Giữa dòng suối có hai em bé đang tắm, một trai và một gái. Có lẽ không nên tắm chung như thế, nhưng các em làm gì biết được điều đó: em trai mới lên bảy, em gái lại còn bé hơn những hai tuổi.
Các em đã dạo chơi trong rừng và gặp suối nước. Trời nắng chang chang, nước suối rất hợp ý các em.
Đầu tiên các em chỉ thò chân xuống nghịch, dần dần các em lộ ra tới đầu gối. Cái quần đùi bé tẹo của Gergey bị ướt, em liền tụt luôn ra, rồi em cởi luôn cả áo. Cuối cùng cả hai em đều trần như nhộng, bì bõm trong dòng nước.
Các em tha hồ vùng vẫy: không ai nhìn thấy cả. Đường đi Pêts [1] cách xa ngoài bìa rừng mà rừng thì rộng mênh mông. Giá có ai trông thấy thì thế nào các em cũng bị mắng một trận nên thân. Vì chú bé thì chẳng nói làm gì – chú ta không phải là cậu ấm, nhưng cô bé đây chính là tiểu thư của tôn ông Xexey Pête, chỉ nhờ không ai biết nên em mới lén ra khỏi nhà được.
Ngay cả lúc trần trụi thế này, cô bé cũng để lộ mình là con nhà quyền quý: người em béo như con bồ câu và trắng như sữa. Mỗi khi em nhảy nhót trong dòng nước, hai bím tóc nhỏ màu hạt dẻ lại đung đưa quanh cổ.
- Đerđơ, ta pơi ti[2] . – em nói với chú bé.
Chú bé gầy gò, đen sạm được gọi là Gergơ quay lưng lại, cô bé bám vào cổ chú. Gergơ đi vào bờ, cô bé lơ lửng trên mặt nước, hai chân đập nước tung tóe.
Vừa đến bờ, Gergơ bíu lấy cái gốc xanh xanh của bụi kako và lo lắng nhìn quanh.
- Ôi, con Xám!
Chú bước lên bờ và chạy quanh quẩn, tìm kiếm giữa rừng cây.
- Chờ đấy nhé Vixusko [3], chờ đấy, tôi sẽ về ngay.
Chú kêu to với cô bé rồi cứ trần trụi như thế phóng đi.
Vài phút sau chú trở lại trên lưng một con ngựa xám già. Trên đầu con ngựa có một sợi dây tồi tàn: sợi dây buộc liền từ đầu xuống cái hãm dưới chân ngựa nhưng đã bị tuột.
Chú bé lặng lẽ quất ngựa bằng một cành dương đào, mặt tái mét.
Vừa đến chỗ tắm, chú bá cổ ngựa, nhoai người nhảy xuống đất.
- Trốn đi! – Chú run rẩy nói – Trốn đi! Quân Thổ đấy.
Chú quần sợi dây vài vòng vào gốc cây để buộc ngựa rồi vội vàng nhặt lấy quần áo. Hai đứa trẻ trần như nhộng chạy ù vào một bụi sơn trà, nằm dán mình xuống lớp lá khô sau bụi cây.
Thời đó trên các ngả đường, bọn lính Thổ không phải là của hiếm. Và anh, người bạn đọc thân mến, nếu nãy giờ anh vẫn tưởng rằng hai đứa trẻ ấy đang tắm trong nước suối mùa hè năm nay thì anh đã lầm. Hai đứa trẻ ấy còn đâu nữa? Và còn đâu tất cả những người sắp hiện ra trước mắt anh, nói, cười, hành động trong quyển sách này? Tất cả đã trở thành tro bụi cả rồi!
Vậy anh hãy gạt quyển lịch năm nay sang một bên, hỡi người bạn đọc đáng kính, và hãy tưởng tượng ra năm 1533. Giờ đây anh đang sống trong những ngày tháng năm ấy và chúa công của anh hoặc đang là vua Xopôio Gianốt[4] hoặc hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc Pheđinan đệ nhất.
Làng nhỏ của hai em bé náu mình trong một thung lũng vùng Metsec, vẻn vẹn có ba chục nếp nhà vách đất với một dinh cơ lớn có tường xây đá. Cửa sổ mọi nhà đều che bằng vải dầu, cả trong dinh thự lãnh chúa cũng vậy. Ngoài ra, các mái nhà đều lợp sậy như ngày nay. Cây rừng xum xuê bao quanh làng nhỏ nên dân làng nghĩ rằng bọn lính Thổ chẳng bao giờ tìm đến được. Bọn chúng tìm đến bằng cách nào cơ chứ? Đường đi rất dốc, không hề có vết bánh xe. Tháp chuông cũng chẳng có. Mọi người sống và chết trong cái làng nhỏ ẩn khuất như những con sâu con bọ trong rừng.
Cha chú bé Gergơ trước kia làm thợ rèn ở Pêts, nhưng đã chết. Người vợ góa bèn về làng Kerextét ở với bố, một lão nông tóc bạc, đã từng chiến đấu trong cuộc khởi nghĩa của Đôjo Giơrgiơ [5]. Chính vì thế ông lão mới được nương náu trong ấp trại của trang chủ Xexey.
Thỉnh thoảng ông lão vẫn băng rừng xuống Pêts đi ăn xin. Mùa đông cả nhà sống nhờ vào những thứ ông lão đã xin được. Đôi khi thức ăn trên nhà lãnh chúa cũng nhỏ giọt xuống bàn họ.
Ngày hôm đó ông lão cũng vừa từ thành phố trở về. Ông bảo cháu:
- Cháu dắt con Xám đi chăn đi, tội nghiệp từ sáng đến giờ nó chưa được tí gì vào bụng.
Gergơ đã cùng con ngựa ra rừng theo lệnh ấy. Khi đi qua nhà lãnh chúa, chú gặp cô bé Êvo từ cổng vườn chui ra và khẩn khoản với chú:
- Đerđơ, Đerđơ, cho em đi với!
Gergơ không dám bảo tiểu thư phải ở lại nhà. Chú xuống ngựa và dẫn Êvo đi về hướng cô bé muốn. Êvo muốn đi theo hướng những con bướm bay: bướm bay về phía trong rừng và các em cũng chạy theo. Cuối cùng các em gặp con suối, Gergơ thả ngựa ra bãi cỏ. Các em đã xuống suối tắm và chạy trốn ra sau bụi cây như thế đấy.
Các em nằm run rẩy vì sợ giặc Thổ.
Nỗi sợ hãi của các em không phải là chuyện bóng vía. Chỉ vài phút sau đã nghe tiếng lạo xạo trên lá khô rồi một cái mũ Thổ màu trắng cắm lông đà điểu cùng một cái đầu ngựa nâu hiện ra dưới hàng cây.
Tên Thổ nhìn ngang nhìn ngửa, đầu hắn quay hết bên này sang bên kia. Mắt hắn chợt dừng lại trên con Xám. Hắn cầm cương con ngựa chiến nhỏ màu sẫm của hắn dắt theo sau.
Bây giờ đã có thể thấy rõ tên Thổ là một gã da nâu, nét mặt xương xẩu. Vai hắn khoác một cái áo màu hạt dẻ, đầu đội mũ chóp cao màu trắng. Một bên mắt hắn buộc khăn trắng, còn mắt kia đang ngắm nghía con xám buộc cạnh gốc cây. Con ngựa không được vừa ý hắn, điều đó hiện rõ trong cái nhăn mặt của hắn. Tuy vậy hắn vẫn tháo dây buộc.
Chú bé vừa nãy hắn thấy trên lưng ngựa vừa ý hắn hơn. Chú bé bán chạy hơn con ngựa này. Ở chợ bán nô lệ tại Công-xtăngtinốp[6] người ta có thể trả giá chú bé gấp 3 lần con ngựa. Nhưng chẳng thấy chú bé đâu cả.
Tên Thổ đi tìm quanh một vài gốc cây và nhòm lên cả những cành lá rậm rạp, rồi hắn cất tiếng gọi to bằng tiếng Hung:
- Bé con ơi, mày ở đâu? Ra đây nào, chú nhỏ ơi! Ra đây tao bắt chồn đất cho! Ra đây nào!
Chú bé vẫn không ra.
- Ra đây nào! Đừng sợ, tao không đánh mày đâu! Không ra à? Mà không ra tao sẽ bắt ngựa mày đi!
Và quả thật, hắn cầm cương hai con ngựa chập làm một, dắt đi giữa những hàng cây.
Hai đứa trẻ từ nãy đến giờ im thin thít và tái mét mặt lắng nghe tên Thổ. Việc hứa cho chồn đất không đủ để giải thoát các em khỏi tình trạng kinh hoảng đến cứng đờ người. Ở nhà, các em đã nghe quá nhiều lần câu rủa “Thổ bắt mày đi” cùng bao nhiêu những chuyện dựng tóc gáy về giặc Thổ, khiến các em không bao giờ dám bước ra trước bất cứ một sự dỗ dành nào. Nhưng khi tên Thổ nói hắn sẽ bắt con Xám đi, Gergơ bắt đầu nhúc nhích. Chú nhìn sang Êvơ như chờ đợi ở cô bé một lời khuyên bảo, chú nhìn cô bé với vẻ mặt của một người bị gai đâm vào bàn chân.
- Nó bắt mất con Xám! Ở nhà mọi người sẽ nói gì nếu anh trở về mà không có con Xám?
Cô bé Êvo không trả lời cho tất cả những lo lắng ấy. Cô bé nằm như chết bên cạnh chú, đôi mắt to xanh đẫm ướt vì sợ hãi.
Nhưng con Xám đã đi rồi. Gergơ nghe những bước đi của nó, con Xám có những bước đi chậm chạp, nặng nề. Lá khô xào xạc đều đều dưới chân nó. Thế là tên Thổ bắt nó đi, hắn đã bắt nó đi thật rồi!
- Con Xám… - Gergơ ấp úng, mồm mếu xệch sắp khóc.
Và em ngửng đầu lên.
Con Xám đi kìa, nó đang đi. Lá rừng kêu xào xạc dưới chân nó. Ô, cái đồ ngốc!
Gergơ bỗng quên hết sợ hãi, chú nhảy dậy và cứ thế cắm cổ đuổi theo con Xám.
- Bác ơi! Bác lính Thổ ơi! – Chú run rẩy kêu lên.
Tên lính Thổ đứng lại, cười nhăn nhở.
Eo ơi, người đâu mà xấu xí! Hắn nhăn nhở như không phải cười mà đang sắp sửa cắn.
- Bác ơi, con Xám… con Xám là của nhà cháu – Gergơ vừa khóc vừa nói: chú đứng lại cách chừng hai chục bước.
- Nếu là của nhà cháu thì lại đây, đây này! – Tên Thổ trả lời và buông cương con Xám ra khỏi tay.
Chú bé chỉ còn thấy có con Xám. Khi con Xám bắt đầu chậm chạp bước đi, chú liền chạy vụt lại và chụp lấy dây cương.
Trong nháy mắt, chính chú cũng bị chộp. Những ngón tay to, khỏe của tên Thổ riết lấy cánh tay nhỏ yếu, trần trụi của em, và em bay vút lên yên con ngựa chiến.
Gergơ khóc thét lên.
- Suỵt! – Tên Thổ vừa nói vừa rút đoản đao ra.
Nhưng Gergơ cứ gào:
- Vixusko! Vixusko!
Tên Thổ quay đầu về phía Gergơ vừa gọi, tay đặt lên đốc kiếm. Nhưng khi thấy một đứa bé nữa nhổm lên khỏi vỏ, hắn lại dắt đoản đao vào vỏ và mỉm cười.
- Lại đây, lại đây, bác không đánh cháu đâu.
Hắn vừa nói vừa dắt đôi ngựa về phía cô bé. Gergơ định tụt xuống ngựa, tên Thổ lập tức phát mạnh một cái vào lưng chú. Thế là Gergơ khóc rống lên và ngồi yên, còn tên Thổ thả hai con ngựa ở đấy, đuổi theo cô bé.
Tội nghiệp cô bé Vixo, giá lớn hơn em đã có thể chạy thoát, nhưng chân em còn bé bỏng quá mà cỏ thì lại cao. Em vấp ngã và chỉ trong nháy mắt, em đã giãy giụa và khóc thét lên trong lòng tên Thổ.
- Suỵt! – Tên Thổ đét vào mông em – Im ngay không tao ăn thịt mày ngay bây giờ! Hăm – hăm!
Cô bé vội nín bặt, chỉ còn trái tim nhỏ xíu của em đập thon thót chả khác gì tim con chim sẻ bị bắt nằm trong lòng bàn tay.
Tuy vậy, khi vừa đến chỗ hai con ngựa, tiếng kêu của em vẫn bật ra:
- Cha ơi! Cha!
Cô bé tuyệt vọng tưởng những tiếng kêu của em có thể vang đến bất cứ nơi xa nào.
Chú bé Gergơ cũng khóc, chú vừa dụi ngón tay vào mắt vừa nức nở:
- Về nhà cơ, cháu muốn về nhà cơ!
- Im ngay, đồ nhãi ranh! Tao tước đôi mày ra bây giờ! – Tên Thổ quát lên và dứ dứ nắm tay dọa dẫm về phía Gergơ.
Hai đứa trẻ nín bặt. Cô bé gần như chết khiếp, còn Gergơ chỉ dám khóc lặng lẽ trên lưng con ngựa chiến.
Khi ra khỏi rừng, Gergơ thấy bọn lính thổ đánh xe lúc nhúc đầy đường Metsec. Bọn akinji [7] cưỡi ngựa, bọn axap [8] đi bộ và những tên lính tạp ngũ trang phục hổ lốn. Chúng cưỡi những con ngựa nhỏ, lóc cóc cưỡi về nước.
Toán đi trước bọn họ áp tải khoảng mười cái cả xe khách lẫn xe hàng chất nặng đồ đạc. trên các xe hàng chồng chất những vải vóc, giường tủ, thùng rượu, bàn ghế, da thú cùng những bao lúa mì. Một toán nô lệ chân đeo xiềng, tay bị trói giật cánh khuỷu, mặt buồn rười rượi, lê bước bên cạnh.
Tên ionisa[9] của chúng ta có ba cái xe hàng và bảy nô lệ. Ngoài hắn ta, toán này còn có năm tên ionisa khác mặc quần xanh, đi ủng đỏ, đội mũ trắng và ba tên axap đội mũ lông thú, cầm thương dài. Mũ của tên chột cắm một cái lông đà điều trắng dính đầy bụi, uốn cong từ phía trước ra phía sau, rủ xuống gần đến giữa lưng.
Trong khi hắn sục sạo trong rừng, ba cái xe hàng đứng tránh sang bên đường nhường chỗ cho những tên hồi hương khác.
Mấy tên ionisa cất tiếng cười vang đón tiếp hai đứa trẻ con và con Xám.
Bọn chúng nói chuyện huyên thuyên gì đó bằng tiếng Thổ, Gergơ không hiểu, nhưng cứ nhìn bộ dạng của chúng thì cũng đủ biết chúng đang bàn tán về các em và con ngựa. Khi nhìn em và Vixo, bọn chúng cười; khi nhìn con ngựa, chúng xua tay như thể đuổi ruồi.
Tên Thổ tung hai đứa trẻ lên nóc đống vải chất trên xe. Có một cô gái mặt bầu bĩnh đang ngồi trên đó, cô cũng là một nô lệ bị xiềng chân; hắn giao cho cô trông nom hai đứa trẻ. Một tên ionisa khác mở một cái bị cáu bẩn và lôi ra đủ các thứ quần áo trẻ con. Trong đó có cả váy, áo lót, áo choàng, mũ két, mũ con gái và những đôi ủng nhỏ. Tên Thổ chọn ra hai cái áo ngắn và một cái áo lông cừu cộc tay rồi ném lên xe.
- Mặc vào cho chúng nó. – Tên chột bảo cô gái.
Cô gái trạc độ mười bảy tuổi, là một cô thôn nữ. Khi mặc quần áo vào cho các em, cô ôm hôn cả hai đứa.
- Em tên là gì hở nàng tiên bé bỏng của chị?
- Vixusko.
- Thế còn em?
- Gergơ.
- Đừng khóc nữa các em nhé. Các em sẽ ở với chị.
- Nhưng em muốn về nhà. – Gergơ khóc.
- Em cũng thế. – Cô bé cũng khóc.
Cô gái quàng tay ôm lấy hai em và hôn lên những cái má nhỏ đầm đìa nước mắt.
Đàn chó trong làng tức tối sủa váng lên và nhảy chồm chồm quanh một người hành bộc râu trắng, tóc để dài. Nếu người đó không khua quanh mình cái gậy to, đầu có chứ thập thì chắc chắn bầy chó đã xé nát cái áo choàng bằng vải thô của y.
Lúc đầu y còn đi giữa đường, về sau thấy bầy chó to lớn xù lông xông đến mỗi lúc một đông nên y thận trọng lùi vào cạnh một bờ giậu, lưng tựa vào bờ giậu và vung cái gậy để chống cự, chờ người ra giải thoát cho y khỏi vòng vây của bầy chó.
Những người trong nhà tuy cũng chạy ra vì nghe tiếng chó sủa dữ dội, nhưng mắt họ lại hướng về phía năm chiến sĩ Hung đang phi nước đại vào làng. Một tráng sĩ tóc vàng nhạt, mặc áo bào đỏ, phóng ngựa dẫn đầu. Mũ chàng cắm một cái lông sếu. Trước mặt chàng, một cây súng đặt nằm ngang trên yên. Ánh giáp lấp lánh dưới lần áo chẽn mỏng màu bồ quân. Đằng sau là bốn chiến sĩ khác. Khi vào đến làng, họ nhòm bên này, ngó bên kia như thể mỗi nếp nhà trong làng ấy đều là một vật lạ kỳ.
Trước cổng nhà Xexey, một nông phu ôm giáo đang ngồi ngủ gà ngủ gật trên bục đá. Tiếng vó ngựa lộp cộp làm gã choàng tỉnh mộng. Vội vàng, gã mở rộng cả cánh cổng bên kia và những chàng kỵ sĩ cho ngựa phi ào qua cầu hào vào trong sân.
Xexey đang ngồi bó gối trong bóng cây nham lê như một con ó già. Mấy nông phu đang xén lông cừu ở đấy. Tay họ cầm kéo nhưng lưng họ đeo gươm. Cuộc sống ở nước Hung thời đó là như thế!
Xexey đã trông thấy những chiến sĩ. Lão đứng lên, khập khiễng đi về phía họ. Lão có một dáng đi lạ đời: một chân không gập được đầu gối, một chân không uốn được chỗ mắt cá. Còn uốn làm sao được khi cả hai đều đã bằng gỗ cả. Tay phải của lão cũng không còn nữa, ống tay áo vải lủng lẳng phía dưới khuỷu tay.
Tráng sĩ đội mũ lông sếu nhảy xuống ngựa, ném cương cho một chiến sĩ rồi vội vàng tiến lại chỗ Xexey.
- Tôi là Đôbô Istơvan – Chàng trai vừa bỏ mũ ra vừa nói và dập mạnh gót giày vào nhau.
Đó là một chàng trai cao, người xương xương, nhưng cử chỉ mạnh mẽ. Đôi mắt xám của chàng có cái nhìn sắc nhọn, đầy cương nghị.
Xexey giấu tay ra sau lưng và hỏi:
- Cậu phục vụ trong đội ngũ của ai?
- Hiện nay trong đội ngũ của Tơrơc Balin.
- Như vậy cậu thuộc phải Pheđinan! Xin chào cậu.
Bây giờ lão mới chìa tay cho chàng bắt. Lão liếc mắt nhìn con tuấn mã của chàng rồi lại nhìn thanh gươm và hỏi:
- Ngọn gió nào đã đưa cậu đến đây thế?
- Chúng tôi, bác ạ, chúng tôi từ Polôto đến.
- Từ thành của Môrê [10] ấy à?
- Thành ấy đã không còn của Môrê nữa rồi.
- Vậy thì của ai?
- Hiện giờ chưa phải của ai cả. Vả lại nó cũng chẳng còn là thành quách gì nữa mà chỉ là một đống đá vụn.
Lão già chân gỗ kinh ngạc hỏi:
- Các cậu đã san phẳng nó rồi ư?
- Sát tận đất.
- Tạ ơn trời! Nào, vào chỗ râm mát này đã cậu em, vào dưới hàng hiên này đã. Bà nó ơi! Có khách đến nhà đấy.
Và lão, vẫn chưa hết kinh ngạc, lại hỏi:
- Thế là các cậu đã san phẳng nó rồi?
Bà chủ nhà bé nhỏ, đẫy đà đã loay hoay ở ngoài hiên: bà đang sai một gia nhân kê lại cái bàn vào dưới bóng mát. Một gia nhân khác đã mở cửa hầm kho.
- Tên cậu là gì ấy nhỉ, Bôđô hay Đôbô?
- Đôbô Istơvan.
- Đây là Đôbô Pisơto [11]– Xexey giới thiệu chàng thanh niên với vợ. Lão sai dọn rượu và thức ăn cho cả các chiến sĩ, đồng thời cho người chạy đi mời giáo sĩ.
Đôbô nói:
- Bác ạ, trước khi ngồi xuống bàn, tôi cần phải hỏi xem có tên Môrê ở đây không? Chả là tôi đang đi lùng hắn.
- Môrê ở đây? Mong cho tôi khỏi phải thấy cái mặt của hắn, hoặc có thấy cũng chỉ thấy trên giá treo cổ mà thôi.
Đôbô lắc đầu:
- Vậy thì chúng tôi đi lạc vết mất rồi. Cho tôi xin ngụm nước.
- Hẵng gượm tí đã, chúng nó mang bình rượu vang ra bây giờ đấy.
- Lúc khát tôi chỉ uống nước thôi, bác ạ.
Đôbô trả lời và bưng cái bình to có vòi lên tu một mạch. Uống xong chàng hà hơi khoan khoái và hỏi:
- Bác có cho phép tôi được nghỉ lại đây đến tối không?
- Cậu nghĩ gì lạ thế? Tôi không thả cậu ra trước một vài ngày đâu!
- Xin cám ơn bác. Nhưng bây giờ đâu phải kỳ vũ hội. Tối nay chúng tôi sẽ đi tiếp. Nếu được phép thì tôi cởi cái áo giáp này ra một chút. Trời này nó nóng quá, dù chỉ toàn bằng lỗ cũng vậy [12]
Lúc Đôbô cởi áo trong phòng, người hành bộc cũng vừa đến cửa.
