Nếu trên trời có một cuốn thiên thư ghi chép lịch sử của người Hung, về tám năm dưới đây người ta sẽ ghi như sau:
1545: Buđo, Êxtegôm, Pheiêva, Xegel, Nôgơrat, Hotvon Vexpơrêm, Pêts – hầu như tất cả giang sơn đã thuộc về quân Thổ.
1546: Quân Thổ chia nước Hung thành mười lăm đạo. Người Hung chỉ còn lại vùng Thượng địa[1] và một vài tỉnh sát nách nước Áo.
1547: Không phải chỉ có quân Thổ mà cả quân Áo cũng lột da róc thịt người Hung.
1548: Hai dòng đạo của Luthe và Canvin được truyền bá trong cả nước. Không chỉ quân Thổ và quân Áo mới là cừu địch, mà người Hung với người Hung cũng cừu địch lẫn nhau.
1549: Dưới chiêu bài thuế, quân Thổ vơ vét tất cả mọi thứ, kể cả trẻ con.
1550: Hai đạo quân Ôla và Thổ lên đường chinh phạt công quốc Erơđêi. Chỉ trong vòng mấy ngày, nhiếp chính Giơrgiơ động viên được năm chục nghìn chiến sĩ. Họ đánh tan tác đạo quân Ôla. Quân Thổ cúp đuôi tháo chạy.
1551: Hoàng hậu Idabenla rời khỏi Erơiđê. Nhiếp chính Giơrgiơ bị bọn thích khách ám sát.
Và năm 1552 tiếp đến.
1
Mận vùng Sôpơrôn[2] đã xanh sẫm và hướng dương đã nở, khi một buổi chiều hoe nắng và thoảng gió, phu nhân Êvo ra đứng ngoài hiên một ngôi nhà trong thành phố. Nàng chọn trang phục trong số quần áo của chồng nàng cho một chàng thanh niên nào đó sửa soạn đi ra nước ngoài.
Từ khi chúng ta chia tay với nàng đến nay, nàng đã đẫy ra, đã trở thành người thiếu phụ. Làn da trắng mịn trên khuôn mặt nàng vẫn còn lưu vẻ con gái, nhưng cái ánh mắt tinh nghịch xưa kia đã không còn cười trong đôi mắt bồ câu dịu dàng. Gương mặt nàng giờ đây đầy vẻ đôn hậu và thông minh một cách điềm tĩnh.
Đây, có hai cái áo đây, - nàng bảo người học sinh và trải ra bàn một cái áo đã hơi cũ bằng lụa Đamát [3] màu anh đào cùng một cái áo bằng vải lanh để mặc thường ngày.
- Cái áo lụa Đamát này đối với cậu còn hơi rộng đấy. Nhưng có thể vài tháng nữa cậu sẽ lớn ra là vừa.
- Xin cảm ơn, rất cảm ơn phu nhân tôn kính. – Người học sinh nói với một vẻ hơi thẹn thò và đỏ mặt lên vì vui thích.
- Tôi còn sửa cho cậu một vài chỗ. Nhưng dù sao từ giờ đến tối cậu vẫn còn nghỉ cơ mà. – Phu nhân nói và cầm cái áo lanh lên – Cái này vừa vặn đây. Chồng tôi đã mặc cái áo này lúc anh ấy đến Buđo. Hồi quân Thổ cướp thành Buđo và chúng tôi dọn theo hoàng hậu Lipa ấy mà.
- Xin cảm ơn phu nhân – người học sinh mừng rỡ nói – Tôi sẽ mặc nó để đi đường. Nó sẽ chẳng bắt bụi đâu.
Người thiếu phụ thò tay lục tất cả các túi. Cái nào cũng rỗng tuếch. Tuy vậy trong làn lót áo nàng vẫn cảm thấy có cái gì cồm cộm. Cái túi bị thủng. Êvo đưa ngón tay vào và tìm thấy trong làn áo lót một tờ giấy mỏng gập lại thành nhiều lớp.
Nàng nhìn rồi mở ra. Thì ra là bản vẽ của một hình năm cạnh, trên đó chằng chịt những đường nét và những dấu chấm.
- Cậu Mikơlôt ơi, cái gì thế này nhỉ? Một con rùa gì đây phải không?
Người học sinh cầm lấy hình vẽ. Lập tức cậu quay ngược lại, chăm chú nhìn rất lâu.
- Không phải rùa đâu. – cậu nói – mặc dù nó có hình thì giống thế.
Ngay lúc đó một chú bé mắt đen, sáu tuổi từ trong phòng chạy vụt ra. Bên sườn chú đeo lủng lẳng một thanh kiếm nhỏ rất đẹp, cán mạ vàng. Lớp nhung bọc ngoài bao kiếm đã sờn.
- Mẹ ơi, - chú nói – mẹ đã hứa mua cả kèn cơ mà, kèn mạ vàng ấy.
- Iontsike của mẹ, bây giờ đừng quấy mẹ. Chạy ra vườn mà chơi đi con, ra chỗ Luxo ấy.
- Rồi mẹ mua kèn vàng chứ mẹ?
- Nhất định rồi.
Chú bé kẹp thanh gươm vào giữa hai chân, chạy nhong nhong xuống sân ra vườn.
- Rõ ràng đây là bản đồ của một tòa thành, mà lại là của thành Eghe – người học sinh nói, mắt vẫn không ngừng chăm chú nhìn tờ giấy.
- Của thành Eghe à?
- Đúng thế. Phu nhân xem đây: con rùa này có một nét đôi bao xung quanh. Nét đôi này là tường thành. Đầu rùa và bốn chân của nó là năm pháo đài nhô ra. Những hình tứ giác vẽ bằng nét mảnh bên trong nó là những ngôi nhà.
- Thế còn cái hình lưỡi liềm ở cạnh con rùa ấy đây là cái gì?
- Thành ngoài đấy. Trong thành ngoài không có nhà cửa cũng như ở các thành ngoài khác, chỉ có hai pháo đài và trên đó là hai vọng lầu.
- Còn cái ngoặc màu đen nối từ giữa cái liềm tới con rùa này?
- Đây là cổng tối.
- Tại sao lại tối?
- Vì nó ở ngầm dưới đất.
- Và cái này, bên cạnh cổng đây?
- Chuồng ngựa đấy ạ.
- Chuồng ngựa mà to như thế à?
- Ở đây cần phải có chuồng to, phu nhân tôn kính ạ. Vả lại chỗ đó chắc hẳn còn có cả nhà xe và nhà ở của mã phu nữa. Người giữ chìa khóa cổng thành cũng ở đây.
- Thế còn cái chấm chấm bên cạnh cổng này?
- Cái này trước kia vốn là nhà thờ. Đó là cái nhà thờ mà Thánh vương Isotơvan[4] đã xây dựng. Một nửa nhà thờ đã bị phá cách đây chưa lâu lắm: vừa chẵn mười năm nay.
- Tiếc quá nhỉ.
- Quả thực là đáng tiếc. Nhưng hỏi vì sao người ta đào cái hào mới đi qua giữa nhà thờ và xây nên cái thành ngoài này. Cần thiết phải làm như vậy vì đó là mặt yếu của tòa thành.
- Làm sao cậu biết được điều đó hở cậu Mikơlôt?
- Sao tôi lại chả biết. Tôi đã từng ăn học ở đó hai năm. Hồi đó tất cả mọi người đều nói về chuyện này. Hồi đó cũng là lúc người ta đang xây cổng tối.
- Nhưng ở mặt tây, bên cạnh con suối cũng có một cái cổng nữa đây này.
- Cả mặt nam đây cũng có một cổng nữa. Thành này có ba cổng cả thảy.
- Thế còn những đường gạch đỏ này?
Người học sinh đọc những dòng ghi chú rồi lắc đầu:
- Đó là những con đường ngầm.
- Nhiều đường ngầm đến thế cơ à?
- Vâng, nhiều, nhưng không phải tất cả đều còn có thể đi lại được đâu.
- Và những hình tứ giác giống như những căn phòng này?
- Đó là những phòng xây ngầm dưới mặt đất. Cái này là bể nước. Còn cái này là nghĩa địa.
- Nghĩa địa à? Giữa những đường ngầm à?
- Phải thế mới đúng, vì đây, chữ ghi trên con đường ngầm này đây: đường xác.
Người thiếu phụ rùng mình, nàng bảo :
- Đem chôn người chết vào đây thì thật là quái gở.
- Chỉ cái hồi bị nạn dịch tả thôi, - Người học sinh trả lời – Bây giờ tôi đã nhớ ra tôi có được nghe nói về việc đó.
- Ồ, thế mà cậu chả đến sớm hơn ít nhất là hai tuần, cậu Mikơlôt ạ.
- Sao vậy, thưa phu nhân.
- Nếu cậu đến sớm hơn, tôi đã tìm áo cho cậu sớm hơn. Nếu tôi tìm áo sớm hơn, tôi đã tìm thấy bản đổ này sớm hơn. Chồng tôi vừa đi đến chính chỗ đó : thành Eghe.
- Tôi nghe nói quân Thổ đang nhằm vào chỗ ấy.
- Thì chính vì vậy mà chồng tôi đến Eghe. Giá mà cha tôi đừng có đi theo anh ấy thì tốt hơn. Cậu thử nghĩ mà xem : Một ông lão bảy mươi tuổi, tay, chân chắp bằng gỗ. Thế mà nhất định đi theo chồng tôi đấy !
- Để chiến đấu à ?
- Cả vì như thế nữa đấy. Nhưng cũng còn vì một ông bạn cố tri : giáo sĩ Balin. Một năm trước đây hai người bất hòa vì một câu chuyện gì đó. Lúc đó mẹ tôi hãy cùng sống cơ. Thế rồi giáo sĩ dọn đến Eghe ở Đôbô. Vì thế nên lần này cha tôi đi để giảng hòa ở giáo sĩ. Hai người vốn rất yêu thương nhau.
Trong khi kể câu chuyện đó, người thiếu phụ mở một cái hòm sơn xanh vẽ hoa và lấy ra một quyển sách nhỏ, quyển kinh thánh của nàng, cặp bản đồ của tòa thành vào đó. Rồi nàng nhìn ra vườn, nhìn đứa con trai đang chạy nhảy lăng xăng bên cạnh người đầy tớ tưới hoa.
- Thế nào rồi cũng có người ở Eghe đến đây. – nàng nói một cách đăm chiêu – Petơ Galpa có ông anh ở đây. Ông ta là người của nhà vua. Ông ta đã gửi vào thành một xe thuốc súng với cả đạn, chả là vì em ông ta ở đó. Nếu có sứ giả mang tin đến chỗ ông ta, tôi sẽ gửi cái bản đồ này cho chồng tôi.
Nàng cầm lấy kim chỉ và đặt cái áo lụa Đamát vào lòng.
Họ đang tiếp tục câu chuyện thì ngoài cổng có một người mặc áo choàng màu xanh sẫm bước vào, và khi khép cánh cổng lại, người ấy cất tiếng chào một người nào đó.
- Thôi chả dám làm phiền bác nữa. – người ấy nói – từ đây tôi đã có thể tìm được đến nơi.
Êvo đứng lên. Nàng nghe giọng nói rất lạ và cả con người ấy nữa cũng vậy.
Muốn lên hiên phải bước lên ba bậc tam cấp. Đến chỗ đó người khách lạ ngửng đầu lên. Đó là một người lực lưỡng, nước da ngăm đen, chột mắt. Bộ ria để theo kiểu kỵ binh. Tay người ấy cầm một cây gậy giống như gậy của các ông xã trưởng thường dùng.
- Chào bà! – Người ấy chào chủ nhân – Người ta bảo ngài trung úy Đônemixo Gergey tôn kính ở đây có phải không ạ ?
- Đúng đấy. – người thiếu phụ trả lời – nhưng anh ấy không có ở nhà.
- Thế ra ngài ấy đã đi rồi ư ?
- Đi rồi, đi Eghe.
- Ôi dào ơi, rõ tiếc quá đi mất ! – Người lạ lắc đầu – Đáng lẽ tôi có chuyện phải nói với ngài… Nhưng có lẽ bà vợ của ngài cũng…
- Tôi là vợ anh ấy đây. Mời ông vào nhà đã.
Người ấy bước lên tam cấp, ngả mũ ra và nghiêng mình thi lễ rất cung kính.
- Tên tôi là Bôlôc Tomat, quý tộc ở Rêpholusi.
Bằng vào cách nghiêng mình của người ấy cũng có thể thấy được rằng ông ta không phải kẻ quê mùa.
Với vẻ mặt hiền lành, người thiếu phụ kéo từ dưới bàn ra một cái ghế và giữa chừng, nàng giới thiệu người học sinh:
- Đây là học sinh Rêdơ Mikơlôt. Cậu ấy sửa soạn đi học ở nước ngoài đấy. Anh cậu ấy phục vụ trong quân đội nhà vua và quen biết chồng tôi, vì thế cậu ấy đi qua đây bằng xe trạm và rẽ vào đây nghỉ lại.
- Cậu Trời phù hộ cho câu, cậu em ạ. – Người chột nói mà không hề chìa tay cho người học sinh.
Người ấy ngồi xuống và lại "ôi dào ơi" rồi vừa vỗ tay lên đầu gối vừa nói:
- Tôi đi đến đây đi phiên chợ ngựa, và lẽ ra tôi có nhiều việc với ngài trung úy lắm. Trong số những việc đó, đáng lẽ tôi mang cả tiền đến cho ông nhà nữa.
- Tiền ư? – Êvo ngạc nhiên hỏi.
- Người ta bảo ông nhà đang cần tiền, chả là ngài đi Eghe nên có bán một ít đồ vàng, đồ bạc.
- Chúng tôi chả có bao nhiêu.
- Tôi rất thích các loại nhẫn. – Người ấy nói và đưa tay lên. Trên tay trái của y lấp lánh mười cái nhẫn rất đẹp. Có thể cả bàn tay phải cũng đeo nhẫn nhưng nó bị cái găng tay màu tro che kín mất.
Người ấy nói tiếp:
- Và tôi nghe nói ông nhà có một cái nhẫn tuyệt đẹp thì phải.
- Có đây. – Người thiếu phụ mỉm cười đáp.
- Một cái nhẫn có nạm hình mặt trăng.
- Và có sao.
- Mặt trăng bằng hoàng ngọc.
- Mấy ngôi sao bằng kim cương. Nhưng làm sao mà ông anh biết được điều đó?
- Tôi có thể xem cái nhẫn ấy được không nhỉ? – Người ấy hỏi. Và giọng của người ấy run lên.
- Không thể được. – Người thiếu phụ đáp – Chồng tôi lúc nào cũng bỏ trong túi. Nó là một cái nhẫn khước thế nào ấy. Trước kia nó vốn là của người Thổ.
Chú bé Iontsi đã lại lạch cạch ở ngoài sân. Phốc một cái chú nhảy lên bậc tam cấp và khi trông thấy người khách lạ, chú giương mắt nhìn với cái vẻ ngạc nhiên thường quen của con trẻ.
- Chào bác đi con. – Người thiếu phụ nói.
- Con trai ngài trung úy đấy ư? – Người khách lạ hỏi – Nhưng tôi hỏi cái gì thế kia nhỉ, thật cứ giống như đúc?
Người ấy kéo chú bé về phía mình và hôn chú.
Một đợt sóng cảm giác khó chịu tràn qua lòng bà mẹ. Ôi trái tim người mẹ cảm biết được ai là người thế nào khi người đó giơ tay chạm vào con cái họ!
Nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua, nàng đã quên ngay trong nháy mắt.
- Mẹ chưa mua kèn ư? – Chú bé hỏi.
- Tôi đảo qua chợ một cái đây. – Người học sinh nói – Tôi dẫn cháu Iontsi đến chỗ người đánh xe của tôi và cho chú ta xem con ngựa non.
- Vâng. – người thiếu phụ đáp – có một đồng đena đây. Nhờ cậu mua kèn cho cháu. Nhưng cậu nhớ chú ý đến nó nhé, Mikơlôt. Con nữa, Iontsi bé bỏng của mẹ ạ… Con biết bố đã dặn gì chứ!
Rồi nàng quay sang ông Tomat, buồn rầu mỉm cười:
- Anh ấy đã dặn đi dặn lại chúng tôi phải chú ý cẩn thận đến thằng bé.
Chú bé vui thích nhảy như choi choi và đi theo người học sinh.
Bà mẹ còn gọi với theo họ:
- Cậu nhớ đi gần nhà thờ ấy nhé, Mikơlôt. Chúng tôi cũng ra ngay bây giờ đấy.
- Trước đó nàng quả đã sửa soạn để đi ra chợ. Nàng muốn mua một vài thứ lặt vặt ở hàng của mấy thương nhân thành Viên.
Ông Bơlôc Tomat lơ đễnh xoay xoay cái mũ rồi ngồi thừ người.
- Bác có biết tin gì về Xônnốc[5] không? – Người thiếu phụ đưa đôi mắt lo âu hỏi – Quân Thổ không hạ nổi cái thành ấy đâu nhỉ?
- Tôi cũng nghĩ vậy. - Bơlôc Tomat lơ đễnh trả lời.
- Khi từ biệt tôi, chồng tôi cũng bảo rằng trong năm nay quân Thổ khó hề mà đến được thành Eghe. Năm ngoái người ta đã củng cố thành Xônnốc rất nhiều. Nó còn kiên cố hơn cả Eghe.
- Kiên cố hơn nhiều.
- Và nếu nó có thất thủ đi chăng nữa, toàn thể vùng Thượng địa sẽ bảo vệ Eghe.
Bơlôc Tomat nhếch mép cười, và ngước lên hỏi:
- Ở nhà đây có bức chân dung nào của ngài trung úy không ạ?
- Có đấy. Một họa sĩ Đức vừa vẽ cho năm ngoái.
- Phu nhân tôn kính có thể cho tôi xem một chút được không ạ? Tôi đã được nghe đồn nhiều chuyện tốt đẹp về ông nhà, tôi ao ước được biết ngài.
- Thế bác chưa quen biết nhà tôi à? – Êvo ngạc nhiên hỏi.
- Đã có một lần, nhưng lâu lắm rồi tôi chưa gặp lại ông nhà.
Người thiếu phụ đưa khách vào phòng. Căn phòng tối và đầy mùi oải hương, nhưng sau khi người thiếu phụ mở các của sổ thì có thể thấy đó là căn phòng khách. Sàn nhà trải những tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ, một cái đi văng lót da gấu đặt cạnh tường. Trước cửa sổ là cái bàn viết và một tủ sách với rất nhiều, có lẽ đến hàng trăm quyển sách bìa da. Trên tường treo nhiều bức chân dung. Chân dung của ông lão Xexey vẽ từ hồi ông còn đội mũ sắt, da rám màu nắng gió. Bà Xexey nhìn hơi nghiêng, đầu thắt đầy nơ thêu kim tuyến. Rồi đến một bức tranh vẽ Jêxu đã ngả vàng, lồng trong khung gỗ hồ đào: gương mặt tinh nghịch của một thiếu nữ giống phu nhân Bônemixo bây giờ và bên cạnh là chân dung chồng nàng, một người trai trẻ, khuôn mặt gầy và đen, gần đen như dân Xigan. Vẻ thông minh, vui tươi toát ra từ đôi mắt nhìn thẳng. Ria mép vẽ xoăn tít, bộ râu mới để viền quanh cằm, tóc xõa ngang vai.
Ông Tomat chăm chú nhìn bức chân dung và gật gù:
- Con người khôi ngô thật. Không hay ngài độ bao nhiêu tuổi?
- Hai mươi sáu tuổi rồi.
- Thế mà ông ấy đã có con trai lớn ngần ấy.
- Chúng tôi lấy nhau đã tám năm rồi. – Người vợ trẻ mỉm cười trả lời – Khi cưới nhau chúng tôi vẫn còn trẻ con lắm.
Ông Tomat lại nhìn vào bức tranh.
- Ngài dũng sĩ cũng đã có lần đến Côngxtăngtinôp có phải không ạ?
- Đúng đấy. Tôi cũng đi cùng anh ấy.
- Tôi có một bạn quen người Thổ, ông ta nói chuyện về ông nhà. Bêi Monđô, một người hộ Pháp, ngài dũng sĩ nhà ta, đã có lần đối xử rất ân cần với ông ấy.
- Bêi Monđo? Tôi không bao giờ nghe anh ấy nói đến cái tên này.
- Tất nhiên. – ông Tomat gật gù nói – trước kia ông ấy tên là Hoivan.
Êvo mỉm cười:
- Hoivan? Thế thì tất nhiên là chúng tôi có biết. Tôi cũng đã từng thấy ông ta.
Tomat lại ngước nhìn bức tranh một lần nữa và im lặng nhìn rất lâu, với đôi lông mày nhíu lại, dường như không bao giờ còn muốn quên khuôn mặt đó nữa. Ông ta gật gật đầu với bức tranh như muốn gửi lời chào rồi cúi đầu chào nữ chủ nhân và đi giật lùi ra cửa.
Người thiếu phụ lại thấy cái cảm giác khó chịu ban nãy truyền khắp cơ thể, y như khi ông Tomat chạm vào người con trai nàng. Tuy vậy nàng vẫn tiễn người khách ra đến tận tam cấp.
Người ấy lúc nào cũng đi bên phía tay phải nàng, đó là lề thói kẻ quê. Người ấy nghiêng mình chào, đó là bộ điệu quý tộc. Lại đi giật lùi qua cửa, cái đó là tập quán Thổ Nhĩ Kỳ.
Người thiếu phụ thấy bồn chồn không yên, nhưng lập tức nàng lại tự trách mình:
- Ta không nên nghĩ xấu về một người bất hạnh. – Nàng nói và ngồi xuống để tiếp tục chữa cái áo – Ông ấy chột mắt cho nên ta nhìn thấy khó chịu mà thôi.
Để xua đuổi tâm trạng bồn chồn ra khỏi ý nghĩ, nàng cất tiếng hát. Nàng hát theo bài hát của người đầy tớ ngoài vườn và những ngón tay nhanh nhẹn của nàng thoăn thoắt đơm lại mấy cái cúc đã lỏng trên chiếc áo lụa Đamat màu anh đào. Cái áo có một chỗ đã sờn thủng. Nàng bèn tìm chỉ lụa đỏ để mạng lại.
Nhưng hình ảnh người khách cứ lởn vởn không chịu ra khỏi đầu nàng.
- Người này là ai nhỉ? – Nàng buông cái áo lên đùi và tự hỏi.
Cái nhẫn, việc xem chân dung, việc nhắc đến Hoivan, cái cách đi giật lùi kiểu Thổ.
- Người này là ai?
Nàng ngẩng khuôn mặt đã biến sắc nhìn chăm chăm vào cánh cổng đã cài then và căng thẳng tất cả mọi sợi dây thần kinh nào để mong nhận được câu trả lời. Nàng đã bắt đầu cảm thấy cái mặt, cả giọng nói đều có vẻ quen quen, nhưng không biết là quen ở đâu. Cái nhẫn quay cuồng trong óc nàng. Gergey có nói là mang đi, nhưng anh ấy cất trong cái áo gilê mặc thường ngày. Anh ấy có đem cái gilê ấy đi không nhỉ?
Nàng vội chạy đến tủ áo và lục tung tất cả quần áo ra. Cái gilê vẫn còn ở đây. Nàng sờ ngay vào túi: có cái gì cưng cứng ở bên trong. Cái nhẫn! Cái nhẫn! Anh ấy cũng chẳng gói vào giấy nữa.
Và lúc đó, như một tia chớp vụt qua đám mây, một cái tên lóe lên trong óc nàng. Nàng đập tay lên trán:
- Yumusac!
Người đầy tớ lúc đó từ ngoài vườn đi vào. Cô ta thấy bà chủ ngã ngửa người giữa đống quần áo vất lộn xộn trước tủ áo, mặt tái nhợt, mắt quần lên.
- Bà ơi!
Bà chủ không trả lời.
Người đầy tớ nhìn quanh, rồi chạy cả sang phòng bên cạnh, cô ta cảm thấy có chuyện ăn cướp vừa xảy ra.
Cuối cùng cô đầy tớ mới nghĩ đến chuyện vớ lấy chai dấm đưa cho chủ ngửi và xoa bóp cho chủ.
- Chồng ta đang gặp tai biến. – Đó là lời nói đầu tiên của Êvo – Thằng bé đâu rồi ? Đúng rồi, ta đã cho phép nó đi chơi. Mau đưa cái áo khoác đây cho ta. Luxo! Ta đi tìm Iontsi đi!
- Nhưng bà đang ốm như thế này, thưa bà…
- Ta không ốm. – Êvô đáp, mặc dù người nàng tái nhợt như xác chết.
Rồi cứ mặc nguyên như thế, nàng đứng dậy và vội vã ra cổng. Cảm giác bị tai biến đe dọa đã khiến gân cốt nàng cứng cáp. Nàng vừa đi vừa chạy, thẳng đến nhà thờ.
Phố xá nhộn nhịp người kẻ chợ đi lại. Xe cộ, bơ sữa, những con lợn ủn ỉn ở đâu đây và giữa đám súc vật là người các vùng quê chở nặng những chậu, những thùng. Cái ồn ào của chợ phiên, bụi, mùi hành…
Người đầy tớ đuổi kịp nàng ở trước nhà thờ và khoác áo lên vai chủ.
Bỗng ngươi học sinh cũng hiện ra từ trong đám đông. Anh ta vừa chạy vừa chen lấn mọi người đến chỗ nàng và kêu lên:
- Xônnôc đã bị quân dị giáo chiếm mất rồi! Người ta đã thông báo trước nhà thờ. Làm sao tôi còn có thể ra đi trong lúc này được nữa…
- Con tôi? – Êvo quát hỏi – Cậu bỏ nó ở đâu?
- Ông Tomat dẫn nó vào trong nhà thờ. Ông ấy bảo tôi về báo cho phu nhân biết trong khi ông ấy cầu nguyện. Ôi, Chúa tôi, Chúa tôi! Đất nước thế là mất hết! Nếu Xônnôc cũng đã về tay quân Thổ thì Eghe không thể nào đứng vững được.
- Thằng bé… thằng bé! – Êvo hổn hển kêu lên và lao lên bậc thềm nhà thờ, chạy xộc vào cửa chính qua giữa đám người đông đúc.
- Con tôi! Con tôi! – Nàng gào lên dù đã đứt cả hơi.
Trong nhà thờ mọi người đang đọc vang bài kinh cầu tế độ, những nông dân gốc người Đức ở các làng lân cận lanh lảnh hát lên bài kinh bài tiếng Đức:
Christus, hóre uns! Christus, hóre uns! Herr erbarme Dich unser ![6]
Người thiếu phụ vừa kêu khóc vừa băng qua giữa bọn họ như một người điên :
- Iontsi ! Iontsi con ơi !
Nhưng chú bé Iontsi không đáp lại từ dãy ghế nào hết.
2
Ngày mồng năm tháng Chín, Gergey chào vừng dương mới mọc trước thành Sirôki. Mặt trời chiếu thẳng vào mắt chàng và mắt hai trăm rưỡi lính bộ của chàng. Và thực ra cũng không phải chàng chào mặt trời mà vì thấy một lữ đoàn khác đang tiến ngược lại nên chàng đưa tay lên vành mũ che mắt để nhìn cho rõ.
Chỉ một mình chàng cưỡi ngựa trước đoàn quân, vì vậy chàng trông thấy trước nhất cái đội quân mang gươm, đao, hàng ngũ lộn xộn kia.
Cái quái gì thế này nhỉ ? – Chàng lầm bầm một mình – Thổ không phải Thổ; còn Hung nếu là Hung thì không thể lại từ phía Eghe đi đến đây được.
Một ý nghĩ run rẩy xuyên qua tim chàng : hay là Đôbô đã bỏ Eghe.
Bởi vì than ôi, cái ông vua Phenđinan[7] ấy lúc nào cũng chỉ tiếp viện bằng mồm. Vì thế mà năm nay Lipa, Temétva đã mất. Còn Xônnôc nữa, ai biết được nó có thể đứng vững nổi hay không ? Đôbô là một người thông minh, giỏi tính toán như thế, chắc chắn sẽ mau lẹ nhân hai với hai ra bốn mà biết được rằng một người Hung không thể nào đương nổi một trăm tên Thổ.
Dọc đường đến đây chàng chẳng thấy gì khác ngoài những dòng, thầy tu, giáo sĩ ngất ngểu trên xe. Tất cả đều từ phía Eghe đến! Và người nào cũng chất đầy quanh mình nào bao tải, nào những hòm xiểng to. Lúc đầu chàng còn chào hỏi họ, nhưng về sau chàng đã chán ngấy họ và chẳng thèm tránh đường cho họ nữa.
Vì thế, chàng giật thót mình trong một thoáng, sợ Đôbô đã bỏ thành Eghe. Nhưng chỉ trong một thoáng thôi. Trong nháy mắt chàng đã vội xua đuổi ý nghĩ đó. Chú ấy không phải hạng người như thế! Trong đám người đang tiến lại kia có thể có bất cứ ai, nhưng quyết không có Đôbô. Nếu đó là quân sĩ của Đôbô chẳng nữa thì cũng không có Đôbô đi cùng. Chú ấy sẽ một mình ở lại đó và thà chết một mình, nhưng có một điều lịch sử sẽ không thể viết về chú ấy, là chú ấy đã rời bỏ thành trì được giao phó.
Đoàn quân cuốc bộ ngược chiều với chàng không có cờ, hoặc nếu có thì cũng đã cuốn lại để trên một cái xe nào đó. Bọn họ có khoảng hai trăm người và vội vàng rảo bước thành từng tốp nhỏ.
Gergey, vẫy gọi Xexey, ông lão cưỡi ngựa đi cuối đoàn quân đang và đang trò chuyện với một người lính già. Ông lão lúc nào cũng nói chuyện. Thấy con rể vẫy; lão thúc ngựa chạy lên, Gerget bảo bố :
- Con đi lên trước một tí.
Chàng thúc cựa giầy vào hông ngựa và tiến đến trước đoàn quân lạ. Chàng đưa mắt tìm viên chỉ huy, nhưng giữa bọn họ không có ai đội mũ cắm lông cả. Chàng bèn dừng lại trước mặt họ và giơ gươm lên ra hiệu cho họ dừng lại.
- Các người là lính ở Koso đấy à ?
Không một ai trả lời. Họ bối rối nhìn chàng. Một vài người còn đỏ mặt lên.
- Các người ở đâu đến ?
Cũng chẳng ai đáp lại.
- Thế nào ! – Gergey cáu tiết quát lên – Chẳng lẽ chúng mày là quân lính của bọn giáo sĩ cả hay sao đây ?
Cuối cùng một người vạm vỡ, cằm rộng ngửng đầu lên và cất tiếng nói :
- Thưa ngài trung úy, vâng, chúng tôi là dân Koso và chúng tôi đến đây từ chỗ mà ngài trung úy tôn kính đang định đến đấy ạ.
- Từ Eghe ?
- Vâng ạ. Nhưng giá ngài trung úy đừng nhọc xác đến đó nữa thì hơn. Không đáng đâu ạ. Rồi ngài cũng đến phải quay trở lại thôi.
- Tại sao thế ? Có chuyện gì thế ?
- Chuyện gì ấy ạ ? Thì chỉ có chuyện là con dê nào điên mới nhảy xổ vào mũi dao nhọn.
- Dao gì ?
- Ngài đã biết thành Temêtva kết cục thế nào chưa ạ ?
- Ta biết rồi.
- Ngài đã biết quân Thổ đóng đến hai mươi vạn tên chưa ạ ?
- Cái đó ta cũng biết rồi.
- Thế ngài có biết là ngài Đôbô chưa có được đến một nghìn lính không ạ ?
- Còn có thể thêm được ngần ấy nữa.
- Thế ngài đã biết thành Xônnôc từ hôm kia đã thuộc về quân Thổ chưa ạ ?
Gergey tái mặt.
- Bây giờ thì chuyện đó ta cũng đã biết. Ta còn biết thêm rằng giá các người mà ở đó thì nó còn thất thủ sớm hơn nữa cơ. Vậy các ngươi cứ cút về nhà đi. Và để các ngươi khỏi ra về tay không thì cho các ngươi đây, cái này phần tất cả các ngươi, đồ chuột chũi !
Chàng giáng cho người lính cằm rộng một cái tát mạnh đến nỗi hắn ngã dúi vào một đứa khác. Trong nháy mắt chàng đã tuốt kiếm ra và chắc chắn chàng sẽ chém xả vào giữa bọn họ nếu họ không nhảy tránh xuống vệ đường.
- Ta gửi lời chào Serêđi Giơrgiơ! – Chàng quát theo họ - Ta chúc cho ông ta có được những tên lính khá hơn các ngươi. Đồ chuột chũi !
Và chàng khạc nhổ về phía họ.
Bọn lính Koso càu nhàu tản ra cánh đồng. Gergey chẳng thèm nhìn về phía họ nữa. Chàng lại lên đường, và con ngựa của chàng, qua sức ép của đôi cựa giày, nó cảm biết chủ nó đang run rẩy trong cơn giận dữ.
Còn may mà chàng gặp một đoàn xigan ở dọc đường. Chẳng hiểu có phải bọn lính Koso đã nhào một cái xe của họ xuống cái rãnh bên đường hay tự nó lộn tùng phèo xuống đó, chỉ biết đám xigan đang hì hà hì hục khiêng nó lên.
Gergey ngoái nhìn phía sau xem đoàn quân của mình tụt lại có xa không, rồi để chờ họ, chàng dừng ngựa trước đoàn người xigan. Chàng nhìn họ để cho quên nỗi tức giận trong lòng.
- Ơ này. – Chàng đột nhiên kêu lên – Anh bạn Sakơđi !
Nghe tiếng gọi hiền từ, một gã xigan tóc rối bù nhoẻn cười hớn hở và bỏ mũ ra. Gã hơi cúi xuống mà tiến lại gần, giữa chừng cặp mắt láu lỉnh của gã không ngừng dò xét mặt Gergey.
- Thế anh không nhận ra ta ư ?
- Sao lại không ạ, thưa đại nhân, con xin hôn tay, hôn chân ngài. Lập tức con nhận ra ngài ngay ạ. Chỉ có cái là con không nhớ được tên ngài là gì ?
- A, rồi anh sẽ nhớ ra. Anh làm gì ở đây thế? Ta thấy anh tả tơi như một con bù nhìn giữ dưa ấy.
Gã xigan quả rách rưới quá. Trên người gã chỉ còn có cái áo trong với một cái quần da đã vá chằng chịt những mụn da hay có lẽ là một cái quần da và đầy những mảnh da thì đúng hơn. Ống chân gã hở cả ra ngoài. Dưới chân gã chẳng có giầy dép gì hết.
- Thế anh đã có ngựa chưa?
- Dạ, làm thế nào mà có được ạ, con xin hôn ống giầy của ngài, làm sao mà có được ạ. Sẽ không bao giờ có nữa ạ!
- Hãy theo ta đến Eghe, anh bạn ạ. Anh sẽ được phát cả ngựa nữa, nếu anh chịu phục vụ ở đây một tháng. Và ngoài ra ta sẽ cho anh một cái quần đỏ, đẹp đến nỗi tất cả mọi gã xigan đều sẽ phát ốm lên vì ghen tị.
Gã xigan hớn ha hớn hở, toét miệng cười. Gã nhìn vào bộ quần áo rách mướp của mình rồi lại ngước nhìn lên khuôn mặt con người vũ dũng và đưa tay gãi đầu.
- Đến Eghe à? Ở đấy sẽ nóng[8] lắm, thưa ngài.
- Anh đừng có sợ điều đó. Anh sẽ được làm việc dưới một pháo đài mát mẻ nhất. Ta sẽ bảo người ta trả công cho anh. Anh sẽ là người sửa chữa quân khí của ta.
Và chàng nói tiếp bằng tiếng Thổ.
- Allab isni raset geliaziin! (Cầu Thượng đế phù hộ cho công việc của anh)
Gã xigan nhảy cẫng lên.
- Bônemmixo Gergey, ngài trung úy vũ dũng của con! Trời ơi, con xin hôn cả chân ngựa của ngài nữa! Ôi, chả trách hồi đêm con mơ thấy chim sáo vàng.
- Nào, anh đã nhận ra ta rồi chứ.
