Những ngôi sao Eghe

Lượt đọc: 1931 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần 2
budo thất thủ

Vua Gianôt đã băng hà. Thái tử còn măng sữa. Quốc gia không có chủ súy. Đất nước giống những gia huy trên đó những con phượng hoàng tức tối chồm lên nhau, cố vươn mình tranh lấy cái vương miện lửng lơ ở giữa.

Nhân dân không còn biết nghĩ thế nào nữa. Chẳng ai biết ách thống trị của bọn Thổ dị giáo đáng sợ hơn hay sự bảo hộ của quân Đức chính giáo đáng sợ hơn.

Vua Đức Phedinan phái tên nguyên soái lẫn cẫn Rôgenđô đến Buđo [43], còn hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ thân chinh lên đường để cắm ngọn cờ nửa vành trăng lên cung điện vua Hung.

Đó là lúc các sử gia viết con số 1511 vào niên biểu.

Một đêm trăng tháng tám, hai kỵ sĩ phóng ngựa lên dốc núi trên đường cái Metsec. Một người gầy, râu cạo nhẵn, mặc áo choàng đen, chắc là cố đạo. Người kia là một công tử trạc mười lăm tuổi, có mái tóc dài.

Ngoài ra còn một gia nhân lưng dài cưỡi ngựa lẽo đẽo theo sau. Sở dĩ lưng y nom dài vì y ngồi trên hai cái bị đầy cứng thay cho yên ngựa. Trên lưng y còn một cái bọc to bằng da mà như bây giờ thì chúng ta gọi là ba lô. Từ trong bọc có ba cái gậy thò ra, một cái cứ thỉnh thoảng lại ánh lên có thể thấy rõ đó là khẩu súng.

Một cây lê dại cổ thụ, đen sẫm đứng gần bên lề đường - có lẽ nó cũng lâu đời như con đường quốc lộ. Tới chỗ đó họ cho ngựa rẽ xuống khỏi mặt đường.

Người mặc áo cố đạo nhìn lên cây hỏi:

- Cây này đây à?

- Nó đấy. – Người trẻ tuổi đáp - Hồi con còn nhỏ, cú thường hay làm tổ trong ấy. Từ đó tới nay hốc cây chắc đã rộng thêm ra, một người có thể vào lọt, có khi cả hai người cũng vừa.

Cậu đứng lên yên và đu mình lên cây lê dại. Thoáng một cái cậu đã ở trên cây. Cậu rút gươm xọc vào hốc cây và chui tọt vào trong.

- Cả hai thầy trò ta cũng vừa. – Cậu vui vẻ kêu lên – Chúng ta có thể ngồi thoải mái trong này.

Rồi cậu trèo ra và nhảy xuống cỏ. Người mặc áo cố đạo bỏ áo choàng ra và nói:

- Thế thì bắt tay vào việc thôi.

Đó là mục sư Gabô và cậu học sinh Bônemixo Gergey.

Từ lúc chúng ta xa họ đến nay, tám năm đã trôi qua. Mục sư không thay đổi mấy, duy chỉ có lông mày của ông đã mọc ra và râu ria cũng đã có thể cạo được từ lâu, và có gầy đi chút ít. Nhưng cậu thiếu niên này thì thay đổi nhiều lắm. Tám năm qua đã biến đổi cậu thành một người lớn. Nhưng chỉ về hình vóc thôi, còn mặt cậu vẫn mang cái vẻ chưa ra đẹp cũng chưa ra xấu, như nét mặt vẫn thường thấy của tất cả những thiếu niên mười lăm mười sáu. Mớ tóc lượn sóng để rủ xuống vai theo mốt của nam giới thời đó.

Gã gia nhân lấy trong bọc ra hai cái xẻng và một cái quốc chim. Mục sư cầm lấy một cái xẻng, cậu học sinh cầm lấy chiếc kia. Họ đào ngay ở chính giữa>  đường quốc lộ.

Gã gia nhân bê hai cái bị đến rồi trở lại chỗ mấy con ngựa, gã tháo cương, buộc dây hãm vào chân chúng rồi thả cho chúng gặm bãi cỏ rừng ướt đẫm sương đêm. Sau đó gã cũng bắt tay vào việc. Gã lấy từ trong cái bọc da kếch sù ra nào bánh mỳ, nào bình đựng nước và cả các binh khí nữa. Gã hốt lớp đất cát lẫn đá cuội mà hai người kia vừa đào lên>  vào bọc rồi đem rải xuống bên cạnh đường. Khi quay về gã lại mang theo những cục đá to để bên cạnh nó.

Chưa đầy một giờ sau cái hố đã sâu đến ngang lưng.

- Đủ rồi. – Mục sư nói – Gianốt, đưa hai cái bị lại đây.

Gã gia nhân lễ mễ bưng hai cái bị đến.

- Đừng để sung bị ướt sương! – Mục sư bảo gã rồi lại tiếp – Ngươi cầm lấy cái quốc chim, xẻ một cái rãnh từ hố này đến chỗ cây lê dại đằng kia kìa. Ở trên mặt đường, rãnh phải sâu độ một gang, còn dưới bãi cỏ chỉ sâu bằng nửa thôi cũng thể thấm ướt đủ. Lược lấy lớp đất cỏ cho khéo để có thể lấp lại y như cũ. Không được để một dấu vết gì làm lộ công việc của ta.

Trong khi gã gia nhân xẻ rãnh, ahi thầy trò đổ hai cái bị vào hố.

Trong hai bị ấy có thuốc súng đựng trong những túi da nhỏ. Họ nện chặt và đắp những cục đá to lên trên. Họ lại bỏ đá dặm và đất vào các kẽ hở giữa những cục đá to rồi dầm thật chặt.

Gã gia nhân đã đào rãnh đến tận cây lê dại và đang lấy đá lát bờ rãnh. Dây ngòi đặt chạy dài trong rãnh đó. Họ dùng vải dầu và đá dẹt phủ từ đầu đến cuối dãy để mưa cũng không thể thấm ướt được.

- Thưa cha – Gã gia nhân hớn hở nói – Bây giờ con đã biết cái gì đang sửa soạn ở đây.

- Cái quái gì thế, hở Gianốt?

- Một kẻ nào đó sắp được bay lên trời tại chỗ này.

- Ngươi nghĩ gì, ai nào?

- Ai ấy à? Cũng dễ đoán thôi. Ngày mai hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ sẽ đi qua đây.

- Hôm nay chứ – Mục sư nhìn lên bầu trời đang rạng dần, đáp lại. Rồi ông rút khăn lau bộ mặt nhẽ nhại đầy mồ hôi.

Khi mặt trời lên soi tỏ con đường, cái hố và cái rãnh đã không còn để lại dấu vểt gì nữa.

Mục sư ném cái cuốc sang bên, bảo gã gia nhân:

- Gianốt ơi, con hãy cưỡi ngựa lên đỉnh Metsec, đến tận chỗ nào mà con có thể nhìn suốt được con đường ấy nhé!

- Con hiểu rồi, cha ạ.

- Ta và cậu học sinh sẽ nghỉ ở đằng sau cây lê dại độ vài ba chục bước. Con chú ý xem lúc nào đội quân Thổ đến. Khi thấy bóng tên thám mã đầu tiên, lập tức phải phóng về đánh thức chúng ta dậy.

Ông và cậu học sinh tìm một chỗ tốt trong bìa rừng, họ trải áo khoác xuống và cả hai đều lập tức ngủ thiếp đi.

Đến trưa, gia nhân từ trên đỉnh núi phi ngựa xuống.

- Chúng nó đến rồi – Gã kêu lên từ đằng xa – Một đạo quân đông kinh khủng đang trẩy đến ! Như sông như biển ấy ! Trăm nghìn vạn lạc đà với lại xe tải. Một vài tên thám mã đã đến trước đường cái rồi.

Mục sư quay sang bảo cậu học sinh :

- Nào, bây giờ chúng ta có thể đi ăn trưa ở chỗ ông bố kia của con được...

- Đằng ông Xexey ấy à ?

- Đằng ấy,

Cậu học sinh nhìn mục sư vẻ dò hỏi. >Gã gia nhân cũng thế. Mục sư mỉm cười:

- Chúng ta đã đến sớm một ngày. Con không hiểu ư? Đây là bọn lính hành doanh. Bọn này đi trước lập trại để khi nào toàn quân đến Môhát [44] ) thì chỗ nằm và cơm nước đã có sẵn.

- Thế thì ta đến chỗ ông bà Xexey thôi – Cậu học sinh hớn hở nói.

Khi đến bên dòng suối, họ xuống ngựa, rửa ráy sạch sẽ. Cậu học sinh hái được một bó hoa rừng.

- Cho ai đấy, Gergey?

- Cho vợ con – Gergey nhoẻn miệng cười

- Vợ của con?

- Đấy là chúng con đã quen nói như vậy. Cô bé Xexey Evo ấy mà, cô ấy sẽ là vợ con đấy. Chúng con đã từng sống thời thơ ấu với nhau, sau đó vì ông bố nhận con làm con nuôi nên lần nào về thăm con cũng phải hôn cô ấy

- Ta tin rằng con vẫn hằng vui lòng làm việc đó,

- Con cũng vậy. Má cô ấy y như hoa cẩm chướng trắng

- Như thế thì chưa thể khẳng định được con có thể coi cô ta như vợ.

- Ông giáo sĩ già bảo rằng họ đã định gả cô ấy cho con. Theo chúc thư của ông Xexey, thì cùng với cô gái, cả làng ấy cũng sẽ thuộc về con.

- >Thì ra ông giáo sĩ đã để lộ bí mật

-vKhông phải đâu, ông ấy chỉ dặn con phải cố gắng sao cho xứng đáng với diễm phúc ấy.

- Con sẽ sống hạnh phúc với cô gái ấy chứ?

- Thầy phải trông thấy cô ấy đã. Nếu thấy rồi thầy sẽ không hỏi con như thế nữa đâu.

Con ngựa vấp một cái và chạy lên phía trước vài bước.

- Cô ấy chẳng khác gì một con mèo trắng nhỏ - Cậu tiếp, sau khi đã ghìm ngựa lại.

Mục sư mỉm cười. nhún vai.

Họ đã đi vào khu rừng rậm và phải xuống ngựa. Gergey đi lên trước. Cậu biết dải rừng rậm này vẫn che khuất làng.

Khi họ phi ngựa xuống thung lũng, đám phụ nữ từ nhà chạy cả ra:

- Gergơ! Đúng cậu Gergơ kia rồi! – Họ mừng rỡ kêu lên.

Gergey vẫy mũ hết bên này sang bên nọ:

- Chào thím Luxi! Chào bà Ponni!

- Gia đình tôn ông không có nhà đâu! – Một mụ kêu lên.

Gergey cụt hứng. Cậu dừng ngựa lại:

- Thím nói gì thế, thím ơi?

- Họ đi rồi. Họ dọn đi rồi.

- Đi đâu?

- Lên Buđo.

Gergey ngẩn người:

- Cả nhà ư?

Ôi niềm hy vọng ngây thơ! Cậu ta tưởng rằng mọi người sẽ trả lời như sau:

-vKhông đâu, tiểu thư vẫn còn ở lại.

Thật ra như bạn đọc cũng có thể thấy trước, người ta trả lời thẳng thế này:

- Dĩ nhiên là cả nhà. Đến cụ giáo sĩ của chúng tôi cũng đi cùng với họ rồi.

- Họ đi từ bao giờ ?

- Từ sau ngày lễ thánh Giooc

- Nhưng vẫn phải có ai ở nhà chứ ?

- Có tên Thổ.

Gergey tiu nghỉu, quay sang mục sư :

- Họ đi Buđo rồi. Từ lâu>  Đức cha Giorgio đã cho họ một cái nhà ở đó. Nhưng con không hiểu sao họ không nói với con về việc này, mặc dù kỳ vũ hội cuối mùa đông [45] con có về đây.

- Vậy thì ta không được ăn trưa.

- Sao lại không ạ , vẫn còn tên Thổ ở nhà.

- Tên Thổ nào ?

- Tên Thổ của Xexey, tên là Tulipan. Hắn là tên đầu sai ở đây. Nhưng nghĩa trang đây rồi. Con xin phép rẽ vào đây một lát. Mẹ con ở đây.

Một nghĩa trang chỉ lớn bằng khu vườn, có hàng rào tử đinh hương bao quanh, hiện ra đằng sau ngôi nhà. Trong nghĩa trang đầy những thánh giá bằng gỗ đẽo sơ sài. Không ngôi mộ nào có bia.

Cậu học sinh giao ngựa cho gã gia nhân rồi bước vội vào. Cậu đứng lại bên một cây thánh giá bằng gỗ màu nâu đã hơi lún xuống, đặt bó hoa rừng lên mộ và quỳ xuống.

Mục sư cũng xuống ngựa đến quỳ bên cạnh cậu học sinh và ngửa mặt lên trời cất tiếng cầu nguyện :

- Đức chúa ở thiên đình, vị chúa tể của mọi linh hồn sống cũng như chết, xin hãy ban giấc mơ yên tĩnh cho người mẹ hiền đang nằm nghỉ nơi đây, xin hãy ban cuộc sống hạnh phúc cho đứa bé mồ côi đang quỳ gối nơi đây. Amen.

Rồi ông kéo cậu học sịnh vào sát mình và hôn cậu.

Nhà của lãnh chúa gần như đối diện với nghĩa địa. Cánh cổng lúc đó đã mở toang, một mụ đàn bà tròn như hạt mít, nước da đỏ đắn, chào đón những người mới đến với nụ cười thân thiện.

- Chào mụ Tulipan. Chồng mụ đâu rồi ? – Cậu học sinh chào hỏi thế vì mở cổng vốn là việc của Tulipan.

- Anh ấy đang say. – Mụ trả lời, giọng vừa ngượng vừa bực.

- Say à ?

- Thì lúc nào mà anh ấy chả say. Tôi có giấu chìa khóa kho vào đâu đi nữa, anh ấy vẫn mở nó ra được. Hôm nay tôi đã giấu xuống dưới cối xay đậu, thế mà anh ấy vẫn tìm ra.

- Đã thế thì đừng có giấu diếm nữa, mụ ạ. Nếu uống được bình thường, hắn sẽ không uống nhiều như bây giờ nữa đâu.

- Lại không ấy. Anh ấy uống như một con bò mộng ! Anh ấy chỉ uống rượu với hát nghêu ngao suốt ngày thôi. Cái đồ trời đánh ấy không muốn làm lụng gì cả !

Dưới bóng cây dâu có một nông phụ nước da nâu đang ngồi xếp bằng trên chiếu, trước mặt y để một cái bình tráng men xanh. Y chưa say đến mức của thể lấy bình rượu của y đi được. Y ngồi với thằng con trai, một đứa bé lên sáu, đi chân đất, mắt cũng đen láy y như bố nó, chỉ khác mỗi điểm là mắt bố nó lúc nào cũng như đang cười vì một ý nghĩ tinh nghịch ngấm ngầm nào đó.

Đó chính là tên Thổ mà Xexey đã tha chết vì thấy y trả lời rằng có biết đánh cờ. Về sau thực tế đã chứng tỏ rằng đấu cờ với y quả là chẳng bõ, nhưng có thể dùng y vào tất cả mọi việc trong nhà. Đặc biệt y có thể làm bếp rất giỏi. Cha y đã từng làm đầu bếp cho một basa [46] nào đó. Các mụ đàn bà rất thích y vì y bày cho họ cách nấu các món ăn Thổ Nhĩ Kỳ như pilaps, borec, malebi, xơbetec và đú đởn với y khá nhiều. Còn Xexey thích y vì y đã đẽo cho lão một cánh tay gỗ có đủ cả năm ngón. Nếu lão đeo găng tay vào, không ai còn dám bảo đó là tay gỗ nữa. Trước hết lão thử bắn cung. Lão sai người lấy trên trần nhà xuống một cái cung dài cũng bằng người lão vậy. Với bàn tay gỗ ấy lão đã giương được cung. Thế là từ đó lão cất nhắc tên Thổ lên làm tên đầu sai.

Hồi đó có một mụ vợ trẻ trung Hung vừa bị góa chồng, tên Thổ bèn đến sưởi ấm với chị ta ; sau đó thì lấy làm vợ. Tất nhiên trước đó y phải cải đạo. Y đã trở thành một người Hung ngoan đạo như thể y đã sinh ra trên mảnh đất này vậy.

Vừa thoáng thấy cậu học sinh và mục sư, y đã đứng dậy vọng tay lại trước ngực theo cung cách Thổ. Y định cúi mình chào, nhưng lập tức y cảm thấy việc đó nhất định sẽ kết thúc bằng một cái ngã ngập trán, vì vậy y đành chỉ biểu thị lòng tôn kính bằng cách bước một bước loạng choạng về phía trước.

- Ê, Tulipan ơi! – Gergey lắc đầu nói – lúc nào chúng ta cũng say sưa thế này ư ?

- Phải uống cậu ạ - Tulipan đứng đắn trả lời nhưng mắt vẫn ngời lên ánh tinh nghịch – Hai mưới lăm năm làm dân Thổ Nhĩ Kỳ không được uống[47] , bây giờ phải bù lại chỗ đó. >

- Nhưng anh say thì ai sẽ nấu bữa trưa cho chúng ta ?

- Vợ con nó sẽ nấu ạ - Và y búng ngón tay trở về phía mụ vợ - Nó nấu được cả món phó mát nữa đấy. Đó mới thực là món ngon tuyệt !

- Nhưng chúng ta thích món pilap[48]  cơ.

- Nó nấu được cả món ấy nữa đấy ạ. Nó làm được đấy.

- Thế ông chủ nhà ta đâu ?

- Ở Buđo. Có thư về, thế là gia đình ông chủ kéo nhau đi. Ông chủ được người ta cho một ngôi nhà. Tiểu thư xinh đẹp mà ngồi trong cái nhà ấy thì chẳng khác gì một bông hồng giữa vườn hoa xinh xắn.

Cậu học sinh quay sang phía mục sư :

- Nhỡ quân Thổ chiếm được kinh thành thì số phận họ sẽ ra sao ?

- Hôhô !- Mục sư ngẩng phắt đầu lên – Trước tiên phải mất cả nước đã rồi mới mất thành Buđo. Vả lại chưa bao giờ kẻ thù chiếm được Buđo cả.

Thấy Gergey vẫn băn khoăn nhìn mình, ông tiếp :

- Đất nước do thần dân bảo vệ, còn thành Buđo do chính chúa trời phù hộ

Tulipan mở hết các cửa. Từ các phòng, mùi oải hương hăng hắc bốc ra, mục sư bước vào nhà. Mắt ông dừng lại ở những bức chân dung treo trên tường.

- Có lẽ đây là tôn ông Xexey ? – Ông vừa hỏi vừa chỉ vào bức tranh vẽ một người đội mũ sắt

- Vâng – Gergey đáp- Bây giờ chỉ khác chỗ ông không như thế này nữa mà đã trắng trẻo hơn.

- Thế còn cái bà mắt hiếng này ?

- Bà vợ đấy ạ. – chẳng hiểu lúc người ta vẽ bà ấy có hiếng không nhưng bây giờ thì không hiếng nữa.

- Chắc là một bà chua chát lắm.

- Không đâu ạ. Bà ấy dịu dàng vô cùng. Con đã quen chỉ gọi bà bằng mẹ

Cậu học sinh cảm thấy mình là chủ nhà bèn nhắc ghế mời mục sư ngồi và giới thiệu những đồ đạc lâu đời với một vẻ mặt sung sướng :

- Thầy hãy nhìn xem : chỗ này Vixo vẫn quen ngồi khi nàng khâu vá. Chân nàng để lên cái kỷ này đây. Đây là cửa sổ nàng vẫn thường đứng nhìn cảnh mặt trời lặn và những lúc đó đầu nàng in bóng lên bức tường kia kìa. Còn bức tranh này do nàng vẽ đấy. Cây liễu bên nấm mồ. Những con bướm là của con vẽ thêm vào. Rồi thầy có biết không, những lúc ngồi trên ghế, nàng vẫn quen ngồi như thế này này. Nàng chống tay thế này, cái đầu nghiêng về một bên, và cười tinh nghịch, tinh nghịch chưa từng thấy.

- Tốt, tốt – Mục sư mệt mỏi đáp - Nhưng này, con đi giục bữa trưa đi !

Buổi tối họ đi ngủ muộn.

Mục sư lấy cớ mình phải viết một vài bức thư nên không ngủ cùng một phòng với học trò. Cậu học sinh cũng lấy giấy và nghiên mực đặt bên cây nên trong phòng. Trước tiên cậu vẽ một bông hoa lưu ly[49] lên trang giấy, sau đó cậu mới viết cho người yêu biết ngôi nhà vắng chủ làm cậu ngạc nhiên đến như thế nào, cậu hỏi vì sao người ta không báo cho cậu biết việc dọn nhà và nếu người ta có báo thì bức thư chắc chắn đã bị thất lạc.

Thời đó, nước Hung chưa có bưu điện. Chỉ có những nhà quyền quý mới thư từ với nhau được. Ai muốn gửi thư từ Buđo đến Ơrecloc chẳng hạn, người đó phải có người chuyển thư riêng.

Sau khi viết xong bức thư, cơn buồn ngủ đè nặng lên mi mắt cậu học sinh, cậu ngả người lên ghế dài bọc da sói và ngủ thiếp đi.

Có lẽ cậu sẽ ngủ đến tận sáng bạch, nếu lúc rạng đông một con bò sữa không rống lên ngay dưới cửa sổ.

Điều đó đã xa lạ đối với cậu. Ở thành Sômôđơ cũng như ở thành Xiget và trong các dinh cơ khác của Torơc Balin, chẳng bao giờ lại có bò rống dưới cửa sổ của cậu. Lúc nào cũng có người hầu đánh thức cậu dậy cùng với các công tử Torơc, và khi họ ăn điểm tâm, mục sư đã chờ họ ở ngoài vườn cùng các thứ sách vở.

Cậu ngồi dậy và dụi mắt. Cậu chợt nhớ ra bài học hôm nay thật đặc biệt : phải cho hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ bay về cõi bồng lai.

Cậu đứng dậy và đến gõ cửa phòng bên cạnh :

- Thầy ơi ! Ta đi được rồi.

Không có tiếng trả lời. Gian phòng bên tối om.

Cậu mở một cánh cửa chớp và cánh cửa sổ bằng kính mỏng.

Giường mục sư bỏ trống.

Trên bàn có mấy bức thư trăng trắng.

Gergey sửng sốt lầm bẩm:

- Quỷ quái gì thế này? Giường vẫn nguyên như mới trải.

Cậu vội vã ra khỏi phòng. Ngoài sân, mụ Tulipan mặc váy lót, chân không đang lùa lợn ra bãi.

- Mụ Tulipan ơi, mục sư đâu rồi?

- Cha đi rồi, từ lúc nửa đêm cơ, khi trăng còn chưa sáng cơ!

- Gianôt cũng đi cùng với cha rồi à?

- Không. Anh ta vẫn ở đây. Cha đi bộ một mình.

Cậu học sinh trở vào văn phòng, đầu óc bối rối. Cậu đã linh cảm thấy việc làm của mục sư. Cậu vội vã đi đến bàn.

Giữa mấy bức thư có một bức thư để ngỏ. Hàng đầu viết bằng những chữ rắn rỏi, đậm nét:

Gergey, con yêu quý!

Bức thư này là của cậu. Cậu cầm lên bước tới bên cửa sổ. Nét mực vẫn còn tươi trên trang giấy. Gergey đọc:

Nếu hôm nay con thú dữ đội vương miện đó trở về chầu âm phủ thì đó là sáng kiến và công trạng của con. Nhưng ý kiến của con cũng có phần nguy hiểm. Phần đó con hãy nhường thầy con ạ!

Con đang sống giữa tình thương dạt dào vào còn trẻ tuổi. Tính tháo vát, kiến thức và lòng can đảm của con có thể hữu ích nhiều cho đất nước.

Cạnh bức thư của thầy, con sẽ thấy một cái túi nhỏ, trong đó có một cái nhẫn Thổ Nhĩ Kỳ. Đó là vật báu độc nhất của thầy. Thầy đã để cho người mà thầy yêu mến nhất. Của con đấy, con ạ.

Và thầy để lại cho con cả thư trại của thầy nữa. Con hãy đọc sách nếu một ngày kia mây đen đã rút khỏi bầu trời Tổ quốc. Còn giờ đây, gươm dáo mới là thứ đáng đặt vào tay người Hung.

Con hãy trao binh khí của thầy cho tướng công Balin, bộ đá sưu tập của thầy cho Gianốt, bộ hoa sưu tập cho Pheri. Hãy cho mỗi chú một quyển sách trong thư trại của thầy làm kỷ niệm và bảo các chú ấy hãy cố gắng trở thành những tráng sĩ trung dũng như cha, nhưng đừng bao giờ đứng về phe dị giáo mà hãy cùng con gắng sức lập lại vương quyền của dân tộc. Ngoài ra thầy cũng có viết thư cho các chú ấy, và mong rằng những điều thầy viết sẽ còn lưu lại mãi mãi cũng như ba mảnh linh hồn của thầy đã chia cho cả ba con.

Lúc thầy đi con đang ngủ. Thầy hôn con.

Mục sư GABÔ

Gergey đứng ngây như phỗng đá, sững sờ nhìn bức thư.

Chết? Cậu bé mười lăm tuổi chưa hiểu nổi chữ đó. Cậu chỉ mới nghĩ đến cảnh tượng khoái mắt khi hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ bị tan xác thành muôn nghìn mảnh trong khói và lửa, và bay lên trong không trung trước mặt cậu.

Cậu đút cái túi đựng nhẫn và bức thư cho vào túi rồi bước ra ngoài. Cậu vội vã đi qua sân, đến chỗ vợ chồng Tulipan ở và gọi y, lúc đó đang đứng vươn vai dưới mái hiên, cậu nói bằng tiếng Thổ:

- Tulipan, bộ quần áo Thổ của anh có còn nữa không?

- Không ạ, bu nó đã phá ra may yếm và may áo cho các cháu rồi.

- Cái khăn tuy ban[50] .) của anh cũng không còn nữa à?

- Cái ấy bu nó cũng lấy may áo nốt rồi. Thật là một thứ vải mịn.

Cậu họ sinh bực bội, đi đi lại lại dưới mái hiên.

- Ta phải làm gì bây giờ? Anh hãy mách giùm ta xem nào. Hôm nay quân Thổ sẽ kéo qua trên đường cái quan. Hoàng đế cũng cùng đi với quân đội. Ta muốn được trông thấy bậc đế vương ấy.

- Hoàng đế ấy à?

- Ừ

- Cái đó thì có thể được lắm.

Mắt Gergey sáng lên:

- Thật ư? Làm thế nào mà xem được?

- Gần cạnh đường ở quãng này có một, cũng không phải một mà là hai hòn lèn đối diện nhau, cậu chỉ việc trèo lên đỉnh, nấp kín dưới cành cây là có thể thấy rõ cả đoàn quân.

- Thế thì anh mặc quần áo nhanh lên và đi với ta. Bảo vợ anh sắp cho một lẵng thức ăn và anh có thể xách cả bầu rượu theo nữa.

Nghe tiếng bầu rượu anh chàng Tulipan hoạt bát hẳn lên. Y xỏ vội quần áo và hớn hở gọi ra phía sân sau:

- Dulisơca, hằng nga của anh ơi, vào đây mau lên nào.

Mụ vợ đang cho gà vịt ăn, mụ vãi nốt chỗ tấm rồi quay vào:

- Anh muốn gì đấy?

- Cái bầu rượu, viên ngọc quý của anh ạ. Cho anh xin bầu rượu nào!

- Cho anh cái tấm sét nhà trời ấy thì có! Từ trước tới giờ chỉ buổi chiều anh mới nốc, giờ đã muốn bắt đầu từ lúc tinh mơ hay sao?

- Ấy ấy, con cừu non của anh ơi, viên kẹo Xtămbun của anh ơi, có phải anh lấy cho anh đâu mà cho cậu chủ đấy chứ.

- Cậu chủ có uống rượu đâu?

- Tôi không uống đâu.- Gergey lắc đầu cười. – nhưng chả là chúng tôi có việc phải đi đằng này và có lẽ sẽ còn ở lại đến chiều tối, tôi không muốn để Tulipan phải nhịn khát.

- Anh ấy cũng đi với cậu à? Đi đâu thế, hở cậu?

- Chúng tôi đi xem đoàn quân Thổ đây, thím Duli ạ. Hôm nay chúng nó kéo qua Metsec.

Mụ đàn bà sửng sốt:

- Đi xem quân Thổ ấy à? Cậu chủ bé bỏng ơi, cậu đừng có mà ra đấy!

- Nhất định phải đi chứ! Tôi cần phải xem một tí mới được.

- Ôi, cậu yêu quý, cậu sắp sửa đi vào chỗ nguy hiểm biết mấy. Cậu nghĩ vẩn vơ gì thế?

- Tôi đã bảo một là một, hai là hai – Gergey sốt ruột nói- Chúng tôi không xin lời khuyên can, chỉ xin rượu thôi.

Thấy cậu chủ đã giậm chân giậm cẳng, mụ chạy tọt vào nhà, nhưng lại quày quả trở ra, mặt sưng sỉa:

- Cậu muốn đi đâu thì cậu đi, con chả tiếc, con không ra lệnh cho cậu được. Nhưng Tulipan thì không được đi, con ra lệnh cho anh ấy đấy.

- Làm gì có chuyện ấy.- Tulipan đáp

- Anh phải ở nhà, hiểu chưa?

- Tulipan phải đi với tôi.- Gergey lại sốt ruột nói.

- Thức ăn thì anh người hầu của cậu đem đi cũng được. Thế người hầu để làm gì nếu không hầu hạ?

Bản thân gã gia nhân Gianốt cũng đang nghĩ như vậy. Và kia, anh đã khoác tay nải lên sau khi cho ngựa uống nước.

Tulipan đã bắt nọa được vẻ bồn chồn của mụ vợ nên y cố ý kéo dài câu chuyện:

- Tôi nhất định đi đấy, bu nó ạ! Tôi mà không đi thì cứ xin mù cả hai mắt. Ở nhà thì cũng phải khấn vái hết lời mới họa hoằn được bu nó cho ít rượu chứ quý hóa gì. Bu nó chẳng phải là bà vợ tốt.

Mụ vợ tái mặt:

- Quân Thổ mà trông thấy, chúng sẽ bắt anh đi mất.

- Thì đã sao?

- Anh nỡ bỏ hai đứa bé xinh xắn này lại đây, với cả tôi nữa ư? Ôi lạy chúa cứu thế!

- Nhưng một khi bu nó đã không cho tôi rượu thì còn ở nhà làm gì? Chưa kể hôm thứ năm vừa rồi bu nó còn đánh tôi nữa.

- Tôi sẽ cho, thầy nó ạ, muốn bao nhiêu cũng được, chỉ cần thầy nó đừng bỏ tôi mà đi!

Mụ đã bắt đầu sụt sịt.

- Thế thì được, bu nó đừng có quên lời đã hứa trước mặt cậu chủ đấy nhé. Tôi chỉ đưa cầu chủ đi rồi tôi về ngay. Nhưng phải có rượu cho tôi đấy nhé!

- Từ nay về sau lúc nào cũng có.

- Nếu bu nó cứ để yên cho tôi uống, tôi sẽ chẳng say đâu. Sở dĩ tôi hay say bí tỉ là vì tôi cứ sợ hôm sau bu nó sẽ không cho tôi uống nữa.

Mụ vợ nghe nói thế đã tạm yên lòng bèn đi sửa soạn thức ăn. Tuy vậy, khi đưa chồng ra đến cổng mụ vẫn sụt sịt và đứng trông theo với một vẻ đầy lo âu khiến anh chàng Tulipan sướng phồng cả người.

Gianốt đi theo họ đến chỗ rừng rậm, đến đó họ xuống ngựa. Gianốt dắt ba con ngựa về làng, còn họ tiếp tục đi bộ.

Hòn lèn ấy ngày nay vẫn đứng cạnh đường, cao chừng năm tầm người. Đứng trên đỉnh hòn lèn, có thể nhìn suốt con đường cái, đến tận chỗ cây lê dại, nơi mục sư đang nấp kín.> 

Tulipan bẻ một chùm cây rậm lá, ngụy trang quanh mỏm hòn lèn để hai người có thể nhìn thấy tất cả, nhưng đứng bên dưới, không ai có thể nghi họ ẩn nấp trên đó.

- Ta cắm cả một cành cây ra chỗ kia nữa, về đằng phía bắc ấy. - Gergey bảo.