- Ngươi từ chỗ giám mục đến chứ gì? – Xexey ngẩng cao đầu lên hỏi y.
Người hành bộc ngạc nhiên trả lời:
- Vâng ạ. Tôn ông làm sao mà biết được ạ?
- Chẳng cần phù phép gì đâu, nhìn râu của ngươi trắng ra vì mỡ chồn mồng thì ta đủ biết nhà ngươi vừa từ xa đến nhà ta.
- Tôn ông tinh mắt quá.
- Từ xa mà cứ nhắn nhe cho ta thì chẳng còn ai ngoài tên tổng giám mục ở Soiôlát. Hắn là em rể ta đấy, nhưng ta cầu cho thiên lôi đánh chết gã đi.
- Nhưng đã từ lâu ông chủ của con có còn là tổng giám mục nữa đâu, ngài đã là giám mục riêng của nhà vua rồi, tôn ông ạ!
- Điều ấy ta cũng đã biết, tầm sét cứ đánh cho hắn chết luôn đi với nhà vua của hắn. Tên người là gì?
- Vosanhi Imre.
- Bao nhiêu tuổi?
- Dạ, ba chục.
- Nào, đưa ta xem, ngươi mang tin gì đến đấy?
Người hành bộc ngồi bệt xuống thềm, lần tay bóc lớp vải lót của áo khoác. Y ca cẩm:
- Ở vùng này cái nóng thật vô đạo, với lại tụi Thổ đông như ruồi.
- Điều đó chúng ta có thể cảm hơn cha giám mục và nhà vua của ngươi ấy. Thế nào, ngươi khâu lá thư ấy vào đến tận lục phủ ngũ tạng hay sao vậy?
Cuối cùng Vosanhi cũng móc ra được bức thư niêm dấu đỏ và trao cho chủ nhà.
- Bà bảo chúng nó dọn thức ăn thức uống cho người này nhé, xếp chỗ nghỉ cho anh ta nữa.
Xexey bảo vợ rồi bẻ dấu niêm, mở phong thư ra.
- Đích thị nét chữ của cha giám mục đây mà. – Lão vừa nheo mắt nhìn vào bức thư vừa nói. - Sạch như in, nhưng có điều quá nhỏ, ta quả không đọc được nữa rồi.
Người hành bộc ngồi dịch vào phía trong chỗ bóng cây và nói:
- Chắc chắn ông chủ đã viết chuyện tốt lành đấy vì ngài không giục con phải vội. Mỗi khi ngài gửi thư đóng dấu niêm to là bao giờ con cũng phải vội vàng. Đây chỉ là thư đóng dấu niêm nhỏ, không phải chuyện quốc sự.
Rồi với niềm vui lặng lẽ của người đã đạt tới đích, y bưng hũ rượu vừa đưa đến nốc một hơi dài.
Bà chủ nhà cũng cầm lấy bức thư. Bà ta nhìn trên nhìn dưới rồi lại nhìn dấu niêm đã vỡ vụn và quay sang hỏi người hành bộc:
- Cậu Giuri[13] có được mạnh khỏe không?
Người hành bộc đang nhai miếng phó mát, y nuốt vội để trả lời:
- Ngài không ốm đau bao giờ ạ.
Một giáo sĩ tóc đã bạc nhưng còn có vẻ tráng kiện, vai rộng, gần như đầu bò tót, bước qua bực cửa. Người hành bộc đứng dậy, định đến hôn tay ông, nhưng ông vội đưa tay lên vuốt chòm râu bạc dài đến ngực để người kia không thể hôn được, và hỏi:
- Ngươi là tín đồ La Mã hay theo dòng mới? [14]
- Con là tín đồ La Mã ạ. – Người hành bộc trả lời.
Lúc đó giáo sĩ mới nhận cái hôn tay.
Mọi người đi vào phòng. Giáo sĩ đến đứng bên cửa sổ và dịch bức thư viết bằng tiếng La-tinh ra tiếng Hung:
“Anh rể thân mến…
Giáo sĩ có giọng trầm đặc biệt. Trong cách nói của ông, những phụ âm chỉ có thể cảm thấy mà thôi. Tuy vậy, những người đã quen đều hiểu lời ông.
… và chị Giuliko thân yêu! Tôi cầu Chúa lòng lành ban sức khỏe và cuộc sống bình an cho toàn gia quyến. Tôi nghe tin ở vùng anh chị hàng ngày vẫn bị cướp phá, khi thì bởi tụi Môrê, khi thì bởi bọn Thổ, chỉ có lớp nông nô dính chặt với đất đen là còn sống sót nổi, còn những ai có sức đều chạy loạn cả, kẻ lên miền ngược, người xuống miền dưới với dân Đức. Vậy nếu anh chị còn sống sót và vẫn ở Kerextét thì hãy tự cứu lấy mình. Tôi đã nói chuyện với Hoàng thượng để Ngài đền bù lại những thiệt hại của anh chị…
- Anh đừng đọc nữa! – Xexey đứng phắt dậy la lên. – Chó nó cần sự ân sủng của đồ chó!
- Yên lặng đã nào, anh thân yêu – Bà vợ xoa dịu chồng – Giơrgiơ thừa thông minh để hiểu rằng không bao giờ chúng ta thèm nhận của nhà Xopôio một cái gì hết; ông hãy cứ nghe cho hết bức thư đã nào.
Giáo sĩ nhíu đôi lông mày rậm và đọc tiếp:
… Tuy nhà vua không thề trả lại vùng đất Sát cho anh chị nhưng có một làng gần Nodơvarốt…
- Đúng thế! Đúng thế! – Xexey hét to và đập mạnh xuống bàn. – Ta không thể đội trời chung với hắn trên đời này, và cả đến kiếp sau cũng thế. Nếu kiếp sau có gặp nhau thì cũng chỉ với gương giáo mà thôi!
Giáo sĩ vẫn tiếp tục đọc:
… Tại Buđo đây, ngôi nhà của tôi bỏ trống, chẳng bao lâu chúng tôi sẽ dời đến Nodơvarốt. Chỉ có một người thợ làm cung nỏ ở nhà dưới, còn ba phòng trên gác hoàn toàn bỏ không.
- Không cần! – Xexey lại hét lên. – Mày mua bằng tiền của Xopôio, cha giám mục ạ! Ta mà có thèm bước vào nhà ấy thì nó cứ đổ sập xuống.
Giáo sĩ nhún vai nói:
- Anh làm sao biết được ông ta mua bằng tiền ấy. Nhỡ là của thừa tự thì sao?
Nhưng Xexey đã không thèm nghe ai nói nữa. Lão cáu kỉnh rảo bước ra khỏi phòng, đôi chân gỗ nện lọc cọc suốt hàng hiên đến chỗ người hành bộc đang ngồi ăn, lão dừng lại và giận dữ nói với y:
- Về nói với cha giám mục rằng ta gửi lời chào, còn cái chuyện hắn đã viết thì cũng bằng như chẳng có gì cả.
- Thế con không mang phúc thư về ạ?
- Không.
Lão nói rồi khập khễnh đi ra vườn, đi ngược đi xuôi dưới nắng. Đôi khi lão quật cây gậy sang hai bên như thể đang đánh đuổi một bầy chó vô hình, mồm lầu bầu:
- Đầu ta đâu phải đã là khúc gỗ!
Mấy người nông phu xén lông cừu một cách hăng hái hơn. Đàn chó cũng lảng xa. Cả ngôi làng cũng hình như chuồi thấp hơn xuống bờ sông.
Bà chủ nhà đứng lại trên hiên với ông giáo sĩ, ông này nhún nhún vai:
- Mà giả dụ không phải của thừa tự chăng nữa thì cũng là của làm ra bằng công sức của cha giám mục. Ngài muốn cho ai tùy thích. Ngài đã muốn cho Pêtê thì sau này đó sẽ là nhà của Pête và trong ngôi nhà đó, đến hoàng đế cũng không thể ra lệnh được.
Đôbô bước ra khỏi phòng. Bà chủ nhà giới thiệu chàng với giáo sĩ và lên tiếng gọi Vixo:
- Vixusko! Con đâu rồi hởi Vixo?
- Cô ấy chơi ở ngoài vườn ấy ạ. – Một mụ đầy tớ trả lời.
Xexey cũng đã trả lời và nói độp vào mặt giáo sĩ:
- Giáo sĩ ơi, anh đã trở mặt rồi! Nay mai anh còn đầu quân làm tên lính vác cờ cho Gianốt nữa kia đấy.
- Còn anh khi về già lại từ bỏ cái tên Hung! – Giáo sĩ đập lại.
- Anh đầu quân mà làm đao phủ! – Xexey hét.
- Anh thì làm một thằng Đức! – Giáo sĩ sửng cồ.
- Đồ đao phủ!
- Đồ vong bản!
- Đồ sát nhân!
- Đồ bán nước!
Hai ông già đã giận tím cả người, hét vào mặt nhau. Đôbô chỉ còn chờ đến lúc phải kéo hai người ra, chàng sốt ruột hỏi:
- Đừng cãi vã nhau nữa, cầu Trời phù hộ cho các bác. Chẳng thà các bác đi đánh nhau với tụi Thổ còn hơn.
- Cậu chưa hiểu chuyện này, cậu em ạ - Xexey trả lời và ngồi phịch xuống ghế. – Xopôio Gianốt đã từng sai cắt lưỡi lão giáo sĩ này, còn đối với ta, hắn đã chặt mất tay phải. Thế mà lão giáo sĩ lại còn đem tí lưỡi còn lại để bảo vệ Xopôio thì có phải là điên không?
- Nếu hắn chỉ là kẻ thù riêng của tôi thì tôi đã có thể tha thứ cho hắn từ lâu rồi. – Giáo sĩ trả lời với giọng cũng đã dịu bớt. – Nhưng như thế này tôi vẫn nói rằng chẳng thà để hắn làm chúa người Hung còn hơn là bọn Đức.
- Nhưng chẳng thà người Đức còn hơn quân Thổ [15] – Xexey lại kêu to.
Đôbô vội vàng nói xen vào để hai người đừng quay qua nhiếc móc nhau lượt nữa:
- Thật ra bảo tốt thì chẳng tên nào tốt cả. Người miền trên chúng tôi nghĩ rằng cần phải đợi ít nữa xem quân Đức có đưa lực lượng ra đánh quân Thổ hay không? Với lại cũng phải xét xem Gianốt có thực muốn bán sơn hà cho quân Thổ hay không?
- Hắn bán đứt đi rồi, cậu em ạ, từ lâu kia!
- Tôi không tin. – Đôbô đáp lại. – Ông ta chẳng bao giờ cần quân Thổ, ông ta chỉ cần cái vương miện mà thôi.
Bà chủ nhà đặt lên bàn một đĩa thịt gà rán. Mùi thịt gà rán vàng thơm phức làm nét mặt hai ông già dịu hẳn lại.
- Chà, hồi ta còn trẻ như cậu, câu em ạ… Cậu bao nhiêu tuổi rồi? – Xexey vui vẻ hỏi.
- Ba mươi mốt rồi. – Đôbô trả lời. – Chắc hẳn chẳng bao lâu sẽ không còn ai khen tôi là trẻ nữa.
- Chừng nào chưa lấy vợ, người ta vẫn còn trẻ mãi. Nhưng cậu cũng lo đi là vừa chứ?
- Tôi chưa rỗi. – Đôbô trả lời. – Từ thuở bé đến giờ tôi cứ bận với trận mạc liên miên thôi, bác ạ.
- Như vậy là tốt. Người Hung đã sống như thế từ thuở khai thiên lập địa. Chẳng lẽ cậu lại tin rằng ta đã cụt cả hai cẳng trong lúc khiêu vũ chăng? Ta đây, cậu em a, ta đã bắt đầu sự nghiệp với Kiniji[16] gọi ta bằng tên riêng. Về sau ta kết thúc quãng đời chinh chiến với Đôjo, người anh hùng của những bậc anh hùng, cậu hãy tin như vậy.
Lão nâng cái cốc thiếc đã rót rượu đầy tận miệng và vui vẻ nói:
- Cầu Trời thương lấy người Hung và đặc biệt phù hộ cho cậu. Hãy ban cho thanh gươm của cậu những chiến công hiển hách, và cho cậu một người vợ đẹp. Cậu có biết đánh cờ không?
- Tôi không biết. – Đôbô vừa đáp vừa mỉm cười vì sự chuyển tiếp đột ngột của dòng tư tưởng ấy.
Chàng dốc cạn cốc. Đó là một thứ rượu vang đỏ khá mạnh. Chàng thầm nghĩ: bây giờ ta đã hiểu cái gì làm cho hai ông già trở nên nóng tiết đến thế.
- Ồ, thế thì cậu sẽ không thể trở thành một viên tướng giỏi được.
- Đúng thế, nếu quân ta chiến đấu theo kiểu phương Đông: quân đội địch quân đội. Đằng này chúng tôi chỉ đánh nhau theo kiểu Hung thôi: người chọi người. Về việc này, bàn cờ không thể dạy.
- Như thế nghĩa là cậu vẫn có biết đánh cờ.
- Không, tôi chỉ vừa gọi là sạch nước cản thôi.
- Ra thế đấy, nếu rồi đây học được cả các thế đánh nữa, cậu sẽ nghĩ về cờ một cách khác hơn. Một giờ trong cuộc cờ, cậu em ạ, người ta có thể trải qua tất cả mọi diễn biến, mọi hiểm nghèo của một trận đánh thực sự.
- Các bác ở đây có lẽ đánh cờ luôn nhỉ?
- Bọn ta ấy à? Không bao giờ. Không cần đánh cờ bọn ta cũng đủ cãi lộn nhau rồi. Thế mà bọn ta đã cùng mọc lông mọc cánh, cùng sống bên nhau, cùng trận mạc vào sinh ra tử…
- Và sẽ chết cùng với nhau. – Giáo sĩ gật đầu kết thúc câu nói.
Hai ông già thân ái nhìn nhau và cùng chạm cốc.
- Nhưng Balin ạ, anh cũng phải nhận rằng người nào đã xua được tên Môrê cáo già ấy ra khỏi thành trì của hắn, người đó đã làm được một việc ra trò. Và người đó hẳn là Pheđinan chứ còn ai vào đây nữa.
- Không phải chỉ có Pheđinan. – Đôbô đáp lại. – Cả hai nhà vua cùng chung sức. Quân đội cả hai bên đã làm việc đó. Thiên hạ đã căm ghét những việc lăng loàn của tên tướng cướp ấy lắm rồi. Gần đây hắn đã quật cả mồ mả người ta lên.
- Nhưng dù sao Pheđinan cũng gửi đến nhiều quân hơn chứ?
- Không phải, vua Gianốt còn gửi nhiều hơn. Pheđinan chỉ nhắn với Tơrơc Balin [17] đến giúp Gianốt, và gửi đến năm chục thợ mỏ.
- Để phá tường à?
- Vâng. Quân Thổ cũng đến giúp sức một ít.
- Cố nhiên là dưới cờ Gianốt.
- Đúng thế, nhưng ước gì quỷ tha ma bắt cái của giúp đỡ ấy đi. Bao giờ tụi nó cũng cướp bóc tàn tệ lúc trở về.
- Cái tụi akinji chó má thật.
- Đúng là đồ chó má
- Các cậu khử cái thành ấy dễ dàng chứ?
- Tôi không thể nói như vậy. Tường thành rất vững chắc. Chẳng bên nào mang theo đại bác phá thành cả còn thứ đại bác bắn ria thì ăn thua quái gì?
- Tôi cũng đã từng đến đó, - giáo sĩ lên tiếng – cái thành đó quả là cả một khối đá tảng chứ không phải đất bồi đâu. Thế chúng nó không chịu nộp thành à?
- Không. Chúng tôi đành phải điều năm chục thợ mỏ đến phá đá. Công việc thật vất vả. Cuốc chim cứ tóe lửa trên đá, choòng sắt mỗi lần đóng chỉ lún được độ một móng tay vào sườn thành đá thôi. Nhưng nhiều tay thì cuối cùng đã cũng phải chịu thua.
- Các cậu cho nổ tung cái thành lên chứ?
- Trước hết chúng tôi nhắn vào cho Môrê biết là các hốc ở chân thành đã nạp đầy thuốc nổ. Hắn bèn xin chờ cho đến sáng hôm sau. Chúng tôi đồng ý. Nhưng con cáo quỷ quyệt ấy đã làm gì trong lúc chúng tôi chờ hắn? Hắn tập trung tất cả dân trong thành lại và khuyến khích họ giữ vững lấy thành trì để hắn chuồn đi cầu cứu. “Được thôi – dân thành trả lời nhưng có gì bảo đảm là ông sẽ trở lại?” “Cả hai đứa con ta đều ở lại đây cùng tất cả vàng bạc của ta. Các ngươi còn muốn gì hơn nữa?” Tên tướng cướp trả lời thế rồi giòng dây xuống tường thành và lỉnh mất. Chúng tôi, cố nhiên, trong đêm đen như mực chúng tôi không thấy hắn. Sau đó, khi mặt trời lên và không thấy cờ trắng, không thấy sứ giả, cũng không thấy mở cổng thành, chúng tôi bèn cho nổ các hốc thuốc súng. Ở đây không nghe thấy gì ư? Thật là một tiếng nổ rung chuyển cả núi rừng. Tường thành đổ sụp cả xuống. Chúng tôi xông vào thành, các chiến sĩ của chúng tôi căm tức quá, giết sạch cả đám bộ hạ của Môrê.
- Cả mấy đứa con hắn nữa chứ?
- Chúng nó thì không. Chúng tôi tìm thấy chúng nó trong một cái hầm đá. Hai thằng nhóc da nâu rất kháu. Từ hôm đó chúng được đưa về ở chỗ vua Gianốt.
- Thế cho nên các cậu mới đi tìm Môrê đấy phải không?
- Tôi chỉ rẽ vào đây một chốc để lùng Môrê với bốn chiến sĩ của tôi. Chả là vì giữa đường chúng tôi có hỏi chuyện một người canh ruộng và biết hắn đã ngủ nhờ trong hầm nhà anh ta. Anh ta bảo hắn đang cố chạy tới Pêts theo hướng này.
Bà Xexey ngoảnh ra sau hỏi một đứa ở gái đang lau sân:
- Này, Mogđo, Vixusko đâu rồi?
- Con không thấy, - người ở gái đáp – Sau bữa trưa, cô ấy vẫn chơi ở trong vườn đấy mà.
- Hãy chạy đi tìm cô ấy về!
- Con bé nhà ta – Xexey mỉm cười nói – thật quả Trời đã tặng cho tuổi già của ta đấy. Tí nữa cậu sẽ thấy nó chẳng khác một nàng tiên tí hon chút nào.
- Bác không có con trai ư?
Xexey lắc đầu:
- Giá ta mà có con trai, cậu em ạ, thì có lẽ tay ta cũng sẽ mọc ngay ra như càng cua ấy.
Đứa ở gái về bẩm không tìm thấy cô bé ở đâu cả. Trong lúc mải trò chuyện, mải đọc thư, mọi người đều quên bẵng cô bé Vixo. Bọn đầy tớ gái thì còn đầu óc đâu mà nghĩ đến bé nữa. Tất cả bọn đều cố mọi cho ra việc ở ngoài sân, nơi các dũng sĩ đang nghỉ ngơi và vân về ria mép. Bọn con gái cứ súng sa súng sính trong những cái váy, chúng vui đùa như thể các chàng dũng sĩ đến chạm ngõ ở nhà Xexey không bằng.
Ngay lúc đó đám gia nhân sục tìm khắp quanh nhà như thể tìm kim.
- Vixusko! Vixusko!
Người ta dò tìm trong tất cả các bụi cây, tất cả mọi chỗ chơi đùa của trẻ con trong làng. A, vú Kotô đâu rồi? Vú giữ bé kia mà. Chắc vú già đã ngủ quên. Ai thấy Vixusko ở đâu không? Chẳng ai thấy cả. Hình nh>ư >có một chú bé đứng nói chuyện với em ở sau vườn, lúc chiều. Ai đi sau vườn lúc chiều nhỉ? Chẳng có ai khác ngoài chú bé Gergơ, chú bé dắt ngựa của ông đi chăn. Nhưng chú bé Gergow ấy đâu rồi? Cũng chẳng thấy chú bé ấy ử đâu cả! Chắc hẳn chú ta đã cưỡi ngựa vào rừng rồi! Ồ, một sự vô ý trẻ con! Bao nhiêu lần người ta đã dặn chú đừng có dắt ngựa đi quá bãi cỏ sau làng.
Người ta tìm kiếm khắp dải rừng xung quanh làng.
- Vixusko! Xixusko!
Cả nhóm Đôbô cũng đổ đi tìm giúp. Người ta xem xét từng hốc cây, từng cành cây, từng mương nước, từng thung lũng, từng bụi rậm quanh làng. Biết đâu em chả ngủ quên ở một nơi nào đó?
Mẹ Gergey cũng kêu khóc, chạy bỏ đi tìm con. Người ta bắt gặp vú Kotô ở trong rừng. Té ra vú đã đi tìm từ lâu, vú gọi đã khản cả cổ.
Cuối cùng, lúc trời đã chạng vạng, một người đầy tớ mừng rỡ kêu lên:
- Đây rồi!
- Tạ ơn Trời!
- Áo quần cô cậu đây rồi!
Áo quần của các em, tất nhiên là chỉ có áo quần thôi: cái áo nhỏ giặt là tử tế, đôi giầy xinh xắn màu đỏ tươi, cái váy bằng lụa vàng cùng với áo, quần đùi và mũ của Gergơ, chứng tỏ các em đã tắm. Bên bờ suối có dấu chân các em trên cỏ mềm. Dấu chân to hơn, có những ngón tõe ra là của Gergơ, dấu chân nhỏ hơn là của Vixusko.
Chắc hẳn các em đã chết đuối ở dưới suối rồi.
- Tên chị là Morơghit – cô gái nô lệ ngồi trên xe nói – Chị sẽ kể chuyện cho các em nghe, chị biết nhiều chuyện lắm. Các em ở đâu, hở các em thân yêu của chị?
- Em ở trong làng – Gergơ cay đắng trả lời.
- Ở trong làng – bé Vixo cũng thỏ thẻ.
- Làng nào cơ?