- Rồi ạ! Rồi ạ! Thế nào con chả nhận ra cơ chứ, con xin hôn bàn chân mềm của ngài, con đã phải nhận ra ngay tức khắc, chỉ có điều con không biết là ai.
- Vậy anh đi với ta chứ?
- Đáng lẽ thì con đi đấy, trời ạ, chắc chắn là con đi đấy…
- Vậy ta đi !
- Chỉ giá mà cái bọn Thổ quỷ quái ấy nó đừng ở đó !
Và gã gãi đầu bằng cả hai tay.
- Nó đã có ở đấy đâu.
- Nhưng cái bọn cẩu trệ ấy sẽ đến đấy! Nơi nào mà lính tráng đi đi về về thế này thì thời tiết chẳng lành đâu ạ.
- Ta cũng sẽ ở đây, Sakơđi ạ. Chừng nào còn trông thấy ta thì anh đừng sợ. Vả lại, nếu ta có lâm vào thế bí, trong thành vẫn còn có đường ngầm dẫn đến tận Misơkônxơ[9]
Điều này Gergey chỉ nói bừa thế thôi, vì kể ra đường ngầm thì thành nào chả có. Nhưng về thành Eghe thì chàng chả biết gì ngoài một điều là có Đôbô làm đại úy trấn thủ ở đó và Mectsei là đại úy phó trấn, hai con người mà vì họ chàng sẵn sàng đến tận đầu non cuối biển.
Chàng hiểu việc nhắc đến con đường địa đạo tác động đến gã xigan, hay con ngựa, hay cái quần đỏ, hay vì lòng yêu mến Gergey – chỉ biết gã còn gãi đầu một tí tẹo nữa rồi đồng ý :
- Nếu quả thực con sẽ được trả công, lại được cấp cả quân phục, cả giầy ống da vàng có cựa, với lại một con ngựa tốt, thì dù có bị mù một mắt đi nữa cũng chẳng sao, thì con xin ưng thuận.
Lữ đoàn của Gergey lúc đó đã đến nơi, họ vừa cười vừa lắng nghe câu chuyện. Niềm vui càng rôm rả hơn khi Gergey chìa tay ra cho gã xigan và gã đập tay vào đó.
- Được rồi. – Gergey nói và thò tay vào túi. – Đây, đồng đêma này là để đặt cọc. Từ đầu đến Eghe anh có thể cưỡi con ngựa dự bị của ta. Đến đó rồi khi nào có ngựa bị chột, con đầu tiên sẽ là của anh.
Gã xigan vui vẻ nhảy lên mình ngựa và thúc gót chân trần vào sườn nó.
Đoàn xigan reo lên chúc đã gặp may. Gã cũng gọi to trở lại một câu gì đó bằng tiesng xigan rồi đẩy lệch mũ sang một bên và kiêu hãnh phóng ngựa bên cạnh Gergey với bộ ngực phanh trần.
- Ôi, Thượng đế đã phù trì cho công việc của con thịnh đạt quá!
Vài giờ sau, trên đường Bocto, giữa những dãy đồi và lùm cây, những ngọn tháp lợp ngói men xanh của thành Eghe đã lấp lánh trước mắt họ, và trên những đỉnh tháp phấp phới những lá quốc kỳ và những lá cờ hai màu xanh đỏ của thành phố.
Một toàn thành nguy nga! Xung quanh là những đồi nho rực đỏ, rực vàng và những dải rừng. Xa xa phía sau sừng sững một ngọn núi xanh, cao gấp độ sáu lần chiền núi Thành Genlê[10]. Gergey nhấc mũ lên và quay về phía lữ đoàn:
- Hãy trông kia kìa các cậu ơi! Bởi vì giờ đây Thượng đế nhân từ cũng đang tự trời cao trông xuống đó!
Rồi chàng thúc ngựa phi lên phía trước.
Gã xigan ngẫm nghĩ một lúc, không biết có nên ở lại vị trí đó, chỗ đầu đoàn quân, hay nên đi theo ngài trung úy của gã. Gã chợt thấy mình sẽ trở nên một thằng hề nếu lại dẫn đầu hàng quân, vì vậy gã lấy tay phát đen đét vào mông ngựa, hai gót chân thúc lấy thúc để vào bụng ngựa. Con ngựa nhảy lồng lên và tung gã xigan lên cao. Nhưng gã xigan đã lo tậu ngựa trong suốt cả cuộc đời không phải là vô ích, luôn luôn gã khéo léo rơi xuống đúng lưng ngựa.
Bụi nóng cuốn lên thành những đám mây mù mịt trên đường. Một đoàn người chạy loạn đã tung đám bụi đó lên. Phụ nữ, ông già bà cả và cả trẻ con, họ ngồi lên xe hoặc rảo bước bên cạnh những cỗ xe chất đầy đồ đạc và gà, vịt, ngan, ngỗng. Trên một vài con xe còn có cả những chú bê con rống “bê, bê”, trên vài xe khác lại có những con lợn kêu ụt ịt.
Quân Thổ không ăn thịt lợn, nhưng ai biết được bao giờ họ mới trở lại làng quê! Một vài người dắt theo những con bò cái. Một cô bé đi ủng đỏ mang theo cả lồng chim sơn tước bên cạnh xe; một phụ nữ lại cồng cái nồi đất trồng hoa hồng trên lưng; cây hoa hồng đang nở đầy bông. Bao nhiêu là xe, thực là một cuộc tản cư lớn. Chắc chắn một phần trong bọn họ sẽ không bao giờ còn trở lại. Đặc biệt là những người ở trong thung lũng và giờ đây đang vượt qua cổng Xiphơro đi về vùng Phennemét: những bần cố nông và những người vợ góa – họ sẽ ở lại vùng Thượng đại, nơi vó ngựa Thổ chưa từng in dấu. Nhưng đặc biệt, Koso mới là hướng chính của những người dân chạy loạn.
Song Gergey đã không để ý đến họ nữa. Chưa đầy mười lăm phút sau chàng đã cho ngựa tế vào cổng Bốclo, tức là cổng phía tây của thành phố, rồi, thỉnh thoảng mới ngước mắt nhìn lên, chàng phi qua chợ và rẽ lên cổng thành.
Bức tường chỗ đó trắng toát, mới đến mức hầu như còn hăng mùi vôi nữa.
Cái cầu treo đã buông sẵn xuống. Gergey vút vào thành như một cánh chim và phi ngược lên giữa những cây cổ thụ, chàng đưa mắt tìm ngài đại úy.
Đôbô đứng trên quảng trường trong thành, trong bộ quần áo nhung màu tím, lưng đeo gươm, chân dận ủng đỏ, cái mũ nhung cắm lông đại bàng cầm trong tay. Cạnh ông có một võ đồng tóc vàng hoe đang ôm trong cánh tay hai lá cờ: một lá quốc kỳ và một lá màu xanh – đỏ. Ông giáo sĩ già Balin đứng phía bên kia Đôbô, trong bộ áo lễ trắng tinh, cổ quàng khăn lễ, mặc quần đen. Tay ông cầm một cái tượng chịu nạn[11] bằng bạc. Với bộ râu dài đã bạc trắng, trông ông như một nhân vật tiên tri trong kinh Cựu Ước.
Họ vừa làm xong lễ tuyên thệ cho quân sĩ. Đôbô nói với quân sĩ mấy câu gì đó rồi đội mũ lên và quay về phía con tuấn mã đang rồn rập phi đến.
Gergey nhảy xuống ngựa và với cặp mắt long lanh, chàng tuốt kiếm giơ lên chào.
- Báo cáo, thưa ngài đại úy vũ dũng, tôi đã đến nơi.
Đôbô đứng ngẩn ra nhìn. Ông đưa tay xuống vuốt bộ râu xám viền quanh cằm, bộ ria mép dài rung rinh, rồi lại ngẩn ra nhìn.
- Thưa đại úy, ngài không nhận ra có phải không ạ? Đã tám năm nay chúng ta không gặp nhau. Tôi là lính trung thành nhất của ngài: Bônemixo Gergey.
- Gergey hiền tử! – Đôbô kêu lên và dang rộng hai tay – Hãy ngả đầu vào lòng ta, con ơi! Ta đã biết là anh không bỏ ta!
Và ông ôm chầm lấy chàng tráng sĩ mà hôn.
- Thế nhưng anh chỉ đến một mình thôi ư?
Đúng lúc đó con ngựa của Sakơdi nhảy cỡn vào, vừa nhảy vừa tung gã xigan chân đất, rách rưới lên cao đến hàng nửa cánh tay.
Quân sĩ cười vang.
Đôbô cũng mỉm cười:
- Chẳng có lẽ đây lại là đội quân của anh?
- Đâu có. – Gergey vừa cười vừa đáp – Đây chỉ là gã xigan chữa súng của tôi. Tôi đưa anh ta đến đây có lẽ cũng tốt chứ ạ?
- Ở đây mỗi người đều quý như vàng. – Đôbô đáp và rút tay ra khỏi gã xigan để gã khỏi hôn.
Nhưng không thể tránh thoát được gã xigan, gã sụp xuống hôn lên ống giầy của đại úy.
- Các anh đến đây bao nhiêu người tất cả? – Đôbô sốt ruột hỏi.
- Không nhiều đâu ạ. – Gergey xấu hô trả lời – Người ta chỉ giao cho tôi có hai trăm rưỡi bộ binh tất cả.
Mắt Đôbô sáng ngời lên.
- Hai trăm rưỡi ư? Con ơi, giá như tất cả mỗi nơi đều giúp ta được ngần ấy chiến sĩ thì ta sẽ tiếp đón bọn Thổ ngay trên cánh đồng Mokola kia đấy.
- Thế viện binh không đến ư?
Thay câu trả lời, Đôbô khoát tay vào không khí, rồi ông quay sang phía các sĩ quan đứng vây xung quanh giới thiệu Gergey với họ. Từ phía quân đội hoàng gia đã có Zôntoi đến đó, người mà Gergey đã làm quen ở Buđo mười một năm về trước. Bây giờ tóc anh ta cũng vẫn vàng hoe và anh vẫn dong dỏng cao, vẫn vui nhộn như trước, và anh vẫn chưa để râu, nghĩa là vẫn chưa vợ.
Ở đó còn có Petơ Gatpa, một người tầm vóc nhỏ nhắn có đôi tay rất nhanh nhẹn, cũng từ chỗ quân đội hoàng gia đến đây với tước hiệu đại nhân. Đứng cạnh Petơ là một chàng trai trẻ có khuôn mặt dài và đôi mắt xanh, chàng ta cũng xiết tay Gergey một cách nồng nhiệt:
- Tôi là Phuygheđi Gianốt, trung úy của giáo khu.
Gergey nhìn anh ta:
- Trông cậu quen quá, cậu em thân mến ạ!
Anh ta nhún vai, mỉm cười:
- Tôi không nhớ.
- Không phải cậu đã cho tôi một miếng tai bò ở Giolu hay sao ?
- Chứ còn gì nữa. Cái lúc mà đáng lẽ đã là đám cưới Phuyriét ấy, ở đằng sau chỗ sân nhà bếp.
- Có thể, bởi vì quả thực ở đó tôi đã phân phát cho các võ đồng đủ mọi thứ.
- Tôi hy vọng rằng ngày nay tôi sẽ có dịp đền đáp lại.
- Thế là thế nào ?
- Để trả nợ miếng tai bò ngày ấy, cậu sẽ được tặng một cái tai basa.
Rồi Gergey quay sang hỏi Petơ :
- Còn cậu cớ sao mà tiu nghỉu thế ?
- Làm sao tôi không buồn cho được khi hai chục kỵ binh của tôi đã lỉnh mất ở dọc đường. Chà, chúng nó cứ thử gặp phải tôi một lần nữa!...
- Cậu đừng ân hận làm gì. – Đôbô nói và khoát tay – Cửa mở đấy, kẻ nào lo cho cái mạng của hắn thì cứ việc mà đi đi. Ta quả thực không cần đến những loại thằn lằn lên mặt lũy!
Chỉ đến lúc đó Gergey mới trông thấy giáo sĩ Đalin. Đã một năm nay rồi chàng chưa gặp. Chàng ôm hôn ông lão.
- Thế cha đáng kính của con không đi cùng các giáo sĩ khác ư ?
- Thì cũng phải có một người nào đó ở đây chứ. – Ông lão ồm ồm nói – Xexey làm gì ?
- Thầy con cũng đến đấy ! – Gergey đáp, gần như kêu lên – Bọn trẻ thì bỏ trốn đi, còn các ông lão lại mang gươm đến. Rồi các bạn sẽ thấy ông bố già tay gỗ của tôi múa gươm như thế nào !
Từ trong bóng râm của nhà thờ, một người thấp bé, cổ ngắn tịt bước ra. Thanh gươm bản rộng bằng cả bàn tay đập lách cách vào ống giầy đi ủng. Người ấy cùng đến với một ông lão có dáng đi nhanh nhẹn; từ xa đã vẫy và cười với Gergey.
Đó là Mectsei.
Từ khi chia tay với Gergey đến giờ, anh đã để râu và lại càng giống một chú bò tót hơn. Mặt đất dường như rung chuyển dưới bước chân anh.
- Ra anh đã cưới vợ rồi ư ? – Gergey hỏi sau khi đã ôm choàng lấy nhau đến lượt thứ ba.
- Chứ gì nữa ! – Mectsei đáp – Tớ đã có cả một cô bé Sariko nữa.
- Anh lấy ai đấy ?
- Nàng tiên có đôi mắt xanh nhất trời.
- Ai thế ?
- Xunhôgơ Exte.
- Muôn năm! Thế còn thanh gươm đầu rắn tuyệt đẹp của anh đâu rồi ?
- Vẫn còn, nhưng ngày thường tớ chả làm mòn nó làm gì.
- Bây giờ chị ấy và cháu gái ở đâu.
- Tớ đã gửi họ tới thành Buđetin cho đến khi nào ta chưa đánh chết bọn Thổ.
Anh nhìn sang Đôbô rồi lại tiếp :
- Tớ đã có bảo với ông già là ta đừng gửi vợ con ta đi, nhưng ông ấy lo lắng cho bà Sara của ông ấy như là lo cho một đứa trẻ, thế là chúng tớ gửi họ đi. Chỉ với bọn Thổ chúng ta cũng đã đủ bận rộn rồi.
Tiếng báo cáo của người quản lý cắt đứt câu chuyện của họ. Ông lão mở ra một tờ trình trước mặt Đôbô và đưa ra xa cặp kính rồi đọc :
- Vậy có: cừu 8050; bò đực, bò cái, bò con, tóm lại là bò thịt: 468; lúa mì, lõa mạch và bột tổng cộng 11671 hộc[12], đại mạch và kiều mạch 1540 bó.
Đôbô lắc đầu :
- Sẽ ít đấy, bác Sukan ạ.
- Thưa đại úy, riêng tôi cũng đã nghĩ như vậy.
- Nếu bọn Thổ hãm ta ở đây vào mùa đông, ta sẽ lấy gì cho ngựa ăn?
Ông lão nhún vai :
- Thưa đại úy, thế thì đến phải cho ngựa ăn bánh xipô, cũng như cho quân sĩ vậy thôi ạ.
- Rượu vang có bao nhiêu ?
- 2215 thùng.
- Khoản ấy rồi cũng thiếu đấy.
- Nhưng ít nhất còn được rượu cũ. Năm nay chó ăn mất mùa nho rồi. Bia cũng còn một vài thùng bộng.
- Lợn?
- 139 lợn sống. Thịt ướp 215 sườn.
Đáng lẽ Bônemixo còn quan tâm nghe tiếp bản báo cáo đó, nhưng chàng sực nhớ đến lữ đoàn của mình. Chàng lại lên ngựa và chạy ra cổng để dẫn họ vào.
Chàng dẫn đoàn quân vào giới thiệu với chủ tướng. Đôbô bắt tay người lính cầm cờ rồi giao cho Mectsei làm lễ tuyên thệ cho họ và chỉ chỗ cho họ ở, cũng như sai dọn bữa sáng cho họ. Ông bảo Gergey:
- Anh cũng vào nhà ta đi. Cái nhà gác màu vàng đằng kia kìa. Nhớ ăn lấy một chút gì nhé.
Gergey đi, nhưng dù sao tòa thành vẫn khiến chàng quan tâm hơn, chàng bèn cho ngựa tế quanh một vòng.
- Tòa thành đẹp tuyệt! – Chàng kêu lên khi trở lại chỗ Đôbô – Nếu mai sau có bao giờ tôi trở thành quan trấn thủ, xin Thượng đế hãy cho tôi được lập nghiệp ở đây.
- Anh còn chưa trông thấy gì hết! – Đôbô nói – theo ta, ta sẽ chỉ cho anh.
Thấy Bônemixo xuống ngựa, ông vẫy người võ đồng tóc vàng hoe:
- Kơrixtốp, hãy dắt ngựa theo chúng ta.
Ông khoác tay Gergey và dẫn đến cổng thành phía nam.
- Anh thấy đấy, - ông dừng lại nói – để anh có thể mau chóng định được phương hướng, anh hãy hình dung lấy hình một con rùa lớn nằm ngoảnh đầu về nam. Đây, chỗ ta đang đứng đây là đầu của nó. Bốn chân và cái đuôi của nó là những pháo đài. Hai bên sườn nó là hai cổng đường bộ.
Giữa chừng ông hỏi vọng lên tháp canh trên cổng:
- Các ngươi có chú ý trên ấy không đấy?
- Người lính gác thò người ra ngoài cửa sổ tháp canh và đẩy cái tù và lủng lẳng bên sườn ra sau lưng:
- Thưa đại úy, chúng con cả hai người cùng canh đây ạ.
- Ta đi lên đây. – Đôbô nói – Nay hoặc mai quân Thổ sẽ đến từ hướng này đây, vậy anh cũng quan sát kỹ chỗ này đi.
Ông đưa tay ra muốn nhường Gergey đi trước nhưng chàng lùi lại.
- Thưa đại úy, tôi đã phải thệ nhập thành rồi.
Điều đó có nghĩa: tôi không phải là khách nữa.
Đôbô đành đi lên trước.
Có bốn người lính gác ngồi trong tháp canh, họ đứng dậy chào.
- Các ngươi hãy làm quen với ngài thượng úy[13] Bônemixo Gergey. – Đôbô bảo họ. Nghe vậy mấy người gác lại chào một lần nữa. Gergey cũng lại đưa tay lên vành mũ.
Từ bao lơn của tháp canh có thể thấy hai làng nhỏ với một cái cối xay gió ở hướng nam, gần trước thành, xa hơn là cánh đồng xanh màu lá mạ nằm giữa hai dải đồi chân rết.
- Vùng Hạ châu bắt đầu từ đó. – Đôbô giảng giải thế đất.
- Còn hai cái làng nhỏ này?
- Cái ở phía bên này là Onmodo, cái bên kia là Tihomé.
- Con suối này là suối gì ạ?
- Suối Eghe.
- Những bức tường quanh cổng đây chắc là mới xây cả?
- Mới. Ta vừa cho xây đấy.
- Cao lắm. Chỉ họa hoằn quân Thổ mới thử sức ở đây.
- Thì bởi thế ta mới cho xây. Vì phía bên trái, như anh thấy đấy, đại bác sẽ bảo vệ cái cổng này bằng những lỗ châu mai từ trên chĩa xuống.
- Ở thành nào người ta cũng trợ chiến từ phía bên trái : trong tay phải của kẻ xông tới không có lá chắn.
- Ở đây dù có muốn yểm hộ từ phía tay phải cũng chẳng được. Như anh thấy đấy, ở đây dòng suối chảy ven phía Tây. Ta đã cho đóng các cống ở chỗ cối xay đằng kia để chúng ta có đủ nước dùng.
Và họ đi sang mạn thành phía tây, phía nhìn xuống thành phố.
- Tường cao đến chóng cả mặt. Cái này có đến mười sải chứ không ít.
- Có lẽ còn hơn ấy chứ. Bên phía này quả thực quân Thổ sẽ không thử thách được gì hết. Bên ngoài là đá, bên trong là đất. Nhưng bây giờ ta lên ngựa đi. Bên phía này họa hoằn ta mới bị nguy với quân Thổ.
Họ lên ngựa và lại tiếp tục đi.
Dưới kia thành phố yên ắng và vắng tanh. Nhà thờ xứ và toàn giám mục cao vượt hẳn lên giữa những nhà cửa khác. Ở sườn núi phía bên kia thành phố, về hướng mặt trời lặn, là nhà thờ Thánh Mikơlôt của những giáo sĩ dòng Aguxtin. Một dãy núi vững chãi, đỉnh cao đều đặn, bao lấy thành phố về phía tây, cao vượt lên ngoài xa nữa là những đỉnh nhọn của dãy Matơro màu xanh thẫm.
Ở phía tây cũng có hai pháo đài và giữa là một cổng nhỏ kiên cố. Những người lính đang dắt ngựa ra suối. Bên kia suối, trên bãi chợ của thành phố, một vài người đang đứng thơ thẩn quanh một đàn lợn.
- Họ vẫn còn ở đây ư ? – Gergey ngạc nhiên hỏi.
- Vẫn còn. – Đôbô đáp – Mặc dù ngày nào ta cũng nhắn xuống bảo họ cuốn gói ngay đi. Tất cả bọn họ đều muốn bán lợn, bán bò xong đã.
Bên trong cổng thành, một trung úy người gầy, khuôn mặt rộng, đang luyện tập cho khoảng năm chục chiến sĩ. Bọn họ dùng gươm, đầu đội mũ sắt đã han gỉ có lưới che mặt, vai mang giáp sắt. Hai người đứng ở giữa vòng. Người trung úy quát tháo :
- Thu về! Thu về! Con lừa, ta đã bảo khi chém xong phải thu ngay gươm về!
Người học có vẻ chưa bao giờ ra lính. Đó là một chàng nông dân bé nhỏ nhưng có đôi tay rất lực lưỡng và sở dĩ Đôbô phân vào toán lính Koso là chỉ vì nếu để cái sức trẻ ấy bên súng đại bác thì phí đi mất.
- Người trung úy này là ai vậy ? – Gergey hỏi.
- Heghetđuy, trung úy chỉ huy toán lính Koso. Một con người rắn rỏi. – Đôbô trả lời và nói chõ xuống chỗ toán lính :
- Nếu các ngươi có gì chưa hiểu thì cứ mạnh dạn mà hỏi ngài trung úy.
Chàng trai nghe vậy bèn hạ gươm xuống và nhìn lên Đôbô:
- Thưa ngài đại úy, còn không hiểu được tại sao con lại phải vội thu gươm về?
- Ngài trung úy sẽ bảo cho ngươi biết.
- Đồ con tướu – Người trung úy cáu tiết nói – Như vậy là để lấy gươm mà che mình, đồng thời lại sẵn sàng để chém nhát sau.
- Nhưng thưa ngài trung úy, - gã trai trẻ nhổ một bãi nước bọt sang bên và nói – đứa nào mà đã bị con chém thì không chém lại con nữa đâu ạ!
Đôbô búng vào con ngựa một cái và mỉm cười.
- Dân Eghe có khác. Ăn nói được đấy.
Họ tế ngựa dọc chân thành lên phía bắc. Ở đó có hai lâu đài. Cái nhỏ trang trí đẹp hơn, có cửa sổ lồng kính. Cái lớn là một loại nhà trông như kho giống của các lãnh chúa lớn, gọi là tu viện. Ở thời Đôbô nó đã từng là nhà của hội đồng linh mục trong thành, về sau là chỗ ở của các sĩ quan, chỉ có cửa sổ bằng bong bóng bò. Đằng sau cái lâu đài nhỏ có vườn hoa với dây hàng rào sơn xanh. Trong vườn có ghế ngồi và một giàn nho. Một con bướm cuối mùa chập chờn lượn trên những đóa hoa hồng mùa thu.
Thấy Gergey mê mải ngắm những bông hồng. Đôbô cũng nhìn vào đó :
- Vợ ta trồng bao nhiêu là hoa như thế này kể đã uổng công.
- Phu nhân hiện nay ở đâu ạ ?
- Ta đã gửi về nhà, chỗ anh em của ta. Vắt đàn bà làm yếu người ta.
Họ đi qua vườn đến góc thành phía tây. Ở đây tường cũng cao đến phát ngợp. Dưới chân tường là phần đồi nhô ra. Nó đã bị bạt đi thành một cái vách dựng đứng xuống tận nền đất của thành phố.
- Đấy, nhìn xem – Đôbô bảo – Đây là pháo đài đất. Cái này chỉ cốt để cho cho góc này khỏi bị bắn và để yểm hộ cho cái pháo đài đằng kia kìa. Cái đó là pháo đài nhà ngục.
Và ông chỉ sang cái pháo đài mọc cao trên lưng tòa thành, chỗ đuôi rùa.
Từ đó một phong cảnh mỹ lệ lại mở ra về phía thành phố và về phía thung lũng bạch dương chạy dài theo bờ suối về phương bắc. Cuối thung lũng có một làng cây cối um tùm rất đẹp : Phennemét, một làng lớn. Bên kia làng, cái thung lũng rộng đã bị những quả núi có rừng chặn nghẽn tất cả mọi lối.
Nhưng Gergey chẳng ngắm phong cảnh lâu lắm. Cái sống lưng của tòa thành đã khêu gợi sự chú ý của chàng. Ở đó có những quả đổi cao nhô lên phía sau thành và chỉ mỗi một cái hào sâu ngăn cách những quả đồi đó với chân thành.
- Ta có thể chờ đợi cuộc tấn công từ phía này đấy – Chàng vừa quan sát những quả đồi vừa nói.
- Đúng thế. – Đôbô đáp – Nhưng tường thành ở đây cũng kiên cố nhất, và bốn trong số những khẩu đại bác lớn nhất sẽ phục vụ ở hướng này.
Ông xuống ngựa chỗ pháo đài nhà ngục và trao cương cho võ đồng Kơrixtốp :
- Con có thể dắt nó vào tàu.
Họ đi lên pháo đài nhà ngục, chỗ một khẩu đại pháo, bốn súng cối và chừng hai chục tu pháo[14] đang ngáp dài về phía những quả đồi.
Bên cạnh những cỗ pháo, một pháo thủ người Đức có mái tóc xoăn vàng hoe đang huấn luyện cho những nông dân. Đám nông dân rất chăm chú lắng nghe người pháo thủ nhưng gã ta cứ nói ngọng lẫn lộn giữa rượu vang và thuốc súng[15]. Cuối cùng phải giải thích cho đám nông dân biết khi nào pháo thủ Jôjep yêu cầu “rượu vang” thì phải mở bao thuốc súng cho ông ta, còn khi nào ông ta yêu cầu “thuốc súng” thì đưa rượu vang đến.
Trong thành có năm pháo thủ Đức như vậy, Đôbô đã chiêu mộ họ từ Viên về. Ngoài họ ra không còn người ngoại quốc nào trong thành nữa.
- Anh hãy xem khẩu đại bác tuyệt trần này – Đôbô vừa nói vừa vuốt tay lên khẩu pháo – Tên nó là Cóc Tía. Hễ nó gầm lên là quân Thổ sẽ được thấy mưa!
Khẩu pháo đúc bằng đồng đen, được đánh bóng nhoáng. Cùng với cái giá bằng gỗ sồi vững chãi, dành đai thép, quả thực nó chẳng khác gì một con cóc đang ngồi chồm chổm.
Họ tiếp tục đi dạo về phía đông, chỗ một pháo đài kiên cố đứng nhô ra ở góc thành. Đó là cái chân sau bên trái của con rùa.
- Cái này là pháo đài Sanđô – Đôbô bảo.
Gergey đứng ngẩn ra nhìn.
Bắt đầu từ chỗ pháo đài này, ở đoạn thành phía đông có một cái tường quai vạc cao và kiên cố, giống hình một cái liềm gẫy gập làm ba khúc, cũng lại giống một nửa hình lục lăng bao lấy phía đông thành. Trong ngoài đều có hào sâu đến mươi – mười hai sải. Chỉ ở khúc giữa mới có một con đường hẹp chạy qua để quân lính có thể đi lên mặt thành.
- Đây là thành ngoài. – Đôbô nói – Anh có thể thấy ngay ở cạnh nó về phía đông có một quả đồi mọc cao như núi. Đó là đồi Ghế Vua. Sở dĩ người ta đặt tên cho nó như vậy là vì ngày trước Thánh vương Isơlơvan đã ngồi ở đó, trước cửa trướng, để xem việc xây dựng nhà thờ. Cái đồi này đã phải xẻ làm đôi ở ngay dưới chỗ ta đứng đây.
- Tôi hiểu rồi. – Gergey đáp – Người nào đã làm việc đó rất thông minh.
- Perénhi đã làm việc đó mười năm về trước. Ở đầu đằng kia cũng có một pháo đài nữa, đó là pháo đài Bebec. Còn cái tháp ở chỗ góc kia là để có thể nhìn thấu địch tình và bắn vào quân địch suốt đến chỗ cổng và đến tận đây.
Bức tường ở đó, cũng như ở khắp xung quanh, được nối cao thêm bởi những công sự che ngực đắp bằng bối và đất bùn cao hàng sải. Đôi nơi bùn vẫn còn ướt. Tầng công sự che ngực đó cần thiết để quân địch từ ngoài không thể nhòm ngó vào thành được và không thể thấy những người giữ thành đi lại trên mặt lũy.
- Bây giờ ta đi đến chỗ pháo đài nhà thờ. – Đôbô nói và lại khoác lấy tay Gergey.
Từ pháo đài Sanđô họ chỉ cần đi có vài bước và một tòa nhà đặc biệt đã đứng sững trước mặt Gergey. Đó là phần nửa của một cái nhà thờ đồ sộ. Hai cái tháp phía sau của nó vẫn còn (trước kia có bốn tháp). Trên cánh cửa đầy những hình khắc gỗ, phía trên cửa là những bông hoa đá khổng lồ, những thiên thần tạc bằng đá mặt mũi sứt sẹo. Nhưng đây là loại nhà thờ gì mà đất lại chất đầy bên trong thay cho các tín đồ; những khẩu pháo chễm chệ trên tháp chuông, và thay cho tiếng đại phong cầm là tiếng gầm của đại bác sẽ vọng ra: tiếng đại phong cầm của chết chóc.
Dọc tường bên phải và bên trái của nhà thờ đều đắp đất cao như sườn đồi. Trên đồi có dê gặm cỏ. Bên sườn có lối vào hình cửa tò vò. Những phiến đá ở khung cửa đen thủi đen thui.
- Có lẽ ta cất thuốc súng ở đây chăng? – Gergey hỏi.
- Đúng đấy. Anh hãy lại mà nhìn xem bao nhiêu sức lực đã tích tụ ở đây!
- Cái này trước là phòng cất đồ thánh đây.
- Phải. Một chỗ khô ráo rất tốt đối với thuốc súng.
- Nhưng phá hoại cái nhà thờ này như thế thật là một tội lớn.
- Ta cũng tiếc lắm, nhưng chẳng thà làm như thế này còn hơn để quân địch kéo vào làm lễ suy tôn Ala ở trong đó.
Họ bước vào. Cái phòng trông giống một cái hầm rượu hơn là một cái phòng để đồ thánh: đầy ắp những cái thùng đen.
- Có bao nhiêu tất cả? – Gergey ngẩn ngơ hỏi.
- Nhiều đấy – Đôbô đáp – Hơn hai trăm thùng. Ta chứa ở đây tất cả thuốc súng của ta.
- Vào một chỗ ư? Nhỡ nó nổ thì sao?
- Chuyện đó không thể xảy ra được. Trước cửa có lính gác. Ngoài ta ra không ai có khóa cửa nữa. Không ai được phép vào đây ngoài Mectsei và ông lão Sukan. Từ đầu hôm đến sáng ta không giao chìa khóa cho bất cứ một ai.
Gergey ngước lên nhìn cửa sổ. Cửa sổ lồng kính, thứ kính hình tròn nho nhỏ thường dùng ở thời đó, bên ngoài có ba lớp lưới sắt bảo vệ cho cửa sổ.
Đối diện với cửa ra vào, nơi ánh sáng rọi đến theo một đường chênh chếch, có một cái chậu trộn to tướng đựng đầy ắp thuốc súng. Gergey vục tay vào vốc rồi lấy ngón tay cái gẩy gẩy trở lại.
- Cái này dùng để nạp đại bác đây. Khô lắm. – Chàng bảo thế.
- Thứ thuốc dùng cho súng nhỏ ta đứng trong những thùng bé hơn. – Đôbô đáp.
- Thuốc này chế ở đây hay ở Viên ạ?
- Cả ở đây, cả ở Viên.
- Thứ chế ở đây thành phần như thế nào ạ?
- Ba phần tư diêm tiêu, phần tư còn lại gồm lưu huỳnh và than.
- Than mềm hay cứng ạ?
- Mềm.
- Thứ đó là tốt nhất. Có điều ở địa vị tôi thì tôi trộn thêm một hai môi than nhiều hơn những người khác thường làm.
Phía trên cái chậu, trên bức tường đen kịt có một bức tranh lớn đã cáu bẩn và đã rách. Trên bức tranh chỉ còn có thể thấy hai cái đầu, một cái là của một người đàn ông có một bộ mặt buồn bã, râu mọc dài, cái kia của một thiếu niên áp đầu vào ngực người đàn ông. Cả hai nhân vật đều có vòng hào quang trên đầu. Từ cổ họ trở xuống, tấm vải bị rách toạc để lộ bức tường còn trắng ở đằng sau.
- Cái này hình như trước kia là bức tranh đặt trước bệ thờ của giáo đường. – Đôbô nói – Có lẽ còn do Thánh vương Isơlơvan đặt về cơ đấy.
Trước phòng đồ thánh, hai cái cối xay đang quay liên tục. Cả hai đều do ngựa kéo. Bên trái nhà thờ, dưới một vòm cuốn, quân lính đang chế tạo thủ pháo. Hai pháo thủ trông coi công việc của họ.
Gergey dừng lại. Chàng xem thuốc súng và dây ngòi rồi lắc đầu.
- Có lẽ không được tốt chăng? – Đôbô hỏi.
- Tốt thì có tốt đấy, - Gergey trả lời – nhưng tôi xin phép được tự mình cho chế tạo lấy thủ pháo ở chỗ pháo đài mà tôi sẽ chỉ huy.
- Anh cứ nói thật tình đi nếu anh biết cách làm tốt hơn. Anh là người học rộng, và ở đây việc bảo vệ thành là chính chứ không phải những quan điểm khác là chính.
- Vậy thì tôi có biết một cách làm tốt hơn. – Gergey nói – Những quả thủ pháo kiểu cổ này cháy xèo xèo, nhảy lóc cóc và nổ pụp một cái là hết. Tôi thì tôi bỏ thêm lõi vào trong ruột chúng.
- Lõi như thế nào?
- Một quả bom nhỏ, dây bấc tẩm dầu trộn lẫn bột đồng, mạt sắt và một thỏi lưu huỳnh. Thủ pháo của tôi chỉ sau khi nổ mới bắt đầu làm việc.
Đôbô quay lại gọi bảo đám lính chế thủ pháo:
- Các ngươi hãy ngừng việc lại đã! Ngài thượng úy Bônemixo sẽ quay lại đây và các ngươi sẽ làm theo cách sai bảo của ngài.
Họ đi lên nóc cái nhà thờ đã cải biến thành pháo đài.
Trên đó mái nhà thờ được bao quanh bởi những công sự đan bằng nhánh cây và đổ đầy đất. Khoảng giữa những công sự là những khẩu pháo đặt trong những buồng chài nhỏ có cửa tò vò bằng đá. Chính giữa mái là một đống đạn tròn và một hố thuốc súng.
Đứng trên mái có thể trông thấy toàn bộ thành ngoài với dạng một cái mông khổng lồ bao lấy sườn thành phía mặt trời mọc. Trên đó có hai pháo đài và trên hai pháo đài là hai cái tháp tròn.
Nhưng cũng có thể trông thấy cả triền đất rộng nhô cao đối diện với tường thành, dải đồi đó cao bằng một nửa tòa thành.
- Ở mặt đông này cuộc tấn công sẽ dữ dội lắm đây, - Gergey nói – Mỗi buổi sáng mặt trời lại còn chiếu vào mắt nữa. Ở đây phải có người ra người mới được.
- Ta nghĩ đến anh đấy. – Đôbô đáp.
- Xin cám ơn đại úy. Tôi sẽ đứng vững ở vị trí của mình.
Hai người xiết chặt tay nhau.
