấp thuận – ứng viên thứ năm vừa được chấp thuận – và gã chậm rãi bước ra khỏi phòng, đi vào hành lang, không nhìn lên, nhớ đến hôm gã giằng khẩu súng khỏi tay Vinnie. Và cứ thế, mắt nhìn xuống sàn nhà, gã chạm mặt Cy Walker đang nói chuyện với kẻ tử thù của ông ta, quay lưng về phía hành lang, trong dáng điệu vồ vập nhau mà không cần đụng chạm đến nhau, và trong những tiếng cười. Michael, kẻ bệnh hoạn, nhìn thấy cảnh đó.
Gã biết gã nhìn lệch lạc. Nhưng đáng lý họ không nên cười giỡn với nhau kiểu đó. Họ làm gì vậy? Bảo đảm với nhau về tình bằng hữu bền chặt? về cái may mắn chung? Trao đổi đánh cá? Âm mưu? Đồng lõa? Buôn bán?
Và gã thấy tim mình như bị ép nát ra. Gã quay đầu, lặng lẽ bỏ đi không ai biết. Sau lưng gã, tiếng cười của Gavin và Cy vẫn vang lên.
7
Michael đi bộ suốt đoạn đường hơn hai cây số về ngôi nhà đường Nữ Vương.
Vài hôm trước, một nhân vật thẩm quyền nào đó đã quyết định nên theo dõi ngôi nhà này. Buổi sáng, lúc ra khỏi nhà, Michael đi ngang qua chiếc xe chở hai người bận đồ đi làm, một thứ đồng phục thứ hai không đánh lừa được ai, dùng máy truyền tin hai chiều vẫn chưa phải là trang bị thông thường của Detroit. Lúc gã trở về, cũng chiếc xe đó, hay một chiếc xe nào giống hệt, đậu ở chỗ cũ với hai người, ăn bận giống như đồng nghiệp của họ lúc sáng, và cũng chung một nhiệm vụ, quan sát và báo cáo ai đến, đi, mang gì, gặp ai.
Michael và Freddie đã giấu khẩu súng của Vinnie dưới những tấm ván ở đáy tủ, nơi hắn đã giấu món tiết kiệm trọn đòi hắn – chiếc lọ thủy tinh đựng chất trắng. Cả hai gã cùng biết chỉ còn là vấn đề thời gian, cho đến khi những người ngồi trên chiếc xe đậu xế cửa kiếm ra lý do để lục soát căn nhà.
Những phiếu phạt đậu xe của Freddie đã cho họ lý do đó. Chiều hôm ấy, Freddie lái chiếc xe của Jeff đến, và một trong hai người bước lại quan sát đèn hậu mà Flores đã bắn bể, khuyên Freddie nên đi lắp đèn mới.
Tên bắn thuê của các người đã bắn bể nó. Tôi chờ hắn ra tù để lắp đền cho tôi. – Freddie nói.
- Làm ơn miễn cho cái trò môi mép đó.
Người cảnh sát cúi người vào trong xe, lượm lên một lô những giấy phạt đậu trái phép. Trong lúc ông ta đang đọc thì Freddie đi vào nhà. Một sai lầm tệ hại. Viên cảnh sát bước theo, thấy không cần phải chờ được mòi mọc hay giấy xét nhà. Ông ta gõ cửa, và khi không có ai trả lời, bèn đẩy cửa bước vào.
Trong phòng trước, đối diện với cửa vào, có chiếc bàn và trên bàn là một bộ phận gì đó của xe hơi được dùng làm gạt tàn thuốc. Nằm la liệt trên bàn còn có mười chín phiếu phạt đậu xe. Tôi đó, lúc Michael trở về, Freddie đã đi mất. Sandy, người duy nhất còn lại trong nhà cho gã biết gã đã bị tống giam.
Lúc Michael vào thăm thì hắn chào bạn một cách lơ là, đứng trong góc tối của phòng giam. Hắn nói chuyện khó khăn, môi sưng húp lên. Có ngươi nào đó, Michael chợt nhớ đến tên cảnh sát Knock gặp trước nhà Tang nghi quán Phương Nam, đã từng đe dọa sẽ tẩn cho Freddie một trận nên thân.
Freddie cười lớn, không phải vì căm phẫn, lúc này căm phẫn có vẻ không đúng chỗ, mà vì đã hết giận dữ, cho biết hắn cần ba trăm ba mươi sáu đô la.