- Trong làng em ấy mà, ở phía đằng kia kìa.
- Nhưng làng ấy tên là gì chứ?
- Tên làng ấy à?
- Ừ, tên làng gọi là gì nào?
- Tên làng? Em chịu, không biết.
Morơghit là một cô gái có khuôn mặt bàu bĩnh, cái miệng lúc nào cũng như chúm môi hôn. Hơi lốm đốm tàn hương quanh mũi. Cổ cô đep một chuỗi hạt thủy tinh màu xanh. Tụi Thổ đã bắt được cô trong vùng đồng cỏ, tỉnh Sômôđơ.
Nghe câu trả lời của các em, cô chỉ lắc đầu. Cô bí mật xé vải đệm để trên xe, quấn quanh một chiếc thìa gỗ làm thành búp bê.
- Búp bê của Vixusko đây này. Khăn nó vàng, váy nó đỏ. Ta sẽ may áo cho búp bê, ẵm búp bê, dạy búp bê nhảy và ru nó ngủ nhé.
Chiếc xe vẫn lặng lẽ đi.
Một thanh niên nông dân vạm vỡ cũng một gã xigan mặt rỗ cũng còn trẻ đi bên cạnh xe. Cả hai đều đi chân đất. Gã xigan mặc một cái quần xanh và chẳng vá đụp. Cái áo chẽn ngắn tay cũng màu xanh. Một chiếc kèn gỗ thò cái ống bẩn thỉu ra khỏi túi trong của áo chẽn. Bên kia xe, một mục sư đen thủi lê bước cùng một bác nông phu đầu tóc bù xù, mặt to bè bè. Bác ta dễ đã đến tứ tuần. Mục sư còn trẻ hơn, người cao, mặt gầy. Mặt ông không râu, không ria, đến cả lông mày cũng không có, mà lại đỏ như gấc. Chỉ có hai con ngươi là đen… Vài hôm trước đó, bọn Thổ đã giội nước sôi lên người ông để bắt ông phải nộp những đồ đạc quý giá của nhà thờ cho chúng. Khốn nỗi, nhà thờ của ông lấy đâu ra của quý!
Bọn họ, tất cả những người bị bắt đều là dân nghèo. Chân họ đeo xiềng xích, tay họ - người bắt chéo ra đằng trước, người quặt ra đằng sau – cũng nằm trong sắt thép. Anh thanh niên bị xích chung với gã xigan, ông mục sư cùng với bác nông dân. Anh thanh niên đã phải lấy giẻ rách quấn xung quanh vòng xích ở cổ chân. Những miếng giẻ đã đẫm máu. Thỉnh thoảng anh lại quay ra phía sau nài nỉ:
- Dừng lại tí nào, cho tôi sửa lại vòng xích một tí.
Nhưng mấy tên ionisa chẳng thèm đoái hoài tới anh, chúng đang mải chuyện gẫu với nhau, hoặc cùng lắm sự trả lời của chúng cũng chỉ là một cái nhìn hằn học.
Gergey dán mắt vào anh thanh niên. Tay anh mới gân guốc làm sao! Và cái áo anh mặc mới đỏ chứ! Anh chẳng có vẻ gì tỏ ra sợ hãi. Giá hay tay anh đừng bị xích chặt ra đằng sau thế kia thì có lẽ tụi Thổ đã chạy hết vía.
Anh thanh niên quả tình không sợ. Anh ngẩng đầu lên và thét vào mặt tên Thổ còng lưng cưỡi ngựa đi bên cạnh:
- Lửa thiêu chúng mày đi, đồ chó sói dị giáo!
- Gaspa, Gaspa, - Mơrơghit ngồi trên xe can ngăn anh chịu khó một chút nữa nào. Anh thấy không, mặt trời sắp lặn rồi, chúng nó sắp nghỉ lại đây mà.
Thấy cô lau mắt, hai đứa trẻ lại khóc ào lên:
- Em muốn về nhà cơ! – Gergey nức nở.
- Về cha! – Êvo mếu máo.
Mấy tên Thổ đã dừng lại thật. Chúng xuống ngựa và lấy bình nước ra rửa ráy tay chân mặt mũi rồi quỳ xuống thành một hàng ngang, mặt quay về phía mặt trời mọc. Chúng cúi xuống hôn mặt đất, và cầu nguyện.
Đám người nô lệ lặng lẽ nhìn chúng.
Cô gái leo xuống xe, xé một miếng giẻ ngoài mép áo, quấn vào chân anh thanh niên rồi đẩy những vòng xích trở lại một sự cẩn thận đầy nhân hậu.
- Cậu trời phù hộ cho cô, cô Mơrơghit ạ. – Anh thanh viên niên thở dài nó:
- Đến khuya, nếu có thể, ta sẽ dịt thuốc lá vào, Gaspa ạ.
Cô gái nói với anh và mặt cô lại méo xệch sắp khóc. Giờ nào cô cũng khóc một lúc, nhưng ngay sau đó cô lại đã phải hát dỗ hai đứa trẻ: vì hễ cô khóc, chúng cũng òa lên khóc theo.
- Chà, bụng tớ đói ghê! – Gã xigan buột miệng nói lúc ngồi xuống vệ đường cạnh những người khác – Trong đời, tớ chưa bao giờ chịu được một kỳ chay tịnh lớn như thế này.
Người đánh xe, cũng là một thanh viên nô lệ bị xiềng chân, nghe tiếng thờ dài của gã xigan cũng phải nhếch mép cười.
- Tớ đây cũng đói meo, - anh ta khinh bỉ liếc nhìn tụi Thổ và tiếp, - nhưng tối nay tớ sẽ nấu một món thịt rõ thật cay để chúng nó phải chừa hết lại cho ta.
- Thế cậu còn làm đầu bếp nữa cơ à?
Nghe tiếng “cậu”, người đánh xe nhíu lông mày lại nhưng sau đó anh vẫn trả lời:
- Chỉ buổi tối thôi. Ban ngày thì chúng nó tự đi cướp lấy cả bữa trưa nữa.
- Cầu cho mắt chúng mù lòa đi! Đến kỳ vũ hội, cầu cho chuột rút bắp chân chúng lại! Thế cậu phải hầu hạ chúng nó từ bao giờ?
- Đã ba hôm nay.
- Không có cách nào phới đi được à?
- Không, với tụi này thì đừng hòng. Đây, cậu cứ xem đôi ủng ở chân tớ thì khắc biết!
Anh nói và rút chân lên khỏi chỗ ngồi, những vòng xích to, nặng cũng xủng xoảng kéo lên theo.
- Nhưng nhỡ tối nay chúng không để cho cậu nấu nữa thì sao? – gã xigan tỏ vẻ lo lắng.
- Nhất định tớ sẽ nấu. Hôm qua tớ đã làm cho chúng nó bữa ngon đến nỗi ăn xong chúng nó vẫn còn liếm mép mãi như một lũ khuyển.
- Ước gì tớ cũng được liếm mép ngay lúc này rồi. Giá thỉnh thoảng không nói chuyện thì có lẽ tớ đã không còn biết cái mồm tớ nó ở đâu nữa.
- Trưa nay chúng nó vừa cướp được cả rượu vang nữa. Trong cái thùng bộng này này.
- Tụi Thổ nó không uống rượu vang đâu cậu ơi!
- Hễ đã ngửi thấy mùi rượu vang thì không một tên Thổ nào còn là Thổ nữa.[18]
- Thế thì hôm nay là ngày hội của tớ, - Gã xigan vui vẻ hẳn lên – tớ sẽ thổi cho chúng nó nghe một bài kèn hay đến nỗi chúng phải nhảy nhót lên cho mà xem.
Sau khi cầu nguyện, tên ionisa chột mắt không giục xe đi nữa. Từ trên đỉnh núi đã trông thấy thành phố bị hòang hôn bao phủ trong thung lũng. Đó là tổ ẩm của người Hung. Trong đó có ong bò vẽ [19].
Bọn Thổ bàn bạc với nhau một lúc, sau đó tên ioinsa chột mắt bảo người đánh xe:
- Đi theo tao! Vào rừng!
Bọn chúng đưa đoàn xe đi sâu vào rừng đến mười lăm phút.
Trong lúc đó mặt trời đã khuất hẳn sau rặng cây. Hoàng hôn buông trùm rừng núi. Trên bầu trời quang đãng, ngôi sao đầu tiên đã bắt đầu nhấp nháy.
Bọn Thổ thả ngựa ra một bãi cỏ giữa rừng. Tên ionisa cởi tay cho ông mục sư và quát:
- Nhóm lửa lên!
- Con biết làm việc ấy giỏi hơn ạ! – Gã xigan xun xoe – Thưa ông lớn Thổ, con xin hôn tay hôn chân ngài, hãy để con nhóm lửa cho, đó là nghề của con đấy ạ.
- Câm! – Tên Thổ nạt gã.
Bọn chúng gọi cả ba người đàn bà nô lệ xuống xe để họ giúp việc nhóm lửa. Mấy người đàn bà cùng ông mục sư nhặt lá khô và cành khó quanh những gốc cây gần đấy, rồi với thép và đá lửa, chẳng mấy chốc họ đã nhóm được lửa lên.
Người đánh xe cũng được chùng tháo xích, cho ra khỏi chỗ ngồi.
- Làm món ăn như hôm qua ấy, nghe không! – Tên Thổ chột ra lệnh.
Người đánh xe đổ nước vào một cái chảo gang to rồi đặt lên ngọn lửa và, sau khi ông mục sư cùng gã xigan đã nhanh chóng lột da một con cừu được, anh thành thạo thái nhỏ thịt vào chảo. Anh thái cả hành đỏ rắc trùm kín thịt, còn ớt thì ê hề. Giá như có, chắc hẳn anh còn xắt cả khoai tây vào chảo xúp ấy nữa cơ đấy, nhưng thời đó khoai tây còn là một sản vật hiếm hơn cả dứa. Trên các bàn ăn sang trọng cũng chỉ những dịp đặc biệt người ta mới nhấm nháp khoai tây, ngay cả tên gọi cũng chưa có một cách hẳn hoi. Người ta đặt tên cho nó là táo đất hoặc táo Mỹ[20].
Bọn lính Thổ nằm dài ra nghỉ ngơi quanh đống lửa. Ngay lúc mới đến, chúng đã sắp xếp các cỗ xe thành một vòng tròn chắn bên ngoài như một hàng rào. Ngựa nghẽo được tháo yên cương, đứng bên ngoài dãy xe.
Những người nô lệ bị lùa cả vào bên trong cái hàng rào ấy thành một cụm. Tất cả bọn họ có mười sáu người: chín đàn ông, năm phụ nữ và hai trẻ con. Những con người khốn khổ đã rục cả xuống cỏ, vài người trong bọn lập tứ ngủ thiếp đi ngay.
Cô bé Vixo cũng đã ngủ trên đống vải niệm. Gối cái đầu bé bỏng vào lòng Morơghit, em đang mơ màng, tay phải vẫn ôm khư khư như con búp bê xấu xí trên lồng ngực nhỏ. Gergơ nằm sấp bên cạnh.
Tên ionisa chột thỉnh thoảng lại liếc nhìn các em. Hắn để cho các em với cô gái ở lại trên nóc xe.
Ngọn lửa đã bốc cao. Bọn Thổ làm thịt một con cừu đực, mổ gà, mổ ngỗng. Những người nô lệ làm việc tíu tít để soạn thức ăn. Chỉ một lúc sau, thịt đã sôi xèo xèo trong nồi bung và trong chảo, mấy đùi cừu đã chín vàng trên xiên nướng. Mùi thức ăn thơm phức tỏa ra lẫn vào không khí của rừng cây làm người ta thèm rỏ dãi.
Chưa đầy một giờ sau, anh chàng đánh xe Ondra bị một cái tát choáng người, khiến cái mũ trên đầu bắn ra xa đến hai sải.
- Hỏa ngục thiêu sống mày đi! Mày đã tống bao nhiêu ớt vào món thịt này thế hử?
Tên ionisa chột gầm lên, hắn vừa nhắm tít mắt lại vừa hà hà cái lưỡi bị cay như xé.
Món thịt nêm ớt thế là chuyển sang cho những người nô lệ, làm gã xigan hớn hở cả mặt mày:
- Ối chao chao, của này thì hai cái tát như thế cũng vẫn đáng.
Bọn Thổ đành chia nhau mấy cái đùi cừu và đùi ngỗng nướng. Chúng đóng vòi vào các thùng rượu. Bọn Thổ uống rượu vang Hung bằng các bình đất hoặc cốc bằng sừng dê rừng.
Gã xigan đứng dậy lấy tay quệt mồm, sau đó chùi bàn tay vào quần, rồi xun xoe:
- Thưa tôn ông Yômôsac, con xin hôn tay hôn chân ngài, con xin thổi hầu cái ngài một cái bài kèn để làm vui lòng cái vị khách quyền quý.
Tên chột được gọi là Yômôsac – thực ra là Yumusăc quay ngoắt lại, giễu cợt nheo mắt:
- Để máy gáy tụi Hung đến đây phải không?
Gã xigan chưng hửng vội lủi trở về chỗ mọi người đang ăn, và lại vục thìa gỗ vào chảo, vừa ăn gã vừa lầu bầu:
- Cầu cho người ta treo cổ mày lên vào cái lúc vận mày đang đỏ nhất.
Bọn Thổ ngốn ngấu ăn và tợp rượu. Chúng chia của và đổi chác ngay giữa bữa ăn. Một tên akinji lầm lì, ria dài lòng thòng, lấy từ trên xe xuống một cái tủ sắt nhỏ. Bọn chúng cạy nắp. Tiền vàng, nhẫn, vòng khuyên đổ tràn cả ra ngoài.
Chúng chia nhau bên cạnh đống lửa. Chúng ngắm nghía viên ngọc nạm của cái nhẫn này hoặc của đôi hoa tai kia.
Gergơ đã buồn ngủ, nhưng em không thể nào rời mắt khỏi tên Thổ của em được. Cái đầu trọc lông lốc toàn da là da ấy có một bộ mắt gớm giếc, kỳ dị. Khi hắn bỏ mũ ra, cái phần nhẵn thín của đầu liền vào làm một với cái mặt trơn tuột. Và hắn cười mới quái dị làm sao! Cả đến cái lợi cũng nhe ra khi hắn cười.
Khi bọn hắn chia tiền, hắn lôi dưới áo ra một cái hầu bao dày cộm bằng da nai. Cái hầu bao đã căng phồng những tiền. Hắn đứng dậy đi ra sau mấy cái xe hàng, nơi những con ngựa đang gặm cỏ.
Gergơ vẫn theo dõi hắn. Em thấy hắn kéo cái sạp gỗ ra và nhét tiền vào đây yên ngựa qua một kẽ nhỏ.
Những người nô lệ vẫn còn ăn. Đối với họ ớt không phải là vị lạ. Anh chàng đánh xe Ondrats đã gần như vui vẻ trở lại, đang xơi món thịt.
- Sao con không ăn? – Ông mục sư hỏi Gaspa.
Anh thanh niên ngồi ở ngoài cùng và cứ lầm lì nhìn thẳng trước mặt.
- Không cần. -> Anh cau có trả lời.
Một lát sau anh nhìn sang ông mục sư:
- Thưa cha đáng kính, nếu cha đã ăn xong, con có một câu chuyện nhỏ muốn nói, nếu cha vui lòng nghe.
Mục sư bỏ thìa gỗ xuống và đến ngồi cạnh sát bên cạnh Gaspa:
- Con cần gì thế, hở con?
Anh thanh niên liếc nhìn ra phía trước, trả lời:
- Con muốn xin cha hãy rửa tội cho con.
- Để làm gì thế?
- Con muốn được trong sạch để đi sang thế giới khác.
- Con còn xa thế giới ấy lắm, Gaspa.
- Cũng không còn xa đến như cha tưởng nữa đâu.
Anh tối sầm mặt nhìn về phía bọn Thổ rồi tiếp:
- Khi nào những người nô lệ ăn xong, tên Thổ bắt con sẽ lại đây. Hắn lại đây để khóa tay chúng ta vào xích. Lúc đó con sẽ giết hắn.
- Đừng làm thế con ạ.
- Nhất định con sẽ giết hắn, thưa cha đáng kính. Khi nào hắn lại đây, con sẽ giật lấy một con dao và thọc cho hắn một nhát! Vào chính giữa bụng cái đồ chó ấy! Vậy xin cha hãy rửa tội cho con đi.
Mục sư sững sờ nhìn người thanh niên, sau đó ông ôn tồn nói:
- Con ơi, ta không rửa tội cho con đâu, bởi vì ta là tín đồ dòng Lutherăng[21].
- Dòng Lutherăng à?
- Tên nó là Lutherăng con ạ, nhưng thực ra nó là giáo phái chân chính từ xa, là đạo giáo mà Giêsu ở Nađarét[22] đã truyền lại cho chúng ta. Chúng ta không rửa tội, chúng ta chỉ xưng tội. Chúng ta tin rằng Chúa Trời nhìn thấu tâm hồn chúng ta. Nhưng con uổng phí thân con làm gì? Con cũng thấy đấy, chúng ta vẫn đang ngồi trên đất Hung kia mà, và thành Pêts ở kia, ngay dưới chân ta. Quân ta đã nhiều lần giải thoát cho những nô lệ Hung.
- Nhưng nhỡ lần này họ không cứu chúng ta?
- Lòng lành của Chúa có thể đeo chân ta trên khắp các nẻo đường. Đã có người, mà không phải là một, gặp may mắn trong cuộc đời ở ngay trên đất Thổ. Anh ta đi tới đó trong xiềng xích nhưng lại từ đó trở về trong cảnh giàu sang. Cuối cùng anh ta cũng về được nhà. Thôi, lại đây ăn đi con!
Anh thanh niên vẫn lẩm bẩm nhìn bọn Thổ và lẩm bẩm giữa hai hàm răng:
- Cha đời phúc phận con chó ấy!
Mục sư lắc đầu:
- Nếu con không nghe lời ta thì gọi ta đến làm gì?
Cuối cùng anh thanh niên cũng đứng dậy, lê chân đến chỗ những người khác.
Phần lớn những người bị bắt đều còn trẻ và khỏe mạnh. Giữa đám phụ nữ có cả một mụ xigan mắt lúng la lúng liếng. Tay chân của mụ đều xoa thuốc đỏ tươi theo đúng tục lệ xigan, cả tóc mụ cũng vậy.
Chốc chốc mụ lại hất đầu ra đằng sau cho tóc khỏi rủ vào mắt. Mụ thường hay nói chuyện bằng tiếng xigan với Sakơdi, gã xigan mặt rỗ.
- Mụ ta là vợ cậu đấy à? – Người đánh xe hỏi gã.
- Không phải đâu. Cho tới nay chưa một lần nào mụ ta là vợ tớ cả.
- Thế chúng mày nói chuyện gì bằng tiếng xigan đấy?
- Mụ ấy bảo là nếu cho mụ đến bên đống lửa thì mụ sẽ nói cho ta biết chuyện tương lại.
- Chuyện tương lai nằm trong tay Chúa. – Mực sư nói với họ - Các con đừng mạo danh Chúa làm chuyện nực cười.
Trong số đàn ông có hai người đã luống tuổi. Một người không nói không rằng, dáng dấp có vẻ quyền quý, tuổi đã hơi già, râu xám, bộ ria dài cụp xuống. Cứ theo nước da nâu mà đoán thì cũng có thể là quan, cũng có thể là xigan. Ai hỏi han gì y cũng cứ câm như hến. mặt y có một vết sẹo đỏ bầm chạy dài từ đuôi tai trái đến cuối má. Người y tỏa ra xung quanh một thứ mùi là lạ, giống như mùi khét của thuốc súng. Còn người kia là một nông phu mặt to bành bạch, bị xích liền cùng với ông mục sư, bác ta cứ luôn luôn nhìn mọi vật với đôi mắt mở to như ngạc nhiên và cứ gục đầu xuống như thể đầu bác ta nặng hơn đầu mọi người khác nhiều lắm. Kể ra đầu bác ta cũng khi to thật.
Những người bị bắt vừa ăn món thịt nêm ớt vừa khe khẽ trò chuyện – Làm thế nào mà thoát khỏi tay bọn Thổ được?
- Chả làm thế nào được đâu! – Bác nông dân to đầu bỗng lên tiếng, bác bỏ thìa xuống, lấy ống tay áo quệt mồm rồi nói tiếp - Tôi đã từng biết cảnh này. Tôi đã trải qua một lần bị bắt làm nô lệ. Đời tôi đã mất mười năm vào đấy.
- Cuối cùng bọn chúng tha cho bác về ư?
- Đời nào chúng lại tha.
- Thế bác làm thế nào mà thoát được?
- Làm sao ấy à? Boóng thôi! Có lần bọn chúng đưa tôi đến Bengrat[23] và tôi đã trốn khỏi nơi đó bằng cách bơi qua sông Đuno[24].
- Cuộc đời nô lệ ấy nó ra làm sao hở bác? – Một thanh niên trạc mười sáu tuổi, mắt đùng đục, cất tiếng hỏi.
- Chắc chắn là không quá nhiều gà vịt bị chết oan vì tớ đâu, chú em ạ.
- Bác có được hầu hạ chỗ nhà giàu có không? – Một giọng từ dưới gầm xe hỏi vọng ra.
- Tôi đã ở ngay chỗ xuntan[25].
- Ở chỗ xuntan cơ à? Bác làm nghề gì ở đấy?
- Tôi làm chức chánh tảo thanh.
- Chánh tảo thanh? Thế bác tảo thanh là cái gì?
- Tà ngựa của hòang đế.
Cả bọn phì cười, nhưng rồi ai nấy lại buồn rũ ra như cũ.
- Chúng nó đối đãi với đàn bà ra sao hở hác? – một thiếu phụ tóc đen hỏi.
Bác nông dân nhún vai:
- Ai còn trẻ thì đến đấy vẫn làm vợ thôi, chỉ có cái làm vợ Thổ. Nhưng phần đông chỉ làm con hầu, đầy tớ.
- Chúng nó đánh cả đàn bà, phải thế không hở bác?
- Cùng tùy người.
Mục sư đứng dậy, cất tiếng hỏi:
- Như vậy nghĩa là bác đã biết con đường này?
- Ước gì tôi chưa hề được biết.