Giữa những khẩu pháo có một khẩu đồ sộ bằng đồng đen. Cái nòng to tướng của nó có thể bỏ vừa những viên đạn cỡ đầu người. Hàng chữ và những hình trang trí trên thân pháo lấp lánh như vàng.
- Đây là khẩu Búpbê. – Đôbô nói – Anh hãy đọc cái câu ghi trên đó mà xem.
Giữa hình hai ngọn là thiên tuế tượng trưng chiến thắng kết chéo nhau ở ngang thân pháo, lấp lánh hàng chữ sau đây: “Thành trì kiên cố của chúng ta là Thượng đế”!
3
Ngày mồng chín tháng chín trời không nắng. Mây xám phủ kín bầu trời, cưỡi lên cả những đỉnh cao của dãy Matơro. Suốt ngày thời tiết cứ như nét mặt một đứa trẻ làm nũng đang muốn khóc mà chưa tìm ra cớ.
Trong thành cảnh tượng rất nhộn nhịp. Trên bãi chợ Hạ, một đám thợ mộc đang đẽo vát đầu những cột gỗ lớn nửa tay ôm. Cạnh họ mấy người lính khoan lỗ qua đầu cột đã vát dẹt và lắp thành những cây thập tự. Toán thứ ba buộc giẻ tẩm dầu và nhựa đường lên những cây thập tự đó. Họ gọi chúng là những cây dầu đây. Đã được cả một đống to rồi.
Bên cạnh phòng đồ thánh, ông già Sukan đong thuốc súng với một cái hộc. Đám nông dân nhồi chặt vào những bì da nhỏ rồi mang đến chỗ các pháo thủ.
Cũng bên cạnh phòng đồ thánh, pháo thủ Gianốt đang nạp thuốc súng vào những quả tạc đạn bằng đất nung. Dây ngòi cuộn thuốc súng thòi ra ngoài chừng một gang tay. Khi muốn phát hỏa, người ta đặt chúng vào đầu vợt đan bằng dây thép của những cây gậy giống như gậy đánh gônfơ[16] của người Anh ngày nay. Nhưng người ta có thể ném bằng tay cũng được, và những quả tạc đạn có quai thì còn có thể dùng mũi thương để lẳng đi. Độ một ngàn quả tạc đạn như thế cũng đã sẵn sàng.
Về phía cổng Cũ, nơi trại lính bị chợ Hạ ngăn thành hai dãy nhà dài, đám thợ mài và thợ nguội đang làm việc. Họ phải sửa chữa vũ khí cho tất cả những ai mang đến.
Bên cạnh cổng Tối, đàn bò đứng trong những ngăn chuồng xây rất khéo ở dưới đất. Đám đồ tể mổ súc vật ngự bên tường thành. Tiết chảy qua một cái lỗ ra ngoài hào. Ngày nào họ cũng mổ bốn năm con bò cho quân dân trong thành.
Gergey đang đứng trên pháo đài Sanđô. Ở đó người ta đang dùng những thanh dầm và ván gỗ dựng một cái giàn cho quân lính có thể từ phía trong đi từng đoàn lên mặt lũy.
Tại các pháo đài khác đều đã có giàn như thế, riêng ở pháo đài Sanđo này phải làm lại vì một cái cột chôn không kỹ đã bị lung lay.
Đôbô cùng các sĩ quan đi lên giàn, ông lắc lắc cái cột và nói:
- Cái này phải đứng thật vững để dù cho tất cả các cột khác bị trúng đạn, nó cũng vẫn trụ được hàng trăm người. Các ngươi hãy đóng thêm cứ chống vào tất cả các cột, và phải trát vữa thật dày vào.
Người lính kèn trên tháp chuông nhà thờ bỗng rúc một hồi dài.
- Ấy, cái gì thế? – Mectsei la lên – Có chúng ta đây!
- Họ đã về!
Qua ba tiếng đó, các sĩ quan đã hiểu rất nhiều.
- Đội tiền tiêu đã về!
Đã một tuần nay, cả một chuỗi dây chuyền dài những người lính gác nối nhau đến tận Mocula. Họ là một cái viễn vọng kính sống vươn dài ra tận cánh đồng Obônhi, ngày đêm quan sát bước tiến của quân Thổ.
Ba tiếng “họ đã về” có nghĩa là những người đó.
Mectsei nhảy lên mặt lũy, vội vã đi về phía cửa nam. Cả Đôbô cũng vậy. Các sĩ quan đi theo ông. Họ đưa mắt lại trên pháo đài cửa nam và lấy tay che mắt nhìn xuống con đường chạy từ cánh đồng xa tít, qua ngôi làng bé nhỏ rồi kéo thẳng tới cửa thành.
Trên quãng đường Onmodo có thể thấy một kỵ sĩ đang phi nước đại. Dẫu anh ta không đội mũ, cái áo đôn-man[17] màu đỏ dắt ở thắt lưng bay phấp phới đằng sau.
- Quân của tôi! – Gergey nhận xét – Bokôtsoi!
Anh chàng Bokôtsoi ấy vốn là một kỵ sĩ cừ khôi nhưng số phận lại nhét anh ta vào lính bộ, bởi thế anh ta luôn luôn cầu khẩn để được lên ngựa. Nhờ vậy ngày hôm đó anh ta cũng được cử đi thám thính.
Khi anh ta đã đến gần, có thể thấy mặt anh bê bết máu và bên sườn con ngựa của anh lủng lẳng một cái gì tròn tròn như hình quả dưa hấu.
- Quân của tôi! – Gergey mừng rỡ nhắc lại, nhưng lần này đã gần như la lớn – Bokôtsoi!
- Anh ta đã đánh nhau đấy! – Đôbô nói.
- Dân Eghe. – Mectxi tiếp tới.
- Nhưng mà là quân của tôi. – Gergey nói lại – Do tôi huấn luyện đấy!
Theo sau người kỵ sĩ đưa tin đó còn ba người nữa tung bụi trên đường. Những người khác có lẽ đã bị quân địch chém chết cả.
Vậy là quân Thổ đã đến đây.
Đôbô có thể cảm thấy những gì khi nghe tin đó? Cái đạo quân Thổ ấy đã đến, đạo quân mà trong mùa hè vừa rồi đã triệt hạ hai thành trì kiên cố nhất nước: Temétva và Xônnốc, và đã lần lượt đánh chiếm Đơrêghei – Hônlôkơ, Sangô, Bulac, Sagơ, Bolosodoromot: nghĩa là tất cả những nơi nào nó muốn. Bởi vì đạo quân Thổ này đã xuất phát với mục đích tròng nốt ách thống trị của Xuntan lên cổ những phần đất còn sót lại của nước Hung.
Bây giờ bọn chúng đã tới đây, một trăm năm mươi ngàn con thú dữ mặt người. Phần lớn bọn chúng từ thời thơ ấu đã được luyện nghề cung kiếm, bắn súng, leo tường và đã quen đời quân ngũ. Gươm của chúng rèn ở Đamát, giáp của chúng bằng thép Deruben[18] giáo mác của chúng là sản phẩm của những thợ rèn lành nghề xứ Hinđôxtan[19] cũ, đại bác của chúng do những người thợ đúc giỏi nhất châu Âu chế tạo: đạn dược và binh khí của chúng thì không sao kể xiết.
Và đối địch với chúng là cái thành nhỏ này đây với chưa đầy hai ngàn người. Độ sáu khẩu pháo cổ lỗ sĩ và những ống sắt chẳng ra gì: những khẩu súng có râu được mệnh danh là tu pháo.
Ta còn hỏi Đôbô đã có thể cảm thấy những gì ư?
Người lính đưa tin Bokôtsoi Isơtơvan phi lên thành rồi nhảy xuống ngựa, người lấm đầy bụi và mồ hôi nhễ nhại, đứng nghiêm trước mặt Đôbô. Bên yên ngựa của anh lủng lẳng một cái thủ cấp Thổ đen sạm, râu mép còn xoăn vênh. Còn bản thân anh, máu đã đông lại đen cả nửa mặt bên trái:
- Thưa ngài đại úy vũ dũng, con xin báo cáo: quân Thổ đã tới, cái bọn trời đánh!
- Toàn bộ đại quân hay chỉ mới tiền đội?
- Thưa đại úy, đội tiên phong của toàn bộ đại quân. Chúng con không trông thấy toàn bộ vì bị rừng Obônhi che khuất; nhưng chúng tiến rất gấp, cái quân trời đánh! Vừa đánh hơi thấy chúng con, chúng đã lập tức thộp được hai người của ta, cả con cũng bị chúng đuổi một thôi dài cuối cùng là cái thằng mặt ám khói này đây, cái quân trời đánh!
- Các đồng đội của ngươi đâu cả?
Người dũng sĩ nhìn ra phía cửa.
- Thưa, họ đang rửa ráy ở ngoài suối, cái quân trời đánh!
- Được rồi, từ hôm nay trở đi ngươi là thập trưởng[20]. Đôbô nói – Hãy nghỉ đi và làm một ít rượu vang – Và ông mỉm cười nói thêm – Cái quân trời đánh!
Tất cả mọi người chen nhau đến sân thành để xem cái thủ cấp chém được đầu tiên của giặc. Giữa đỉnh cái đầu cạo trọc còn một chỏm tóc dài. Bokôtsoi túm lấy chỗ đó và kiêu hãnh giơ lên cho mọi người xem.
Tin quân Thổ kéo đến làm cả thành nhao lên như một tổ ong.
Tất cả mọi người đều xúm quanh Bokôtsoi nghe anh ta kể chuyện. Ngay cả đám phụ nữ trong các lò bánh và các nhà bếp cũng chạy ra, nhón chân sau lưng vòng người mà nghe chàng dũng sĩ.
Tất nhiên cảnh tượng đó chỉ diễn ra khi Đôbô đã rời khỏi bãi chợ, cùng với các sĩ quan đi lên lâu đài để bàn bạc, bố trí.
Chàng dũng sĩ treo cái thủ cấp lên một cây đề rồi ngồi xuống ghế để phó thác đầu mình cho đám thợ cạo.
Trong thành có mười ba thợ cạo: bốn thợ cả và chín thợ trẻ. Họ ở đó không phải để cạo râu và húi tóc đâu. Họ sẽ rửa vết thương, rắc phèn chua rồi khâu vết thương lại. Bác sĩ ư? Thuở ấy cả nước cũng chưa có được một số bác sĩ bằng một tỉnh lỵ nhỏ ngày nay. Khắp đâu đâu người thợ cạo cũng kiếm nghề bác sĩ, vả lại còn có cả Thượng đế từ bi nữa chứ.
Cả mười ba tay thợ cạo đều nhảy xổ vào Bokôtsoi chỉ cốt để nghe cho rõ câu chuyện của anh hơn. Trước nhất họ lột ngay áo đôn-man và áo trong của anh. Thợ cả Pete là người già nhất trong bọn, vì vậy bác rửa cho anh trước tiên. Họ đặt một cái chăn sành xuống trước mặt anh và bưng một nồi nước lên qua đầu anh.
Việc rửa vết thương chàng dũng sĩ còn chịu đựng được, và cả việc rắc phèn chua nữa, nhưng khi người ta bắt đầu khâu cái vết thương dài trên đầu anh, anh đá tung cả ghế, cả chậu, cả thợ cả lẫn thợ trẻ rồi vừa chửi trời rủa đất một cách kinh khủng vừa đi về trại.
- Tao có phải là cái quần đâu, cái quân trời đánh! – Anh cáu tiết nói.
Anh vơ lấy một mạng nhện lớn trên khung cửa sổ dịt lên đầu rồi tự mình lấy để buộc lại. Xong đâu đấy anh ngồi xuống đánh chén một trận no say rồi ngả mình lên bi rơm và chỉ dăm phút sau là đã ngủ.
Một gã nông dân đi ngựa vào thành gần như cùng một lúc với chàng dũng sĩ. Gã khoác áo lông cừu cộc tay và đội mũ đen có vành bẻ cong lên, tay cầm một cây gậy còn tươi, đầu gậy có cục u to chẳng kém gì người gã.
Khi thấy Đôbô đã xong việc với chàng dũng sĩ, gã ngồi trên ngựa hỏi một người phụ nữ:
- Người nào là ngài đại úy?
- Ngài kia kìa. – người phụ nữ nói – cái ông to cao đang đi ở giữa ấy.
Gã xuống ngựa, buộc nó vào một thân cây rồi thò tay vào đấy lấy ra một phong thư có gắn dấu niêm to. Gã chạy theo Đôbô và nói:
- Thưa ngài đại úy, con mang thư đến cho ngài đây ạ.
- Thư ở đâu đến?
- Từ chỗ quân Thổ ạ.
Mặt Đôbô tối sầm lại, ông quát gã kia:
- Làm sao ngươi dám mang tới đây! Hay ngươi là dân Thổ?
- Không ạ. – Gã kia hoảng sợ trả lời – Dạ bẩm ngài con là dân ở Kan đấy ạ.
- Ngươi có biết rằng người Hung không được phép mang thư của giặc hay không?
Và ông quay sang bảo quân sĩ:
- Hãy giữ lấy nó!
Hai người lính cầm giáo bước đến kèm hai bên gã nông dân.
- Bẩm ngài, chúng nó bắt buộc con! – Gã thất kinh kêu lên.
- Chúng nó chỉ có thể bắt buộc ngươi cầm lấy chứ không thể bắt buộc ngươi đem đến đây.
Và ông lại quay sang bảo quân sĩ:
- Các ngươi hãy đứng đây.
Ông sai thổi kèn triệu tập quân dân trong thành lại và không bóc phong thư, ông khoanh tay đứng bên cây đề mà trên đó cái thủ cấp Thổ vẫn còn lủng lẳng. Chưa đầy năm phút, tất cả quân dân trong thành đã tề tựu đủ. Các sĩ quan đứng quanh Đôbô, quân lính đứng thành hàng ngũ, sau cùng là nông dân và các phụ nữ.
Lúc đó Đôbô mới lên tiếng nói:
- Sở dĩ ta triệu tập quân dân trong thành lại là vì quân Thổ có gửi thư đến. Ta thì ta không có thư từ với kẻ thù. Nếu quân giặc viết thư đến, ta sẽ vứt trả lại. Hoặc ta sẽ đánh vỡ họng kẻ nào dám cả gan mang thư tới trước mặt ta. Ta chỉ cho phép đọc cái thư đầu tiên này mà thôi, rồi ta sẽ gửi ngay cho nhà vua. Để nhà vua được chính mắt trông thấy rằng quân Thổ đã đến đây; cần phải có viện binh. Ta không cần đọc cũng biết trong thư nói gì: dọa dẫm và mặc cả. Dọa dẫm không làm chúng ta giật mình và chúng ta cũng không mặc cả. Tổ quốc không phải để bán, dù với bất cứ giá nào đi nữa. Nhưng để các ngươi được tự tai nghe quân thù vẫn quen nói năng như thế nào, bây giờ ta sẽ cho đọc.
Ông chìa bức thư cho Gergey, người thoạt nhìn ngay cũng có thể đọc được tất cả các loại văn tự và là người thông thái nhất trong thành.
- Anh hãy đọc to lên.
Gergey đứng lên một tảng đá, bẻ gãy dấu niêm và rũ sạch bột thấm mực ra khỏi tờ giấy. Chàng liếc mắt nhìn xuống cuối bức thư rồi đọc to:
Pasa Amét gửi từ Kan.
Chào đại úy Eghe Đôbô Isơtơvan,
Ta là Pasa Anatôli Amét, tham nghị đại thần của Hoàng đế hùng cường và vô địch, chủ tướng của đạo quân muôn vạn và bất khả đề kháng, ta viết thư này để báo cho các ngươi biết mùa xuân năm nay Hoàng đế hùng cường đã phái hai đạo quân đến nước Hung. Một đạo đánh chiếm Lippa, Temétra, Tssonát và Xônnốc và tất cả các thành trì quanh vùng lưu vực các sông Kơrơsơ, Morôsơ, Tixo và Đuno. Đạo thứ hai đã đánh chiếm Vexpơrêm, Đơrêghet, Xêtsên và toàn bộ lưu vực sông Ipốt, ngoài ra lại còn đánh tan hai đạo quân Hung. Không một sức mạnh nào có thể kháng cự lại chúng ta được. Và giờ đây hai đạo quân thừa thắng đó hợp nhất trước thành Eghe.
Phụng mệnh Hoàng đế hùng cường và vô địch, ta khuyên các ngươi đừng cả gan chống lại Hoàng thượng mà hãy cúi đầu tuân lệnh, và hãy đón vị basa do ta cử đến vào thành và hãy nộp thành Eghe cùng thành phố cho ông ta.
- Còn gì hơn nữa không chứ! – Tiếng thét vang lên khắp nơi. – Đừng đọc nữa! Chó nó nghe!
Nhưng Đôbô vẫy tay ra hiệu cho mọi người im lặng.
- Các ngươi hãy cứ lặng mà nghe điệu nhạc Thổ rất hay, khi nó trịch thượng như vậy. Anh cứ đọc tiếp đi.
Nếu các ngươi vâng lời, ta thề cùng tín ngưỡng của ta rằng: bản thân các ngươi cũng như tài sản của các ngươi đều sẽ không bị xâm phạm. Các ngươi sẽ được ban phát đủ mọi ân từ tốt lành của Hoàng đế và cả ta sẽ cho các ngươi được sống tự do như dưới những triều vua xưa kia của các ngươi.
- Không cần đến thứ tự do Thổ! Đối với chúng ta cứ tự do Hung cũng đủ tốt rồi! – Lão Xexey tay gỗ kêu toáng lên khiến mọi người đều cười.
Gergey đọc tiếp:
Và ta sẽ bảo hộ các ngươi khỏi mọi tai ương…
- Ra chúng nó đến đây là để bảo hộ ta! – Petơ Gátpa la lên.
Mọi người lại cười, cả người đọc thư cũng vậy. Chỉ một mình Đôbô đứng nghiêm nghị. Gergey lại đọc:
- Ta đóng dấu hổ phù của ta để bảo đảm cho lời nói đó. Còn nếu các ngươi không tuân lệnh ta tức là tự chuốc lấy thịnh nộ của Hoàng đế hùng cường lên đầu các ngươi, và lúc đó cả các ngươi lẫn con cái các ngươi đều không tránh khỏi tội chết. Bởi vậy các ngươi phải tức khắc trả lời cho ta biết!
Câu trả lời là tiếng thét ầm ầm giận dữ.
- Mẹ kiếp Hoàng đế hùng cường của nó chứ! Nó cứ việc mà đến đây!
Mọi khuôn mặt đều ửng đỏ. Cặp mắt của người hiền lành nhất cũng nẩy lửa. Gergey trao lại bức thư cho đại úy. Tiếng ồn ào lắng xuống.
Đôbô không cần đứng lên tảng đá mọi người mới có thể nom thấy. Người ông cao to, ông nhìn qua đầu tất cả mọi người.
- Đấy. – Ông nói giọng đanh thép nhưng đầy cay đắng – Đây là bức thư đầu tiên và cũng là bức thư cuối cùng từ chỗ quân Thổ gửi đến thành này, và đã được đọc. Nghe thư các ngươi cũng đã có thể hiểu được vì sao chúng đến đây. Chúng đem tự do đến bằng gươm và đại bác. Tên hoàng đế vô đạo tắm máu cơ đốc đem cái tự do đó cho chúng ta. Không cần ư? Nếu chúng ta không cần tự do, nó sẽ chặt đầu chúng ta! Vậy chúng ta hãy trả lời nó! Đây sẽ là trả lời của ta!
Ông vò nát bức thư, ném vào mặt gã nông dân.
- Làm sao ngươi dám mang đến đây, hở đồ khốn nạn!
Và ông quay sang bảo quân lính:
- Cùm sắt vào chân nó! Tống cái đồ hèn hạ ấy vào ngục tối!
4
Sau khi đọc bức thư Thổ đã khích động tất cả mọi người, Đôbô gọi các sĩ quan vào lâu đài.
- Nửa giờ nữa tất cả đều phải có mặt ở đó.
Căn phòng đã chật ních sớm hơn hạn định. Ai còn chậm thì cũng chỉ vì để mặc lễ phục. Tất cả mọi người đều cảm thấy rằng bức thư đó là tiếng điểm đầu tiên của hồi chuông cấp báo.
Đôbô vẫn còn chờ nhóm tuần tiễu về muộn.
Ông khoanh tay đứng bên cửa sổ nhìn xuống thành phố trải rộng dưới kia. Những dinh thự nguy nga làm sao, những ngôi nhà trắng tráng lệ làm sao! Thế mà thành phố trống không. Chỉ phía dưới lâu đài, bên bờ suối là nhộn nhịp dân thành, người lính đưa ngựa đi uống nước, những người chở nước vào thành. Phía dưới nữa, trong khu vực thành phố, một người đàn bà quàng khăn vàng đang bước ra khỏi cổng, trên lưng mang một đẫy to. Mụ kéo theo hai đứa trẻ nhỏ vội vã đi về phía thành.
- Mụ này cũng vào thành đây. – Đôbô lẩm bẩm không vui.
Người võ đồng đứng ngay cạnh Đôbô. Cậu mặc áo đông-man bằng nhung màu hoa lanh. Với mớ tóc dài, với khuôn mặt con gái, cậu giống như một thiếu nữ cải nam trang. Nhưng nếu ai nhìn xuống bàn tay cậu thì sẽ thấy sức mạnh ẩn trong đó. Ngày nào cậu ta cũng tập phóng thương.
Đôbô quay sang cậu, vuốt mái tóc chấm ngang vai của cậu:
- Con mơ gì thế Kơrixtốp? Con không mơ thấy mình về nhà ư?
- Không ạ. – Cậu thiếu niên mỉm cười đáp – Nếu con mơ thấy thế con sẽ xấu hổ, thưa đại úy.
Cậu là người võ đồng duy nhất ở lại trong thành và cũng chỉ vì bố cậu đã viết thư cho đại úy xin đừng gửi cậu về nhà. Ở nhà cậu có dì ghẻ, bà ta đối xử với cậu chẳng tình cảm gì cho lắm. Đôbô coi cậu như con trai.
Những võ đồng kia Đôbô đã gửi về nhà tất. Họ là những thiếu niên từ mười bốn đến mười sáu tuổi. Trường quân của Đôbô là trường học võ nghệ đối với họ. Đôbô chưa cho phép họ thử thách.
Trong số đó ông còn một võ đồng yêu mến nữa: Bolôc Bolajơ, con trai một trung úy của nhiếp chính Giorgiơ bị ám sát năm trước. Cậu ta còn nhỏ hơn Kơrixtôp một tuổi và là một kỵ sĩ xuất sắc. Hồi tháng tám cậu ta đã khóc mà đi. Câu ta đau lòng vì thấy Kơrixtôp được ở lại thành còn cậu ta thì không.
- Cứ chờ đấy, nếu tớ trở lại tớ sẽ đọ thương với cậu. – Cậu ta nói.
- Chả nhẽ cậu lại nghĩ rằng tớ bảo gửi cậu đi?
Và bản thân Kơrixtôp cũng khẩn khoản xin Đôbô:
- Thưa đại úy, xin đại úy cho cả Bolajơ cũng được ở lại đây.
- Nó không ở lại được. – Đôbô đáp – Nó là con trai của một bà góa, mà lại là con một. Trèo cây dễ tày còn chả được phép nữa là. Thôi xéo!
Nogiơ Lukat đem cậu ta đi theo mình để dọc đường sẽ giao trả cho bà mẹ.
- Này, cái cậu Lukat ở đằng ấy lâu quá. – Đôbô bảo Mectsei rồi lắc đầu – Ta e cậu ta lại rơi vào một tai nạn gì rồi.
- Tôi không tin như vậy. – Mectsei đáp – Tôi không lo cho những người nhỏ bé. Tôi có một điều mê tín đặc biệt là những người nhỏ bé thường may mắn trong trận mạc.
- Chính là ngược lại thì có. – Gergey, một người cao chứ không nhỏ, nói – Người nhỏ không bao giờ cưỡi ngựa vững vàng được như người cao. Trong chiến trận, người nhỏ bị ngựa tha đi, còn người cao thì tha ngựa đi.
Người lính gác cửa báo cáo là những thám tử đã đến.
- Cho họ vào. – Đôbô nghiêm nghị trả lời.
Bảy người lính dận ủng màu vàng cò cưa đứng ở giữa phòng. Hai người tóc còn ướt. Quả là họ vừa rửa ráy.
Một người tóc ướt bước lên.
- Thưa đại úy, con xin báo cáo, quân giặc đã đến đây, dưới Obônhơ.
- Ta biết rồi – Đôbô đáp – Tên Thổ đầu tiên cũng đã ở đây rồi. Bokôtsoi đã đem nó về.
Ông nói điều đó với giọng trách cứ. Người lính mang phù hiệu xanh đỏ của thành phố thở phì phò một cái và nuốt khan:
- Thưa đại úy, đáng lẽ con có thể đem về ba tên cũng được.
- Thế tại sao ngươi không đem về?
- Thưa chỉ là vì con đã chém vỡ toác đầu cả ba thằng rồi ạ.
Trong phòng ai nghe cũng phải bật cười. Trong số bảy người lính đã bốn người phải buộc băng. Bản thân Đôbô cũng mỉm cười:
- Kômlôsi con ơi, lỗi đây không phải ở đầu giặc Thổ mà ở đầu các ngươi. Nhiệm vụ của các ngươi không phải là đánh nhau mà là đưa tin về. Lính của ngài thượng úy Bokôtsoi đã đưa tin về. Còn đối với các ngươi thì điều trước hết là lo rửa ráy với chải chuốt, thay áo mới và xoắn ria mép cho vểnh. Lính tráng gì mà lại thế, hở Kômlôsi Oaton?
Kômlôsi luống cuống nhìn xuống phía trước. Anh cảm thấy Đôbô nói đúng nhưng anh vẫn ngửng đầu lên đáp:
- Rồi ngài sẽ thấy, thưa đại úy, con là người lính như thế nào.
Theo báo cáo của các thám tử, hẳn hoi là quân Thổ đang kéo về Eghe. Đôbô phái đi một đội thám tử mới và ra lệnh cho họ không được xung đột với bọn lính thám báo Thổ, chỉ việc báo về từng giờ cuộc hành quân của chúng. Cho họ đi rồi, ông ngồi xuống bàn.
Lúc đó các viên chỉ huy các đội quân đến tiếp viện và các sĩ quan trong thành đã tề tựu đủ trong phòng, kể cả năm pháo thủ người Đức, Giáo sĩ Balin và ông già Xexey cũng đều có mặt.
- Các chiến hữu. – Đôbô bắt đầu giữa im lặng trang nghiêm – các bạn đã nghe đấy, điều chúng ta chờ đợi từ lâu nay đã đến.
Giọng của ông như tiếng của một cái chuông lớn. Ông im lặng một phút. Có lẽ ông vừa nín lại một ý nghĩ của mình. Rồi như thể muốn rút ngắn điều định nói, ông tiếp tục với giọng thường ngày:
- Đại úy phó trấn Mectsei vừa trao cho ta bản kê toàn bộ lực lượng trong thành. Tuy các ngươi đại khái đều đã biết cả, nhưng ta vẫn thấy cần thiết phải đọc lên để các ngươi nghe. Gergey, ta yêu cầu anh.
Ông trao tờ giấy cho Gergey, người làm những việc đó dễ dàng hơn và nhanh hơn bác Sukan. Gergey sẵn sàng đọc luôn:
- Lực lượng thành Eghe ngày mồng chín tháng chín năm một nghìn năm trăm năm mươi hai…
- Tức là hôm nay. – Đôbô nói.
- Hôm nay trong thành có hai trăm kỵ binh bản bộ, bộ binh bản bộ cũng ngần ấy, tám trăm bảy mươi tay súng cũng được gọi vào từ thành phố Eghe và các vùng lân cận. Đại nhân Perênhi Pheren gửi đến hai mươi lăm người; ngài Serêđi Giơrgiơ đã gửi đến khoảng hai trăm.
- Số đó chỉ còn khoảng năm chục nữa mà thôi. – Mectsei nói và liếc nhìn một trung úy có nét mặt xương xương, má gò hẳn ra và cặp mắt nhấp nháy liên hồi.
- Tôi không làm thế nào được. – Người đó đáp lại – Bản thân tôi thì vẫn ở đây – Và anh ta lắc gươm kêu lách cách.
Đôbô nói với người trung úy đó, giọng hòa giải:
- Bạn Heghétđuy, ở đây có ai nói gì đến bạn đâu nào? Hunhođi[21] cũng vẫn từng có những tên lính đào ngũ.
Gergey đọc tiếp:
- Lại thêm hai trăm mười nghĩa binh từ Koso đến. – Đấy, - chàng liếc nhìn Heghétđuy nói - ở Koso cũng có những người hào kiệt.
Và chàng tiếp:
- Các giáo sĩ câm gửi đến bốn vệ sĩ. Giáo đoàn Eghe gửi đến chín người.
- Chín người à? – Bôiky Tomat, chỉ huy những tay súng ở Bôrơsốt hỏi to – Thế mà họ có những hơn một trăm lính tráng.
- Thuê tiền họ cũng chẳng cho, - Đôbô trả lời ngắn gọn.
Phuyghétđi, người trung úy của giáo đoàn đứng dậy, nhưng Đôbô vẫy bảo anh ta ngồi xuống:
- Ta yêu cầu cậu hãy để khi khác, cậu em ạ. Quỷ nó cũng chẳng xúc phạm đến giáo đoàn nữa là. Đọc tiếp đi Gergey, ngắn gọn thôi và nhanh lên.
Gergey nhẹ nhàng, nhanh chóng đọc tiếp. Bản danh sách các hào kiệt rất dài. Sarôt, Gơmơ, Xêpts, Ung, mỗi một thành phố tự do đều gửi đến một đội viện binh nhỏ. Chánh xứ Laxo một mình gửi đến bốn chục lính. Mọi người đều tung hô ông ta.
Cuối cùng Gergey lại nâng cao giọng:
- Như vậy là chúng ta có tất cả một nghìn chín trăm người.
Đôbô nhìn suốt lượt những người ngồi bên bàn và cái nhìn của ông dừng lại ở chỗ Heghêtđuy. Ông vừa nhìn người trung úy ở Koso vừa nói:
- Chúng ta còn có thể tính thêm vào đây những người mà ta đã triệu vào phục vụ trong thành: Mười ba thợ cạo, tám đồ tể, ba thợ nguội, bốn thợ rèn, năm thợ mộc, chín thợ xây và ba mươi tư nông phu, những người sẽ giúp việc bên cạnh súng đại bác. Những lúc thành bị công kích, tất cả những người đó đều có thể cầm vũ khí. Sau đó chúng ta còn tính thêm Nogiơ Lukat mà hôm lễ trảm quyết Thánh Gianốt ta đã phái đi Xônnôc cùng hai mươi bốn kỵ binh. Họ có thể về vào bất cứ giờ nào. – Ông nói và ngước lên nhìn Mectsei rồi lại tiếp:
- Kể thế này chúng ta cũng đã có kha khá người rồi đấy, nhưng ta vẫn chờ ở Hoàng thượng[22] sự tiếp viện chủ yếu nhất.
Ông già Xexey chém tay vào không khí và hừm hừm.
- Thôi nào, bác Xexay, - Đôbô nói – Bây giờ không phải như trước nữa đâu. Nhà vua rất biết rằng nếu Eghe thất thủ thì ngài có thể cất cái vương miện rất thánh của ngài vào quốc khố.
- Và lúc đó nước Hung sẽ không còn nữa. – Mectsei đứng cạnh Đôbô nói thêm.
- Thì còn nước Áo[23]. – Ông già nói.
Quân đội của nhà vua sẽ kéo đến đây bằng hai đạo lớn, - Đôbô nói tiếp – năm sáu chục nghìn, có lẽ đến hàng trăm nghìn binh mã no đủ và lương bổng hậu. Một đạo do công vương Xắcxông[24] Môrich thống lĩnh, đạo thứ hai do công vương Michsa. Chắc chắn nhà vua đã nhắn họ không được chậm trễ mà phải vội vã cất quân ngay. Và hôm nay khẩu lệnh của hai đạo quân đó đã là: Eghe.
- Có anh thợ làm bánh ở Mitsơkôn nó tin! – Xexey làu bàu.
- Cả tôi cũng tin, - Đôbô đáp lại – đồng thời tôi yêu cầu bác đừng có xen vào lời tôi. Tin sứ của ta, Vosơ Mikơlôt ngay hôm nay lại sẽ lên đường đi Viên và nếu dọc đường không gặp quân đội của nhà vua anh ta sẽ bảo cho nhà vua biết việc quân Thổ đến.
Ông quay sang bảo Gergey:
- Sau cuộc họp anh hãy viết ngay lời thỉnh cầu cho Hoàng thượng và nhớ kèm theo cả bức thư của bọn Thổ. Anh hãy viết làm sao cho những quả núi đá cũng phải lăn đến trước Eghe.
- Tôi sẽ viết. – Gergey trả lời.
- Chúng ta không có lý do gì để chờ đợi quân Thổ với một tâm trạng nặng nề. Tường lũy thì kiên cố, thuốc súng, lương thảo dư dật: chúng ta có thể cố thủ hàng năm cũng được. Nhà vua dù chỉ phái đến đây một nửa số quân của công quốc Erơđêi thôi cũng đủ cho tất cả bọn Thổ phải cuốn gói khỏi Eghe về chầu Môhamét. Nhưng bây giờ anh hãy đọc cả bản danh sách thứ hai nữa đi. – Ông bảo Gergey.
Gergey đọc:
- Đại bác phóng bom cỡ lớn một khẩu, đại bác phóng bom cỡ lớn nữa tên là Cóc Tía và Búp Bê, hai khẩu; nhà vua gửi đến ba khẩu. Perênhi Gabô gửi đến bốn khẩu. Serêđi Benedec gửi đến một khẩu.
- Thuốc súng chúng ta không cần, vì cũng không thể cân hết được. – Đôbô nói xen vào – Năm ngoái vẫn còn lại một số, nhà vua cũng lại gửi đến một số. Trong phòng đồ thánh, thuốc súng đầy ắp tận mái nhà. Ngoài ra, chúng ta còn có cả diêm tiêu và cối xay để nếu cần, chúng ta sẽ thêm thuốc súng. Đọc tiếp đi.
Gergey lại đọc:
- Đại bác bắn tác đạn bằng đồng kiểu cổ, dùng để phá tường, năm khẩu; đại bác bằng thép cũng loại ấy năm khẩu; nhà vua gửi đến bốn khẩu bức kích pháo bằng đồng; khuôn đúc đạn chì cho bức kích pháo và cho các tu pháo, hai mươi lăm; tu pháo hai nòng kiểu Praha, hai khẩu; tu pháo để phá đội hình, năm khẩu.
- Chúng ta có thể đối đáp được với bọn Thổ được lắm. Nhưng chưa hết đâu. Đọc tiếp đi.
- Tu pháo bằng đồng và bằng thép kiểu Praha và Tsetnec[25] ba trăm; súng tay, chín mươi ba; súng tay kiểu Đức, một trăm chín tư.
- Không ăn thua gì hết. – Xexey la lên – Một cây cung tốt còn đáng giá hơn tất cả các loại súng[26].
Ý kiến đó đã gây ra mấy phút lời qua tiếng lại. Cánh già tán thành ý kiến của Xexey, đám trẻ ủng hộ phe chuộng súng. Cuối cùng Đôbô phải cắt đứt trận cãi cọ bằng ý kiến cho rằng súng cũng tốt, cung cũng tốt nhưng tốt nhất là đại bác.
Võ đồng Kơrixtôp đặt lên bàn một cái mũ chiến khảm vàng rất tinh xảo và một cái tượng chịu nạn nhỏ bằng bạc. Trên tay cậu còn vắt một cái áo choàng như loại áo lễ của giáo sĩ. Cậu đứng sau lưng Đôbô yên lặng giữ cái áo choàng trên cánh tay.
Gergey còn đọc một đoạn dài nữa, trong bản kê có tất cả các loại binh khí: thương, lao, lá chắn, các loại đạn, câu liêm, cuốc chim, chùy, dáo mác, dây ngòi và tất cả các thứ quân khí không phải do các đội viện binh đem theo.
Lúc đó Đôbô đứng dậy.