- Để làm gì ạ?

- Để nếu xuntan đi qua phía ấy thì chúng ta có thể quay sang mà xem.

Lúc đó mặt trời vừa mọc. Sương còn ướt đẫm cánh rừng. Đàn chim sáo hót líu lo, bầy bìm bịp kêu ồ ồ. Đằng xa, về phía Pêts, những tên thám mã đầu tiên đã tung bụi trên đường.

Một đám bụi kéo dài dằng dặc xuống tận thành phố Pêts. Cuối cùng, từ trong đám bụi mù một lá cờ đỏ tươi màu ớt chin hiện ra trước mắt họ, rồi hai cái, nam cái và mỗi lúc một nhiều. Bên dưới và đằng sau từng cờ đó là những toán lính Arập cưỡi ngựa, đầu đội Tuyban cao như cái tháp. Những con ngựa thấp bé đến nỗi chân của một vài tên lính đã gần chạm xuống đất.

- Đây là tụi gurebac – Tulipan giải thích – tụi này bao giờ cũng đi đầu, chúng không phải dân thổ chính tông.

- Thế thì là dân nào?

- Dân Arập, Ba tư, Ai cập, đủ các loại ô hợp.

Bọn lính ấy quả có vẻ như thế thật. Ngay cả binh phục của chúng cũng không thống nhất. Có tên đội một cái mũ to tướng có chóp đồng lấp lánh, mũi của hắn không con nữa. Thằng này đã từng đến đất Hung.

Một tiểu đoàn khác theo sau gót chúng với một lá cờ trắng sọc xanh lá mạ. Đó là một đơn vị mặc quần xanh, da sạm nắng. Nét mặt chúng vẫn lộ vẻ phè phỡn của bữa chén tối hôm trước.

- Đây là tụi uluphejich – Tulipan nói - một bọn lính đánh thuê. Chúng làm cảnh binh trong trại quân. Lương thảo cũng do chúng hộ tống. Cậu có trông thấy cái tên bụng phệ mà trán bị giập kia không ? Nó có những cái cúc đồng to tướng trên ngực áo ấy ...

- Có

- Tên gắn là Tuyno, tiếng Hung nghĩa là sếu. Nhưng người ta thường gọi hắn là lợn.

- Tại sao thế ?

- Có lần con đã thấy nó ăn thịt nhím - và Tulipan nhổ một bãi nước bọt.

- Theo sau chúng là tiểu đoàn lính cờ vàng. Vũ khí của bọn này sáng loáng. Ngựa của viên aga [51] cũng hãnh diện đeo một tấm lá chắn vẩy cá bằng bạc ở trước ngực.

- Đây là tụi xiliđa. – Tulipan lại giải thích- Cũng là một bọn lính đánh thuê. Chà, bọn lưu manh đáng treo cổ ! Tao đã từng lăn lộn với chúng mày hai năm trời !

Tiếp đó là bọn xpahi[52]  cờ đỏ, đeo cung tên, võ quan của chúng mặc áo giáp sắt, đeo gươm cong, bản rộng. Sau đó đến bọn Tácta đội mũ nhọn, toàn những tên béo tốt, mặc áo da, ngồi trên yên gỗ.

- Một nghìn... hai nghìn ... năm nghìn... một vạn. – Gergey lẩm nhầm đếm.

Tulipan khoát tay nói :

- Cậu đếm làm gì cho mệt xác. Bọn này có thể đến vài vạn đứa.

- Cái dân mặt to bạnh, xấu xí quá.

- Đến dân Thổ cũng kinh tởm chúng. Chúng ăn cả thủ ngựa đấy.

- Thủ ngựa ấy à ?

- Dù không có đủ cho tất cả chăng nữa, chúng cũng cứ để một cái lên bàn.

- Luộc hay thui ?

- Giá mà luộc hay thui thì còn nói làm gì. Đằng này chúng cứ ăn sống mới gớm chứ. Những quân cẩu trệ này đến trẻ lọt lòng chúng cũng chẳng tha. Cậu nên biết chúng moi cả mật người.

- Đừng nói chuyện rùng rợn ấy nữa !

- Nhưng một khi đã có thật như vậy thì sao. Cậu nên biết, bọn chúng vẫn cho rằng nếu dùng mật người xát vào ức ngựa thì dù ngựa có mệt đến đâu cũng sẽ hồi sức lại.

Gergey rợn tóc gáy rụt đầu lại dưới mấy cành cây.

- Ta chẳng nhìn chúng nó nữa, bọn chúng nó là thú dữ chứ có phải người nữa đâu.

Nhưng Tulipan vẫn cứ tiếp tục theo dõi chúng. Độ mười lăm phút sau y lại lên tiếng.

- Bêi [53] Nisanji đã đến. Ông này thường viết tên của Padisa [54] lên các chiếu chỉ.

Gergey nhìn xuống. Cậu thấy một tên Thổ đầu cá trắm, ria dài, có vẻ oai vệ, ngồi đĩnh đạc trên mình con tuấn mã cộc đuôi, đi giữa đám lính.

Sau đó đến tên đeptađa là thượng thư bộ hộ [55] của triều đình Thổ, một tên Arập tóc đã nhuốm bạc, lưng còng. Đi sau hắn, giữa một đám lính khác là tên kaziátke mặc áo thụng dài màu vàng, đội mũ trắng có chỏm cao. Đó là tên chánh tòa án binh. Những tên tsanegia, tức là những tên lính hầu dọn bàn ăn, bưng thức ăn cho hoàng đế, và đội ngự lâm đi theo sau hắn. Người tụi này đã lấp lánh những vàng.

Tiếng quân nhạc Thổ Nhĩ Kỳ đã vọng đến. Giữa tiếng kèn đồng lanh lảnh và tiếng xập xèng của não bạt, một đoàn quân sặc sỡ hiện ra và tiếp tục trẩy đi. Đó là đội lính đi săn của nhà vua, bờm ngựa chủa chúng nhuộm đỏ và mỗi đứa đều mang một con con chim ưng trên vai.

Sau đội lính săn đến bầy ngựa giống của hoàng đế. Những con tuần mã rất hăng, biết khiêu vũ ; một vài con đã thắng sẵn yên cương. Bọn lính ngự lâm và ionisa dắt đoàn ngựa đi.

Đằng sau bọn mã phu đó, những lá cờ đuôi ngựa phấp phới trên đường : ba trăm tên kaputski, tất cả đều đội mũ trắng viền kim tuyến. Chúng là lính thị vệ của xuntan .

Qua đám bụi mù, một đoàn dài lính ionisa thấp thoáng trên đường. Chẳng bảo lâu đã thấy rừng mũ trắng của bọn lính điểm màu đỏ của mũ võ quan, xen lẫn binh phục màu xanh .

- Xuntan còn xa nữa không ? – Gergey hỏi.

- Chắc còn xa lắm.- Tulipan đáp – bọn ionisa ít nhất cũng đến hàng vạn. Sau đó còn đến bọn lính cẩm vệ và đủ các thứ triều thần khác nữa.

- Vậy ta lui ra sau nhấm nháp cái gì đã.

- Hòn lèn che khuất giữa họ và đoàn quân ở phía Nam nhưng trên đoạn đường dốc đổ về hướng bắc, họ vẫn có thể thấy bạt ngàn lính tráng đang trẩy xuống thung lũng.

- Ta muốn ngủ một giấc nữa cũng được. –Tulipan đưa ý kiến và mở cái đẫy ra.

Từ trong đẫy, một cái xích xủng xoảng rơi xuống.

- Cái gì thế này? – Gergey ngạc nhiên hỏi.

- Đây là những người bạn thân của con đấy. Không có nó chẳng bao giờ con bước chân ra khỏi làng đâu.

Thấy cậu học sinh vẫn ngớ người nhìn y tỏ vẻ không hiểu, y tiếp:

- Đây là cái xích của con. Mỗi khi ra khỏi làng con lại lồng vào một bên chân. Như vậy con không sợ bọn Thổ nữa, vì bọn chúng sẽ không bắt mà còn giải thoát cho con. Đến tối con lại tự mở xích trốn về. Bây giờ đã đến lúc nên đeo xích vào. Chìa khóa của nó đây, cậu hãy bỏ vào túi. Nhỡ có việc gì xảy ra, ta sẽ khai là gia nhân của Tơrơc Balin, con là tù binh, cậu là học sinh. Tướng công Balin thuộc phái liên kết với Thổ Nhĩ Kỳ nên chắc chúng sẽ không làm ngặt đâu. Rồi tối đến, con sẽ cứu cậu ra và chúng ta cùng trốn về.

- Anh mưu trí thật!

- Con cũng nghĩ vậy đấy! Những lúc tỉnh rượu con còn cao mưu hơn cả bu chúng nó nữa cơ.

Bánh mì mới nướng, giò lợn hấp và thịt mỡ ướp cùng một ít ớt xào lần lượt được lôi ra khỏi đẫy. Cậu học sinh ăn thịt giò hấp còn Tulipan vớ lấy tảng thịt mỡ ướp, rắc muối và đặt ớt xào lên.

- Giá tụi này mà trông thấy! – Y nói và hất đầu ra hiệu.

- Thì sao?

- Người Thổ uống được rượu vang, nhưng thịt mỡ thì họ kinh tởm như ta tởm thịt chuột ấy.

Gergey cười. Tulipan rướn lông mày lên và tiếp:

- Nhưng chúng nó đâu có biết thịt mỡ ướp kẹp với ớt xào là một món ăn thần tiên đến thế nào! Con cho là Môhamét cũng chưa hề được nếm món ăn này.

- Thế làm dân Hung thích hơn làm dân Thổ à?

- Kẻ nào không thích làm dân Hung là ngốc!

Y vuốt bộ ria đen, mềm như tơ và bưng bầu rượu lên tu. Y chia cho cậu học sinh nhưng cậu lắc đầu:

- Có lẽ để chốc nữa hẵng.

Cậu thò tay vào túi áo và lôi cái túi nhỏ ra:

- Tulipan, anh có biết cái nhẫn này không?

- Không. Nhưng con thấy nó đáng giá bằng cả một con ngựa. Những hạt ti ti này là cái gì đây? Kim cương à?

- Kim cương đấy.

- Vậy thì nên nhìn. Con nghe nhiều người đồn là nhìn vào kim cương thì mắt sẽ sáng ra.

- Anh có đọc được chữ này không?

- Sao lại không! Con đã từng là ionisa. Con đã học hết trường huấn luyện ionisa.

Và y đọc:

- Ha massallah la hakk ve la kuvvet il a bilah el ah el azim. Tiếng Hung nghĩa là không có chân lý và sức mạnh nào ngoài Chúa Trời thâm nghiêm.

Y lại gật đầu:

- Đúng thế thật. Nếu Chúa Trời không muốn, con đã không thể trở thành người Hung.

Họ im lặng suy nghĩ. Tulipan lại lên tiếng:

- Rồi cậu sẽ thấy xuntan, thực là một con người cương nghị. Quần thần của ngài lòe loẹt nhưng bản thân ngài chỉ mặc triều phục mỗi khi có lễ lạt hoặc khi tiếp khách. Sau xuntan sẽ đến một rừng cờ lớn, phần nhiều đều là cờ đuôi ngựa. Sau nữa là một trăm lính kèn. Chúng đeo kèn bằng dây chuyền vàng đấy cậu ạ. Sau toán lính kèn đến hai trăm cái trống con, một trăm trống đại và hai trăm não bạt, một trăm xập xoèng và tiêu.

- Chắc tai của xuntan phải tốt lắm mới chịu được cái mớ tạp âm đó suốt ngày.

- Cái âm nhạc ấy thì kinh khủng thật, chỉ khi nào đoàn quân dừng lại nghỉ chúng mới im lặng. Nhưng cái đó cũng cần cho quân Thổ, đặc biệt là khi lâm trận. Nếu không trống khống kèn thì quân Thổ sẽ chẳng đánh đấm gì cả.

- Này, có đúng là chúng nó đào tạo bọn ionisa từ lũ trẻ gia tô giáo không?

- Chả đúng đâu. Có điều quả thật là những đứa trẻ bị cướp về đã trở thành những tên ionisa cừ khôi nhất. Cái bọn không cha không mẹ ấy coi việc ngã xuống giữa trận tiền là vinh dự.

- Hết quân lính sẽ đến cái gì nữa?

- Một bầy khố rách áo ôm. Sau nữa là bọn làm xiếc đi trên dây, bọn làm trò ảo thuật, bọn thầy bói và bọn buôn lậu, những tên rình đón chiến lợi phẩm và buôn bán đủ các thứ tạp nhạp. Rồi cậu còn thấy rất nhiều thùng đựng nước nữa cơ; ít nhất cũng phải năm trăm lạc đà chở nước.

- Thế là hết à?

- Chưa. Sau đó còn đến hàng trăm đoàn xigan ốm đói cùng đàn chó hoang. Bọn này sống bằng đồ thừa mứa. Nhưng chỉ ngày mai hoặc ngày kia bọn chúng mới tới đây.

- Và sau nữa?

Tulipan nhún vai:

- Quạ.

- ?

- Đủ các loại : diều hâu, quạ đen, quạ khoang. Sau các đoàn quân bao giờ trên trời cũng có cả một bầy đen ngòm. Đôi khi còn đông hơn cả người.

Mặt trời buổi trưa chiếu nóng bức. Cậu học sinh cởi áo ngoài ra. Họ lại nhoi lên đỉnh hòn lèn, rúc vào giữa đám cành lá, nhìn lên những tên ionisa mũ trắng đang trẩy qua bên dưới.

Tulipan điểm tên nhiều đứa trong bọn chúng.

- Cái thằng đen đen này cùng học với con trong trường đấy. Ngực nó bị một nhát đâm, bây giờ vẫn còn cái hõm to và sâu đến nỗi nắm tay một đứa bé có thể nhét lọt vào đấy. Còn cái thằng mồ hôi mồ kê nhễ nhại, vừa trật tuyban xuống kia kìa, ít nhất nó cũng đã giết hàng trăm mạng trong cuộc chiến tranh Batư. Trên người nó chưa có vết thương nào, chả biết từ đó tới nay nó đã bị chưa ? Còn cái thằng gầy gầy õng ẹo kia kìa : nó là một tên phóng phi tiêu cừ khôi đấy. Cách hăm lăm bước nó đã có thể phóng ngập kiếm vào ngực địch thủ rồi. Tên nó là Chopken. Ngoài nó ra còn nhiều thằng như thế. Trong trường ionisa có một gò đất ngập cỏ. Chúng nó tập phóng kiếm ở đó. Có đứa tập phóng đến vài nghìn lần trong một ngày.

- Còn tên da đen kia ?

- Ơ này, mày cũng còn sống đấy ư, hở Kétsơkin già?! Nó mới thật là tay bơi cự phách. Ngậm gươm vào mồm, thế là nó vượt qua sông, dù sông rộng đến mấy nó cũng vượt qua như thường.

- Chuyện đó thì người Hung cũng vẫn làm luôn.

- Có thể. Duy thằng này không hề mệt. Nó có thể lặn xuống mò đồng tiền ở dưới đáy nước lên. Xuntan đã có lần giải trí với nó bên bờ sông Đuno đấy. Ngài ném tiền vàng xuống sông và bao nhiêu đứa đã nhảy theo, nhưng thằng này mò được nhiều nhất. Ơ này, thằng già Kalen! Cái đứa mũi khoằm, tay chân hộ pháp kia kìa! Cậu có thấy thanh mã tấu rộng bản, bao nâu nâu đeo bên sườn hắn không? Hai mươi lăm bảng[56]  đấy nhé! Trong trận Bengrat, với thanh mã tấu ấy nó đã bổ một nhát vào đầu một người lính Hung mạnh đến nỗi chẳng những đầu anh ta mà cả đầu con ngựa của anh ta nữa cũng bị đứt phăng. Thế mà cả hai đều bọc sắt đấy nhé!

- Và hẳn là lúc đó anh lính Hung đã xuống ngựa nhặt đầu của mình lên.

- Quả thật chuyện ấy thì con không thấy, con chỉ nghe nói thôi. – Tulipan thanh minh.

Bỗng nhiên y giật thót người.

- Con nằm mơ chăng? Yumusac.

Mà thật, tên ionisa mắt chột, người Arập, mặt cau có, đang tiến bước về phía họ trên mình một con ngựa chiến thấp, ức nở. Trang phục của hắn sang trọng hơn của những tên khác. Một cái lông đà điểu to tướng phất phơ trên cái mũ trắng có chỏm cao của hắn.

- Nó thật, Trời ạ! – Gergey cũng sửng sốt cả người.

- Thế sao người ta bảo ông mục sư đã treo cổ nó?

- Ta cũng được biết như thế.

- Mục sư không nói về chuyện đó à?

- Không.

- Thật không thể hiểu được. – Tulipan ngây người nhìn theo tên ionisa.

Sau đó hai con người ngạc nhiên ấy liếc mắt nhìn nhau dường như mỗi người đều chờ đợi một sự giải thích của người kia, nhưng họ đều im lặng.

Khoảng năm phút sau, cậu học sinh mới lên tiếng:

- Nói thật đi, Tulipan, anh không muốn trở lại với chúng nó ư?

- Không đời nào. – Tulipan trả lời một cách dứt khoát – Dù chưa vợ chưa con gì cũng không. Huống hồ vợ con là một mụ đàn bà tốt, còn hai đứa con của con thì dù có đổi lấy tất cả châu báu của Côngxtăngtinốp con cũng không đổi. Thằng nhỏ rất kháu. Còn thằng lớn thì thông minh đến nỗi một ông giáo chủ cũng chưa chắc đã nhiều mưu trí hơn. Hôm nọ nó vừa hỏi con – nó hỏi chứ: “Tại sao ngựa không có sừng hả bố?”.

- Họa có người Tácta mới biết! – Gergey bật cười.

Họ không nói gì nữa. Cậu học sinh quan sát đoàn ionisa lũ lượt kéo qua vô tận trên con đường núi với nét mặt mỗi lúc một nghiêm nghị hơn.

Không gian đã trở thành một biển bụi. Tiếng lách cách của binh khí, tiếng rồn rập của vó ngựa khiến người ta ù tai choáng óc, thế mà thỉnh thoảng một toán quân nhạc còn réo vang lên trong khúc ngoặt dưới thung lũng.

Cậu học sinh bỗng ngửng phắt đầu lên:

- Tulipan này, ngần này người đến đây hẳn không phải là vô cớ.

- Vô cớ thì người ta chẳng bao giờ đi.

- Bọn này muốn chiếm Buđo đây!

- Có thể lắm. – Tulipan thờ ơ đáp.

Cậu học sinh tái mặt nhìn y và hỏi:

- Nhỡ tự dưng xuntan bị chết giữa đường thì sao?

- Ngài không chết đâu.

- Nhưng nếu nhỡ...

Tulipan nhún vai nói:

- Bao giờ ngài cũng đem các hoàng tử đi theo.

- Vậy ông ta là con rồng ba đầu sáu tay.

- Cậu bảo gì cơ?

Đáng lẽ trả lời, Gergey lại hỏi:

- Anh nghĩ thế nào, chúng nó đi từ đây đến Buđo mất mấy ngày?

- Nếu trời mưa, chúng nó sẽ dừng lại vài ba ngày, cũng có khi hàng tuần.

- Nhưng nếu không mưa?

- Nắng quá chúng nó cũng nghỉ.

Cậu học sinh bồn chồn gãi cổ.

- Vậy thì ta có thể vượt trước chúng nó.

- Cậu bảo gì ạ?

- Ta bảo là nếu bọn này đi Buđo thì hoặc là ta phải đem gia quyến Xexey về đây, hoặc ta phải ở đó bên cạnh họ.

Tiếng ầm ầm của đoàn quân mới tới át hẳn lời họ. Đội ngũ dài dằng dặc của bọn ionisa đã qua hết và đến lượt một đoàn quân cờ vàng, mũ cắm lông đà điểu, trang phục rực rỡ. Một tên hộ pháp tuổi đã trung tuần, dáng dấp đường bệ, cao vượt hẳn đoàn quân. Quân lính mang hai lá cờ trên ngọn có chùm đuôi ngựa dài màu đỏ đi phía trước, cán cờ mạ vàng lấp lánh.

- Đây là xuntan! – Gergey rùng mình thốt lên.

- Không phải đâu. – Tulipan phẩy tay – Đây chỉ là aga của bọn ionisa. Những người lòe loẹt xung quanh ông ta toàn là iaia-basi.

- Iaia-basi là cái quái gì?

- Võ quan ionisa.

Một đội quân rực rỡ tiếp theo giữa những hàng kích cán mạ vàng. Hai người trẻ tuổi nét mặt bình thản cưỡi ngựa đi ở giữa, cả hai con ngựa đều màu xám.

- Các hoàng tử của xuntan đấy – Tulipan giải thích với một vẻ kính cẩn – Môhamét và Xelim.

Nhưng liền sau đó y lại nhún vai :

- Quỷ tha ma bắt chúng nó đi!

Cả hai hoàng tử đều rám nắng, họ không giống nhau nhưng có vẻ hợp nhau.

- Ơ này, iaia-ôclu Môhamét đi kia kìa!

- Viên pasa tiếng tăm lừng lẫy ấy à ?

- Vâng.

Viên pasa râu xám, ánh mắt đường bệ, đi đằng sau các hoàng tử. Phía trước lão, quân lính vác bảy lá cờ trên ngọn có chùm đuôi ngựa. Đầu lão đội một cái tuyban trắng xếp không biết bao nhiêu lớp.

- Ông này là bố thằng Yumusac đấy.

- Vô lý.

- Nhưng mà thật đấy. Lúc nãy một đứa con trai khác của lão cũng vừa đi qua, bêi Arơxơlan.

- Thế Yumusac là các tên gì ?

Một cái tên thộn.

Tulipan trả lời và buồn tình rứt một cọng cỏ đưa vào mồm nhấm.

Một đội quân mang chùy vàng và bạc, đội tuyban cao phát khiếp, đi tiếp đến. Cậu học sinh run rẩy, cậu cảm thấy xuntan sắp đến, cậu khấn:

- Lạy Đức Chúa vạn linh vạn ứng của dân Hung, hãy phù hộ chúng con!

Vô vàn binh khí bằng vàng bằng bạc và những bộ triều phục sặc sỡ, lấp lánh nhấp nhô trước mắt cậu. Cậu phải đưa tay lên che mắt để nhìn rõ hơn.

Tulipan hích vào sườn cậu :

- Cậu nhìn kia kìa – giọng của y run run – ngài đã đến kia.

- Người nào ?

- Người có một đạo sĩ đang múa trước mặt ấy.

Đó là một người mặc áo bào màu xám giản dị, cưỡi ngựa đi một mình một hàng. Trước mặt ông ta, một đạo sĩ Hồi giáo đang vừa đi vừa xoay tròn với một tốc độ đều đặn. Đầu đạo sĩ đội một cái mũ bằng lông lạc đà cao đến một cẳng tay rưỡi. Hai tay hắn dang ra, một bàn tay chỉ thiên, một bàn tay chỉ địa. Váy hắn xòe ra như một cái nơm.

- Đạo sĩ quay – Tulipan giải thích.

- Thế mà hắng và con ngựa không bị chóng mặt ?

- Cả hai đều đã quen.

Con ngựa không lúc nào bị vướng chân. Sáu đạo sĩ khác mặc váy trắng đi hai bên để chờ đến lượt thay người đang quay.

- Bảy đạo sĩ này cứ quay tròn như thế trước mặc xuntan từ Côngxtăngtinốp đến Buđo – Tulipan nói như hét vào tai cậu học sinh kìa vì âm thanh hỗn loạn của các thứ kèn, trống, thanh la, não bạt làm họ không thể hiểu nhau bằng cách nào khác nữa.

Xuntan cưỡi một con ngựa Arập thuần giống, tuyệt đẹp. Đằng sau xuntan có hai tên da đen cởi trần vác lọng lông công che cho bậc thiên tử khỏi bị ánh mặt trời thiêu đốt. Tuy nhiên, ở khúc ngoặt trong thung lũng, không trung đã mù mịt và hoàng thượng cũng phải hít bụi như tên lính rách rưởi nhất của ngài mà thôi.

Khi xuntan đi qua dưới hòn lèn, ta có thể thấy thêm hắng mặc áo chẽn bằng vóc đỏ và cái quần ống thụng thắt chẽn ở cổ chân cũng thế. Cái khăn tuyban của hắn màu xanh lá cây. Mặt hắn gầy, má hóp. Dưới cái mũi hẹp, dài, gần như quặp xuống là một bộ ria lưa thưa đã lốm đốm bạc cũng như bộ râu xén ngắn, loăn xoăn ở dưới cằm. Mắt hắn là đôi mắt ốc nhồi.

Gergey đang muốn nhìn kỹ hơn nữa thì bỗng ầm! Một tiếng nổ rung chuyển cả trời đất. Hòn lèn rung lên dưới người họ.

Những con ngựa đứng khựng cả lại. Âm nhạc đứt khúc. Một sự nhốn nháu hoảng loạn. Bụi, đá cuội, những mẩu tay, chân, binh khí và máu từ trên trời rơi xuống như mưa.

Đoàn quân ở phía thung lũng kêu la, nhốn nháo.

- Chết rồi! – Gergey kêu lên và đập hai bàn tay vào nhau. Cậu giương cặp mắt hốt hoảng nhìn trừng trừng xuống thung lũng.

Trong thung lũng, một cột khói đen bốc lên đến tận những đám mấy, mùi thuốc súng khét lẹt sặc sụa cả không trung.

- Chuyện gì thế ? – Tulipan khiếp đảm hỏi.

- Chuyện viên tổng binh ionisa không phải là vua xuntan. – Cậu học sinh trả lời, đầu cúi gục xuống.

Tiếp sau tiếng nổ là một phút yên lặng choáng váng.

Rồi ngàn vạn tiếng kêu thét, chửi rủa ầm ĩ nổi lên. Đoàn quân nhốn nháo như một tổ kiến bị châm chọc. Tất cả đều chen nhau đến chỗ cột lửa vừa bốc lên.

Ở đó ngổn ngang xác chết và những tên bị thương.

Cả những đứa không ở gần đó lắm cũng hoảng hồn bạt vía. Chúng không hiểu vừa rồi là tiếng gầm của một khẩu thần công mai phục hay chỉ là một xe thuốc súng bị nổ giữa đường.

Nhưng bọn ionisa thì đã biết có kẻ chôn mìn đánh chúng. Chúng ùa vào rừng như một đàn ong bị trêu chọc đi tìm kẻ thù.

Chúng không tìm thấy ai khác ngoài ông mục sư, cậu học sinh và Tulipan. Mục sư đã bất tỉnh nhân sự, máu sùi thành bọt trên môi ; quần áo ông dính đầy vụn gỗ mục. Tiếng nổ đã quật đổ cây lê dại và quăng ông ra khỏi hốc cây.

Xuntan ra lệnh đưa ba người bị bắt đến trước mặt hắn.

Hắn xuống ngựa. Quân lính bê đến một cái trống đồng làm ghế ngồi. Một tên quan hầu trải cái áo choàng bằng lụa xanh của y lên làm đệm.

Nhưng xuntan không ngồi. Hắn nhìn Tulipan và hỏi

- Chúng mày là ai ?

Qua mặt vũi và qua cái xích ở chân Tulipan, xuntan đã nhận ra đó là một tù binh Thổ. Tulipan quỳ xuống trả lời :

- Muôn tâu Đức cha của mọi tín đồ chân giáo, bệ hạ cũng có thể thấy xiềng xích trên chân con đây : con là nô lệ. Đáng lẽ con cũng là ionisa. Tên con là Tulipan.

- Thế thằng nhãi này ?

Cậu học sinh sững sờ cả người, cứ đứng đực ra mà nhìn con người có cặp mắt ốc nhồi, mặt bôi son, mũi bò tót, chúa tể của bao nhiêu triệu người, kẻ đáng lẽ đã phải bay lên xứ bồng lai>  Thổ Nhĩ Kỳ từ lúc nãy.

- Bẩm, con nuôi của Tơrơc Balin đấy ạ - Tulipan đáp.

- Của con chó Enhinhghi[57] ) ấy à ?

- Tâu hoàng thượng, vâng ạ.

Xuntan nhìn sang ông mục sư :

- Và người này ?

Hai tên ionisa phải xốc nách mới giữ được mục sư. Đầu ông rũ xuống, máu chảy từ mồm xuống đầy ngực. Không thể biết ông chỉ ngất đi hay đã chết.

Tulipan nhìn sang ông mục sư.

Một tên trưởng quan từ phía sau túm lấy tóc của ông và kéo đầu lên để Tulipan nhìn được rõ hơn.

Máu từ cằm ông nhỏ giọt xuống, ngực ông phập phồng.

- Con không biết. – Tulipan trả lời.

- Thằng học sinh cũng không biết à?

Gergey lắc đầu.

Xuntan nhìn cậu rồi lại quay sang hỏi Tulipan:

- Vụ nổ gì lúc nãy thế? >Chúng nó muốn giết ta à?

- Muôn tâu hoàng thượng, con với cậu học sinh này đi hái nấm ở gần đây. Chúng con nghe tiếng quân nhạc, thế là chúng con vội lại xem. Con đây, hạt bụi không xứng đáng dưới chân hoàng thượng, con chỉ chờ hoàng thượng đi qua để kể lên xin được giải thoát.

- Nghĩa là mày không biết gì hết ?

- Xin quỷ thần chứng giám cho con.

- Cởi trói cho nó. – Xuntan ra lệnh – Lấy xích của nó xích vào chân thằng học sinh.

Hắn nhìn sang người mục sư nói tiếp:

- Còn con chó này thì hãy đưa đến cho các ngự y chữa chạy. Ta muốn nghe lời khai của nó.

Sau đó xuntan lại lên ngựa, các hoàng tử đến bên cạnh hắn, cùng đám võ quan và bọn lính ngự lâm hộ tống hắn đến nơi xảy ra vụ nổ.

Trong khi bọn Thổ tra xích vào chân mình, cậu học sinh trông thấy chúng nó đặt mục sư nằm ngửa trên mặt đất và lấy nước dội lên mặt, lên ngực ông. Chúng nó rửa sạch máu trên người ông. Một tên thổ nghiêm nghị, mặc áo choàng màu tro, chốc chốc lại kéo mí mắt của ông lên xem xét.

Chúng nó xích xong chân cậu và giải đến chỗ nhốt tù binh. Cậu thiếu niên tái nhợt và đờ đẫn.

Mười lăm phút sau Tulipan cũng tới. Y mặc quần áo xanh, đội mũ trắng, đi ủng đỏ cũng như bọn ionisa. Y nắm tay dứ dứ về phía cậu học sinh và giận dữ thét vào mặt cậu:

- Phen này mày lọt vào tay tao rồi nhé, đồ chó tà giáo!

Và y đẩy tên ionisa đang đứng cạnh Gergey đi chỗ khác.

- Thằng này là nô lệ của tớ! Từ trước đến giờ tớ là nô lệ của nó, bây giờ nó là của tớ. Ala vĩ đại thật công bằng.

Tên ionisa kia gật đầu tán đồng và nhường cho Tulipan đứng cạnh Gergey.

Cậu tái mặt nhìn Tulipan, y đã thật sự thay lòng đổi dạ rồi chăng?

Chưa đầy hai phút sau. Tulipan ngầm ra hiệu bảo cậu đừng lo.

Gergey bị giải đi giữa một đám trẻ con nô lệ mệt mỏi và bụi bặm. Cạnh họ có một hàng ionisa đi áp giải. Sau lưng họ là những xe chở súng thần công lăn ầm ầm trên đường. Có một khẩu to ghê gớm do năm chục đôi bò đực kéo. Đội pháo thủ mặc quần áo đỏ, khoác áo choàng ngắn đi hộ tống.

Với cái nóng như thiêu như đốt, mặt trời hành hạ cả đoàn quân cũng như đám nô lệ. Bụi trắng trên đường cũng nóng bỏng. Một đứa bé lên tám, cứ đi bộ mươi bước lại rên rỉ:

- Uống nước! Nước...

Gergey rầu rĩ bảo Tulipan:

- Cho nó uống với.

- Không có nước. – Tulipan trả lời bằng tiếng Hung – Cái bình để quên ở đằng ấy mất rồi.

- Nghe không chú bé, không có nước. – Gergey ngoái ra sau bảo thằng bé – Nếu có thì chúng ta đã sẵn lòng cho chú rồi. Cố chịu đến tối vậy.