Mục sư đặt một chân lên đầu trục bánh xe, trong ánh lửa rọi đèn, ông mở ta mắt nhìn vào cái vòng sắt nhẵn và rộng bản khóa trên ống chân. Trên vòng sắt có những dấu vạch. Chắc hẳn là ghi chép của một người nô lệ nào đó: biết bao nỗi tủi nục của một chặng đường dài gói ghém trong vài chục chữ.
Mục sư đọc những chữ ghi trên vòng sắt:
- Từ Nanđôphehêva [26] đến Hiđaclik một ngày. Sau đó là Baratima.
- Không phải đâu, - bác nông dân đáp – cho tới đó phải qua năm trạm nữa.
- À, thì ra năm chữ thập này đánh dấu năm trạm đây. Thế là năm trạm. Sau đó đến Alốpnica.
Bác nông dân gật đầu.
- Rồi đến Nisơ.
- Đó là nước Ratxơ[27]. – Bác nông dân thở dài, ôm lấy đầu – Từ đấy trở đi người ta bắt đầu gieo cháo đồng[28].
- Cháo đồng? – Một người đàn bà ngạc nhiên hỏi.
Bác nông dân không trả lời.
Ông mục sư tiếp tục đọc những chữ vạch trên vòng sắt.
- Sau đó đến Kuri – Kemde.
- Ở đáy nhiều bọ cạp lắm.
- Sakơvi.
- Ở đó có ba nhà xay. Cầu trời làm cho cạn hết nước của nó đi[29].
- Caribrôt.
- Ở đó chúng đã đánh tôi tàn tệ, hộc cả máu mồm máu mũi. Đầu tôi cũng bị rách bươm.
- Tại sao thế? – Năm, sáu người cùng cất tiếng hỏi một lúc.
- Tại tôi đã bẻ gãy cùm ở chân, thế đấy!
- Đragôman. – Mục sư lại đọc tiếp.
- Đó đã là nước Bungari. Từ đó chúng tôi đã đi đến Xôphia. Ở đó có rất nhiều tháp chuông. Đó là một thành phố lớn.
Mục sư nhấp nước bọt vào ngón tay, xát lên cùm:
- Ichtiman[30].
- Một cô gái đã bị chết ở đó, tội nghiệp cho cô ta.
- Kapiđerơvan.[31]
- Ở đó có một ngọn núi cao tuyết phủ quanh năm. Mùa hè tuyết vẫn phủ trắng xóa trên đỉnh núi.
- Pađarơki hay là cái quái gì đây?
- Đúng rồi, Pôdarơki, cầu cho đất sụt nuốt chửng nó đi! Ở đó chúng tôi phải ngủ trong giàn cừu. Chuột chạy từng đàn trên người chúng tôi.
Philipe.
- Đó cũng là một thành phố. Sập mẹ nó xuống! Sập ban đêm ấy, khi tất cả chúng nó đang ngủ yên trong nhà.
- Kalađan.
Ở đó chúng đã bán mất người bạn thân thiết nhất của tôi. Cầu cho ôn dịch bắt hết chúng nó đi!
- Uđônkôva.
- Ơ đó có nhiều vườn cây ăn quả. Một chỗ tốt đấy. Có một bà đã cho chúng tôi hai rổ táo.
- Hamanli.
- Ở đó một ông quan Thổ đã mua anh chàng Đavitko Opton, mặc dù ông ta đã mặc cả định mua tôi trước.
- Muxtapha – basa - kơpri.
- Ở đấy có một cái cầu đá to lắm. Gẫy mẹ nó đi!
- Đrinapôi.
- Một thành phố lớn và hôi thối. Ở đó tôi đã thấy một con voi thật.
Những người nô lệ ngạc nhiên hỏi:
- Nó là cái gì?
- Nó là một con vật bốn chân, to như cái xe chất đầy hàng này này. Có lẽ nó còn to hơn cả cái xe này nữa cơ. Da nó trọc trơn trọc trụi như con trâu. Cái mũi của nó thì dài dài mà lại ngoe nguẩy được như đuôi các con vật khác ấy, khi nào ruồi hành hạ nó quá thì nó đập phành phạch vào hai bên sườn.
- Kôrơli.
- Từ đó trở đi đã trông thấy biển.
Đám người nô lệ thở dài. Một vài người úp mặt vào lòng bàn tay, một số khác cứ nhìn trân trân ra phía trước với những cặp mắt đẫm ướt.
Người mặt sẹo nặc mùi thuốc súng, lên tiếng nói khe khẽ bằng một giọng rè:
- Đồng bào ơi, nếu các bạn cởi trói được cho ta thì ta sẽ giải thoát tất cả các bạn khỏi tay bọn Thổ.
Đám người nô lệ đều ngoảnh nhìn y.
Y nhìn về phía bọn Thổ rồi tiếp, giọng còn khẽ hơn.
- Ta là một vị tướng đây, ta có hai thành trì, có quân lính và cả tiền bạc nữa. Ta chỉ yêu cầu một điều là khi ta đã đến ngồi ở chỗ cái xe hàng thứ năm đằng kia kìa, thì ở đây các bạn hãy giả vờ gây xích mích cãi nhau làm cho om sòm lên.
Bác nông dân đã trải đời nô lệ nhún vai nói:
- Chúng nó sẽ đánh cả chúng tôi và cả bác.
- Tên ông là gì hở ông anh? – ông mục sư hỏi y.
- Tên ta là Nô lệ. – Người mặt sẹo bực dọc đáp lại.
Và y đứng dậy, khập khiễng bước vài bước về phía bọn Thổ rồi lại ngồi xuống, lim dim mắt quan sát những bộ mặt được ánh lửa soi tỏ.
- Tên này coi bộ chẳng phải tướng tá gì đâu. – Một người nô lệ khoát tay nhận xét – Hắn chỉ là một thằng xigan vớ vẩn nào đó thôi, có khi lại chính là một tên đao phủ cũng nên.
Gergơ rùng mình khi nghe tiếng đao phủ. Tia mãi, em lập tức dán vào tên ấy. Với trí óc trẻ thơ, em yên trí rằng đó là một tên xigan đao phủ chính cống.
- Ước gì có một mớ đoạn thiết thảo nhỉ. – Anh chàng Gaspa bị trẩy chân thở dài bên cạnh bánh xe.
Đám người nô lệ vẫn ngồi trầm ngâm, lặng lẽ và buồn bã – Gaspa lại tiếp:
- Đoạn thiết thảo là thứ cỏ làm cho cùm xích gẫy vụn ra được.
Mấy tên ionisa bỗng nhộn hẳn lên, chúng kêu to và mừng rỡ vây quanh một thùng rượu. Chúng vừa phát hiện ra có rượu axu[32] trong đó. Chúng lăn thùng rượu lại gần đống lửa rồi vừa uống vừa chép miệng, tắc lưỡi. Chúng tới tấp dốc rượu vào cổ họng.
- Nước Hung muôn năm! – Yumuséc the thé la lên.
Hắn nâng cốc rượu chia về phía đám người nô lệ và nói to:
- Nước Hung muôn năm, để cho người Thổ được uống rượu chót đời mãn kiếp.
Lợi dụng cơ hội đó, tên mặt sẹo mới lúc nãy còn tự xưng là Nô lệ liền hỏi:
- Do đâu mà ông biết tiếng Hung?
- Việc gì đến mi? – Yumusác cười, trả lời trịch thượng.
Lúc bấy giờ bầu trời đã đầy sao và trăng lên sáng vằng vặc. Những con cánh cam, bọ dừa bay vù vù quanh những lùm cây ướt đẫm sương đêm.
Những người nô lệ đã nằm lăn lóc cả trên bãi cỏ trong giấc mơ họ tiếp tục đi tìm con đường giải phóng. Ông mục sư cũng đã ngủ, tay gối dưới đầu. Chắc hẳn ông quen ngủ trên gối gỗ. Gã xigan nằm ngửa ra mà ngủ hai tay cài vào nhau trên ngựa, hai chân dạng ra như chữ Y. Tất cả đều đã ngủ say. Chỉ riêng anh chàng Gaspa còn thở dài thở nhắn và than vãn bằng một giọng cũng đã ngái ngủ:
- Ta không bao giờ còn được thấy thành Eghe xinh đẹp nữa!
Gergơ cũng đã mơ màng, gò má nhỏ sạm nắng đặt trong lòng bàn tay, đầu hơi thấp xuống một tí, gối lên cái góc thôi ra ngoài của cái chăn bông.
Có lẽ em đã ngủ hẳn nếu cánh cửa nhỏ của lỗ tai em không tự động mở ra khi chợt nghe đến cái tên Xexey.
Giọng khàn khàn của tên xigan đao phủ đã nói lên cái tên đó và tên Thổ nhắc lại.
Chúng nó nói chuyện ngay bên cạnh cỗ xe.
- Ở chỗ Xexey, tôi biết chắc chắn là ở chỗ Xexey – tên xigan đao phủ nói.
- Châu báu của Đôjo?
- Tất cả châu báu của Đôjo. Tất nhiên là những thứ mà ông ta đem theo lúc đó.
- Những thứ gì?
- Những cái quả bằng vàng này, những cái cúp vàng này. Cả một cái khay lớn bằng vàng nữa. To như mặt trăng lúc mới mọc ấy. Rồi vòng đeo tay, chuyền đeo cổ, trăm cái đầu nạm kim cương và ngọc bích. Nghĩa là tất cả những gì vẫn thường là đồ tế nhuyễn trong các nhà quan. Nếu chúng nó đã đem một phần những thứ ấy đúc thành thỏi thì là lại tìm thấy vàng thỏi ở nhà lão.
- Ngay gần đây, dưới cánh rằng này à?
- Ngay đây thôi. Cũng vì thế mà lão lánh xa thời cuộc đấy.
- Hắn có cả vũ khí nữa chứ?
- Những thanh gươm nạm bạc tuyệt trần. Nhưng tôi dám nói là chỉ có độ dăm cái. Và những bộ cân đại. Có một cái rất nhẹ và đẹp tuyệt. Của chính vua Lojốt ngày xưa đấy. Trên trần nhà lão đầy ắp những của như thế. Trong buồng lão tôi biết có độ sáu cái hòm sắt. Trong ấy có thể đựng những đồ quý giá nhất.
- Xexey… Ta chưa hề nghe đến cái tên ấy bao giờ.
- Bởi vì lão không đi trận đi mạc gì nữa rồi. Lão vốn là quan hộ chính của Đôjo.
Tên Thổ lắc đầu:
- Bọn ta ít người quá. Ta phải chờ ở đây đến tối mai, cần đợi thêm một toán đông đông nữa.
- Cần gì phải đông quá như thế? Đông quá thì lại phải chia ra nhiều phần. Lão ta đã già rồi mà chân tay đều bằng gỗ cả.
- Nhưng còn lính tráng của hắn nữa chứ?
- Làm gì có. Chỉ toàn bọn nông phu quen gặt hái.
- Mi đến đó lần sau cùng vào lúc nào?
- Dễ đã một năm nay.
- Một năm, khá lâu rồi đấy! Ta đi đông người vẫn tốt hơn. Nếu sự thật quả như mi nói, ta sẽ tha cho, hơn nữa ta còn thưởng cho mi nữa. Nhưng nếu không dùng, ta sẽ treo cổ mi lên trước cổng nhà Xexey.
Tên Thổ nói rồi trở về bên đống lửa, và chắc chắn là nó kể lại câu chuyện của tên nô lệ, vì bọn lính Thổ nghe nó nói với một vẻ rất chăm chú.
Đầu Gergơ nặng chình chịch. Chú ngủ thiếp đi nhưng lại mơ thấy toàn những chuyện khủng khiếp. Cuối cùng, chú mơ thấy bọn Thổ gươm tuốt trần đang chạy rầm rập trong làng, bọn chúng bắt mẹ chú và đâm dao vào ngực mẹ.
Chú rên lên và choàng tỉnh dậy.
Đêm còn tối nhưng tiếng chim đã ríu rít khắp nơi. Hàng trăm con họa mi! Hàng ngàn con họa mi! Hình như tất cả họa mi của thế gian đều bay về cánh rừng này để hòa những khúc tuyệt diệu vào giấc mơ của đám người nô lệ.
Gergơ nhìn lên trời. Những đám mây rải rác tản mạn. Từng chỗ, từng chỗ một ngôi sao le lói chiếu qua. Ở một chỗ, cái liềm bạc của ông trăng treo thông qua máy.
Tro đã phủ kín đống lửa dưới gốc cây. Chỉ ở giữa còn hồng lên một cục than bằng nắm tay. Mấy tên ionisa nằm ngổn ngang trên cỏ, quanh đống lửa.
Yumusac cũng nằm ở đấy! Dưới đầu hắn có cái gì như tay nải, bên cạnh là cái cúp hoặc cái bình đất hay cái mũ gì đó – trong bóng tối không tài nào trông rõ được.
Phải về nhà ngay, đó là ý nghĩ đầu tiên của Gergơ.
Không thể được, đó là ý nghĩ tiếp theo.
Chú nhìn quanh. Toàn người ngủ. Ước gì chú có thể lẻn qua người họ nhỉ. Mà cần phải lẻn qua chứ còn gì nữa, ngoài ra các em không còn cách nào khác để trở về làng được.
Bé Êvo ngủ bên cạnh. Chú lay nhẹ và thì thào vào tai bé:
- Vixusko!
Êvo mở mắt ra.
- Ta về nhà đi – Gergơ thầm thì.
Môi của Êvo cong lên trong một thoáng, nhưng bé lập tức thôi ngay và ngồi dậy. Bé ngơ ngác nhìn Gergơ như một chú mèo con nhìn khách lạ. Rồi cái nhìn của bé chuyển sang con búp bê nằm trong lòng, bé cầm lên và lại ngắm nó với cái nhìn của mèo con.
- Vixusko! Vixusko! Đi đi. – Gergơ giục – Nhưng khe khẽ đấy nhé.
Chú trèo xuống phía bên ngoài thành xe và đỡ cả cô bé xuống.
Một tên axap ngồi ngay bên cạnh xe, cây dáo ôm trong lòng. Đầu hắn tựa lên đầu trục bánh xe, cái mũ rơi xuống bên cạnh. Hắn ngủ say đến nỗi tất cả đám người cũng có thể trốn đi khỏi tay hắn. Chỉ riêng có cái xe mà hắn tựa đầu và trục bánh là không thể trốn đi được mà thôi.
Gergơ nắm lấy tay bé Vixo và kéo theo mình.
- Con Xám nữa, - em lúng búng – con Xám cũng phải đem về nhà.
Nhưng con Xám bị buộc liền vào với con ngựa nhỏ giống Thổ. Cái thắt nút thì Gergow còn loay hoay mở được, nhưng việc tháo hai cái dây hãm thì đã vượt quá vốn khoa học của chú.
- Quỷ sứ mới biết được cái này! – Chú lầu bầu với cái nút buộc.
Chú tức mình, vừa mếu máo vừa gãi đầu.
Rồi chú lại thử đi thử lại. Chú dùng cả răng nữa nhưng cũng chẳng làm gì nổi cái nút. Cuối cùng chú cứ cầm cương con Xám dắt đi.
Cạnh đàn ngựa cũng có một tên lính gác, nhưng hắn cũng ngủ. Hắn ngủ ngồi, lưng dựa vào một thân cây cong, mồm há hốc ra mà ngáy. Tí nữa thì Gergơ dắt hai con ngựa dẫm lên người hắn.
Tiếng bước chân của hai con ngựa chìm đi trong cỏ. Chúng đi như những cái bóng. Bên trong cũng như bên ngoài các cỗ xe, chẳng một ai thức giấc.
Đến một thân cây vừa tầm, Gergơ dừng con Xám lại và trèo lên lưng nó.
- Cô cũng ngồi lên chứ. – Chú giục cô bé.
Bé Êvo không lên được, thân cây đối với em hơi cao quá. Gergơ lại phải xuống ngựa. Trước tiên chú giúp bé Êvo lên thân cây, sau đó lại giúp bé từ thân cây lên lưng ngựa.
Các em ngồi cạnh nhau trên lưng con Xám, Gergơ ngồi đằng trước, Êvo ngồi sau. Cô bé vẫn ôm khư khư con búp bê váy đỏ. Các em không hề nghĩ đến chuyện để cô bé ngồi vào yên con ngựa kia. Lẽ ra em có thể ngồi được, vì đó là một cái yên có bành cao khiến em có thể dựa rất vững vàng. Nhưng con ngựa ấy có phải là của các em đâu! Êvixo bám vào vái chú bé, chú giật cương và con Xám cất bước ra khỏi rừng, dắt theo mình cả con ngựa Thổ.
Chẳng mấy chốc các em đã ra đến đường cái. Từ đây con Xám đã thuộc đường về. Nó bước đi nặng trĩu và ngái ngủ.
Đường đi vẫn đang tối. Trăng chỉ còn chiếu lờ mờ. Cây cối hai bên đường nom như những tên khổng lồ đen đủi. Gergơ không sợ chúng. Đó toàn là cây cối Hungari cả.
Trong nhà Xexey đêm ấy không ai ngủ được. Mọi người đi tìm bọn trẻ đến tận khuya và định đến mờ sáng hôm sau sẽ mò theo dọc suối. Chỉ các chiến sĩ ngả lưng một chút.
Giáo sĩ Balin ở lại với gia đình Xexey và cố khuyên giải đôi vợ chồng không tài nào an ủi được. Bà vợ gần như hóa rồ, bà kêu khóc cho đến lúc ngất lịm đi:
- Ôi, của quý của tôi, niềm vui của tôi, con chim độc nhất của tôi!...
Còn ông già chân gỗ, trước những lời an ủi của ông giáo sĩ, chỉ lắc đầu và cay đắng kêu lên:
- Làm gì có Chúa đâu!
- Có đấy.
- Không có! – Xexey đập bàn.
- Có!
- Không có!
- Cái gì Chúa đã ban cho ta thì Chúa cũng có thể lấy đi, nhưng cái gì Chúa lấy đi, Chúa cũng có thể trả lại.
Từ khóe mắt của con người già nua tàn phế, nước mắt ứa ra.
- Nếu Chúa có lòng cho thì Người còn lấy đi làm gì nữa!
Mãi đến gần sáng, giáo sĩ mới để lão ở lại một mình.
Giáo sĩ vừa bước ra khỏi cửa, người hành bộc đã nhổm dậy, khỏi tấm chiếu trải ngoài hiên.
- Thưa cha đáng kính. – Y nói khe khẽ.
- Anh muốn gì đấy, hở người anh em?
- Chúng nó không chết đuối đâu cha ạ.
- Thế thì chúng nó ở đâu?
- Quân Thổ đã bắt chúng nó đi đấy.
Giáo sĩ suýt ngã vào tường.
- Làm sao anh biết điều đó?
- Khi đi tìm ở bờ suối, con thấy dấu chân của lính Thổ trên vạt đất mà lợn rừng đã dũi lên.
- Dấu chân lính Thổ?
- Vết giày không có đế gót. Người Hung ta không đi giày như thế.
- Ngộ đó là dấu hài sảo thì sao?
- Hài sảo thì đã không có cựa. Đúng là dấu chân lính Thổ rồi. Với lại có cả vết chân của ngựa Thổ ở đó nữa. Chắc cha cũng đã biết móng ngựa Thổ như nào rồi?
- Tại sao anh không nói ngay lúc ấy?
- Con cho là không nên nói. Ai biết được tên Thổ đã đem chúng đi đằng nào? Nếu con nói thì cả làng này sẽ chạy lung tung đi mất. Mà nào có lợi ích gì đâu? Bọn lính Thổ thì đông mà đứa nào cũng kè kè gươm dáo cả.
Giáo sĩ giương hai mắt trừng trừng, đi đi lại lại. Có lần ông đã bước đến bên cửa, nhưng rồi kịp thời dừng lại trước khi đặt tay lên quả đấm. Và ông lại quay lại chỗ người hành bộc:
- Chúng ta có thể làm gì bây giờ?
Người hành bộc nhún vai:
- Cha hãy làm như con: im lặng!
- Kinh khủng quá! Như thế thì kinh khủng quá!
- Hiện nay thì tụi lính Thổ đang kéo đi trên khắp các ngả đường. Dân làng nếu đi tìm thì đi theo hướng nào bây giờ? Về phía mặt trời mọc ư? Hay là về phía mặt trời lặn? Mà có đi thì cũng chỉ tổ đâm chém nhau và chết chóc mà thôi.
- Chẳng thà ông bà ấy cũng cùng chết theo còn hơn! – Giáo sĩ lắc đầu đau đớn.
- Có trời mới biết được chúng nó đã đi đến đâu khi ta bắt đầu đuổi theo chúng.
Giáo sĩ rầu rĩ đứng lại ngoài hiên. Đằng đông bầu trời đã chuyển sang màu hồng phơn phớt. Rạng đông.
- Bà con ơi! Dân làng ơi! Chúng nó đã về đây này!
Giáo sĩ dỏng tai nghe. Có việc gì thế nhỉ?
Ngay lập tức ông biết người kêu lên đó là người tuần đêm, và ông cũng đã nghe tiếng chân người chạy thình thịch.
- Chúng nó về rồi à? Ai về?
Tiếng thình thịch lại gần. Người ta đập rầm rầm ngoài cổng lớn.
- Mở cổng mau! Cho vào với! Bọn trẻ về rồi!
Giáo sĩ lao vào nhà:
- Có Chúa đấy Pête ạ! Dậy mau đi, có Chúa đấy!
Hai đứa trẻ đã chờ trước cổng. Các em ngồi trên con Xám, ngái ngủ và tái nhợt.
Cả làng đổ xô vào sân. Một vài mụ đàn bà đúng là chỉ kịp vơ quàng cái váy vào người; đám đàn ông không kịp đội mũ, người ta cứ thế chạy ra khỏi nhà khi nghe tiếng kêu. Mọi người tranh nhau chuyển chú bé Gergơ từ tay này sang tay nọ và cả Vixo nữa, người ta hôn tới tấp lên khắp người em.
- Con ngựa Thổ đẹp tuyệt này chúng mày lấy ở đâu ra thế?
- Cháu đem nó về đấy. – Gergơ rụt vai lại trả lời.
- Từ hôm nay trở đi Gergơ là con ta. – Xexey tuyên bố một cách trịnh trọng và đặt tay lên đầu chú bé.
Mẹ của chú đi chân đất, mặc một cái váy lót, phục xuống chân Xexey.