Freddie khoái trong này, vì ở đây hắn có nhiều bạn hơn ở ngoài. Michael hỏi:
- Mày phải ở trong này bao lâu?
- Mười ngày. Chúng có thể viện cớ gì để giữ tao lại lâu hơn. Lúc ra ngoài, chắc chắn tao sẽ sẵn sàng.
Michael hiểu hắn muốn nói gì, gật đầu mấy lần. Rồi Freddie bước vào góc cũ của hắn, đi qua những người đập lộn và say rượu, những tên móc túi, những tên chiếu phim con heo.
Chiều hôm đó, trong lúc Juana ngồi ăn tối với các em nàng, bữa ăn do nàng nấu thì Gavin đến. Họ ngồi trước cửa, trong lúc các em nàng ăn. Lần đầu tiên, nàng cho phép Gavin đề cập đến án mạng. Trong những lần trước, họ nói toàn chuyện đâu đâu. Đây là lần đầu tiên chàng đi vào vấn để, và được tính toán đúng lúc.
- Dù muốn hay không, thì mạng sống của cha cô cũng nằm trong tay cô. – Cuối cùng, Gavin nói.
- Tôi không thèm quan tâm đến ông ta.
- Cô muốn ông ấy chết phải không?
Juana không trả lời. Các em nàng đã ăn xong và bước ra trước cổng. Gavin đứng lên:
- Vấn đề thực sự của vụ này chỉ có thế: cha cô bị xử tử hình hay không là tùy thuộc vào cô, vào các cô.
Chàng nhìn cả đám. Và mọi người nhìn Juana. Gavin vẫy tay tạm biệt. “Mai tôi sẽ lại đến.”
- Khỏi phiền thêm. - Juana trả lời.
Gavin bỗng quay lại:
- À, này, có biết bạn cô, Rosalie gì đó, hiện ở đâu không? Hình như nàng biến rồi.
- Ông hỏi nó làm gì?
Cảnh sát muốn biết cô ta ở đâu. Có một vụ tố cáo cô ta đánh cắp hàng của một hiệu buôn, hiệu Connally. Cô ta và vài cô bạn gái.
- Tôi không biết nó ở đâu cả. - Juana trả lời.
- Họ chụp được ảnh, nhờ một máy quay giấu kín, để làm bằng chứng. Nếu gặp, hay nghe nói cô ta ở đâu, thì nhắn hộ không chừng tôi có thể giúp cô ta.
Hôm sau, Gavin thấy Michael theo dõi mình, Dừng lại ở hàng ghế cuối, chàng nói với cả Michael và Alan:
- Hai người thỏa thuận được gì rồi? – Michael nhún vai. Gavin hỏi gã. - Anh đã theo dõi những gì xảy ra ở đây chứ?
- Tôi nghĩ là anh ta bắt đầu hiểu chuyện gì xảy ra ở đây. – Alan trả lời thay.
Mặc dù cái vẻ thân thiện của Gavin, Michael vẫn thấy nguy hiểm, hệt như Vinnie đã không được che chở, và đã lâm nguy khi đến căn cứ. Gã nhìn Alan:
- Tại sao anh không bận quân phục?
- Tôi không khoái quân phục.
Đó là một phần sự thực. Im lặng. Michael bắt đầu ngờ vực cả Alan nữa. Có thể Alan đã được chỉ định để tìm hiểu xem gã nghĩ gì, rồi đánh bẫy gã. Chắc chắn. Chẳng có gì do ngẫu nhiên, tình cờ được cả.
Gã rơi xuống, xuống mãi.
Cần phải đem khẩu súng ra khỏi ngôi nhà ở đường Nữ Vương, chôn giấu trong sa mạc, không, tốt nhất là trên vùng đất của khu dành riêng cho người da đỏ. Nhưng làm cách nào để đem qua mặt cảnh sát được? Chúng chỉ cần vớ được khẩu súng đó.
Và nếu đã biết những gì trong đầu óc gã, chúng sẽ buông rơi cái mặt nạ thân thiện, ngừng vũ điệu dụ dỗ trên mộ bạn gã, và sẽ nuốt sống gã ngay.