Hai tay cậu phải thay đổi nhau nâng cái xích lên cho dễ bước, nhưng sức nặng của cái xích mỗi lúc một lớn. Đến lúc xẩm tối, cậu đã cảm thấy như phải đeo hàng tạ trên người.

Bầy trẻ con lúc đó đã được ngồi trên các xe súng và trên lưng lạc đà. Bọn pháo thủ đã nhặt chúng lên vì chúng mệt mỏi quá, cứ vấp ngã dúi dụi.

- Còn xa chỗ nghỉ nữa không? – Gergey hỏi tên lính rách rưới đi bên phải.

- Tên lính trố mắt lên khi hắn nghe Gergey hỏi bằng tiếng Thổ. Hắn đáp cộc lốc:

- Không.

Đó là một tên Thổ khổng lồ, tuổi còn trẻ, mặt tròn. Hắn mặc một cái áo cộc tay bằng da đã rách mướp, hai cánh tay trần trụi thò ra ngoài. Thật là những cánh tay hộ pháp! Người khác mà có được bộ đùi như đôi cánh tay này thì cũng đã thích lắm rồi. Khí giới của hắn là hai thanh gươm cong giắt ở thắt lưng. Một cái cán bằng xương nai, cái kia cán bằng xương ống chân bò, một đầu vẫn còn nguyên hai cái u như lúc tạo hóa sinh ra. Nhưng vũ khí chính của hắn là cái giáo dài, mũi dã gỉ, mà hắn vác trên vai. Hắn thuộc bọn lính tạp ngũ, những kẻ ra đi chỉ vì chiến lợi phẩm. Tất cả mọi người đều có quyền sai bảo chúng, nhưng tuân lệnh thì chúng chỉ tuân lệnh chừng nào mà tay nải của chúng chưa được nhồi chặt ních. Cái tay nải của thằng này rất to và còn lép kẹp. Cái tay nải lủng lẳng trên lưng hắn và đó cũng là một vật do hắn tự làm lấy. Cả lông và đầu của con bò đực xưa kia cũng vẫn còn trên tay nải. Cái dấu in hình một vòng tròn chia tư, to bằng bàn tay.

- Mày là dân Thổ à? – Hắn hỏi.

- Không. – Cậu học sinh kiêu hãnh đáp – Ta không có dính dáng gì đến lũ người đi cướp bóc cả.

Tên không lồ hoặc không hiểu lời nói châm chọc, hoặc không thuộc loại nhạy cảm, hắn cứ bước những bước dài, đều đặn.

Cậu học sinh lúc đó mới đưa mắt nhìn hắn từ đầu đến chân. Mắt cậu nhìn chòng chọc vào đôi bốt của hắn. Đôi bốt đã mòn, há cả mõm. Bụi trắng trên đường cứ chui tuồn tuột vào chỗ đó, để rồi lại bắn vọt ra ở lỗ thủng đằng sau.

- Mày có biết đọc không? – Một lúc sau tên Thổ lại hỏi.

- Có.

- Viết mày cũng biết à ?

- Cả viết nữa.

- Thế mà mày không muốn làm dân Thổ ?

- Không.

- Hoài của. – Tên Thổ lắc đầu.

- Tại sao ?

- Pasa Xôliman trước kia cũng là người Hung đấy. Ông ta biết đọc, biết viết, bây giờ là pasa.

- Và đánh lại tổ quốc mình.

- Ông ấy đánh nhau vì đức tin chân chính.

- Nếu những điều do bọn giáo sĩ của chúng mày truyền bá là giáo lý chân chính đối với ông ta thì ông ta cứ việc đi đánh nhau ở nơi khác có được không ?

- Ala muốn nơi nào, ông ấy đánh nhau ở nơi ấy.

Họ không nói gì hơn nữa, Tulipan liếc mắt ra hiệu bảo Gergey im lặng. Tên khổng lồ vừa suy nghĩ vừa tiếp tục giẫm bụi bắ vọt ra khỏi đôi bốt.

Đêm đã xuống. Những ngôi sao nhấp nháy hiện ra trên bầu trời. Đứng ở chỗ con đường vòng lên đồi, người ta thấy khoảng sẫm đen của cánh đồng cũng chẳng khác gì một khoảng trời rắc đầy sao đỏ, trong số đó có năm ngôi lớn ở đường viền phía đông sáng hơn hẳn những ngôi khác.

- Đến nơi rồi. – Tên khổng lồ nói.

Tuy thế chúng cũng còn phải lên đồi xuống dốc độ mười lăm phút nữa.

Không cần tốn công tìm kiếm lâu la, đội quân nào cũng tìm thấy ngay chỗ ở của mình, người lính nào cũng tìm thấy ngay cái lều của mình. Những ngôi sao đỏ là những đống lửa trú quân, cạnh đó thịt cừu ướp tỏi đang bốc hơi. Năm ngôi sao đỏ lớn nhất là bốn cây đuốc nhựa khổng lồ trước trướng của xuntan và quả cầu to bằng vàng có hình mặt trăng lấp lánh trên trướng ngự.

Đến cuối một đám ruộng hướng dương, tên chưởng cơ pháo binh thổi hai hồi vào cái kèn của hắn. Tất cả đứng lại.

Ở đó những cái lều dựng thành hình chữ U. Đám tù binh được dẫn vào lòng của cái chữ U đó. Tên khổng lồ đưa mũi đánh hơi về phía đám hướng dương và đi vào đó sục sạo. Cậu học sinh lả người xuống cỏ.

Bọn lính đi đi lại lại, làm ầm ĩ xung quanh. Một vài tên Thổ mở những bọc đồ, một số khác chen chúc nhau quanh cái chảo to. Cả trại quân là một cảnh hỗn độn, náo nhiệt.

Gergey tìm Tulipan, nhưng cậu chỉ trông thấy y có một thoáng khi một tên ionisa nói gì đó với y. Tulipan nhún vai và đi theo tên ionisa, qua bên cạnh cái lều màu đỏ sẫm. Chắc hẳn bọn chúng đã dành chỗ cho y trong một cái lều nào đó giữa đám ionisa.

Nhưng nếu y bị gọi đi vì chúng đã nghi ngờ khi thấy y cứ muốn ở cạnh đám tù binh thì sao ? Nếu thế thì y không thể nào quay lại được nữa ; cả hai sẽ chịu làm tù binh mãi mãi.

Ý nghĩ đó như một tảng băng trườn dọc lưng cậu.

Tất cả bọn lính gác đều được thay phiên. Bọn lính hành doanh đến thay thế chúng. Toàn mặt lạ, những thằng chẳng mảy may chú ý gì đến cậu cả.

Lúc đó bầy lạc đà chở nước cũng đã đến.

- Nước đây! Nước đây! – Tiếng gọi của bọn lính chở nước vang lên khắp nơi.

- Quân Thổ tranh nhau đem chậu đất, tù và, mũ, cốc ra hứng nước sông Đuno.

Gergey cũng khát, cậu ấn lõm cái mũ dạ và chìa ra dưới vòi nước của tên lính quản lạc đà.

Nước nóng hâm hẩm và cũng chẳng sạch sẽ gì, tuy vậy cậu vẫn uống ừng ực. Cậu bỗng nhớ đến thằng bé khóc đòi nước suốt dọc đường. Cậu nhìn quanh. Cậu thấy một phần những khẩu đại bác trong bóng tối và cả bầy bò đực đang gặm cỏ gần đấy. Bọn pháo thủ nằm ngồi la liệt bên cạnh những khẩu đại bác Nhưng chẳng thấy thằng bé đâu cả. Cậu bèn uốn nốt chỗ nước còn lại và vẩy mũ cho ráo rồi lại đội lên đầu.

- Nước ở nhà ngon hơn thế này nhiều, phải không anh ? – Cậu nói với tên lính gác mới, một tên bộ binh có cái cổ dài ngoằng, mặt nhẵn nhụi. Ý chừng cậu muốn lân la làm quen.

- Câm họng! – Hắn quát lên và hất cây giáo một cái.

Gergey bắt đầu thấy khốn khổ trong cùm xích.

Khi thoáng trông thấy Yumusac, cậu có cảm giác gần như là vui mừng. Hắn đi cắt đặt bọn lính đến đổi gác, tay cầm thanh gươm đã tuốt trần.

- Yumusac! – Cậu gọi hắn như người ta vẫn chào mừng chỗ quen biết cũ, vì cậu đang muốn thoát khỏi cái cảm giác giày vò của sự cô độc.

Tên Thổ ngoái cổ lại nhìn: người ta gọi hắn ở đâu thế nhỉ ? Từ trong đám tù binh ư? Hắn nhấp nháy mắt nhìn Gergey vẻ ngạc nhiên.

- Mày là đứa nào?

Cậu thiếu niên đứng dậy.

- Tôi là tù binh, - cậu trả lời, bây giờ đã với giọng miễn cưỡng – Tôi chỉ muốn hỏi là, rằng là … ông thế nào, ông còn sống ư?

- Sao tao lại không sống cơ chứ? – Tên Thổ nhún vai hỏi lại – Vì sao tao lại không sống hả?

Lúc hắn tra gươm vào vỏ, có thể thấy bàn tay trái của hắn đã bị tật. Những ngón tay chụm lại như thể có lúc nào đó hắn đang nhón muối rồi bỗng dưng không làm sao xòe ra được nữa.

- Tôi nghe nói người ta đã treo cổ ông rồi cơ mà.

- Tao ấy à?

- Ông chứ còn ai nữa. Chín năm về trước, một ông mục sư, trong rừng Metsec.

Nghe tiếng mục sư, tên Thổ càng trợn tròn mắt ra hơn nữa.

- Ông mục sư ấy đâu rồi? Mày biết gì về ông ta hả? Ông ta đâu rồi?

Và hắn túm lấy ngực áo cậu học sinh.

- Có lẽ ông muốn hại ông ta chăng? – Cậu học sinh ấp úng.

- Đâu có. – Tên Thổ nói với giọng đã dịu bớt – Tao muốn cảm ơn ông ta thì có, vì ông ta đã không giết tao.

Nói đoạn hắn đặt tay lên vai cậu như muốn tỏ cho cậu biết cử chỉ ban nãy cũng chỉ là dấu hiệu thân thiện.

- Thế lúc ấy ông chưa cám ơn à?

- Sự việc xảy ra bất ngờ quá, - Yumusac dang hai tay ra – tao chẳng kịp nghĩ đến việc cám ơn nữa. Tao cứ tưởng ông ta đùa.

- Thế đáng lẽ treo cổ ông lên, ông ta đã thả ông ra?

- Ừ, theo đúng cung cách Gia tô giáo. Lúc ấy tao chưa hiểu được điều đó. Từ bấy đến nay tao đã nghe nói theo đạo Gia tô, người ta có thể tha thứ cho kẻ thù.

- Nghĩa là ông muốn làm điều lành cho ông ta?

- Điều tốt lành. Tao không muốn nợ nần về tiền bạc cũng như ơn huệ.

- Vậy thì mục sư cũng ở đây đấy. – Cậu học sinh tin cậy nói.

- Ở đây? >Trong trại này ấy à?

- Ở đây. Ông ta là tù binh của Xuntan. Người ta buộc tội cho mục sư đã gây ra vụ nổ hồi chiều ở Metsec.

Yumusac lảo đảo lùi lại. Mắt hắn mở trừng trừng như mắt con rắn khi ngóc đầu lên để mổ con mồi.

- Mày làm sao mà biết ông mục sư ấy ?

- Chúng tôi ở gần nhau. – Cậu học sinh đã thận trọng, trả lời.

- Ông ấy không bao giờ cho mày xem một cái nhẫn à ?

- Có thể ông ấy đã cho xem.

- Một cái nhẫn Thổ, có vừng trăng và những ngôi sao trên mặt.

Cậu học sinh lắc đầu.

- Có thể ông ấy đã đưa cho những người khác xem, nhưng với tôi thì không. – Và cậu đút tay vào túi.

Yumusac gãi cằm. Cái lông đà điểu rung rinh trên mũ. Hắn quay người bước đi thẳng.

Bọn lính gác lần lượt chào hắn. Sau đó chỉ còn sự chuyển động của những ngọn giáo trong tay bọn lính gác chỉ cho biến hướng hắn đi.

Gergey lại trơ trọi một mình. Cậu lại ngồi xuống cỏ. Chúng nó mang xúp đến cho đám tù binh trong một cái chảo to với những cái thìa gỗ thô kệch. Tên Thổ mang xúp đến đứng ngay bên cạnh trong lúc họ ăn, khi một tên tù binh thì thầm điều gì với người bên cạnh, hắn đá anh ta ngã lộn nhào.

Gergey cũng nếm món xúp. Đó là một món xúp bột mì, không mỡ, không muối. Đó là món ăn ngày hai bữa của tù binh mà Gergey đã nhiều lần nghe nói đến.

Cậu bỏ thìa xuống, quay mặt đi và nằm xuống cỏ. Đám tù binh cũng dần dần ngừng ăn và nằm xuống ngủ thiếp đi.

Chỉ một mình Gergey không ngủ. Đôi mắt cậu thỉnh thoảng lại nhòe lệ, giàn giụa ra cả gò má.

Mặt trăng đã lên cao khoảng một cây thương, chiếu sáng những quả cầu mạ vàng có đính chùm đuôi ngựa trên các mái lều, những ngọn giáo và những khẩu đại bác.

Mỗi lúc đi qua bên cạnh, tên lính gác cổ dài lại liếc nhìn cậu.

Những cái liếc ấy day dứt Gergey. Cậu thở ra gần như nhẹ nhõm cả người, khi lại thoáng trông thấy bóng dáng đôi vai vạm vỡ của tên Thổ khổng lồ đang đến gần.

Hắn đang nhằn một gương hướng dương, tóp tép như con lợn. Hắn không phải là lính gác cũng chẳng phải là lính chính quy, hắn có thể tự do lang thang đến nơi nào hắn thích.

- Bọn lính hạ trại đã bẻ sạch cả rồi. – Hắn phàn nàn với tên cổ dài – Mãi tớ mới tìm được một gương đấy.

- Có khi là bọn vô đạo đã hái hết cũng nên. Cái dân này hễ thấy quân Thổ động tĩnh một tí là đua nhau thu hoạch hết, cả khi mùa chưa chín cũng vậy.

Tên kia đáp lại rồi tiếp tục đi tua quanh đám tù binh.

Tên khổng lồ ăn hết hạt của gương hướng dương rồi lại cắn vào cùi, nhưng phải nhổ vội ra.

- Anh không được phát thức ăn à? – Gergey hỏi.

- Có. Nhưng người ta phát cho bọn ionisa trước đã. Bây giờ tao mới đi trận lần đầu tiên.

- Trước đây anh làm gì?

- Mục phu. Quản tượng ở Têhêrăng [58]

- Tên anh là gì?

- Hoxan.

Một tên ionisa khác ngồi gần họ, trong đám cỏ, tay cầm một khúc xương hầm, tay kia đang dùng dao róc thịt. Hắn cũng lên tiếng :

- Chúng tao chỉ gọi là Hoivan thôi, vì nó là đồ bỏ.

- Sao lại là đồ bỏ ? – Cậu học sinh hỏi.

- Vì là... – tên ionisa vừa quẳng khúc xương ra đằng sau vừa trả lời – lúc nào nó cũng mơ thấy nó làm đô đốc ionisa.

Cậu học sinh nằm dài trên thảm cỏ. Cậu mệt rũ người nhưng chỉ nhắm mắt để đấy. Ý nghĩ của cậu đang xoay quanh một điều: trốn bằng cách nào đây.

Cậu rất bực khi thấy Hoivan lại quay lại và ngồi xổm bên cạnh, nhai rau ráu. Hắn vừa kiếm được một khúc xương trong một cái vạc nào đấy.

- Này, đồ ngoại đạo, nếu mày muốn, tao sẽ lấy cả cho mày nữa. – Hắn vừa huých vào đầu gối cậu vừa nói.

- Cám ơn. Tôi không đói.

- Từ khi bị bắt đến giờ mày chưa ăn gì cơ mà.

- Đã bảo là tôi không đói.

Chắc hẳng tên khổng lồ lấy làm lạ khi nghe cói người nói là không đói. Hắn lắc đầu :

- Tao thì lúc nào cũng đói.

Và hắn lại tiếp tục nhai rau ráu.

Cậu học sinh gối đầu lên cánh tay, chăm chú nhìn trăng. Mặt trăng với ánh sáng màu da cam, đã lên cao ở đằng đông, trên các lều, trướng. Đầu của một tên lính gác đứng cách họ chừng ba chục bước đâm ngay vào nửa vừng trăng. Trông hắn như bóng của một giáo chủ đội mũ to, cây giáo trong tay hắn nom như cái cán của vừng trăng.

- Đừng ngủ. – Hoivan nói khẻ. – Tao muốn nói với mày một việc.

- Thư thả đến mai cũng được.

- Không. Tao muốn ngay hôm nay cơ.

- Thế thì nhanh lên.

- Chờ một tí. Để trăng lên sáng hơn hẵng.

Đầu bãi cỏ có tiếng rục rịch và sáu bóng người hiện ra sau bóng những tên lính gác.

Những tù binh mới. Năm nam và một nữ.

- Hãy dẫn tao đến trước Xuntan! – Một người đàn ông hét lên bằng tiếng Hung với giọng ồm ồm như tiếng gấu – Tao không phải là người Đức! Không được hành hạ tao! Người Thổ bây giờ đâu phải là kẻ thù của người Hung. Sao chúng mày dám hành hạ tao ?

Song đám lính không hiểu ông ta. Mỗi khi ông ta đứng lại, chúng cứ đẩy đi. Chúng dẫn những người mới bị bắt đến khoảnh đất bên cạnh Gergey.

Người Hung kia thấy chẳng có ai nghe mình nói, bèn chửi rủa một mình:

- Cái bọn dị giáo chó má này không còn trời còn đất nào nữa, vậy mà chúng cứ bô bô lên là bạn của dân Hung. Bạn của các đồ ôn dịch thì có! Sao chúng nó không chết hết cả đi với cái tên hoàng đế đầu trộm đuôi cướp của chúng nó cho rồi!

Trong lúc đó bọn lính lôi người phụ nữ đi về phía đàn bò kéo đại bác. Chị kêu thét cũng vô ích, chúng cứ kéo tuột chị đi. Bốn người đàn ông kia lặng lẽ ngồi xuống cỏ. Đó là những tên lính gác Đức. Một tên mặc áo giáp sáng lấp lánh trên ngực. Đầu hắn chẳng đội gì cả, chỉ có mớ tóc rậm rối bù.

Gergey quay sang phía người Hung hỏi:

- Mấy thằng Đức này tháo chạy khỏi Buđo có phải không ?

- Chắc thế. Tôi chỉ vừa mới gặp chúng nó trong ruộng nho ở đây thôi.

Lúc đó Gergey mới thấy người Hung có cái giọng ồm ồm đó chỉ là một người nhỏ nhắn, gầy gò, râu quai nón, không mặc áo khoác. Cậu lại hỏi:

- Tại sao bác lại bị bắt?

- Tôi bị bắt chỉ vì trốn trong một cái nhà kho. Chắc cái bọn ngu độn này cho tôi là quân do thám. Do thám cái đồ quỷ sứ! Tôi là một người thợ đóng giày lương thiện. Không phải nhìn thấy quân Thổ là tôi mừng rồi chứ nói gì đến chuyện đi dò la chúng nó.

- Có lẽ bác ở Buđo đến.

- Ở đấy đến. Phải chi tôi cứ ở nhà lại hóa hay.

- Ở đấy bác có biết ông già Xexey không?

- Lão già tay gỗ ấy à? Tôi biết quá đi chứ.

- Hiện nay ông già làm gì?

- Làm gì à? Đánh nhau.

- Đánh nhau?

- Hẳn chứ lị. Lão người ta buộc lão lên ngựa rồi cùng tướng công Balin xông vào quân Đức.

- Với một tay ư?

- Với một tay. Thế mà ông lão vẫn cứ xông vào tụi Đức. Lúc họ trở về tôi có trông thấy. Tướng công Balin để ông lão đi cạnh mình và dẫn đến chỗ hoàng hậu.

- Tơrơc Balin?

- Chính ông ấy. Chà chà, cái nhà ông ấy cũng là một người được nuôi bằng sữa rỗng đấy. Ngày nào từ trận địa trở về người ông ấy cũng đẫm máu giặc suốt từ đầu đến chân.

- Nhưng ông già không việc gì chứ?

- Sao lại không việc. – Người thợ giày cười – chúng nó đã chặt đứt cánh tay gỗ của ông lão.

- Bác có biết cô con gái của ông già không? – Cậu học sinh trẻ rụt rè hỏi.

- Sao tôi lại không biết. Tôi vừa khâu cho cô ta một đôi giày cách đây hai tuần. Bằng gấm vàng, ống ngắm, dây kim tuyến. Các cô tiểu thư bây giờ có tiền đều đi giày như thế cả.

- Cô ấy đẹp đấy chứ nhỉ.

- Cũng kháu.

Bác im lặng một lát rồi lại bứt râu:

- Cầu cho Chúa Trời đừng có ở với chúng nó nữa. - Bác nói, giọng bỗng đổi hẳn đi – Chúng nó phải trả lại cái áo khoác cho tôi chứ!

- Bác ở Buđo đi hôm nào?

- Ba hôm nay rồi. Nhưng giá tôi đừng bỏ đi có phải hơn không. Dù ở đó có xảy ra chuyện gì đi nữa, số phận tôi cũng không thể tồi tệ hơn thế này được. Mà cái bọn Thổ thật chó má. Ở thành Nanđôphejê chúng đã từng hứa sẽ không hành hạ ai cả, thế mà rồi chúng đã làm cỏ cả thành, không phải thế ư?

- Chẳng lẽ bác lại nghĩ Buđo cũng sẽ rơi vào tay quân Thổ ư?

- Chắc hẳn đi rồi. Nếu không tôi đã chẳng bỏ mà di. Ngay từ trước khi xảy ra đánh nhau với bọn Đức, tôi đã gửi cả gia đình lên Sôprôn [59], chỗ bà chúng nó. Tôi không đi vì lúc đó tôi đang kiếm được nhiều tiền lắm. Cậu phải biết, các ngài quý tộc mỗi khi đến Buđo, việc đầu tiên của họ là đi thửa một đôi ủng mới. Tôi đã đóng cho cả tướng công Tơrơc Balin, cả quan lớn Vebơxi. Rồi lại còn đức ông Perênhi nữa chứ!

Bác thợ giày không thể nói hết những điều muốn nói vì Hoivan đã túm lấy cổ áo bác mà xách bổng lên như người ta xách một con mèo. Hắn quẳng bác ra xa chừng mươi bước. Bác thợ giày rơi huỵch xuống cỏ. Hoivan ngồi vào chỗ bác ta và hỏi Gergey:

- Mày nói là mày biết đọc, biết viết, vậy tao cho mày xem cái này.

Hắn chùi cả mười ngón tay vào cái quần thụng rồi rút ở sau lưng ra một cái ống bằng da bò trăng trắng. Hắn lại chùi tay vào lớp lông bò một lần nữa rồi rút từ trong ống ra một cuộn giấy gập cẩn thận.

- Mày xem đây. – Hắn nói – Tao đã tìm thấy những tờ giấy này trong áo choàng của một ông đạo sĩ tử trận. Ông ta bị một vét thương ở mạng sườn. Chúng nó đã đâm hoặc bắn vào ông ta. Nhưng đằng nào cũng thế. Trong túi ông ta còn có ba mươi sáu đồng tiền vàng nữa. Số tiền đó cũng nằm trong hầu bao của tao đây. Nếu mày nói cho tao biết những tờ giấy này viết cái gì thì mày sẽ được hai đồng tiền vàng. Nếu mày không nói tao sẽ nện mày chết tươi.

Ánh trăng rất sáng. Xung quanh mọi người đều đã ngủ. Bác thợ giày cũng nằm co ro trên thảm cỏ và cố đi tìm trong giấc mơ một niềm an ủi.

Cậu học sinh mở cuộn giấy. Đó là những mảnh giấy chỉ lớn bằng bàn tay một, vẽ đủ các thứ hình tứ giác, ngũ giác, lục giác.

- Tôi nhìn không được rõ, - Cậu nói – Chữ viết nhỏ quá, trăng không đủ sáng.

Tên Thổ đứng dậy đi lại chỗ đống lửa lấy một cành khô to bằng bắp tay đang chạy lem lém. Hắn soi cho cậu đọc. Cậu trầm ngâm xem kỹ chữ viết và các hình vẽ. Lửa rọi nóng cả mặt nhưng cậu chẳng hề cảm thấy.

Cậu chợt ngửng đầu lên hỏi tên Thổ:

- Anh đã đưa cho ai xem những tờ giấy này chưa?

- Tao đã có đưa nhưng chưa ai đọc được.

Lửa ở cành cây phụt tắt, tên Thổ vứt xuống đất.

- Tôi không cần tiền của anh đâu. – Cậu học sinh nói – Quả đấm của anh tôi cũng cóc sợ, vì tôi là tù binh của xuntan. Nếu anh đánh chết tôi, anh sẽ phải tính nợ với xuntan. Nhưng nếu anh muốn tôi giải cho biết những điều viết trong này thì anh phải giúp tôi một việc.

- Việc gì?

- Những tờ giấy này rất quý đối với anh, vì đó là của một ông đạo sĩ rất thánh. Thật trăm nghìn may mắn cho anh là đã đứa tôi xem, bởi vì bất cứ tên Thổ nào cũng sẽ có thể cướp của anh. Nhưng được rồi, tôi sẽ giải nghĩa cho anh nếu anh đến chỗ ông mục sư gây ra vụ nổ lúc chiều, hoặc nếu không phải ông ta gây ra thì ít nhất cũng là bị người ta tìm thấy ở chỗ đó.

- Chắc chắn là ông ta gây ra.

- Thôi được, đằng nào cũng thế. Anh hãy đến xem thử ông ta còn sống hay không?

Tên Thổ sờ cằm và nhìn Gergey vẻ suy nghĩ.

- Trong lúc anh đi đến đằng ấy tôi sẽ xem xét kỹ lại các giấy tờ của anh. – Cậu học sinh giục hắn – Bây giờ không cần soi lửa nữa, trăng đã đủ sáng rồi.

Và cậu lại đắm mình vào việc quan sát các hình vẽ. Đó là bản đồ của thành trì Hung. Nét vẽ bằng kẽm.

Đôi chỗ có tẩy xóa. Trên một hình vẽ có một dấu X và một dấu O nổi bật. Bên lề tờ giấy có chữ tiếng Latinh: X là phần yếu nhất của thành. O là chỗ thích hợp để đào đường ngầm. Đôi chỗ dấu O này còn được nối thêm một mũi tên.

Cậu học sinh cay đắng lắc đầu. Những bản đồ do thám đang nằm trong tay cậu. Bản đồ của hơn ba chục thành trì trên đất nước Hung.

Làm gì bây giờ?

Đánh cắp ư?

Không thể được!

Đốt đi ư?

Tên Thổ sẽ bóp chết cậu ngay.

Cậu cầm những mảnh giấy trong tay, tái người đi vì xúc động. Chợt nhớ ra, cậu thò tay vào túi áo lấy ra một mẩu kẽm. Cậu xóa dấu X và O trên tất cả các bản đồ rồi vẽ vào những chỗ khác.

Đó là tất cả những gì cậu có thể làm được.

Tên Thổ vẫn chưa về. Cậu lại xem lượt nữa cái bản đồ cuối cùng. Đó là bản đồ thành Eghe, trông như một con nhái cụt cả bốn chân. Bản đồ này thu hút sự chú ý của cậu vì cậu thấy trên đó có bốn đường ngầm, giữa các đường ngầm có nhiều phòng và một bể nước hình bốn cạnh. Một công trình đặc sắc biết bao! Hình như những người xây dựng đã tính đến cả khả năng phải tiếp tục cuộc chiến đấu trong lòng đất và nếu ở đó cũng thất bại, họ sẽ rút ra khỏi thành theo bốn đường ngầm, trong khi đó bọn địch đuổi theo sẽ chết đuối trong bể nước.

Cậu nhìn lên xem tên Thổ đã quay lại chưa?

Hắn đã quay lại. Hắn đi như một cái bóng khổng lồ bên cạnh các khẩu đại bác.

Gergey vội vàng vo tròn cái bản đồ đó và đút vào túi áo ngực. Cậu dùng ngón tay chọc thủng một lỗ trong túi cho nó rơi vào trong lớp vải lót. Sau đó cậu lại cúi xuống các bản đồ đang trải trên đùi.

Tên Thổ đến ngồi xổm xuống bên cạnh và nói:

- Ông mục sư vấn còn sống, họ bảo là không thể sống đến sáng mai được.

- Anh có trông thấy không?

- Có. Tất cả các thầy thuốc đều ngồi quanh lều. Ông ta nằm trên giường lót nệm và thở khò khè như một con ngựa bị đâm thủng bụng ấy.

Gergey đưa tay lên che mặt.

- Mày là đồng đảng của nó. – Tên Thổ giật mình nói.

- Thì đã sao? Hạnh vận của anh đang nằm trong tay tôi.

Tên Thổ nhấp nháy mắt và trở lại hiền lành ngay.

- Những tờ giấy ấy viết điều may à?

- Không phải tờ giấy mà là điều bí mật của nó. Nhưng chỉ đối với người Thổ thôi.

Cậu nói và đưa trả những tờ giấy.

- Mày nói đi chứ. – Tên khổng lồ thầm thì – Tao đã làm xong điều mày muốn rồi.

- Nhưng anh còn phải giải thoát cho tôi nữa cơ.

- Hô hô!

- Điều bí mật này đối với anh còn đáng giá hơn thế.

- Tao sẽ nhờ người khác.

- Người Thổ nó sẽ lấy của anh. Còn người Gia tô giáo? Bao giờ anh mới gặp lại được người Gia tô giáo biết cả tiếng Latinh, cả tiếng Thổ và lại là người mà anh có thể phục dịch một việc gì khiến người đó phải đáp lại bằng cách mở chiếc khóa vận hạnh cho anh!

Tên Thổ túm lấy cổ cậu học sinh:

- Nếu mày không nói tao sẽ bóp chết mày.

- Tôi sẽ kêu lên rằng nơi anh có một thánh ân.

Cậu không thể nói hơn nữa, những ngón tay hộ pháp của tên Thổ xiết chặt vào cổ cậu như những vòng sắt.

Cậu ngạt thở.

Nhưng tên Thổ không muốn bóp chết cậu. Như thế phỏng hắn được lợi lộc gì? Nếu bóp chết cậu học sinh, biết đâu hắn chẳng bóp chết luôn cả vận đỏ? Và Hoivan đi trận đâu phải để giơ đầu cho người ta choảng. Như tất cả những tên lính trơn, hắn cũng muốn trở thành quan lớn.

Những ngón tay của hắn nới ra trên cổ cậu học sinh.

- Được rồi. – Hắn nói, mặt sa sầm – Nếu mày kéo tao vào chuyện lôi thôi, lúc đó tao sẽ quật chết mày cũng chưa muộn. Mày bảo tao làm sao mà giải thoát cho mày được?

Cậu học sinh chưa thể trả lời ngay được. Cậu phải thở một chút đã.

- Trước hết – cậu hổn hển nói – anh cưa cái cùm ở chân tôi đi.

Tên khổng lồ nhếch mép cười, vẻ khinh thường. Hắn nhìn quanh rồi thò bàn tay hộ pháp nắm lấy cái cùm. Hắn chỉ bóp hai cái, cái cùm đã khe khẽ kêu lên, vỡ và rơi xuống cỏ.

- Gì nữa? – Hắn hỏi tiếp với đôi mắt tò mò.

- Anh kiếm cho tôi áo choàng và mũ xpahi[60]

- Cái ấy thì gay rồi đấy.

- Anh lấy của một đứa nào đang ngủ ấy.

Tên Thổ gãi cổ.

- Thế vẫn chưa hết đâu, - cậu học sinh nói tiếp – anh còn phải kiếm ngựa nữa, với một thứ binh khí gì đó. Bất kể thứ gì, tôi không kén.

- Nếu tao không tìm ra, tao sẽ cho mày một thanh gươm của tao, cái nhỏ này này.

- Được.

Tên Thổ nhìn quan. Khắp nơi đều là người ngủ chỉ còn những tên lính gác đi đi lại lại như những cái bóng lặng lẽ.

Tên cổ dài đứng cách đó chừng hai chục bước. Cây dáo của hắn cắm xuống đất. Hắn đứng tựa người vào cán dáo.

- Mày cứ chờ đây. – Tên khổng lồ bảo.

Hắn đứng dậy và lủi đi, khuất vào giữa các lều trại.