Đôbô tò mò ngắm chú bé nông dân vừa xem được ngựa của bọn Thổ về, đoạn chàng nói với Xexey:
- Bác ạ, bác cho tôi chú bé này, để tôi đem theo lên vùng trên. Tôi sẽ dạy dỗ chú ta thành một dũng sĩ.
Chàng bế Gergơ lên.
- Cháu có thích trở thành một trang dũng sĩ không nào?
- Cháu thích lắm. – Chú bé mỉm cười với đôi mắt sáng rực.
- Ngựa cháu đã có rồi nhé, còn gươm của cháu ta cũng sẽ đoạt lấy từ tay quân Thổ.
- Thế con ngựa ấy là của cháu à?
Mấy chiến sĩ của Đôbô đang thử cho con ngựa nòi Thổ chạy trên bãi cỏ ngoài vườn và luôn miệng khen lấy khen để.
- Dĩ nhiên là của cháu. Cháu đã thu được trong chiến đấu mà lại.
- Của con đấy. – Xexey cũng xác nhận – Với toàn bộ yên cương.
- Thế thì tiền cũng là của cháu! – Chú bé kiêu hãnh khoe.
- Tiền gì hở con?
- Tiền để trong yên ngựa ấy.
Người ta liền tháo cái yên đẹp đẽ có bành bọc nhung xuống. Lắc nghe có tiếng kêu rủng rẻng. Người ta đã tìm thấy cái nắp trượt trên cái bành và thế là một trận mưa vàng tuôn ra khỏi ngăn gỗ.
- Ái chà chà, mẹ kiếp. – Xexey trố cả mắt – Bây giờ thì không phải ta nhận cháu làm con ta nữa, mà là cháu hãy nhận ta làm bố nhé. Nhặt tiền lên đi mụ! – Lão nói với mẹ chú bé.
Bà mẹ lóa mắt nhìn những đồng tiền vàng lăn trên mặt đất. Bà cứ tưởng mình đang nằm mơ.
- Của con đấy ư? – Mụ vừa lắp bắp vừa ngửng lên, hết nhìn Xexey lại nhìn Đôbô và giáo sĩ. – Của con đấy ư?
- Của mụ đấy. – Giáo sĩ gật đầu – Trời đã ban cho con mụ đấy.
Mụ định rờ vạt áo nhưng sực nhớ ra là không mặc áo ngoài. Một người đưa cho mụ mượn cái mũ của mình. Mụ nhặt vàng lên với đôi bàn tay run lẩy bẩy. Chú bé nhìn mẹ nhặt tiền lên, bỗng chú lên tiếng:
- Cất kỹ đi mẹ ạ, ngày mai chúng nó sẽ đến đây.
- Ai đến?
- Bọn Thổ.
- Bọn Thổ?
Chú bé khẽ gật đầu và tiếp:
- Lúc tên Thổ nói chuyện với tên đao phủ, cháu nghe thấy thế.
- Tên đao phủ nào?
- Tên xigan đao phủ ấy mà.
- Vâng, cháu nghe chúng nó nói đến đây để cướp những đồ quý giá trong nhà ông lớn. – Và em chỉ vào Xexey.
- Cướp của quý ở nhà ta? – Xexey kêu lên, lùi lại. Chú bé chớp chớp mắt, nói tiếp:
- Chúng nó còn nói đến những cái hòm sắt nữa, chúng nó bảo có sáu cái.
- Chuyện này nghiêm trọng đấy. – Đôbô lên tiếng – Ta hãy vào trong phòng.
Chàng nói và cầm tay chú bé dắt vào nhà. Họ gạn hỏi cho hết những điều mà trí nhớ non nớt của chú đã ghi lại được.
- Tên mặt sẹo, da nâu à? Cái sẹo như thế nào?
- Vạch đỏ từ mép đến tai.
Đôbô bật dậy khỏi ghế:
- Môrê!
- Còn ai vào đây nữa! Thằng tướng cướp muốn thoát thân nên hắn dẫn bọn Thổ đến cướp phá nhà ta.
- Hắn thuộc đường đi lối lại ở đây ư?
- Hắn có tới đây một lần độ sáu năm về trước. Bọn hắn đã đảo lộn khắp cả nhà ta. Năm mươi tư phôrinh [33] của ta cũng bị bọn hắn cướp đi mất với cả cây thánh giá nho nhỏ bằng vàng của vợ ta và bảy con bò sữa.
Đôbô giận dữ nện gót cồm cộp khắp phòng.
- Bác có bao nhiêu người có thể cầm vũ khí?
- Có lẽ được độ bốn chục nếu ta kể tất cả mọi người.
- Ít quá! Trấn nào gần đây nhất hở bác? Pêts, có phải không? Nhưng có điều viên tướng đó lại là Xerentsên Gianốt, là phe đảng của Xopôio, kẻ thù của ta.
- Chúng ta phải chạy trốn đi thôi. – Xexey lắc đầu – Tản vào rừng, ai biết đường nào chạy đường nấy.
- Cả làng không thể chạy hết được! Làm sao ta có thể bỏ làng lại đây chỉ vì một bầy Thổ! Lú lẫn quá, khi vấn đề là phải đánh lại bọn Thổ thì bất cứ thuộc phe đảng nào người Hung vẫn phải là người Hung chứ!
Rồi chàng bước ra ngoài và ra lệnh:
- Lên ngựa!
Chỉ đến lúc chính mình cũng đã ngồi trên yên, chàng mới nói nốt những điều còn lại:
- Bác Xexey ạ, tôi đi đến chỗ Xerentsên đây. Từ giờ cho đến lúc tôi về, các bác hãy chịu khó làm việc đi. Tất cả các mái nhà đều phải giội nước cho ướt sũng hết đi. Hãy góp nhặt dân làng lại và tập trung hết vào trong vườn này. Hãy chất đá vào bên trong cổng làm ụ cản, chất thêm cả thùng gỗ vào đấy nữa. Cả các bà cũng hãy cầm lấy liềm, hái, cuốc chim, đinh ba vào tay. Hai giờ nữa tôi sẽ trở lại.
Chàng ngước nhìn bầu trời đang rạng dần rồi cùng các chiến sĩ phóng ngựa đi.
Trang trại của Xexey chiếm một vùng rộng độ hai công mẫu, xung quanh có tường đá bao bọc. Nhưng tường đá chỉ cao ngót đầu người và nhiều chỗ đã sụt lở.
Ngay từ sáng sớm, cả làng đã dọn hết vào vườn. Dê và lợn chạy lung tung giữa các bao bị và những đống đồ gỗ; ngỗng kêu quang quác khắp nơi, vịt chạy lạch bạch nặng nề, còn bầy gà mái thì nhanh nhẹn lăng xăng. Một người đang mài gươm, đao và lưỡi hái bên cạnh giếng nước. Giáo sĩ đeo một thanh gươm rộng bản, đã han gỉ vào thắt lưng, lúc đến giữa sân ông rút ra múa mấy vòng rồi mãn ý tra lại vào vỏ.
Một tốp đàn bà nấu thức ăn trong những cái chảo lớn đặt trước nhà bếp.
Trên trần nhà Xexey có sáu thứ binh khí trông giống như những mũi tên bị chuột gặm. Lão phân phát cho những ông già từng chiến đấu với lão trong cuộc chiến tranh Đôjo.
Khoảng gần trưa thì Đôbô trở lại. Chàng chỉ mang theo về được độ ba chục lính mộ, nhưng dân làng vẫn reo mừng tiếp đón họ.
Đôbô đi vòng quanh vườn. Ở một vài chỗ chàng sai bắc thang, kê giàn hoặc xếp đá lại. Chàng cho lèn chặt hai cánh cổng. Sau đó chàng gọi những dân làng có vũ khí đến bên mình – độ khoảng dăm chục người – và chia họ ra thành từng tốp giữ quanh hàng rào. Chàng cùng mười tay súng giỏi chọn chỗ ở bên cạnh cổng, trên những giá gỗ kê thùng rượu thường ngày.
Chàng phái hai người lính kèn hiệu ra gác ở hai đầu làng, nhiệm vụ của họ là báo tin khi quân địch đến.
Họ không phải mất công chờ đến tối.
Khoảng độ ba giờ chiều, tiếng kèn hiệu vang lên đằng cổng làng phía đông và vài phút sau đã nghe tiếng vó ngựa của hai người lính kèn phi về.
Xexey nhìn quanh và hỏi:
- Đủ mặt mọi người ở đây rồi chứ?
Chỉ còn thiếu mỗi mình người mẹ của Gergơ. Mụ đàn bà nghèo khổ đâm loạn trí vì vàng. Mụ đang mải hì hục đào đất chôn vàng. Mụ không dám để ở chỗ Xexey vì sợ quân Thổ đến cướp mất. Cũng có thể là mụ đã đi vào rừng để giấu vàng.
- Đóng cửa lại! – Đôbô cắt đặt – Mang thêm bao đất, dầm gỗ và đá nữa lại đây. Chỉ chừa một kẽ hở đủ cho một kỵ mã lọt vào thôi.
Hai người lính kèn đã về đến nơi.
- Giặc đã đến. – Một người vội vã kêu lên từ ngoài xa.
- Nhiều không? – Đôbô hỏi.
- Chúng tôi chỉ nhìn thấy tốp đi đầu.
- Thế thì hãy quay lại ngay! – Đôbô giậm chân – Hãy nhìn kỹ xem giặc đến có bao nhiêu đứa! Đến khi chúng đuổi, ngươi cũng vẫn còn đủ thì giờ để chạy kia mà.
Người lính mộ ở Pêts đỏ mặt, quay người phi ngựa trở lại.
- Các ngươi là lính tránh như thế cả đấy à? – Đôbô quay sang hỏi những người lính mộ ở Pêts.
- Đâu có. – Một người xấu hổ trả lời. – Cậu ấy mới nhập bọn với chúng tôi được mấy hôm nay. Trước đây cậu ấy vốn là thợ may. Cậu ấy chưa được thử thách trong chiến trận.
Vài phút sau chàng phó may lại phóng về, và đằng sau đám bụi do ngựa của cậu ta tung lên, có độ mười lăm tên akinji mũ đỏ.
- Cho nó vào. – Đôbô nói, rồi chàng vẫy những tay súng.
- Bắn!
Mười tay súng ngắm vào đích, những phát đạn nổ giòn tan. Trong bọn thổ, một tên ionisa lộn nhào xuống ngựa, rơi xuống rãnh bên đường. Những tên kia lùi cả lại. Chúng quay ngựa, phóng nước kiệu đi.
Chàng phó may tế ngựa qua cánh cổng vừa mở.
- Thế nào, bao nhiêu thằng cả thảy? – Đôbô mỉm cười với anh ta.
- Một ngàn – Chàng phó may thở hổn hển – Có lẽ còn nhiều hơn nữa.
Đôbô khoát tay nói:
- Nếu chúng chỉ có độ một trăm tên thôi thì hôm nay chúng ta còn có thể khiêu vũ nữa.
- Con nói một ngàn, thưa tướng quân.
- Ta hiểu lắm, nếu ngươi thấy một ngàn tức là chúng chỉ có một trăm tên thôi, có khi chẳng đến chừng ấy nữa cũng nên.
Khói cuộn lên phía cuối làng. Tụi akinji đã bắt đầu đốt phá.
Đôbô lắc đầu:
- Sao dân làng không tưới nước lên mái nhà?
- Cỏ và rơm cháy đấy mà. – Xexey khoát tay trả lời chàng. Lão quệt gươm lên mái cổng.
Vừa lúc đó tên ionisa chột mắt hiện ra trên đường. Hắn mặc áo giáp, gươm và súng ngắn giắt quanh thắt lưng. Bên trái hắn, cũng cưỡi ngựa, là tên Hung mặt sẹo mà Gergơ gọi là tên xigan đao phủ. Phía sau là một đội akinji, và hai bên đường cạnh dãy nhà là mấy tên axap chạy bộ, tay chúng cầm những bó đuốc đang cháy.
- Môrê Laxlô! – Đôbô giậm chân thét lớn – Đồ phản quốc! Đồ chó chết! Tội mi thật đáng xuống âm phủ.
Nghe vậy, tên ionisa chột mắt vội gò cương nhìn sang người phi ngựa bên cạnh hắn.
- Đừng tin nó – Môrê tái mặt kêu lên – nó chỉ làm cho ông rối trí đấy thôi.
Tên ionisa đã dừng ngựa lại để hợp với những tên đến sau. Đôbô kêu to:
- Ta biết cả mi nữa, Yumusac ạ! Té ra danh dự Thổ Nhĩ Kỳ là thế đấy! Là đi đánh cướp những người mà mới hôm qua mi cùng kề vai chiến đấu! Đồ tướng cướp! Mi cũng chỉ là đồ vô đạo chẳng khác gì tên đồng đảng của mi.
Tên ionisa ngửng lên nhìn chàng nhưng không đáp lại.
- Lại đây, cứ dẫn xác lại đây! – Đôbô lại hét – Bớ tên hề của Môrê, lời chào của ta đây!
Chàng nhắm vào hắn và nổ súng.
Yumusac gục người trên ngựa rồi ngã lộn nhào xuống đất. Những khẩu súng khác cũng nhất loạt nổ rền. Bọn Thổ cũng nổ súng đáp lại lời chào đó.
Môrê cúi xuống chỗ tên ionisa vừa ngã ngựa, nhưng chỉ để rút thanh gươm ra khỏi thắt lưng của hắn. Trong nháy mắt y đã dùng bản thanh gươm đập vào sườn con ngựa chiến. Con ngựa lồng lên phi nước đại – Môrê dùng hết sức kẹp chặt lấy mình ngựa.
- Vàng chạy kia kìa! – Đôbô kêu to với bọn Thổ.
Bọn chúng lặng người đi một phút, nhưng sau đó liền dồn dập phi ngựa đuổi theo Môrê, vừa đuổi vừa hò la tức tối.
Khi chúng phóng qua trước cổng. Đôbô đếm:
- Mười… hai mươi… bốn mươi… năm mươi…
Chàng chờ độ một phút rồi nhảy xuống khỏi bục cao và ra lệnh:
- Lên ngựa các cậu ơi! Bọn này chưa đến sáu chục thằng.
Họ nhảy phóc lên ngựa, Đôbô nói to với Xexey:
- Tên Thổ mặc áo giáp ấy, nếu còn sống thì giam nó lại! Còn dân làng hãy tự xử tụi đốt nhà đi!
Và chàng phóng ngựa ra khỏi cồng.
Trong làng có khoảng bốn năm chỗ khói bốc ngoằn ngoèo lên trời. Tất cả dân làng khoa lưỡi hái và cuốc chim xông ra khỏi cổng.
Xexey cùng giáo sĩ với hai nông phu chạy vội ra đường. Yumusac đã ngồi dậy được. Hắn chỉ bị ngất đi. Viên đạn của Đôbô đã quật móp áo giáp của hắn ở ngay chỗ phía trên quả tim.
- Trói hắn lại, - Xexey bảo gia nhân – Dẫn nó vào sân.
Tên Thổ không nói không rằng đưa tay ra chịu trói.
Xexey hỏi hắn:
- Mi có biết đánh cờ không?
Tên ionisa gật đầu ra hiệu có, nhưng lại nói: - Không [34]
Lúc họ đang trói tay hắn, tên Thổ thứ hai cũng ngóc đầu lên khỏi rãnh.
- Cậu trói thằng này nhé, - người nông phu trẻ nói với bạn – để tớ đập chết thằng kia.
- Khoan. – Xexey nói với anh ta rồi khập khiễng đi đến chỗ tên ionisa máu me bê bết và dí gươm vào ngực hắn hỏi:
- Mi có biết đánh cờ không?
- Kaplaman[35] – Tên Thổ yếu ớt trả lời.
- Đánh cờ!
- Cờ quạt, chiếu tướng! – Tên Thổ rên rỉ hỏi lại.
- Đúng, đúng! Môhamét[36] hãy giần cho mi một trận. Đem cả tên này vào sân, nó sẽ là nô lệ của ta!
Mãi đến chiều nhóm Đôbô mới trở về. Họ mang theo rất nhiều áo bào, giáp sắt, đủ các loại binh khí và cả một tên tù nhân nữa: Môrê Laxlô.
- Đào cho con sói này một cái hố kha khá vào nhé! – Đôbô vừa nhảy xuống ngựa vừa nói.
Xexey gần như nhảy cẫng lên vì thích thú, lão hỏi:
- Các cậu làm thế nào mà bắt được?
- Chính tụi akinji đã bắt hộ bọn tôi. Chúng nó cũng đủ khôn ngoan để không giao cho hắn cưỡi ngựa trẻ. Chúng nó đã dễ dàng đuổi kịp hắn. Tụi chúng đang trói hắn thì bọn tôi tới xử cho chúng một mẻ.
- Các cậu chém chết hết cả lũ chúng nó à?
- Tất cả những tên không kịp cao chạy xa bay.
- Bay đâu, mau đem mổ con bò tơ đẹp nhất của ta đi! – Xexey vui vẻ quát bảo gia nhân – Thui lên! Nhưng trước tiên hãy khá mang rượu vang ra đây đã nào! Lăn cái thùng ở cuối hầm lên đây.
- Hẵng khoan – Đôbô nói khi chàng nhìn theo tên Môrê đang được dẫn vào kho – Chú bé Georgơ ấy đâu rồi?
- Chú muốn gì nó? – Kia kìa, nó đang chơi với con gái của ta ở ngoài hiên. Người ta vừa cho biết mẹ nó đã bị bọn Thổ giết mất rồi.
- Chúng đã giết mụ ấy rồi ư?
- Phải. Một tên khốn nạn nào đó đã bắt gặp mụ trong lúc bọn hắn đi> đốt phá và đã đâm mụ chết. Thằng bé vẫn chưa hay biết gì cả.
- Còn vàng?
- Mụ nằm chết trong góc nhà, mặt úp xuống đất. Chắc mụ đã chôn vàng trong góc đó.
Đôbô căm giận, cứ ậm ừ. Chàng quay về phía chú bé và gọi:
- Gergơ! Bônemixo Gergơ! Tiểu tráng sĩ lại đây nào! Mau cưỡi lên con ngựa đẹp của cháu đi!
- Các cậu còn định đi đâu nữa?
- Đến chỗ những người nô lệ, bác ạ, những người mà chú bé này đã kể chuyện.
- Thì ít nhất hãy làm một tợp rượu đã nào. Rượu đâu, mau lên chứ! – Lão gọi đầy tớ và nói tiếp – Tên Thổ của chú còn sống nhé! Ở trong kho ấy.
- Yumusac ấy à?
- Có nặc nô mới biết được tên nó là gì, cái đứa mà chú đã bắn ngã ấy!
- Chính hắn đấy! Té ra hắn chưa chết?
- Không, hắn chỉ bị ngất đi thôi. Tên kia bọn ta cũng đã khiêng vào nhà rồi. Ta sợ rằng hắn không ở lại dương thế được.
- Bác còn sợ như thế à? Đem treo cổ hắn lên cây cho rồi!
- Hô hô! Tên ấy là nô lệ của ta chứ.
- Thôi được, bác muốn làm gì nó thì tùy. Nhưng hãy cho điệu tên Yumusac ra đây và cho nó một con ngựa.
Các chiến sĩ nâng những cái cốc vại tu ừng ực. Người ta điệu tên Yumusac ra. Đôbô bảo hắn:
- Thế nào, Yumusac, mày thích cơ sự này lắm nhỉ?
- Hôm nay lượt tao, mai sẽ đến lượt mày! – Tên Thổ lì lợm đáp lại. Nhưng khi thấy con ngựa của hắn với chú bé Gerge cưỡi trên lưng, mồm hắn há hốc ra vì kinh ngạc. Đôbô vẫy chú bé đến bên cạnh mình rồi phi ngựa ra cổng. Các chiến sĩ vây quanh tên Thổ thúc ngựa theo sau.
- Cháu có biết chúng ta đi đâu không, hở Gergơ? – Đôbô hỏi.
- Cháu chịu.
- Bây giờ ta đi tìm gươm cho cháu đây.
- Ở chỗ bọn Thổ ấy à?
- Đúng đấy.
- Cho cháu à?
- Cho cháu. Cháu có sợ không?
- Không ạ.
- Cháu ạ, trước hết người thanh niên không được sợ gì cả, sau đó những cái khác tự nó sẽ đến.
Họ không nói chuyện gì khác nữa. Vó ngựa sẽ tung những lớp bụi trắng trên đường cái Metsec, tiếng vó ngựa của đoàn kỵ sĩ nghe đanh trên sườn núi đá. Trong tai Gergơ câu nói lặp lại như tiếng ngân nga của chuông nhà thờ vừa mới điểm:
- Cái chính là người thanh niên không được sợ gì cả!
Họ đã tìm thấy những người nô lệ ở trong rừng. Cả thảy chỉ có sáu tên axap canh giữ họ.
Khi những chàng dũng sĩ Hung vừa xuất hiện giữa rừng cây, toán nô lệ nhảy cẫng lên, vừa reo mừng vừa đập phá, giằng giật những dây xích cùm trói họ.
- Tổ cha đồ chó khốn nạn! – Gã xigan gào lên.
Dĩ nhiên là sáu tên axap bỏ chạy tán loạn.
Các chiến sĩ Hung không thèm đuổi theo chúng. Họ chú ý trước hết những người nô lệ. Họ cởi trói cho những con người khốn khổ.
Trước tiên Đôbô chìa tay cho ông mục sư.
- Tôi là Đôbô Istơvan.
- Còn tôi là Sômôdi Gabô – mục sư rơm rớm nước mắt trả lời – Cầu chúa phù hộ cho tướng quân, Đôbô Istơvan ạ.
Những người nô lệ khóc lên vì sung sướng. Đám phụ nữ hôn tay, hôn chân, hôn quần áo của những người đã giải phóng họ. Gã xigan vừa nhào lộn vòng tròn vừa vui sướng kêu ồn cả lên.
- Các người đừng tạ ơn ta. – Đôbô từ chối! – Chính chú bé này đã cứu các người.
Chàng chỉ Gergơ.
Dĩ nhiên ai cũng tranh nhau hôn chùn chụt, gần như nuốt chửng mất chú bé, họ còn cầu cho chú bao nhiêu lời xin phù hộ. Người ta tranh nhau hôn hít chú như thể đã biết rằng sau đấy một thời gian rất dài sẽ không còn ai hôn chú nữa.