Thế là Michael khoác lên bộ mặt lạnh lùng không xúc cảm của người sống trong những khu biệt cư, bị xã hội ruồng bỏ, cái mặt nạ ý nói,“Các người không thể hại ta được. Vì thực ra ta không có mặt ở đây.” Cái mặt nạ che giấu ý định sát nhân trong lòng Michael.
♣ ♣ ♣
Đêm đó, Gavin không vào căn cứ. Nên có một ngày không đến, như thế sẽ làm cho Juana hốt hoảng thêm.
Chàng và Alan dẫn Don Wheeler đến nhà giam thăm Cesario. Gavin nói với sếp của mình:
- Thưa, tôi rất mong được biết ông nghĩ gì.
Cesario có vẻ bình tĩnh, bày tỏ quyết định chấm dứt mọi nỗ lực tranh đấu. Wheeler nói bằng giọng rắn rỏi, sắc gọn:
- Thượng sĩ Flores, tôi nghĩ ông quên mất một điều.
- Thưa ông, vâng. Chắc chắn tôi có quên điều gì đó.
- Flores, chúng ta hãy nói với nhau như hai công dân đi. Tôi không ở trong Không quân, tuy vậy tôi hiểu khá nhiều về nó. Điều anh quên, là nhiệm vụ của anh.
- Đối với Không quân?
- Rất đúng. Và đối với gia đình anh.
- Tôi nghĩ mình đã làm tròn những nhiệm vụ đó.
- Anh nhầm.
- Tôi nghĩ những gì còn lại thuộc phần ông. Tôi đã làm xong phần tôi.
- Khỏi ai cần nói với tôi rằng tôi phải làm gì. Tôi hiểu nhiệm vụ của tôi, nhưng anh không biết nhiệm vụ của anh. Thượng sĩ, tôi chán anh quá.
- Thưa ông, đúng vậy.
- Tôi có nói chuyện với sĩ quan chỉ huy trưởng của anh, đại tá Dowd, tối hôm qua. Chúng tôi đang thu xếp để anh xuất ngũ khỏi không quân.
Alan thấy chiếc mặt nạ của ông ta rơi từng mảnh.
- Tại sao lại như thế được, thưa ông?
- Vì quyền lợi của gia đình anh. Chắc anh chưa hiểu ra rằng, nếu anh bị kết án, và chắc chắn anh sẽ bị kết án, mà anh vẫn tiếp tục cái thái độ anh đang biểu diễn với tôi, thì hưu bổng của anh, và những quyền lợi do hai mươi năm phục vụ của anh, sẽ mất hết.
Cesario suy nghĩ.
- Gia đình anh sẽ không còn một xu. Một quân nhân thú nhận là đã giết người, và bị kết án vì tội giết người, phải bị sa thải vì bất xứng. Khi đó những quyền lợi hưu bổng của hắn bị mất hết. Anh muốn như vậy à?
Cesario suy nghĩ thêm một lúc, rồi nói:
- Tôi xin cám ơn ông đã cho tôi biết điều này. Thưa ông, vâng, tôi xin xuất ngũ.
Lúc họ ra xe, Wheeler nói:
- Một người rất tầm thường. Ý tôi là bình thường.
- Trí não hắn có vẻ không tỉnh táo lắm, – Gavin vỗ lên đầu, - Ông thấy vậy không?
- Chẳng điên khùng gì hơn bất cứ ai khác. Nhưng đó có thể là yếu tố thuận lợi cho anh. – Wheeler nói.
- Yếu tố thuận lợi cho tôi? Cách nào?
- Chúng đã đẩy ông ta đến tình trạng tạm thời mất sáng suốt.
- Tôi đang nghĩ đến chiều hướng bảo vệ gia đình, đại loại như vậy...
Wheeler chặn đứng chàng lại:
- Điều đó nằm sẵn trong mọi việc anh làm. Gavin, anh có biết là không gì dễ dàng sụp đổ bằng một đầu óc được tổ chức, huấn luyện quá chu đáo, đầy đủ. Trung Úy Kidd, ông có đồng ý vậy không? Một con người như vậy sẽ rất tuyệt hảo, nếu gặp một áp lực mà hắn đã được huấn luyện để đối phó, nhưng nếu đặt vào trường hợp chưa được chuẩn bị để đương đầu, hắn sẽ xẹp lại như trái bóng bị kim đâm thủng. Nếu anh có đứa con gái lớn, và bạn trai dụ dỗ nó nghiện, anh có nổi điên lên không? Như vậy, có phải chúng đẩy người ta đến chỗ điên loạn không?