Gergey ngả lưng xuống cỏ làm như mình cũng ngủ, nhưng cậu không để cho mình chìm vào giấc ngủ, dù mỏi mệt đến đâu chăng nữa. Chốc chốc cậu lại nhìn lên trời xem mặt trăng đã đến chỗ đám mây xám hình cái bè đang chậm chạp lan ra giữa đỉnh trời kia chưa. (Nếu chúng gặp nhau, bóng tối thuận lợi sẽ phủ lên mặt đất). Mặt khác cậu chú ý đến tên ionisa cổ dài, cục cằn, đang đứng như một con diều hâu trụi cổ bị giam cầm. Chắc hắn đang ngủ đứng. Những người lính đã hành quân suốt ngày, khi đứng cũng ngủ được.

Đêm khuya mát dịu, không khi khẽ lay động vì tiếng ngáy của hàng trăm ngàn người. Dường như chính quả đất đang rù với một giọng trầm và đơn điệu như con mèo rù lúc nằm co. Chỉ thỉnh thoảng mới có một tiếng lính gác vang lên hoặc tiếng sột soạt khe khẽ của đàn ngựa đang gặm cỏ.

Dần dần Gergey buồn ngủ thiếp đi. Mỏi mệt và lo lắng đã làm cậu rã rời. Cậu cố chống lại cái không khí nặng nề của giấc ngủ đang đè nặng lên toàn trại quân. Cậu gắng gượng. Nhưng cuối cùng, mắt cậu cũng khép lại.

Và đây, cậu thấy mình đang ở nơi vừa ra đi: trong phòng học ở lâu đài cổ của thành Sômôdơ, bên cạnh hai con trai của Tơrơc Balin.

Họ ngồi bên một cái bàn lớn bằng gỗ sồi không chạm trổ gì cả. Đối diện với họ, mục sư Gabô cúi mình trên một quyển sách bìa da to tướng. Bên trái là một cửa sổ, mặt trời chiếu qua những tấm knhí tròn, rải những tia nắng lên góc bàn. Trên twòng có hai cái bản đồ to tướng. Một cái là bản đồ nước Hung, một cái là bản đồ ba đại lục. (Hồi đó các nhà bác học chưa vẽ lục địa của Côlumbô , chỉ mới bắt đầu có tin đồn đại là Bồ Đào Nha đã tìm ra một miền đất mới. Nhưng có gì thật trong tin đồn đó hay không thì chưa ai biết. Còn Châu Úc thì chưa một ai mơ tới).

Trên bản đồ nước Hung, mỗi thành trì được đánh dấu bằng hình một cái lều, nơi nào có rừng người ta vẽ hình cây cối. Đó là những bản đồ tốt. Người không biết đọc cũng hiểu được. Thời đó trong hàng các quan lại có tước hiệu hẳn hoi cũng khối người không biết đọc biết viết. Mà biết làm gì cơ chứ? Chẳng phải đã có các tay thư ký để viết, hoặc khi có thư đến, để đọc thay cho các quan đó hay sao?

Mục sư ngẩng đầu lên nói:

- Bắt đầu từ hôm nay chúng ta sẽ không học cú pháp, địa dư, sử ký, vạn vật nữa, chỉ học tiếng Thổ cả tiếng Đức thôi. Về hóa học cũng chỉ học cách chế thuốc súng.

Tơrơc Iontsi nhấn cái bút lông ngỗng vào nghiên mực và nói:

- Thưa thầy, học thế chỉ phí thì giờ thôi, vì chúng con đã có thể nói chuyện với bất cứ một tên tù binh Thổ nào. Còn đối với bọn Đức thì cha con đã quay lưng lại rồi.

Cậu bé Pheri lên mười hất nhẹ mớ tóc màu hạt dẻ rủ đến ngang vai ra đằng sau, nói chen vào:

- Hóa học cũng làm gì nữa ạ? Cha con đã có bao nhiêu là thuốc súng, không bao giờ hết được!

- Hô hô, công tử ơi! – Mục sư nhoẻn cười – ngay cả đọc cậu cũng còn chưa thạo nữa là. Hôm qua cậu còn đọc Xixerô [61] thành Kikerô.

Bóng dáng hùng dũng của Tơrơc Balin hiện ra trên ngưỡng cửa. Ông mặc cái áo chẽn bằng nhung xanh mà vua Gianôt trong phút lâm chung để lại cho ông, lưng đeo thanh kiếm nhỏ hình cong mà ông chỉ thường đeo vào dịp lễ.

- Nhà có khách đấy. – Ông nói với mục sư rồi quay sang bảo các con – Các con đi thay quần áo đi rồi xuống dưới nhà nhé!

Ông vuốt tóc Pheri rồi đi ra.

Trong sân có một cỗ xe ngựa to, bánh bịt vành sắt kiểu Viên[62] . Bên cạnh là một người Đức với tên đầy tớ. Họ đang bê những bộ áo giáp sáng loáng ra khỏi xe và giao cho đám tù binh Thổ. Bọn này treo các bộ giáp lên những cái cọc trong vườn.

Bên cạnh cỗ xe còn có bốn nhà quý tộc sang trọng đứng với tướng công Balin. Người ta giới thiệu mấy chú bé với họ. Trong bốn người đó có một anh thanh niên da nâu, người thấp, mắt sáng, mũi ngắn. Chàng bế chú bé Pheri lên và hôn chú.

- Cháu còn nhớ chú là ai nữa không?

- Chú Miklôt – bé Pheri trả lời.

- Thế còn họ?

Pheri vừa nghĩ vừa nhìn bộ râu đen mềm mại của chú Miklôt.

Iontsi nói thay em:

- Zirinhi…

- Không phải Zirinhi con ạ - cha chú sửa lại – Zorinhi[63]

Tất cả những chuyện đó đã có lần xảy ra. Đôi khi chúng ta vẫn nằm mơ thấy những việc đã qua một cách rõ ràng, với những tình tiết không thay đổi mấy. Gergey tiếp tục mơ thấy tất cả mọi chuyện trong ngày hôm đó.

Khi sáu tấm giáp hộ tâm đã treo trên các cọc, các vị tướng lấy súng ra bắn. Một tấm bị đạn xuyên thủng, họ lại trả lại cho người lái buôn thành Viên. Những tấm khác chỉ bị đạn ăn móp vào thôi thì họ mua và chia nhau.

Trời đã tối. Họ ngồi vào bàn ăn. Phu nhân Tơrơc ngồi ở đầu bàn, tướng công Balin ngồi ở cuối bàn. Giữa bữa ăn, các vị khách vặn hỏi các chú bé về các môn học.

Đặc biệt họ hỏi về kinh thánh và vè môn catê[64]

Tơrơc lặng lẽ mỉm cười nghe các câu hỏi hiền lành ấy một chốc, sau đó ông lắc đầu:

- Các ngài nghĩ rằng con tôi chỉ học catê thôi ư? Iontsi, con hãy nói xem, người ta đúc đại bác như thế nào?

- Thứ mấy tấn, thưa cha?

- Thứ mười tấn ấy.

- Muốn đúc đại bác mười tấn – chú bé đứng dậy bắt đầu – cần phải có chín tấn đồng và một tấn chì, nhưng khi cần, chuông nhà thờ cũng có thể dùng được và khi đó không cần đến chì nữa. Khi đã có đủ vật liệu, ta đào một cái hố sâu bằng chiều dài khẩu đại bác mà ta định đúc. Trước hết ta phải nhào một cái lõi bằng đất sét tinh và dẻo. Ta trộn dây bấc vào đất sét và cầm một thanh sắt vào chính giữa.

- Thanh sắt để làm gì? – Tướng công Balin hỏi.

- Để cho lõi đất sét có thể đứng được, nếu không nó sẽ đổ hoặc cong đi.

Rồi chú giương đôi mắt thông minh nhìn cha và tiếp:

- Phải nhồi đất sét cho đến lúc quánh lại và trộn dây bấc vào cho vừa phải. Đôi khi phải nhồi liền suốt hai ngày không nghỉ. Khi đã xong, ta đặt vào giữa hố và dọi cho nó đứng thật thẳng. Xong rồi người thợ đúc phải nhồi cái ống bọc ngoài cũng bằng đất sét tinh và làm kỹ như thế để đặt cẩn thận ra ngoài cái lõi đất sét. Bốn bề đều phải chứa một khoảng cách độ năm đốt ngón tay, nhưng nếu sẵn đồng thì đại bác có thể dầy hơn nữa cũng được. Khi lớp vỏ cũng đã xong, người ta chất đá và những cọc chống bằng sắt xung quanh cái vỏ đất sét, hai bên đào hai hố to chất đầy củi và đồng. Xong rồi là...

- Con quên mất cái gì rồi.

- Chì. – Chú bé Pheri nói leo vào.

- Thì con đang định nói. – Iontri đáp – Người ta chặt chì bỏ vào xong rồi đốt suốt đêm cho đến khi đồng chảy.

- Anh chưa nói cái lò phải to như thế nào. – Cậu em lại nói.

- Nghĩa là to và dày. Ai có trí khôn thì phải biết chứ.

Các vị khách bật cười. Iontsi phụng phịu ngồi xuống, quắc mắt nhìn em và lẩm bẩm:

- Đợi đấy, rồi ta sẽ thanh toán với nhau.

- Được, ông bố nói – nếu con không biết thì để em nói cho. Nói đi Pheri, còn thiếu gì nữa con?

- Còn thiếu gì nữa ấy ạ? – Cậu em nhún vai trả lời – Khi nào nguội rồi người ta lấy đại bác ở dưới đất lên.

- Đúng gớm! – Iontsi đắc thắng kêu lên – Thế còn giũa, còn đánh bóng, còn ba phát bắn thử?

Pheri đỏ mặt và nếu các vị khách không kéo chúng lại mà hôn chúng thì hai cậu bé đã xông vào ục nhau ngay trên bàn. Tơrơc Balin cười nói:

- Thú vị nhất là cả hai đứa đều bỏ sót mất cái lỗ điểm hỏa.

Mọi người lại quay ra đàm luận về các việc trận mạc, về quân Thổ, về quân Đức. Cuối cùng câu chuyện chuyển về Gergey.

- Cháu này sẽ trở thành một tay cừ đấy. – Tơrơc Balin vừa nói vừa xoa đầu Gergey – Đầu óc nó sáng như đèn. Chỉ phải cánh tay còn yếu.

- Ồ. – Zơrinhi khoát tay – Cái chính không phải là sức lực của cánh tay mà là sức lực của trái tin: lòng dũng cảm. Một con chó lài đuổi được cả đàn trăm con thỏ.

Bữa tối đã xong. Chỉ những cốc bạc còn lại ở trên bàn.

- Nào, các con ơi, đến chào các bác rồi đi vào với mẹ - Tơrơc Balin bảo các con.

- Thế bác Sebơc [65] không hát ư? ->  Cậu bé Pheri hỏi bố.

Nghe thấy thế, một người có khuôn mặt hiền từ, hơi nhiều râu đang ngồi bên bàn bỗng cựa mình. Ông nhìn tướng Balin. Zơrinhi cũng lên tiếng với cái nhìn ấm áp.

- Phải đấy, bác Tinôđi tốt bụng ạ. Bác hát cho chúng tôi nghe một cái gì hay hay đi.

Tinôđi Sebetchên đứng dậy đi về phía góc phòng lấy cây đàn kôbô [66]. Tướng Balin bảo các con:

- Được rồi, các con có thể nghe hết một bài, nhưng sau đó ta sẽ thổi kèn ngủ đấy nhé.

Tinôđi đẩy lùi ghế ra phía sau một chút và lướt những ngón tay trên năm dây đàn kôbô.

- Tôi hát bài gì bây giờ?

- Bài gì mới nhất ấy, bài mà bác vừa làm xong tuần trước ấy.

- Bài Môhát[67] ấy à?

- Bài ấy, nếu các vị khác của ta không có ý muốn gì khác.

- Không, không. – Các vị khác đều nói – Cứ cho chúng tôi nghe bài hát mới nhất.

Gian phòng im lặng. Các gia nhân gạt tàn những cây nến trên bàn rồi ngồi vào xó cửa. Tinôđi dạo thử các dây đàn một lần nữa. Bác tợp thêm một ngụm rượu trong cái cốc bạc trước mặt rồi bắt đầu ca với một giọng nam trầm dịu dàng:

Tôi bắt chước sầu lang của nước Hung

Khóc cánh đồng đẫm máu trận Môhát

Bao vạn đời trai lìa rơi tan nát

Và đau buồn, dân tộc mất quân vương.

Trong tiếng hát của bác có một cái gì khác thường. Nó giống lời kể chuyện hơn là hát. Đôi khi bác hát hết một câu, còn câu sau đó bác chỉ đọc và nhường âm điệu cho cây đàn. Đôi khi bác chỉ hát câu sau cùng của câu thơ cuối đoạn.

Trong lúc hát, đôi mắt bác đắm chìm vào khoảng không, hình như bác chỉ còn biết đến mỗi mình bác ở trong phòng và chỉ hát cho mình bác.

Những câu thơ mộc mạc của bác, như mục sư Gabô đã có lần nhận xét, tuy người khác đọc thì thấy trúc trắc và không nghệ thuật lắm, nhưng trên môi bác chúng ngân lên tuyệt hay, rung động cả lòng người. Mỗi tiếng nở ra trên môi bác đều mang ý nghĩa đầy hình tượng. Nếu bác ngâm: >tang tóc tức thì tất cả đều tối sầm trước mắt người nghe. Khi bác đọc: >chiến đấu, người ta thấy cảnh xô xát chém giết. Nếu bác nói: >Thượng đế, tất cả mọi người đều cảm thấy ánh hào quang tỏa trên đầu.

Ngay từ đoạn thơ đầu, các vị khác đang tì khuỷu lên bàn đã lấy tay che mắt, mắt Tơrơc Balin cũng rơm rớm lệ. Ông đã từng chiến đấu ở Môhát bên cạnh nhà vua giữa các đội vệ binh. Chỉ có bốn nghìn người chứng kiến trận đánh còn sống sót và một cảm giác suy nhược, tiêu vong đã làm toàn thể nước Hung nản chí – khăn tang dường như chập chờn trên khắp đất nước.

Tinôđi hát kể lại diễn biến của trận đánh và những người có mặt đều buồn rầu chăm chú lắng nghe. Khi đến những đoạn kể các hành động anh hùng, mắt họ sáng lên, những tên quen thuộc làm họ ứa lệ.

Cuối cùng Tinôđi tới đoạn kết và tiếng hát của bác giống như tiếng thở dài:

Bên Môhát, đồng không ai cắt cỏ,

Mộ địa đây lớn nhất cả hoàn cầu;

Khăn liệm đó phủ lên toàn dân tộc…

Đất nước này còn sinh phục nữa đâu!

- Còn sinh phục! – Zơrinhi vỗ tay lên bao gươm, kêu lên, rồi ông giơ tay phải lên nói – Xin hãy thề một lời thiêng liêng, thưa các vị, rằng ta sẽ hiến dâng tất cả mọi lo nghĩ của đời ta để mưa đồ gây dựng lại đất nước. Chừng nào quân Thổ còn chiếm một tấc đất của tổ tiên, chúng ta còn chưa ngủ trên nệm gối!

- Thế còn giặc Đức? – Tơrơc Balin cay đắng đáp lại – Hai mươi bốn nghìn người hung lại bỏ mạng để cho giặc Đức ăn trên ngồi chốc ta à? Quân cầu trệ! Bọn ngoại đạo [68] lương thiện còn một trăm lần hơn quân Đức tráo trở.

- Ông nhạc của bác cũng là người Đức đấy thôi. – Zơrinhi bừng bừng cãi lại – Người Đức dù sao vẫn là người Gia tô giáo.

Một ông già xua tay để làm dịu tình thế:

- Sự thật là ở chỗ người Hung ta không được chinh chiến ít nhất năm mươi năm nữa. Chúng ta cần sinh sôi nảy nở trước khi chiến đấu.

- Cám ơn. – Zơrinhi đập xuống bàn – Tôi không muốn nằm dài trong giường đến năm chục năm.

Và chú đứng dậy khỏi bàn, thanh gươm kêu lách cách.

Tiếng lách cách làm Gergey mở mắt ra và ngạc nhiên thấy rằng không phải cậu đang ngồi bên bàn ăn nhà Bơrơc Balin>  mà đang nằm dưới bầu trời sao, đứng trước mặt cậu không phải là Zơrinhi mà là tên Thổ vạm vỡ.

Đó là Hoivan. Hắn đá vào chân cậu để đánh thức.

- Quần áo đây.

Hắn ném áo choàng và tuyban xuống trước mặt cậu và nói tiếp:

- Ngựa thì rồi dọc đường ta sẽ kiếm.

Cậu học sinh khoác áo và đội tuyban lên đầu. Cả hai đều hơi rộng, nhưng cậu vẫn thấy mừng>  hơn là được tặng một bộ quần áo của ông hoàng.

Tên khổng lồ lại cúi xuống bóp vỡ nốt cái cùm kia trên chân cậu học sinh rồi hắn đi trước, về phía bắc.

Cậu học sinh thấy cái áo choàng dài quá. Cậu phải kéo lên và buộc ngang sườn. Cậu bước nhanh bên cạnh tên khổng lồ.

Bên trong và phía trước các lều, người nằm ngủ ngổn ngang. Trước một cái lều mà trên nóc có quả thao đồng và cờ đuôi ngựa, có lính gác, nhưng chúng cũng đã ngủ cả.

Trại quân dường như dài vô tận. Dường như cả thế giới đều chỉ toàn trại lính.

Họ đến một nơi có rất nhiều lạc đà. Ở đó lều trại đã thưa hơn. Người ngủ lăn lóc trên cỏ.

Hoivan dừng lại trước một cái lều có và một mảnh vải xanh.

- Ông già ơi! – Hắn gọi với vào – Dậy, dậy!

Một ông già thấp bé chui ra khỏi lều, đầu lão hói bóng, râu dài và trắng. Lão mặc một cái áo ngủ dài đến đầu gối, chân đi đất.

- Cái gì thế? – Lão giật mình hỏi – Mày đấy hở, Hoivan?

- Tôi đây. Một tuần trước tôi có mặc cả con ngựa xám của lão. – Và hắn chỉ một con ngựa to kềnh càng đang gặm cỏ giữa bầy lạc đà, nói tiếp: - Lão bán như giá tôi trả chứ?

- Vì thế mà mày đánh thức tao dậy đấy hử? Hai mươi gurut, như tao đã bảo.

Tên Thổ móc thắt lưng lấy tiền bạc. Trước tiên hắn đếm vào lòng bàn tay trái, sau lại đếm sang lòng bàn tay phải, cuối cùng hắn lại đếm lượt nữa vào tay lão lái buôn.

- Cựa giày cũng cần. – Cậu học sinh nói bằng tiếng Thổ trong khi lão đi cởi ngựa.

- Lão thêm cho một đôi cựa giày. – Hoivan bảo lão.

- Mai hẵng.

- Ngay bây giờ cơ.

Lão lái quay vào trong lều. Lão sờ soạng lủng củng trong tối rồi mang ra một chiếc cựa giày đã gỉ.

Cũng trong lúc đó, Yumusac đi đến các lều bệnh. Hắn hỏi một tên lính gác:

- Đứa nào là tên tù binh hôm nay đã định ám sát Đại hoàng đế?

Tên lính gác chỉ một cái lều trắng.

Trước lều, năm lão già đội tuyban trắng, mặc caphơtan[69] đen đang ngồi xung quanh đống lửa. Họ là ngự y của Xintan. Cả năm người đều nghiêm nghị và buồn bực.

Yumusac dừng lại trước tên lính gác lều:

- Ta có thể nói chuyện với tên tù binh được không?

- Xin ngài hỏi các ngự y.

Yumusac nghiêng mình hào các ngự y. Họ cũng gật đầu đáp lễ.

- Thưa các vị, tôi sẽ làm một việc tốt cho hoàng thượng, nếu tôi có thể nói chuyện với bệnh nhân.

Một thầy thuốc nhún vai. Cử động của bàn tay ông có thể hiểu: >không thể được; cũng có thể hiểu: >cứ vào.

Yumusac chọn lấy ý sau.

Tấm vải cửa lều đã cuốn lên nửa chừng. Trong lều có một cây đèn dầu. Ông mục sư nằm ngửa trên giường, mắt mở he hé.

Tên Thổ vừa bước tới bên giường ông vừa lên tiếng:

- Đồ mọi rợ, mày có nhận được ta không?

Mục sư không trả lời.

- Ta là Yumusac mà có lần chúng nó đã giao cho mày treo cổ lên đây mà. Mày đã tha cho ta bằng giá của cái bùa hộ mệnh.

Mục sư không trả lời. Mi mắt của ông cũng không hề động đậy.

- Bây giờ mày đã bị bắt và không còn gì chắc chắn hơn là việc người ta sẽ chém đầu mày.

Mục sư vẫn không nói gì cả. Tên Thổ lại nói nhưng giọng đã nhún:

- Ta đến đây vì cái bùa hộ mệnh đó. Với ông, nó không có nghĩa lý gì, nhưng với ta nó là tất cả nguồn sức mạnh. Từ khi không có nó bên mình, ta gặp rủi ro trong tất cả mọi việc. Ta có một biệt thự nhỏ tuyệt đẹp bên bờ vịnh Bôxpôrut, ta đã tậu để dành cho lúc tuổi già, nhưng nó đã cháy ra tro. Của cải trong nhà bị mất hết. Tay ta bị đâm thủng trong một trận đánh. Ông hãy nhìn tay trái ta đây: có lẽ suốt đời tàn tật.

Và hắn chỉ vào vết sẹo đỏ mới được chừng ba tháng.

Ông mục sư im lặng, không nhúc nhích.

- Lão già, - tên Thổ nói tiếp, giọng mềm hẳn đi như sắp khóc – lão là một người phúc đức. Ta đã nghĩ đến lão nhiều, cuối cùng ta cũng thấy lòng tốt của lão thật vô song. Hãy trả lại cái bùa hộ mệnh cho ta nào!

Mục sư không trả lời. Chỉ có cây đèn cháy kêu xèo xèo.

- Ta sẽ làm tất cả những điều lão muốn. – Sau một chút chờ đợi, tên Thổ lại nói tiếp – ta sẽ thử cứu lão khỏi bàn tay đao phủ. Cha ta là một pasa quyền thế. Anh ta là bêi Arơxơlan. Chừng nào người ta còn sống thì vẫn còn hy vọng. Chỉ cần lão nói cho ta biết cái bùa hộ mệnh của ta ở đâu?

Mục sư im lặng.

- Cái bùa hộ mệnh của ta! – Tên Thổ cáu tiết nhắc lại.

Và hắn vồ lấy vai mục sư vừa lay vừa hét:

- Cái bùa hộ mệnh của ta!

Đầu mục sư cứ rũ xuống, hắn giật ông ngồi dậy.

Cằm mục sư đã trễ xuống. Ông đăm đăm nhìn vào khoảng không với đôi mắt đã cứng đờ như thủy tinh và cái miệng hé mở.

Khi đã vượt qua cả tên lính gác ngoài cùng, Hoivan dừng lại.

- Đây nhé, - hắn nói – tao đã làm xong điều mày muốn. Bây giờ mày nói đi, cái bí mật mà tao mang trong người là cái gì?

- Kabala[70]  – cậu học sinh trả lời, vẻ bí ẩn.

- Kabala? – Tên Thổ lẩm bẩm nhắc lại.

Và hắn nhíu lông mày lại như đang cố sức tìm vào ý nghĩa của một từ mù tịt đối với hắn.

Cậu học sinh đứng tựa vào yên ngựa nói:

- Nếu anh nhìn kỹ hơn, anh sẽ thấy mỗi bức vẽ là hình của một ngôi sao. Ông đạo sĩ rất thánh đã phù chú xung quanh các ngôi sao hạnh vận. Mà anh còn hứa cho tôi cả thanh gươm nữa đấy nhé.

Tên Thổ chỉa cả hai thanh gươm của hắn ra:

- Mày chọn đi.

Cậu học sinh lấy thanh nhỏ hơn giắt vào thắt lưng rồi nói tiếp:

- Những hình vẽ này anh phải giắt xung quanh người. Anh phải cắt mỗi cái ra làm bảy rồi may vào lần vải lót áo của anh. Cả vào trong tuyban của anh nữa. Chỗ nào có những mảnh giấy linh thiêng này che chở, tên đạn sẽ không phạm vào người được.

Mắt tên Thổ ánh lên:

- Đạn bắn không thủng hở?

- Không. Chắc anh cũng đã nghe nói đến những bậc anh hùng cái thế, tên đạn không bao giờ phạm đến người họ.

- Có.

- Vậy anh đừng vì tiền bạc hoặc vì lời cám dỗ mà đem cho bất cứ ai. Ngay chỉ cho xem cũng đừng, vì người ta sẽ cướp của anh, người ta sẽ ăn trộm của anh, người ta sẽ lừa anh để lấy.

- Nhất định thế.

- Vì một chức vụ cao sang đang chờ anh: anh sẽ làm tổng trấn ở nước Hung.

Tên Thổ há hốc cả mồm ra vì kinh ngạc:

- Quan tổng trấn?

- Dĩ nhiên là không phải ngay sáng ngày mai, mà dần dần, khi can trường của anh đã tỏ rõ. Với lại trong giấy cũng còn viết là anh phải sống theo những lời răn của kinh Côran. Phải siêng năng trong việc cầu nguyện và tắm nước thánh. Ai làm điều lành cho anh thì anh đừng xử ác với họ.

Tên khổng lồ ngu ngốc nhìn cậu học trò, ngập ngừng nói:

- Nhiều khi tao đã nằm mơ thấy tao làm quan lớn. Tao đã mơ thấy điều đó. Vậy là phải cắt ra làm bảy?

- Cắt làm bảy. Nếu không đều nhau cũng không can gì. To nhỏ tùy theo chỗ anh muốn giữ gìn phần nào nhiều nhất.

Tên Thổ nhìn ra phía trước với vẻ sung sướng mơ màng. Rồi hắn ngửng đầu lên nói:

- Nếu tao thành ông lớn, tao sẽ nhận mày làm thư ký.

Gergey phải cắn vào môi để tiếng cười khỏi bật ra.

- Lên ngựa đi, anh bạn. – Hoivan nhiệt tình nói và giữ ngựa cho cậu học sinh cưỡi lên.

Cậu thò tay vào túi và nói:

- Hoivan, anh xem này, đây là một cái nhẫn. Anh nên biết người Hung có thói quen không chịu lấy không bất cứ một cái gì.

Hoivan cầm lấy cái nhẫn và ngẫn ra nhìn. Cậu học sinh nói tiếp:

- Anh đã cho tôi tự do và con ngựa, tôi trả anh bằng cái nhẫn này. Cầu Ala phù hộ cho anh, anh hói ạ!

Và cậu quất ngựa.

Hoivan túm lấy cương,

- Khoan đã! Đây là nhẫn Thổ Nhĩ Kỳ phải không?

- Phải đấy.

- Mày lấy đâu ra?

- Việc gì đến anh? Nếu anh muốn biết thì đó là của một tên ionisa.

Hoivan đực người ra suy nghĩ một lúc rồi đưa trả cái nhẫn:

- Không cần. Mày đã trả con ngựa và tự do với một giá đủ rồi.

Và hắn nhét cái nhẫn vào túi cậu học sinh.

Gergey đi về hướng nam để nhỡ chúng có đuổi thì đuổi theo hướng ấy chứ đừng đuổi theo hướng đi về Buđo.

Trăng đã ngả về tât, khi mở khi tỏ giữa những đám mây. Đằng đông trời đã ràng rạng.

Một con đường nhỏ cắt ngang con đường quốc lộ rộng rãi. Trên con đường nhỏ đó Gergey trông thấy một kỵ sĩ đang phi nhanh. Nếu cả hai cùng tiến với tốc độ như nhau, họ sẽ gặp nhau ở chỗ ngã tư.

Trong phút đầu tiên Gergey ghìm con ngựa chạy chậm lại, nhưng sau thấy người kia cũng giảm tốc độ, cậu lại cho ngựa phi lên. Như vậy cậu đến trước khoảng một trăm bước.

Mặt cậu không hề rời khỏi người kỵ sĩ lạ mặt kia. Trong ánh sáng ban mai mỗi lúc một rạng dần, cậu ngẩn người nhận thấy đó là một tên ionisa đội mũ chỏm cao đang tiến về phía cậu.

Cậu gõ cương cho ngựa đứng lại.

Tên kia cũng đứng lại.

- Đồ quỷ sa tăng! – Cậu lầm bầm – Thằng Thổ này nó bắt mình mất!

Hơi thở của cậu cũng ngừng lại trong nỗi kinh hoàng.

Nhưng ngay lúc đó lời nói của Đôbô Istơvan lại vang lên trong tai cậu như tiếng chuông ngân: Cái chính là không được sợ!

Từ hồi ấy đến giờ cậu chưa gặp lại Đôbô. Kể từ khi Tơrơc Halin rời bỏ Phedinan và đứng về phía vua Xopôio Gianốt, Đôbô không đến thành Xiget, cũng chẳng đến Sômôdơ hoặc Ôdôra. Tuy vậy Gergey vẫn nhớ đến ông với tấm lòng biết ơn và câu nói của ông vẫn luôn vang trong tai cậu: Con ạ, cái chính là không được sợ!

Con ngựa thấp bé của tên Thổ lại tiến lên. Cậu cũng thúc ngựa. Được thôi, ta sẽ gặp nhau ở ngã tư. Cũng có thể là tên Thổ này không đi đuổi cậu. Lúc đó cậu sẽ kêu to với hắn là chào rồi ai đi đường nấy.

Con đường tên Thổ đang đi lại chính là con đường thuận tiện để cậu rẽ lên phía bắc. Họ nhất định phải gặp nhau.

Nhưng nếu tên Thổ rút vũ khí ra?

Gergey chưa bao giờ xung trận. Trong nhà Tơrơc Halin, cả mục sư Gabô, cả tướng công đều dạy cậu đánh kiếm và ngày nào cũng đấu với tịu tù binh Thổ. Nhưng đó chỉ là trò chơi. Những lúc đó họ mực áo giáp sắt từ đầu đến chân, dù có dùng đến cả cuốc chim cũng khó lòng gây tai nạn được.

Với lại giả cậu có được một thanh gươm tốt hay một cây thương như của tên ionisa kia thì khỏi phải nói! Còn thanh gươm cà là dĩ này…

Cái chính là không được sợ! – Câu nói lại vang lên trong tai cậu. Và cậu phi nước đại, tiếp tục tiến lên trên con đường đã khởi hành. Nhưng tên Thổ không cho ngựa chạy nữa. Hắn đứng im.

Gergey hăng máu lên, rẽ sang con đường tên đứng và suýt nữa thì cậu thét lên vui sướng khi tên Thổ quay ngựa lại và cắm đầu chạy trốn.

Thằng này không phải ai khác, chỉ là Tulipan thôi!

- Tulipan – Cậu học trò kêu to.

Nghe tiếng kêu, tên Thổ lại càng quất ngựa khỏe, hắn lao vun vút trên con đường hẹp.

Con ngựa nhỏ đó cũng là một con ngựa tốt đấy, nhưng trên con đường lỗ chỗ những vũng nước, qũang đó lại là đường đất sét. Tên Thổ muốn cho ngựa nhảy qua mương nước để rẽ xuống đồng, nhưng con ngựa trượt chân, tên Thổ ngã xõng xoài trên mặt đất.

Khi cậu học sinh đó cũng tới chỗ hắn, tên Thổ đã đứng dậy, tay cầm cây thương lăm lăm.

- Tuipan! – Cậu học sinh cười vang – Đừng có mà điên!

- Ô, đồ quỷ! – Tulipan ngượng – Té ra cậu đấy ư, hở công tử?

- Chà, anh thật là một người lính can trường đấy! – Gergey lại cười và nhảy xuống ngựa.

- Còn tưởng là chúng nó đuổi – Tulipan vẫn chưa hết ngượng ngùng, nói – Cậu làm sao mà trốn ra được thế?

- Bằng mẹo, Tulipan ạ. Tôi chờ mãi để mong anh thoát cho.

- Không thể được, cậu ạ - Tulipan thanh minh – Chúng nó quây tù binh vào chính giữa trại, lại bao nhiêu lính gác ở khắp nơi, ngay chính con cũng gay go mãi mới lẩn đi được.

Hắn lôi con ngựa dậy và gãi đầu gãi tai.

- Đồ quạ mổ diều tha! Con làm sao mà về đến nhà với nó đây?