Ông đội cái mũ khảm vàng lên đầu, khoác lễ phục đại úy bằng nhung đỏ lên vai, tay trái đặt lên đốc gươm và nói:
- Các bạn thân mến và các chiến hữu cùng bảo vệ thành thân mến! Các bạn đã thấy thành lũy, lực lượng bên trong các thành lũy đó giờ đây các bạn cũng đã biết cả. Số phận của miền đất nước còn lại giờ đây đang nằm trong cái thành này.
Căn phòng im phăng phắc, tất cả mọi cặp mắt đều dán vào Đôbô.
- Nếu Eghe thất thủ thì cả Mitsơkôn, cả Koso đều không thể đứng vững nổi. Quân Thổ sẽ lay các thành nhỏ rụng như sung. Sức đề kháng sẽ không còn nữa và khi đó lịch sử sẽ có thể ghi tên nước Hung vào cuốn sổ của Nam Tào[27]
Ông đưa mắt nghiêm nghị nhìn quanh rồi tiếp:
- Thành Eghe kiên cố thật, nhưng tấm gương Xônnôc sờ sờ ra đó đã chứng tỏ rằng sức mạnh của những bức tường thành không nằm trong đá mà nằm trong tinh thần những người bảo vệ. Trong thành kia toàn những lính mộ ở nước ngoài. Họ đi không để giữ thành mà đi để lĩnh lương. Còn ở đây, ngoài năm pháo thủ ra, tất cả đều là người Hung. Ở đây tất cả mọi người đều bảo vệ Tổ quốc của mình. Nếu cần máu chúng ta sẽ đổ máu, nếu cần tính mệnh chúng ta sẽ hy sinh tính mệnh, nhưng đừng để cho những thế hệ mai sau có thể nói được về chúng ta rằng những người Hung đã sống ở đây năm 1552 không xứng đáng mang cái tên Hung.
Mặt trời chiếu qua cửa sổ, rọi vào những binh khí treo trên tường và những bộ áo giáp mắc trên những cái giá cạnh tường. Cái mũ chiến khảm vàng của đại úy cũng ngời lên rực rỡ. Gergey đứng bên cạnh ông, chàng liếc mắt nhìn ra cửa sổ rồi đưa tay lên che mắt để có thể nhìn lên người chủ súy.
- Sở dĩ ta mời tất cả các bạn tề tựu lại đây – Đôbô tiếp – là để mỗi người hãy tự suy tính kỹ, kẻ nào quý trọng bộ da của mình hơn tương lai dân tộc, cửa thành vẫn đang còn mở. Ta cần những đấng nam nhi. Chẳng thà ít sư tử còn hơn nhiều thỏ đế. Kẻ nào thấy gân cốt run rẩy trước cơn giông tố đến gần, hãy rời khỏi phòng họp trước khi ta nói tiếp, bởi vì chúng ta cần phải thề giữ vững thành trì với lời thề mà nếu ai phản bội, kẻ đó sau khi chết sẽ không thể còn đứng trước mặt Thượng đế vĩnh hằng.
Ông nhìn sang một bên, chờ xem có ai nhúc nhích không.
Căn phòng im phăng phắc.
Không một ai nhúc nhích.
Người võ đồng châm hai cây bạch lạp đặt hai bên tượng chịu nạn.
Đôbô nói tiếp:
- Nhân danh Thượng đế vĩnh hằng, chí thánh, chúng ta phải tuyên thệ với nhau về những điểm sau đây.
Ông cầm một tờ giấy đặt ở trên bàn lên và đọc:
- Thứ nhất, từ nay trở đi quân Thổ dù gửi bất cứ một thứ thư từ gì đến, chúng ta đều không nhận, không đọc mà phải đem đốt trước mặt thị chúng.
- Đúng như vậy! – Căn phòng vang lên – Chúng tôi xin chấp nhận.
- Thứ hai: sau khi quân Thổ đã vây thành, không ai được nói ra câu gì với chúng cả; bất kỳ chúng gọi vào một điều gì, không ai đáp lại, bất kể tốt hay xấu.
- Chúng tôi xin chấp nhận!
- Thứ ba: sau khi đã bị vây, trong thành không được túm năm tụm ba thì thào bàn tán.
- Chúng tôi xin chấp nhận!
- Thứ tư: các hạ sĩ quan nếu không được phép các sĩ quan chỉ huy, các sĩ quan chỉ huy nếu không được lệnh của hai đại úy trấn thủ thì không được điều động các đội quân.
- Chúng tôi xin chấp nhận!
Một giọng lanh lảnh bỗng vang lên bên cạnh Phuyghétđi:
- Tôi muốn xin thêm vào đó một ý nữa!
Người nói lên đó là Heghétđuy, chỉ huy toán quân của Serêđi. Mặt anh ta ửng đỏ.
- Nói đi. – Mọi người giục anh ta.
- Tôi đề nghị là ngược lại, hai đại úy phải luôn luôn xử trí một cách thống nhất với các trung úy, mỗi khi dù chỉ có một trong các trung úy yêu cầu phải thảo luận, bất kể là về việc phòng thủ hay bất kỳ một biện pháp quan trọng nào khác.
- Ta chấp nhận điều đó trong thời gian những cuộc công kích tạm hoãn. – Đôbô nói.
- Chúng tôi xin chấp nhận! – Tất cả lại hô vang.
Đôbô tiếp:
- Điểm cuối cùng: kẻ nào nói chuyện, hỏi han, trả lời về việc nộp thành cho giặc, hoặc muốn nộp thành bằng bất cứ cách nào: kẻ đó sẽ bị xử tử!
- Cho nó chết đi! – Mọi người hăng hái la lên – Chúng ta không nộp thành! Chúng ta không phải là lính đánh thuê! Chúng ta không phải như quân Xônnốc! – Tiếng hô vang lên từ khắp mọi phía.
Đôbô bỏ mũ khảm vàng xuống, đưa tay vuốt mớ tóc dài màu xám nhạt rồi ra hiệu cho giáo sĩ.
Giáo sĩ Balin đứng lên. Ông cũng bỏ mũ xuống và nâng cái tượng chịu nạn nhỏ bằng bạc ở trên bàn lên.
- Các bạn hãy cùng ta tuyên thệ. – Đôbô nói.
Tất cả mọi người trong phòng đều giơ tay về phía cái tượng chịu nạn.
- Tôi xin thề với Thượng đế độc tôn vĩnh cửu.
- Tôi xin thề với Thượng đế độc tôn vĩnh cửu. – Tiếng lầm rầm trang trọng vang lên.
- Rằng tôi xin hiến dâng giòng máu và tính mệnh của tôi cho việc bảo vệ thành Eghe, vì Tổ quốc và Hoàng thượng. Uy quyền và mưu ma chước quỷ đều không khiến tôi sợ hãi. Tiền tài, danh lợi đều không làm tôi nao núng. Về việc nộp thành tôi sẽ không thốt ra một lời nào, không nghe một lời nào. Bản thân tôi, nếu còn sống, tôi sẽ không đầu hàng, dù ở trong thành hay ngoài thành. Từ đầu đến cuối thời gian phòng thủ tôi sẽ đặt ý muốn của mình xuống dưới thượng lệnh. Xin Thượng đế vĩnh hằng hãy chứng giám cho tôi!
- Hãy chứng giám cho tôi! – Mọi người đồng thanh hô vang.
- Và bây giờ đến lượt tôi thề. – Đôbô nói và giơ hai ngón tay về phía cái tượng chịu nạn – Tôi xin thề dốc hết tâm trí, sức lực và máu của tôi để bảo vệ thành trì và đất nước. Tôi xin thề sẽ có mặt cùng các bạn trong mọi hiểm nghèo! Tôi xin thề sẽ không cho phép dâng thành trì vào tay bầy vô đạo! Xin đất mẹ hãy đón nhận thể xác và linh hồn con như thế! Xin Thượng đế vĩnh hằng hãy từ bỏ con nếu con không giữ trọn lời thề!
Không ai hồ nghi về điều đó cả. Nét mặt tất cả mọi người bừng bừng dũng khí vì lửa đang bốc cháy trong trái tim họ. Nghe lời thề của Đôbô, tất cả mọi thanh gươm đều vung lên loang loáng, mọi người đồng tâm nhất trí hô vang:
- Xin thề! Xin thề!
Đôbô lại đội mũ lên và ngồi xuống.
- Vậy thì anh em ạ, - ông cầm một mảnh giấy lên và nói – bây giờ ta hãy bàn bạc xem nên bố trí lực lượng phòng vệ các tường lũy ra sao. Việc phòng vệ các tường lũy không đòi hỏi sự dàn đều lực lượng vì về phía thành phố và về phía pháo đài mới, địa thế bằng phẳng lại có thung lũng sâu. Còn phía các pháo đài ở mặt đông và mặt bắc thì có đồi có núi. Chắc chắn chúng nó sẽ đặt đại bác ở đó để công phá tường lũy và tìm cách xông vào.
- Chúng nó sẽ không bao giờ phá vỡ nổi. – Xexey nói.
- Đã đành! – Đôbô đáp và lại tiếp – Sở dĩ ta đã cho triệu một số đông thợ mộc và thợ nề vào thành là để đêm đêm họ vá chữa lại những chỗ bị quân Thổ bắn vỡ. Nơi đó sẽ nhiều việc nhất. Và nếu bây giờ chúng ta có phân chia lực lượng phòng vệ thì cái đó rồi cũng sẽ thay đổi tùy theo mức độ công phá.
- Xin ngài cứ cắt đặt, thưa đại úy, chúng tôi sẽ tán thành. – Nhiều người nói to.
- Ta nghĩ là chúng ta hãy chia lực lượng phòng vệ ra làm bốn đội. Một đội ở cổng chính; đội thứ hai từ chỗ cổng chính đến địch lâu đằng góc; đội thứ ba ở thành ngoài, đội thứ tư ở mặt bắc, xung quanh pháo đài nhà ngục. Phù hợp với bốn đội đó, quân dự bị bên trong cũng chia làm bốn. Đại úy Mectsei đồng nhiệm của ta sẽ chỉ huy số quân dự bị. Trong thời gian bị công kích, ông ta sẽ phải lo việc thay phiên của quân sĩ, đồng thời chủ trì việc bảo vệ thành trong.
- Thế còn ở mặt thành phố? – Heghétđuy hỏi.
- Ở đó chúng ta chỉ đặt một số lính canh thôi. Ở bên cổng chỉ hai chục người cũng đủ. Đó là một cái cổng bộ hành hẹp và quân Thổ cũng không thể thử sức từ phía ấy được.
Ông lại cầm tờ giấy khác lên:
- Quân số cho các đội ta chia như sau. Ở cổng Cũ, nghĩa là từ cổng chính đến pháo đài mới, lúc nào cũng phải có một trăm bộ binh. Ở pháo đài nhà ngục một trăm bốn mươi, với sĩ quan nữa là một trăm bốn mốt. Dọc pháo đài Sanđô một trăm hai mươi, không phải giữ cổng. Từ đó trở lại chỗ cổng một trăm linh năm.
- Thế là bốn trăm sáu mươi sáu. – Gergey nói.
- Trên hai tháp nhà thờ, mỗi cái mười bộ binh. Đây là lực lượng bảo vệ thành trong.
- Bốn trăm tám sáu. – Gergey tính to lên.
Đôbô tiếp:
- Bây giờ đến lượt thành ngoài. Trên pháo đài Tsobi phải có chín chục người, giữ đến pháo đài Bebee. Từng đó cho đến địch lâu đằng góc, một trăm ba mươi. Từ cổng Cũ đến góc, năm mươi tám. Ở đó còn một tường đá hẹp nối thành trong với thành ngoài. Ở đó cần canh phòng bằng mắt hơn là bằng vũ khí. Vậy ở đó ba mươi tám lính bộ cũng đủ.
Ông liếc nhìn Mectsei, và tiếp:
- Có thể phân ra chỗ đó những người yếu, và trong thời gian bị công kích thì các thương binh nhẹ cũng được.
- Thiếu một đầy tám trăm. – Gergey nói.
- Còn bây giờ chúng ta sẽ phân phối các sĩ quan ra sao đây? Xin bắt đầu từ ta, ta muốn có mặt ở khắp mọi nơi.
- Tiếng hoan hô phấn khởi vang lên.
- Việc của ông bạn Mectsei đồng nhiệm với ta các ông đã biết. Trong số bốn ông thượng úy, một ông sẽ ở chỗ cổng Cũ. Ở đó phải có sức khỏe và một ý chí không bao giờ nhụt. Bởi vì có thể thấy trước là quân Thổ sẽ tìm cách đột phá qua cổng đó. Ở đó phải trừng mắt mà nhìn thẳng vào Thần chét.
Petơ Gatpa đứng phắt dậy, vỗ ngực:
- Tôi xin lĩnh vị trí đó.
Trong tiếng hoan hô vang dội chỉ có thể trông thấy cái gật đầu ưng thuận của Đôbô. Ông lão Gergey chìa tay trái cho Petơ.
- Ngoài ra, - Đôbô tiếp – thành ngoài là mặt nguy hiểm nhất. Ở đó quân Thổ sẽ cố sức lấp hào. Ở đó cũng cần gan dạ, lòng yêu nước và sự khinh thường cái chết của các ông thượng úy.
Ngoài Petơ còn có ba thượng úy, cả ba đều nhảy phắt dậy.
- Có tôi đây. – Bônemixo nói.
- Có tôi đây. – Phuyghétđi nói.
- Có tôi đây. – Dôntoi nói.
- Để các ông khỏi cãi nhau, cả ba ông đều sẽ đến đấy? – Đôbô nói.
Các pháo thủ đã được phân chia đại bác từ trước, vì họ chẳng biết một chữ Hung nào cả, tuy nhiên Đôbô còn muốn cử một pháo thủ chính. Ai bây giờ? Chẳng còn ai thành thạo về đại bác nữa, chỉ có Đôbô. Thế là Đôbô nhận luôn.
Thấy căn phòng lại vang dội tiếng hoan hô và thấy mọi người đều nhìn mình, các pháo thủ thấp thỏm hỏi:
- Was ist das? Was sagt er[28]?
Bônemixo quay sang phía họ và giải thích cho năm người Đức biết:
- Meine Herrn, Kapitany Dobo Wiril sein der haups bum bum! Verstanden[29]?
Sau cuộc họp, Đôbô cho thổi kèn tập trung toàn thể quân sĩ. Trên quảng trường trong thành, ông nói lại cho họ biết năm lời thề mà các sĩ quan đã nhất trí tuyên thệ trong phòng. Ông bảo họ rằng người nào cảm thấy sợ thì bây giờ hãy hạ gươm xuống còn hơn về sau làm nhụt chí những người khác. Bởi vì – như ông nói – nỗi sợ hãi là một thứ ôn dịch truyền nhiễm chẳng khác gì bệnh đậu mùa. Thậm chí còn dễ lây hơn. Vì chỉ trong nháy mắt đã lan sang người khác. Tóm lại ở đây, trong những ngày gian khổ sắp tới cần phải có những người vững chí.
Rồi ông giương lá cờ xanh đỏ của thành ra và cầm chập làm một với lá quốc kỳ.
- Các người hãy thề đi!
Đáp lại lời ông, cái chuông của nhà thờ xứ trong thành phố ngân lên.
Nó chỉ ngân lên một tiếng thôi, không nhiều hơn nữa.
Tất cả mọi người đều ngoảnh trông về phía thành phố. Tiếng chuông ngân như một lời kêu cứu. Chỉ một tiếng. Và tiếp theo là sự yên lặng chăm chú trùm lên toàn cảnh vật.
5
Tối hôm đó Đôbô mở tiệc khoản đãi tất cả những người ban sáng đã cùng ông tuyên thệ tại sảnh đường.
Đôbô ngồi ở một đầu bàn, Mectsei ngồi đầu đằng kia. Bên cạnh Đôbô về phía tay phải là giáo sĩ Italin, bên trái là Xexey. Ngồi cạnh giáo sĩ là Petơ. Petơ đang được trọng đãi ở vị trí đó vì anh của chàng là một bậc công khanh ở chốn cung đình: quan chánh ngự tửu của nhà vua. Nhờ ông ta mà họ được nhận thuốc súng và năm pháo thủ từ Viên gửi đến. Chỉ sau đó, mới tiếp đến sự sắp xếp theo tuổi tác hoặc tước vị, một bên thì tính từ Mectsei trở đi, một bên tính từ Đôbô: Zôn toi, Bônemixo, Phuyghétdi. Sau nữa là Kôrôn Phorơkót, trung úy toàn bộ binh tỉnh Oboui; Kenđi Balin và Heghétđay Isơtơvan, các trung úy của Serèđi Giơrgio, những người đã mang theo năm mươi bộ binh; Phekte Lơrinxơ, người từ Reghétxơ đến với mười lăm lính; Lơkơsơ Mihai, người đo các thành phố tự do gửi đến cùng một trăm bộ binh; Nogiơ Pan, một người khỏe như bò tót và rất gan dạ, chỉ huy ba mươi vệ binh của Batôri Giơrgio; Iaxoi Marơtôn, chỉ huy bốn mươi vệ sĩ của cha chánh xứ Iaxoi; Xenxi Marơtôn, trung úy ở Xepét, người đã dẫn đến hơn chục bộ binh; Bêrơ Mihai, tay súng cự phách, do tỉnh Sarốt gửi đến cùng bảy mươi sáu bộ binh; từ Ugôtsa đến có Xolôikoi Giơrgio và Nogiơ Imre. Người sau do phu nhân Hômônoi Gabô gửi đến với mười tám bộ binh; từ Eperiét đến thì có Bơatkô Onton.
Tất cả những người kể trên đều là trung úy. Ngồi hàng dưới họ là Pócsi Yốp, viên sĩ quan có vóc người cao nhất trong quân đội nhà vua, và Bôiky Tomát, chỉ huy của năm chục tay súng tỉnh Bôrơsốt. Những người này đến muộn, vì vậy người ta đặt họ ngồi vào giữa những hạ sĩ quan trong thành: Sukao Gianốt, người quản lý già; thư lại Imre thủ khóa, người phụ trách làm rượu vang: thư lại Mihai, viên sĩ quan quân nhu, hoặc như thời đó người ta vẫn gọi: người phát xi pô[30]; thư lại Giơndơtsi Machát, thư ký của ngài giám mục (thành này vốn thuộc vào lãnh địa của giám mục); văn thư Bônđijo và một vài người nữa. Đôbô không chỉ mời các sĩ quan, mà để cho toàn thành đều có đại biểu trong bữa tiệc, ông còn mời một thập trưởng, một binh nhất, một quý tộc Eghe và một nông dân Eghe nữa.
Việc bưng thức ăn lên đáng lẽ là việc của bốn – năm lính hầu của Đôbô, nhưng để giảm nhẹ công việc cho họ, các thượng úy cũng phái lính hầu của mình vào giúp.
Người võ đồng Tprianni Kơrixốp đứng đằng sau Đôbô cậu phục vụ cho Đôbô. Cậu đưa thức ăn cho ông, cậu luôn rót cho ông đầy cốc mỗi khi thấy nó vơi đi.
Hôm đó là ngày thứ sáu, vì thế bữa dạ yến bắt đầu, bằng món xốt cá măng và tiếp tục với cá vược rán giòn, cá leo và cá tầm rồi kết thúc bằng bánh kem phô mát và mứt khô sắc với quế. Ngoài ra trên bàn còn có ê hề nho, táo, lê và dưa bở.
Vì sao Đôbô, con người tiết kiệm, lại mở bữa tiệc này? Để bế mạc lễ tuyên thệ ư? Hay là để cho các sĩ quan còn lạ lẫm nhau có dịp làm quen và trở nên thân thiết? Hoặc giả để khảo sát sức mạnh tâm hồn qua ánh rọi của rượu vang? Không khí ban đầu trang nghiêm gần như không khí trong giáo đường. Những tấm khăn bàn trắng tinh, những thực cụ bằng bạc chạm huy hiệu Đôbô, cái thùng rượu chạm trổ treo vào đầu xích sắt phía trên bàn, những bó hoa mùa thu – tất cả mọi thứ đó có cái vẻ lộng lẫy của một đám cưới hơn là một bữa tiệc tiếp khách bình thường.
Ngay khi rượu vang màu đỏ như thạch lựu đã từ một thùng rượu đẹp rót tràn các cốc sau món cá măng, cũng chưa có một ai thấy nóng tai cả. Lời nói cao thượng của Đôbô còn ngự trị trong tâm hồn họ, cũng như sáu tiếng chuông ngân chúng ta còn bâng khuâng lắng nghe cái dư âm trầm trầm vọng dài, dìu dặt.
Sau các món cá rán, lính hầu thay đĩa. Ai nấy đều chờ đợi một người nào đó sẽ phát biểu.
Đôbô đăm chiêu ngồi trong chiếc ghế bành bọc da nâu. Mọi người nhìn vào ông.
Trong sự yên lặng đó, tiếng ca vui vẻ của những người phụ nữ nướng bánh bỗng vang lên:
Thích sao em ở cuối làng
Ngang đường ngựa vẫn đưa chàng ra sông,
Ngựa ra sông nước trong ngựa uống
Chàng qua nhà khoe tấm thân trai
Má chàng hồng ửng hây hây,
Bởi em hôn để hồng lây má chàng.
Những đám mây bỗng vụt biến hết. Bầu trời lại quang đãng. Chẳng lẽ những khách mày râu lại trầm mặc khi phái nữ chờ đón hiểm nguy sắp tới bằng lời ca tiếng hát hay sao?
Mectsei cầm lấy cái cốc bằng bạc trước mặt mình và đứng dậy.
- Các bạn kính mến! – Anh nói – Chúng ta đang đứng trước những ngày vĩ đại. Bản thân thượng đế nhân từ cũng đến ngồi bên cửa sổ cung đình thượng giới mà nhìn xem hai nghìn người ở đây sẽ chiến đấu ra sao với hai chục vạn quân thù. Vậy mà tôi vẫn chẳng thấy ngã lòng. Giữa chúng ta không có một kẻ nào hèn nhát: bởi vì ngay cả các phụ nữ, như chúng ta nghe đấy, cũng vui vẻ ca hát ở ngoài kia. Nhưng giả sử không đúng như vậy chăng nữa, giữa chúng ta đây vẫn có hai người mà ở cạnh họ thì người ta không thể còn có tâm trạng sợ hãi được nữa. Tôi biết rõ cả hai từ hồi tôi còn trẻ. Một người sở dĩ Thượng đế đã tạo ra là cốt để nêu tấm gương về gan dạ người Hung. Trong ông có sức mạnh của sắt thép, chẳng khác nào thanh bảo kiếm đã trăm rèn. Con người ông đầy nghị lực và sự cao quý. Còn người thứ hai mà tôi cũng biết từ hồi còn trẻ, là một bậc thầy về mưu trí và tính tháo vát. Ở nơi nào có mặt hai người này, tôi cảm thấy vững lòng, hoặc vì tin chắc vào sức mạnh hoặc vì tin chắc vào mưu trí. Họ ở đâu thì ở đó có mặt lòng dũng cảm Hung, trí tuệ Hung, niềm vinh quang của người Hung! Không thể còn ngại hiểm nguy được. Tôi mong các bạn cũng hãy hiểu biết về họ như tôi. Đó là Đôbô Isơtơvan vị đại úy của chúng ta, và Bônemixo Gergey ông thượng úy của chúng ta.
Đôbô đứng lên tiếp nhận những cái chạm cốc rồi cứ đứng như vậy mà trả lời, ông nói:
- Anh em thân mến! Giả sử tôi có nhút nhát như con nai, đến nỗi tiếng sủa của bất cứ đàn chó nào cũng làm tôi run rẩy, thì khi có kẻ đụng đến số phận của dân tộc tôi, tôi vẫn dừng lại và kháng cự. Tấm gương của Yurisits[31] đã chứng minh rằng một tòa thành ọp ẹp nhất vẫn là một sức mạnh kỳ diệu biết bao nếu có những trang nam nhi trong đó. Thành trì của chúng ta kiên cố hơn Kơxec và chúng ta cũng cần phải dũng mãnh hơn. Tôi đã biết quân đội Thổ. Tôi đã đứng trên cánh đồng Môhát và đã trông thấy đạo quân của Xuleiman[32]. Thế mà ria mép tôi vẫn chẳng hề bị động chạm. Anh em hãy tin tôi, đáng lẽ hai mươi tám nghìn quân Hung đã nghiến nát trăm nghìn quân ô hợp ấy rồi, nếu như có một người biết chỉ huy trận đánh[33]. Hồi đó chẳng có ai chỉ huy, chẳng có ai bày binh bố trận cả. Các đội quân ta không triển khai chống thế trận của địch mà chỉ tiến một cách ngẫu nhiên thôi. Tômôri[34], đáng thương thay, là một trang anh hùng có những kỷ niệm vinh quang thật đấy, nhưng không phải là bậc tướng lĩnh. Ông ta tưởng rằng khóa học làm tướng chỉ gồm một tiếng độc nhất : Theo ta! Thế là ông ta cầu nguyện một bài, chửi đổng một tiếng rồi thét lớn: Theo ta! Thế là đạo quân ta tiến lên như đàn chim én mùa thu, xông thẳng vào giữa đội hình quân Thổ. Quân Thổ tản ra trước mặt quân ta như bầy vịt, còn chúng tôi cứ mù quáng xông lên trước hàng đại bác. Tất nhiên những khẩu đại bác với những viên đạn móc xích đã làm được cái việc mà sức người không làm nổi. Chúng tôi chỉ còn lại bốn nghìn trong số hai mươi tám nghìn. Nhưng nỗi bất hạnh khủng khiếp đó đã cho ta hai bài học lớn. Một là đạo quân Thổ không phải là tập đoàn của những trang dũng sĩ, mà gồm đủ loại dàn tứ chiếng. Chúng nhặt nhạnh tất cả mọi loại người và súc vật, chỉ cốt để lấy số đông mà dọa những người yếu bóng vía. Bài học thứ hai là quân Hung dù ít đến đâu vẫn có thể quấy rối và thắng được quân Thổ, nếu bên cạnh lòng dũng cảm họ còn mang theo trí thông minh làm mộc đỡ.
Bên bàn mọi người chăm chú nghe vị đại úy Đôbô tiếp:
- Trong tình hình của chúng ta đây, trí thông minh phán rằng chân chúng ta phải vững như sắt chừng nào viện binh của triều đình chưa kịp tới. Quân địch bắn phá thành dữ dội và có thể chúng sẽ phá vỡ được tường lũy là cái che chở cho chúng ta được một thời gian nào đó. Nhưng đến lúc đó thì chúng ta cần phải xông ra. Và, như các tường lũy đã từng che chở cho chúng ta, lúc đó đến lượt chúng ta che chở cho các tường lũy. Kẻ địch trèo lên tường lũy sẽ vấp phải chúng ta ở từng kẽ nứt. Không đời nào chúng ta cho phép quân địch giằng số phận của dân tộc Hung ra khỏi tay chúng ta.
- Không! Không! Chúng ta không cho phép! – Tất cả mọi người đều hết lên mà đứng bật dậy.
- Tôi xin cám ơn anh em đã đến đây. – Đôbô tiếp – Xin cảm ơn anh em đã mang gươm và trái tim đến đây để phò nguy cho xã tắc. Tôi có một cảm giác vững chắc rằng thượng đế đang xốc bàn tay của người lên Eghe và bảo với ngọn triều vô đạo rằng: Đến đây thôi và không được xô tới nữa! Cảm giác đó hãy làm anh em càng thêm vững vàng, và như vậy tôi tin chắc rằng, cũng ngay tại chỗ này, chúng ta sẽ vui vẻ ăn mừng chiến thắng.
- Chúc cho sự việc sẽ như vậy! – Tứ phía vang lên tiếng thét và tiếng cốc bạc, cốc kẽm chạm nhau.
- Sau Đôbô, Peto đứng lên, đó là chàng trung úy nhanh nhẹn và là nhà hùng biện bình dân bậc nhất trong thành.
Anh ta lắc cổ sang phải một cái sang trái một cái rồi nói:
- Ngài Mectsei tin ở Đôbô và Boonemixo. Hai vị này lại tin vào chúng ta và các tường lũy. Vậy tôi cũng nói cho các bạn tôi tin vào cái gì.
- Nói đi! Nói đi!
- Năm nay ngoài những thành khác, hai thành kiên cố đã thất thủ: Temetva và Xônnôc.
- Thế còn Vexprem?
- Ở Vexprem không có người? Tại sao hai thành kiên cố nói trên đã thất thủ? Với thời gian, rồi đây người ta sẽ nói rằng sở dĩ chúng thất thủ là vì quân Thổ mạnh hơn. Thực ra không phải như vậy. Sở dĩ chúng thất thủ là vì Temetva do lính đánh thuê Tây Ban Nha bảo vệ. Còn Xônnôc thì do lính đánh thuê Tây Ban Nha, Tiệp và Đức. Vậy bây giờ tôi sẽ nói tôi tin vào cái gì. Đó là Eghe không do lính Tây Ban Nha, cũng không do lính Đức hay lính Tiệp bảo vệ. Ở đây trừ năm pháo thủ ra, tất cả mọi người đều là con dân Hung, và chủ yếu là con dân Eghe. Những con sư tử bảo vệ lấy tổ của chúng! Tôi tin vào dòng máu Hung!
Đến đây tất cả mọi khuôn mặt đều nóng bừng, những cái cốc giơ cao.
Đáng lẽ Peto đã có thể kết thúc bài nói của anh, nhưng với sự hào phóng của các nhà hùng biện, anh lại tiếp:
- Người Hung cũng như đá thạch anh. Người ta đánh nó càng mạnh chừng nào thì nó lại càng tóe lửa mạnh chừng ấy. Vậy thì quỉ tha ma bắt bọn lính ô hợp ăn sung rụng, uống nước lã của Moohamet, chẳng lẽ hai nghìn dũng sĩ do mẹ Hung sinh đẻ, lớn trên mình ngựa, khỏe nhờ lúa mì Hung và rượu vang huyết bò của Eghe[35] lại không địch nổi bọn chúng hay sao?
Tiếng của anh bị át đi trong tiếng hoan hô, tiếng gươm khua lách cách và tiếng cười náo nhiệt, nhưng anh lại vê ria mép một cái, liếc sang bên một cái rồi kết thúc như sau:
- Eghe cho đến nay chỉ là một thành phố đôn hậu của xứ Hevet mà thôi. Thượng đế hãy cho nó từ nay trở đi sẽ là thành phố vinh quang của cả nước Hung! Chúng ta hãy lấy máu vô đạo mà viết lên tường: Đừng đụng đến người Hung! Và rồi một ngày kia, sau bao nhiêu thế kỷ nữa, nếu lớp rêu phong của hòa bình vĩnh cửu trên trái đất đã xanh trên di tích của thành này, con cháu của những thế kỷ sau chúng ta sẽ ngả mũ mà đi qua đây và có thể nói với cảm giác tự hào rằng: ông cha chúng ta đã chiến đấu ở đây, cầu Trời hãy phù hộ cho cả tro bụi của họ nữa.
Nghe đến đó tiếng hoan hô lại náo nhiệt nổi lên và người ta đã tranh nhau mà hôn diễn giả đến nỗi anh không thể nào còn nói tiếp được. Và thực ra anh cũng không muốn nói thêm gì nữa. Anh ngồi xuống và chia tay Bôiky Tomat, chàng trung úy của đội chiến binh Bôrơsốt.
- Tomat này, - anh nói – hai đứa ta mà ở chỗ nào thì đầu bọn Thổ cứ gọi là ủng ra ở đấy!
- Cậu nói hay đến nỗi ngay bây giờ tớ đã muốn xông vào đánh hàng trăm tên địch! – Tomat gật đầu lia lịa trả lời.
Sau Peto không ai còn cảm thấy trong mình có đủ nghị lực để đừng lên nói nữa. Nhiều người giục Gergey, nhưng cũng như những nhà thông thái, chàng không thích diễn thuyết. Vì vậy, ai nấy đều đành quay ra nói chuyện tay đôi với người ngồi bên cạnh và tiếng ồn ào vui vẻ của tiệc tối vang đầy căn phòng.
Đôbô cũng hăng lên, khi chạm cốc với người bên này, lúc chạm cốc với người bên kia. Có lần ông chia cốc cho Gergey chạm, và khi giáo sĩ bò đến ngồi bên cạnh Peto nói chuyện, ông vẫy Gergey đến bên mình.
- Nào, lại đây anh. – Ông nói.
Khi Gergey đã đến ngồi bên cạnh, ông tiếp:
- Ta muốn nói chuyện với anh về các công tử Toroc. Ta đã viết thư cho họ, nhưng chỉ vô ích thôi có phải không?
- Chắc thế. – Gergey đặt cốc xuống trước mặt, trả lời. – Tôi không tin là chúng ta sẽ được gặp họ. Icnisi không thích cố thủ trong thành, cậu ta thích chọi với bọn Thổ ở ngoài bãi rộng hơn. Còn Pheri không đi xa đến tận đây đâu, cậu ta không bao giờ rời khỏi vùng hữu ngạn Đuno.
- Có thật là tướng công Balin đã mất rồi chăng?
- Vâng, đúng thế, tội nghiệp, đã một vài tháng nay rồi. Chỉ cái chết mới cởi được gồng xiềng cho ngài.
- Ngài sống quá cái tang của phu nhân được bao lâu nhỉ?
- Được đến mấy năm cơ đấy. Có lẽ đại úy đã biết, phu nhân mất lúc chúng tôi từ Côngxtăngtinôp trở về. Chúng tôi đến Đebrexen đúng lúc người ta đang mai táng phu nhân.
- Phu nhân thật là phụ nữ tốt. – Đôbô trầm ngâm nói và giờ tay ra với cốc rượu như muốn uống vì bà.
- Chắc chắn trái đất không sinh được nhiều người như thế đâu. – Gergey nói và cũng cầm lấy cốc.
Họ lặng lẽ chạm cốc. Có lẽ cả hai đều nghĩ rằng người đàn bà phúc hậu ấy ở thiên đường cũng thấy cốc rượu nâng lên vì bà.
- Thế Zorinhi? – Đôbô lại bắt đầu – Ta cũng viết cho cả ông ta nữa là hãy đến Eghe.
- Đáng lẽ chú ấy đã đến rồi kia, nhưng từ mấy tháng nay chú ấy nhận được tin tên Pase ở Bốtxnhăc chuẩn bị tiến đánh chú ấy. Hồi tháng hai tôi có nói chuyện với chú ấy ở Tsactôrơnnho. Lúc đó chú ấy đã biết bọn Thổ phát đại binh đi đánh Temêtva, Xônnôc và Eghe. Chú ấy còn đọc cho tôi viết thư lên cho hoàng thượng cơ mà.
Chàng vừa nói vừa vuốt tóc người võ đồng
Trước cửa phòng bỗng vang lên tiếng nhạc của mấy cây tiêu và mấy cây kèn:
Mika đang lội trong bùn
Ponni đã đợi bên nguồn từ lâu
Dường như có ai đã tiếp một dòng máu mới vào huyết quản mọi người. Theo hiệu của Đôbô, người võ đồng dẫn các ca sĩ vào. Ba người thổi tiêu và hai người chơi kèn, cả gã xigan cũng ở trong số đố. Đầu gã đội một cái mũ sắt to, đã han gỉ, có cắm ba cái lông gà trống. Bên sườn gã, một thanh gươm trần lủng lẳng ở đâu đây. Sau hai gót chân đất là một đôi cựa giầy to tướng. Gã phồng má lên mà thổi cây kèn Kalanet[36] của gã.
Tất cả đều thích thú lắng tai nghe họ thổi. Khi họ điệp lại khúc nhạc, một giọng nam trung ấm áp bỗng cất lên trong hàng các trung úy:
Trời mau làm xanh lại những rừng dương
Để ta lại thắng cương vào tuấn mã
Và thử lại thanh gươm đang buồn bã
Cho Thổ Nhĩ Kỳ khóc mếu nhắc tên ta.
Người trung úy đó là một chàng to lớn, ria mép vê xoăn tít. Ria mép của anh ta lúc nào cũng thẳng ngang dưới mũi, đến nỗi đứng sau lưng cũng đã có thể nhận ra được rồi.
- Người trung úy này là ai ấy nhỉ? – Gergey cúi về phía Đôbô hỏi..
- Em trai của đại úy trấn thủ thành Kômarôm, tên anh ta là Pocsi Yôp.
- Hát hay thật.