- Không có trường hợp điên loạn nào trong dòng họ Flores cả. Tôi đã kiểm soát điều đó.
- Càng tốt. Như vậy tức là hắn đã bị hành hạ, thúc đấy thường xuyên, liên tục, trên phương diện tâm lý, và anh có thể mô tả trong phiên xử, để làm cho tất cả các bậc cha mẹ phải xúc động. Anh có đẩy vào bồi thẩm đoàn những người có con cái không?
- Tất cả đều có con.
- Tốt. Thử tưởng tượng mức độ hành hạ tâm lý cần phải có để đưa đẩy một người như thế đến chỗ loạn trí. Anh tính bàn qua với Dowd phải không.
- Thưa ông, vâng.
- Anh không cần nghe theo đề nghị nào của tôi, nếu anh không đồng ý. Đây là vụ án của anh. Và của ông nữa, trung úy.
- Thưa ông, vâng. – Gavin đáp.
- Một chuyện khác nữa. Anh không thể đưa lão Mehico đó ra tòa trong tình trạng hiện tại của hắn.
- Hiện tại hắn làm sao?
- Nhiều mỡ quá. Bụng phệ. Trông hắn như trương sình vì ngâm dưới nước lâu quá.
- Cảnh sát trưởng cho tôi biết là hắn ăn như hùm.
- Anh không thể đưa một tên to béo, nặng trên một trăm ký ra tòa, để so với thằng nhỏ nào hôm qua anh chỉ cho tôi thấy, gầy như que tăm.
- Nhưng tôi làm cách nào cấm hắn ăn được?
- Thì đừng đem đồ ăn cho hắn nữa. Bỏ đói thằng chó đẻ ít lâu.
- Ông Wheeler, nhưng...
- Điều cuối cùng, và nghe cho kỹ đây, đừng để cho Cy Walker lên tiếng buộc tội Flores. Anh phải truy tố bọn híppi ra tòa. Từng bước một, anh mô tả những gì mà bọn nghiện hút khốn nạn đó đã làm với một người lương thiện, đứng đắn như gã thượng sĩ này, một người có trách nhiệm, đứng đắn, lo cho gia đình, dâng hiến cả cuộc đời để bảo vệ quốc gia! Bọn khốn nạn kia cũng đang làm như vậy đối với tất cả những gia trưởng đứng đắn. Xã hội này dung dưỡng bọn hoang đàng quá lâu rồi, đồng ý không nào?
- Tất nhiên là tôi đồng ý. – Gavin nói.
Alan thì ngược lại, và thẳng thắn.
- Không, thưa ông, tôi không đồng ý.
- Ông nói sao?
- Tôi không đồng ý với phần lớn những gì ông nói ra ở đây, hôm nay.
Ông nhìn Alan, song không có chút dấu hiệu gì là giận dữ hay phiền lòng cả. Ông chỉ nói:
- Trung úy, tôi phải về. Bà Wheeler không khỏe.
- Tôi rất buồn nghe tin đó, thưa ông. – Alan nói.
8
Cuối tuần, người bồi thẩm thứ mười hai và hai dự khuyết được chọn xong. Buổi họp ngắn ngủi sáng thứ sáu dành để bồi thẩm đoàn tuyên thệ, rồi Chánh án Breen nói mấy câu mở đầu với những người được chọn.
- Quí vị và tôi là những quan tòa trong vụ án này. Tôi là quan tòa của pháp luật, còn quí vị là quan tòa của sự kiện. Nhưng chỉ có quí vị, chỉ mình quí vị có quyền quyết định sự đáng tin hay không trong những lời khai của nhân chứng. Và trong lúc phán đoán những lời khai đó, quí vị sẽ có dịp quan sát cung cách, thái độ, hình dáng, trình độ, kiến thức, quyền lợi hoặc động cơ mà họ có thể có, tính chất khả tin, hoặc bất khả tin của những lời khai của họ, lúc được đem ra so sánh với những bằng chứng khác của vụ án.
Ông Chánh án Breen kết luận bằng một vài câu ít long trọng hơn. Ông nói với bồi thẩm đoàn rằng họ là những người đặc biệt may mắn, nên mới được tham dự vào một vụ án có hai luật gia lỗi lạc tham gia, rồi giới thiệu Cy Walker và Gavin McAndrews, thêm vài lời ca tụng cả hai, và không quên giới thiệu Alan, tất nhiên.