- Dắt nó đi chứ làm sao nữa.

- Công tử không về với con à?

- Không.

- Thế cậu đi đâu?

- Ta đi Buđo.

- Cậu lại đến rơi vào tay quân Thổ mất.

- Ta sẽ đến trước chúng nó. Ở đó nếu có việc gì thì đã có chủ tướng của ta. Người mạnh thế lắm. Nếu đức ông muốn, Người có thể làm vua cũng được ấy chứ.

Tulipan lại leo lên ngựa. Gergey chìa tay cho hắn:

- Tôi gửi lời chào những người ở nhà nhé!

- Cảm ơn cậu. Con cũng xin gửi lời chào kính trọng tới ông chủ con. Cậu đừng nói chuyện bắt gặp con đang say sưa đấy nhé. Con chỉ uống phần rượu của bọn đầy tớ thôi.

- Được, được., Tulipan ạ. Cầu trời phù hộ cho anh.

Tulipan còn ngoái lại nhìn lần nữa:

- Thế còn thầy mục sư?

Cậu học sinh ứa nước mắt:

- Thầy bị ốm. Tôi không nói chuyện được với thầy.

Cậu còn định nói thêm một điều gì nữa, nhưng hoặc vì nước mắt làm cậu nghẹn ngào, hoặc vì cậu đã nghĩ lại nên không muốn nói. Cậu giật cương và đi về phía mặt trời mọc.

* *

Ban ngày cậu học sinh ẩn trong rừng. Chỉ ban đêm cậu mới đi tiếp đến Buđo theo một đường vòng lớn.

Mặt trời vừa vặn nhô lên, khi cậu đến một cánh đồng bằng phẳng, trải rộng dưới chân núi Genlê. Cậu vứt cái tuyban đi, còn cái áo choàng cậu móc vào sau yên.

Trên khắp cánh đồng, sương long lanh như ngọc. Gergey xuống ngựa. Cậu cởi trần đến ngang thắt lưng rồi hớt sương vào lòng bàn tay rửa sạch bụi bặm của hai ngày đường.

Rửa tay xong cậu thấy khoan khoái hẳn. Con ngựa cũng đã gặm cỏ được một lúc. Ấm lên trong những tia nắng đầu tiên, người ngựa lại vội vã ruổi trên đường quốc lộ.

Hai bên đường đã đầy rẫy những dấu vết của trận Buđô. Những cái khiên vỡ, những bánh xe kéo đại bác đổ gục tan nát, những tấm giáp vai méo lõm, gươm, giáo, những cái mũ sắt xấu xí giống như những cái nồi sơn đèn của quân Đức ngổn ngang khắp nơi.

Và bao nhiêu xác chết chưa ai chôn cất.

Năm thằng Đức nằm quanh một bụi mận dại. Hai thằng nằm ngửa, một thằng nằm còng queo, hai thằng nữa bị bổ vỡ đầu. Có lẽ ba đứa bị đạn giết tại chỗ, còn hai đứa kia bị tử thương rồi mới lê đến đó.

Một mùi hôi thối nặng nề tràn lan trong không khí.

Thấy người kỵ sĩ đi tới, đàn quạ từ đám xác chết bay ồ lên, lượn một vòng là là trên cánh đồng rồi đậu xuống một chỗ xa hơn để lại tiếp tục bữa tiệc ghê gớm của chúng.

Tiếng kèn lanh lảnh bỗng nổi lên khiến Gergey ngẩng đầu lên khỏi cảnh tượng buồn thẳm đó. Từ thành lầu đó, một đội kỵ binh mặc quần áo đỏ đang chậm chạp tiến xuống. Độ bốn năm vị đại quan mặc lễ ohục dẫn đầu. Sau đội kỵ binh là một đoàn dài bộ binh mặc binh phục màu xanh thẫm.

Trong tốp người đi đầu, một kỵ sĩ mặc áo choàng trắng nổi bật hẳn lên.

- Chắc là Đức cha nhiếp chính Giơrgiơ danh tiếng – Gergey nghĩ thầm.

Tim cậu đập rộn lên. Từ nhỏ đến giờ cậu đã nghe biết bao chuyện đồn đại về Đức cha nhiếp chính! Đối với cậu hình như ông còn to hơn cả vua.

Đi cạnh nhiếp chính là một kỵ sĩ vận nhung phục đỏ, những viên ngọc dát trên áo trên mũ lấp la lấp lánh.

Gergey nhận ra đó là Tơrơc Balin.

Chạy ư? Nếu chạy cậu sẽ có thể gây nghi ngờ. Tơrơc Balin sẽ>  phái người đuổi theo và lúc đó người ra sẽ lôi cậu đến trước mặt chủ tướng quý mến như một kẻ tội đồ.

Cậu sẽ nói mình đã cùng mục sư làm những việc này ư?

Nếu vậy lập tức Tơrơc Balin sẽ đuổi cậu đi cho khuất mắt. Chính ông đã gọi quân Thổ vào để đánh quân Đức, vậy mà bây giờ ông lại phải nghe chuyện người nhà của mình định giết vua Thổ hay sao?

Gergey suy nghĩ rất lung. Cậu không ưa nói dối. Nếu phải dối chính người đã nuôi dậy mình khôn lớn thì nhục quá! Bởi vậy cậu cứ đứng sững bên đường, đầu để trần, mặt đỏ gay. Cậu xuống ngựa và nắm lấy dây cương.

Rồi ra sao thì ra!

Con ngựa còn đói nên khi được tạm nghỉ, nó lại gặm cỏ ngay.

Ô, cầu trời phù hộ cho con ngựa này, nhất là cho cái đói của nó! Thật là tuyệt biết bao trong lúc này có thể vờ giật nó sang trái, sang phải, làm như đang trị đồ khó bảo! May làm sao giữa lúc này có thể quay lưng về phía những triều thần đang chuyện trò sôi nổi.

Họ đã đến đây rồi, đã nghe tiếng họ nói chuyện. Con ngựa già lúc quay bên phải, lúc sang bên trái, có lúc phải chạy một vòng quanh chủ, có lúc cậu chủ lại chạy vòng quanh nó.

Ma quỷ cũng chẳng ngờ được rằng gió cũng có thể giúp ích cho người ta: Một cơn gió nổi lên từ phía đông đã cuốn lên một màn bụi vàng, qua đó người trên đường chỉ có thể thấy loáng thoángmột thiếu niên nào đó đang vất vả với con ngựa xám kềnh càng trên bãi cỏ. Hãy để mặc cậu bé kia làm thế nào trị được nó thì làm!

Gergey thở phào nhẹ nhõm khi thấy các vị đại thần là vượt qua mà không có ai kêu lên: >Gergey con ơi!

Cậu lại nhảy lên ngựa, trước hết cậu nằm áp bụng lên lưng ngựa, sau đó mới bỏ chân qua bên kia và quay mặt nhìn đoàn quân. Đến lúc này cậu mới thấy tất cả đoàn bộ binh mặc quần áo xanh thẫm đều bị xích. Quần áo họ rách tơi tả, tóc tai lấm bùn bê bết, mặt mày tái nhợt. Không có một người già nào trong bọn họ, nhưng thương binh thì nhiều. Một tù binh cao kều, quần áo rách mướp, mặt mũi sưng vù, tím bầm trên khuôn mặt dập nát chỉ còn trông thấy được có một con mắt.

Biết đâu chẳng phải chính Tơrơc Balin đã nện vào mặt hắn?

Đây là lần đầu tiên Gergey trông thấy thành Buđo.

Biết bao nhiêu đỉnh tháp với những tường cao vút, vườn thượng uyển với những cây cối sum xuê lá cành về phía Pats – đối với cậu tất cả những cái đó giống như một cảnh mới trong mơ.

Vậy ra đây đã từng là nơi ở của vua Machiat? Vua Loiôt đã sống ở đây? Và cô bé Êvo của cậu cũng đang ở đây, đang ngày ngày trông thấy những cảnh này?

Một người lính gác cầm kích đứng trước cổng thành, anh ta chẳng hề ngó đến Gergey. Cậu cứ theo con đường đi lên hoàng thành, chửng hỏi han gì cả. Cậu ngẩn người nhìn lên hoàng cung, vào bồn nước hình tròn, to tướng, bằng đá vân hồng cam ở giữa sân. Rồi cậu dừng bước trên quảng trường Thánh Gioóc. Một bãi đại bác để ngổn ngang ở đó thu hút sự chú ý của cậu. Những khẩu đại bác to tướng, ám khói. Những bánh xe lấm bùn chứng tỏ người ta vừa lấy được của bọn Đức, có lẽ vừa mới hôm qua.

- Chào bác – Cậu nói với người lính đứng gác ở đó – Đây là chiến lợi phẩm thu được của Đức đấy nhỉ?

- Đúng vậy – Người lính kiêu hãnh trả lời.

Gergey lại ngẩn tò te nhìn các khẩu đại bác. Trong đó có ba khẩu to đến nỗi hai chục con bò mộng cũng chưa chắc làm được nó nhúc nhích. Những khẩu pháo vẫn còn nặc mùi thuốc súng.

- Bác ơi. – Gergey lại hỏi – Bác có biết ông già Xexey không, ông già tay gỗ ấy mà?

- Sao tôi lại không biết.

- Ông ta ở đâu?

- Dưới kia kìa. – bác lính bắt đầu chỉ vầ phía bắc – trong thành phố Thánh Giăng ấy.

- Cháu không thuộc đường xá ở đây đâu.

- Thế thì chú cứ đi thẳng đi, rồi hỏi thêm ở dọc đường. Ông lão ở trong một ngôi nhà nhỏ màu xanh lá cây. Trước cổng có treo một cái cung. Có người thợ chế cung ở đó.

- Xaghitaiút?[71]

- Hắn đấy.

Gergey còn liếc nhìn những khẩu đại pháo một lần nữa rồi mới lóc cóc cưỡi con ngựa xám đi.

Sau nhiều lần hỏi thăm và chỉ trỏ, cuối cùng cậu tìm được phố Thánh Giăng và ngôi nhà nhỏ hai tầmg màu xanh lá cây.

Ngôi nhà chỉ có năm cửa sổ nhỏ nhìn ra phố. Ba cái ở tầng hai và hai cái ở tầng một. Cái cổng ra vào ở chính giữa, chỉ nhỏ như một cái cửa phòng. Phía trước cổng lủng lẳng một cái cung to tướng nằng tôn sơn đỏ.

Gia đình Xexey ở trên gác. Khi Gergey đẩy cửa bước vào, cậu thấy ông già mặc kơntơsơ [72], đi giày popút[73] , đang cầm một cái vỉ ruồi cán dài đập đen đét bên cạnh tủ.

- Đừng này, đồ chó! – Lão lầm bầm và lại đét một cái như súng nổ.

Rồi khi nghe tiếng chân người đến, lão nói tiếp:

- Trên thế giới chẳng có loài vật nào lì lợm hơn giống này! Ta đập chúng chết ngay trước mắt nhau, thế mà đáng lẽ chạy trốn, chúng lại còn đậu lên râu ta. Đừng này, đồ chó!

Và lão lại quật cái vỉ ruồi vun vút trong không khí.

- Cha ơi, - Gergey nhoẻn cười – Xin chào cha!

Nghe nói thế ông ta mới quay lại:

- Ơ này! Gergey con ta! – Lão sửng sốt – Con đấy ư, hở con yêu?

Bản thân Gergey cũng cảm thấy kỳ lạ về sự có mặt của mình ở đây, tuy nhiên cậu vẫn chờ người ta sẽ ôm choàng lấy cậu mà hôn như thường quen lúc ở nhà ở Kerextet.

Bà vợ nghe tiếng cũng phóng từ phòng bên cạnh bước sang. Và bà cũng sủng sốt, cũng ngạc nhiên không kém. Bà hỏi:

- Con đến đây bằng cách nào thế? Cái gì đã đưa con tới đây thế, con trai của mẹ?

Bà hôn và vuốt tóc cậu. Nhưng hình như trước kia bà đã từng hôn cậu âu yếm hơn thì phải. Ý nghĩ đó thoáng qua trong óc Gergey; có lẽ chỉ là cảm giác thì đúng hơn.

- Con đến đây chẳng có mục đích gì khác là mong thấy mẹ trở lại Kerextet – cậu trả lời.

- Ô hô – Ông lão đáp lại.

Dường như ông muốn bảo: nói năng gì mà ngu ngốc thế!

- Con đã trông thấy đạo quân Thổ. Chúng sẽ chiếm Buđô đấy.

- Ô hô! – Xexey lại thốt lên, càng to giọng hơn.

Dường như muốn bảo, điều này mới càng ngu xuẩn hơn nữa!

Bà vợ cũng hìn cậu thiếu niên với vẻ mặt ái ngại như người ta vẫn thường nhìn những kẻ ngờ nghệch, những kẻ hay nghĩ ra những chuyện vớ vẩn với cái trí khôn ít ỏi của mình.

- Cậu có đói không? – Bà đặt tay lên vai cậu và hỏi – Có lẽ con cũng chưa ngủ phải không?

Gergey gật đầu như bảo có, nửa như bảo không. Cậu chăm chú nhìn vào cái bàn cờ để trên bàn, nhưng một mắt vẫn liếc về phía cánh cửa mở.

- Con chờ Vixusko chứ gì? – Bà vợ mỉm cười nhing sang phía chồng – Nó không có nhà. Nó cũng chẳng về ngủ ở nhà nữa. Nó ở chỗ hoàng hậu ấy, chỉ thỉnh thoảng mới đảo về được một tí thôi. Những lúc ấy nó cũng đi xe ngựa với ông xà ích của vua. Thế đấy!

Chợt nghe tiếng xèo xèo, bà đập hai bàn tay vào nhau:

- Giêsu Mania! Sữa của tôi trào hết rồi!

Gergey chờ cho Xexey tiếp tục câu chuyện về Vixo nhưng ông lão cứ ngồi nhấp nháy mắt và lặng thinh.

- Ông giáo sĩ đâu rồi hả cha? – Cậu hỏi với một tâm trạng nặng trĩu.

- Đang đi chôn cất – Xexey trả lời với vẻ mặt chán chường – Ông ta hợp lực với một vài người bạn nữa đi chôn cất.

- Chôn xác quân Đức ấy à?

- Tất nhiên là quân Đức. Từ khi>  đánh nhau đến giờ, hôm nào ông ta cũng đi chôn xác chết. Kể cái bọn lính Đức cũng chẳng đáng chôn cất làm gì!

- Thế chúng nó không bắn à?

- Họ mặc quần áo trắng. Chúng nó không bắn những người như thế.

- Con thấy nhiều xác còn chưa được chôn cất.

- Ta cũng tin như vậy đấy, >cháu ạ, chúng ta chém cũng khá nhiều.

Tiếng >cháu càng làm cho Gergey thêm rầu rĩ. Nhưng cậu không thể dừng được nữa, cậu lái câu chuyện về phía Vixo:

- Hiện nay cô ấy cũng đương ở chỗ hoàng hậu à?

- Ừ.

Ông lão đứng dậy và khập khiễng đi đi lại lại trong phòng. Bộ mặt có vẻ nghiêm trang và trịnh trọng. Lão bắt đầu giảng giải cho cậu biết cô bé Vixo đã được nhiếp chính Giơrgiơ đưa đến chỗ hoàng hậu và giới thiệu với Người trong vườn thượng uyển. Hoàng tử tí hon bỗng nhoẻn miệng cười với Vixo và chia tay đòi Vixo. Vixo chẳng hề lúng túng, cô bế hoàng tử vào lòng như vẫn bế con cái nông dân ở nhà và đung đưa hoàng tử chẳng kể gì nghi lễ cả. Cô còn nói nựng với hoàng tử: Bày, con thỏ nhỏ! Từ hôm đó hoàng hậu cứ muốn cô ta ở bên mình và bây giờ ngay cả về ngủ ở nhà, hoàng hậu cũng không cho phép nữa.

Lúc đầu Gergey chỉ nghe một cách tò mò, nhưng càng nghe mắt cậu càng sáng lên. Cậu chỉ hơi lấy làm lạ là Xexey lại mang vẻ trang trọng như thế mà nhìn một cách lạnh lùng. Cuối cùng, cậu lại lầm lì như cũ.

- Cháu làm sao thế? Sao trông cháu đờ đẫn thế?

- Con buồn ngủ - Gergey trả lời và phải khó khăn lắm cậu mới ngăn được những giọt nước mắt.

Vì lúc đó cậu đã hiểu cô bé Êvo sẽ không bao giờ thuộc về cậu nữa.

Vậy chuyện gì đã xảy ra ở Buđo?

Số là quân Đức muốn kéo vào chiếm đóng, Hoàng hậu cũng muốn nhân nhượng chúng đấy, nhưng các triều thần Hung không chịu nổi việc để quân Đức chễm chệ trong lâu đài của Machiát. Thế là họ mời quân Thổ vào giúp và trong lúc chờ quân Thổ đến, họ tổ chức tự vệ. Khi đoàn quân Thổ đầu tiên đến nơi thì quân Đức đã hao mòn, và khi Xuntan thân chinh đến với một đạo binh khổng lồ thì quân đội của Rôgenđô [74] đã bị đánh tan tác.

Nhiếp chính Giơrgiơ đem theo bốn trăm tù binh Đức đi đón Xuntan.

Cùng đi với giám mục nhiếp chính có cả Tơrơc Balin và ông Pettrôvits Pête tóc hoa râm nữa.

Xuntan cùng quân đội dừng lại ở Tserepét, cách Buđo một trạm hành binh. Hắn hậu tiếp các triều thần Hung trong trướng gấm. Hắn đã biết tên tuổi cả ba người. Về nhiếp chính hắn biết cả nước đang duy nghĩ theo cái đầu của ông. Còn Tơrơc Balin, hắn đã biết từ hồi hắn định cắm ngọn cờ nửa vành trăng lên thành Viên. Hồi đó Balin đã chém đầu tên pasa Kaxôn cùng toàn bộ đội quân của hắn: Từ đó quân Thổ vẫn nhắc đến ông như một hung thần khạc ra lửa. Về ông già Petrôvits, tên phiên dịch đã nói cho hắn biết trước ông là hoàng thích của vị ấu vương và ông là người, năm 1514 đã đánh Đôjo Giơrgiơ ngã ngựa và bắt làm tù binh.

Người ta dẫn ông vào trướng. Cả ba đều nghiêng mình thi lễ. Sau đó, khi Xuntan bước tới chỗ họ và chia tay ra, nhiếp chính cũng bước lên một bước và hôn tay Xuntan. Ông già Petrôvits cũng hôn bàn tay ấy.

Còn Tơrơc Balin, thay cho cái hôn tay, lại nghiêng mình một lần nữa rồi nhìn thẳng vào Xuntan với nét mặt tái hẳn đi nhưng đấy kiêu hãnh.

Thật là ngạo mạn! Nhiếp chính thấy lạnh cả xương sống. Nếu ông biết trước sự thể thế này thì ông đã chẳng nài lấy một tiếng để ép Balin đi theo ông.

Mi mắt của Xuntan không hề động đậy. Hắn nâng cao bàn tay đã chìa ra cho người ta hôn và đặt lên vai Tơrơc Balin rồi ôm lấy ông.

Cử chỉ đó đầy thân mật và đúng theo phong tục của người Hung, dường như sự việc không thể nào xảy ra khác được.

Trong trướng còn có hai hoàng tử trẻ tuổi. Họ nhẹ nhàng bắt tay các vị triều thần Hung. Chắc người ta đã dạy trước cho họ cách ứng xử. Sau đó họ lại về đứng sau vua cha và chăm chú nhìn Tơrơc Balin.

Có thể ngắm nghía ông ta được lắm! Ông thực là một người Hung đẹp đẽ, oai phong. Trong bộ trang phục đỏ, ông làm lu mờ tất cả các bậc quyền quý khác.

Cặp mắt bố già của Xuntan cũng thường hướng vào Tơrơc Balin hơn là vào nhiếp chính đang cúi mình trước mặt hắn, và, bằng một giọng văn Latinh trau chuốt, đang tâu cho hắn biết mối hiểm họa giặc Đức đã được yên và dân tộc Hung lấy làm hạnh phúc khi cảm thấy một đội bảo vệ vĩ đại nhường này đang xòe ra trên đầu họ.

Tên phiên dịch là pasa Xuleiman, một lão già ốm yếu, gầy gò. Từ hồi còn bé hắn đã lưu lạc từ Hung sang Thổ và nói thành thạo hai thứ tiếng.

Từng câu một, hắn dịch bài tấu của nhiếp chính.

Xuntan gật gật đầu. Khi bài tấu đã chấm dứt bằng một cáo gập mình sát đất, Xuntan mỉm cười:

Nhà ngươi nói đúng lắm. Ta đến đây cũng còn vì tiên vương Gianốt trước kia là bạn của ta. Số phận thần dân của tiên vương đối với ta đâu phải là số phận của một dị tộc. Hòa bình cần phải trở lại trên đất nước này, từ nay về sau, dân tộc Hung có thể ngủ yên: thanh gươm của ta sẽ đời đời canh giữ cho họ.

Giám mục nhiếp chính lại nghiêng mình tỏ lòng vui sướng. Ông già Petrôvits lau một giọt lệ trong khóe mắt. Riêng Tơrơc Balin cứ đăm đăm nhìn ra phía trước, vầng trán tối sầm.

- Nào, ta thử xem các ông đã đánh nhau với một lũ người như thế nào? – Xuntan nói.

Hắn lên ngựa va, có các triều thần Hung theo sau, chầm chậm diễu qua đoàn tù binh đang kẻ đứng người quỳ thành hai hàng trên bãi cỏ bên bờ sông Đuno.

Bên phải hắn là giám mục nhiếp chính, bên trái là pasa Xuleiman. Nhưng thỉnh thoảng hắn cũng quay lại phía sau, khi thì nói vài lời với Petrôvits, khi với Tơrơc Balin, khi với các hoàng tử.

Tất cả đám tù binh phủ phục trước mặt Xuntan. Một vài tên giơ cánh tay xiềng xích về phía Xuntan với vẻ cầu khẩn.

- Toàn một lũ khố rách, quân đánh thuê! – Xuntan nói – Nhưng cũng có những tên khỏe mạnh ra dáng!

- Còn có những tên khỏe mạnh hơn nữa kia ạ. – Tơrơc Balin đáp lại ngay bằng tiếng Hung khi>  thấy Xuntan quay về phía mình – Độ một vài trăm, nhưng chúng không có ở đây.

Thấy Xuntan nghe nói vậy thì nhìn mình bằng cặp mắt đồ hỏi, Balin thản nhiên trả lời:

- Tôi đã chém chết cả.

Họ trở về trướng. Xuntan không vào trong trướng nên lính hầu mang ghế ra cho hắn. Chúng không mang ghế cho các sứ giả và các hoàng tử.

- Tâu bệ hạ, phải đối đãi với tù binh ra sao ạ? – Pasa Amhát hỏi.

- Chém đầu chúng nó đi – Xuntan thản nhiên trả lời như thể nói: chải cái áo caphơtan cho ta.

Hắn ngồi xuống cái ghế trước trướng, đó là một cái>  đệm thuê kim tuyến. Hai thị thần cầm quạt lông công đứng hầu đằng sau, không phải cốt để cho cảnh tượng thêm lộng lẫy mà quả thực là vì ruồi. Thời tiết đã vào cuối tháng tám rồi và hàng tỉ tỉ ruồi cứ bám theo đạo quân.

Hai hoàng tử đứng bên cạnh Xuntan, các sứ thần Hung ngả muc đứng trước mặt.

Xuntan trầm ngâm một lúc, sau đó hắn quay sang Tơrơc Belin:

- Có một thầy tu bị bắt làm tù binh ở dọc đường. Ông ta là dân thuộc trấn của người. Có lẽ ngươi biết ông ta chăng?

Tơrơc Balin hiểu lời nói của Xuntan, tuy cậy ông vẫn lắng nghe người phiên dịch và trả lời bằng tiếng Hung.

- Thần không biết hết tất cả những thầy tu thuộc quản hạt của thần. Trong các lãnh địa thần có đến vài trăm người thuộc đủ các giáo phái. Nhưng có thể thần biết người tù binh đó.

- Đem nó ra đây. – Xuntan ra lệnh, rồi hắn rướn cao lông mày, vẻ chán ngán.

Từ bờ sông Đuno vẳng lên tiếng náo động của vụ xử trảm. Tiếng kêu thét, tiếng rền rĩ hòa lẫn vào tiếng ồn ào của trại quân.

- Ngươi có biết ông ta không? – Xuntan hỏi và nghiêng mặt nhìn Tơrơc Balin.

- Sao lại không! – Tơrơc Balin rùng mình đáp – Đây chính là ông mục sư của thần!

Rồi ông nhìn những người xung quanh như chờ một lời giải thích.

Nhưng vẻ mặt các triều thần Thổ lạnh như tiền. Ông chỉ gặp những đôi mắt băng giá đang chĩa vào mình. Xuntan nói:

- Ông ta đã gặp một tai nạn gì đó. Khi người ta mang đến trại quân, ông ta cũng đã nhược lắm rồi. – Hắn quay sang lũ thị thần nói tiếp: - Hãy mai táng ông ta chu đáo theo đúng nghi lễ của đạo Gia tô.

- Sau đó quân hầu mang nước giải khát ra trong những cốc bằng bạc đặt trên khay bạc. Một thức uống làm bằng nước cam có ướp dầu hoa hồng, lạnh và thơm.

Xuntan đưa mời Tơrơc Balin trước tiên với nụ cười rất hiền từ.

Bà Xexey dọn giường cho Gergey trong một căn phòng nhỏ phía sau.

Cậu cảm thấy thích thú, vì cái giường thì ít mà vì được ở một mình với nỗi sầu riêng thì nhiều hơn.

Cậu không thấy có gì đáng ngac nhiên trong việc hoàng hậu yêu cô Êvo bé bỏng của cậu. Theo ý cậu trên thế gian này không còn một tạo vật nào đáng yêu hơn Êvo nữa. Tuy nhiên cậu vẫn đau lòng khi thấy ông bà Xexey kiêu căng đến thế! Vixo đã được nâng cao đến tận cung đình, nơi chỉ có các ông hoàng và các bậc đại thần lui tới. Một kẻ vô danh tiểu tốt, không cửa không nhà, không tước vị, đến cả một tấc đất cắm dùi cũng không có như cậu thì làm sao có thể sánh ngang hàng với cô ta được?

Cậu nằm dài trên tấm nệm bằng da gấu đã sờn và gục mựt vào cánh tay.

Nỗi buồn đó cũng có mặt tốt là có tác dụng ru ngủ và an ủi người ta bằng một giấc mơ hứa hẹn trăm điều như ý.

Gergey ngủ một mạch hơn nửa ngày trên tấm da gấu, sau đó cậu tươi tỉnh thức dậy.

Cậu ngạc nhiên nhìn lên tường căn phòng nhỏ, lên bức ảnh Thánh Imre chân khoèo treo trên tường, rồi lại trở nên đăm chiêu. Cậu áp mặt vào lòng bàn tay, chống khuỷu tay lên đầu gối. Trong đầu cậu, một cơn lốc đen ngòm xáo trộn những sự việc đã xảy ra trong hai ngày qua. Đạo quân Thổ bạt ngàn, việc bị bắt, cái chết của thầy mục sư, việc chạy trốn, thành Buđo, sự vắng nhà của vị hôn thê, sự thay lòng đổi dạ của cha mẹ nuôi – tất cả những việc đó xáo trộn, quay cuồng trong trí cậu. Rồi cậu nghĩ đến con ngựa xám già: đã ai cho nó ăn uống gì chưa? Làm sao có thể cưỡi nó mà trở về thành Sômôdơ đây? Nếu người ta hỏi thầy học đi đâu rồi, cậu sẽ trả lời ra sao? Sau đấy ai sẽ dạy các cậu? Chắc là Tinôđi Sehetehên, người nghệ sĩ đàn Kôbô bị bại tay.

Cậu lắc lắc đầu như người muốn thoát khỏi những ám ảnh của một giấc mộng xấu và đi sang chỗ ông bà Xexey. Cậu nói với bà Xexey:

- Mẹ ơi. Con đến đây cốt để báo tin về nỗi đe dọa của đạo quân Thổ. Bây giờ con xin phép về nhà đây.

Bà vợ ngồi bên cửa sổ đang dùng chỉ kim tuyến thêu một vật gì đấy. Hồi đó phái nữ hay mặc áo cổ viền kim tuyến. Bà đang may cho cô con gái.

- Con vội đi đâu vậy? – Bà nói – Chúng ta chưa trò chuyện gì với nhau cơ mà. Ông lão không có nhà. Hình như ông ấy cũng muốn nói với con đấy. Thế con đã đến chỗ tướng công Balin chưa?

- Chưa. Con cũng chẳng đến đó làm gì nữa. Con ở nhà ra đi mà chưa nói cho ai biết là con đi đâu cả.

- Thế con không muốn nói chuyện với ông giáo sĩ già của chúng ta ư?

- Ông ấy ở đâu ạ?

- Ở đây với chúng ta chứ còn ở đâu nữa. Nhưng hiện giờ ông ta cũng không có nhà. Ông ta đang đi chôn tử sĩ.

- Các ông nhà ta vẫn còn hay cãi nhau không ạ?

- Bây giờ còn cãi nhau nhiều hơn trước nữa kia. Bây giờ giáo sĩ lại dừng để phe Pheđinan, còn ông lão nhà ta thuộc phe Gianốt.

- Nhờ >bác nói hộ với ông ta là cháu gửi lời chào kính trọng.

Cậu cố ý không gọi bằng >mẹ như trước nữa.

Bà Xexey trở cái áo đang thuê và chỉ sau vài phút im lặng mới trả lời:

- Vậy ta chẳng giữ con lại nữa Gergey ạ. Ta chỉ muốn mời con ăn một chút gì đã. Ta đã để riêng phần cho con. Ta không muốn quấy rầy khi con đang ngủ.

Gergey cúi đầu. Chắc cậu đang nghĩ xem có nên nhận lời ăn trưa hay không? Cuối cùng cậu nghĩ nếu không ăn thì ông bà ấy sẽ phiền lòng nên cậu nhận lời.

Bà Xexey trải một tấm khăn bằng da màu vàng lên bàn và bưng món thịt rán đã nguội ra, bà còn lấy cả rượu vang đặt bên cạnh.

Giữa lúc đó giáo sĩ Balin cũng về đến nhà. Mọi hôm chỉ có đêm tối mới đuổi được ông rời khỏi công việc từ thiện về nhà, nhưng hôm nay ông về sớm hơn vì tiết trời nóng nực và công việc đã làm ông mệt lử.

Xexey cũng nối gót ông khập khiễng đi vào.

Gergey hôn tay ông giáo sĩ. Ông đẩy cậu vào bàn và cậu vừa ăn vừa trả lời những câu hỏi của ông.

- Con lớn nhanh quá đi mất. – Giáo sĩ nói và không rời mắt nhìn cậu – Con đã bằng một người lớn rồi. Thế là dường như con chỉ mới xa chúng ta hôm qua.

Và ông nhìn quanh.

- Vixo đâu rồi?

- Trong hoàng cung ấy. – Xexey trả lời.

Ánh mắt của giáo sĩ yêu cầu lời giải thích. Xexey thanh minh:

- Hoàng hậu rất yêu nó. Người không cho nó về.

- Từ bao giờ thế?

- Đã mấy hôm nay rồi.

- Không ở cạnh >thằng oát đấy chứ? – Giáo sĩ gắt hỏi.

- Ở bên cạnh nó đấy. – Xexey trả lời – Anh không nghĩ rằng con tôi phải làm bảo mẫu chứ! Ở đấy đã có thừa bảo mẫu. Vixo chỉ gọi là có mặt ở đấy thôi.

- Con gái anh ở bên con trai Xopôio? – Giáo sĩ giận tái mặt kêu lên.

Xexey bối rối đi khập khiễng quanh phòng rồi quay lại nói:

- Thì có gì trong chuyện ấy nào? Chả phải chính anh đã từng nói là người Hung dù chó má còn hơn quân Đức là gì?

- Nhưng con gái anh mà ru con trai Xôpôio!

Và ông giận quá thét vào mặt Xexey:

- Thì ra khi già nua, đầu óc con người ta lú lấp đi như thế đấy! Vậy anh đã quên rằng bố của thằng nhóc ấy là một tên đao phủ rồi chăng? [75] Anh vội quên rằng anh cùng tôi đã từng ăn lộc của Đôjo Giơrgiơ rồi chăng?

Ông cầm chiếc ghế quật mạnh xuống sàn khiến nó gãy cả chân.