Chiến lợi phẩm thu được gồm mười lăm xe hàng chất đầy ăm ắp cùng rất nhiều binh khí.
Trước khi phân phát, Đôbô hỏi xem ai là người bị bắt đầu tiên.
Một nông phu trẻ tuổi bước tới trước mặt chàng và bỏ mũ ra:
- Có lẽ con là người bị bắt đầu tiên, thưa tướng quân.
- Tên người là gì?
- Kôtsit Gaspa, thưa tướng quân.
- Ngươi là người ở đâu ta?
- Ở Eghe, thưa tướng quân.
- Chúng nó bắt ngươi ở đâu?
- Dưới thành Pheiê, thưa tướng quân: chúng con đang chở hàng thuê xuống…
- Ngươi có biết đồ đạc trên các xe hàng này là của những ai không?
- Giá con có mặt ở những nơi chúng nó cướp bóc thì có lẽ con biết đấy. Nhưng thưa tướng quân, những tên tướng cướp này chúng nhặt nhạnh ở khắp nơi.
Đôbô quay sang hỏi tên Thổ:
- Yumusac, mi nói đi.
- Chúng tao nhặt nhạnh ở những nơi mà Ala [37] cho phép. Tất cả những gì của bọn dị giáo đều thuộc về chúng tao cả. Chúng tao thấy ở đâu, chúng tao nhận ở đấy.
- Vậy thì các người cứ dỡ tất cả ra, ta sẽ chia cho các người.
Trong một chiếc xe có một đồng binh khí đủ các loại. Đó cũng là của vơ vét được, phần lớn lấy ở trong thành của Môrê. Giữa đống binh khí ấy nổi bật lên một thanh gươm nhỏ, nhẹ, bao bằng nhung màu bồ quân – chắc là của một công tử con quan nào đấy.
Đôbô cầm lên.
- Bôneximo Gergey, lại đây nào. Cháu hãy cầm lấy thanh gươm này. Của cháu đấy. Cháu hãy gắng trở nên một tráng sĩ trung với nước, một đệ tử hiền lành của chúa. Chúc cho thanh gươm của cháu được phù trợ may mắn.
Chàng buộc thanh gươm vào thắt lưng chú bé và hôn lên trán người dũng sĩ tí hon.
Chú bé cảm động đón nhận lòng tin yêu đó. Chú tái người đi vì cảm động. Có lẽ lời nhắn gọi của tương lai đã thoáng qua tâm linh chú, chú linh cảm thấy rằng không phải người ta chỉ buộc thanh gươm vào người chú mà còn buộc cả cuộc đời chú vào thanh gươm.
Sau đó Đôbô để lại cho những người bị bắt tất cả những gì mà các chiến sĩ không cần đến nữa. Người nào cũng được chia cả xe, cả ngựa, cả vũ khí. Các chiến sĩ đã hẳn là không vồ vập những con ngựa cày gầy gò thắng trước càng xe.
Gã xigan reo mừng ầm ĩ. Gã nhảy nhót xung quanh con ngựa và cái xe vừa được chia. Nhưng rồi gã vội vàng đến chỗ đống vũ khí. Cái gì xấu xí, han gỉ mà các chiến sĩ chừa lại là gã giắt lên người tất. Gã buộc một cái khăn quanh thắt lưng theo kiểu Thổ và giắt đầy người đủ loại dao găm, gươm, mã tấu đến nỗi trông chẳng khác gì một con nhím.
Thấy một cái khiên Thổ đan bằng sậy cũng nằm ở đó, gã bèn đeo vào tay. Gã buộc hai cái cựa giày to đã gỉ vào hai cổ chân rồi chụp mũ sắt lên đầu. Gã cũng đủ thông minh để vẫn giữ nguyên cái mũ vải của hắn bên dưới cái mũ sắt. Sau đó gã chộp lấy một cái dáo dài và lẹ làng nhún nhảy như đang múa trong ngày hội, gã đi tới chỗ tên Thổ.
- Nào, Yômôsac – gã lấy dáo khều mũi hắn và nói – mày nà Thổ tả[38] ().
Thấy tất cả mọi người cười ồ lên khi nghe gã nói, Đôbô bảo gã:
- Đừng có tếu nữa! Mi là người ở đâu?
Gã xigan liền khúm núm khom lưng xuống:
- Con là người ở khắp tứ xứ, xin hôn tay hôn chân ngài, chỗ nào có người thuê đàn hát là con đến.
- Mi có biết chữa súng không?
- Sao lại không, thưa đại nhân, hảo hán, tướng quân. Khẩu súng tồi nhất mà vào tay con thì cũng sẽ được chữa lại tốt hơn khẩu mới.
- Vậy ít người nữa nhớ đến thành Xiget nhé, vào nhà tướng công Tơrơe Balin ấy. Ở đó ngươi sẽ gặp vận đỏ.
Chàng nói rồi cầm lấy tay Georgơ và chào mọi người.
- Thưa tướng quân, tráng sĩ tôn kính đại nhân! Chúng con làm gì với con thú dữ độc ác này bây giờ? – Gã xigan gọi với theo Đôbô và chỉ vào tên Thổ.
- Treo cổ nó lên. – Đôbô quay lại trả lời.
Chàng bế Gergơ lên yên và nhảy lên ngựa.
- Nào, con chó Thổ, bây giờ đến lượt mày nhé! – Kôtsit Gaspa thét lên.
- Dây thừng ở chỗ tấm vải bạt ấy. – Người đánh xe Onđrat bảo anh.
- Mày ngoẻo nhé! – Gã xigan cũng gào lên, mắt đảo dữ dội.
- Mày đã dùng sắt cùm gẫy cả chân tao, - Gaspa nghiến răng nói.
- Mày đã giết chết bố tao! – Một mụ đàn bà thét lên giọng the thé.
- Mày đã cướp bò của tao, đốt nhà tao!
Những nắm đấm căm giận vung lên tới tấp quanh mình tên Thổ.
Họ chen nhau đẩy tên Thổ đến dưới một cây sồi cổ thụ.
Bác nông dân to đầu đã từng trải kiếp nô lệ giơ gươm cản họ:
- Để cho nó chết ngay à? Không được! Phải đốt lửa lên dưới chân nó đã!
- Đúng đấy, hãy đốt lửa dưới chân nó! – Tất cả đồng thanh kêu lên – Phải thiêu sống con quỷ dữ này đi.
Đám đàn bà đã bẻ cành cây khô và nhóm lửa lên dưới gốc cây. Bấy giờ ông mục sư mới cất tiếng nói:
- Bà con ơi, nếu bà con mải giải trí với cái trò treo cổ này thì một toán Thổ lang thang khác sẽ có thể đến đây và ta sẽ lại bị bắt làm nô lệ.
Đám người đang phẫn nộ bừng bừng bỗng lắng xuống nhìn ra xung quanh.
Mục sư tựa người vào cây dáo Thổ có cán bằng xương và nói tiếp:
- Bà con đã biết tên này hành hạ ta như thế nào rồi. Kẻ nào có quyền xét xử con ác thú này hơn ta?
Không một ai trả lời câu hỏi đó! Hầu như tất cả đều có mặt khi bọn Thổ trói mục sư vào một cái ghế dài và giội nước sôi tra khảo ông để hòng moi ra những đồ quý giá của nhà thờ.
- Bà con hãy đi theo các tráng sĩ tới chừng nào còn có thể nương náu dưới sự che chở của họ, sau đó rồi hãy tản vào những nẻo đường hoang váng. Cầu Chúa phù hộ và dẫn dắt cho tất cả về đến nhà đến cửa.
Ông nói rồi dang tay ra làm dấu ban phước lành.
Mọi người bỏ việc chất lửa và lần lượt nhảy lên những cỗ xe vừa được chia.
- Đi thôi, lạy Chúa!
Gã xigan cũng tót ngay lên xe của mình và gọi ra đằng sau với mụ vợ vừa gà nghĩa.
- Đi thôi Beske!
Gaspa nối xe của mình vào xe của Morơghit. Họ ngồi xuống bên nhau.
- Hành hạ hắn cho đến nơi đến chốn vào! –Anh> kêu to với mục sư.
- Đừng tiếc lửa với nó! – Một mụ đàn bà cũng góp thêm.
Rồi họ lần lượt đánh xe đi.
Người đánh xe còn ở lại sau cùng, anh là người đã từng nấu ăn cho bọn Thổ.
- Mẹ kiếp đồ Môhamét mõm lợn, chưa trả lại mày cái tát thì tao chưa đi! – Anh nói và ra tay ngay.
Cuối cùng chỉ còn ông mục sư ở lại với tên Thổ.
Gergơ cứ tưởng mình đang sống trong mơ. Trong lúc tung bụi mù bên cạnh Đôbô, trên mình con ngựa Thổ nhỏ nhắn và nhanh nhẹn, chú cứ nghĩ mãi mà không hiểu mình đã rơi tòm vào giữa vinh quanh to lớn hay như thế nào?
Khi chú nhìn con ngựa, khi lại nhìn thanh gươm đẹp. Chú luôn tay vuốt ve con ngựa và chốc chốc lại rút thanh gươm ra. Vì thử ngẫu nhiên chạm trán với quân Thổ và Đôbô bảo chú rằng “Chém đi Gergơ!” thì lúc này chắc chắn là Gergơ có thể xông vào giữa cả một đoàn quân địch.
Họ tiến về phía bắc trên đường cái Metsec.
Hoàng hôn đã xuống. Những đám mây vẩy cá rải rác trên trời và khi mặt trời bắt đầu hắt ánh nắng lên thì cả bầu trời rực rỡ như kết nên bằng những vẩy vàng.
Lúc họ đang phi nước kiệu xuống sườn dốc, con ngựa của Đôbô bỗng đứng dừng lại như thể chân trước đã bị chôn xuống đất. Nó ngẩng đầu lên, vểnh tai ra. Nó thở phì phì và lấy chân cuốc đất một cách bồn chồn.
Đôbô ngoái nhìn lại, chàng lắc đầu nói với các chiến sĩ:
- Ngựa ta đánh hơi thấy quân Thổ đấy. Ta hãy dừng lại đã.
Ngay lúc khởi hành chàng đã phái hai chiến sĩ đi tiền trạm. Họ dừng lại chờ hai người ấy. Quả nhiên vài phút sau cả hai đều phi trở lại.
- Dưới thung lũng có một toán quân Thổ đang đi đến đây – Một người báo với Đôbô.
- Chúng nó đi theo đội ngũ chỉnh tề, - Người kia nói thêm.
- Còn xa không? – Đôbô hỏi.
- Bẩn, còn khá xe. Chúng nó tới được đây cũng phải mất vài giờ nữa.
- Độ bao nhiêu đứa?
- Có lẽ phải vài trăm.
- Chúng đi theo đường cái à?
- Vâng, trên đường cái.
- Có cả nô lệ đi theo nữa?
- Cả nô lệ và rất nhiều xe cộ.
- Hừ, quân chó má! Chắc hẳn là hậu quân của Kaxôn. Một tuồng chó đẻ cả. Phải tấn công vào chúng nó…
Con đường cái lượn ngoằn ngoèo lên Metsec. Đôbô nhắm cho đội mình một chỗ ngoặt, nơi có một mỏm đá nhỏ ra chắn ngang. Ở đó họ có thể kín đáo mai phục gây chuyện bất ngờ cho bọn Thổ.
- Liệu chúng ta có đủ người không nhỉ? – Một người lính trẻ, tóc hung, mặt tàn nhanh lên tiếng hỏi, một anh chàng mà ngay phút đầu tiên ta đã có thể biết là y lớn lên trong nhung lụa.
- Đủ đấy, Durơko ạ. – Đôbô mỉm cười với y – Khi phước lành bất thình lình ập xuống đầu chúng như thế này thì chúng không còn thì giờ đâu để đến xem chúng ta có bao nhiêu người nữa. Vả lại lúc đó cũng đã xẩm tối rồi. Sau nữa, nếu ta không thể chặt hết chúng nó thì cũng đủ khiến bọn chúng chạy tán loạn. Rồi dân chúng trong các làng xóm sẽ xử trí nốt từng tên chạy lạc.
Đám người vừa được giải thoát hiện ra ở một chỗ đường vòng, họ đi thành một hàng dài.
Đôbô nhìn Gergơ và bảo:
- Ta đã vô ích giảng giải với họ là đừng có kéo nhau đi trên đường cái.
Chàng bèn phái một chiến sĩ chạy đi bảo họ quay về phía Pêts, rồi từ đó đi sang đông hay sang tây tùy ý, miễn là đừng đi về phía nam.
Trên dốc cao có thể thấy người chiến sĩ đã đến chỗ đoàn xe, và sau đó từng chiếc một liền quay đầu trở lại.
Đôbô nhìn sang Gergơ và lầm bầm:
- Thật quỷ, ta biết nhét chú bé này vào đâu bây giờ?
Mục sư còn lại một mình với tên Thổ. Hắn đứng dưới gốc cây sồi, mặt cúi gằm xuống đất. Ông mục sư chống dáo đứng trước mặt hắn chừng mươi bước. Tiếng lọc cọc của đoàn xe còn vọng lại một chốc, sau đó im lặng của rừng cây bao trùm lấy họ.
Lúc đó tên Thổ mới ngẩng mặt lên, bộ mặt tái mét, hắn nói:
- Trước khi ông giết tôi, xin hãy nghe tôi một lời. Cái hầu bao ở thắt lưng tôi đầy vàng. Với một khoản thu như thế ông có thể chôn cất tử tế cho tôi.
Mục sư không trả lời, ông chỉ thản nhiên nhìn tên Thổ.
- Sau khi treo cổ tôi, - Yumusac tiếp – ông hãy đào cho tôi một cái huyệt dưới gốc cây này và đặt tôi ngồi vào đó. Hãy quay mặt tôi về phía Mecka[39], về phía đông này này. Vì số tiền của tôi, ông có thể giúp cho tôi điều đó.
Hắn không nói gì nữa, hắn chở ông mục sư với sợi dây thừng.
- Yumusac, - lúc ấy mục sự mới lên tiếng – hôm qua ta có nghe mày nói rằng mẹ mày là người Hung.
- Chính thế, - tên Thổ trả lời với một cái nhìn có sinh khí hẳn lên.
- Như vậy thì một phần nào mày vẫn là người Hung.
- Chính thế.
- Giặc Thổ cướp mày đi từ hồi bé à?
- Ông đoán đúng đấy.
- Từ xứ nào?
Tên Thổ nhún vai.
- Tôi quên mất rồi.
- Lúc ấy mày mấy tuổi?
- Còn rất bé.
- Mày không nhớ cha mày sao?
- Không.
- Cũng không nhớ tên cũ của mày là gì?
- Cái ấy cũng không.
- Không nhớ tên cũng không nhớ họ?
- Chẳng nhớ gì cả.
- Thế mà lạ thay mày lại không quên tiếng Hung!
- Trong trại ionisa có nhiều người Hung!
- Mày không biết một đứa nào quê xứ Lốc tên là Imre à? Sômôdi Imre?
- Đột ngột thế này tôi không thể nhớ ra được.
- Đầu nó tròn, mắt đen, người nhỏ nhắn: khi bọn giặc cướp nó đi, nó chưa đầy năm tuổi. Trên ngực bên trái có ba nốt ruồi hình bầu dục y như của ta đây này.
Mục sư phanh ngực áo: ba nốt ruồi tụ lại thành hình lá cỏ tam diệp rõ ràng trên ngực, khoảng giữa vai và vú.
- Tôi nhớ ra rồi. – Tên Thổ nói – Tôi thường hay gặp dấu vết này khi chúng tôi đi tắm. Chỉ có điều là tên nó bây giờ đã đổi khác: Amét hay Kubát hay một tên Thổ đại loại như vậy.
- Chúng mày không cùng đi với nhau à?
- Có khi đi cùng, có khi không. Bây giờ nó đang đánh nhau ở Perica.
Mục sư nhìn thẳng vào mặt tên Thổ: - Mày nói láo!
Tên Thổ lại cúi mặt xuống nhìn đôi ủng linh, một đôi ủng đỗ buộc dây da, tựa hồ như đang ngầm nghĩ xem đôi ủng đã có thể rách từ bao giờ và làm thế nào mà rách được ở chỗ mõm giày chân trái?
- Đồ khốn kiếp! - Mục sư khinh bỉ nói - Tội mày thật đáng chết!
Tên Thổ> vội quỳ mọp xuống.
- Ôi, thưa ông! Xin ông mở lượng khoan hồng tha chết cho con! Ông hãy lấy tất cả, hãy bắt con làm nô lệ! Chó cũng không trung thành được như con sẽ trung thành với ông.
- Vấn đề chỉ ở chỗ mày có còn là một con người nữa hay không, hay đã sa đoạ thành ác thú? Nếu ta thả mày ra, ai dám bảo lãnh rằng mày sẽ không trở lại giết hại và cướp bóc dân tộc đáng thương của ta nữa?
- Nếu con còn cầm đến vũ khí thì xin đấng Ala cứ trừng phạt bằng những ngọn roi khắc nghiệt của Người.
Mục sư lắc đầu. Tên Thổ lại van xin:
- Con xin thề với ông bằng lời thề độc ghê gớm nhất mà chỉ người Thổ mới nói ra được.
Mục sư khoanh tay lại và nhìn vào mắt tên tù binh:
- Yumusac, giờ đây mày quỳ trước bực cửa của thần chết để xin xỏ ta và chắc mày đang nghĩ rằng ta là một kẻ ngốc nghếch, hay mày tưởng ta không biết kinh Côran (>Kinh của đạo hồi) đã nói gì về lời thề trước hoàng đế của tụi mày sao?
Mồ hôi vã ra trên trán tên Thổ, hắn lại khẩn khoản:
- Vậy xin ông hãy phán bảo một lời. Dù ông phán bảo bất cứ điều gì, điều đó cũng sẽ được thực hiện.
Mục sư đưa tay nâng cằm và suy nghĩ, cuối cùng ông nói:
- Tất cả mỗi tên lính Thổ đến có một thứ bùa hộ mệnh, một thứ bùa gì đó để che chở cho hắn trong trận mạc và giúp hắn gặp may mắn.
Tên Thổ gục đầu xuống.
- Ta không cần lấy tiền của mày đâu – ông tiếp – ta muốn lấy cái bùa hộ mệnh ấy của mày.
Tên Thổ ngập ngừng nói:
- Ông hãy thò tay vào dưới ngực áo của con, cái bùa của con đeo ở cổ.
Mục sư đã rờ thấy cái bùa hộ mệnh của hắn đựng trong một cái túi nhỏ bằng lụa xanh, ông giật đứt sợi dây chuyền và bỏ vào túi.
Sau đó ông bước ra sau lưng tên Thổ và cắt dây trói thắt khúc trên người hắn.
Tên Thổ giật tay ra khỏi dây trói và đột nhiên quay ngoắt lại. Hắn chớp mắt nhìn mục sư Gabô bằng cái nhìn cháy rực của con hổ.
Nhưng mục sư đã chĩa mũi dáo ra và cười mỉm.
- À, à, Yumusac! Hãy coi chừng kẻo lại thủng mũi bây giờ!
Yumusac tức tối gần như phì ra lực, hắn đi giật lùi và khi> đã cách> mục sư chừng vài chục bước, hắn mới rống lên với giọng nhạo báng:
- Hãy nghe đây đồ ngu, mày có biết vừa rồi ai đã nằm trong tay mày không? Tao là con trai tổng đốc Oclu Môhamét lừng lẫy tiếng tăm đây! Đáng lẽ mày đã có thể đòi chuộc tao để lấy hàng bao tải vàng mà không biết!
Mục sư không trả lời. Vẻ mặt khinh bỉ, ông ném ngọn dáo lên xe ngựa của mình.
Mặt trời vừa vặn chìm khỏi chân trời khi ông mục sư Gabô ngồi lên xe. Ông cũng đánh xe ra đường cái.
Ông còn trông thấy phần cuối đoàn xe của các bạn nô lệ khi họ đi xuôi về Pêts, nhưng ông nghĩ chắc đó chỉ là một phần, những người khác có lẽ đã đi về phía bắc.
Đường về nhà thì ông thuộc lắm. Cũng chẳng còn đường nào khác đi về phía ấy ngoài con đường độc đạo từ Pêts qua Kopôtva, Xêkétphehêva rồi đến Buđa. Nhưng ông chỉ đi theo đường ấy đến Lốc, đến lâu đài của BôkitsPan, từ đó ông sẽ rẽ về hướng tây theo một con đường xe ngựa nhỏ hẹp dẫn đến vùng hồ Bala tông. Làng ông ở đó, cạnh một rừng bạch dương. Những con chiên của ông ắt sẽ ngạc nhiên và vui mừng biết mấy khi họ thấy ông thoát nạn trở về.
Ông xuống xe sửa lại cái bánh. Ông thích thú vỗ vỗ vào mõm hai con ngựa, sau đó lại ngồi lên xe và bắt đầu xuống dốc.
Nhưng toán quân của Đôbô đã chắn ngang đường.
- Ông quay lại đây làm gì? – Một người lính hỏi khi nhận ra ông.
Mục sư không hiểu câu hỏi.
- Có một toán quân Thổ đang kéo đến đây. – Người lính giải thích – Chúng tôi mai phục chúng ở đây. Ông hãy quay lại và đi mau đến Pêts với những người kia.
- Dừng lại đã, mục sư thân mến ơi! – Đôbô gọi ông.
Chàng phi ngựa đến chỗ ông và hỏi:
- Làng của ông là làng nào đấy?
- Kishiđo.
- Bên bờ Balatông ấy à?
- Ở đấy.
- Vậy thì tôi nhờ ông mang chú bé này theo và khi nào có dịp, ông hãy gửi hộ tôi đến thành Xiget của Tơrơc Balin.
- Rất vui lòng. – Mục sư đáp.
- Tôi sợ nhỡ có chuyện gì không hay xảy ra cho chú bé – Đôbô giải thích. Chúng tôi ở lại đây để xua nốt một toán giặc Thổ khá đông, như vậy ông cũng thấy đấy, rất có thể một tên giặc nào đó sẽ chém phải chú ta.
Gergơ ngập ngừng nhìn Đôbô.
- Nhưng nhỡ mẹ cháu đi tìm cháu thì sao?
- Mẹ cháu sẽ không tìm đâu, cháu ạ. Mẹ cháu đã biết cháu đi đâu rồi.