- Và rõ là một trang dũng sĩ. Tất cả những người vui hát đều là những chiến sĩ cừ.
Người trung úy còn muốn hát một đoạn khác nữa của bài ca, nhưng anh ta không nhớ ra. Mấy cây kèn, tiêu đều chờ anh ta bắt đầu.
Trong phút im lặng đó, một người bỗng thét vang lên:
- Giáo sĩ của chúng ta muôn năm!
- Trưởng lão của quân đội ta muôn năm! – Zôntoi hô to.
Xexey vui vẻ đáp:
- Có lão cái ông bố già của các anh thì có!
Người vệ quốc trẻ nhất của thành muôn năm! – Peto hô lên
Nghe thế Toriani Korixlôp cũng giơ tay cầm lấy cốc và đỏ mặt chạm cốc với khách khứa.
- Tên Thổ sẽ bị chúng ta nện gẫy răng đầu tiên muôn năm! - Gergey hô.
Nhưng không có ai để nhận cái chạm cốc này cả. Tất cả mọi người đều cười và đành chạm cốc với người bên cạnh.
Gã quý tộc Eghe có bộ mặt đỏ đứng dậy. Gã hất cái áo khoác màu xanh có cổ đeo trên vai phải ra đằng sau. Gã chùi ria mép bên phải một cái, bên trái một cái, vuốt tóc ra sau một cái rồi lên tiếng:
- Người đầu tiên sẽ chết vì Eghe muôn năm!
- Gã kiêu hãnh và nghiêm nghị nhìn quanh rồi nốc một hơi cạn cốc mà không chạm với ai.
Gã có ngờ đâu gã uống vì chính gã.
Kim của cái đồng hồ to có đế chỉ đến số mười một khi một người lính gác bước vào đứng lại ở ngưỡng cửa và báo cáo:
- Thưa ngày đại úy, quân Thổ đã đến Mokơla.
- Đội thám báo hay đội tiền quân?
- Nhiều hơn là một đội thám báo. Dưới ánh trăng chúng kéo đến nom như nước lũ. Chúng tôi thấy rất nhiều trại và nhiều lửa.
- Vậy thì ngày mai chúng sẽ đến đây – Đôbô gật đầu cho người lính gác lui ra sau đã dặn từ đây đến sáng không cần phải báo tin thêm nữa.
Và ông đứng dậy. Đó là dấu hiệu giải tán. Mectsei kéo Gergey, Phuyghetđi, Peto và Zontoi vào một góc phòng. Anh nói với họ vài lời rồi vội vàng đến chỗ Đôbô.
- Thưa đại úy. – Anh nói và đập cựa giầy vào nhau kêu lách cách – Đêm nay chúng ta có thể xuất kích độ vài trăm người.
- Đến âm ti địa ngục nào thế?
- Đến Mocơla.
- Đến Mocơla ?
- Để chúc cho bọn Thổ được ngon giấc.
Đôbô thích chí đưa tay lên vuốt ria rồi bước đến bên cửa sổ làm Mectsei cũng phải bước theo.
- Hay - Đôbô đáp – ta cũng chẳng tiếc. Đối với quân dân trong thành, cái loại việc làm đó có tác dụng khích lệ đấy.
- Chính tôi cũng nghĩ như vậy.
- Nếu có lòng hăng say chiến đấu, gươm sẽ bén ngọt. Nhưng anh thì ta không thả ra đâu.
Mectsei giật mình.
Đôbô bình tĩnh nhìn anh và nói:
- Anh thật sự như một chú bò tót. Anh húc bừa vào tất cả mọi gốc cây, rồi một lần nào đó bỗng không tài nào rút sừng ra được nữa. Thế mà anh còn phải chú ý giữ lấy cái đầu của anh nữa chứ, để nhỡ nếu tôi có ngã xuống thì anh phải lập tức nắm lấy quyền chủ soái. Điều này tôi chỉ nói riêng với anh thôi. Nhưng Gergey là một tay mưu trí, khó lòng lừa được cậu ta vào bẫy. Anh gọi cậu ta lại đây.
Gergey có mặt ngay.
- Gergey, anh có thể đi được – Đôbô nói – Nhưng không phải với hai trăm người đâu, chỉ một trăm thôi. Ngần ấy là đủ. Các anh nện cho chúng một cú, làm cho chúng hốt một tí rồi phải quay về ngay. Không được để thiệt hại một ai đấy nhé.
- Thưa đại úy, - cậu bé võ đồng Toriani cầu khẩn – cho con đi theo họ với.
Đôbô lại vuốt ria mép một cái.
- Thôi được, ta chẳng tiếc. – Ông nói – Nhưng lúc nào cũng phải nhớ theo sau thượng úy Gergey đấy nhé. Nếu để chúng nó đánh cho nhừ tử thì đừng có mà về trình diện nữa, ta nói cho mà biết.
6
Gergey lao đến trại lính kỵ mã và khi đã vào đến trong phòng, chàng nổ một phát súng ngắn thay cho kèn tập hợp.
Các chiến sĩ lập tức chồm ra khỏi giường.
- Tập hợp quanh ta! – Gergey thét to.
Chàng chọn lấy một trăm trong số những người nhanh nhất.
- Một – hai! Mặc quần áo vào! Khi nào ta nháy mắt đến cái thứ ba, các ngươi đã phải gươm súng sẵn sàng trên ngựa ở chỗ cổng. Còn anh, chạy ngay đến chỗ quan đại úy phó trấn xin một cùm bắt tù binh và mang theo. Tất cả phải mang theo súng tay[37] trong túi yên ngựa! Gergey chạy xuống cầu thang, vội vã đi về phía chuồng ngựa. Dưới ánh đèn đỏ từ trong nhà bếp hắt ra, chàng trông thấy một người mặc áo đôn- mu màu vàng, đội mũ sắt. Người đó ngồi trên một cái chậu giặt úp sấp, đang ôm một quả dưa hấu trên đùi, tay chìa xúc ăn. Chân người đó không có giầy.
- Người này chẳng thể ai khác ngoài gã xigan của ta – Gergey tự nhủ và lên tiếng gọi:
- Sakơđi!
- Xin ngài cứ sai phái. – Gã xigan đáp và thẳng người lên.
- Nếu anh theo ta, hôm nay anh sẽ có thể kiếm được ngựa, ngựa nòi hẳn hoi.
Gã xigan nhảy phát dậy.
- Con đi ngay đây. Đến đâu ạ?
- Đến chỗ bọn Thổ. – Gergey vui vẻ đáp – Bây giờ chúng nó đang ngủ, ta sẽ đánh úp chúng.
Gã xigan gãi đầu cúi nhìn xuống đất rồi lại ngồi xuống cái chậu giặt.
- Nói là nói thế chứ không thể được đâu ạ. – Gã trịnh trọng nói.
- Sao lại không thể được?
- Hôm nay con đã uống cùng với mọi người thề là không rời bỏ thành.
- Chúng ta có thề như thế đâu. Chúng ta thề là sẽ bảo vệ thành đến cùng chứ.
- Có thể là những người khác thề như thế. Con thì con thề là nếu con mà đi ra khỏi thành thì cứ xin trời đánh, thánh vật. Cầu Thượng đế phù hộ cho con giữ được lời thề đó.
Nói rồi gã lại ôm quả dưa hấu vào lòng. Lúc lắc cái đầu và tiếp tục nhấm nháp.
Chưa đầy mười phút, Gergey đã cùng các chiến sĩ phóng ngựa trên đường đi Mokơla, dưới ánh trăng đêm.
Hai người đi phía trước, hạ sĩ Phekete Isotovari và binh nhất Bôđôphonvi Pete. Qua suối Nước nóng họ rẽ xuống cánh đồng cỏ. Ở đó đất mềm nuốt gọn tiếng lộp cộp của vó ngựa, một trăm kỵ binh giống như một trăm cái bóng lung linh chuyển động.
Đến đồng cỏ Onđonoki, họ trông thấy một ánh lửa của tốp gác đầu tiên.
Pete dừng lại, tất cả mọi người cũng thế.
Mảnh trăng lưỡi liềm giữa những đám mây chỉ chiếu sáng vừa đủ để nhận thấy những cây cối và hình người như những bóng đen tách ra khỏi màn đêm.
Gergey thúc ngựa đến bên Hôđophonvi:
- Cậu xuống ngựa đi. Hãy bò như con rắn mà đến chỗ tên lính gác đầu tiên. Nếu nó có chó đi đi theo thì cậu hãy bò trở lại, cũng lặng lẽ như khi đến đó. Nhưng nếu không có chó, cậu hãy vòng ra sau lưng nó, cho nó một nhát. Sau đó cậu hãy quan sát đống lửa, nếu không còn tên lính nào khác ở cạnh đó, hãy nếm vào đó vốc thuốc sáng. Nhưng ngay lúc đó cậu phải nấp đi nhé, đừng để ai trong thấy đấy.
- Còn ngựa của con?
- Ngựa của cậu đem buộc vào cây này này. Khi nào ta trở lại, cậu sẽ tìm thấy nó.
- Nếu chúng nó ở bên đống lửa?
- Cậu nhìn quanh cho thật kỹ xem chúng nó nằm những đâu và nằm như thế nào, chỗ nào đông nhất sau đó mau chóng quay trở về.
Họ đứng đến hơn nửa giờ bên bờ suối, cạnh những bụi liễu. Gergey dặn dò binh sĩ:
- Chừng nào còn thấy chúng nó chạy, các cậu cứ tha hồ đâm chém. Không ai được rời xa đồng đội quá một trăm bước, đừng để bị vấp ngã. Khi nào nghe tiếng tù và rúc, lập tức phải quay lại ngay và chúng ta sẽ phi nước đại về thành. Chừng nào tù và chưa rúc, cuộc chơi còn tự do.
Các chiến sĩ đứng quây vòng xung quanh, lắng nghe từng lời nói.
Gergey lại tiếp:
- Chúng nó sẽ hốt hoảng và không còn nghĩ đến chuyện kháng cự nữa. Nếu đúng như vậy, các cậu cứ chém vào chỗ nào dày đặc nhất cho đến khi nào chúng nó tan tác ra mới thôi. Các cậu hãy học lấy một lần và mãi mãi rằng kẻ nào chiến đấu trên mình ngựa thì phải chém cho nhanh để địch thủ không sao có thì giờ chém lại nữa. Phải chém lia lịa như mưa sa chớp giật ý.
Gergey ngừng lời. Chàng quay về phía bọn Thổ nghe ngóng động tĩnh rồi quay về phía các chiến sĩ:
- Cái cạm bắt tù binh đâu rồi?
- Có đây, thưa thượng úy. – Một gã người cao trả lời trong hàng quân.
- Cậu giữ dụng cụ đấy à?
- Vâng ạ.
Gã chiến sĩ trả lời và giờ cao một dụng cụ dài giống như cái nạng.
- Cậu biết dùng nó chứ?
- Ngài đại úy đã dạy con.
- Vậy cậu hãy dùng nó mà chẹt lấy cổ một tên nào đó rồi quật đồ cầu trệ ấy xuống. Nếu chúng ta chộp được loại sĩ quan thì mới thật là vẻ vang các cậu ạ. Loại ấy thường ở trong cái lều đẹp nhất và chắc chắn là chỉ mặc áo lót mà ngủ. Nếu có thể được ta hãy bắt loại đó.
Chàng lại nghe ngóng rồi nói tiếp:
- Phải trói tù binh lại, nhưng chỉ trói tay nó thôi. Trói quặt tay nó ra sau lưng. Nếu ta bắt được cả ngựa nữa thì có thể cho nó cưỡi và lúc đó cậu Kơristôp và cậu, cậu người be bé kia, các cậu hãy kèm nó vào giữa, buộc cương ngựa của nó vào ngựa các cậu mà đưa nó về. Nếu nó định tẩu thoát hoặc nói gì, hoặc kêu la, hoặc định tụt xuống đằng sau, các cậu lập tức phải đánh ngay!
- Nhưng nếu ta không bắt được ngựa? – Kơristôp hỏi.
- Thì nó phải chạy theo bên cạnh ngựa của các cậu, và các cậu phải vội về thành ngay, không được chờ chúng ta nữa.
Hình dáng của binh nhất Pête hiện ra bên cạnh mấy bụi cây, anh chạy mà trở về.
- Con đã đâm chết tên lính gác rồi – Anh vừa thở hồng hộc vừa nói – Nó chẳng kịp ối ái gì cả mà chỉ lăn kềnh ra như một cái bị. Đống lửa cháy ở khoảng giữa các lều, có một tên Thổ ra dáng quân hầu ngồi bên cạnh. Tay hắn cầm hài vàng, phấn vàng đặt trên gối.
- Lính hầu sĩ quan. – Gergey nói – Nói tiếp đi.
- Mấy trăm đứa khác nằm lăn lóc trên bãi cỏ, trên các tấm chăn, giữa một bãi tròn về phía bên trái đống lửa.
- Chúng nó ngủ chứ?
- Như một lũ gấu[38].
- Tốt – Gergey nói – Bây giờ các cậu hãy dãn ra, cách nhau độ mười bước. Khi nào ta nổ súng, tất cả các khẩu súng đều phải bắn vào giữa bọn địch và các cậu hãy nhảy xồ lên người chúng nó như những con sói ý. Phải thét lên, gào lên và chém thật lực vào, không phải bố các cậu đâu mà gượng nhẹ!
Họ chờ cho Pête lên ngựa xong rồi tản rộng ra về phía mặt trời mọc.
Người ngoài cùng là Petơ. Từ xa người ta đã có thể nhận ra được anh nhờ ba cái lông đại bàng cắm trên mũ chiến. Tuyến của kỵ đội quành vào thành một hình bán nguyệt và lựa nước chạy theo phía của Gergey. Bây giờ Gergey đã dẫn đầu.
Chàng cho ngựa chạy nước kiệu nhẹ nhàng bên cạnh dãy bụi cây một chốc rồi sau đó bất thình lình chuyển sang phi nước đại.
Tiếng rú man rợ của tên Thổ đầu tiên nổi lên trong đêm. Hắn nổ súng vào Gergey, Gergey bắn trả lại. Trong nháy mắt sau đó, tất cả các khẩu súng ngắn đều nổ ran và một trăm kỵ sĩ như một trận cuồng phong dữ dội ào ào xông vào đội quân Thổ đang ngủ.
Trong nháy mắt đó, khu lều trại choàng tỉnh dậy trong tiếng ào ào. Tiếng thét của Hung và của Thổ hỗn hợp với nhau thành một cơn bão âm thanh. Những tên địch ngủ dưới đất, thần hồn nát thần tính choàng dậy và đám đông quân Thổ chen lấn nhau, nhảy lên lưng lên cổ nhau, đạp nhau chạy tứ tung giữa các lều.
- Giết! Giết!. – Tiếng Gergey vang lên lanh lảnh.
- Ahah! Ahah akbar[39]! – quân Thổ rú.
- Đập chết bọn chó đi! – Petơ Galpa gầm lên đâu đó giữa những cái lều.
Tiếng rú của bọn Thổ chen lẫn tiếng chửi rủa của các chiến sĩ Hung. Gươm vung loang loáng, phủ việt[40] quất vù vù, vó ngựa nện rầm rập, lều trại gẫy răng rắc, chó sủa ăng ẳng. Mặt đất cũng rung rinh dưới vó ngựa của một trăm kỵ sĩ.
Gergey thúc ngựa nhảy vào giữa một bầy di giáo bị kẹt giữa hai cây lều. Chàng chồm bên phải, phạt bên trái. Chàng cảm thấy lưỡi gươm của mình lần nào cũng phập vào thân người và đầu giặc rơi rụng, thây giặc ngã nhào trước ngựa chàng như lúa mì tháng sáu khi một con chó săn phóng giữa cánh đồng.
Dưới ánh trăng soi, chàng trông thấy tất cả bầy ngựa của bọn Thổ đang gặm cỏ thành một đàn và những tên chạy trốn đang dùng gươm cong chặt dây hãm rồi nhảy lên mình ngựa.
- Theo ta các cậu ơi – Chàng kêu to với Petơ lúc ấy vừa mới đến đó.
Và họ tấn công cả vào bọn đã lên ngựa. Họ chém cả người lẫn ngựa. Gươm khua loảng xoảng, giáo vặn răng rắc, chùy vung vù vù. Bọn Thổ kinh hoàng nhảy bừa lên ngựa có khi hai đứa cùng bám lên một ngựa. Đứa nào kịp thì tẩu thoát bằng ngựa, đứa nào không kịp nhảy lên ngựa thì vắt chân lên cổ mà lẩn vào đêm tối.
Gergey không đuổi theo chúng nữa. Chàng dừng lại, cho thổi tù và thu quân. Các chiến sĩ của chàng từ khắp phía, chạy qua những khoảng cách giữa các lều và đến chỗ chàng.
- Quân Thổ đã chạy! – Gergey nói to – Các cậu mau thu nhặt tất cả những gì có thể mang theo được ! Đừng ai buông ngựa ra khỏi tay! Lều nào có lửa chảy ở đằng trước thì hất lửa lên lều!
Các chiến sĩ lại tản đi. Gergey vẩy gươm cho ráo máu và đâm hai ba lần vào vải bạt của một cái lều để lau cho sạch.
- Phù, công việc này thật đáng kinh tởm biết bao! Chàng nói với Phekel, cũng đang chùi gươm theo kiểu đó.
Sau đó, khi đã không còn bóng quân Thổ ở đâu nữa, chàng gọi Kơrixtop đến bên mình:
- Ta hãy đi xem các lều một lượt!
Dưới ánh trăng mờ nhạt không thể phân biệt được lều nào là của sĩ quan chỉ huy. Các lều không cùng một dạng, cái thì tròn, cái thì vuông, và lều nào có sang trọng hơn những cái khác một chút thì đó cũng chỉ là loại lều được gửi đi trước mà thôi. Cho bọn lính thường.
Gergey giật lấy câu cờ đuôi ngựa trên nóc một cái lều và gọi hỏi Kơrixtốp:
- Thế nào cậu cả, cậu có chém không đấy?
- Hai đứa. – Người võ đồng vừa thở vừa đáp.
- Chỉ hai thôi à?
- Những đứa khác chạy mất cả.
Các chiến sĩ đã lùng được cả một vài cái xe. Họ ném lên đó tất cả những thứ không chất lên mình ngựa của họ được nữa: những tấm thảm, những cây cờ có thêu kim tuyến, những dây thắng ngựa nạm ngọc trang trí trước ức ngựa, những bộ yên cương, mũ sắt, binh khí, nồi chảo và tất cả những gì lọt vào tay họ. Họ còn tháo cả mấy cái lều, ném lên xe.
Khi họ về thành, trời đã rạng sáng.
Đôbô đã sốt ruột chờ họ trên pháo đài. Nếu trận xuất kích thất bại, dân thành sẽ lo âu.
Nhưng khi ông trông thấy những con chiến mã và những cái xe chất nặng, trông thấy Gergey từ xa đã giơ cao lá cờ Thổ đính chùm đuôi ngựa, niềm vui sướng sáng bừng trên khuôn mặt ông.
Khi đoàn dũng sĩ rầm rập kéo qua cổng thành, dân thành đã chờ sẵn ở đó và hoan hô họ bằng những tiếng reo vui vẻ.
Các chiến sĩ đã không bị tổn thất mà còn bắt thêm được tù binh. Gã chiến sĩ người cao mang theo một tên Thổ bị nhét giẻ đầy mồm, dẫn thẳng đến trước Đôbô. Đến đó anh kéo dải khăn tuyban ra khỏi mồm nó:
- Con xin báo cáo, - anh kiêu hãnh nói – chúng con đã đem về cả lưỡi.
- Đồ con bò!- tên Thổ điên tiết thét vào mặt người dũng sĩ.
- Đôbô vốn không hay cười, nhưng lần này ông cười ha hả đến nỗi chảy cả nước mắt.
- Vosanhi, - Ông nói với tên tù binh,- vậy là anh đóng vai lính Thổ cừ đấy chứ.
Và ông quay sang người dũng sĩ:
- Thôi, cởi trói cho anh ta đi. Anh ta là điệp viên của ta đấy.
- Con đã định nói với cái đồ ngu này rằng con là người Hung nhưng hễ con vừa lên tiếng là lần nào nó cũng nện vào đầu con, sau đó nó lại còn nhét giẻ vào mồm con nữa.
Vosanhi cay đắng nói và vung tay lên định tát.
Người dũng sĩ chưng hửng lùi ra một bên.
Đôbô vẫy Gergey và Mectsei lại, rồi nói với người điệp viên :
- Vào đây.
Ông đi vào ngôi nhà hai tầng có tháp ở trên mái, đứng bên cổng trong và bước vào phòng người giữ khóa cổng. Ông ngồi xuống một cái ghế bành đan bằng rễ cây rồi ra hiệu cho Vosanhi nói chuyện.
- Thưa đại úy, - người điệp viên vừa xoa bóp cẳng tay vừa hất đầu, - vậy là toàn bộ đại quân của chúng nó đã đến. Pasa Amet đi đầu. Đêm qua quân địch ngủ lại ở Ơbônhơ. Chúng nó phái tiền quân cùng với bêi Mondo đến Mokola. Mẹ kiếp ! – Anh ta nói thêm với giọng đổi khác.
Cái “mẹ kiếp” này là dành cho người dũng sĩ đã lôi anh ta vào Eghe. Sợi dây trói còn để lại những lằn sâu trên tay anh, đầu anh cũng nhận được vài cú nện, bởi vì chắc hẳn là anh đã giãy dụa chống lại bạo lực.
- Vậy tên bêi cũng đã ở đó với các ngươi đấy ư? - Gergey sửng sốt hỏi – Đáng lẽ chúng ta đã có thể bắt được hắn rồi.
- Khó lòng lắm. – Người điệp viên đáp – hắn béo như con lợn của các tu sĩ, ít nhất cũng đến ba tạ nếu không hơn.
- Anh bảo tên nó là gì?
- Monđo. Đạn không trúng hắn được. Hắn không phải là một tên bêi từ xưa. Chỉ mới trong mùa hè vừa rồi hắn được phong chức bêi sau trận hạ thành Temetva. Ngoài ra bọn lính chỉ hay gọi hắn là Hoivan.
Gergey mỉm cười nói với hai đại úy:
- Nó là tên Thổ mà tôi đã nói chuyện cách đây mấy tối. Được rồi, đến đây rồi đạn sẽ trúng.
Đôbô bảo người điệp viên:
- Nói tiếp đi.
- Sau đó đến bêi đặc mệnh, Xôkôlôvits Mehemét. Hắn bắn giỏi lắm. Hắn điều chỉnh các khẩu đại bác và sẽ ra lệnh bắn phát đầu tiên. Chúng nó bảo hắn có đôi mắt có thể nhìn xuyên qua tường. Còn lại thì không tin điều đó.
- Chúng nó có bao nhiêu đại bác?
- Đại bác công thành kiểu cổ chúng nó có mười sáu khẩu. Đại bác cỡ lớn khác chúng nó có tám mươi lăm khẩu. Đại bác bắn đạn cỡ nhỏ, hơn một trăm năm mươi khẩu. Đại bác bắn đạn ria rất nhiều. Đạn chúng nó chở trên một trăm bốn chục xe, con còn thấy hai trăm lạc đà chở thuốc súng. Trên một cái xe bốn bò mộng kéo, chúng nó chẳng chở gì khác ngoài đạn cẩm thạch, những viên đạn to cỡ bằng quả dưa hấu to nhất.
- Đoàn quân có được cung cấp dồi dào lương thực không?
- Gạo chúng nó không dư dật lắm. Hiện nay chúng nó chỉ phát gạo cho sĩ quan thôi. Nhưng bột với thịt thì chúng cướp lấy ở khắp mọi nơi.
- Trong quân có bệnh tật gì không?
- Không ạ, chỉ có bêi Kaxôn bị ốm ở Hotvon, mà cũng chỉ vì ăn dưa chuột muối mà thôi.
- Còn ai nữa?
- Bêi Orơxơlan.
- Con của tên cựu tổng trấn Buđô ấy à?
- Vâng
- Còn ai nữa?
- Bêi Muxtapha, bêi Kombe, bêi Veli.
- Mẹ kiếp cái tên bêi Veli ấy chứ, - Metsei lẩm bẩm - Ta sẽ bắt nó hát cho mà xem!
- Ta còn cho nó nhảy nữa ấy chứ. – Gergey nói
- Thế còn tên bêi đạo sĩ? – Đôbô hỏi – Nó là loại đạo sĩ gì?
Voshanhi lắc đầu:
- Hắn rất đặc biệt. Cũng là bêi chính thức như những tên khác, nhưng hễ ra trận là hắn cởi bỏ áo bêi và mặc áo khoác lông cừu. Vì thế mà chúng nó mới gọi hắn là bêi Đạo sĩ.
Người điệp viên nói và nhìn Đôbô với vẻ không vui, vì từ câu hỏi của ông, anh ta thấy là một điệp viên khác của Đôbô đã vượt trước anh ta.
- Hắn là người như nào? - Đôbô tiếp tục cặn vặn - Hắn chỉ huy quân đội nào?
- Con thấy hắn đi với đội kỵ binh. Hắn chột một mắt. Trước kia hắn là aga của bọn ionisa và tên thật của hắn là Ymusae.
Nghe thấy cái tên ấy, bàn tay của Gergey chợt cử động và chuồi xuống đốc kiếm.
- Ymusae – Chàng nói - Ngài không nhớ ra ư, thưa đại úy? Chính con đã thoát khỏi tay hắn hồi còn nhỏ đấy thôi.
Đôbô lắc đầu:
- Trong đời ta đã đụng độ với bao nhiêu là tên Thổ, đến nỗi ta nếu ta có quên mất tên này hay tên nọ thì cũng chả có gì đáng lạ
Nhưng ông chợt vỗ tay lên trán:
- Sao ta lại không biết hắn cơ chứ. Hắn là em của tên bêi Orơxơlan. Một đứa tàn ác như lang sói.
Rồi ông lại quay sang hỏi người điệp viên:
- Anh làm gì trong trại quân Thổ?
- Con đã được vào làm lính hầu của tên bêi Mondo (quỷ tha ma bắt cái anh chàng ngớ ngẩn đã bắt con về đi) đáng lẽ con đã có thể lấy tin tức về tất cả mọi mưu đồ của chúng.
- Anh làm thế nào mà được vào làm ở chỗ tên bêi?
- Con đánh bạn với thằng hầu cũ của hắn và lúc nào cũng quanh quẩn bên lều của hắn. Ở Hotvon tên bêi giận thằng hầu cũ và đánh đuổi đi, còn con thì vì hắn đã thấy nhiều lần nên hắn gọi con đến làm, bởi vì con cũng đã biết nấu mực rồi.
- Cái gì?
- Mực. Hắn uống mực cũng như ta uống rượu vang vậy. Sáng, trưa, tối hắn đều chỉ uống mực.
- Có lẽ không phải mực đâu, anh ạ.
- Nhưng rõ ràng là mực mà, đúng thật loại mực đen tốt, nấu bằng một thứ đậu gì gì ấy, đắng ơi là đắng, đến nỗi có lần con nếm thử mà đến tận ngày hôm sau vẫn còn phải nhổ nước bọt đấy. Chúng nó gọi thứ đậu ấy là cà phê.
Ba vị chỉ huy đưa mắt nhìn nhau, trong bọn họ chưa hề ai nghe nói đến cà phê cả.
- Thôi, anh làm được đến thế là tốt rồi đấy. – Đôbô nói và ngước nhìn ra phía trước – Quân chúng nó kháo nhau những gì về Eghe? Chúng nó có bảo thành này kiên cố không, hay chúng nó cho là chuyện dễ xơi?
- Từ khi Xonóc thất thủ, - người điệp viên đáp – chúng nó tưởng rằng tất cả thế giới đều là của chúng nó. Khắp trại quân, nơi nào chúng nó cũng kháo nhau rằng Ali đã viết thư cho Amet nói rằng Eghe chỉ là một cái chuồng cừu xộc xệch.
- Thế chúng nó chưa hội quân à?
- Bẩm chưa.
Đôbô nhìn Mectsei, Metsei mỉm cười nhún vai:
- Rồi chúng nó sẽ thấy trong cái chuồng cừu xộc xệch này có những con cừu hung dữ đến thế nào.
Người điệp viên nói tiếp:
- Trong trại chúng nó có nhiều quân ô hợp. Dù tất cả các loạt con buôn Hy Lạp, bọn làm xiếc leo dây, bọn Ácmêni, bọn lái ngưa và xigan đi theo đoàn quân. Nô lệ cũng có vài trăm, phần lớn là phụ nũ Temétxa. Họ bị đem chia cho bọn sĩ quan.
- Quân khốn nạn! – Mectsei lẩm bẩm.
Người điệp viên lại nói tiếp:
- Nô lệ nam giới thì con chỉ thấy loại thiếu niên thôi, với lại phụ đánh xe chở đạn, bêi Orơxơlan mỗi ngày nói đến hàng chục lần rằng những người Eghe hễ trông thấy đoàn quân bạt ngàn là sẽ bỏ trốn ngay, cũng như bọn Xonóc.
- Lực lượng chính của đạo quân đó là gì?
- Là có đồng bọn Ionisa và càng đông hơn nữa bọn thiết kỵ. Bọn công binh đào hầm cũng đến. Chúng nó gọi bọn ấy là Logumji. Bọn lính Kunbaraji cũng đến, đó là bọn dùng thương và ná bắn đá để tăng hỏa hoạn vào thành.
Đôbô đứng dậy:
- Bây giờ thì anh đi đi, đi nghỉ đi. Đến khuya anh sẽ trở lại trại quân địch. Nếu có gì cần báo cáo, anh cứ việc đến dưới chân thành về phía thành phố và vẫy một cái khăn trắng.
7
Ngoài bãi chợ lập tức bắt đầu một cuộc bán hóa giá. Năm xe chất đầy và tám con ngựa nhỏ giống Thổ.
Người ta lôi viên thư lại phát xipô ra khỏi giường, rồi đặt một cái bàn trước mặt anh ta, một người đánh trống bên cạnh anh ta, và cử Bôđôphonvi Pete làm người xướng giá.
- Bắt đầu từ mấy con ngựa đi. - Petơ nói
- Một con ngựa Ảrập tuyệt đẹp đây! - Bôđôphonvi bắt đầu xướng.
- Cậu gọi cả hai con cùng một lúc đi. – Mectsei bảo.
Bởi vì trong số chiến lợi phẩm có hai con ngựa chiến giống nhau như đúc.
Chẳng có ai trả cho hai con ngựa đó một giá nào cả, tuy thế vẫn bán được. Đôbô ủy cho Mectsei mua lấy đôi ngựa tốt đó cho các võ đồng, Mectsei chờ xem có ai lên tiếng không, nhưng tất cả mọi người đều dành tiền để mua binh khí và các loại quần áo. Mectsei bèn mua cả tám con ngựa với giá bốn phôrinh[41] và dắt về chuồng.
Sau đó đến lượt các cỗ xe, trong đó tha hồ nhiều thứ binh khí đẹp. Với một vài đêna[42] đã có thể mua được một thanh gươm cán nạm ngọc hoặc một khẩu súng có báng bằng ngà voi. Các phụ nữ đua nhau mua các loại quần áo. Phuyghétdi mua một cây chùy nặng hai chục bảng[43], Pócxi Yốp mua một tấm nhung phủ mình ngựa. Zôntoi mua một cái mũ chiến bằng bạc có lưới che mặt. Tiền rơi rào rào xuống trước mặt viên thư lại Mibai và gã cắm cúi ghi hết những ai mua gì, trả được bao nhiêu.
Khi cái xe đầu tiên đã vơi đến đáy thùng, Bôđôphonvi vui vẻ kêu lên:
- Bây giờ đến cái hòm bảo vật của vua Dariux[44] danh tiếng đây!
Và với sự giúp đỡ của một người lính nữa, anh nhấc một cái hòm bọc da bê rất đẹp đặt lên bệ xe. Cái hòm đậy kín nhưng không thấy khóa hay then gì cả. Người ta phải dùng rìu mới cậy nắp lên được.
Dân thành tò mò đè lên nhau để xem. Dù trong hòm không có bảo vật của vua Dariux chăng nữa, một vài thứ đồ tế nhuyễn chắc hẳn phải có.
- Tôi muốn mua một vài cái cốc bằng bạc – Một lão chủ quán rượu trong thành nói.
- Tôi muốn mua một khăn lụa thật đẹp. – Một cô gái đi ủng đỏ ao ước.
Bởi vì cô đã thấy người ta ném trên xe xuống hàng đống quần áo nữ cùng mấy chậu hoa, rõ ràng là một số sĩ quan Thổ đã mang cả vợ đi theo.
- Tôi chỉ muốn một đôi giày poput[45] thôi – Một bà lão nói – Tôi đã nghe đồn nhiều là người Thổ khâu giầy poput tốt lắm.
Nắp hòm bật lên.
Khán giả ngạc nhiên không ít khi thấy một thằng bé độ sáu - bảy tuổi từ trong hòm chui ra. Đó là một thằng bé Thổ da mặt trắng trẻo, mắt như mắt con nai coi bộ rất hoảng sợ. Tóc nó cắt ngắn, mình mặc một cái áo bé tẹo, một đồng tiền vàng đeo tòn ten ở cổ.
Bôđôphonvi chửi:
- Chà, chà, tiên sư cái thằng bố đầu ễnh ương, đẻ trên cành xung của nhà mày chứ!
Và anh méo xệch mặt làm bộ kinh tởm. Mọi người cười ran.
- Quật chết thằng lối con đi! – Một chiến sĩ đứng trên một cỗ xe khác la lên.
- Diệt cỏ phải diệt tận gốc ! - Một người khác nói.
Thằng bé òa lên khóc.
- Bước ra đi chứ, cái thằng bố mày! – Bôđôphonvi quát lên và túm lấy vai thằng bé nhấc ra khỏi cái hòm rồi ném xuống bãi cỏ khiến nó ngã giúi dụi.
Thằng bé khóc thét lên. Mọi người căm ghét nhìn nó.
- Ôi, xấu xí quá! – Một phụ nữ kêu lên.
- Xấu đâu nào! – Một người khác đáp lại.
Thằng bé đã đứng dậy, đôi mắt sợ sệt đẫm ướt và cái miệng mếu máo. Mỗi nháy mắt nó lại giụi mắt một cái và nhìn quanh. Nó không dám khóc to nữa, chỉ thút thít.
- Đập chết nó đi mà! – Một người lính đang dỡ cái lều ra lại quát lên.
Thằng bé nghe tiếng quát lại giật nảy mình và nép vào váy một người đàn bà, giấu mặt vào phía trong. Ngẫu nhiên đó lại chính là người đàn bà đã chê nó xấu xí, một mụ đàn bà đã già, mũi khoằm như mỏ diều hâu, người gày gò, làm việc trong nhóm phụ nữ nướng bánh. Lúc đó tay áo mụ đang xắn lên, đầu chít một cái khăn màu xanh, múi buộc đằng sau.
- Ồ, sao lại đánh chết! - Lúc này mụ đã đặt tay lên đầu thằng bé nói: - Nhỡ không phải là thằng bé Thổ cũng nên. Phải thế không con, con không phải là Thổ chứ?
Thằng bé ngẩng mặt lên nhưng không đáp.
- Thì nó còn là gì nữa mới được chứ? – Bôđôphonvi nói. – Quần áo nó đây này - Mũ nó đây, màu đỏ, áo dônman nó đây, cũng màu đỏ! Ai đã từng thấy cái quần thụng ống túm như thế này cơ chứ? Có dây gấu ống quần, có thể rút túm lại như miệng cái túi.
Anh vừa nói vừa ném quần áo của thằng bé xuống đất.
- Anmen. - Thằng bé cất tiếng – nerede?
- Nào, đã thấy nó là Hung chưa! – Mụ đàn bà đắc thắng kêu lên. – Nó nói đấy, “onham, deride!”.[46]
- Hung đâu mà Hung, hở bà Vôsơ – Peto vừa cười vừa nói - Nó có nói là “deride” đâu, nó nói là “nerede”. Nó hỏi: mẹ nó đâu?
Và anh quay sang bảo thằng bé:
- Jok burds anang! (Mẹ mày không có đây!)
Nghe vậy thằng bé lại khóc òa lên:
- Medel, medel (Ôi! ôi!)