Gergey há hốc mồm rơi cả miếng ăn. Cậu bỏ chạy xuống cầu thang, dắt ngựa ra, phóng đi không giã từ ai cả.

Cậu xuống ngựa trước hoàng thành.

Trên tường lâu đài trông thấy một cái nhật quỹ to như hình bánh xe. Mặt trời lần vào trong những đám mây và cái cọc mạ vàng cỉa nhật quỹ ngả một cái bóng mờ nhạt lên con số bốn La Mã.

Gerrgey chăm chú nhìn vào cửa sổ. Cậu lần lượt nhìn từng cái một, bắt đầu từ những cửa sổ tầng một, rồi đến các cửa sổ tầng gác và cuối cùng là những cửa sổ của tòa tháp.

Quân lính ra vào tấp nập trước cổng hoàng thành. Một ông già râu đốm bạc, lưng còng cũng chập chững đi vào cùng hai viên thư ký. Chắc đó là một vị quan to lắm vì ai cũng chào ông ta cả, còn ông lại chẳng chào ai. Hai viên thư ký ôm những cuộn giấy to. Trên vành mũ da của họ có dắt bút lông ngỗng, ở thắt lưng đeo nghiên mực bằng đồng. Khi mặt trời ló ra, đến cả cái bóng của họ cũng chuyển động một cách đường bệ. Cuối cùng Gergey chợt trông thấy chân anh ta, đôi chân khẳng khiu bó trong cái quần đỏ và đôi ủng đỏ. Nhưng chừng đó cũng đủ cho cậu nhận ra rằng anh ta thuộc đội vệ binh thành Xiget. Tên anh ta là Nogiơ Balin.

Cậu liền quay gót và vội vàng dắt ngựa đi về phía quảng trường Thánh Gioóc. Cậu không muốn để một ai trong số thuộc hạ của tướng Balin trông thấy.

Nhưng vừa đi quá chỗ đó một chút, cậu vẫn cứ gặp phải người quen. Đó là một anh chàng nhanh nhẹn, có bộ râu ngắn: Matônphonvoi Imre, vừa là thư ký, vừa là trung úy, vừa là quản lý, tóm lại là một bộ hạ thân tín, rất được việc của Tơrơc Balin.

Gergey nhảy qua nấp phía bên kia mình ngựa để anh ta khỏi nhận ra mặt mình, nhưng anh chàng Imre có đôi mắt sắc sảo vẫn trông thấy cậu:

- Ơ này, chú Gergey! – Anh ta kêu lên.

Gergey đành ngẩng đầu lên, đỏ mặt tía tai.

- Chú mình đến đây có việc gì thế? Đến chỗ tướng công đấy à? Còn cái của mình bò đầu ngựa thì chú mình nhặt được ở đâu thế? Hẳn là không phải chọn trong đàn ngựa nhà ta!

Gergey những muốn độn thổ cùng với con vật chỉ đáng được gọi là bò ấy đi cho rồi. Nhưng cậu mau chóng trấn tĩnh được và thẹn thò trả lời:

- Tôi đến chỗ tướng công đấy. Tướng công ở đâu?

- Chả biết tướng công đã về chưa. Tướng công giải tù binh Đức đi đón Xuntan. Trời, tướng công quả là một bậc vũ dũng. Giá chú mình trông thấy cảnh tướng công băm vằm tụi Đức. Cách đây một tuần, tướng công từ trận địa trở về, cánh tay phải nhuộm đầy máu. Lúc ấy hoàng hậu đang ngồi trên cửa sổ. Khi phi ngựa qua trước hoàng cung, tướng công bèn giơ cánh tay phải đang cầm gươm lên cho hoàng hậu xem. Ở nhà không có dịch bò chứ?

- Không

- Bọn tù binh đã dọn sạch cái giếng chưa?

- Rồi.

- Bọn phu đập lúa không ăn cắp chứ?

- Không,

- Các công tử có khỏe không?

- Khỏe.

- Còn phu nhân?

- Cũng khỏe.

- Chú có ra chỗ vườn ươm không?

- Không.

- Thế chú có biết người ta đã cắt cỏ hay chưa không?

- Không.

- Nào, thế chú định nghỉ ở đâu bây giờ? Đã có chỗ chưa?

- Chưa.

- Thế thì lại chỗ tớ. Chú đem tin gì quan trọng đến đấy à? Hay là có thư cho tướng công?

- Không. Tôi chỉ tự nhiên mà đến thế thôi.

- Vậy chú mình chịu khó chờ đây một lát nhé. Tớ nhoàng vào hoàng cung một cái. Hay chú cũng cùng vào một thể. Sau đó ta sẽ về nhà để chú thay quần áo. Hay chú không có quần áo mang theo? Được, rồi khắc có. Sau đó chú sẽ có thể vào hầu chuyện tướng công.

Imre đưa cậu vào sân và để cậu đứng chờ trong bóng râm.

Gergey nhìn theo con người nhanh mồm nhanh miệng đó chạy lên bậc thềm rộng bằng cẩm thạch đỏ và tự nghĩ không biết có nên lánh đi khỏi bị tướng công Balin quở mắng hay không?

Ôi, không thể nào tránh khỏi chuyện đó được. Uy quyền của tướng công trùm bờ cõi, trốn đi đâu cho khỏi bị câu về. Với lại, không được nói dối. Cậu phải thú thực là… ôi, làm sao mà có thể thú nhận việc đó được!...

Cậu gãi tai và suy nghĩ đến nẫu cả đầu, rồi cậu lại chăm chú quan sát các khung cửa sổ.

Trong khi nhìn ngang nhìn dọc như vậy, qua một kẻ hở đằng cuối sân, cậu thấy biếc lên màu xanh của cây cối trong vườn. Nếu lỉnh vào đó thì sao nhỉ? Cậu chỉ mong được đứng từ xa mà ngắm nhìn Êvo của cậu. Chỉ từ xa thôi, vì rõ ràng là những kẻ phù sinh quê mùa như cậu không thể nào được đến gần hoàng hậu rồi.

Chẳng hay họ ở đâu? Chắc là một chỗ nào đó trong đám vườn cây râm mát kia, hoặc trong vườn, hoặc trong một khung cửa sổ. Nếu gặp, từ xa cậu cũng có thể nhận ra được Êvo. Cậu sẽ nhận ra khuôm mặt trắng trẻo mịn màng, đôi mắt bồ câu như lúc nào cũng mỉm cười thân ái. Giá thấy cô, cậu sẽ vẫy mũ một cái để cô tha hồ mà đoán già đoán non hàng tuần lễ xem có phải Gergey đã ở đó không, hay chỉ là một cậu nào giống anh ấy, hay chính đó là linh hồn của Gergey?

Trên tường quanh sàn đầy những dãy móc sắt to, nặng. Những móc sắt ấy dùng cho khách đến buộc ngựa. Gergey cũng buộc ngựa vào đấy rồi lặng lẽ đi qua đám lính tráng và lẩn vào một lối đi hẹp, cành lá, xùm xòa.

Gergey tưởng rằng ở đó có lối vào vườn. Nhưng có ai lại mở lối vào khu vườn thênh thang qua một chỗ hẹp như thế cơ chứ! Không một dấu vết gì tỏ ra có cổng ngõ ỏ đó cả. Một bên ngõ hẹp là hàng rào sắt cao, một bên là tưởng nhà. Thời xưa những nhà bác học và nghệ sĩ của vua Machiát đã từng ở tại khu này, về sau đến các giáo sĩ Balan và đám nội thị dưới triều vua Uláxlô, sau nữa là chỗ ở của thị nữ.

Song Gergey chẳng biết một tí gì về những chuyện đó cả. Cậu chỉ mải nhìn dãy hàng rào sẳt. Hàng rào sơn trắng và những đầu cọc đều mạ vàng. Ở một đôi nơi cành cây vươn cả ra phía ngoài. Thỉnh thoảng Gergey lại nhìn vào vườn. Chốc chốc cậu lại thấy một lối đi rải cuội hoặc một vài cái viên đinh nho nhỏ, mái lợp hàng ngói men xanh. Một đôi chỗ còn có những con quạ sắt ngồi trên càc cọc rào, nhưng cũng có con chỉ còn lại độc cài chân bậu trên cọc sắt. Qua cành lá Gergey bỗng trông thấy mấy vệt màu hồng. Y phục phụ nữ.

Tim Gergey đập rộn rã. Cậu vừa thận trọng lần theo hàng rào vừa ghé mắt nhìn vào vườn. Cuối cùng cậu trông thấy một đám phụ nữ dưới gốc một cây bồ đề cổ thụ. Họ đang ngồi quanh một cái nôi. Tất cả đều mặc y phục màu hồng nhạt, chỉ có một bà có khuôn mặt thon dài, tay mảnh khảnh, mặc đồ đen. Mặt bà ta trắng xanh và đượm buồn. Chỉ khi cúi xuống nhìn vào trong nôi bà ta mới mỉm cười. Nhưng cả nụ cười của bà cũng đầy phiền não.

Gergey>  không thấy rõ những gì ở quanh nôi, cái nôi bị một bà to béo che khuất. Bà này đang đưa qua đưa lại một cành lá nhỏ trên nôi. Gergey>  cứ loanh quanh tìm một chỗ để nhìn cho rõ hơn. Cận thấy rồi, có tất cả bốn thiếu phụ ở quanh nôi và một người thứ năm đang lúi húi bên cạnh một cái độc binh cao cổ to tướng bằng cẩm thạch.

Cậu>  chạy dọc theo hàng rào đến chỗ đó. Đúng là Êvo bé bỏng của cậu rồi. Cô ta mới mau lớn làm sao chứ!

Cô đang nhặt những hạt giẻ gai bỏ vào một cái lẵng.

- Vixuskol Vixusko!- Cậu khe khẽ gọi qua hàng rào.

Cô thiếu nữ ở cách hàng rào độ vài chục bước. Cô đang nghêu ngao một bài hát gì đó, vì thế cô không nghe

tiếng Gergey.

-Vixusko! Vixusko!

Cô gái ngửng đầu lên, rất ngạc nhiên nhìn về phía hàng rào.

- Chú mèo con! - Gergey xuýt bật cười nhắc lại - chú mèo con ơi! Lại đây nào!

Cô gái không thề trông thấy Gergey>  đang đứng sau cành lá rậm của cây tân hà liễu nhưng cô đã nhận ra tiếng cậu.

Cô đi tới như một con nai con, đang đi chợt dừng lại rồi lại thoắt bước nhanh tới,>  đôi mắt mở to chăm chú nhìn. Ngạc nhiên quá quên cả chớp.

- Anh đây. Vixuslio ơi! - Gergey lại lên tiếng.

Cô gái chạy ngay đến. Cô vỗ hai bàn tay vào nhau:

- Gergey! Anh làm cách nào mà đến đây được thế?

Niềm vui bừng sáng cả người cô, cô tì mặt>  vào quãng hở giữa hai cọc rào cho Gergey hôn. Gergey cảm thấy một mùi hương thơm dịu dàng như mùi hoa kim ngân nở vào tiết tháng tư. Rồi cả hai liền nắm lấy cọc rào, tay để gần tay. Cọc rào tuy lạnh nhưng tay họ vẫn nóng ran. Mặt cả hai đều ửng đỏ.

Cậu thiếu niên vắn tắt kề lại những chuyện xẩy ra đã đưa cậu tới đây, và trong lúc kể không hề rời mắt ngắm nghía khuôn mặt, bàn tay và y phục của cô gái.

Cô mau lớn ghê, và đẹp ra nhiều quá! Chỉ có đôi mắt đẹp, mở to, ngày thơ là còn như cũ.

Một người khác có lẽ sẽ không thấy cô gái đẹp. Bởi vì cô đang ở lứa tuổi mà chỉ tay chân phát triển còn khuôn mặt vẫn non nớt, ngực còn lép như ngực con trai, tóc đang ngắn cún cỡn. Mặc dù vậy, đối với Gergey tất cả đền rất đẹp. Bàn tay to của cô cũng khiến cậu thích, cậu cảm thấy nó trắng ngần và êm như nhung, cậu ngắm cả đôi bàn chân đang đi một đôi giày vừa vặn rất xinh.

- Anh có một cái nhẫn đây. - Cậu nói và móc túi lấy cái nhẫn Thổ to tướng.

- Cái này là của thầy học anh cho anh và anh tặng em đấy Vixusko ạ.

Vixo cầm lấy cài nhẫn, thích thú ngắm nửa vầng trăng cùng những ngôi sao bằng kim cương rồi xỏ vào ngón tay và nhoẻn miệng cười.

- Cái nhẫn mới to chứ! Đẹp quá!

Thấy nó cử lỏng lẻo trên ngón tay, cô bèn xỏ cả hai ngón tay vào.

- Bao giờ em lớn lên thì tuyệt lắm đấy còn bây giờ anh cứ giữ lấy đã.

Rồi với một sự thành thật trẻ con, cô nói thêm:

- Anh biết không, đến khi nào em sẽ là vợ anh ấy mà!

Mặt Gergey bỗng ỉu xìu.

- Em sẽ không là vợ anh đâu. Vixo ạ.

- Không thật chứ? - Cô gái hỏi có vẻ dỗi.

- Em toàn sống cạnh những vua với chúa. Người ta không gả em cho người nghèo như anh đâu.

- Ồ, sao lại không. Anh tưởng em coi họ là ghê gớm lắm à? Hoàng hậu cũng đã có lần bảo em hãy yêu mến ấu vương rồi bà sẽ kiếm cho em một ông chồng thế này thể nọ. Em trả lời rằng em đã có rồi. Em nói cho bà ta biết cả tên anh nữa, em còn nói rằng Tơrơc Balin là cha nuôi của anh.

- Em nói thế à? Thế hoàng hậu bảo sao?

Hoàng hận cười ngặt cười nghẽo tí nữa thì ngã lăn xuống ghế.

- Bà ấy ở trong vườn đấy à?

- Ừ. Người mặc đồ đen ấy.

- Bà ấy đấy à ?

- Bà ấy đấy. Đẹp quá phải không anh?

- Đẹp. Nhưng anh tưởng tượng phải đẹp hơn nữa cơ.

- Đẹp hơn nữa cơ á? Thế chưa đủ đẹp hay sao?

- Anh chả thấy vương miện vương miếc gì trên đầu bà ấy cả?

- Nếu anh muốn, anh có thể nói chuyện với bà ấy được đấy. Bà rất tốt. Bà không biết tiếng Hung [76]

- Thế bà ấy nói tiếng gì?

- Tiếng Balan, tiếng Đức, tiếng Latinh, tiếng Ý, tiếng Pháp, nghĩa là tất cả mọi thứ trên đời, chỉ trừ tiếng Hung. Tên anh bà cũng đọc là Kerkơ.

- Anh biết nói chuyện gì với bà ấy được ->  Gergey lảng tránh – mặc dù anh cũng có biết vài tiếng Đức. Nhưng Vixo này, nếu lần sau anh đến Budo nữa thì làm sao gặp em được.

- Làm sao ấy à? Để em sẽ nói với hoàng hậu cho phép anh vào.

- Bà ấy cho phép á?

- Sao lại không? Bà yêu em lắm, cái gì cũng cho phép em cả. Cả nước hoa của bà nữa. Anh xem tay áo em đây này, có thơm không? Các hoàng hậu đều thơm như thế cả đấy! Rồi cả sách kinh của bà, bà cũng cho em xem. Những bức ảnh trong ấy mới đẹp chứ! Có cả ảnh Đức Mẹ Maria mặc áo lụa xanh đứng giữa khóm hồng, giá anh mà được thấy!

Từ phía sau cây bồ đề vẳng lại tiếng eo éo như tiếng kêu của con mèo bị người ta giẫm phải đuôi.

Êvo giật mình:

- Chết! Ấu vương đã thức dậy rồi. Anh chờ em một tí nhé.

- Vixo anh không thể chờ được, nhưng mai anh sẽ đến.

- Được. Ngày nào anh cũng đến đây vào giờ này nhé!

Rồi cô chạy về phía ông vua bé con.

Chẳng có việc gì xảy ra như chúng ta đã suy tính trước cả.

Sau khi Tơrơc Balin về nhà, hàng mấy giờ liền không ai có thể nói chuyện với ông được. Ông khóa mình trong phòng riêng và cứ đi đi lại lại trong phòng. Ở các phòng bên người ta nghe rõ bước chân đều đều, nặng nề của ông.

- Tướng công đang cáu đấy – Matônphovoi lo lắng nói – Chắc không phải giận tôi chứ?

- Vậy mà tướng công còn trông thấy mình nữa thì sẽ ra sao đây chẳng biết?

Gergey nghĩ thầm và đưa tay lên gãi đầu. Matônphovoi lên lên xuống xuống cầu thang đến ba lượt, cuối cùng mới dám mở cửa phòng chủ tướng.

Tơrơc Balin đang đứng bên cái cửa số nhìn xuống dòng Duno. Ông còn mặc nguyên quần áo như lúc đến chỗ hoàng đế Thổ, ngay cả thanh gươm trang sức, vỏ bọc nhung ông cũng chưa cởi ra khỏi thắt lưng.

- Cái gì thế? – Ông quay lại hỏi – Ngươi muốn gì đấy hở Imre? Bây giờ ta chưa muốn nói chuyện gì cả

Matônphonvoi lại ở hành lang, lúng túng gãi tai. Nó cũng nguy, vì tướng Balin lúc đang giận dữ thì chẳng khác nào đám mây giông, sấm sét dễ nổ ra lắm. Nhưng nhỡ không nói cũng nguy thì sao? Từ trước tới giờ bất cứ ai ở nhà đến, tướng công cũng vui mừng gặp mặt.

Nhà của Tơrơc Balin dựa lưng vào cổng Pheyêvari. Một mặt có những cửa sổ trông sang Pets, mặt khác trông ra núi Ghenlê. Cuối cùng khi nhìn qua cửa sổ thấy Vebơxi vào cổng, Matônphonvoi mới hết lúng túng. Anh vội quay trở lại và mở cửa:

- Thưa tướng công, có ngài Vebơxi đến đấy ạ.

- Ta có nhà đây. –Tơrơc Balin trả lời.

- Gergey cũng ở đây đấy ạ - Người thư ký nói, nhẹ hẳn người đi – Chú bé Bônemixo ấy ạ.

- Gergey ? Một mình ư?

- Vâng ạ, một mình.

- Chú ta đến đây bằng cách nào nhỉ? Bảo chú ta vào đây.

Gergey cùng đến cửa một lúc với ngài Vebơxi lưng còng, râu đã lốm đốm hoa râm.

Thấy Matônphonvoi nghiêng mình chào. Gergey cũng làm theo.

Đúng ông già này cậu đã gặp lúc nãy ở đằng hoàng cung. Ông già có hai viên thư ký đeo bút lông ngỗng ôm những cuộn giấy đi theo. (Ôi, con người danh vọng, Thời trai trẻ đã được thấy vua Machiát).

- Xin chào bác. - Giọng nam trầm của Tơrơc Balin từ trong vọng ra

Ông đã thoáng trông thấy Gergey .

- Xin chào cho phép tôi được nói chuyện với cậu con nuôi của tôi trước đã nhé. Vào đây con, Gergey!

Gergey lo sợ quá cứ đứng như phỗng trước mặt hai vị đại nhân. Balin nhíu lông mày nhìn cậu hỏi:

- Ở nhà có chuyện dữ sao?

- Không ạ!

- Con đến đây với thầy mục sư chứ gì !!!

- Vââng. –Cậu học sinh tái mặt đáp.

- Vậy hai thầy trò đã bị bắt>  như thế nào? Mà mục sư đã bị chết rồi. >Hai con trai của ta cũng đi cùng ư?

- Không ạ.

- Thế hai thầy trò làm thế nào mà rơi vào tay bọn Thổ?

Ông già góa vợ Vebơxi lên tiếng, ông nói với một giọng hiền từ:

- Ấy kia, chú Balin, chú đừng có quát lên với thằng bé này như thế, nó sợ đến nỗi chẳng còn trả lời được nữa.

Rồi ông vuốt má cậu thiếu niên sau đó đến ngồi xuống cái ghế bành bọc da đen đặt giữa phòng.

Nghe tiếng sợ, cậu thiếu niên chợt tĩnh trí lại như thể người ta vẩy nước vào mặt cậu. Cậu liền mạnh dạn trả lời:

- Chả là chúng con định cho hoàng đế Thổ bay lên trời.

- Trời ơi! Vebơxi thất đảm thốt lên.

Bản thân Tơrơc Balin cũng sửng sốt.

Cậu học sinh – rồi muốn ra sao thì ra – lần lượt kể lại chuyện họ đã tải thuốc nổ đến đường quốc lộ như thế nào, và mục sư đã làm hoàng đế với tên tổng binh ra sao.

Vebơxi đập hai bàn tay vào nhau.

- Thật là thiếu cân nhắc! Các ngươi đã bày đặt ra một chuyện ngu xuẩn biết chừng nào!

- Chuyện ngu xuẩn không phải là ở đây – Tơrơc Balin đập mạnh thanh gươm xuống sàn đáp lại – mà ở chỗ thầy mục sư đã không nhận ra được Xuntan.

Hai ông bèn quay ra cải nhau.

- Xuntan là bạn của ta. – Vebơxi nói.

- Là kẻ hại ta! – Tơrơc Balin trả lời.

- Một con người có tư tưởng cao quý.

- Một tên khốn nạn đội vương miện.

- Ta hiểu ông ta, còn chú không hiểu! Ta đã đến chỗ ông ta ở Côngxtăngtinốp ...

- Lời nói của bọn Thổ không phải là kinh thánh. Mà nếu có là kinh thánh đi nữa thì không kinh thành của chúng nó dạy phải chà đạp lên người Gia tô giáo.

- Chú lầm rồi.

- Cầu trời phù hộ cho bác, nhưng tôi đã cảm thấy cái mùi thối tha độc địa của cuộc viếng thăm này. Tôi sẽ về nhà thôi. ->  Ông quay sang Gergey nói tiếng – Con ơi, đáng lẽ các con có thể cứu được Hung rồi!

Khi nói câu nói đó, giọng ông đầy đau xót.

Sáng hôm sau Matônphonvoi đánh thức Gergey dậy và đặt một bộ quần áo võ đồng bằng lụa mày xanh đỏ lên bàn.

- Tướng công truyền em phải ăn mặc chỉnh tề vào. Độ mười giờ em khá sẵng sàng ở ngoài sân để cùng đi với tướng công vào hoàng cung.

Rồi anh chăm chút Gergey chẳng khác nào một bà mẹ chu đáo. Anh rửa ráy và mặc quần áo cho cậu. Chải tóc cho cậu rồi rẽ một đường ngôi ở chúng giữa đầu. Anh còn dùng một miếng da nai lau sáng bóng những cái khuy vàng trên áo của cậu. Anh còn định xỏ cả đôi giày màu mận chín vào chân cho cậu nữa.

- Cái này thì em không để anh làm nữa đâu! – Gergey cười nói – Em có phải là một đứa vô tích sự, ngờ nghệch đến nỗi không biết xỏ chân vào giầy đâu.

- Thế em không sợ ư?

- Sợ gì cơ, hả anh kỳ? Sợ vì phải đến chỗ hoàng hậu á? Phu nhân của chúng ra ở nhà còn là một bậc mệnh phụ cao sang hơn ấy chứ, cho dù không có vương miện trên đầu bà đi nữa!

- Em nói cũng đúng đấy. – Anh chàng thư ký trả lời và trìu mến nhìn cậu thiếu niên – Nhưng em phải biết, dù sao cũng vẫn là hoàng hậu.

Khi họ cùng Tơrơc Balin tới hoàng cùng, một thị vệ vội vã chạy tới.

- Thưa đức ông, hoàng hậu sai con mời đức ông đến ngay cho. Có một pasa nào đó đã đến, ông ta mang theo nhiều quà quý đến phát khiếp lên ấy!

Tơrơc Balin quay sang bảo các dũng sĩ theo hầu:

- Chúng nó chẳng đem đến biếu không đâu, rồi các người sẽ thấy!

Toán lính ở lại dưới sân. Tướng công Balin cùng Gergey bước lên những bậc đá cẩm thạch rộng rãi.

Người gác cửa nâng họa kích lên chào và chỉ về phía bên phải:

- Hoàng hậu mời các ngài vào điện đại trào.

- Thế thì con có thể theo ta được chứ - Tướng công bảo Gergey – Lúc nào con cũng đứng cạch sau ta độ bốn năm bước và khá giữa cho ra vẻ con nhà võ. Nhớ đừng chuyện trò với ai cả! Đừng khạc nhổ, đừng ngáp vặt, khà cho đúng phép tắc.

Họ đi qua những cung điện có vòm trần cuốn cao vút, có những bức tường chạm trổ, màu sắc rực rỡ, có những gia huy hoàng tộc mạ vàng chói lọi la liệt khắp nói, có những cửa cao rộng, có những trần nhà màu xanh điểm những ngôi sao bạc, có những thảm nhung đỏ chói, dày và êm, nuốt hết tiếng động của bước chân đi.

Gergey choáng váng trước cảnh lộng lẫy đó. Cậu cảm thấy dường như trong mỗi xó xỉnh đều có một linh hồn đội vương miện đang thì thào:

- Các ngươi đang giẫm lên dấu chân của các bậc tiên đế đấy nhé! Không khí nơi đây các bậc tiên đế đã từng hít thở!

Trong điện đại trào có năm vị đại thần mặc triều>  phục lộng lẫy đứng chờ. Đằng sau họ là các võ sĩ dòng và tùy tướng. Mấy người lính cẩm vệ cầm họa kích đứng bên ngai vàng nhưng trên ngai vàng chưa có ai ngồi cả.

Điện này cũng có trần uốn vòm như các điện khác những ngôi sao trên nên trần lót lụa xanh ghi lại bầu trời trong giờ phút dân tộc tôn Machiát lên làm vua.

Phía sau ngai vàng có một bức trướng lớn màu hồng trên đó thêu quốc huy bằng chỉ vàng. Ở giữa quốc huy còn có một gia huy nhỏ: một con rắn và ba con báo đội vương miện đứng dưới con phượng hoàng Balan. Đó là gia huy của họ Xopôio.

Một trung úy thị vệ bước tới trước mặt Tơrơc Balin :

- Hoàng hậu truyền mời đức ông.

Gergey ở lại một mình giữa đám võ đồng và thư ký. Cậu quay sang phía hai thanh niên đang nói chuyện ở bên cạnh và tự giới thiệu:

- Tôi là Bônemixo Gergey, võ dòng của Tơrơc Balin.

Một chàng trai có cái nhìn vui tươi, nước da rám nắng, tóc hung hung, chìa ta ra cho cậu bắt.

- Tớ là Zoontoi>  Istơvan, thuộc quân ngũ của chủ tướng Botanhơ .

Chàng trai kia, một chàng trai có cái cổ ngắn tũn, béo lùn, vẫn đứng khoanh tay nhìn phớt qua vai Gergey .

Gergey tự ái, trừng trừng nhìn anh ta. (Cái thằng công tử đầu bò này chắc đang khinh mệt ta đây!)

- Tôi là Bônemixo Gergey – Cậu ưỡn ngực nhắc lại.

Tay đầu bò trịnh thượng nhìn cậu:

- Thì có gì dính dáng đến tớ, hở chú lỏi? Tên của võ đồng là >câm miệng.

Gergey đỏ bừng mặt, mắt cậu lóe lên nhìn chàng trai kiêu ngạo:

- Tôi không phải là võ đồng của anh! Còn chủ tướng của tôi không gọi tôi bằng >câm miệng mà gọi là >đừng chịu nhục.

Tay đầu bò nhìn cậu từ đầu đến chân.

- Được, khi nào ra ngoài sân tớ sẽ nói cho cậu biết tên của tớ.

Và anh ta đưa bàn tay lên phác một cử chỉ dễ hiểu.

Zôntoi đứng xen vào giữa hai người:

- Bậy nào, Mectsei, chẳng nhẽ cậu lại ấy chú bé này!

- Tôi không phải là chú bé nữa một khi người ta đã xúc phạm đến tôi- Gergey trả lời – Đôbô Istơvan đã trao kiếm cho tôi từ năm tôi lên bảo và đã gọi tôi là dũng sĩ.

Nghe đến Đôbô Zôntoi quay ngay người lại và đặt tay lên vai Gergey:

- Này, vậy cậu là chú bé đã đoạt người của một tên ionisa đấy à?

- Vâng – Gergey trả lời với niềm vui sướng, tự hào.

- Ở đâu gần Pets phải không?

- Ở Metsec.

- Nào, cậu bạn nhỏ, vậy thì hãy cho tớ bắt tay cậu một lần nữa.

Anh ta nắm chặt và lắc lắc bàn tay Gergey rồi ôm lấy cậu.

Mectsei trong lúc đó vẫn đứng quay lưng lại phía họ

- Cái tay lấc láo cục cằn này là ai thế? – Gergey chờ Mectsei hỏi.

- Một chàng trai tốt bụng đấy, chỉ phải cái hơi gai góc một tí thôi.

- Nhưng tôi không chịu để yên thể đâu!

Gergey hùng hổ nói và tới vỗ mạnh lên vai Mectsei:

- Ngài có nghe không đấy.

Mectsei quay lại. Gergey nói tiếp:

- Khoảng nửa đêm hôm nay chúng ta có thể làm quen với nhau ở quãng trường Thành Gioóc - và cậu vỗ tay lên bao gươm.

- Tớ sẽ ở đây- Mectsei trà lời cụt lủn.

Zôntoi lắc đầu

Trong điện bỗng như có một cơn gió thoảng qua, tất cả đều xao động. Hai người>  lính cấm vệ cầm họa kích bước vào cửa, rồi đến một vài chức nội thi: thái giám, hộ binh, một giáo sĩ áo đen - chắc hẳn là thấy trợ tế của cung đình; sau đó đến bốn võ đồng,>  rồi hoàng hậu bước>  ra: sau hoàng hậu là giám mục nhiếp chính.

Tơrơc Balin, Vebơxi, Botanhơ Orơban và lão tướng Petrôvits.

Gergey đỏ mặt ngóng nhìn về phia cửa, cậu đang chờ một người nữa đến. Cậu tưởng rằng các ông đã có võ đồng thì một bậc mệnh phụ như thể này thế nào chả có những tùy nữ vây quanh. Nhưng chẳng có một tùy nữ nào đến cả.

Hoàng hậu mặc trang phục và choàng một tấm voan chỉ có chiếc vương miện hình vành trăng mảnh dẻ dát kim cương lấp lánh trên đầu. Bà ngồi lên ngai vàng. Hai người lính cấm vệ đến đứng đằng sau, các đại thần chia nhau đứng hai bên.

Hoàng hậu nhìn quanh điện, bà còn hỏi nhỏ giám mục nhiếp chính một điều gì nữa rồi mới yên vị trong ngai vàng.

Nhiếp chính ra điệu cho người nội thị đứng ở cửa.

Sứ giả của hoàng đế Thổ Nhĩ>  Kỳ bước vào: đó là một người>  lớn, mặc đồ lụa trắng, vàng đeo đầy mình.

Vừa bước vào cửa, hắn đã cúi chào sát đất rồi, vội vàng như chạy, hắn đi đến chỗ tấm thảm trước ngai vàng. Đến đó hắn giơ hai tay ra vái và nằm ệp bụng xuống.

Đi theo hắn còn có mười thiếu niên nước da ngăm đen, thuộc loại võ đồng, quần áo màu vỏ chanh. Chúng cũng vội vội vàng vàng như quan thày của chúng. Từng đôi một chúng lễ mễ khiêng những cai hòm phủ nhung tím. Chúng đặt những cái hòm xuống hai bên viên sử thần rồi cũng phủ phục xuống thảm.

- Sứ thần Ali, cầu chúa phù hộ cho ông. - Hoàng hậu nói bằng tiếng Latinh.

Giọng của bà nhẹ như ru. Không thể biết được vì phổi yếu hay vì tâm hồn bà diu dàng.

Tên Thổ đứng dậy. Đến lúc này mới rõ hắn là một người Arập có diện mạo rất đẹp. Tuổi hắn có lẽ đã đến từ tuần.

- Muôn tâu hoàng hậu, - hắn nói tiếng Latinh, với một giọng lanh lảnh – hạ thần chuyển tới trước ngài vâng lời chào của padisa hùng mạnh. Người xin hoàng hậu hãy vui lòng tiếp nhận lời chào đó cũng như người đã vui lòng gửi tới.