Mục sư quay xe lại rồi hỏi Gergơ:
- Cháu có ngồi lên xe không? Hay cháu cưỡi ngựa của cháu?
- Cháu cưỡi ngựa của cháu thôi. – Chú bé trả lời, mắt vẫn nhìn Đôbô.
Mặc dù sắp có một trận đánh nhau ác liệt, bên cạnh Đôbô chúc vẫn cảm thấy an toàn hơn. Họ sẽ chém giết lẫn nhau ư? Giặc Thổ đâu phải là người, chúng chỉ là bầy thú dữ tàn phá quê hương. Với trái tim bé nhỏ chú cũng đã căm thù bọn chúng.
- Cầu Chúa phù hộ cho chàng dũng sĩ tí hon của chú. – Đôbô từ biệt – Chú biết cháu thích ở lại đánh nhau cùng bọn chú, nhưng cháu xem, ủng của cháu đã có đâu! Thôi, cháu hãy đi theo mục sư đáng kính đây, ít hôm nữa ta sẽ lại gặp nhau.
Mục sư nới phanh xe và quất ngựa. Gergơ buồn rầu cưỡi ngựa lẽo đẽo theo sau.
Lúc họ đi ngang dưới chân thành Pêts thì trời đã tối mịt.
Họ không nghỉ lại. Mục sư nóng lòng muốn sáng hôm sau đã về đến nhà, mà đường đi của họ thì còn phải vòng qua xứ Metsee rộng lớn.
Gần nửa đêm trăng mới ló ra. Họ cho ngựa chạy êm êm trên con đường đất sét khá hẹp.
Lúc này Gergơ luôn thúc ngựa chạy phía trước và khi đến bên một cái cầu hỏng, chú kêu lên báo với mục sư.
Đến độ nửa đêm, bóng trăng trắng của một ngôi nhà có vẻ như quán trọ hiện ra trước mặt họ.
- Vào xem thử con – Mục sư bảo – quán trọ hay nhà gì đây. Ta sẽ cho ngựa ăn uống.
Gergơ cưỡi ngựa vào sân, vài phút sau chú quay ra báo tin:
- Nhà bỏ không cha ạ, cửa cũng chẳng đóng.
- Tuy vậy ta cũng cứ cho ngựa ăn.
Một con chó trắng nhỏ bỗng chạy ra sủa, ngoài ra tịnh không còn ai khác.
Mục sư nhảy xuống xe và đi khắp nhà, vừa đi vừa gọi to qua các cửa sổ, cửa lớn:
- Xin chào cả nhà! Có ai trong nhà không?
Ngôi nhà tối om, hoang vắng. Trên bực cửa, một cái tủ nhỏ bị đập vỡ tan. Nơi đây bọn Thổ đã đi qua.
Mục sư lắc đầu bảo Gergơ:
- Trước hết ta hãy lại xem cái giếng, Gergơ ạ, da ta vẫn còn rát bỏng.
Ông thả gàu múc nước lên rồi bắt đầu đến lục lọi trên xe.
Trên xe có đủ mọi thứ: vải lót giường, lúa mì, hòm xiểng, mấy cái ghế chạm trổ hẳn hoi, một thùng rượu vang và những bao đầy ắp. Ấn tay vào một bao thấy mềm mềm, ông mở ra. Trong đó có đúng cái mà ông muốn tìm: quần áo.
Ông giội nước vào một cái khăn rồi cởi áo đến thắt lưng. Ông dùng khăn ướt dấp dấp khắp mình.
Gergơ cũng xuống ngựa. Chú dẫn con ngựa đến chỗ máng nước và cho nó uống.
Trong hộc bục ngồi có một cái tay nải, ông quờ tay vào sờ thấy có bánh mì.
- Con có đói không?
- Con đói quá đi ấy chứ. – Chú bé bẽn lẽn trả lời.
Mục sư rút gươm ra, trước khi cắt bánh mì, ông ngửng mặt lên trời và nói bằng một giọng thành kính, đầy biết ơn:
- Chúa thật vô cùng ân đức! Người đã giải thoát cho chúng con> khỏi xiềng xích và bây giờ lại cho chúng con cả bánh mì nữa.
Bầu trời quang đãng chi chit những vì sao. Mảnh trăng lưỡi liềm vằng vặc giữa đỉnh đầu đủ soi tỏ cho bữa ăn tối.
Họ ngồi ăn trên thành giếng. Thỉnh thoàng mục sư lại vứt cho con chó một mẩu bánh. Gergơ bẻ cho con ngựa của chú nửa phần bánh mì.
Từ xa bỗng vẳng lại tiếng vó ngựa lộp cộp khe khẽ. Hai người liền dỏng tai nghe ngóng, mồm họ ngừng lại không nhai nữa.
- Có người đi ngựa đến. – Mục sư nhận xét.
- Một người. – Gergơ nói thêm, rồi họ tiếp tục nhai.
Tiếng lộp cộp dần dần rõ lên thành tiếng rồn rập trên nền đường đất khô. Vài phút sau một kỵ sĩ phóng ngựa tới. Y hãm dần ngựa trước cửa quán và rẽ vào sân. Trong bộ dạng của y có thể biết ngay là người Hung. Đầu y không có mũ, nhưng có tóc, như vậy, chắc chắn là người Hung rồi.
Y dừng lại nhìn quanh rồi lên tiếng gọi mục sư với cái giọng khàn khàn của loài quạ:
- Mubaree Ôlonxun! [40] Y tưởng mục sư là người Thổ vì ông đắp cái khăn trắng ở trên đầu.
- Ta là người Hung đây – Mục sư đáp lại và đứng lên. Ngay lúc đó ông nhận ra người kia là tên Môrê. Gergơ cũng đã nhận ra hắn, chú rùng mình.
- Ai ở đây? – Môrê vừa tụt xuống khỏi con ngựa chiến đang bốc hơi vừa hỏi – Chủ quán đâu?
- Ở> đây chả có ai khác ngoài ta và chú bé này. Đây là nhà vô chủ.
- Ta cần ngựa! Ngựa đã nghỉ ngơi!
Mục sư nhún vai:
-> Ở đây khó mà kiếm ra của ấy.
- Đường ta gấp lắm nhưng ta lại không sẵn tiền. Chúng ta cùng là tín đồ Cơ đốc cả, vậy ông hãy đưa ngựa của ông đây cho ta.
Hắn ngắm kỹ cả hai con ngựa. Con thứ ba, của Gergơ đang gặm cỏ trong bóng tối. Chú ngựa nhỏ nhắn có vẻ là ngựa tồi. Môrê không đợi trả lời, hắn cứ tháo ngựa ra khỏi càng xe.
- Ơ kìa. – Mục sư lên tiếng – Ít nhất ngươi cũng nói cho ta biết vì sao mà phải chạy gấp đến thế chứ?
- Quân Thổ đã bị Đôbô đánh tan tác, chúng tôi cũng được giải thoát.
Ông ta đi đâu rồi?
- Chúng tôi vượt trước ông ta.
Môrê không nói gì hơn. Hắn quăng mình con ngựa cày và phóng đi.
- Thằng này giải quyết việc mua ngựa mau mắn thật – mục sư làu bàu.
Lúc cử động ông cảm thấy có cái gì chuồi ra khỏi túi. Ông cầm lên và chợt nhớ ra đó là cái bùa hộ mệnh của tên Thổ chột. Trong túi lụa xanh có cái gì cưng cứng, ông lấy gươm rạch túi ra thì thấy một cái nhẫn.
Mặt đá của cái nhẫn to một cách lạ thường, đó là một viên đá đen hình bốn cạnh bằng hoa cương hoặc bằng ốpxidian (>Một loại đá do hoả diệm sơn phun ra, rất cứng và có thể mang nhiều màu sắc), dưới ánh trăng không thể nhận rõ được. Nhưng trên mặt đá ấy có thể thấy rõ một mặt trăng bằng đá quý màu vàng nhạt, xung quanh có năm ngôi sao nhỏ bằng kim cương.
Mặt trong của cái túi cũng lấp lánh những chữ Thổ thêu bằng chỉ bạc. Mục sư nghe được tiếng Thổ nhưng đọc chữ Thổ thì ông chịu.
Ông bỏ lại vào túi rồi đưa mắt nhìn Gergơ. Chú bé đã ngủ ngon lành trên bọc quần áo.
Ánh sáng mặt trời toả xuống mới vui tươi rực rỡ làm sao! Thế mà xung quanh vùng hồ Balatông, mặt trời không thể thấy gì khác ngoài những ngôi nhà cháy, những vườn rau bị xéo nát và những xác chết ngổn ngang khắp nơi.
Ôi, nếu như mặt trời là mặt của Trời thì chắc hẳn nước mắt đã chan hoà mặt đất thay cho ánh sáng!
Mục sư tuy đã biết trước rằng làng của ông cũng bị tàn phá, nhưng khi họ lên đến một đỉnh đồi và nhìn thấy cái tháp chuông tróc mái, nhem nhuốc nhô lên trên những cành lá của cây vườn, mắt ông vẫn nhoà lệ.
Ông không giục ngựa, cứ để mặc cho chúng lững thững đi. Cứ mỗi bước, cảnh điêu tàn càng mở ra trước mắt họ. Không đâu còn một mái nhà nguyên vẹn, không đâu còn một cổng nhà lành lặn. Mảnh đồ gỗ, ván thùng và bột mì vương vãi khắp nơi. Xác người và xác súc vật ngổn ngang trong các sân nhà.
Không nhà nào còn người sống sót. Chỉ có một vài con chó thoát khỏi tai biến đã trở về cùng một vài chú gà vịt tránh được tay lũ giặc cướp.
Mục sư xuống xe, bỏ mũ ra và bảo Gergơ:
- Con cũng bỏ mũ xuống con ạ. Đây là làng của người chết chứ có phải là làng của người sống nữa đâu.
Ông dắt ngựa đi sâu vào trong làng.
Một nông dân luống tuổi tóc rất rậm nằm dang tay trên đường, mặt ngửa lên trời. Tay người chết vẫn còn nắm chặt cây đinh ba.
- Tội nghiệp bác Ondrat.
Mục sư lắc đầu. Ông cầm cánh tay kéo người chết sang bên lề đường để lấy lối cho ngựa đi qua.
Một người khác còn trẻ hơn bị chém ngang lưng, xác buông thong qua hàng rào, đầu ngoẹo ra phía ngoài đường, như thể anh ta đang nhìn máu của chính mình rỏ từ đầu xuống đất đã đen kịt lại.
Con lợn nhà anh đang ăn cỏ phía sau, bên một cái sân đầy lông nhồi nệm giường. Giặc Thổ chưa kịp đụng đến con lợn.
Một đứa trẻ mới lọt lòng nằm trần truồng bên cạnh cánh cổng gần đó, cái ngực bé xíu bị một vết thương to toang hoác.
Mùi tro, mùi xác chết lẩn quất khắp nơi. Tất cả cảnh tàn sát man rợ này đã xảy ra chỉ vì một tên lính thổi kèn được yêu chuộng của bọn Thổ bị đâm chết, một người chồng trẻ trong lúc bảo vệ vợ mình đã cho hắn một nhát đinh ba. Thế là những tên lính Thổ nổi khùng thét lên: - Không để một mạng sống nào trong làng này nữa!
Mục sư dắt ngựa đi thẳng, không còn nhìn sang hai bên nữa mà cứ nhìn xuống con đường bụi vàng khè trong nắng. Cuối cùng họ về đến chỗ ở của mục sư.
Cái nhà ấy cũng không còn mái. Những vỉ kèo hình chữ A to cháy đen, cho chỏng trên đống tro tàn của mái nhà. Bức tường phía trên cái cửa sổ trông ra đường đã đen kịt lại vì lửa táp.
Bọn giặc đã châm lửa đốt cái nhà này sau khi dùng nước sôi tra khảo ông. Cái ghế dài còn để giữa sân. Quanh đó đầy mảnh vụn của những hòm gỗ sồi: sách vở và lúa mì tung toé đầy sân, những chậu hoa trồng trong phòng bị xéo nát bét. Bên cạnh cái bàn gãy chân, một bà già vận quần áo đen nằm sóng soài, hai tay duỗi thẳng, một vũng màu đen ngòm bên cạnh. Đó là bà mẹ già của mục sư.
- Đến nhà rồi. – Mục sư quay khuôn mặt đầm đìa nước mắt về phía Ger gơ nói – Chúng ta về đến nhà rồi, con ạ.
Hai bác cháu chôn cất suốt hai ngày không nghỉ. Mục sư hạ cái vàn thành xe xuống, mỗi lần chở được ba, bốn xác chết ra nghĩa địa.
Gergơ luôn luôn đi trước xe, bên sườn đeo thanh gươm của Đôbô tặng, tay cầm cây thánh giá của nghĩa địa. Mục sư dắt ngựa, vừa đi vừ đọc kinh cầu nguyện hoặc hát thánh ca. Đến nghĩa địa ông dùng chiếu đắp những người chết cho quạ khỏi đụng đến người họ, rồi lại quay trở về chở chuyến khác.
Sáng ngày thứ ba một mụ nông dân và một đứa bé chợt xuất hiện trong làng. Họ đã trốn vào trong bãi sậy ven hồ Balatông. Buổi tối có thêm hai người đàn ông nữa trở về - họ vừa đi vừa nấp, vừa nghe ngóng cẩn thận.
Mấy người đó giúp việc đào huyệt, mục sư cũng cùng đào với họ. Chỉ sau khi đã dọn hết xác chết và chôn cất tử tế, ông mới bắt tay chữa tạm lại căn nhà. Nhà này trước kia gồm ba phòng nhưng tất cả đều đã đổ sụp trong trận cháy.
Trước tiên ông lấy gỗ ván lợp lại mái phòng phía gần đường cái để họ có thể trú mưa, sau đó ông sửa sang lại một cái tủ, rồi cùng Gergơ nhặt nhạnh những quyển sách vứt ngổn ngang ngoài sân xếp vào đó.
Sau nhiều công việc não lòng, việc quyển sách làm Gergơ vui thích. Chú giở quyển này quyển nọ để xem có tranh ảnh gì không. Có độ 5 quyển có ảnh, trong một quyển có toàn ảnh các loài sâu bọ, một quyển khác lại đầy những hình vẽ các loại hoa. Thư viện của mục sư có tất cả chừng ba chục quyển sách bìa da.
Mụ đàn bà dọn dẹp lại nhà bếp và lo việc nấu nướng. Mụ nấu một món đậu không có thịt và món canh trứng.
Hai đĩa thức ăn cho cả một làng!
Sau bữa trưa, mục sư nhìn ra vườn và kêu lên:
- Ơ kìa, chúng nó không phá tổ ong của ta. Ra đây, Gergơ.
Ông dẫn Gergơ ra vườn, nơi có một tổ ong nuôi trong cái am thờ. Cửa am cũng bị bọn Thổ phá tung nhưng vì không thấy gì khác ngoài một bệ thở, một cái bếp lò nhỏ, một cái bàn kê bằng mảnh vân với mấy cái chai cổ dài ngoẵng nên chúng không đập phá gì bên trong cả. Mấy cái chai ấy vẫn được dùng để làm thí nghiệm hóa học. Mục sư gần như ngạc nhiên khi thấy mấy cái chai không bị sứt mẻ gì cả.
Hôm sau hai bác cháu lên ngựa đi về phía nam, đến thành Xiget.
Hôm đó trời trong và nóng bức. Khắp nơi, ở những thôn xóm bị giặc tàn phá, người ta vẫn còn tiếp tục chôn cất và sửa sang nhà cửa. Một đôi làng cũng chỉ còn lại lơ thơ vài ông già bà cả. Có những nơi toàn thể dân làng đã bị bọn Thổ lùa đi.
Lúc đến vùng bãi sậy ngoại vi thành Xiget, mục sư ngẩng lên nhìn và bảo:
- Tướng công có nhà đấy.
Gergơ hiểu là ông nói đến Tơroc Balin, chú ngạc nhiên hỏi:
- Làm sao cha biết?
- Con không thấy lá cờ kia sao?
- Lá cờ trên đỉnh tháp ấy à? Là cờ xanh đỏ.
- Đúng đấy, đó là cờ hiệu của tướng công, lá cờ đó báo hiệu tướng công hiện có nhà.
Họ đi vào rừng sậy và phóng ngựa song song bên nhau. Nước suối Onmat chảy ra một cái hồ lớn lấp lánh trước mắt họ. Giữa hồ, một pháo đài nhô ra khỏi bức tường thành đen xạm, đang soi mình trong gương nước. Một đàn ngỗng lớn bơi trắng xóa mặt hồ.
Mục sư lại lên tiếng:
- Này con, con không nghĩ rằng tướng quân Đôbô đã xung trận với một lực lượng quá chênh lệch ư? Có thể ông ta đã nằm lại đó.
- Giữa trận ấy à?
- Ừ, giữa trận tiền.
Gergơ không nghĩ như thế. Theo chú, Đô bô là người vô địch, dù chỉ một mình ông xông vào giữa một đoàn quân Thổ chăng nữa, chú cũng chẳng hề ngạc nhiên chút nào.
- Giả dụ ông ta có làm sao, - mục sư nói tiếp – ta sẽ nhận con làm nghĩa tử.
Ông cho ngựa nhảy lên chiếc cầu gỗ đầu tiên bắc trên những cột cao dẫn vào thành ngoài. Dưới chân cầu đầy những đàn ngỗng, đàn vịt. Họ đi qua khu chợ mới rồi lại đến một cái cầu gỗ ngắn. Cầu này đâm vào khu chợ cũ. Trước một cái nhà thờ hai tháp chuông có ba mụ đàn bà đang ngồi bán mận. Một mụ đang đong mận vào vạt áo cho một cô bé chân đất. Cửa nhà thờ có nẹp sắt cẩn thận.
Lại đến một cái cầu nữa, cũng làm bằng gỗ nhưng đã là một cái cầu dài và rộng, nước lấp lánh ở tít dưới sâu.
- Bây giờ ta đến thành trong. – Mục sư bảo – Cũng vừa đúng lúc.
Và ông rút khăn tay, cẩn thận lau khắp mặt mũi.
Cửa thành mở toang, từ bên trong vọng ra tiếng lộp cộp mạnh mẽ. Họ trông thấy, trên một cái sân rộng một người mặc áo giáp đang phóng ngựa như bay trong đám bụi mù, sau đó lại thấy một người khác phóng ngựa ngược lại, trông cứ như hai pho tượng cười trên hai con ngựa sống. Một pho bằng bạc còn mới, pho kia đạ bạc mầu, đôi chỗ đã han gỉ, hình như cho đến giờ vẫn bị để quên trong một cái kho nào đó. Hai cái mũ chiến cũng khác nhau: một cái trơn tru, hình tròn, còn cái kia có một hình đầu gấu, cũng bằng bạc, lấp lánh trên đỉnh. Ngực hai con ngựa đều có giáp sắt hình đuôi tôm che chở.
- Tướng công kia kìa, người đội mũ đầu gấu ấy. – Mục sư nói vời Gergơ một cách kính cẩn.
Hai kỵ sĩ cầm thương lao vào nhau và khi đã giáp là cả, hai con ngựa chồm hai chân trước lên. Hai mũi thương đều trượt qua trên khiên.
- Chùy ! – người đội mũ đầu gấu keo to khi hai con ngựa đã lùi xa nhau.
Nghe tiếng kêu, hai võ đồng [41] mặc quần áo xanh đỏ từ trong cửa chạy ra đưa hai quả chùy đồng cùng kiểu và hai cái khiên sắt mới cho hai đấu thủ.
Hai kỵ sĩ lại vòng ngựa ra xa nhau. Mõm con ngựa của người đội mũ sắt trơn nện chùy trước tiên. Người đội mũ đầu gấu vội đưa khiên lên quá đầu. Cái khiên kêu đánh choang như một cái chuộng sắp rạn. Nhưng từ dưới cái khiên, cánh tay kia của ông đã vung chùy ra, ông choảng vào đầu địch thủ một cái mạnh đến nỗi mũ sắt của gã bị móp vào. Gã giật cương cho ngựa lùi ra và vứt binh khí đi. Người đội mũ đầu gấu bỏ mũ sắt xuống, cất tiếng cười ha hả.
Đó là một người đàn ông mặt đầy đặn, nước da rám nắng. Bộ ria dài, rậm và đen của ông ép sát vào hai má vì bị mũ sắt đè, một bên cong lên tận lông mày, một bên rũ xuống đến cổ.
Mục sư bảo Gergơ:
- Tướng công Balin đấy, nếu ngài có nhìn lại đây thì con nhớ bỏ mũ ra nhé!
Nhưng Tơroc Balin không nhìn về phía họ. Ông đang nhìn địch thủ của mình, mấy gian nô giúp kéo mũ ra khỏi đầu cho gã. Sau khi được người ta chật vật kéo hộ cái mũ sắt bị móp ra khỏi đầu, gả nhổ ba cái răng xuống sân rồi cất tiếng chửi rủa bằng tiếng Thổ. Khoảng bảy, tám tù binh Thổ từ dưới cổng chui ra. Chúng giúp gã kia cởi bỏ áo giáp.
Té ra gã kia chỉ là một tên tù binh Thổ, cũng như những tên khác.
- Nào, đứa nào trong bọn bay còn thích giao đấu nữa? Tự do sẽ là phần thưởng cho kẻ nào đánh ngã được ta! – Tơroc Balin vừa thúc ngựa vừa kêu to.
Một tên Thổ râu ria thưa, người gân guốc, da đỏ như gà chọi, đứng ra:
- Hôm nay có lẽ con sẽ gặp may mắn hơn.
Hắn mặc bộ giáp sắt nặng nề vào người. Bọn bạn hắn thắt bộ những đai sắt ở sau lưng, ấn mũ sắt vào đầu cho hắn rồi lấy một cái lá chắn khác lắp vào chân hắn vì chân tên Thổ này rất to. Sau đó người ta dùng cần cầu giúp hắn lên ngựa và đưa cho hắn một cây mã tấu!
- Mày điên mất rồi Amét ạ! – Tơroc Balin vui vẻ nói – Mã tấu đâu phải là thứ dùng để đánh vào giáp trụ.
- Con chỉ quen thế này thôi. Nếu Ngài không dám chơi thì con cũng chẳng thử cách nào khác nữa.
Họ nói với nhau bằng tiếng Thổ. Mục sư giảng cho Gergơ biết những lời họ nói.