Mụ Vô sơ quỳ xuống, lặng lẽ mặc quần áo vào cho thằng bé. Quần đỏ, mũ đỏ, dép đỏ, áo đônman màu tím. Cái áo đônman đã có chỗ vá, đôi dép đã phai màu. Mụ lấy tạp dề lau mặt cho thằng bé rồi nói như kiểu đưa ra một nhận định:
- Phải trả nó về mới được.
Peto chẳng biết nên xử trí ra sao cả.
- Chà! - Bôđôphonvi hét lên và tuốt gươm ra. – Thế bọn chó má ấy không tàn sát trẻ em của chúng ta đấy hay sao? Cả trẻ sơ sinh chúng cũng chẳng tha!
- Đâm chết đi! – người lính dỡ cái lều kêu lên.
Mụ Vô sơ kéo thằng bé đi và cầm lấy tay nó để người lính đừng đánh.
- Đừng động đến nó!
Thêm hai người đàn bà nữa cũng cầm lấy tay thằng bé.
Khi anh chiến sĩ tra gươm vào vỏ, thằng bé đã biến mất giữa những cái váy và những cái tạp dề đến nỗi giá có dùng thương cũng chẳng thể đâm trúng được nữa.
Sau trận đánh hồi đêm, Gergey cho ngựa chạy xuống suối Nước nóng. Chàng tắm một cái rồi nhanh chóng quay về. Trước lâu đài chàng gặp một gã thanh niên người mập mạp, mặc áo khoác cộc tay màu xanh. Vai gã vác một cây gậy sắt dùng để dện thuốc nổ vào đại bác, hoặc như người ta thường gọi là cái bàn thuốn. Một cái dây ngòi đen nhẻm treo ở đầu gậy. Gã chào Gergey.
Khi gã quay mặt lại, Gergey sửng sốt đứng dừng lại. Cái gã trai tóc hoe vàng, áo khoác xanh này , cái mũi nhỏ như mũi trẻ con này, giữa đôi mắt bạo dạn…
Có những khuôn mặt khắc sâu trong ký ức của chúng ta như bức tranh sơn dầu treo trên tường không hề phai nhạt. Khuôn mặt này và cái dáng vóc này vẫn sống trong ký ức của Gergey. Khi chàng bị bắt làm tù binh hồi nhỏ và ngồi trong lòng một cô thiếu nữ trên xe, chàng đã trông thấy khuôn mặt này. Người thanh niên bị xiềng chân và chửi rủa bọn Thổ.
Gergey gọi gã : Gatpa!
- Vâng, đúng là tên con. – Gã thanh niên mỉm cười đáp và bỏ mũ xuống. – Ngài làm sao mà biết được tên con, thưa thượng úy?
Gergey không nói nên lời.
- Chuyện này dù sao vẫn có vẻ là một câu chuyện dớ dẩn. – Chàng tư lự - Bởi vì anh này không thể nào lại là anh kia được. Ta gặp anh kia đã hai mươi năm nay rồi cơ mà.
Tuy nhiên chàng vẫn hỏi:
- Bố anh tên là gì?
- Cũng như tên con thưa thượng úy: Kotsit Gatpa.
- Còn mẹ anh là Morơghit phải không?
- Vâng ạ.
- Không phải là bố mẹ anh đã lấy nhau ở Boronyo hay sao?
- Thưa chính thế đấy ạ.
- Họ đã là nô lệ của bọn Thổ.
- Chúng nó chỉ mới đang dẫn họ đi.
- Nhưng rồi họ được giải thoát.
- Đúng thế ạ.
- Đôbô đã giải phóng cho họ.
- Với lại một cậu bé nữa.
Gergey thấy nóng bừng trên mặt.
- Mẹ anh có đây không?
- Có ạ, bởi vì cha con cũng ở đây. Cha con ở cùng chỗ với con: chúng con bảo quản một khẩu đại bác.
- Mẹ anh ở đâu?
- Mẹ con đến kia kìa!
Một người đàn bà to béo, nét mặt tròn vành vạnh đang từ phía cổng đi tới, hai tay ôm hai bình sữa, lưng đeo một cái thùng. Tạp dề của bà cũng đựng đầy cà rốt.
Gergey bước vội tới chỗ bà.
- Thím Morơghit thân mến! Thím Morơghit tốt bụng! Hãy để cho tôi được hôn má thím một cái nào.
Và trước khi người đàn bà kịp trấn tĩnh, chàng đã hôn chụt lên cả hai má của bà.
Người đàn bà cứ ngẩn tò te ra mà nhìn chàng.
- Thím ơi, tôi là thằng bé mà thím bế trong lòng trên đường đi Pets đây mà.
- Ồ! - Bà sửng sốt nói – Chằng lẽ lại là ngài đấy ư, hở ngài tráng sĩ?
Giọng của thím nghe ồm ồm như tiếng một cây kèn gỗ.
- Tôi đây, thím à. – Gergey mừng rỡ đáp. – Đã bao lần khuôn mặt phúc hậu thời con gái của thím hiện ra trong ký ức tôi! Và chúng tôi nhớ thím đã an ủi, chăm sóc chúng tôi như thế nào trên nóc xe.
Những giọt lệ vui mừng long lanh trên mắt thím Morơghit.
- Mày đỡ cái bình sữa này hộ mẹ cái, – thím bảo gã con trai, – kẻo nó rơi khỏi tay tao bây giờ đây! Thế cái cô bé tí xíu ấy? Cô ta còn sống nữa không?
- Sống chứ thím. Cô ấy bây giờ là vợ tôi đấy. Cô ấy ở nhà, ở Sôpơrôn. Tôi đã có một cháu trai rồi, tên nó là Lontsi. Tôi sẽ viết cho vợ con tôi biết là tôi đã gặp lại thím Morơghit tốt bụng. Tôi sẽ viết cho họ biết.
Ôi, tráng sĩ Gergey, con trai anh ở đâu? Người vợ đẹp của anh đang ở đâu?
8
Ngày hôm đó, Gergey nằm ngủ dài trên tấm nệm da gấu. Chàng chỉ bừng tỉnh giấc khi trong thành bỗng nổi lên tiếng rào rào, răng rắc rất dữ dội, như thể nguời ta đang đập phá hàng ngàn cánh cửa.
Chàng vươn vai đứng dậy, đến mở cánh cửa chớp. Thì ra cả thành phố đang chìm trong bể lửa. Tòa nhà thờ xứ to lớn nguy nga, lâu đài giám mục lộng lẫy, nhà thờ Mikơlốt, tòa nhà của các linh mục, nhà xay Sặc sỡ và tất cả các ngôi nhà khác đều ngập trong thác lửa cuồn cuộn, trong màn khói ngùn ngụt bốc cao. Tiếng ào ào vượt qua trên đầu chàng, vang động khắp thành, rùng rợn như địa ngục.
Chàng mở cánh cửa sổ phía trong, ngói bay loạn xạ vụt qua trước mặt chàng. Người ta đang phá nóc tu viện và cả cái mái mới rất đẹp của nhà thờ. Vô vàn ngói men xanh, ngói gỗ[47], rui, kèo bay tứ tung.
Chàng mở cánh cửa sổ thứ ba, từ đó nhìn ra chàng cũng chẳng thấy gì khác ngoài cảnh đập phá mái nhà. Trên các sân bãi và giữa các ngôi nhà không thấy bóng một ai, nhưng trên các mặt lũy đầy những người.
Chàng nhìn mặt trời, thấy đã quá trưa. Chàng gọi người lính hầu. Gã không có nhà. Chàng vớ lấy bình nước, rất nhanh nhẹn rửa mặt. Chỉ một phút sau chàng đã chỉnh tề quần áo, đeo gươm và đội mũ cắm lông đại bàng rồi lao xuống thang gác. Chàng vớ lấy một cái lá chắn giơ lên che mình rồi vội vã đi ra pháo đài dưới trận mưa ngói.
Lên tới pháo đài chàng mới nhìn thấy quân Thổ đang từ lung lũng tràn tới như một dòng thác lũ loang lổ chực nuốt cả thế giới. Chúng nó kéo đến trong tiếng động ầm ầm, trong tiếng nhạc kèn trận, trong tiếng trống thì thùng. Những lá cờ đại màu đỏ, màu trắng, màu xanh bay phấp phới pha lẫn vào nhau.
Onmodo, ngôi làng nhỏ xinh đẹp ven bờ suối Nước nóng đang cháy. Tất cả mọi ngôi nhà trong làng đang cháy.
Trên đường Mokơla, một đoàn trâu bò đen trùi trũi dài dằng dặc hút tầm mắt. Con nào con nấy đều gò lưng kéo đại bác.
Bên sườn núi là bọn rebetji[48] giáp trụ sáng ngời, và dưới nữa, về phía vườn thú là quân Akanji[49] mũ đỏ đông như kiến cỏ. Đằng sau chúng còn biết bao thứ quân khác nữa !
- Ngài đại úy trấn thủ ở đâu?
- Trên tháp nhà thờ.
Gergey ngước nhìn sang. Trên cái mái bằng của ngọn tháp, Đôbô đang đứng quan sát, đầu đội cái mũ dạ màu lông bồ câu thường ngày của ông. Bên cạnh là Mectsei, Zôtoi, Petơ, giáo sĩ, Xexey và ông lão Xukan.
Gergey vội vã đi sang bên đó. Một cái thang gỗ dẫn lên tháp. Chàng nhảy ba bực một. Ở chỗ vòng, chàng đâm sầm vào Phuyghétdi :
- Tại sao thành phố lại cháy thế? – Chàng vừa thở vừa hỏi.
- Đại úy đã ra lệnh phóng hỏa.
- Thế còn ở đây? Cảnh đập phá này là nghĩa lý gì?
- Chúng ta phá bỏ nóc nhà để quân Thổ không còn gì mà đốt nữa.
- Cậu đi đâu đấy?
- Mình đi bảo chúng nó chở nước vào bể. Cậu lên đi, Đôbô đã hỏi đến cậu đấy.
Từ đỉnh tháp nhìn ra càng thấy rõ hơn đoàn quân Thổ. Đạo quân trùng trùng điệp điệp đến tận Mokơla, chẳng khác gì một khu rừng chuyển động.
- Này, Gergey. - Mectsei nói với chàng – Tớ vừa mới hỏi Kơrixtốp đấy, đêm qua các cậu đập chết quân Thổ mà như thế đấy à?
- Quân cẩu trệ đã sống lại đấy! - Gergey đáp. – Cái thằng mà Bokôtsoi đã đem thủ cấp về cũng đang đi đến kia kìa!
Và chàng quay sáng Đôbô:
- Ta không gửi cho chúng một lời chào đến có nhân có lõi[50] hay sao?
- Không đâu, - Đôbô mỉm cười đáp, rồi thấy Gergey nhìn mình với vẻ dò hỏi, ông hất đầu về phía quân Thổ:
- Kẻ nào đến thì phải chào trước chứ.
Dưới thành phố, đạo quân Thổ tản về phía vườn thú, y như dòng nước lũ chảy quanh hòn đá mà nó gặp trên đường.
9
Đêm hôm đó, lại một vài người dân miền trên biến đi mất. Nhưng đã có người khác đến thay họ: khoảng chừng ba chục người nông dân vùng Phennêmet. Họ đến với những lưỡi hái[51] uốn thẳng ra. Một người mang cả bàn tuốt lúa đi theo. Tất nhiên những hàng đinh trên bàn tuốt đã được đập cho chỉa tua tủa cả ra. Một người to ngang, đeo tạp dề da dẫn họ đến. Vai ông ta vác một cây búa tạ.
Khi cả đoàn dừng lại trước mặt Đôbô, ông ta hạ cây búa xuống đất, bỏ mũ ra và nói :
- Chúng tôi là dân ở Phennêmet. Chúng tôi vào đây.
- Tên tôi là Gergey.
- Tôi là thợ rèn. Nếu cần đập sắt thì tôi đập sắt, nếu cần nện quân Thổ thì tôi nện quân Thổ.
Đôbo chìa tay cho ông ta.
Sau họ, những nông dân ở Onmodo, ở Tihomê, ở Obônhơ cũng đem cả vợ con đến. Đám đàn bà xống áo cứ lòe xòe, còn đám đàn ông thì mang đầy nặng, cũng có những người cưỡi ngựa hoặc đi xe thồ đến.
Một cái xe bò lọc cọc lên thành. Trên xe có một quả chuông to đến nỗi hai bên sườn sát cả vào bánh xe. Một ông già dáng dấp quý tộc đi phía trước xe, cạnh ông là hai công tử mặc áo đônman bằng dạ xanh, chân dận ủng đỏ. Một cậu độ hai mươi tuổi, ria mép cong lên. Cậu kia độ mười sáu, còn đang trẻ con. Mặt họ đều tròn trặn một kiểu và đều rám nắng, cổ họ đều ngắn tun tủn như nhau. Ông già đeo bên sườn một thanh gươm rộng bản, vỏ bọc nhung đen, bên sườn hai cậu công tử là gươm hẹp lưỡi, vỏ bọc nhung đỏ. Ông già mặc quần áo màu đen, đôi ủng của ông cũng màu đen.
Bộ quần áo màu tang đó từ xa đã đập vào mắt Đôbô, nhưng vì những người nông dân ở Phennêmét đang làm ông bận rộn nên chỉ lúc ông già kia đã vào đến nơi, ông mới lại trông thấy. Thì ra là ông đốc lý Eghe.
- Ô này, ông học sĩ Ondơrát! – Đôbô vừa nói vừa chìa tay ra cho ông ta bắt.
- Vâng, tôi đây. – Ông đốc lý Eghe đáp. – Tôi mang quả chuông cổ đến đây, những cái khác tôi đã chôn giấu cả rồi.
- Thế còn hai chàng trai khảng khái này?
- Chúng nó là con trai tôi đấy.
Đôbô bắt tay cả hai chàng công tử đó nữa rồi quay sang người đánh xe bò:
- Các ngươi hãy đem quả chuông đến cạnh nhà thờ pháo đài Kơrixtôp – Ông bảo người võ đồng – con hãy nói với ngài Mectsei đem chôn quả chuông đi kẻo nhỡ đạn bắn phải.
Cái nhìn của ông dừng lại trên đôi ủng đen của ông đốc lý.
- Bác để tang ai đâý?
Ông đốc lý Eghe nhìn xuống đất.
- Thành phố của tôi.
Khi ông ngẩng đầu lên, lệ đã đầy trong mắt.
Sau đó còn một người mặc áo dạ màu tro đến cùng với hai phụ nữ. Cả hai phụ nữ mỗi người đều dắt theo một đứa bé.
Đôbô thân thiện nhìn người đàn ông và nói :
- Ông là thợ xay phải không?
- Con là thợ xay ở Mokơla. – Người kia trả lời với vẻ gần như tươi tỉnh vì giọng nói thân thiện của Đôbô. – Tối qua con đã ngủ trong nhà xay Sặc sỡ.
- Thế còn hai phụ nữ này?
- Một người là vợ con, đứa kia là con gái con. Còn hai đứa kia là hai con trai nhỏ của con. Họ không muốn bỏ con mà đi, vì vậy con bảo có lẽ thế nào cũng kiếm được một túp lều nhỏ ở đây.
- Chỗ thì có đấy, ta không nói về chuyện ấy đâu, nhưng ta thấy đã quá nhiều phụ nữ rồi đấy.
Ông quay sang hỏi Sukan :
- Trong thành có bao nhiêu phụ nữ rồi?
- Cho đến nay là bốn mươi lăm. – Sukan trả lời.
Đôbô lắc đầu.
Sau đó lại có thêm ba người nữa đến, có một giáo sĩ cũng đi theo họ, một giáo sĩ người gầy, má hóp. Ông ta không có gươm, chỉ có gậy và một cái đẫy may bằng da chồn.
Đôbô mừng rỡ đón ông ta. Đáng lẽ còn cần nhiều giáo sĩ hơn nữa kia, để làm cho các chiến sĩ cảm thấy sự gần gũi của Thượng đế và để có người thuyết pháp. Với lại cũng phải có người làm lễ thánh cuối cùng cho những chiến sĩ hấp hối. Rồi lại còn việc mai táng nữa chứ.
- Cầu thượng đế phù hộ cho ông. – Đôbô nói. – Ta cũng chẳng hỏi tên ông nữa, bởi vì ông đã từ chỗ Thượng đế mà đến đây: Thượng đế đã gửi ông đến đây với chúng tôi.
- Trong thành có giáo sĩ chưa? – Con người đến từ Nhà chung hỏi – Có mấy giáo sĩ rồi?
- Chỉ mới có một mà thôi. – Đôbô buồn rầu đáp, bởi vì bằng vào cách phát âm của người giáo sĩ này, ông đã thấy rằng ông ta sẽ chẳng phải là người có thể thuyết pháp được.
Trong khi quân Thổ từ phía Nam lũ lượt kéo đến và tỏa ra xung quanh thành phố theo hình móng ngựa, những người dân còn sót lại trong thành phố đều rút cả lên thành. Phần lớn họ đều là nông dân và thợ thủ công, cả vợ và con cái họ cũng đi theo.
Trong bất cứ thành phố bị chiếm đóng nào cũng còn sót lại những kẻ lưỡng lự, họ nói:
- Quân Thổ sẽ chẳng đến đây đâu. Năm nào người ta chả dọa thế gian như vậy. Nhưng rồi chúng ta già lụ khụ, rồi chết đi mà vẫn không thấy quân Thổ quấy phá gì ta hơn lũ bọ rầy.
Những kẻ như thế thường bị lụt lội và chiến tranh giết hại nhiều hơn cả. Họ là lũ con cháu không bao giờ tuyệt diệt của gia đình “còn rỗi chán”[52].
Đôbô cũng chẳng lấy việc họ đến làm phiền. Càng nhiều người càng tốt. Phụ nữ và trẻ em tuy không phải là loại khách được ưa thích trong thành, nhưng cũng không thể đuổi họ đi được. Vả lại ngần ấy chiến sĩ cũng cần phải có bàn tay phụ nữ. Vậy thì cứ để cho họ đến.
Người ta phân phối phụ nữ vào các nhà bếp, các lò nướng bánh. Bác Sukan chỉ chỗ cho tất cả mọi gia đình. Có chỗ mười người, hai chục người phải sắp xếp cho ở trong một phòng. Nói cho cùng, người ta cũng chỉ cần chỗ ngủ ban đêm mà thôi, một chỗ để có thể đặt gói quần áo xuống.
Còn đám đàn ông thì Mectsei tập trung vào góc pháo đài ở cổng và chừng nào họ chưa tuyên thệ như những người lính, họ vẫn chưa được phép đi sâu hơn vào phía trong thành.
- Chà, - một tay chủ ruộng nho ở Eghe nói sau buổi lễ tuyên thệ - thì chúng tôi vào đây chính là để bảo vệ thành chứ còn gì nữa.
Một người khác tiếp luôn :
- Sở dĩ có thành là để chúng ta gìn giữ.
Mectsei phát vũ khí cho bọn họ ngay tại chỗ. Gươm, giáo, lá chắn, mũ chiến xếp từng đống từng đống dưới mái vòm của pháo đài. Tất nhiên không phải là những đồ tuyệt xảo của thành Đamát của xứ Hindoxtan, của Đerơben, mà chỉ là những thứ quân khí han gỉ thông dụng, từ thế kỉ này qua thế kỉ khác tồn tại trong thành. Ai nấy được tự do lựa chọn theo ý thích của mình.
Một tay thợ may có cặp ria rậm và cặp lông mày cũng rậm chẳng kém gì bộ ria, nói với vẻ rất tự tin :
- Thưa đại úy, những vũ khí này tốt đấy, nhưng con đã mang theo cả cái kéo của con nữa đây.
Gã rút từ trong túi ngực tạp dề ra một cái kéo sáng loáng.
- Nếu bọn Thổ xông vào con, con sẽ dùng cái này xẻ ruột chúng ra!
Một vài người đội thử mũ chiến nhưng bởi vì mũ sắt là một thứ đồ vật nặng, lại có vẻ giống cái nồi hơn là loại mũ trụ đẹp đẽ, sáng bóng của các trang dũng sĩ, nên họ bỏ lại cả:
- Để làm gì cái ngữ này cơ chứ!
- Được, rồi các ngươi sẽ thấy để làm gì.
Khi trời đã về chiều, những người lính canh trên tháp chuông báo cáo rằng từ phía Phennêmét có một cái xe tứ mã sang trọng đang lướt tới.
Người ta không thể đoán nổi là ai. Xe tứ mã chỉ có ngài giám mục hay đi chứ còn những nhà quý tộc khác chỉ những lúc ốm đau mới ngồi lên xe. Mà người ốm thì chẳng ai lại đến đây.
Hai vị đại úy cũng thân ra đứng trên pháo đài quan sát cỗ xe tứ mã đang lao tới như bay chẳng khác một con rồng.
- Các ngài sẽ thấy đức giám mục đến. – Phuyghétđi, viên trung úy của giáo đoàn nói.
Thấy không ai tin điều đó, anh ta liền nhặt nhạnh các dẫn chứng trong lịch sử:
- Từ trước tới nay các vị đó đã chẳng phải luôn luôn có mặt trong mọi trận mạc đấy hay sao? Chẳng phải hầu hết các vị đó đều đã có mặt ở Môhát hay sao? Chức giám mục đâu chỉ là chức sắc của Nhà chung mà còn là một chức vụ trong quân đội nữa. Tất cả các giám mục đều có quân đội riêng của mình. Tất cả các giám mục đồng thời cũng là đại úy.
- Ước gì tất cả các đại úy đều có thể là giám mục – Đôbô đáp.
Có lẽ ông cũng nghĩ rằng giá như vậy thì ông đã có thể chiêu mộ được nhiều lính hơn để chống nhau với bọn Thổ.
- Có khi là tin sứ của nhà vua cũng nên, nhưng ông ta đã bị ốm dọc đường! – Mectsei có ý kiến.
Nét mặt Đôbô liền tươi tỉnh lên, ông nói với vẻ tin tưởng:
- Nhà vua không thể bỏ mặc chúng ta được.
Sốt ruột quá, ông liền bước xuống cầu thang, đi qua bãi chợ xuống chỗ Cổng Cũ, nơi có đường xe chạy dẫn lên thành.
Cỗ xe kia là một cỗ xe nhà quý tộc thếp vàng, có mùi da. Nó vòng đến cổng phía nam rồi chạy qua cổng vào bãi chợ. Một phu nhân dáng người cao cao, mặc quần áo đen bước ra khỏi xe.
- Ngài đại úy đâu? – Đó là lời nói đầu tiên của bà.
Khi đã trông thấy Đôbô, bà vén mạng che mặt lên. Đó là một phu nhân khoảng độ tứ tuần, quần áo của bà cho biết bà là một quả phụ.
- Phu nhân Bolôc – Đôbô sửng sốt nói và bỏ mũ xuống, nghiêng mình thi lễ.
Người mới đến chính là mẹ của cậu võ đồng mà Đôbô đã gửi về nhà theo Nogiơ Lukát.
- Con trai tôi… - Bà nói với đôi môi run rẩy – Bolajơ đâu rồi?
- Tôi đã gửi cậu ta về nhà rồi thôi. – Đôbô ngạc nhiên trả lời – Tôi gửi cậu ta về nhà đã hơn một tháng nay rồi.
- Vâng, tôi biết. Nhưng nó đã trở lại đây.
- Cậu ta không trở lại.
- Nó để thư lại nói rằng nó đến đây mà.
- Không có đâu.
- Nó đã trốn theo Nogiơ Lukat.
- Cậu ấy cũng chưa trở lại.
Người quả phụ ấn tay lên trán:
- Ôi, đứa con trai độc nhất của tôi… Thế là nó cũng đã mất rồi!
- Chưa chắc.
- Tôi đã thề bên giường người chồng hấp hối của tôi rằng chừng nào nó chưa lấy vợ, tôi còn chưa để nó dấn vào nguy hiểm. Nó là hạt giống cuối cùng của dòng họ chúng tôi.
- Thưa phu nhân tôn kính, tôi biết lắm. – Đôbô thở dài đáp – Thì chính vì vậy mà tôi đã gửi cháu về nhà. Bây giờ thì xin phu nhân quay về đi, vòng vây quân Thổ hãy còn chưa khép lại.
Và ông phái một đại đội kỵ binh đi hộ tống phu nhân.
Người đàn bà chắp tay vào nhau, khẩn khoản nhìn Đôbô:
- Nếu cháu nó có trở lại…
- Cháu đã không còn trở lại đây được nữa. Từ đêm qua Thành phố đã bị bao vây. Chỉ có quân đội của nhà vua mới mở được lối vào đây mà thôi.
- Nhưng nhỡ nó trở lại với đoàn quân đó…
- Tôi sẽ phải nhốt cái chú ma lanh đó vào trong nhà tôi!
Người quả phụ ngồi vào xe. Năm mươi kỵ binh đi trước xe, năm mươi kỵ binh đi đoạn hậu. Bốn con ngựa kéo cái xe băng đi như một chiếc lông tơ về phía cổng Sặc sỡ. Trong số bốn cổng thành chỉ còn mỗi cổng này để mở. Chỉ còn có thể đi qua mỗi cổng này để về phía Xorơvosơkơ hoặc Tarơkanhơ.
Mười lăm phút sau, lính canh trên tháp chuông báo rằng cánh phía trên của đạo quân Thổ đã đến cổng Sặc sỡ.
Một kỵ sỹ trong số quân đi hộ tống phu nhân Bolôc phi nước đại trở về.
- Trung úy Phekete sai con về hỏi có cần phải phá vòng vây quân Thổ để đưa phu nhân ra hay không?
Đôbô chạy lên pháo đài. Ông thấy bọn lính thiết giáp Thổ đã trùng trùng bao quanh ngoài cổng và đằng sau chúng bọn axap[53] còn ngoằn ngoèo kéo đến.
- Đừng.
Ông ra lệnh rồi ở lại trên pháo đài. Ông đưa tay lên che mắt nhìn về phía bắc.
- Quân bay đâu, - ông nói với những chiến sĩ túc trực trên pháo đài – đứa nào tinh mắt? Hãy nhìn về phía bắc.
- Một vài kỵ binh đang đi đến đây, - Một chiến sĩ trả lời.
- Hai chục, - Một chiến sĩ khác nói.
- Hai mươi lăm, - Chiến sĩ lúc nãy lại nói.
- Nogiơ Lukat về! – Mectsei kêu lên từ trên pháo đài nhà thờ.
Quả thực là Nogiơ Lukat, viên trung úy vẫn lượn quanh rình mò quân Thổ. Anh ta đã phất phơ những chốn quái quỷ nào trong bấy nhiêu lâu? Và làm thế nào mà vào được bây giờ?
Họ phi vùn vụt như thể có một cơn gió lốc cuốn họ đến. Nhưng đã chậm rồi, Nogiơ Lukat ơi! Quân Thổ đã chặn trước cổng thành.
Nogiơ Lukat vẫn chưa biết tý gì về chuyện đó cả. Anh từ một quả đồi rẽ quành xuống phía cổng Sặc sỡ. Đến đó anh mới nhìn thấy kỵ binh Thổ. Anh giật mạnh cương và kỵ đội bé nhỏ nhanh nhẹn rẽ về cổng Bôcto.
Ở đó quân địch lại càng đông hơn nữa.
- Lukat ơi, bây giờ thì cậu tha hồ mà gãi đầu gãi tai, cả những chỗ không ngứa nữa cơ đấy! – Zôntoi vừa cười vừa nói.
- Giá không có kỵ binh địch trước cổng thành, thì thế nào Lukat cũng mở được đường máu qua vòng vây – Đôbô nói, cặp mắt tóe lửa.
Lukat dừng ngựa, nhìn về phía thành. Anh gãi gáy. Các chiến sĩ đứng trên mặt lũy vẫy vẫy anh lia lịa.
- Lukat ơi, có gan thì lại đây nào!
Đám ngựa Thổ ở đằng xa bỗng nhiên nhuốm máu loang lổ. Chừng một trăm ankiji nhảy lên mình ngựa rượt theo Nogiơ Lukat.
Nogiơ Lukat cũng chẳng chậm chạp. Anh cùng hai mươi bốn kỵ binh ra roi và cuộc đua ngựa bắt đầu. Thoạt tiên còn có thể trông thấy những con ngựa nhưng về sau chỉ còn hai đám mây bụi bốc lên đến tận ngọn bạch dương và mau chóng lan về phía Phennêmét.
10
Hôm sau là ngày chủ nhật nhưng những quả chuông Eghe không còn ngân nga nữa. Quanh thành và quanh thành phố tràn ngập quân Thổ. Trên những sườn núi, sườn đồi, ngàn vạn trại quân đóng chi chít, kéo dài ra tận ngoài xa. Giữa biển lều màu đỏ, màu trắng đôi chỗ nổi lên những cái lều xanh lá mạ, xanh nước biển, vàng hoặc hồng tươi. Lều trại của bọn lính tráng trông giống những quân bài gập đôi, còn lều trại của bọn sĩ quan là những cái trướng bát giác cao và trang trí sặc sỡ. Làn gió nhẹ thổi phất phơ những lá cờ có quả thao vàng trên nóc trướng của bọn sĩ quan. Tên cánh đồng cỏ Phennêmét, trên ruộng nương Kisơlaio và tất cả những nơi nào có cỏ, hàng nghìn và hàng nghìn chiến mã gặm cỏ. Trâu và người vùng vẫy trên suốt cả chiều dài dòng suối. Giữa biển người ồn ào náo động, một vài con lạc đà thỉnh thoảng lại ngước cao cổ lên và khăn tuyban của một vài tên sĩ quan ngồi trên mình ngựa thấp thoáng trắng.
Giữa cái biển màu sắc nhấp nhô đó, thành Eghe nổi lên như một hòn đảo cùng với đám cỏ trước thành và đồi Ghế Vua, là quả đồi ở về phía mặt trời mọc, đối diện với bức tường thành cao nhất.
Đôbô lại cùng các sĩ quan của ông lên đứng trên tháp chuông mái bằng. Thánh vương Isơtơvan đã cho xây hai cái tháp chuông đó thật là tuyệt: đứng trên đó có thể thấy cách bố trí đại bác của quân Thổ.
Đằng sau thành có một trảng cỏ lớn hình tròn, rộng bằng nửa Đồng Máu[54] ở Buđo. Ngoài tràng cỏ đó là một đồi nho tuyệt đẹp. Kia, quân Thổ đã kéo lên đó ba khẩu đại bác cổ.
Chúng nó còn chưa đắp công sự. Ba chục con trâu cũng chưa bị lùa đi xa, chỉ mới đến vạt cỏ dưới chân đồi. Chúng đang gặm cỏ ở đó. Chỉ còn bầy lạc đà ở lại bên các khẩu đại bác, lưng chúng chất đầy những bao màu đen.
- Những bao da – Đôbô giải thích – Đựng thuốc súng đấy.
Ở đó bọn tốpsi[55] đội tuyban đỏ, vóc người thấp bé đang lăng xăng trước mắt quân dân trong thành. Cái họng đen ngòm của những khẩu đại bác giờ đây còn câm lặng há hốc về phía thành. Tên chỉ huy tốpsi cúi xuống xem xét kỹ các khẩu súng. Hắn điều chỉnh các khẩu súng hết sang phải lại sang trái, hết lên cao lại xuống thấp.
Một khẩu sẽ nã vào hai tháp chuông, một khẩu nữa sẽ ngắm vào pháo đài giữa phía bắc, pháo đài này che chở cho lâu đài.
- Các anh đã thấy hắn ngắm như thế nào chưa? – Đôbô nói – Hắn không ngắm ở phía trước đại bác mà ngắm từ phía sau.
Một pháo thủ nhô đầu lên khỏi cánh cửa tháp chuống, nói:
- Thưa đại úy!
- Lên đây. – Đôbô bảo.
Người chiến sĩ trèo lên. Anh đưa cặp mắt lo ngại nhìn về phía những khẩu đại bác Thổ và đứng nghiêm theo đúng quân phong.
- Thưa đại úy, khẩu đội trưởng Bola sai con lên hỏi có được bắn trả không ạ?
- Nói với bác ta chưa được bắn chừng nào chưa có lệnh ta. Sau đó anh hãy quay lại đây.
Bọn tốpsi tiếp tục nạp ba khẩu bức kích pháo. Chúng dùng gậy sắt có mấu ở đầu nhồi thuốc súng vào bụng pháo.
- Tôi chỉ thích được đoàng một phát vào giữa bọn chúng - Mectsei hăm hở nói, - Đúng vào lúc bọn chúng vừa xong thì cho chúng tung xác lên.
- Cứ để cho chúng vui chơi – Đôbô điềm tĩnh đáp.
- Ước gì ta có thể tập kích vào bọn chúng – Gergey cũng thấy ngứa ngáy.
- Bây giờ thì không – Đôbô trả lời – Chúng ta hãy xem chúng nó bắn chác ra sao đã.
Bọn tốpsi đã nhồi đá và chì vào họng súng. Bây giờ bốn thằng cầm một cái thuốn và đâm vào họng dúng theo nhịp hô.
- Tiên sư cái đồ vô đạo chứ - Xexey cũng lên tiếng – Đại úy hiền đệ, vậy chứ đại bác thì để làm gì?
- Bác già thân mến ơi, các bác cũng sôi lên phản đối tôi ư? Rồi đến mai bác sẽ rõ tại sao bây giờ tôi không bắn.
Bọn tốpsi lôi từ một bao khác ra những miếng da. Hai đứa cầm hai đầu, một đứa phết mỡ bôi lên tấm da. Sau đó chúng lật tấm da lại và gối viên đạn vào phía không phết mỡ.
- Chúng nó định bắn bằng trúng chắc! – Zôntoi châm biếm hỏi.
Lúc đó chàng trai pháo thủ đã quay trở lại.
- Ngươi hãy lại đứng trước mặt ta đây này. – Đôbô nói – Lúc nãy ta thấy ngươi sợ. Vậy hãy nhìn xem: chúng nó bắn vào đây, bắn vào ta đấy. Lại đứng đây, trước mặt ta đây này!
Chàng trai đỏ mặt tía tai đứng ra phía trước Đôbô.
Đôbô nhìn xuống phía dưới chân tháp và trông thấy Petơ, ông bèn nói chõ xuống:
- Petơ con ơi! Anh có giọng tốt lắm, vậy hãy loa lên một tiếng cho mọi người biết là quân Thổ sắp bắn, đừng có ai hoảng hốt làm gì. Các phụ nữ nếu có sợ thì hãy đi lại bên phía có nắng.
Bọn tốpsi đã nạp xong đạn vào cả ba khẩu đại bác. Ba tên điểm hỏa cầm dây ngòi cháy xòe xòe trong tay. Một tên tốpsi đứng phía sau nhổ nước bọt vào lòng bàn tay rồi vừa xoa cổ họng từ dưới lên trên vừa nhìn về phía thành.
Thuốc súng lóe lên, ba khẩu đại bác khạc lửa và khói ra, rồi chín tiếng bùm bùm rung trời chuyển đất vang lên.
Tòa thành rùng mình vì tiếng nổ. Sau đó là im lặng.
- Không mùi mẽ gì. – Đôbô mỉm cười lên tiếng và đuổi gã pháo thủ xuống.
Khói từ những khẩu đại bác chậm chạp bốc lên.
Nhưng ba khẩu đại bác làm quỷ gì mà có thể phát ra những chín tiếng nổ?
Đó là vì những dãy núi quanh Eghe đã lập tức nhắc lại tiếng nổ của đại bác, mỗi tiếng nổ đều được nhắc lại hai lần.
- Chà, vùng này rồi sẽ tha hồ vang lừng nhã nhạc, nếu rồi đây ba bốn trăm khẩu đại bác của bọn Thổ sẽ cùng nhấc loạt gầm lên!
Mười lăm phút sau Petơ chạy lên tháp chuông. Một gã đồ tể khệ nệ theo sau anh. Gã bưng một quả đạn đang bốc mùi hôi nồng nặc trong hai cánh tay lực lưỡng đưa đến trước Đôbô.
- Xin báo cáo, đây là quả đạn – Petơ nói – Nó đã rơi xuống suối. Những người chở nước đã bỏ nó vào thùng mang lên đây.
- Bảo họ cứ tiếp tục chở nước nữa đi. Chúng ta chưa đóng cổng thành.
- Ta không bắn ư? – Petơ cũng hỏi.
- Đang chủ nhật cơ mà, - Đôbô mỉm cười đáp – sao ta lại bắn?