Theo hiệu tay của hắn, các võ đồng mở nắp hòm và tên aga lần lượt lấy ra những vòng, những xuyến bằng vàng chói lọi, những tấm lụa, tấm nhung, một thanh gươm và một cây chùy trạm ngọc rất đẹp. Hắn để tất cả lên tấm thảm dưới chân hoàng hậu.

Trên khuôn mặt trắng xanh của hoàng hậu ửng lên màu hồng phơn phớt.

-Viên sứ thần còn lấy ra một cái tráp nhỏ có khóa bằng bạc chạm trổ và dâng lên hoàng hậu. Trong tráp lấp lánh những chiếc nhẫn vào loại đẹp nhất của phương Đông kỳ ảo. Hoàng hậu thật sự thích thú ngắm nghía những chiếc nhẫn.

- Muôn tâu hoàng hậu, thanh gươm và cây chùy là của chúa công tôi gửi tặng ấu vương. Ngoài ra dưới sân còn có ba con ngựa nòi Arập. Trong đó hai con là do hoàng tử của Xuntan gửi đến. Hai hoàng tử cũng tới quý quốc và gửi tới ấu vương Gianốt Jicmông những cái hôn huynh đệ. Muôn tâu hoàng hậu, có lẽ xin mời hoàng hậu ngự lãm: hạ thần đã cho chúng đứng ở chỗ có thể nhìn qua cửa sổ cũng trông thấy.

Hoàng hậu đứng đậy và cùng các đại thần đi tới bên cửa sổ. Khi hoàng hậu đi qua, Gergey thoáng thấy cái mùi thơm mà Vixo cũng có. Một thị vệ kéo bức>  rèm sang một bên. Ánh mặt trời tràn vào trong điện, hoàng hậu đưa tay che mắt và nhìn xuống sân.

Ba con tuấn mã tuyệt đẹp, mang yên cương nạm vàng quý giá của phương Đông, đứng ở dưới sân. Đám lính tráng hầu hạ trong cung đang trầm trồ ngắm nghía xung quanh.

Hoàng hậu trao đồi với nhiếp chính mấy câu.

Nhiếp chính quay về phía viên sứ giả:

- Hoàng hậu rất cảm động vai biết ơn Xuntan đại độ về những quà tặng của Người và của hai hoàng tử. Ông khá hơn với Xuntan đại độ hãy định ngày giờ để tiếp những sứ giả của ấu vương và hoàng hậu, những người sẽ chuyển đến Xuntan đại độ lời cảm ơn này.

Hoàng hậu gật đầu và định lui vào nội cung. Nhưng tên aga chưa nói hết việc. Hắn mỉm cười rất lễ phép nói tiếp:

- Padisa hùng mạnh gửi tất cả những tặng phẩm này cốt đề tỏ rằng Người coi ấu vương Guanốt Jicmông như ái nữ của Người. Và Chúa công tôi sẽ rất mừng nếu Người có thể trông thấy và được hôn ấu Vương, con trai của tiên vương bạn Người.

Hoàng hậu thất sắc.

- Vì lẽ đó, - viên sứ giả nói tiếp – Padisa hùng mạnh xin hoàng hậu hãy cho ấu vương lên xe cùng với nhũ mẫu và đi tới chỗ người cùng một đoàn tùy tùng xứng đáng.

Hắn đặt trọng âm vào mấy chữ >đoàn tùy tùng xứng đáng. Lúc đó không một ai hiểu. Nhưng đến hôm sau tất cả mọi người điều hiểu rõ.

Hoàng hậu trắng bệch như bức tường vôi. Bà phải ngả người ra sau tựa người vào chiếc ngai để khỏi xỉu đi.

- Nó nói gì thế? – Mectsi thầm thì hỏi.

- Tớ không hiểu rõ. – Zôntoi trả lời và quay sang hỏi Gergey – Cậu có hiểu không? Chắc cậu biết tiếng Latinh giỏi hơn tụi tớ.

- Tôi hiểu – Gergey trả lời – tôi sẽ nói cho anh rõ.

Nhưng trước khi cậu kịp nói thì giọng của tên Thổ đã lại vang lên:

- Không có lý do gì phải lo lắng cả. Padisa hùng mạnh chỉ đáng sợ đối với kẻ thù của Người thôi, còn đối với bằng hữu. Người chỉ là bạn tốt. Ngoài ra, đáng lẽ Người đã thân hành tới đây để bày tỏ lòng kính trọng và tấm thịnh tình của mình, nhưng muôn tâu hoàng hậu, những luật lệ tôn giáo của chúng tôi không cho phép điều đó.

Hắn dừng lại để trả lời câu hỏi của nhiếp chính hoặc của vị đã lập công trong việc bảo vệ thành Buđo đều theo hộ giá ấu vương Gianốt Jicmông. Người mong mỏi được biết những hào kiệt Hunggari. Người coi tất cả đều là những anh hùng của người.

Thấy tất cả những câu đó cũng không đáp lại, hắn nghiêng mình:

-Vậy là hạ thần đã xong việc ủy thác của Padisa hùng mạnh và thần xin chờ phúc đáp.

- Ba giờ chiều này chúng tôi sẽ>  trả lời – Nhiếp chính Giơrgiơ trả lời thay hoàng hậu – hoàng đế sẽ được vừa lòng với lời phúc đáp của chúng tôi.

Hoàng hậu đứng dậy. Và vẫy Tơrơc Balin, và khi ông bước tới bên ngai, bà vịn tay vào ông. Rõ ràng bà không còn đủ sức để đứng vững nữa.

Buổi trưa, viên sứ thần Ali lần lượt đi thăm các vị đại thần: Phơrate Giơrgiơ, Tơrơc Balin, Petrôvits Pête, người không những chỉ là hoàng thích mà còn là cha đỡ đầu của ấu vương. Ngoài ra hắn còn đến Vebơxi, Botanhơ Orơban và cả Pốtmanixiki Giannốt nữa.

Đến nơi nào hắn cũng hào phóng tặng một cái áo caphơtan quá giá, và ở đâu hắn cũng dùng những lời đường mật cam đoan với các quan rằng Xuntan rất thịnh tình và hào phóng.

Chiếc caphơtan tặng cho Tơrơc Balin là chiếc quý nhất, chiếc áo đó bằng lụa vàng, nặng và dài đến tận mắt cá. Những chiếc khác đều một màu tím, có lót lụa vàng da cam. Chỉ có mỗi cái tặng Tơrơc Balin là bằng lụa vàng màu hoa hướng dương và lót nhiều trắng. Riêng cái đai dệt bằng những sợi chỉ vàng đã là một vật phẩm kỹ xảo, có lẽ phải mất cả một đời người mới làm xong được. Những cúc áp từ cổ đến thắt lưng đều bằng vàng nạm kim cương.

Thấy gia nhân chạy xô cả đến tấm tắc ngắm nghía tặng vật đó, Tơrơc Balin lắc đầu mỉm cười:

- Để làm vỏ chăn thì tốt đấy.

Rồi ông nghiêm nét mặt:

- Nhặt nhanh hành trang đi ! Chiều này chúng ta sẽ hồi gia.

Ba giờ chiều ông lại đi sang hoàng cung. Các đại thần đã chờ ông ở thư viện. Nhiếp chính bảo ông:

- Hoàng hậu không chịu, xin ông hãy nói với Người,

Tơrơc Balin>  nhún vai:

- Tôi đến từ biệt đây.

Các đại thần sửng sốt:

- Ông nghĩ gì thế?

- Tôi cảm thấy có gió động. Tôi không muốn bị nó bắt gặp khi tôi còn ở ngoài thành trì của tôi.

- Ông đùa với vận mệnh của xã tắc đấy! – Vebơxi bảo ông.

- Vận mệnh xã tắc phụ thuộc vào mỗi mình tôi ư?

- Chúng ta không được làm mếch lòng Xuntan. – Nhiếp chính nói.

- Tôi phải nộp đầu tôi để làm quà cho ông ta chăng?

- Ông này đâm quẫn rồi! – Vebơxi nhún vai nói – Thế ông ta đã chẳng gửi cho ông cái caphơtan đẹp nhất đấy sao?

Tơrơc Balin tì khủy tay lên giá quả địa cầu to tướng màu xanh, đăm chiêu suy nghĩ rồi gật gù nói:

- Kẻ bẫy chim khôn ngoan bao giờ cũng thổi tiếng tiêu hay nhất cho con chim mà hắn ta thèm nhất.

Người nội thị mở rộng cánh của tỏ hiệu hoàng hậu đang chờ các quan.

Một cuộc bàn luận dài dòng, day dứt đã diễn ra trong cung. >Hoàng hậu lo sợ cho con mình. Các vị đại thần thì vin vào vận mệnh của đất nước và dân tộc để phản khản đối sự khước từ yêu cầu của Xuntan.

- Còn ông không nói gì ư? – Hoàng hậu quay sang hỏi Tơrơc Balin lúc ấy đang im lặng, rầu rĩ đứng tựa vào tường.

- Thưa hoàng hậu, thần chỉ đến để bái biệt. – Ông trả lời hoàng hậu và bước lên.

- Từ biệt ư? –Hoàng hậu sửng sốt hỏi.

- Nội nhật hôm nay thần phải về nhà. Có những việc xảy ra khiến thần không thể nấn ná thêm một phút nào nữa. Và chăng thần đang ốm…

Hoàng hậu mất bình tĩnh, vặn các ngón tay:

- Hãy khoan. Nếu ốm thì ông hãy ngồi xuống đây. Ông hãy nói cho ta biết, chúng ta phải làm gì bây giờ?

Tơrơc Balin so vai:

- Thần không tin bọn Thổ. Bọn Thổ coi tất cả những người Gia tô giáo như chó má. Chúng ta không được trao ấu vương vào bàn tay hắn. Ta hãy nói với hắn rằng ấu vương ốm.

Vebơxi lầu bầu:

- Ông ta sẽ trả lời: ta sẽ đợi. Và sẽ đóng lại đây. Chúng ta sẽ phải nuôi cả đạo quân, ngựa nghẽo...

Giám mục nhiếp chính cáu kỉnh nói chen vào :

- Ông phải nghĩ đến đất nước nữa chứ ! Xuintan đứng đây với một đạo quân khổng lồ. Tự chúng ta mời ông ta vào. Ông ta đã từng là bạn của tiên vương; nguyện vọng của ông ta cần phải được thực hiện! Nếu ông ta thấy chúng nghi ngờ thì ai dám cam đoan rằng ông ta sẽ không phát khùng lên chống lại chúng ta ? Đến lúc đó ông ra sẽ không còn gọi ấu vương là con nữa, mà sẽ gọi là nô lệ.

Hoàng hậu đưa hai tay ôm lấy thái dương và ngả người ra sau lưng ghế :

- Ôi, hại thay cho ta, mụ đàn bà khốn khổ !... Các ông bảo ta là hoàng hậu, như một kẻ ăn mày bò lê trên mặt đất cũng còn nhiều sức lực hơn ta !... Cái cây nó cũng còn đau huống chi người ta ngắt hoa nó, huống chi trái tim người mẹ mà tạo hóa đã nặn ra bằng đau khổ !

Trong lúc những cảnh tượng ấy diễn ra trong cung, Gergey tha thẩn trước tiền sảnh.

Khi cậu đang đứng bên cạnh cái lò sưởi to và cao bằng gạch men, cậu bỗng cảm thấy hình như có con nhện bò trên mặt mình. Cậu chộp lấy thì té ra là một con lông công.

Cái lò xưởi đặt giữa hai phòng, đứng cạnh nó có thể nhìn thông sang phòng bên cạnh.

- Gergey ! – Có tiếng gọi khe khẽ.

Gergey khẽ rùng mình sung sướng, quay lại. Cậu nhìn thấy khuôn mặt Vixo, đôi mắt tinh nghịch của cô đang từ phòng bên nhìn sang.

- Ra ngoài hành lang đi. – Cô gái thì thầm.

Gergey lẻn ra, cô gái đã chờ cậu bên khung của sổ.

Cô nắm lấy tay cậu:

- Ta ra vườn đi!

Và cô dắt cậu đi. Họ đi qua độ bốn năm căn phòng. Phòng nào cũng đều trải thảm dày và tất cả rèm của về phía mặt trời đều buông xuống. Trên các bức tường có treo chân dung các vua chúa và các vị thánh. Có cả một bức tranh vẽ cảnh hỗn chiến của kỵ binh. Bàn ghế và các>  bức tường đều dát vàng. Phòng này màu vỏ cua, phòng kia màu tím, phòng nữa lại màu xanh da trời. Màu sắc các phòng đều khác nhau. Phòng nào cũng rất ít đồ đạc.

Cuối cùng họ bước qua một cánh cửa và ra vườn. Gergey nhẹ nhõm cả người.

- Chỉ có mình chúng ta thôi. –Vixo bảo.

Cô mặc quần áo trắng may bằng thứ vải nhẹ như voan, có đường viền ren lượn vòng quanh cổ. Tóc cô tết thành bím lủng lẳng sau lưng. Chân cô đi một đôi giày màu vàng. Cô đứng giữa lối đi rải sỏi, có bóng râm, bên cạnh một hàng cây cảnh. Cô tươi cười vì thấy Gergey chăm chú nhìn mình.

- Em có đẹp không? – Cô hỏi với vẻ hồn nhiên còn giữ lại được từ những ngày tuổi nhỏ ngây thơ.

- Đẹp lắm. – Gergey trả lời – Em lúc nào cũng đẹp. Y như một con bồ câu trắng.

- Hoàng hậu truyền may bộ quần áo này cho em đấy.

Và cô quăng tay mình vào tay Gergey :

- Lại đây anh, ta đến ngồi dưới gốc cây bồ đề kia đi. Em có nhiều chuyện muốn kể cho anh lắm và chắc anh cũng thế. Em nhận ra ngay giọng của anh lúc anh gọi qua hàng rào sắt, nhưng em không tin là anh. Em luôn nghĩ đến anh. Đêm qua em cũng mơ thấy anh. Hôm ấy em cũng đã nói với hoàng hậu rằng anh đang ở đây. Bà bảo khi nào quân Thổ rút đi, bà muốn gặp anh.

Họ ngồi xuống một cái ghế đã hoa có chạm hai con sư tử trên tay vịn, dưới gốc cây bồ đề. Từ chỗ ấy có thể nhìn xuống dòng Đuno và thành phố Pets trên bờ bên kia. Cái thành phố ấy nhỏ nhoi và bẩn thỉu, có thành đá vây quanh. Bên trong thành đá là những ngôi nhà bé nhỏ, bên ngoài thành đá là bãi cát vàng. Những Gergey không nhìn dòng Đuno cũng chẳng nhìn thành phố Pets. Cậu chỉ nhìn Vixo thôi. Cậu ngắm nghía vẻ trong trắng như cẩm thạch của khuôn mặt cô, hàm răng tuyệt đẹp, cái cằm tròn tròn, cái cổ như nhung trắng và đôi mắt vui tươi, thơ ngầy của cô.

- Kìa, bây giờ anh cũng phải nói đi chứ! –Cô gái bảo cậu. – Anh ở chỗ gia đình Tơrơc như thế nào? Anh còn học nhiều nữa không? Anh nên biết bây giờ em học cả món vẽ nữa đấy nhé! Kìa, anh nhìn gì mà cứ ngây ra thế? Anh chưa nói một câu nào cả.

- Anh nhìn em, em lớn nhanh và đẹp làm sao!

- Điều đó thì hoàng hậu cũng đã nói rồi. Bà bảo bây giờ em đang phát triển thành cô gái lớn đấy. Tay chân em đã to đến mức không còn to hơn nữa đâu, vì tay và chân của con gái chỉ lớn đến tuổi mười ba là hết thôi. Anh cũng đẹp, Gergey ạ!

Cô đỏ mặt và lấy tay che mặt.

- Ôi, em nói những chuyện vớ vẩn chưa. Đừng nhìn em thế. Em xấu hổ lắm.

Nhưng cậu con trai cũng bối rối. Mặt cậu đỏ nhừ đến tận mang tai.

Họ im lặng một vài phút. Một con én nghỉ ngơi trên cành kêu chim chíp. Họ lắng tai nghe con chim ấy chăng? Họ chẳng nghe nó đâu! Họ đang nghe một khúc nhạc hay hơn nhiều, khúc nhạc đang ngân vang trong trái tim họ.

- Em đưa tay đây nào. – Cậu con trai bảo. Cô gái sẵn sàng đưa tay sang.

Cậu thiếu nên nắm lấy bàn tay cô gái. Cô chờ xem Gergey muốn gì. Nhưng Gergey chỉ lặng lẽ nhìn.

Bỗng cậu từ từ nâng bàn tay cô lên môi hôn.

Êvo ửng hồng đôi má.

- Cái vườn này đẹp quá. –Gergey nói để mà nói một cái gì đó.

Họ lại im lặng. Một chiếc là rời khỏi cành, rơi vèo xuống trước mặt họ. Cả hai cùng nhìn cái lá, rồi cậu thiếu niên bỗng lên tiếng:

- Tất cả thế là hết.

Cậu nói câu đó với một vẻ buồn rầu khiến cô gái giật mình nhìn cậu. Gergey đứng dậy.

- Ta đi đi, Vixo, vì nhỡ bố nuôi của anh ra.

Vixo cũng đứng dậy.

Cô lại khoác tay Gergey và đi sát vào người cậu. Họ lặng lẽ đi như thế độ hai mươi bước. Lúc đó cô gái lên tiếng:

- Sao anh lại bảo tất cả thế là hết?

- Vì thế là hết rồi.

Họ lại im lặng đi vài bước nữa. Gergey lắc đầu:

- Anh linh cảm thấy rằng em sẽ không phải là vợ anh – Và cậu thở dài.

- Em thì lại linh cảm thấy rằng em sẽ là người ấy đấy. – Cô gái trả lời an ủi.

Cậu thiếu niên nhìn cô, nhìn vào mắt cô:

- Em hứa với anh chứ?

- Em xin hứa.

- Hứa với tất cả tấm lòng của em chứ?

- Với tất cả tấm lòng của em.

- Nhưng nếu thầy mẹ em có ý muốn khác thì sao? Và nếu hoàng hậu muốn khác thì sao?

- Em sẽ nói với họ là chúng ta đã đính ước rồi.

Họ lại đi qua các phòng. Lúc đến chỗ cánh của thông ra hành lang, Vixo bảo:

- Chừng nào quân Thổ còn ở đây, chúng ta không thể gặp nhau được, trừ phi anh đến với tướng công Balin. Lúc đó anh cứ lại đứng bên cạnh cái lò sưởi này, em sẽ đến với anh.

Gergey cầm lấy tay cô. >Cô gái cảm thấy bàn tay của Gergey run run.

- Cho anh hôn em một cái được không? – Gergey hỏi.

Trước đây họ vẫn hôn nhau không cần phải hỏi. Nhưng giờ đây Gergey cảm thấy >cô gái này không còn là cô gái kia nữa, cô gái mà hồi ở nhà, ở Kerextet cậu đã yêu như một cô em. Giờ đây cô đã nhiều hơn thế. Cô gái cũng có cảm giác tương tự, vì thế khi nghe Gergey hỏi, cô đỏ mặt lên.

- Anh hôn em đi. – Cô sung sướng và trang trọng nói.

Và cô không chìa má cho cậu như vẫn thường quen mà chìa đôi môi đỏ.

Bốn giờ chiều ấu vương đã mặc lễ phục chỉnh tề. Một cỗ xe dát vàng đã đợi sẵn ngoài sân đưa ấu vương xuống thung lũng Buđo cũ, nơi quân thổ hạ trại.

Nhưng đến những phút cuối cùng hoàng hậu vẫn không muốn con mình ra đi. Bà lấy tay ôm đầu và khóc:

- Các ông không có con! Ông không có, nhiếp chính Giơrgiơ ạ. Ông Pốtmanixki cũng không có nốt. Các ông biết thế nào là gửi một đứa con thơ vào hang cọp? Ai biết nó còn về được nữa hay không? Tơrơc Balin! Ông không thể bỏ rơi ta! Ta giao phó con trai ta cho ông đấy! Ông cũng làm cha ông tất hiểu khi lòng cha mẹ đã run rẩy lo sợ cho đứa con của mình là thế nào. Ông hãy bảo toàn cho nó như chính con ông vậy!

Và khi bà nói câu: >ông không thể bỏ rơi ta, bà quên hết vẻ cao trọng của mình, quỳ sạp xuống thảm trước mặt Balin, hai tay cầu khẩn giơ về phía ông.

Cảnh tượng đó làm tất cả mọi người xúc động.

- Trời ơi, hoàng hậu. – Nhiếp chính thốt kêu và nâng hoàng hậu dậy.

Tơrơc Balin xúc động tới tận đáy lòng, nói:

- Muôn tâu hoàng hậu, thần xin hộ giá ấu vương đi. Và thần xin thề rằng hôm nay dù chỉ một sợi tóc của ấu vương bị động đến thì lưỡi gươm của thần cũng tắm máu Xuntan!

Xuntan hạ trại dưới Buđo cũ. Ba cái trướng rực rỡ, liền nhau của hắn dựng trên nền nhà tắm Hoàng đế ngày nay. Gọi là trướng nhưng kỳ thực đó là cả một lâu đài bằng gỗ và gấm vóc. Bên trong ngăn ra thành các phòng lớn nhỏ, phía ngoài chói lọi những vàng là vàng.

Khoảng năm giờ chiều đoàn sứ thần Hung mới khởi hành từ sân hoàng cung. Một đại đội kỵ binh đi đầu, tiếp đến các đội lính hộ vệ của các đại thần, sau đó là các thị đồng mang lễ vật. ( Họ mang những của báu của tên Bônemxio Tomát bán nước thân Đức, đi tặng Xutan). Rồi lại đến một đội lính hoàng gia gồm lính thị vệ và các nội thị, tiếp đó là những tuyển binh của các đại thần. Sau đó mới đến các đại thần và nhiếp chính Giơrgiơ mặc áo choàng trắng. Cái áo ấy đẹp và rất sang, trắng toát bên cạnh bộ nhung phục mùa hè màu xanh điểm hoa của Tơrơc Balin. Giữa đám đại thần là cỗ xe dát vàng, thắng sáu ngựa của ấu vương. Hai mệnh phụ cùng ngồi trong xe với nhũ mẫu. Ấu vương hai má hồng hào, mặc đồ lụa trắng, đang nhún nhẩy trong lòng nhũ mẫu.

Mỗi con ngựa có một thị đồng tóc xõa dài, mặc quần áo lụa, dắt đi. Đằng sau xe là đội cấm vệ đội mũ trụ bạc. Cưỡi ngựa đi sau họ là một hàng dài các võ quan đã chiến đấu dũng cảm trong trận bảo vệ Buđo vừa rồi.

Gergey cưỡi con ngựa nhỏ màu hồng nhạt đi sau Tơrơc Balin. Thấy chủ tướng buồn bực, cậu cũng ngồi nghiêm trên ngựa. Chỉ đến khi ngoái trông thấy ông già Xexey, cậu mới tươi tỉnh lên. Ông lão cưỡi ngựa mới kỳ lạ chứ! Cái chân toàn bằng gỗ thì thẳng đuỗn ra, còn chân kia, cái chân chỉ từ gối trở xuống mới bằng gỗ, thì co gập lại. Cương thì cầm bằng tay phải, và cả kiếm của lão cũng đeo về bên ấy.

Gergey chưa bao giờ thấy lão trên mình ngựa, cũng chưa hề thấy lão mang binh khí. Cậu bật cười.

Mà ông lão cũng lạ thật cơ, cứ vươn cái cổ ra. Cái mũ dạ cắm lông đại bàng to tướng thì đội lệch một bên, ria mép – đã hơi trăng trắng – lại bôi sáp và vê nhọn hoắt như ria của các chàng trai tráng. Răng cửa của lão đã rụng hết và tuổi tác cũng đẩy mặt lão trũng sâu xuống. Lão có vẻ như một người nộm giữ dưa được trưng diện hơn là một hảo hán trong đội quân danh dự của Hung.

Vì thế Gergey bật cười. Nhưng ngay lập tức cậu thấy xấu hổ và, để sửa lỗi, cậu chờ lão đến và chào:

- Xin chào bố! – Cậu vui vẻ nói – Sao con lại không thấy bố từ trước nhỉ?

- Ta mới nhập vào đoàn từ chỗ này thôi. – Ông lão trố mắt đáp – Còn con làm gì mà đẹp như tiên ấy thế?

Câu hỏi đó để chỉ bộ quần áo võ đồng bằng gấm xanh đỏ tuyệt đẹp và thanh gươm nạm ngọc trai quý giá của Gergey.

- Chủ tướng con phong con làm võ đồng. Con theo chủ tướng đi khắp nơi. Con cũng đã vào tận hoàng cung. Còn bây giờ con theo hầu chủ tướng đến trại Xuntan đây.

Cậu khoe. Cậu muốn khoe rằng ta đây chẳng phải là kẻ vô danh tiểu tốt như họ vẫn nhìn cậu từ trước tới giờ đâu. Cậu cũng lui tới trong cái giới mà tiểu thư Êvo đang sống đấy.

Quảng trường Thánh Gioóc đông nghịt người. Trong các phố, tất cả cửa chính, cửa sổ đều mở toang. Đám trẻ con leo lên ngồi trên mái nhà và các cành cây. Tất cả mọi người đều nô nức đến xem ông vua con. Mới bé tí tẹo thế mà đã được lập làm vua!

- Bộ dạng cái đầu thật giống đức vua cha. – Một bà nói.

Đội quân ba trăm người của Tơrơc Balin xếp hàng đỏ cả cổng thành. Toàn những chàng trai tỉnh Sômôdơ.>  Trong đó có một người cao hơn hẳn toàn đội một cái đầu, chả khác nào cây lúa mạch mọc lẫn giữa đám lúa mì.

Khi tới chỗ họ, Tơrơc Balin quay ngang ngựa lại và giơ gươm lên ra hiệu cho toàn đoàn dừng lại.

- Các dũng sĩ thân mến của ta! – Ông nói trước binh lính của mình với giọng trầm và vang – Các ngươi hẳn còn nhớ, cách đây chưa đầy một tháng, ở ngay tại cổng thành này, tất cả các quan và binh sĩ đã cùng ta hứa rằng chúng ta sẽ không đem thành Buđo dâng cho bất cứ quân Đức hay quân Thổ?

- Chúng tôi còn nhớ. – Đội quân gào lên.

Balin nói tiếp:

- Chúng ta đã đánh tan quân xâm lược Đức. Giờ đây chúng ta đi đến trại Xuntan. Có Chúa Trời chứng giám, và các ngươi hãy cũng làm chứng cho ta, rằng ta phản đối cuộc đi sứ này.

Ông nói câu đó như sấm vang, rồi giọng ông bỗng lạc hẳn đi:

- Các con thân mến của ta, ta linh cảm thấy rằng không bao giờ ta còn được gặp lại các ngươi nữa. Có Chúa Trời chứng giám cho ta, chỉ vì nghĩ đến đất nước mà ta chịu phục tùng. Cầu Chúa Trời phù hộ cho các ngươi!

Ông không nói được gì hơn, giọng ông nghẹn ngào. Ông chìa tay ra, binh sĩ từng người một xiết chặt tay ông, những cặp mắt rưng rưng rơi lệ. Tơrơc Balin cúi xuống hôn một người lính và nói:

- Đây là cái hôn từ biệt của ta gửi tất cả các ngươi!

Đoạn ông thúc ngựa phóng ra khỏi cổng thành.

- Ôi dào, chú Balin, để làm gì cái chuyện mủi lòng ấy? – Lão tướng Vebơxi bảo ông.

Tơrơc Balin giật cương ngựa và bực tức trả lời:

- Tôi đã chứng tỏ không phải chỉ một lần rằng tôi không phải là con người bằng chì[77] .

- Vậy nếu không lạnh thì đừng có run.

- Không đâu, bác ơi, rồi chúng ta sẽ thấy ai là người nhạy cảm hơn đối với sự thay đổi của thời tiết.

Nhiếp chính Giơrgiơ nói chen vào:

- Dù Xuntan không mời chăng nữa, chúng ta vẫn cứ phải đi đến chỗ ông ta. Không thể đối xử lạnh nhạt với ông ta được.

- Nhiếp chính Giơrgiơ. – Tơrơc Balin nghiêm nghị nhìn sang nói – ông là người thông minh nhưng vẫn chưa phải là bật thánh. Giả sử tất cả mọi người có mang tâm can bên ngoài áo đi nữa, thì một mình Xuntan cũng vẫn cứ giấu kín trước chúng ta.

Nhiếp chính thản nhiên trả lời:

- Nếu quân Đức vẫn còn cưỡi trên cổ chúng ta thì chắc ông sẽ nói khác cơ đấy!

Lính ionisa dàn thành hai hàng rào từ cổng thành đến trại quân Thổ. Chúng tung hô các vị khách Hung và ấu vương vang dội cả lên nên họ không thể tiếp tục câu chuyện được nữa.

Họ đi giữa đám đông binh lính và lều trại. Vài phút sau họ đã thấy một đoàn lộng lẫy các bêi và các pasa ra đoán ấu vương.

Giá có ai từ trên cao nhìn xuống, hẳn người đó sẽ thấy hai đoàn người giống như hai hàng hoa tulip muôn màu đang tiến ngược chiều nhau trên một cánh đồng hoa lớn. Khi đã gặp nhau, họ dừng lại chúc tụng nhau rồi trộn lẫn vào nhau, họ tiếp tục đi dọc bờ sông Đuno về hướng bắc, về phía ba cái trướng liền nhau giống như một tòa lâu đài xnah nổi bật lên giữa những lều trại khác.

Xuntan đã đứng chờ trước trướng. Mặt hắn tô đỏ chót như thường lệ. Hắn mỉm cười gật gù khi Nhiếp chính Giơrgiơ nhấc chú bé bụ bẫm, mắt xanh ra khỏi xe.

Mọi người đi vào trong trướng. Gergey cũng bước vào theo sau chủ tướng. Không khí mát và hương hoa hồng dễ chịu tỏa lên người. Mùi ngựa hôi nồng nặc của trại quân, hầu như khiến người ta ngạt thở trong tiết trời nóng nực, không lọt vào được đến đây. Tên gác cửa giữ những người khác của đoàn tùy tùng lại phía ngoài.

Xuntan mặc caphơtan dài chấm gót, bằng lụa màu mận chín, ngang lưng thắt đai trắng. Lụa áo ngự bào mỏng như voan để lộ cả hình dáng của cánh tay, những cánh tay gầy đã khiến cả châu Âu hồi đó phải run rẩy!

Vào trong trướng, Xuntan ẵm lấy đứa bé và nhìn nó với vẻ thích thú. Đứa bé cười với hắn và giơ tay nghịch râu hắn. Hắn bèn hôn đứa bé.

Các đại thần thở phào nhẹ nhõm. Vậy thì đây đâu có phải là tên Xôliman khát máu! Đây là một ông bố hiền lành. Cái nhìn của hắn trong sáng, nụ cười của hắn chân thật. Kìa, đứa bé đang với tay lên ngôi sao bằng kim cương lóe sáng trên tuyban. Hắn lấy xuống đưa cho bé chơi. Hắn bảo các hoàng tử – Balin cũng hiểu, Gergey cũng hiểu:

- Các con hôn ông vua nhỏ của nước Hung đi!

Hai hoàng tử hôn đứa bé. Cả hai cùng cười với em và em cũng cười lại.

- Các con có nhận làm anh em không nào?

- Sao lại không? – Xelim trả lời – Chú bé dễ thương quá, y như nó đã sinh ra ở Xtămbun vậy.

Gergey nhìn quanh trong trướng. Thật cả một nền xanh lộng lẫy của gấm vóc! Mặt đất cũng rải thảm dày màu xanh điểm hoa. Trên vách có những cửa sổ tròn không lắp kính. Qua một cửa sổ có thể nhìn thấy đảo Morơghit. Dọc chân vách, la liệt những đệm ngồi dày dặn.

Trong trướng không có ai khác ngoài ba đại thần: nhiếp chính Giơrgiơ, Vebơxi và Tơrơc Balin, cùng với người nhũ mẫu và Gergey, mà trong bộ lễ phục của cậu có lẽ tên gác cửa đã tưởng là thị đồng của ấu vương. Ngoài ra còn có hai hoàng tử Xuntan, hai pasa và người phiên dịch.

Xuntan trao trả ấu vương cho nhũ mẫu và vẫn không ngớt ngấm nghía, lấy ngón tay khẽ bập bập vào đôi má phinh phinh, vuốt ve mái tóc vàng nhạt.

- Xinh quá đi mất, khỏe quá đi mất – Hắn nhìn người phiên dịch và nói.