Tướng Balin lại đội mũ lên đầu. Ông khóa một cây thương nhẹ và phi ngựa vòng quanh sân.
- Bắt đầu! – Ông hô to và xông vào giữa sân.
Gergơ rùng mình.
Tên Thổ hơi cúi về phía trước trên mình ngựa, hai tay nắm chắc cây mã tấu, hắn xô vào tướng Balin, mõm hét:
- Ala!
Khi hai bên giáp nhau, hắn rướn người lên và bổ xuống một nhát khủng khiếp. Tướng Balin thì hướng mũi thương vào ngang sướn tên Thổ. Mũi thương bị trượt đi, cây thương rơi khỏi tay ông. Tuy vậy ông vẫn dùng tấm khiên đỡ được nhát chém khốc liệt của tên Thổ, đồng thời trong nháy mắt đó ông tóm lấy cánh tay địch thủ giật hắn ngã ngựa.
Tên Thổ ngã nghiêng người xuống sân, bụi bốc mù lên quanh người hắn. Tơroc Balin lật lưới mũ lên, cười nói:
- Đủ rồi. Nếu ngày mai ta còn ở nhà, bọn bay lại có thể giao đấu với ta.
Ông lại cười rung cả người.
Tên Thổ, dùng cánh tay bị giật sai cả khớp, chật vật chống người lên và gào:
- Không công bằng!
- Sao lại không công bằng? – Tướng Balin hỏi
- Người mã thượng không ai lại dùng tay mà giật địch thủ như vậy.
- Nhưng mày có phải là một trang mã thượng đâu, đồ dị giáo chó đẻ! Có lẽ tao phải đi học mày những luật lệ mã thượng chắc! Quân ăn cướp đê tiện.
Tên Thổ xị mặt im lặng. Tướng Balin lại quát:
- Chẳng lẽ chúng mày dám coi việc tao đứng ra giao đấu với chúng mày là chuyện tỷ thí thượng võ hay sao? Xem kìa, cái lũ khố rách mà thế đấy!
Ông rút chân phải ra khỏi bàn đạp định xuống ngựa nhưng một tên tù binh khác người gày gò, râu hoe hoe lại kêu lên:
- Thưa tướng công, hôm nay con lại muốn đấu với ngài.
Những người có mặt trên sân đều cười ồ cả lên.
- Tất nhiên, bây giờ mày cho rằng ta đã mệt. Nào cho mày có được một chút niềm vui.
Ông nói rồi lại chụp mũ lên đầu, cái mũ lúc nãy ông đã bỏ xuống ôm vào lòng.
- Mày đánh nhau với ta lần này là lần thứ mấy đây hả Vẹt?
- Lần thứ mười bảy – tên tù binh có cái mũi khoẳm như mỏ vẹt trả lời, giọng thiểu não.
Tơroc Balin bèn gỡ mũ ra vứt đi.
- Nào, chấp bớt cho mày chừng ấy. Xem nào!
Sự chênh lệch về sức lực giữa hai người thật quá rõ: tướng Balin người to cao, đang tuổi sung sức, nhanh nhẹn, bắp thịt nổi rõ khắp người; còn tên Thổ đã chừng năm chục tuổi, người khẳng khiu, lưng còng.
Họ đánh nhau bằng thương. Ngay từ lượt đầu lao vào nhau, tướng Balin đã quật hắn ngã khỏi yên mạnh đến nỗi tên Thổ lộn tùng phèo trong không khí trước khi rơi bịch xuống đất.
Đám gia nô, võ đồng và cả bọn tù binh đều cười ran.
Tướng Balin ném khiên và găng tay sắt đi rồi nhảy xuống ngựa để cho các võ đồng cởi giúp nốt các đồ sắt còn lại trên người.
Tên Vẹt lồm cồm bò dậy, hắn ngoảnh bộ mặt vấy máu về phía Balin khóc lóc:
- Đức ông ơi, xin ngài hãy tha cho con về nhà. Vợ góa, con côi chờ con ở nhà đã hai năm nay rồi.
- Thế sao mày không chịu ở yên nhà ngay từ ban đầu, hở đồ dị giáo?
Balin căm tức trả lời. Ông thường điên tiết lên mỗi khi lũ tù binh nài xin tha.
- Đức ông ơi! – Tên tù binh vẫn khóc lóc và chắp tay lạy – Xin ngài hãy rủ lòng thương. Con có thằng con trai mắt đen rất kháu, con không được thấy mặt nó đã hai năm nay.
Hắn lê gối đến trước mặt Balin rồi sụp xuống đất dưới chân ông.
- Thương hại con với đức ông ơi!
Balin rút khăn tay lau mặt, ông nói, giọng run lên:
- Ước gì tất cả bọn Thổ khốn kiếp đều bị xiềng lại ở đây cùng với hoàng đế của chúng mày! Quân cướp của giết người, chúng mày đâu có phải là người nữa mà là lang lá sói!
Rồi ông bỏ đi. Tên Thổ vốc bụi lên ném theo ông và nức nở:
- Đã thế cầu cho Ala đánh chết mày đi, đồ thối bụng! Cầu cho mày phải già đời trong xiềng xích, cho vợ mày góa bụa, con mày côi cút ngay lúc mày đang sống! Ala hãy dạy cho mày biết khóc lóc gấp ba lần tao khóc, trước khi đày linh hồn mày xuống âm ti địa ngục.
Hắn vừa chửi rủa vừa khóc, nước mắt hắn chảy ròng ròng hòa với máu trên bộ mặt sây sát. Đám gia nô liền lôi cổ tên dị giáo đang tức tối đó ra giếng và múc nước giội lên người hắn.
Tơroc Balin đã quen với những cảnh như thế, nó chỉ làm ông tức giận. Trong thành của ông những lời van xin trở về cũng như những lời chửi rủa đều không tháo được cùm xích. Nói cho cùng, tất cả nô lệ, tù binh bất kỳ ở đâu và thời nào cũng đều khóc xin tự do, chỉ có điều là đứa này thì lặng lẽ, đứa kia thì ồn ào. Từ thuở bé Tơroc Balin đã quen sống trong cảnh kêu rên như vậy của đám nô lệ, hơn nữa trong thời đó nô lệ còn được tính vào giá trị của đời sống kinh tế trong gia đình. Đứa thì cho chuộc bằng tiền, đứa đem đổi lấy tù binh Hung. Như vậy thì làm sao có thể nghĩ đến chuyện thả một nô lệ của địch chỉ vì danh của Chúa!
Balin chìa lưng và tay cho các võ đồng chải bụi, sau đó vừa đưa tay xoăn ria mép trên khuôn mặt đỏ ửng vì tức giận ông vừa bước tới chỗ mục sư.
- Xin chào mục sư, - ông nói và chìa tay ra – Ta nghe nói bọn chúng nó đã luộc thầy như luộc cua. Không sao, ít nhất thầy cũng được mọc da mới.
- Thưa Đức ông, bộ da của con chỉ là chuyện nhỏ…Mục sư trả lời, mũ cầm trong tay – Việc chúng nó đã sát hại cả bầy chiên của con còn đau xót hơn. Bà mẹ tội nghiệp của con cũng đã bị chúng giết.
- Thế mà chó sói chưa bắt hết chúng nó đi. – Balin vừa nói vừa quay lại phía bọn Thổ - Đứa này nguyền rủa ta vì ta không thả cho hắn về, đứa khác lại chê ta là không thượng võ. Ta đứng ra đấu với hắn, ta chỉ dùng gươm còn hắn vác một cây mã tấu như một tên đao phủ, với hắn như thế là mã thượng. Nhưng một khi ta giật hắn ngã thì hắn lại lên mặt dạy ta.
Ông bực tức thắt chặt thêm dây lưng, mặt đỏ bừng bừng trông hệt như con gấu đứng chồm lên trong cái gia huy treo trên cổng thành. Sau đó ông nhìn sang chú bé:
- Chú bé ấy đây à? – Ông hỏi và ngạc nhiên mỉm cười .
- Mau xuống ngựa đi con. – Mục sư bảo Gergơ – Bỏ mũ ra chứ!
Chú bé chân đất mà lại đeo gươm vội vàng nằm mẹp xuống lưng ngựa và tụt xuống đất, đứng trước mặt Tơroc Balin.
- Ngựa này cháu chiếm được đấy à?
- Vâng ạ. – Chú bé đáp không khỏi tự hào.
Tơroc Balin cầm tay chú dắt đến chỗ vợ mình, ông đi nhanh đến nỗi mục sư Gabô phải vất vả mới theo kịp.
Nữ chủ nhân – một phụ nữ nhỏ nhắn, tóc hung, mặt trắng nõn nà – đang ngồi trong vườn cây bên cạnh một cái thớt đá cối xay. Bà đang cho mứt quả vừa nấu xong vào các lọ. Một cố đạo già, tay trắng trẻo cũng đang giúp bà, đó là cha xứ ở trong thành. Cạnh họ một cậu bé lên năm cùng một cậu bé lên ba đang chơi với nhau.
- Kotô yêu quý, em xem này! – Tơroc Balin gọi to – Chú võ đồng của Đôbô đây, chú oắt ấu đây!
Gergơ hôn tay bà. Nữ chủ nhân mỉm cười nhìn chú vẻ rất ngạc nhiên. Sau đó bà cúi xuống hôn má chú.
- Chú bé này ư? – Cha xứ cũng ngần người – Đang bú ti thế này?
- Bú ti, phải, máu giặc Thổ - Chủ tướng của tòa thành đáp.
- Cháu có đói bụng không, hở chú lính nhỏ? – Nữ chủ nhân hỏi.
- Cháu đói lắm, nhưng cháu muốn đến chỗ chú Đôbô trước đã.
- Úi, cháu ơi, cái đó thì không thể được. – Tướng Balin nghiêm nét mặt lại nói – Chủ tướng của cháu bị thương đang nằm… - Ông quay sang mục sư – Thầy vẫn chưa biết ư? Anh ta với năm chục mạng đã xông vào đánh hai trăm tên Thổ. Một tên đã đâm cho anh ta một dáo vào đùi mạnh đến nỗi mũi dáo xuyên vào đến yên ngựa mới dừng lại, gãy cả mũi dáo.
- Thế mà ông ta không chết? – Mục sư hỏi.
- Có chết cái ôn dịch, anh ta phạt đứt tên Thổ rồi cứ đóng đinh vào yên như thế mà phóng ngựa về.
Gergơ tái mặt lắng nghe câu chuyện. Chú hối hận là mình đã không ở lại bên cạnh Đôbô. Giá chú ở đó thì có phải chú đã chém cho tên Thổ ấy một nhát rồi không. Cha xứ bảo chú:
- Đi chơi đi con, ra mà chơi với các công tử.
Hai cậu bé tóc đen lúc bấy giờ đã đến đứng bên váy mẹ và đang chăm chú nhìn Gergơ.
- Nào, các con sợ gì. – Bà mẹ khuyến khích – Anh ấy là dân Hung đấy chứ, anh ấy yêu các con đấy.
Rồi bà nói với Gergơ:
- Đây là đứa lớn: Iontsi, còn đứa bé là Pheri [42]
Gergơ thân mật bảo hai đứa bé kia:
- Các cậu lại đây, tớ sẽ cho các cậu xem thanh gươm của tớ.
Ba đứa bé kết bạn rất nhanh chóng.
- Còn thầy, - Balin ngồi xuống ghế hỏi – không còn con chiên nữa thì mục sư định làm gì bây giờ?
- Dù sao con vẫn sống được, nếu không khá hơn thì cũng như cuộc đời một tu sĩ. – Mục sư Gabô buồn rầu trả lời.
Tơrớc Balin vừa mân mê ria mép vừa suy nghĩ:
- Thầy có biết tiếng Thổ không?
- Có
- Cả tiếng Đức nữa chứ?
- Con đã từng theo học hai năm trên nước Đức
- Vậy thì ta có ý kiến như sau, thầy mục sư ạ. Thầy hãy về thu xếp nhà cửa rồi sang ở thành Xiget này. Hay đừng sang Xiget nữa mà sang thẳng thành Somodo, vì chỉ ít hôm nữa chúng ta sẽ dọn qua bên đó. Vậy thầy hãy đến đấy nhé. Vợ ta có cha xứ cựu giáo thì tại sao ta lại không có mục sư tân giáo nhỉ? Với lại, vài năm nữa bọn nhóc sẽ lớn, ta sẽ giao cho thầy dạy dỗ chúng nó.
- Bẩm đức ông, thế còn con? – Cha xứ bỏ dở nồi mứt quay lại hỏi
- Tất nhiên cha cũng dạy chứ, cha dạy chúng nó tiếng latinh, thầy đây sẽ dạy tiếng Thổ. Cha hãy tin rằng tiếng Thổ cũng cần cho sự thành đạt chẳng kém gì tiếng latinh đâu.
Ông nhìn hai đứa con đang đuổi nhau với Gergo bên cây táo. Cả ba đều đỏ bừng mặt và cười khanh khách. Ông mỉm cười:
- Ta sẽ chiếm lại Đôbô chú bé này. Rất có thể chú ta sẽ trở thành ông giáo thứ ba.
[1] Thành phố ở phía nam nước Hung, gần biên giới Hung – Nam Tư
[2] Đáng lẽ gọi là Gergơ, nhưng cô bé nói đớt
[3] Vixusko là tên gọi thân tình của Êvô, còn gọi là Vixo, Êvi, Êvike
[4] Szapolyai Jasnot (1487-1540). Từ 1511 trở đi là công vương vùng Êrơđêi và là thủ lĩnh của đảng quý tộc nhỏ. Năm 1514, hắn được ưa chuộng trong giai cấp thống trị vì đã có công đàn áp cuộc chiến tranh nông dân của Đôjo lãnh đạo. Theo những người đương thời, năm 1526 hắn đã cố tình đến chậm để quân của đại quý tộc bị đánh bại ở trận Môhát. Sau khi vua Loiốt đệ nhị tử trận, hắn được các đảng phái quý tộc hạng vừa vừa nhỏ cử làm vua Hung, nhưng bọn đại quý tộc lại chọn Pheđinan đệ nhất của triều đình Hapxbua làm vua Hung. Hai bên đánh nhau để giành vương quyền. Quân hắn bị thua quân của Pheđinan I ở vùng Tôkoi và hắn phải lánh sang Balan. Năm 1528 mới trở về nước nhờ sự giúp đỡ của Hoàng đế Thổ, vì thế sau khi về Buđa, hắn bỏ mặc cho quân Thổ tàn phá cướp bóc nhiều vùng trong nước. Sau nhiều lần tranh chấp, hắn và vua Pheđinan I ký hòa ước Varodi (1528), hai bên công nhận vương quyền của nhau với điều kiện là sau khi hắn chết, phần đất đai thuộc vương quyền của hắn sẽ sát nhập vào triều đình Hapxbua.
[5] Dôzsa Gyorgy: một trong những nhân vật lớn nhất trong lịch sử Hungary. Năm 1514 đã chỉ huy đạo quân thập tự phần lớn là nông dân đi đánh bọn xâm lược Thổ. Ông và đội quân của ông đều căm ghét sự bóc lột tàn nhẫn của tầng lớp đại quý tộc phong kiến. Ông đã tóm tắt cương lĩnh bài phong của mình trong lời tuyên ngôn Xêgơlêt, đòi bọn lãnh chúa quý tộc “phải sống bình đẳng với dân chúng và nông nô của họ”. Chẳng bao lâu, đội quân của ông đã đông tới 3 vạn người. Hoảng sợ trước tính chất bài phong của đội quân này, bọn phong kiến phản động bất chấp nguy cơ xâm lược của giặc Thổ, đã huy động quân đội chính quy ra đánh đạo quân Đôjo. Sau những thắng lợi ban đầu, đội quân liềm hái của Đôjo bị đánh tan và bị khủng bố khốc liệt – Tháng 6-1514, Đôjo rơi vào tay công vương Xopôio Gianốt. Chúng bắt ông ngồi lên ngai sắt nung đỏ, ba lần chụp mũ sắt nung đỏ lên đầu ông. Đôjo chịu đựng cực hình không hề hé răng. Hình ảnh của ông đã trở thành đề tài cho nhiều tác phẩm văn học và nghệ thuật ở Hung
[6] Kinh đô Thổ Nhĩ Kỳ hồi đó. Ngày xưa thành phố này gọi là Bizăngxơ, năm 326, Hoàng đế La Mã Công-xtăngtinux dời đô từ Rôm về đây và đổi tên Bizăngxơ thành Nôva Rôma (Rôm mới) nhưng ở châu Âu người ta không gọi theo cái tên chính thức đó mà gọi theo tên của hoàng đế nên mới thành ra Công-xtăngtinốp. Năm 1453 hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ đánh chiếm thành phố này, từ đó gọi là Ixtăngbun hoặc Xtăngbun. Tuy vậy, bên cạnh tên mới này, tên Công-xtăngtinốp vẫn còn rất thông dụng ở châu Âu cho đến mãi gần đây
[7] Lính thiết kỵ trong quân đội Thổ
[8] Lính phóng lao trong quân đội Thổ
[9] Loại lính thiện chiến nhất của quân đội Thổ
[10] Môrê Laxlô là một tên quý tộc, trở nên nổi tiếng vì rất tàn ác trong cuộc đàn áp phong trào Đôjo Giơrgiơ. Về sau hắn quay sang thần phục triều đình Hapxbua và trở nên một tên cướp khét tiếng.
[11] Pisơto là tên gọi thân mật của Istơvan
[12] Đây là loại áo giáp như lưới sắt gồm nhiều vòng nhỏ móc vào nhau, vì vậy Đôbô mới nói đùa như trên.
[13] Giuri là tên gọi thân mật của Gyórgy, tên giám mục
[14] Hồi đó có dòng đạo cải lương do Martin Luther khởi xướng năm 1517 tại thành phố Víttembéc (miền Nam nước Đức) không thừa nhận quyền lực của Tòa thánh La Mã và phản đối những nghi lễ phiền phức tốn kém do Tòa thánh đặt ra. Dòng đạo này được truyền bá ở những nước mà hồi đó giai cấp tư sản hình thành nhưng còn yếu ớt như Đức, các nước vùng Scăngđinavơ, các nước vùng Bantich v.v…
[15] Hồi đó vua Hung Xopôio Gianốt gọi quân Thổ vào giúp dẹp loạn Môrê, một số triều thần khác lại chủ trương mời quân Đức, vì thế trong nước chia ra hai phe: một phe thân Đức bài Thổ, một phe ủng hộ chính sách của nhà vua
[16] Kinizsi (-1494): một danh tướng Hungari, đã lập nhiều chiến công hiển hách trong các chiến dịch đánh quân Thổ.). Vua Máchát (Mátiás (1443-1490): ông vua anh minh và công bằng nhất trong lịch sử Hungari
[17] Một đại quý tộc Hungari. Lúc đầu về phe Pheđinan, nhưng về sau lại quay sang phe Xopôio Gianốt
[18] Ý nói có các chiến sĩ Hung
[19] Nh>ững người theo đạo Hồi >kiêng rượu vang và thịt lợn. Dân Thổ theo đạo Hồi vậy, phải kiêng rượu vang mới đúng, nhưng bọn lính Thổ này ngửi mùi rượu vang là quên cả tín ngưỡng. Mà trong con mắt dân Hung hồi đó thì dân Thổ và đạo Hồi là một.
[20]Hiện nay ở Hung khoai tây vẫn còn hai tên gọi phổ bến krumpli và burgônya.
[21]Xem chú thích trang 23
[22]Tên một thành phố ở Palextin, đất thánh của Gia tô giá, nơi Giêsu ra đời.
[23] Thủ đô Nam Tư ngày nay.
[24] Con sông lớn thứ nhìn châu Âu. “phát nguyên từ Rừng Đen chảy ra Biển Đen” (Hắc hải), qua các nước Đức, Áo, Tiệp, Hung, Nam Tư, Bungari, Rumani, Liên Xô. Tên Latinh là Đanubiux, tên Đức là Đônao, tên Tiệp, Nga là Đunai, tên Hung là Đuno, tên Rumani là Đunaree, tên Bungari, Nam tư là Đunavơ. Ở nước ta xưa nay vẫn quen gọi theo tiếng Pháp là Đanúyp. Ở đây chúng tôi lấy theo tên Hung.
[25] Tên gọi của hòang đế các nước theo đạo Hồi.
[26] Tên thành Bengrat hồi đó.
[27]Một trong 6 bang thuộc Nam Tư.>
[28]Đây là cây lúa, bác nông dân định nói lúa để nấu cháo nhưng nấu sai.>
[29]Cối xay chạy nhờ sức nước quay bánh xe
[30]
31Đây là tên của những thành phố, thị trấn nằm trên đường đi từ Hung qua Nam Tư, Bungari đến kinh đô Công xăngtinốp.
[32]Rượu vang làm bằng nho axu, sắc vàng như mật ong, còn gọi là rượu Tôkoi, một lọai rượu vang thượng hỏa hang của Hung
[33] Hồi đó còn là tiền vàng, khác với phôring là đơn vị tiền tệ ngày nay của nước Hung
[34] Ở một vài nước vùng Ban căng như Thổ Nhĩ Kỳ, Bungari… khi người ta gật đầu có nghĩa là không, khi lắc đầu mới có nghĩa là ừ, có, đồng ý.
[35] Tiếng Thổ trong nguyên văn, có nghĩa là: tôi chết mất
[36] Giáo tổ của Đạo Hồi, theo truyền thuyết là người đã sáng lập ra Hồi giáo ở thế kỷ VII
[37] Chúa Trời của đạo Hồi
[38] Gã xigan nói ngọng
[39]Đất thánh của đạo Hồi, thuộc địa phận Arập Xaudich ngày nay)
[40]Câu chào bằng tiếng Thổ, nghĩa là: chúc cho các bác được phù hộ độ trì
[41]Thiếu niên, có khi đã là thanh niên, đi theo phù tá các tướng để rèn luyện võ nghệ, tập đánh trận. Có nơi dịch là thị đồng, nhưng trong làng võ cái tên gọi ấy có vẻ không thích hợp lắm nên chúng tôi chọn cái tên võ đồng>
[42] Iontsi là cách gọi thân mật của Gianôt, các cách gọi thân mật khác: Giannôtko, Iontsiko. Pheri là cách gọi thân mật của Pherenx, các cách gọi thân mật khác: Pherike, Pherikô