Và ông tiếp tục quan sát cách bọn giặc làm nguội các khẩu đại bác, cách chúng nạp đạn mới vào súng.
11
Sáng hôm sau ba khẩu bức kích pháo đã vào ngồi chồm chỗm giữa bãi cỏ, gần bằng nửa khoảng cách của hôm trước. Ngoài ra chúng còn tăng thêm ba khẩu khác nữa.
Chín phát đạn ngày hôm trước thật vô ích, trong thành người ta cũng chẳng thèm đáp lại. Vì vậy chúng đưa đại bác vào gần đến nỗi chỉ cách thành một tầm tên bắn.
Đôbô đã biết sự việc sẽ diễn ra như vậy. Để chúng nó giật mình sớm làm gì cơ chứ? Và việc gì phải làm lung lay lòng tin của quân dân trong thành bằng những phát súng trả lời bắn vào hư không?
Ông dậy từ lúc trời hửng và thân hành chuẩn bị tất cả những khẩu đại bác đặt ở hướng đó cho câu trả lời. Đã hẳn là ông không gói những viên đạn vào da mà, chỉ bôi mỡ bò lên chúng thôi. Thuốc súng ông cũng cẩn thận dùng muôi tự đong lấy.
- Nào, bây giờ thì lấy chất nén ra. Trai tráng đâu, khá thuốc thật chặt vào. Nạp đạn…
Và ông cẩn thận chỉnh hướng chỉnh tâm rất lâu.
Ông chờ cho quân Thổ đằng sau những ụ công sự cũng chuẩn bị xong, sau đó, khi khẩu pháo đầu tiên của quân Thổ lên tiếng, ông hô to:
- Nhân danh Chúa: bắn!
Dây mồi cùng một lúc châm vào mười hai khẩu đại bác và cả mười hai khẩu súng cùng nổ rền một tiếng.
Những công sự và giá súng của bọn Thổ đổ kềnh, vỡ nát. Hai khẩu đại bác Thổ đổ nhào, một khẩu vỡ tan từng mảnh. Tiếng kêu thét giận dữ và cảnh cuống quýt của bọn tốpsi đằng sau công sự khiến quân dân trong thành cười ồ cả lên.
- Thế nào bác, - Đôbô vui vẻ nói với Xexey – bác đã hiểu tại so hôm qua chúng ta không bắn chưa?
Và ông đứng dạng hai chân trên mặt lũy, hai tay đưa lên vân vê bộ ria mép.
Dân thành chẳng đến nỗi giật mình như Đôbô lo ngại. Eghe - kể từ khi loài người phát minh ra thuốc súng - vốn là thành phố nghiện bắn súng nhất thế giới. Ngày nay nơi đây vẫn không thể nào tưởng tượng được một hội hè, một cuộc thực tập cứu hỏa, một cuộc thi hát, một buổi liên hoan ngoài trời, một buổi diễn văn nghệ nghiệp dư mà trước khi khai mạc người ta lại không bắn đại bác. Nơi đây, đại bác thay thế cho biển quảng cáo và áp phích. Mà dù đôi khi có áp phích đi chăng nữa người ta vẫn không bỏ qua đại bác. Trong thành lúc nào cũng có một vài khẩu đại bác bắn ria đặt trên bãi cỏ, ai muốn bắn thì bắn. Vậy làm sao những người dân Eghe lại giật mình cho được?
Trong thành cả thảy chỉ có một người khi nghe tiếng đại bác đầu tiên đã ngã lộn từ trên ghế xuống và kêu lên oai oái. Dù tôi không nói chắc độc giả cũng dễ đoán ra được đó là ai.
Các chiến sĩ ta liền chộp ngay lấy cơ hội đó, lôi đức ông kia ra khỏi xó nhà và kéo lên pháo đài trong bộ áo đônman vàng, quần đỏ, mũ chiến trên đầu và đôi chân đi đất. Trên pháo đài, hai chiến sĩ giữ lấy chân, một người nữa giơ lưng đỡ lấy lưng của đức ông. Họ kêu to lên gọi bọn Thổ:
- Chúng mày bắn vào đây này!
Cảnh nạp đạn gã xigan còn chịu đựng được, nhưng khi khẩu đại bác lại gầm lên thì gã giật tay ra và với một cú nhảy dựng tóc gáy, gã lao xuống khỏi giàn gỗ. Xuống đến đất, trước tiên gã sờ mình sờ mẩy xem đạn đại bác có rứt đi chút gì trên thân thể gã không, rồi gã chạy thục mạng như một con chó xấu nòi về phía Cổng Cũ.
- Ối ối ối! – Gã kêu la, hai tay đưa lên ôm lấy đầu – Sao khi tôi đến đây chân tôi lại không bị chuột rút đi cho rồi! Ối ối ối! Sao cái con ngựa chết tiệt ấy khi chở tôi đến đây lại không mù đi cho rồi!
Ngày hôm đó Đôbô bắn tan tất cả những khẩu pháo trên đồi Ghế Vua.
Bọn tốpsi kêu la và tức tối chạy tán loạn. Hai viên sĩ quan tốpsi bỏ mạng. Tên sĩ quan thứ ba được lính nó bỏ lên vải bạt khiêng đi khỏi chỗ những khẩu pháo.
Trên đồi chẳng còn gì khác ngoài những công sự đổ nhào, vỡ nát, ba xác lạc đà, những khẩu pháo bị bắn gẫy gục, những cái hòm và những bánh xe đại bác vỡ tan từng mảnh.
Và dường như chừng đó vẫn chưa đủ, đến nửa đêm Gergey lại tập kích vào bọn giặc và đoạt về được hai mươi chiến mã cùng một con la.
Thế nhưng giặc Thổ có cơ man nào là người, ngựa và đại bác, nên hửng sáng hôm sau nữa, những công sự đan bằng cành cây đổ đất bên trong đã lại mọc trên đồi. Tất nhiên chúng có bố trí lùi ra xa một chút và đắp những ụ đất to che trước pháo. Trong những quãng hở giữa các công sự, mười hai khẩu pháo mới lại ghếch nòng về phía thành: bên cạnh các khẩu pháo là bọn tốpsi mới với những viên sĩ quan mới.
Mặt trời chưa dậy, tòa thành đã rung lên trong những tiếng rền khủng khiếp, cứ nghe thấy những tiếng đồm độp trầm trầm cũng có thể biết được những viên đạn đang phá tường thành.
Đôbô lại cho khai hỏa những đại bác của ông và ông lại lật nhào những công sự và những khẩu pháo của địch, nhưng từ phía sau những công sự đổ nhào, những công sự mới lại nhô lên và những khẩu pháo mới lại xuất hiện.
Bọn tốpsi cũng không chạy tán loạn nữa, một đội rebêtji cầm roi da có gai sắt ngồi đằng sau chúng nói:
- Ở đó chỉ có thể bắn và chết mà thôi!
- Cho chúng cứ việc bắn. – Đôbô nói – Còn chúng ta thì phải dè sẻn thuốc súng.
Bây giờ chỉ thỉnh thoảng ông mới dùng ụ pháo nã xuống để quấy rối công việc của chúng.
Hôm đó quân Thổ cũng chưa chiếm được thành phố. Bộ binh Hung giữ những cổng thành. Kỵ binh giữ những cổng thành phố. Quân Thổ còn chưa khai chiến với họ. Chúng cần gì thành phố, chúng cần tòa thành cơ! Ai chiếm được thành, cả thành phố cũng thuộc về họ.
Đã hai ngày nay bọn sĩ quan cao cấp Thổ cưỡi ngựa dạo khắp các đồi cao và các mỏm núi để tìm cách nhăm nhe vào trong thành, nhưng chỉ có chim mới thấy được, còn bọn chúng thì không. Chúng chỉ thấy những tháp chuông mà thôi. Các tường thành và lớp tường con chạch ngoài lát cành cây trong để đất, trên mái các pháo đài che khuất bên trong.
Thế thì chúng bắn vào đâu?
Chúng bắn các tường thành và lớp tường con chạch.
Kể ra cũng có một vài ngôi nhà đẹp ẩn náu ở bên trong. Ngôi nhà thờ lớn với một nửa còn lại cũng vẫn là một công trình tuyệt kỹ của nghệ thuật kiến trúc. Cái tu viện cổ kính bên cạnh đó cũng xây dựng bằng đá chạm trổ. (Từ đó đến nay người lính Hung không bao giờ còn được ở trong một doanh trại đẹp như thế nữa!) Lâu đài soái phủ thì Đôbô đã cho tô điểm thêm lúc ông cưới vợ. Những nghệ sỹ bậc thầy người Ý đã khắc chạm và xây dựng lên, nó có những cửa sổ lồng kính trong khi ở dưới thành phố kia, ngay cả ngôi nhà của đức giá mục cũng chỉ có cửa sổ bằng bong bóng bò mà thôi.
Quân Thổ cứ bắn vô hồi kỳ trận. Pháo của chúng ùng oàng từ tinh mơ đến tối mịt. Đạn pháo làm vỡ tường và phá lỗ chỗ lớp con chạch bằng cành cây đan trên mặt lũy. Khi mặt trời lặn xuống đằng sau dãy núi Bocto, tất cả các khẩu pháo của chúng cùng bắn ra một loạt rồi tiếng đọc kinh Allahu akbar[56] thành kính của bọn đạo sĩ trong trại quân vang lên khắp nơi.
12
Hai tên pasa lắc đầu. Cả hai đều là những kẻ già đời trong trận mạc, chúng đã để lại đằng sau bao cảnh đổ nát ở những nơi chúng đi qua, và đế quốc của Xunlan ngày càng rộng lớn.
- Phải đánh vào thành phố! Ở đó cũng phải đặt đại bác để công phá tường lũy!
Thế là ngày thứ tư chúng đánh vào thành phố. Việc đó chỉ là một trò trẻ con đối với đạo quân ấy. Một ngàn cái thang và một ngàn tên lính trẻ…
Các chiến sĩ gác cổng của ta đã được lệnh phải rút về ngay khi quân Thổ xuất hiện trên tường thành. Vì thế họ đã rời khỏi cổng thành phố và hàng ngũ chỉnh tề kéo về thành trong nhịp trống hành quân.
Bêi Orơxơlan bèn ra lệnh kéo bốn khẩu bức kích pháo lớn đến bên nhà thờ Đức mẹ và chĩa lên các pháo đài, nơi những đại bác của quân Hung đang đứng im hơi lặng tiếng.
Orơxơlan đã bắn khá hơn. Đạn của hắn phá thủng những tường thành và lớp con chạch về phía thành phố. Phần lớn số đạn vãi đi một cách phí phạm, nhưng viên nào đã trúng thì đều khoét thủng tường thành.
Hôm đó quân Thổ gỡ thánh giá xuống khỏi tháp chuông các nhà thờ trong thành phố và cắm nửa vừng trăng thay vào đó. Chúng vứt các bệ thánh ra cửa, đốt cháy các bức tranh. Đến trưa bọn giáo sĩ đạo Hồi đã từ trên cửa sổ các tháp chuông gào lên bằng một giọng ê a kéo dài: Allahu akbar! Ashădu anna la ilaha ill Alláh! Ashádu anna Mahammed arrăszulu Allah! Heija alassalah! Allahu akbăr! La ilaha ill Allàh! (Ala tối cao! Không có chúa trời nào khác ngoài Ala nữa! Môhamét là kẻ thay mặt của Người! Các người hãy đến đây cầu nguyện! Các người hãy đến đây tỏ lòng tôn kính Ala! Ala là tối cao! Ngoài Ala không còn chúa trời nào khác nữa!)
Khi họ cùng nhau ăn trưa. Đôbô lặng lẽ, nghiêm nghị.
Chưa có tin tức gì cả. Đêm qua người điệp viên đã từ chỗ giám mục Eghe trở về. Đức giám mục trả lời rằng không có lính, nhưng ngài sẽ cầu nguyện cho quân dân trong thành. Khi nghe lời nhắn đó, trên khuôn mặt Đôbô không một thớ thịt nào rung động, chỉ đôi mày nhíu lại gần nhau hơn.
Sự việc của Nogiơ Lukat cũng làm ông thêm buồn. Anh là một sĩ quan gan góc của ông. Lúc nào anh cũng thích vờn bên cạnh quân Thổ, bất thình lình tập kích vào đạo quân khổng lồ đó rồi biến mất ngay.
Bây giờ anh ta còn làm sao trở về được nữa, một khi thành đã bị vây quanh và lều trại quân Thổ trùng trùng điệp điệp đến tận Phenêmét! Hay có lẽ anh ta đã mất mạng rồi cũng nên…
Giữa bữa ăn, quân sĩ vào bảo là một viên đạn đại bác đã bắn chết Nogiơ Ontơn.
Gergey nhảy phắt dậy:
- Thưa đại úy, tôi xin phép được tập kích đánh vào bọn Thổ! Tôi lấy làm xấu hổ là chúng ta đã bỏ trống các cổng thành phố mà không chém chúng một phát nào!
Budohazi, một sĩ quan khỏe mạnh lực lưỡng, cũng lên tiếng:
- Thưa đại úy, hãy cho quân Thổ thấy rằng không chỉ ban đêm chúng ta mới dám đánh ra, mà ngay cả ban ngày nữa.
Petơ cũng ồm ồm nói:
- Dù ta có ít chăng nữa, một trăm người chúng tôi cũng xin tấn công vào một trăm ngàn chúng nó.
- Thế thì tốt – Đôbô trả lời, đôi mắt vui tươi hẳn lên – Nhưng các anh cũng không nên vì vậy mà bỏ dở bữa trưa lại đây.
Rồi ông không nói gì về quân Thổ nữa. Chỉ đến sau bữa ăn ông mới dặn:
- Các anh tập kích vào bọn bộ binh ở bên cạnh nhà thờ ấy. Các anh xéo qua chúng nó theo một đường vòng rồi phải phóng về ngay. Chỉ được đánh bọn ở trên đường đi của các anh. Không được tập hợp, bày trận và chờ đợi hiệu lệnh gì hết, vì như thế các anh sẽ phải bỏ mạng lại dưới đó mất. Các anh có thể đi một trăm người.
Các sĩ quan vội vàng cầm lấy vũ khí và mặc giáp. Lên ngựa! Tất cả quân sĩ đều muốn đi theo họ nhưng Gergey chỉ chọn lấy những chàng trai lực lưỡng nhất.
Bọn axap, logumrich, plàt[57] đang ăn trưa trên bãi cỏ trước nhà thờ. Hôm nay bữa trưa của chúng chỉ có mỗi món xúp và chúng đã giắt thìa trở lại vào thắt lưng da hoặc thắt lưng vải. Bây giờ chúng ăn bánh mì với hành tía. Một vài tên ăn dưa hấu, vài tên khác ăn dưa chuột hoặc những thứ rau xanh khác sau món xúp. Tất cả những cảnh đó đứng trên thành đều thấy rõ. Chỉ một dòng suối và một bãi chợ ngăn cách chúng với mảnh đất tự do. Bên cạnh dãy lều chợ có cả một bầy ionisa đến nghỉ. Chúng đang lúc phởn lắm. Một tên lính khéo tay tung gươm và một quả dưa bở lên cao. Trước hết hắn bắt lấy thanh gươm, sau đó lại dùng mũi gươm đón được quả dưa.
Có thể thấy hắn đang đánh cuộc, vì một tên ionisa mang dưa hấu đến cho hắn.
Chúng nó bàn tán một hồi, sau đó tên ionisa tung quả dưa hấu lên, một tên khác tung gươm lên. Một tên ionisa thứ ba từ phía sau giật tay tên làm trò. Quả dưa hấu rơi bịch xuống đất và cả bọn lăn ra cười khoái chí.
Cổng thành vẫn mở và những nông dân trong thành vẫn liên tục chở nước lên hoặc cho ngựa đi uống nước. Nếu bọn Thổ xông vào cổng thì được cái gì cơ chứ? Lại một vài viên đạn vào sườn mà thôi. Bọn Thổ biết rằng cửa thành tuy mở đấy nhưng chẳng khác nào miệng sư tử. Trong đó có những cái răng nhọn sắc. Bọn ionisa để ý thấy việc cho ngựa xuống suối uống nước bỗng nhiên ngưng lại, việc chở nước cũng chấm dứt.
Sự ngừng lại chỉ mới vài ba phút, làm sao chúng đã có thể nghi ngờ được! Ngay cả việc có thêm dòng người xuất hiện trên mặt thành, đặc biệt là cung thủ và pháo thủ, chúng cũng chưa trông thấy nữa là. Nhưng tiếng vó ngựa rồn rập nổi lên đã làm chúng giật mình. Khi chúng ngước mắt nhìn lên, những khấu đại bác trên mặt thành đã nổ rần, và tất cả mọi thứ đinh sắt, đạn chì, mảnh gang vụn rào rào bắn vào mặt chúng. Từ trong cổng thành, một đoàn dài kỵ binh rầm rập phóng ra.
Như một cơn lốc, họ nhảy vun vút qua suối và tới chừng mà bọn địch sờ được đến gươm thì a ha ô hô! – họ đã đâm chém tới tấp. Tràn qua bọn chúng, họ xông thẳng đến cái quảng trường lớn trồng cỏ mà chiều chiều tòa giám mục vẫn ngả bóng dài lên đó.
Những tên kỵ binh Thổ hoảng hốt nhảy phắt dậy nhìn về phía bãi chợ. Một số tên co giò chạy, một số đứng lại và rút gươm ra.
Đoàn kỵ mã đã rầm rập phóng tới. Những con chiến mã bị cựa giầy thúc phi lồng lên như một bầy rồng dữ. Hàng mấy trăm tên Thổ chạy bổ nháo bổ nhào chẳng khác gì đàn cừu kinh hoàng trước bầy sói. Các chiến sĩ Hung bám riết sau lưng.
Nhưng viện quân của chúng đã từ các đường phố đổ xô lại: quân kỵ akinji và bọn gơnơlư[58], bọn lính bắn súng và đám ionisa vác giáo.
Kia, một tên ionisa đội mũ trắng đang chĩa giáo vào Gergey, hắn muốn đâm chàng ngã ngựa. Thanh gươm trong tay Gergey loáng lên hai lượt, sau nhát đầu cây dáo gãy làm đôi, sau loáng thứ hai tên Thổ ngã bật ngửa.
- Giêsu! Giêsu! – Người ta thét lên trên các pháo đài.
- Ala! Ala! - Bọn Thổ kêu rống.
Đoàn chiến sĩ Hung ngày càng cho ngựa tản rộng ra tung hoành giữa bọn giặc. Gươm họ vung lên lấp loáng. Tuy vậy một tên ionisa vẫn đâm thủng ức con ngựa của Hôrơvát Mihai. Con ngựa ngã nhào. Horơvát nhảy xuống và chém một nhát chết tươi tên ionisa, rồi lại một tên nữa. Gươm anh bị gẫy trong xác tên giặc đó. Anh đành xử tên thứ ba bằng một quả đấm vào sống mũi rồi chạy bộ theo sau đoàn kỵ binh, qua quảng trường trống trải để về thành.
Những người khác vẫn tiếp tục xông tới trước. Vó đàn ngựa cũng xéo chết vô khối! Buđohazi đang vừa vung cao thanh gươm để chém một nhát kinh hồn thì những tên ionisa bị dồn vào một đầu nhà, nổ súng vào họ. Thanh gươm rơi ra khỏi tay Buđohazi. Anh quay ngựa lại và nằm gục lên cổ ngựa phi về thành.
Thấy thế những người khác cũng quay ngựa về.
Trên phố chính, hàng nghìn tên akinji đến cứu viện đang rầm rập phóng xuống như một cơn lốc lớn. Gergey kịp thời tránh đường bọn chúng và lượn vòng chữ S về phía phố Giáo đoàn. Phố này cũng đầy bọn Thổ nhưng lính bộ nhiều hơn kỵ binh và cảnh đâm đầu chạy trốn của bọn lính bộ khiến bọn kỵ binh bối rối, bởi vì chúng còn phải lo kiểm soát ngay cả bọn lính của chúng nữa. Thêm vào đó bọn geruba[59] Ba Tư cũng từ phía trước đổ đến với một số đông đáng sợ. nhưng chúng đã nhào vào đại đội kỵ binh đang say cuồng tả xung hữu đột của chúng ta một các vô ích! Một đường máu mở ra giữa hàng ngũ chúng và chúng ngã nhào ra hai bên như lượm lúa bị luồng gió dữ cuốn vãi ngổn ngang.
Bây giờ mới thấy bên cạnh đàn ngựa Hung to, khỏe, những con ngựa phương Đông yếu đuối đến mức nào. Khi họ xông vào chúng, mười kỵ mã Hung đè bẹp hàng trăm kỵ mã Thổ. Và khi một chiến sĩ Hung đã nhào vào một tên Thổ nào đó thì tên Thổ đó sẽ không bao giờ có thể làm nên quan lớn ở cái thành Eghe này nữa.
Họ đã rầm rập trở về.
- Tránh cổng ra!
Tiếng hò reo mừng thằng trận của quân dân trên mặt thành hòa lẫn với tiếng reo khải hoàn của những người chiến đấu trở về.
Đôbô lo lắng thấy bọn akinji và bọn rebêtji vẫn từ các phố nhỏ ùn ùn xông ra tiếp viện. Ông hô bắn. Trên mặt thành những khẩu súng nổ rền và dây cung bật tanh tách. Tốp đầu của đội quân Thổ khựng lại làm nghẽn cả đường.
Trong lúc đó một tiếng rú man dại chát tai nổi lên trên mặt thành – chát tai như tiếng lửa rống. Tất cả mọi người đều nhìn về phía đó. Thì ra gã xigan đang rống lên ở dó. Gã vừa giận dữ nhảy nhót vừa dứ dứ thanh gươm về phía quân Thổ.
- Bọn Thổ chó đểu cứ đứng đấy! Mày sẽ chết!
Trong cơn bối rối đó của bọn Thổ, các kỵ sĩ của chúng ta vui vẻ phóng lên thành và rầm rập phi qua cổng trên mình những con chiến mã đẫm mồ hôi máu me dính bê bết, mồm xì bọt mép, giữa tiếng hò reo đắc thắng của dân quân trong thành.
Cuộc chiến kéo dài không đầy mười lăm phút, nhưng quảng trường Nhà thờ, bãi chợ và phố Giáo đoàn ngập đầy xác chết, thương binh và những con ngựa què. Bọn giặc Thổ bị quấy rối giận xùi bọt mép kéo nhau rút lui, và từ ngoài xa, chúng còn ngoái lại khoa nắm đấm lên.
Ngày hôm ấy Đôbô chưa ra lệnh đóng cánh cổng về phía con suối. Hãy cứ để cho dân thành đi ra đi vào từ sáng tới tối. Hãy để cho bọn Thổ thấy rằng Eghe bình tĩnh chờ đợi cuộc vây hãm.
Cánh cổng mở thông thống. Quanh cổng chẳng thấy một người lính gác vũ trang nào. Nhưng thực ra phía trong có một trăm hai mươi xạ thủ sẵn sàng và một người lính canh ngồi bên cửa sổ trên tháp cao, hễ anh ta ra hiệu một cái là cây đại phong cầm sẽ lập tức sập cuống, đó là những cây sắt to đứng chắn giữa vòm cổng theo hình những cái còi đại phong cầm. Địch vào trong chút nữa, một khẩu đại bác bắn đạn ria cũng chăm chú nhìn ra cái khoảng trống dưới vòm cổng. Còn cái cầu treo thì dù có người đứng đẩy ở trên cũng vẫn có thể kéo lên được.
Những người lính có ngựa và những người chở nước cứ tha hồ ra vào. Những người lính có ngựa cho ngựa uống nước, những người chở nước chuyển nước vào cái bể đá trong thành. Trong thành cũng có giếng đấy, nhưng một cái giếng không thể đủ nước cho hai nghìn người và ngần ấy ngựa. Cho nên cứ việc chở nước lên, được bao nhiêu hay bấy nhiêu!
Bọn lính Thổ cũng cho ngựa ra uống ở bờ suối bên kia. Nhưng tên bộ binh Thổ cũng ra đấy uống nước suối. Cửa đập đã hạ xuống, nước suối dâng đầy. Ở giữa dòng, nước đến ngang thắt lưng. Quân Thổ cũng để yên cửa đập: chúng còn cần nhiều nước hơn nữa, mà ngày nào cũng cần. Không phải chỉ cần cho vô số súc vật, mà còn cần cho cả ngàn vạn con người. Trong thành phố không có giếng, cả thảy chỉ có hai cái giếng cần vọt bên sườn núi mà thôi.
Người nông dân Eghe đi chở nước đã quen bọn Thổ, vả lại ban sáng họ đã thấy quân trong thành đuổi đánh, dày xéo lên bọn chúng như thế nào, vì vậy khi ra suối vục thùng múc nước, họ không thể nhịn không nói chõ sang bên bọn Thổ:
- Sang đây ông bạn, có dám thì sang đây.
Một tên Thổ tuy không hiểu lời nói nhưng cũng trông thấy cử chỉ ra hiệu bằng đầu. Thế là nó cũng ra hiệu: - Mày ra đây cơ!
Một tên Thổ khác cũng mỉm cười, cũng mời mọc. Một lát sau đã có dăm sáu tên Thổ với cũng ngần ấy người Hung mời mọc lẫn nhau.
Một tên người Cuốcđơ hộ pháp, đội tuyban cáu bẩn đang rửa cái chân bị thương bên kia bờ. Quần xắn quá gối. Hắn đứng dậy và bước xuống suối, chìa cái mặt to bè bè có bộ ria hoe hoe về phía những người Hung.
- Thì tao đây, chúng mày cần gì nào?
Những người nông dân của chúng ta không nhảy tránh đi. Họ cũng vận quần đùi vào thắt lưng đứng dưới nước. Một người nhanh như chớp chộp lấy tay tên lính Thổ và giật mạnh sang phía họ.
Khi những tên Thổ khác kịp nhận ra thì bốn nông dân đã xô đẩy, lôi kéo tên Cuôcđơ vào giữa những cái xe chở nước. Những người khác chĩa giáo về phía những tên dị giáo đang nhảy xuống nước.
Tên Cuốđơ gào thét, vật vã. Nhưng những cánh tay lực lưỡng giữ chặt lấy nó. Áo đônmam, cúc và dãy khuy đứt tuột khỏi người nó. Cái tuyban rơi ra khỏi người nó. Mũi nó hộc máu. Nó kêu “jetisin” (cứu với!) và quăng mình xuống đất. Nhưng sự cứu viện không đến và người ta túm lấy chân nó lôi đi nhanh đến nỗi nó không thể nào đứng dậy được, cứ thế mà trượt qua cổng thành.
Người ta đưa nó đến trước Đôbô.
Tên lính Thổ không còn còn kiêu hãnh như trước nữa. Nó phủi bụi trên người rồi vòng tay lên ngực, cúi mình chào thật thấp.
Đôbô sai dẫn nó vào phòng làm việc và cho gọi Bônemixo vào phiên dịch. Ông ngồi bên cạnh một bộ giáp sắt treo trên cọc. Ông cũng chẳng ra lệnh xích tên Thổ lại nữa.
- Tên mày là gì?
- Bekit! – Tên Thổ đáp và run lên, phần vì cáu phần vì sợ.
- Mày ở dưới trướng của ai?
- Của pasa Amét.
- Mày là gì?
- Píat.
- Thế nghĩa là lính bộ?
- Vâng, thưa ngài.
- Mày đã từng dự trận bao vây Temétva?
Tên Thổ chỉ xuống chân, ở gần mắt cá một vết sẹo to bằng bốn đốt tay đỏ lửng.
- Thưa ngài, con đã ở đó.
- Vì sao tòa thành đó của chúng ta bị hạ?
- Ala muốn như vậy.
- Hãy nói với ta cho thật, nếu ta bắt được một lời nói dối, ngươi sẽ đến ngày tận số.
Đôbô nói và giơ khẩu súng ngắn lên.
Tên Thổ cúi mình xuống. Cặp mắt nó để lộ rằng nó sẽ không nói dối.
Đôbô không nắm được tất cả sự việc về cuộc vây hãm Temétva. Ông chỉ biết Temétva đã được củng cố vững chắc hơn Eghe và đạo quân tấn công chỉ bằng nửa nơi đây, vậy mà chúng vẫn chiếm được thành.
Dự cuộc hỏi cung trong phòng lúc ấy có một vài sĩ quan vừa đổi phiên xong đang nghỉ ngơi : Petơ, Zôntoi Heghétđuy, Bôiky Tomát, võ đồng Kôrixtôp và Onđơ rát, viên đốc lý Eghe. Họ ngồi quanh Đôbô, chỉ có chú võ đồng là đứng sau lưng Đôbô, khuỷu tay tì lên lưng ghế. Tên tù binh chân đất, đầu trọc đứng trước Đôbô cách chừng bốn bước. Đằng sau tên tù binh là hai người lính vác giáo.
- Chúng mày tới thành Temétva vào lúc nào?
- Ngày mồng năm tháng Rejép (27 tháng sáu).
- Lúc đó chúng mày có mấy bích kích pháo?
- Pasa đại nhân mang theo mười hai khẩu Zobuzan[60].
Boiki quát :
- Nói láo!
- Nó không nói láo đâu ! – Đôbô đáp – Bởi vì Ali cùng mấy khẩu kia đi đánh miền Thượng địa.
Rồi ông hỏi tiếp tên dị giáo :
- Pasa Ali hợp quân cùng chúng mày với mấy khẩu Zobuzan ?
- Bốn khẩu. – Tên Thổ đáp.
- Điệp viên của ta cũng nói mười sáu khẩu bích kích pháo cả thảy.
Ông lại quay sang tên Thổ :
- Mày hãy nói cho ta biết chúng mày đã tấn công thành ấy theo trình tự như thế nào. Ta không giấu mày, ta hỏi là vì việc bảo vệ của chúng ta. Nếu mày muốn đánh lạc hướng ta, dù chỉ bằng một lời, mày sẽ sa vào tay thần chết. Nếu mày nói sự thật, sau cuộc vây hãm ta sẽ tha cho mày được yên lành mà về.
Điều đó được nói lên bằng một giọng chắc nịch đến nỗi có thể đem từng lời đúc vào sắt thép.
- Thưa tướng quân đại nhân ! – Tên Thổ nói với giọng hồ hởi hẳn lên vì sự biết ơn – Sự cứu rỗi linh hồn con xin hãy thể hiện ra đầu lưỡi.
Rồi nó nói, lúc đó đã bạo dạn hơn và trôi chảy hơn.
- Ở đó cũng y như ở đây, Pasa đại nhân chọn lấy những đoạn tường và những phần yếu nhất của tòa thành rồi cho bắn phá mãi đến khi có thể dùng thang được.
- Ở đó phần nào đã là phần yếu nhất ?
- Thưa ngài, đó là tháp nước. Chúng con chỉ với những trận chiến đấu ác liệt mới chiếm được thành. Người rụng như cỏ dưới lưỡi hái. Ở đó một mũi tên đã cắm vào chân con. Sau khi tháp nước bị chiếm, lính Đức và lính Tây Ban Nha nhắn ra rằng chúng thuận đầu hàng nếu người ta để cho chúng yên lành kéo đi. Pasa bèn lấy danh dự ra hứa sẽ không khủng bố chúng.
Trong khi tên Cuốcđơ nói, ngoài kia đại bác gầm thét không ngừng, và khi nó vừa nói đến đó, kèm theo một tiếng nổ và tiếng răng rắc rất dữ dội, trần nhà của tướng phủ bị xuyên thủng. Một viên đạn đại bác to bằng đầu người cùng với vôi vữa trên trần rơi xuống khoảng giữa Đôbô và tên Thổ. Viên đạn còn quay tít.
Tên Thổ sợ hãi lùi lại. Nhưng Đôbô chỉ liếc nhìn viên đạn đang bốc mùi thuốc súng hôi nồng và dường như không có việc gì xảy ra cả, ông điềm tĩnh ra hiệu :
- Nói tiếp đi !
- Dân trong thành – tên Thổ nói tiếp, - dân trong thành…
Hơi thở của nó đứt quãng đến nỗi nó không thể tiếp tục được nữa.
Võ đồng Kơrixtốp rút trong túi ra một cái khăn tay có viền thêu và phủi bụi vôi trên mặt, trên mũ, trên áo quần của chủ tướng. Trong lúc đó tên Thổ đã kịp lấy lại hơi.
- Nói tiếp đi ! – Đôbô bảo.
- Dân chúng muốn đem tất cả của nả đi. Và đó là chính là điều sai lầm. Lôsônxi yêu cầu một ngày để chuẩn bị. Quân lính chúng con thấy rằng người ta đang tước chiến lợi phẩm của mình và sáng hôm sau, khi bọn rợ Hung bắt đầu kéo ra, chúng con nhìn đầy căm tức. Chúng ta đã chiến đấu ở đây hai mươi lăm ngày để giờ đây người ta đem tất cả đi ư ? – Chúng con bảo nhau thế và bắt đầu thò tay vào cướp giật các xe tải. Dân cơ đốc không chống cự lại, vì vậy việc cướp giật mỗi lúc một tham tàn hơn. Đặc biệt lính chúng con cướp giật trẻ con và phụ nữ trẻ. Thưa ngài, ở Xtămbun người ta cũng chẳng bán những cô gái đẹp hơn những cô ở đó.
- Thế nhưng viên Pasa không đặt quân bảo vệ họ ư ?
- Ông ta có đặt, nhưng vô ích. Khi hàng lính cơ đốc tiếp theo ra, bọn chúng con giật lấy một tên : một võ đồng khôi ngô của Lôsônxi. Tên võ đồng kêu lên.
Lôsônxi nổi xung và tất cả bọn lính Hung đều dấy loạn. Chúng tuốt gươm ra và xông vào chúng con. May cho chúng con là dùng bọn lính thiết giáp rebétji đứng ở chỗ ấy chứ không thì họ đã mở được đường máu ra khỏi trùng vây rồi.
Đôbô nhún vai :
- Bọn rebétji ấy ư ? Mày tưởng rằng hễ kẻ nào khoác một tí sắt lên người là lập tức trở thành vô địch ngay sao? Không phải giáp sắt đã làm được chuyện đó đâu, mà chỉ vì họ ít người quá.
Một viên đạn khác lại rơi vào phòng. Nó xuyên qua những lá cờ đã phai màu vẫn trang trí bức tường và làm thủng cả trần nhà.
Tất cả những người ngồi đó đều đứng dậy. Heghétđuy đi ra ngoài. Những người khác thấy Đôbô vẫn ngồi bèn nán lại.
- Pasa Amét dựng trướng ở đâu ? – Ông hỏi tên Thổ.
- Bên cạnh suối Nước nóng, trong vườn Bách thú.
- Ta đã biết mà. – Đôbô vừa đáp vừa nhìn các sĩ quan của mình.
Rồi ông lại quay sang tên Thổ:
- Mày thử nói xem, sức mạnh lớn nhất của đạo quân này là gì ?
Ông nhìn xoáy vào mắt nó.
Bọn ionisa, bọn pháo binh, đám quân muôn vạn. Pasa Alia đại nhân là một tướng lĩnh thông thuộc binh thư. Một tay ông ban phần thưởng hậu, còn trong tay kia là cây roi có gai thép, khi ông ta ra lệnh mà đứa nào không tiến lên thì bọn ioxaun[61] sẽ dùng roi có gai quất họ.
- Và cái gì là chỗ yếu của nó ?
Tên Cuốcđơ suy nghĩ và nhún vai.
Mắt Đôbô như đôi kiếm nhọn chĩa thẳng vào nó.
- Thật con không thể nào trả lời khác hơn, cho dù con có trải tâm can con ra trước chân ngài như thể một trang sách mở cũng thế thôi. Thưa đại nhân, con chỉ có thể nói rằng khi đạo quân này chia làm hai nó cũng rất mạnh. Bởi vì đạo quân này đã triệt hạ chừng ba chục thành trì kiên cố và chưa ở đâu người ta thắng được nó cả, vậy thì con biết nói cái gì là điểm yếu thưa ngài?
Đôbô ra hiệu cho hai người lính đứng sau tên tù binh :
- Các người hãy trói nó lại và điệu nó vào ngục tối.
Rồi ông cũng đứng lên.
Viên đạn thứ ba bay vào chỗ ông ngồi. Nó phá vỡ cái ghế bành trạm trổ rất đẹp thành từng mảnh vụn và tiếp tục xoay xoay bên cạnh cột nhà.