Tên phiên dịch bèn dịch ra tiếng Latinh:

- Xuntan đại độ bảo rằng đứa bé đẹp như tiên và khỏe mạnh như bông hồng phương đông vừa nở sáng hôm nay vậy.

- Ta lấy làm vui lòng được thấy ấu vương. – Xuntan nói tiếp – Các ngươi hãy đưa về cho hoàng hậu và thưa với Người rằng ta sẽ là cha thay thế tiên vương và thanh gươm của ta sẽ canh giữ cho ấu vương cùng đất nước này.

Tên phiên dịch nói:

- Hoàng thượng vui mừng như được gặp chính con của mình. Người nhận làm nghĩa tử và xòe đôi cánh quyền uy đang ngự trị trên thế giới che chở cho ấu vương. Các ngài hãy thưa lại điều đó với hoàng hậu và chuyển tới hoàng hậu lời chào ân tứ nhất.

Xuntan móc túi lấy ra một cái túi lụa màu đỏ bồ đào và, với một cử chỉ độ lượng, đặt vào tay người nhũ mẫu.

Sau đó hắn còn hôn đứa bé một lần nữa rồi vẫy chào từ biệt. Đó cũng là dấu hiệu để tỏ rằng Xuntan đã mãn cầu sở nguyện và mọi người có thể lui ra.

Ai nấy đều thở phào hỉ hả. Người nhũ mẫu bế đứa bé ra ngoài gần như chạy.

Khi họ ra khỏi trướng, các pasa quay quanh lấy các đại thần và nhã nhặn báo cho họ biết Xuntan sẽ mở yến chiêu đãi họ. Cả những người hộ giá ấu vương trở về đến hoàng cung rồi cũng xin mời quay lại.

- Con khá hộ giá ấu vương về. – Tơrơc Balin ngoảnh ra sau bảo Gergey rồi khoác tay một pasa biến vào trong trướng.

Mặt trời lúc đó đã lặn sau rặng núi Buđo và từ trên cao, những đám mây hắt ánh sáng xuống.

Ấu vương lại được đặt vào trong xe. Tay phải của em giơ lên vẫy chào các pasa và các đại thần Hung, rồi chiếc xe dát vàng lại chuyển bánh chạy trên thành Buđo giữa hai hàng lính tung hô ầm ỉ.

Gergey phi ngựa đằng sau xa giá.

Lão Xexey tay gỗ đi đằng trước với các ông già, đám trẻ đi đằng sau.

Gergey đi sau Zôntoi và Mectsei, sóng ngựa cùng hàng với một chàng trai tóc hoe đỏ, sắp sửa béo phị ra: hai người đã làm quen với nhau từ lúc khởi hành.

- Anh Phuyriét này, - cậu nói với anh ta – em lần này mới tới Buđo là một nên hầu như chẳng có ai quen biết cả.

- Cậu cần gì nào? Nếu có thể được ta vui lòng cho ngay.

Anh ta cứ tưởng cậu thiếu niên cần tiền.

- Em có chút việc nhỏ vào quãng nửa đêm nay ở quảng trường Thánh Gioóc.

- Chuyện gì thế? – Anh kia mỉm cười hỏi vì tưởng rằng cậu thiếu niên có chuyện hò hẹn yêu đương ở quảng trường Thánh Gioóc. Anh ta lắc lắc mái tóc rậm, hoe hoe đỏ và vui vẻ kêu lên:

- Ấy, ấy!

- Câu chuyện không hoàn toàn đáng cười đâu, nhưng cũng chẳng nghiêm trọng gì lắm. – Gergey trả lời.

- Nghĩa là: trái tim.

- Không: thanh kiếm.

- Cậu không định đánh nhau đấy chứ?

- Nhưng đúng thế đấy.

- Với ai?

Gergey chỉ vào Mectsei vận võ phục bằng gấm màu xanh hồ thủy đang phi ngựa trước mặt mình.

Phuyriét tròn xoe mắt, nghiêm mặt lại:

- Với Mectsei à?

- Với hắn.

- Cậu có nghe không, đó là một tay có sừng có mỏ đấy!

- Có lẽ em cũng chẳng đến nỗi cừu non.

- Tay này đã chém được cả quân Đức đấy!

- Rồi em sẽ chém hắn.

- Cậu múa gươm khá đấy chứ?

- Em đã bắt đầu từ năm lên bảy.

- Thế thì khác.

Anh ta nắn bắp thịt trên cánh tay Gergey rồi lắc đầu:

- Tốt nhất là cậu xin thôi đi.

- Em ấy à? Làm sao em lại có thể xin thôi được!

- Tay ấy sẽ hạ thủ cậu – Phuyriét lo lắng nói.

- Làm sao có thể chắc trước như thế được! – Gergey kiêu hãnh đáp.

Cậu ưỡn ngực nhìn Mectsei đang phi ngựa đằng trước, rồi quay sang hỏi Phuyriét:

- Vậy anh sẽ là người làm chứng của em nhé?

Phuyriét nhún vai:

- Nếu chỉ cần người làm chứng thôi thì ta vui lòng. Nhưng nhỡ có chuyện gì xảy ra…

- Chuyện gì mới được chứ?

- Chuyện gì mà chả có thể xảy ra được. Nhưng mà này, ta sẽ không đánh nhau thay cậu hoặc vì cậu đâu đấy.

Tiếng xì xào, nhốn nháo bỗng nổi lên trong đoàn người: những tiếng kêu vô nghĩa, tiếng ngựa hục hặc. Những cái cổ bỗng như cứng đờ cả ra: tất cả đều sửng sốt nhìn lên thành.

Gergey cũng ngửng nhìn lên.

Ra thế đấy, trên cổng thành Buđo, ba lá cờ đại có chùm đuôi ngựa đang phần phật trước gió. Cả trên những tháp chuông nhà thờ cũng vậy.

Trong cổng thành, vệ binh Thổ đôi tuyban, vác kích đứng vào chỗ lính Hung.

- Buđo thất thủ rồi! – Một giọng lảnh lói rú lên khiến đoàn người Hung rùng cả mình như khu rừng gặp gió lùa qua.

Lão Xexey tay gỗ đã rú lên câu đó.

Không một ai đáp lại. Mọi khuôn mặt đều tái đi. Và sự căm lặng càng trở nên đờ đẫn bởi tiếng hát cầu nguyện của một mưezin[78]  từ trong tháp chuông nhà thờ Đức Mẹ văng vẳng bay xa:

- Allahu akbar… Assadu anna la ilaha ill Allah…[79]

Gergey cùng một số người phi như bay trở lại trại quân Thổ.

- Các quan đâu rồi? Có chuyện đại nghịch vừa xảy ra!

Nhưng lính ngự lâm Thổ đội mũ đỏ đã chặn họ lại ở cái trại đầu tiên.

- Chúng tao cần phải vào! – Mectsei gầm lên như sắp khạc ra lửa – Hoặc chúng bay nhắn các quan ra đây!

Tụi lính ngự lâm không trả lời, chúng chỉ giữ chặt cán giáo chĩa vào ngực họ.

- Các ông nhắn tướng công Tơrơc Balin ra một chút!

- Không được! – Chúng nó trả lời.

Đám người Hung vô kế khả thi.

- Các quan ơi! – Một người to cổ kêu lên – Ra mau! Nguy rồi!

Không một tiếng trả lời.

Gergey cho ngựa đi quành sang chỗ khác. Cậu đi lên đồi chỗ bọn xpahi đóng để may ra từ đó có thể rẽ xuống chỗ các quan đang dự yến.

Đến ngang một cái lều, một giọng Hung bỗng gọi cậu:

- Em đấy ư, Gergey?

Gergey nhận ra Mantôphonvoi. Anh ngồi trước một cái lều xpahi và đang ăn dưa bở với hai tên Thổ.

- Em tìm gì ở đây? – Mantôphonvoi hỏi to.

- Em muốn đến chỗ chủ tướng.

- Bây giờ em chưa đến đấy được đâu! Lại đây, nhập với bọn ta!

Anh ta bổ dưa và chìa cho Gergey một lát. Gergey lắc đầu.

- Không cần đâu.

- Nào, cứ lại đây mà, hai tên Thổ này là bạn tốt của ta. Khi nào bọn họ đốt đuốc lên, chúng ta cũng sẽ đi xuống và nhập vào đoàn với chủ tướng.

- >Nại đai ngồi ăn em – một tên xpahi to lớn, lực lưỡng, nước da nâu, vui vẻ nói và đưa bàn tay mập mạp vẫy gọi Gergey.

- Không thể được. – Cậu cau có trả lời và giục ngựa đi tiếp. Cậu đi xuống phố trại qua chỗ đám pháo thủ, đám thợ săn và đám ionisa. Cuối cùng lại đến trướng Xuntan. Ở đó cũng có tụi bôxtanji[80]  đứng vây xung quanh. Từ phía đó cậu cũng không thể lọt vào chỗ Tơrơc Balin được.

Các thanh niên Hung vẫn đứng kêu la ở chỗ ban nãy. Từ trong trướng lớn, tiếng nhạc Thổ Nhĩ Kỳ vọng ra, đàn Kanua[81] dây đồng kêu tưng tưng, đàn kôbô kêu phừng phừng và kèn sáo nỉ non, réo rắt.

- Bọn chó má! – Mectsei thét lên và nghiến răng ken két.

Phuyriét tức quá suýt phát khóc:

- Nếu chủ tướng ta ở lại trong thành thì việc này đâu có thể xảy ra với chúng ta được!

Anh ta là võ đồng của nhiếp chính Giơrgiơ. Anh ta vẫn tưởng nhiếp chính có tài thiên biến vạn hóa.

Khi âm nhạc lắng xuống, tất cả lại gào lên:

- Các quan ơi! Mau ra ngay! Quân Thổ chiếm mất thành rồi!

Nhưng chẳng có ai ra cả. Trời đầy mây. Mưa bỗng nhiên đổ xuống độ nửa giờ rồi lại tạnh. Trên trời những đám mây đen vội vã kéo về phía đông, trông như những đoàn quân tháo chạy.

Cuối cùng, vào khoảng nửa đêm, các đại thần mới ngất ngưỡng đi ra. Mũ lệch trên đầu, họ vui vẻ chen nhau ra cửa trướng. Hai hàng đuốc soi đường cho họ. Hai hàng đuốc như hai con trăn lửa chạy ngoằn ngoèo lên tận cổng thành Buđo. Khói đuốc nhựa thông thơm lừng cả không khí vừa trong trẻo lại sau cơn mưa.

Lúc này Matônphonvoi cũng đã đứng ở đó và tụi bôxtanji để cho những người đứng ngoài đến gặp các quan.

Matônphonvoi gọi tên các mã phu. Các đại thần lần lượt trèo lên mình ngựa.

Trong ánh đuốc có thể thấy rõ những bộ mặt đỏ đang trở nên khó đăm đăm và chuyển dần sang màu tái. Nhiếp chính nổi bật lên giữa bọn họ với bộ mặt trắng nhợt như ma.

- Đừng khóc! – Ông bảo Phuyriét đang đi bên cạnh – Nước mắt đâu phải là thứ đáng ánh lên trong mắt người nam tử!

Từng người một, từng đôi một, từng ba người một, các tướng phóng ngựa lên thành Buđo theo con đường đuốc sáng.

Gergey vẫn chưa thấy Balin đâu cả.

Matônphonvoi đứng bên cạnh cậu, vẻ mặt cũng lo lắng nhìn vào cửa trướng đang le lói một thứ ánh sáng đỏ đòng đọc.

Vị tướng đi ra cuối cùng là Pốtmanixki. Ông lảo đảo bước ra trên tay hai võ quan Thổ. Người ta phải vực ông lên mình ngựa.

Tiếp đó còn một vài tên da đen ăn mặc rằn ri đi ra, đó là những tên hầu.

Sau đó không còn ai nữa.

Tấm rèm cửa buông xuống che nốt cả ánh sáng trong trướng.

- Hai đứa mày còn chờ gì nữa? – Một tên Thổ bụng phệ đội mũ cắm lông đà điểu hỏi họ.

- Chờ chủ tướng Tơrơc Balin của chúng tôi.

- Ông ấy chưa ra à?

- Chưa.

- Thế thì pađisa đại độ đang giữ ông ấy lại nói chuyện đấy.

- Chúng tôi sẽ đợi. – Matônphonvoi bảo.

Tên Thổ nhún vai bỏ đi. Gergey bồn chồn nói:

- Em không thể chờ được, nửa đêm nay em phải có mặt trên thành.

- Vậy em cứ đi đi. Nếu có thấy tên Thổ nào trong giường anh thì cứ việc quăng nó ra nhé.

Matônphonvoi nói đùa nhưng Gergey không cười. Cậu chào anh rồi phi ngựa lên Buđo.

Trăng đã lại ló ra soi sáng con đường lên thành. Những tên lính Thổ cầm kích đứng trong cổng không thèm nhìn đến Gergey. Cho đến lúc đó một số người vẫn còn được tự do đi lại. Nhưng ai biết ngày mai chúng nó sẽ không đuổi hẳn người Hung ra khỏi thành?

Tiếng vó ngựa nện lộp cộp trên đường lát đá. Trước cửa các nhà ở, Gergey cũng thấy bọn ionisa cầm kích hoặc cầm dáo. Trên tất cả các tháp cao đều cắm cờ hình nửa vành trăng đính chùm đuôi ngựa. Chỉ trên nhà thờ Đức mẹ là còn cây thánh giá mạ vàng.

Gergey đến quảng trường thánh Gioóc. Cậu rất ngạc nhiên khi không thấy ai cả. Cậu cho ngựa đi vòng quanh bồn nước, quanh các khẩu thần công. Không có một ai ngoài tên lính Thổ vác đao đứng canh bên các khẩu súng.

Gergey nhảy xuống và buộc ngựa vào bánh một khẩu thần công.

- Mày làm gì ở đây? – Tên Thổ quát hỏi.

- Ta chờ – Gergey trả lời bằng tiếng Thổ – Chả nhẽ anh lại sợ ta lấy khẩu súng thần công đi mất à?

- Ấy, ấy. – Tên Thổ thân mật đáp – Vậy mày là dân Thổ à?

- Không

- Thế thì xéo về nhà đi!

- Nhưng hôm nay ta có một câu chuyện danh dự ở đây. Ta xin anh nhẫn nại cho một chút.

Tên Thổ liền chĩa dao vào ngực cậu:

- Cút ngay!

Gergey tháo ngựa và nhảy lên. Từ phía cổng thành Pheyê có một người đang chạy bộ đến. Gergey nhận ra Phuyriét, mớ tóc hung của anh gần như tỏa sáng trong đêm tối. Anh bước đến chỗ cậu, thở hổn hển:

- Mectsei đang ở trong nhà tướng công Balin. Đi đi, vì tụi ionisa không cho phép nói chuyện ngoài đường.

Gergey xuống ngựa cùng đi bộ với Phuyriét.

- Chuyện đểu cáng này đã xảy ra như thế nào hở anh? – Gergey hỏi.

Phuyriét nhún vai:

- Sự việc đã được nặn ra một cách quỷ quyệt nhất. Trong khi chúng ta đang cùng ấu vương ở dưới trại, bọn ionisa đã thong thả đi qua cổng thành, giả vờ như muốn ngắm xem các dinh thự. Chúng cứ dần dà tha thẩn, nhìn nhìn ngó ngó, nhưng mỗi lúc một đông hơn. Đến khi tất cả các phố xá đều đầy rẫy lính Thổ, lúc đó, theo một hiệu kèn, bọn chúng mới rút binh khí ra và đuổi hết mọi người vào nhà.

- Bọn chó má!

- Cướp thành như vậy thì bở quá!

- Chủ tướng em đã bảo mà…

Những cửa sổ trong biệt thự đều mở toang. Trong một khung cửa sổ trên gác nổi rõ bóng hai mái đầu.

Đúng lúc đó bọn lính gác đổi phiên trước cổng, một tên ionisa đứng ngay giữa cổng.

- Chúng mày muốn gì? – Hắn hỏi giọng trịch thượng.

- Chúng tao ở đây – Gergey khô khan đáp.

- Tao vừa được lệnh: ngoại khả xuất, ngoại bất nhập.

- Tao là người nhà Tơrơc Balin cơ mà! – Gergey nổi cáu.

- Xéo về nhà đi con ạ, về thành Xiget ấy. – Tên Thổ khinh miệt nói.

- Để tao vào! – Gergey cáu tiết thét lên và vỗ vào bao gươm.

Tên Thổ tuốt gươm ra:

- Cút!

Gergey buông cương ngựa và cũng tuốt gươm ra. Có lẽ cậu tin vào cái thế mình không đơn độc.

Tên hộ pháp Thổ Nhĩ Kỳ vung gươm lên bổ vào đầu Gergey.

Gergey đỡ nhát chém, gươm của cậu tóe lửa trong ánh trăng mờ. Cũng trong nháy mắt đó cậu nhảy lên trước như một con mèo và chém vào mặt tên Thổ.

- Ala!

Hắn rú lên rồi lảo đảo ngã dúi vào tường. Lớp vữa tường nơi hắn dựa lưng lạo sạo rơi xuông.

Từ trên gác một tiếng kêu vọng xuống:

- Đâm đi!

Gergey cắm phập thanh gươm đến tận chuôi vào ngực tên Thổ.

Cậu sững sờ nhìn tên hộ pháp khi thấy hắn buông gươm và đổ xuống chân tường như một cái bi.

Gergey nhìn quanh tìm Phuyriét. Nhưng gã đang chạy, quàng chân lên cổ mà chạy, về phía hoàng cung.

Thay cho gã, ba tên ionisa đội mũ to tướng đang hầm hầm xông đến, chửi rủa ầm ĩ.

Cậu thanh niên thấy ngay là không còn một giây nào để chậm trễ nữa. Cậu nhảy đến chỗ cánh cổng, mở ra, nhan nhẹn bước vào và chốt lại.

Xúc động vì trận đấu, cậu còn bước thêm một vài bước với đôi chân run rẩy, nhưng khi nghe có tiếng người chạy rầm rầm xuống cầu thang gỗ, cậu ngồi bệt xuống một cái ghế dưới vòm cổng, thở hỗn hển.

Zôntoi đến, gươm lăm lăm trong tay, Mectsei theo sau, cũng cầm gươm lăm lăm trong tay. Bóng đèn trong vòm cổng soi rõ nét mặt sững sốt của cả hai.

- Cậu ở đây rồi à? – Zôntoi kêu lên – Không việc gì chứ?

Gergey lắc đầu.

- Cậu đâm chết tên Thổ rồi à?

Gergey gật.

- Hãy ngả đầu vào chỗ tim tớ đây, cậu bé anh hùng ơi!

Zôntoi sôi nổi kêu lên và ôm chặt lấy cậu thiếu niên mười lăm tuổi, người vừa vượt qua thử thách của lòng dũng cảm.

Bọn giặc đập cửa thình thịch. Bọn ionisa đã đổ xô cả đến.

- Phải tẩu thoát ngay. – Mectsei nói – Nhưng trước hết hãy cho tớ bắt tay cái đã nào! Đừng giận tớ đã đối xử tệ với cậu nhé!

Gergey chìa tay ra. Cậu vẫn bàng hoàng cả người, không hiểu chuyện gì đã xảy đến với mình. Cậu lặng lẽ để cho hai anh bạn lôi đi. Chỉ khi hai anh thanh niên xe khăn trải giường bện thành dây cậu mới sực tỉnh. Mectsei bảo cậu trèo qua cửa sổ trước tiên.

Gergey nhìn xuống.

Dưới kia, trong khoảng sâu vằng vặc ánh trăng, cậu thấy khu vườn rau của hoàng cung ngay dưới chân mình.

Sáng hôm sau aga Ali lại đến triều kiến hoàng hậu. Hắn nói:

- Pađisa đại độ thấy rằng việc Người đưa binh lính Thổ vào thành Buđo là một việc tốt. Ấu vương không thể bảo vệ thành Buđo chống lại quân Đức được. Pađisa đại độ thì không thể mỗi lúc lại tới đây từ ngoài muôn dặm, hai tháng đường trường. Thưa hoàng hậu, chừng nào ấu vương còn chưa khôn lớn, quận quốc Erơđêi [82] cùng những mỏ vàng, mỏ bạc và mỏ muối ở đó sẽ đủ cho các người.

Hoàng hậu lúc này đã chuẩn bị tinh thần chờ đón tất cả những điều xấu nhất. Bà nghe tên sứ thần với một vẻ bình tĩnh pha lẫn khinh bỉ.

Tên sứ thần nói tiếp:

- Như vậy là pađisa đại độ đặt thành Buđo và nước Hung dưới sự bảo hộ của Người: một vài hôm nữa Người sẽ gửi đến lời hứa thiên tử rằng Người sẽ bảo vệ hoàng hậu và ấu vương. Bao giờ ấu vương trưởng thành, Người sẽ trả lại Buđo cùng cả nước.

Các quan đại thần đều có mặt, chỉ thiếu Tơrơc Balin và Pốtmanixki. Nhiếp chính còn tái xanh hơn cả ngày thường. Mặt ông dường như hòa lẫn với màu trắng của áo choàng.

Tên sứ thần lại nói:

- Như vậy thành Buđo cùng với lưu vực sông Đuno và sông Tixo được đặt dưới quyền bảo hộ của pađisa đại độ, hoàng hậu cùng các triều thần sẽ dời về Lipa để cai quản vùng Erơđêi cùng phần đất hữu ngạn sông Tixo. Buđo sẽ có hai tổng trấn:>  một Thổ và một Hung. Lão tướng Vebơxi sẽ được bổ nhiệm làm tổng trấn Hung, ông ta sẽ là pháp quan và là người cai trị cư dân Hung trong nước.

Các quan thảy đều buồn bã, chán nản, dường như họ đang đứng không phải bên cạnh ngai vàng mà bên cạnh linh cữu.

Tên sứ thần đi ra, để lại một phút im lặng trong cung.

Hoàng hậu ngẩng đầu lên nhìn các quan. Vebơxi trào nước mắt. Trên má hoàng hậu nước mắt cũng chảy dài, bà lau đi và uể oải nói:

- Pốtmanixki đâu rồi?

- Ông ta đi rồi – Petrôvis tâu.

- Không từ biệt gì cả ư?

- Thưa hoàng hậu, ông ta đã trốn đi. Sáng nay ông ta đã cải trang làm nông phu và ra khỏi thành.

- Balin vẫn chưa về ư?

- Chưa ạ.

Hôm sau bọn Thổ vứt hết chuông ra khỏi nhà thờ Đức Mẹ, giật ảnh thánh xuống, xô đổ tượng Thánh vương Istơvan. Chúng quẳng ra cửa những bàn thờ mạ vàng, tượng các tiên cô bằng cẩm thạch hoặc bằng gỗ và cả thánh kinh nữa. Cây đại phong cầm cũng bị phá tan. Chúng chở xuống cho đám thợ đúc đạn hai xe đầy những ống còi bằng kẽm. Những ống còi bằng bạc, những giá nến tuyệt hảo bằng vàng, bằng bạc, những tấm thảm và khăn trải bệ thờ, quần áo lễ được chở xuống cho quan hộ chính của Xuntan bằng ba xe khác. Chúng quét vôi lên những bức bích họa tuyệt đẹp của nhà thờ. Chúng đập gẫy cây thánh giá trên nóc tháp chuông rồi kéo lên cắm vào đó một tấm đồng to mạ vàng hình nửa vành trăng. Ngày hai tháng chín, Xuntan cưỡi ngựa lên thành với một đoàn pasa hộ giá, cả hai hoàng tử của hắn cũng đi theo. Bọn aga lễ phục tề chỉnh đã chờ sẵn ở cổng Xômbot để hộ tống Xuntan đến nhà thờ giữa tiếng kèn đồng vang dội.

Xuntan phủ phục giữa nhà thờ để tạ ơn thánh thần của bọn Thổ đã phù hộ cho hắn cướp được Buđo.

Ngày mồng bốn tháng chín, bốn chục xe bò nối đuôi nhau từ hoàng thành xuống bến sông Đuno. Hoàng hậu dời đô.

Xa giá cũng đã đợi sẵn trong sân rồng, các đại thần xúm xít vây quanh. Tất cả đều sẵn sàng lên đường. Chỉ có Vebơxi ở lại Buđo cùng viên tùy tướng thân cận là Mectsei.

Gergey cũng đứng đằng sau các quan và cậu chợt trông thấy Phuyriét.

- Thế nào Gergey, em không đi cùng chúng ta ư? – Gã hỏi với giọng kẻ cả.

Gergey khinh bỉ nhìn gã từ đầu đến chân và nói:

- Không >em iếc gì cả. Ta không phải là em của loài thỏ đế.

Gã tóc hung giật nảy người, nhưng rồi khi gặp cả ánh mắt sắc của Mectsei, gã nhún vai.

Lão Xexey cũng gò người trên lưng ngựa giữa hàng quan lại. Gergey đặt tay lên yên ngựa của lão:

- Chào bố nuôi.

- Chào con.

- Bố cũng đi ư?

- Chỉ đến Hotvon[83] thôi.

- Êvô cũng đi à?

- Hoàng hậu đem nó đi đấy. Trưa nay nhớ lên ăn cơm chỗ mẹ và an ủi mẹ với nhé!

- Sao bố mẹ lại để Evô đi?

- Vebơxi bảo chúng ta cứ để cho nó đi. Chỉ năm sau thôi, con đừng lo, chúng ta sẽ trở lại với hàng vạn người…

Họ không nói gì nữa. Đám vệ bình đã xuất hiện có nghĩa là hoàng hậu sắp tới.

Bà mặc tang phục, sực nức mùi nước thơm hoa kim ngân. Trong đám tùy nữ của bà có cả Evô. Một cái áo choàng đi đường bằng lụa mỏng màu hạt dẻ có mũ đính liền phủ trên vai cô, nhưng cô chưa kéo mũ lên: Cô nhìn quanh như thể tìm kiếm ai.

Gergey lách qua đám ngựa của các quan và đến bên cô.

- Anh không đi cùng chúng em ư? – Cô gái hỏi.

- Anh muốn đi lắm nhưng chủ tướng vẫn chưa về – Gergey buồn rầu trả lời.

- Các anh đi theo sau chứ?

- Anh chả biết nữa.

Nét mặt cô gái cũng trở nên buồn thiu.

- Nếu các anh không đi theo sau thì biết đến bao giờ em mới gặp lại anh?

- Anh chả biết nữa.

Và một giọt nước mắt rưng rưng trong mắt cậu thiếu niên.

Hoàng hậu đã ngồi vào trong chiếc xe kiệu lót da rộng rãi, có mui và cửa sổ.

Vixo chìa tay cho Gergey:

- Anh sẽ không quên em đâu nhỉ?

Gergey muốn nói: không, Vixo ạ, không đâu, dù sang bên kia thế giới cũng không!

Nhưng vì không nói nổi, cậu chỉ lắc đầu.

Mười ngày sau Xuntan cũng lên đường.

Tơrơc Balin bị bắt xích lại giải đi theo.

[43] Buđo là kinh đô của các triều vua Hung hồi ấy, đó là thành phố bên hữu ngạn sông Đuno. Bên tả ngạn là Pest, hồi ấy còn lụp xụp, mãi mấy thế kỷ sau mới lớn lên thành phố phường lớn và đến năm 1872 mới chính thức hợp lại thành Buđapest ngày nay

[44] Môhács: cánh đồng lớn ở phía nam nước Hung

[45]Quãng tháng giêng, tháng hai dương lịch>

[46]Basa hoặc pasa : một chức quan dưới triều vua Thổ hồi đó, tương đương như chức tổng đốc>

[47]Đạo hồi cấm uống rượu vang

[48]Cơm trộn ragu cừu, món ăn dân tộc của Thổ

[49] Còn gọi là hoa « đừng quên em » một thứ hoa được trai gái yêu nhau thích dùng để tặng nhau, đặc biết là trong những dịp chia tay>

[50](Khăn xép của người Ả Rập, Ấn Độ hay dùng. Ngày trước, ở ta còn gọi là khăn tây rê>

[51]Một chức võ quan trọng trong quân đội Thổ Nhĩ Kỳ hồi đó. Tương đương như chức tổng binh, lãnh binh>

[52]Lính phiêu kỵ của Thổ Nhĩ Kỳ

[53]Một tước quan của triều đình Thổ Nhĩ Kỳ, thường để phong cho những kẻ có công trạng, như một loại huân tước. Kẻ được phong tước này đã có quyền cha truyền con nối.>

[54]Chữ Batư, có nghĩa như đại hoàng đế, tên gọi vua Batư và Thổ Nhĩ Kỳ>

[55]Như bộ tài chính bây giờ

[56]1 bảng bằng 0,453 kg. Hai mươi lăm bảng bằng khoảng 10 kg>

[57]Tướng Balin thuộc dòng họ Tơrơc ở xứ Enhinhghi>

[58] Thủ đô Irăng ngày nay

[59] Thành phố ở Tây bắc nước Hung, giáp biên giới Hung – Áo ngày nay

[60] Lính phiêu kỵ Thổ

[61] Nhà hùng biện của La Mã, tên viết là Cicero nên dễ đọc nhầm là Kikerô

[62] Thủ đô nước Áo ngày nay, hồi đó là kinh đô của các triều vua thuộc họ Hápxbua

[63] Zrinyi Miklós (1508 – 1566): một dũng tướng của Hung trong cuộc chiến tranh chống Thổ: đây là Zơrinhi Miklôt cố, “người anh hùng thành Xiget”. Về sau chắt của ông là Zơrinhi Miklôt, vừa làm tướng vừa là nhà nhà có tên tuổi

[64] Catê (chữ Hy-lạp: catechizmus) nghĩa là môn học chuyên giải thích các giáo lý của tôn giáo

[65] Tinôdi Sebestyén (khoảng 1505-1556): ca công nổi tiếng nhất của Hung thế kỷ XVI. Đã sáng tác nhiều thơ, ca, nhạc theo nhiều thể tài, nhưng những tác phẩm quan trọng nhất của ông đều nói về những cuộc chiến đấu chống bọn xâm lược Thổ. Từng là môn khách của nhiều gia đình quý tộc. Sebơc là tên gọi thân mật của Sebetchẽn.

[66] Một loại đàn cổ có hình dạng hơi giống đàn ghita

[67] Môhat: huyện lỵ của huyện Môhat, thuộc tỉnh Boronho, nằm bên bờ sông Đuno, ở phía nam,gần biên giới Hung – Nam Tư ngày nay. Tại đây ngày 29-8-1526 đã xảy ra một trong những trận đánh có tầm quan trọng lớn nhất trong cuộc chiến tranh kéo dài ba thế kỷ (XIV- XVII) chống bọn xâm lược Thổ Nhĩ Kỳ. Trong trận này quân đội Hung bị đậi bại, đạo quân hai vạn rưỡi người bị tiêu diệt, vua Loiôt đệ nhị cũng tử trận trong khi tháo chạy

[68] Chỉ người Thổ

[69] Chữ Batư:>  là một kiểu áo dài của nam giới vùng Trung Cận Đông ngày xưa thường mặc

[70] Gốc chữ Hêbe, có nghĩa là bùa, ngải

[71] Chữ Latinh trong nguyên văn, ở đây có nghĩa là người thợ làm cung.

[72] kontos: một thứ áo dài chỉ dùng để mặc trong nhà hoặc ở ngoài bãi tắm

[73] Papucs: một thứ giày hình dáng hơi giống giày hạ ở ta ngày trước, cũng chỉ dùng trong nhà hoặc ở bãi tắm

[74] Nguyên soái của vua Đức Pheđinan hồi đó

[75] Nhắc việc Xopôio Gianốt đã giết Đôjo và đàn áp đẫm máu đạo quân nông dân năm 1514

[76]Hoàng hậu Jagellô Izabela người Balan>

[77] Ý nói mềm yếu, dễ mủi lòng

[78] Là giáo sĩ của đạo Hồi, những người thường đứng trên các tháp cao đọc lời cầu nguyện cho các tín đồ đọc theo sau

[79] Câu tiếng Thổ trong nguyên bản, có nghĩa là “Ngoài Ala và luật lệ của Người ra không còn Thượng đế nào khác nữa!

[80] Quân ngự lâm Thổ Nhĩ Kỳ

[81] Một thứ đàn gõ của Thổ Nhĩ Kỳ

[82] Quận quốc ở vùng Kácpat, nay thuộc lãnh thổ Rumani

[83] Thị trấn ở cách Budapest 60 km, vì thế gọi là thị trấn Sáu mươi

[84]Ý nói khi lâm vào thế nguy

« Lùi
Tiến »