Ông thấy vợ ngồi trong phòng xử, nhìn ông như nhìn người xa lạ. Sau đó ông gọi điện về nhà.
- Tôi đang được hân hạnh nói chuyện với ai đây?
- Tôi có đến xem màn ném đất.
- Nghĩa gì vậy?
- Nghĩa đen của câu nói tôi vừa nói, Teddy. Ném đất lên quan tài.
Ông vẫn còn suy nghĩ về điểm đó, khi bà nói. “Lát nữa gặp anh,” và gác máy.
♣ ♣ ♣
Alan nài nỉ để đưa Michael về tận nhà. “Muốn biết anh ở đâu. Một chút tò mò. Vậy thôi.”
Michael im lặng, và cảm thấy gã trai đang bối rối.
Chàng chỉ cho gã thấy vết bầm đen xanh trên cổ và vai:
- Đây là lần đầu tiên tôi bị. Tôi được dạy dỗ phải tin tưởng rằng cảnh sát là để bênh vực chúng ta.
- Họ bênh vực anh đó chứ. - Michael nói.
Những người qua đường quay lại nhìn cặp thanh niên kỳ lạ, một sĩ quan không quân đẹp trai và gã trai như từ thế giới nào khác lạc đến, đi bên nhau như bạn thân. Alan cố gắng gợi chuyện:
- Cuối tuần anh đi đầu?
- Có thể ra ngoài sa mạc. Ngày mai.
- Tại sao mai anh không dùng bữa trưa với tôi, một lần nữa.
- Không. Cám ơn.
Họ quẹo qua một góc đường. Michael dừng lại, nói:
- Chúng tôi ở giữa phố này.
Alan biết gã đuổi khéo, do dự hỏi:
- Chúng tôi. Những ai? - Không nghe Michael trả lời, chàng hỏi tiếp. - Những ai sống chung với anh?
- Có thấy chiếc xe đen kia không, hiệu Galaxie? Xe cảnh sát đó.
- Họ làm gì ở đây?
- Họ cũng sẽ theo dõi anh, nếu anh còn quanh quẩn bên tôi.
- Tại sao anh không tố cáo? - Alan có vẻ tức tối.
- Với ai? Tôi cũng chẳng để ý nữa. – Michael cười.
Rồi gã nhìn thẳng mắt Alan. “Chào anh.”
Tới trước ngôi nhà đường Nữ Vương, Michael dừng lại hỏi hai cảnh sát trên xe, hỏi:
- Hôm nay săn được con mồi nào không?
- Trớt lớt. Khỏe không?
- Khỏe. Có ai tìm tôi không?
- Chẳng ai cả.
- Tốt lắm,
Michael sắp bỏ đi. Một cảnh sát nói lớn.
- Ê, Michael tí quên. Sáng nay có người đến tìm, Nói có tin tức gì đó.
- Ai đó?
- Không biết. Trống các anh thì ai cũng giống ai cả.
- Tôi đã nói nhiều lần là phải hỏi tên rồi ghi lại.
- Lỡ quên. Để lần sau.
- Đừng để xảy ra lần tiếp sau nữa.
Trong nhà, dằn dưới bộ phận xe hơi dùng làm gạt tàn, Michael thấy một mảnh giấy.
Sáng nay, một đứa được Michael cắt gác bên ngoài Tang nghi quán Phương Nam có chuyện trò qua lại với một chuyên viên nhà xác, và ông ta có cho hắn biết là khỏi cần quan tâm đến nơi này nữa. Vinnie đã được hỏa thiêu hai hôm trước.
♣ ♣ ♣
Don Wheeler tổ chức bữa tiệc trưa nhỏ, được nối tiếp bằng một buổi chơi khúc côn cầu trên cỏ. Ông có ý định giới thiệu Gavin với một số giám đốc công ty bảo hiểm vốn là những thân chủ sộp của ông. Trong lúc chờ khách tới, hai người dùng phomat, và Gavin trình bày những tin tức cuối cùng cho sếp nghe.
Wheeler hài lòng với thành phần bồi thẩm đoàn.
Gavin còn khoe:
- Flores đã nhẹ đi bốn ký rưỡi.
- Bốn ký rưỡi? Chưa đủ.
- Hiện nay hắn khó mà kiếm được cái gì để ăn.
- Giảm nước uống của hắn xuống nữa.
Khách đến, và một bữa tiệc trưa theo lối Anh đúng điệu diễn ra.
♣ ♣ ♣
Trong ngôi nhà ở đường Nữ Vương không còn ai. Sự theo dõi của cảnh sát, và vụ bắt giam Freddie đã khiến ai nấy bỏ đi. Sandy cũng về thăm ông nội, trong ngôi nhà mát trên đỉnh núi gần biên giới Mehico.
Thường thì một đứa nào đó sống trong ngôi nhà này mang tiền đến để mua thức ăn và trả tiền nhà. Bây giờ Michael chỉ sống một mình, không có gì ăn và không có gì để trả tiền nhà.
Cha của Michael gửi cho con một khoản tiền ăn học là bảy mươi lăm Mỹ Kim mỗi tháng. Khoản tiền đó chưa đến.
Sữa trong tủ lạnh đã chua. Michael cắt bỏ phần đóng mốc xanh của ổ bánh mỳ, rồi vẫn phải vứt cả ổ bánh đi. Ngăn cuối cùng có nửa hộp mứt dưa. Trên bàn có hai lọ sữa chua. Michael ăn hết những gì còn lại.
Nếu không vì đói, thì Michael chỉ thích được ở một mình. Vì vậy, khi nhận điện tín báo rằng cha gã sắp đến thăm, Michael không hài lòng chút nào.
Clifford Winter gắng gỏi giữ liên lạc với con trai, song không dễ dàng chút nào, vì nó chẳng mấy khi viết thư về thông báo thay đổi địa chỉ cho cha mẹ nó biết đường mà gửi tiền trợ cấp cho. Nhưng khi Winter có việc đi Los Angeles hay San Diego để ký kết hợp đồng giữa hãng của ông với những Công ty Hàng không, ông thường dành ra một ngày, hay một buổi chiều, để đến với con trai.
Hôm nay, Michael không muốn bị làm phiền. Gã cần phải suy nghĩ nhiều thứ.
Trong bếp, bức ảnh đăng báo của Cesario Flores được ghim dính vào tường bằng lưỡi dao rọc giấy, thọc chính giữa mắt trái. Michael nhẹ nhàng gỡ dao ra, lấy bức ảnh xuống, ngắm nghía khuôn mặt lo âu, mệt nhọc một lúc. Gã nhớ lúc đi chung xe với ông ta ra sa mạc, nhớ họ đã thân thiện nhau mau chóng – gã và tên con hoang của quyền hành.
Gã quyết định xem có thể mượn Donna vài đô la hay không. Nàng có vẻ thực sự thân thiện với gã – và không chừng có thể ăn vài chiếc bánh mà nàng vẫn thường để trên bàn. Rồi gã sẽ vẫy xe ra sa mạc, rồi cố gắng sắp xếp những mảnh tình cảm của gã thứ tự lại đôi chút.
♣ ♣ ♣
Wheeler đang nằm trên bàn đấm bóp sau chầu khúc côn cầu. Bàn đấm bóp bên cạnh là nhân vật quan trọng của một tổ chức quốc tế của người Ý. Ông này, sau thời gian làm ăn bận rộn ở một khu đông dân cư, đã quyết định dời đến vùng Tây Nam rộng lớn này vì những lý do sức khỏe và an toàn. Trong một giai đoạn tế nhị, Wheeler đã giúp ông ta một số vấn đề thuế má. Lão già gốc Sicile nói:
- Don, tôi vui mừng thấy anh nhận biện hộ vụ này, cái vụ bọn híppi dụ dỗ con gái của tên lính không quân đến nỗi hắn phải bắn chết chúng đó.
Wheeler nói:
- Tôi không nghĩ là ông biết đầy đủ sự việc.
- Đừng lo. Tôi biết vụ này khá rõ. Bọn hoang đàng đó bắt đầu làm cho thị xã này mang đầy tiếng xấu. Và tôi vui mừng thấy anh nhảy vào vụ này.
♣ ♣ ♣
Cuối cùng Cy phải giả bộ ông là một người nào khác, viết thư cho tổ hợp luật gia lớn nhất trong thủ phủ tiểu bang, lưu ý họ đến cái sự kiện ông Cyrus Walker đang truy tố vụ án cuối cùng của ông trên tư cách Công tố viên tòa án quận, và ông ta, Cy, sẵn sàng chấp nhận hợp tác với một tổ hợp theo các điều kiện như thế này, thế này... Tất cả đều được đánh máy trên giấy viết thư mang xuất xứ vay mượn.
Sau khi thảo xong bức thư, Cy xé bỏ phần đầu của tập giấy mang tiêu đề tòa án. và bắt đầu ghi chú những chi tiết trong đoạn mở đầu. Đây là đoạn khó nhất, cần phải làm họ để ý, ngay từ những dòng đầu. Ông đang xin việc, dù là một cách ngụy trang. Ông cần phải đá trái banh ra khỏi sân cỏ.
Cy cần một ly rượu.
Bước ra phòng ngoài, ông thấy Michael vừa đang ăn những chiếc bánh của Donna vừa ghi chép gì đó vào cuốn sổ nhỏ gã mang theo. Cy rót rượu, hỏi:
- Anh đang đọc gì đây?
- Danh sách bồi thẩm đoàn. – Michael trả lời.
Viên lục sự của Tòa đã gửi cho văn phòng Cy danh sách bồi thẩm, với tên họ, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng gia đình, tuổi các con cái... Lúc quay vào văn phòng và sắp đóng cửa lại, Cy hỏi Donna:
- Này, cô không nghĩ đáng lý tôi được quyền đọc trước những gì gửi đến văn phòng tôi hay sao?
Donna giật xấp giấy khỏi tay Michael, mang tới.
- Nó làm cái quái gì ở đây vậy? - Cy lại hỏi.
- Tôi nghĩ là hắn đói.
- Donna, nhờ cô chấm dứt việc khuyến khích nó.
- Ông đã bảo tôi làm mà.
- Vậy bây giờ tôi nói là chấm dứt. Tôi không muốn nó quanh quẩn ở đây nữa. Cô không nghĩ nó chẳng điên thì cũng khùng sao?
- Thưa ông, tôi không nghĩ yậy. Nhưng ông đã bảo, thì tôi sẽ bớt niềm nở với nó.
- Gọi nó vào đây, tôi nói cho.
Michael bước vào, mồm đang nhai bánh. Cy hỏi:
- Anh nghĩ sao về bồi thẩm đoàn của chúng ta?
- Đúng như tôi đoán.
- Anh nghĩ họ là những kẻ bình đẳng với hắn?
- Ông có nghĩ vậy không?
- Anh muốn nói là không có người gốc da đỏ nào?
- Đó là một điểm.
- Họ đều là những người làm công ăn lương, cùng có mức lợi tức ngang với Flores, đúng vậy không nào?
- Phải. Đó là điều ai cũng thấy rõ.
- Vậy thì có cái gì không rõ ràng?
- Tôi đã nghĩ... không chừng phải là một sát nhân mới có thể hiểu được kẻ sát nhân.
- Trời đất! Michael, chúng ta không thể có một bồi thẩm đoàn gồm những kẻ sát nhân!
- Tôi không có ý nói vậy. Những người mà ông và tên luật sư kia chọn, tôi thấy họ đã được chọn để không cảm xúc gì cả.
- Anh có khinh thường thiên hạ quá không đó?
- Họ làm sao hiểu được một kẻ như Vinnie, ngoại trừ coi hắn như một đe dọa đối với họ?
- Cứt chó!'
- Và các ông chọn họ vì vậy đó – vì họ sẵn sàng nhường một phần thân thể họ.
- Giống như tôi và luật sư kia?
- Và cả ông Chánh án nữa. Tôi bắt đầu thấy buồn giùm cho Flores. Tôi không còn dám chắc hắn đã giết...
Mọi người đểu thấy chuyện đó.
- Suốt hai mươi năm, họ huấn luyện Flores để giết người. Vậy hắn có thể làm gì khác khi bị khủng hoảng?
- Vậy ta sẽ đổ hết tội cho xã hội, phải vậy không?
- Tôi không lên án Flores được nữa.
- Vậy thì anh lên án ai?
Michael nhìn Cy không chớp mắt, rồi bước ra. Gã đi bộ qua hai dãy phố tới con đường dẫn ra sa mạc và đứng lại, đưa ngón tay lên trời.
---------------------------
1 Thurstie: Đọc trùng âm Thirsty, có nghĩa khát, ham.