Đôbô chẳng hề quay lại. Ông cầm lấy cái mũ sắt thường ngày từ tay Kôrixtôp, chụp lên đầu.
Ông đi lên nóc pháo đài ngục thất đứng xem khẩu súng nào bắn phá soái phủ.
Chẳng lâu lắc gì ông đã trông thấy. Ông hướng vào nó ba khẩu pháo của ông và cho bắn cùng một lúc.
Những công sự đổ nhào. Bọn tốpsi bối rối chạy nháo nhác. Khẩu súng câm họng. Đôbô đã không vung phí thuốc súng của ông.
- Phát súng oanh liệt quá ! – Gergey phấn khởi reo lên.
Khi họ đi xuống thang gác pháo đài, chàng mỉm cười với Đôbô và kéo ông vào trong góc cầu thang:
- Thưa đại úy, quả là ngài đã bắt tên Thổ hứa, nhưng ngài lại quên không bắt người phiên dịch hứa.
Chả lẽ anh đã bẻ quẹo khẩu cung của nó ?
- Hẳn đi ấy chứ. Khi đại úy hỏi cái gì là sức mạnh nhất của quân Thổ, tôi đã bỏ sót một điều. Tên Thổ nói là Ali với bốn khẩu bích kích pháo của mình có thể phá hoại nhiều hơn Amét với mười hai khẩu. Vậy có thể đoán trước là Ali sẽ bắn phá thành trì cho đến khi nào tất cả tường lũy đều đổ sụp.
- Mời hắn cứ việc. – Đôbô điềm tĩnh đáp lại.
- Đấy, tôi chỉ giấu điều đó thôi. – Gergey kết thúc – Nếu đại úy thấy nên thì cứ báo cho các sĩ quan khác nữa.
- Anh làm như vậy là tốt đấy. – Đôbô vừa đáp vừa chìa tay ra – Chúng ta không được phép để những nỗi lo âu đè nặng lên dân thành. Nhưng ngay bây giờ ta cũng nói với anh điều mà tên bộ binh người Cuốcđơ không biết; cái gì là điểm yếu của đạo quân ấy.
Ông đứng tựa lưng vào tường pháo đài và khoanh tay lại.
- Mười sáu khẩu zobuzan, - ông tiếp – có lẽ ngày mai cũng sẽ cùng nhất tề làm việc. Rồi chúng nó sẽ đồng thời bắn cả một trăm – hai trăm khẩu pháo khác nữa. Chúng nó sẽ phá vỡ những cánh cổng trên tường thành và làm sập những tháp canh. Nhưng việc đó đòi hỏi thời gian hàng mấy tuần lễ. Trong thời gian đó cần phải cung ứng cho đạo quân trùng điệp này ăn. Anh tưởng là chúng nó có thể chở theo ngần ấy lương thảo để thừa đủ cho đạo quân này hay sao ? Anh tưởng lúc nào chúng nó cũng có thể kiếm ra cái chỗ còn thiếu hay sao? Và nếu sương tháng mười đuổi kịp chúng nó ở đây, anh nghĩ rằng cái dân lớn lên ở xứ nóng này, với dạ dày lép kẹp và bộ da tê buốt, sẽ chịu trèo lên các tường thành này hay sao?
Một viên đại bác rơi xuống bên cạnh họ, khoét đất thành một cái hốc.
Đôbô ngửng nhìn lên các pháo thủ và tiếp:
- Dân chúng cũng gan góc chừng nào họ còn thấy chúng ta gan góc. Cái chính là ta phải cố thủ thành trì cho đến lúc quân giặc cạn lương, cho đến lúc thời tiết trở rét, cho đến lúc quân đội triều đình đến kịp.
- Nhưng nếu chúng nó sẽ có đủ cái ăn ? Nếu sương giá sẽ không sa vào tháng mười ? Nếu quân đội triều đình dừng lại dưới Giơrơ[62]?
- Giả sử Gergey nêu lên những câu hỏi ấy với một trọng âm mà qua đó người ta có thể nghĩ ngay đến một câu hỏi thứ tư nữa thì có lẽ Đôbô đã lập tức cho cùm ngay chàng lại. Nhưng Gergey hỏi với một nét mặt cởi mở, gần như là mỉm cười. Có lẽ chàng cũng không cốt cho Đôbô phải trả lời, mà chỉ vì họ đang nói chuyện một cách tin cẩn, và vì để đáp lại lời Đôbô, chàng cũng không thể trả lời khác được.
Đôbô nhún vai :
- Giám mục Eghe đã chẳng nhắn là ông ta cầu nguyện cho chúng ta đấy ư?
Chiều tà hôm đó một phụ nữ quấn mình trong áo choàng đên vội vã đi qua bãi chợ. Không có ai theo mụ ngoài một đứa bé da đen áng chừng mười lăm tuổi, với một con chó becjê lang rất to.
Đến bên suối, con chó nhảy xuống nước còn người đàn bà cứ đi đi lại lại trên bờ, vừa đi vừa bẻ ngón tay. Chốc chốc mụ lại nhìn về phía cổng thành. Sẩm tối người ta thường kéo cổng lên[63] và khóa bằng chín cái khóa. Có lẽ người đàn bà đang chờ đến lúc ấy. Và khi người ta kéo cổng lên, mụ lội qua suối mà không hề vén quần áo lên.
Đến trước cổng, mụ kêu lên gần như bật khóc :
- Con trai tôi ! enim fiam !
Người ta báo với Đôbô rằng có mẹ thằng bé Thổ ở ngoài cổng.
- Cho mụ ta vào, nếu quả mụ ta muốn vào. – Đôbô đáp.
Trên mặt cầu treo đồng thời cũng là cánh cổng ấy có một cửa sắt hẹp. Người ta mở cửa đó cho người đàn bà. Nhưng mụ ta hoảng hốt lùi lại. Con chó sủa váng lên.
- Con trai tôi !
Mụ đàn bà lại kêu lên và nhấc nhấc một cái gì như cái ví. Mụ dốc cho những đồng tiền vàng rơi rủng rẻng vào bàn tay kia.
Cánh cổng lại đóng kín.
Mụ đàn bà lại đến gần, vừa bẻ ngón tay vừa đi đi lại lại trước cổng. Mụ kéo choàng mạng lên và lấy khăn tay trăng lau nước mắt chảy dòng dòng. Mụ không ngừng kêu khóc :
- Xelim ! Con trai tôi!
Cuối cùng rồi mụ cũng đấm vào cánh cửa sắt.
Cánh cửa lại mở ra, nhưng mụ lại lùi bước.
Lúc đó Gergey xuất hiện trên pháo đài trên cổng, chàng cầm tay một thằng bé kéo lên.
- Xelim! – Mụ đàn bà Thổ rú lên, hai tay chìa về đứa bé.
- Mẹ ơi! – Thằng bé cũng kêu lên và giơ cánh tay còn tự do về phía mẹ nó. Con chó vừa nhảy vừa kêu ẳng ẳng, thỉnh thoảng lại sủa váng lên một tiếng.
Gergey không thể nói vọng ra ngoài thành nhưng thằng bé có thể nói được. Nó gọi xuống cho mẹ nó biết như sau :
- Mẹ ơi, sau cuộc vây hãm mẹ có thể đổi lấy con ra bằng tù binh cơ đốc.
Mụ đàn bà quỳ xuống và, như thể muốn ôm choàng lấy con qua không trung, mụ dang hai cánh tay ra. Khi đứa bé đã biến mất, mụ ném theo rất nhiều cái hôn.
Tối đó bóng đêm đen đặc chùm lên thành, lên thành phố, lên những quả núi, trùm kín trời, trùm kín cả thế gian.
Đôbô đi nằm muộn, nhưng đến nửa đêm lại dạo qua khắp các pháo đài. Ông mặc áo choàng dạ, đội mũ nhung đen, tay cầm bản danh sách các toán lính gác.
Người thượng úy trực đêm vào giờ đó là Zôntoi. Anh ta cũng khoác áo choàng lên người vì đêm khá lạnh. Khi anh trông thấy Đôbô trên pháo đài Sanđrô, anh lặng lẽ giơ gươm lên chào.
- Anh có gì nói không ? – Đôbô hỏi.
- Tôi vừa đi xem xét xung quanh. – Zôntoi đáp – Tất cả mọi người đều ở vị trí của mình.
- Đám thợ nề ?
- Họ đang làm việc.
- Hãy đi theo ta. Ta tin ở anh, nhưng cần để cho lính gác thấy rằng ta cũng chú ý.
Ông trao bản danh sách cho Zôntoi và họ lần lượt đi qua các pháo đài. Chỗ nào Zôntoi cũng điểm danh. Bóng tối phủ kín những khẩu pháo trên tất cả mọi pháo đài. Những người lính đứng canh súng trông như những cái bóng đen. Trước những vòm cửa pháo đài và tường thành, lửa bập bùng ở các trạm gác. Những người lính chờ đợi đổi gác sưởi ở đó.
Trong thành yên lặng, chỉ đôi khi mới nghe vọng lại tiếng lách cách khe khẽ của đám thợ nề, họ đang trát vữa.
Đôbô đứng ra bên mép pháo đài. Cứ năm phút một, ánh đèn lại hắt ra từ những lỗ châu mai. Cây đèn treo đầu ngọn dáo vỗ cánh sáng đến vài chục sải lên tường và qua cả hào ngoài. Sau đó người ta rút giáo về và đôi cánh sáng lại từ một pháo đài khác phóng vào đêm tối.
Đôbô dừng lại ở cổng phía tây. Người lính gác chào, Đôbô cầm lấy cây giáo của anh ta và sai anh ta đi gọi người giữ cổng.
Người lính gác chạy lộp cộp trên cầu thang. Từ trên đó vọng xuống tiếng anh ta đánh thức người giữ cổng :
- Bác Mihai !
- Ầy.
- Hãy theo tôi ngay tắp lự !
- Làm gì thế ?
- Ngài đại úy ở đây đấy.
Một tiếng động (bây giờ anh kia nhảy ra khỏi giường). Hai tiếng cộp cộp (Anh kia kéo ủng lên). Một tiếng lách cách (Anh ta đã vớ lấy gươm). Tiếng rầm rập (Anh ta chạy xuống cầu thang gỗ).
Và con người có bộ ria mép đồ sộ, quấn mình trong chiếc áo choàng lông cừu đứng nghiêm trước mặt Đôbô. Một bên ria mép của gã vểnh lên, bên kia quặp xuống.
Đôbô trả lại giáo cho người lính gác và bảo:
- Trước hết, nếu đã là một chiến sĩ, ngươi đừng gọi thập trưởng là bác Mihai, cũng đừng bảo : hãy theo tôi ngay tắp lự ; mà phải nói là : Thưa thập trưởng, ngài đại úy gọi. Như thế mới đúng. Nhưng thôi, trong lúc bị vây hãm thì thế nào cũng được. Việc đáng buồn hơn là lời ngươi nói thế mà đúng. Kẻ nào mặc áo lót quần đùi đi ngủ, kẻ đó không phải là ông thập trưởng, mà chỉ là bác Mihai. Ước gì có một viên đạn bảy mươi bảy bảng rơi xuống giữa giấc mơ của một viên thập trưởng giữ cổng như thế! Vậy ra người ta có thể cởi quần áo mà ngủ trong một cái thành bị vây cơ đấy?!
Nghe câu hỏi đó, bên ria mép chỉ thiên của Mihai cũng quặp nốt xuống, nhưng chẳng ai trả lời cả. Đôbô lại tiếp :
- Từ hôm nay trở đi, đêm nào nhà ngươi cũng phải ngủ dưới vòm cổng này, hiểu chưa ?
- Con hiểu rồi ạ.
- Điều thứ hai mà ta muốn nói là chúng ta không hạ cửa xuống vào mỗi buổi sáng nữa, ngược lại chúng ta hạ cây đại phong cầm xuống, trừ một cọc, hễ khi nào cuộc tấn công bắt đầu, nhà ngươi sẽ hạ nốt xuống mà không cần chờ lệnh nữa.
- Con hiểu rồi ạ.
Không đầy năm phút sau, từng cái từng cái một, những cọc sắt nhọn, to bằng bắp tay lao phập xuống nửa trong vòm cổng, như những cây còi đại phong cầm chặn kín lấy vòm cổng. Chỉ còn một cọc vẫn treo lơ lửng, vừa đủ chỗ cho một người có thể đi ra đi vào được.
Đôbô bước từng bực lên pháo đài Nhà thờ. Ở đó ông cũng kiểm tra các khẩu pháo, xem xét những pháo thủ ngủ và những pháo thủ thức canh. Sau đó ông khoanh tay lại đứng nhìn vào bóng đêm xa xăm.
Bầu trời tối đen, nhưng mặt đất, trong khoảng tầm mắt còn thấy được, lung linh bởi hàng nghìn ngôi sao đỏ. Đó là lửa trại quân của bọn Thổ.
Ông cứ đứng như thế mà nhìn mãi.
Và lúc đó, giữa đêm khuya yên ắng, từ một chỗ gần thành về phía đông, một tiếng loa lảnh lói bỗng vẳng lên từ đáy sâu bóng tối.
- Bônemixo Gergey! Trung úy của triều đình! Ngươi có nghe chăng ?
Yên lặng, một sự yên lặng kéo dài.
Rồi tiếng loa lại vẳng lên :
- Nơi ngươi có một cái nhẫn Thổ. Chỗ ta có một đứa bé Hung. Cái nhẫn ấy là của ta. Đứa bé này là của ngươi.
Yên lặng.
Tiếng loa lại nổi lên :
- Nếu ngươi muốn lấy lại con trai ngươi, hãy đến chỗ cổng phía bãi chợ. Hãy trả lại cho ta cái nhẫn, ta sẽ trả lại con trai ngươi. Hãy đáp lại lời ta, Bônemixo Gergey !
Đôbô nhận thấy tất cả những người lính gác đều quay mặt về phía tiếng kêu, mặc dù đêm tối đen không thể thấy gì hết.
- Đừng ai cả gan đáp lại đấy ! – Ông hầm hầm nói và vỗ vào gươm làm nó kêu lách cách.
Chẳng một ai đáp lại.
Tên gọi loa lại tiếp :
- Nếu ngươi không tin lời ta, rồi đây ngươi sẽ tin, khi ta ném thủ cấp con trai ngươi vào trong đó.
Đôbô liếc nhìn sang hai bên rồi lại lắc gươm lách cách :
- Các ngươi đừng có mà cả gan nói với ngài Bônemixo đấy nhé ! Kẻ nào dám đưa chuyện này ra nói hoặc với ngài thượng úy, hoặc với bất kỳ người nào khác, thề có Chúa Trời chứng giám, ta sẽ sai nọc ra đánh hai mươi lăm trượng.
- Xin cảm ơn đại úy. – Một giọng khản đặc từ phía sau Đôbô đáp lại.
Đó là Bônemixo, chàng quấn một dây ngòi đen vào mũi tên và vừa tẩm vào nhựa hắc ín vừa nói tiếp :
- Đêm nào chúng nó cũng loa vào một điều ngu xuẩn như vậy. Đêm qua chúng nó gọi Mectsei và bảo vợ anh gửi lời chào kính trọng : vợ anh đang tiêu khiển trong doanh trướng của bêi Orơxơlan.
Chàng nhúng mũi tên vào một bình dầu và tiếp :
- Vợ con tôi đều ở Sôpơrôn. Họ không hề đi khỏi nơi đó, mùa đông cũng như mùa hè.
Tên gọi loa lại lên tiếng :
- Ngươi có nghe chăng, Bônemixo ! Con trai ngươi đang ở với ta đây. Một giờ nữa ngươi đến chỗ cổng thì sẽ thấy.
Gergey đặt mũi tên lên dây cung. Chàng châm vào lửa rồi giật lên, bắn về phía tên gọi loa.
Mũi tên lửa bay qua đêm tối như một ngôi sao chổi và trong một khoảnh khắc soi tỏ ngọn đồi nơi mặt trời thường vẫn quen nhô lên.
Trên đồi có hai tên Thổ mặc áo caphơtan đang đứng. Một tên cầm ống loa trong tay, tên kia có một mắt che bằng khăn trắng. Chẳng có đứa trẻ nào đứng bên chúng cả.
Đêm ấy còn xảy ra một việc khác nữa.
Vosanhi xin vào cổng và vội vàng đi thẳng đến chỗ Đôbô. Đôbô vẫn đang đứng trên pháo đài Nhà thờ, giơ tay sưởi lửa.
- Thưa ngài, - người điệp viên nói – con về đây để báo tin ngài biết, tất cả các khẩu zobuzan đã đặt xong. Từ phía sân Hêxei chúng cũng sẽ nổ súng. Ngoài ra toàn bộ tu pháo và pháo bắn đạn ria cũng sẽ lên tiếng. Về phía thành phố, các khẩu zobuzan sẽ công phá tường thành từ hai địa điểm, về phía các quả đồi thì từ ba địa điểm, còn các loại pháo khác sẽ tuôn đạn ra từ năm chục địa điểm ở khắp tứ phía. Trong buổi cầu kinh trưa, bọn kumbarari sẽ xông ra và dùng thương, dùng nỏ bắn đá vãi hỏa pháo vào thành. Ôi ôi ôi ! – Anh ta thêm, gần phát khóc.
- Như vậy nghĩa là chúng nó sẽ bắn phá pháo đài Ngục thất, thành ngoài và cổng Cũ, - Đôbô điềm tĩnh nói – Còn gì nữa ?
- Chúng nó sẽ bắn phá tất cả, thưa đại úy !
- Ngươi có gì nói nữa không ?
- Thưa ngài không ạ, chỉ có điều là giá như… nếu chúng ta đã ít ỏi như vậy… có lẽ tốt hơn… và một tai họa nhường này…
Anh ta không nói được hết vì Zôntoi đã giáng vào mặt anh ta một cái tát đến nỗi vọt cả máu mũi lên tường.
Đôbô giơ tay ra giữa hai người cản lại.
- Đừng đánh !
Và thấy Vosanhi đưa tay lên quệt mũi rồi nhìn Zôntoi với bộ mặt thiểu não. Đôbô nói với giọng xoa dịu :
- Ngươi không biết ư, hễ kẻ nào dám nói đến việc dâng thành ra hàng là sẽ bị tội chết ?
- Con là điệp viên. – Vosanhi lúng túng – Sở dĩ người ta trả lương cho con là để con có gì thì nói cho bằng hết.
- Thôi đủ rồi. – Đôbô bảo – Ngay đêm nay ngươi cũng sẽ phải tuyên thệ. Sau đó ta sẽ nghĩ cách để ngươi có thể dùng vàng mà quệt mũi. Hãy theo ta.
Họ đi qua bên cạnh giếng nước, nơi Gergey đang cùng gã xigan và bốn nông dân nhồi những quả thủ pháo. Năm người sản xuất thủ pháo suốt đêm ngày ở đó. Gergey đã dạy cho họ cách làm và sở dĩ họ phải làm việc cả ban đêm là để nhỡ có bị tấn công bất ngờ cũng khỏi phải cuống quýt.
Đôbô gọi Gergey lại. Cả ba cùng đi vào soái phủ. Vào đến nơi Đôbô rút ngăn kéo ra và quay sang bảo Gergey :
- Anh viết thư báo cho Xonkoi biết rằng cho đến nay nhà vua và đức giám mục chưa gửi một sự cứu viện nào đến đây cả, và bảo ông ta hãy thúc giục các trấn và các thành phố đến cứu viện.
Trong khi Gergey viết thư, Đôbô làm lễ tuyên thệ cho Vosanhi ở phòng bên cạnh.
- Thưa ngài – Vosanhi nói sau khi tuyên thệ - con biết mình phục vụ ai. Nếu thành này giữ được, con sẽ không bao giờ phải mặc đồ cải trang Thổ Nhĩ Kỳ nữa.
- Ngươi nói đúng đấy. – Đôbô đáp – Nhưng giả sử ngươi không chờ đợi một sự ân thưởng nào thì cũng cứ phải phục vụ như thế vì Tổ quốc.
Trên bàn có một bình rượu vang, ông đẩy đến trước mặt người điệp viên :
- Uống đi, Imre[64].
Người điệp viên đang khát. Anh ta dốc bình lên tu.
Khi anh ta chùi ria mép, cặp mắt anh ta lộ vẻ muốn tỏ lời cảm ơn, nhưng Đôbô đã chặn trước:
- Ngươi không cần trở lại chỗ quân Thổ. Hãy đem bức thư này đến Xorơvotkơ ngay đêm nay, rồi chờ ở đó cho đến khi nào Vosơ Mikơlôt từ chỗ nhà vua và đức giám mục trở về. Nếu có thể, ngươi hãy đem cả anh ta vào. Nếu không được thì chỉ mình ngươi về thôi. Trong trại quân Thổ có thường dùng khẩu lệnh không ?
- Thưa ngài, không đâu ạ. Nếu ai mặc quần áo Thổ, lại biết một vài tiếng Thổ nữa thì có thể tha hồ đi lại giữa bọn chúng như thể cùng một bọn. Nhưng giá mà ngài thượng úy đừng có tát con một cái như thế!...
Ở phòng bên vang lên tiếng cựa giày của Gergey. Đôbô bèn đứng dậy để sang nghe bức thư.
13
Ngày hôm sau, 16 tháng chín, tiếng gầm thét của những khẩu đại bác đã gọi mặt trời nhô lên đằng sau những dãy núi.
Mặt đất run rẩy. Từ các bãi pháo, khói bay lên như những đám mây màu nâu hòa lẫn vào mây trời và ngay trong giờ đầu tiên đã che kín cả mặt trời, cả biển xanh lồng lộng của bầu trời.
Các pháo đài và tường thành rên rỉ, rạn nứt. Đạn to, đạn bé đua nhau vãi vào thành trong. Tên lửa và hỏa pháo rơi như mưa. Đạn đại bác lao xuống và quay lông lốc khắp nơi. Từ nay trở đi, tính mạng của người và vật không còn được an toàn nữa.
Nhưng những người trong thành cũng đã sẵn sàng chờ đón mối nguy đó. Đôbô đã cho thổi kèn đánh thức quân lính dậy từ khi trời còn tối. Một bộ phận đi đắp cao thành con chạch về những hướng mà người ta đã biết chắc rằng hôm sau đạn sẽ từ nhà chánh xứ Hêxei theo đó bay vào. Một bộ phận khác được lệnh mang tất cả số da còn lại trên trần nhà kho ra ngâm vào các bồn nước. Những người khác nữa vác xà gỗ, thùng gỗ và những bao tải chất đầy đất ra thành ngoài, đến pháo đài Ngục thất và đến các cổng thành, để hễ nơi nào bị phá vỡ, tất cả vật liệu hàn khẩu sẽ sẵn có ngay.
Tất cả xô và nồi có trong thành, hễ còn rỗng, là phải đổ đầy nước vào. Người ta khuân tất cả mọi thứ không cần thiết ra khỏi các phòng ở tầng một, tầng hầm và đặt giường vào đó. Củ cải, bí đỏ, bắp cải muối – tất cả những thứ mà đạn không thể sát hại được – đều được chuyển lên các tầng trên để dành chỗ cho những người làm việc hoặc nghỉ ngơi.
Người ta còn đào sâu cả chuồng súc vật. Ngựa và bò chuyển xuống sâu hơn nửa sải tay.
Người ta đắp đất vào các sườn nhà phía bắc và phía đông. Những nơi đạn đã rơi xuống bãi chợ người ta đào hào và đắp đất ra phía trước. Đạn bay đến đều cắm phập vào ụ đất.
Trong thành đã không còn gì có thể cháy được, ngoài mái chuồng gia súc, với lại một vài đống cỏ khô, một đụn lúa nhỏ, một đống rạ rải chuồng ở trước chuồng gia súc.
Đôbô ra lệnh dỡ cả mái chuồng xuống, lấy da bò ướt phủ kín mấy đống cỏ, đụn lúa và xúc đất phủ phía ngoài đống rạ.
Để chữa cháy cho những gì còn có thể bén lửa như trần nhà và các giàn gỗ đi lên mặt lũy, ông sai phân phát những tấm da đã tẩm nước đi các nơi.
Tiếng gầm của những khẩu đại bác đã bắt gặp tòa thành trong công việc đó. Viên đạn đầu tiên nặng nửa tạ rơi trúng nhà bếp, làm vỡ một lô xoong chảo.
Các bà phụ nữ đang lúc nhóm lửa và chuẩn bị nhồi bột, lấy mỡ, lấy thịt nướng để nấu cho các chiến sĩ. Viên đạn khổng lồ rơi vào bếp làm họ phát hoảng, đạp lên đầu lên cổ nhau mà chạy nhào ra khỏi nhà bếp, người nào không kịp ra cửa chính thì trèo qua cửa sổ.
Viên đạn vẫn nằm lăn ở đó mà tiếp tục quay giữa đống xoong chảo, đĩa gỗ và nồi đất vỡ.
Mectsei đứng ở chỗ chuồng gia súc trông thấy viên đạn bắn vỡ mái nhà bếp liền chạy lại.
- Cái gì thế ? – Chàng vừa quát lên hỏi họ vừa dang rộng hai tay để chặn họ lại.
- Đạn bắn vào.
- Quay lại! Quay lại! Các bà hãy đi theo tôi!
Anh vội bước vào nhà bếp, cầm lấy hai tai của một chậu nước, bưng nó lên tưới vào viên đạn.
- Nào, - anh nói và lấy chân đạp viên đạn vào góc nhà – các bà tiếp tục nấu nướng đi. Viên đạn bắn vào từ phía trái, vậy các bà hãy làm việc ở nửa bên trái nhà bếp. Tất cả xoong chảo để bên kia phải đem sang bên này và đừng ai đi lại ở nửa bên ấy. Ở nửa bên trái này không còn nguy hiểm gì nữa.
- Ôi ! – Một bà tái mặt rên rỉ - Đêm qua con gà mái nhà tôi nó lại gáy cơ chứ. Ngày tận thế đã đến đây rồi.
- Nó là con gà trống đấy – Mectsei bảo.
- Nhưng rõ ràng là gà mái, ngài đại úy ạ.
- Nào, nếu đúng là gà mái thì các bà hãy đem nấu bữa trưa cho tôi, như vậy nó sẽ không gáy nữa !
Đám phụ nữ còn làm dấu thánh một vài phút, nhưng sau đó, khi viên đạn thứ hai phá thủng mái nhà rơi xuống, tự họ múc nước giội cho nguội đi và lăn đến bên cạnh viên kia.
Cơn bão đạn đã làm cho cả thành phố bối rối. Cho đến sáng hôm đó, đại bác chỉ nổ ở một chỗ, và nếu đôi khi đạn có rơi vào, họ đã biết cần phải tránh những bức tường dọi nắng ban mai và những bức tường ánh nắng không bao giờ dọi đến. Nhưng giờ đây, khi đạn đã rú rít và rơi chan chát vào tất cả mọi phía, to nhỏ đủ các cỡ từ quả dưa hấu đến quả hồ đào; họ không còn biết nơi nào là an toàn nữa.
Bây giờ thì mọi người tranh nhau lấy tất cả mũ sắt, tất cả giáp sắt, dù xấu xí đến đâu. Cho đến nay chỉ có gã xigan mang giáp trụ, mặc dù vẫn đi chân đất, nhưng bây giờ, khi đạn rơi chan chát, phầm phập, lộp bộp vào khắp nơi, khi đám thợ cạo, ngay trong giờ đầu tiên đã phải rắc phèn và khâu cho mười người bị thương, ai nấy đều vội vã đến các kho binh khí để khoác lên mình một bộ giáp sắt càng dày càng tốt.
Hai vị đại úy cùng các thượng úy trong mười lăm phút đầu tiên đã đi đến khắp mọi chỗ trong thành.
- Các ngươi đừng sợ ! – Giọng Đôbô vang lên như sấm.
và tiếng các thượng úy gọi vang khắp nơi như tiếng vọng :
- Đừng sợ ! Hướng đạn rơi không đổi. Nơi nào đạn đã rơi thì đừng đi qua !
Họ nói thế nhưng bản thân họ vẫn đi khắp mọi nơi.
Quả nhiên không đầy một giờ sau, chính những viên đạn đã chỉ cho mọi người thấy những ngôi nhà, bức tường nào là nguy hiểm. Đạn làm rụng tất cả lớp vữa trát tường, chỗ nào nhà xây bằng sa thạch thì đạn găm vào đó nhiều đến nỗi đen cả bức tường.
Ngược lại một số tường vẫn nguyên vẹn, vẫn trắng toát. Dù đôi chỗ có bị đạn rơi vào thì cũng chỉ do nó từ một bức tường khác nẩy sang. Tất cả những bức tường như thế giờ đây trở thành những bức tường bảo hộ, nơi dân thợ có thể làm việc, lính tráng có thể nghỉ ngơi.
Sự thực trong thành cũng chẳng còn nhiều bức tường như thế.
Giữa cơn giông ầm ầm đó của chết chóc, Đôbô khi xuất hiện ở pháo đài này, lúc lại đến pháo đài kia.
Giờ đây ông đã đội mũ sắt sáng loáng, mang giáp hộ thân, giáp tay và giáp chân; bàn tay cũng đeo găng sắt.
Chỗ này ông sai sửa lại những ụ công sự bảo vệ pháo, chỗ kia ông điều chỉnh pháo.
- Chỉ cần bắn những cái nào chắc chắn thôi. – Ông bảo – Ta phải dè xẻn thuốc súng, các người ạ!
Đó là điều duy nhất mà dân trong thành không hiểu.
- Báu gì cái thứ thuốc súng này. – Đám nông dân lầu bầu với nhau – Có thuốc súng mà không bắn thì để làm gì ?
Và không một ai trong thành lại không ngứa tay muốn bắn. Thì ai chả thấy quân Thổ đã ở ngay đây dưới mũi chúng ta: vậy phải diệt trừ những tên côn đồ hung bạo ấy đi chứ, hay ít ra cũng phải làm cho chúng nó sợ mà lùi ra xa thành đi chứ.
Tuy vậy họ không dám nói với Đôbô. Cuộc vây hãm càng trở nên quyết liệt bao nhiêu, ông càng nắm chắc trong tay bấy nhiêu tất thảy mọi quyền lệnh.
Bọn Thổ lúc này đã tràn ngập cả đồi Ghế vua. Lều trại, cờ xí san sát khắp nơi quanh thành, và giữa những khoảng trống là bọn lính ăn mặc pha tạp lúc nhúc ồn ào.
Quân nhạc Thổ vang lên khi ở chỗ này, lúc ở chỗ kia, tiếng kèn, tiếng trống, tiếng thanh la đệm theo tiếng ầm ầm như sấm không ngừng không dứt của hàng trăm khẩu đại bác.
Ở những quãng thành không bị đại bác bắn phá, bọn kumbaratjii ném thủ pháo và bọn cung thủ ionisa bắn tên lửa vào.
Thật là một cơn bão đạn và mưa tên lửa.
Tất nhiên tên lửa và thủ pháo nổ còn làm cho dân thành hoảng hốt hơn cả đại bác. Nhưng những người chỉ huy dày dạn đã dạy cho họ cả cách tránh những thứ đó.
Khi những quả thủ pháo đầu tiên bay vào và vừa xì xì vừa nhảy lóc cóc vừa phụt ra những tia lửa đỏ chói, Đôbô cũng thân hành giật lấy một tấm da ướt và chụp lên một quả. Những người dân kinh ngạc nhận thấy chẳng những quả thủ pháo không nổ tan xác ngài đại úy, mà chỉ lục đục dưới tấm da một tý rồi tịt đi ngay.
Những quả thủ pháo sau đó đã do lính tráng dập tắt. Thứ thủ pháo đó đều làm bằng gốm hoặc bằng thủy tinh.
- Chúng ta sẽ giới thiệu cho bọn Thổ biết những thứ khá hơn !
Gergey nói và sai mang ra những quả hỏa hổ[65] do chàng chỉ huy chế tạo suốt cả tuần qua.
Đôbô đặt tay lên vai Gergey.
- Hẵng gượm.
Đại bác vẫn gầm thét liên hồi từ sáng đến tối và cơn mưa chết chóc vẫn trút xuống. Những viên đạn nặng nửa tạ của những khẩu Zobuzan phá ra trên tường thành những mảng to bằng cánh cửa một. Những viên đạn nhỏ nhưng nặng của tu pháo và pháo bắn ria bẻ gãy những hình chạm trổ tuyệt mỹ của nhà thờ và làm thủng lỗ chỗ bức tường hậu của soái phủ.
Lúc bình minh, khi toán lính trực canh vừa chiếm lĩnh vị trí sau dãy tường con chạch, đạn từ những khẩu tu pháo của bọn Thổ đặt phía sau rơi xuống họ như mưa đá.
- Nằm xuống! – Gergey hô to.
Một trăm năm mươi chiến sĩ nằm ép bụng sát đất. Gergey núp vào sát tường. Đạn rít qua trên đầu họ và cắm phầm phập vào tường thành. Dãy tường con chạch trên mặt thành liền giống như một cái sàng.
Một lát nghỉ tiếp đến. Bọn Thổ đã bắn xong tất cả các khẩu pháo, chúng đang nạp đạn.
- Đứng dậy ! – Gergey hô.
Năm người nằm không dậy nữa.
- Khiêng họ vào trước nhà thờ. – Gergey buồn bã nói – Trong số các ngươi có ai bị thương không ?
Mười lăm người máu me lặng lẽ bước ra khỏi hàng.
- Các ngươi hãy đến ngay chỗ nhóm thợ cạo.
Chàng lắc đầu và cất tiếng nguyền rủa. Sau đó chàng bảo các chiến sĩ :
- Các cậu ạ, chúng ta không thể nằm ép bụng ở đây suốt ngày được. Hãy lấy xẻng ra đây mà đào hào.
Khoảng mười người chạy đi vác xẻng và một lát sau tất cả mọi chiến sĩ đều hì hục đào. Chưa đầy một giờ sau các chiến sĩ đã đào được một cái hào sâu có thể đứng đến ngang ngực.
Gergey chờ cho bọn Thổ bắn xong loạt đạn mới rồi nhảy lên khỏi hào, vội vã đi vào thành trong để báo cáo với Đôbô về việc đào hào.
Bên cạnh tu viện, chàng bắt gặp thằng bé con Thổ Nhĩ Kỳ đang chơi cạnh ống máng. Nó đang dùng thìa moi một viên đạn đại bác bốc khói ra khỏi tường. Thằng bé chắc hẳn vừa trốn khỏi nhà bếp và đang đứng ở một chỗ đạn rơi không ngớt.
- Hajđe! (Cút ngay khỏi chỗ này!) – Gergey quát to.
Thằng bé giật mình quay về phía Gergey. Nó đứng tựa lưng vào tường, tái mặt và đưa cặp mắt sợ sệt nhìn chàng, hai tay nó bíu vào tường như thể đang tìm váy mẹ.
Một loạt đạn mới xuyên vào tường làm vữa rơi lả tả. Một viên đạn đen thui to bằng nắm tay cắm phập vào tường phía trên vai thằng bé và để lại quanh cái lỗ một quầng đen bẩn thỉu.
Gergey nhảy lại chỗ đó. Chàng bế xốc thằng bé lên và đem vào soái phủ.
Chiều tối hôm đó, mặt trời lặn sau những đám mây xám về phía Bocto. Trong có một phút, nó lóe ra một dải vàng rực rỡ đến tận giữa đỉnh trời rồi biến mất giữa những cụm mây màu máu để đi chiếu sáng cho những con người ở một miền đất khác hạnh phúc hơn, những kẻ đêm nay có thể ngả đầu lên gối bên tiếng râm ran êm ả của bầy cánh cam mùa thu.
Trong thành Eghe, công việc chỉ bây giờ mới bắt đầu.
Khi loạt súng cuối cùng của bọn tốpsi vừa nổ xong những người thợ nề cầm lấy bay trát vữa, những người nông dân vác đá, vác đất, vác xà, chuyển nước, cát và bắt đầu việc hàn gấp lại những lỗ hổng.
Những tay súng nằm phục bên rìa mặt lũy, những người thợ làm việc bên những lỗ hổng.
Thỉnh thoảng một phát đạn ria lại vang lên, khi ở pháo đài này, lúc ở pháo đài kia. Viên đạn bay lên cao nổ tung giữa không trung và trong một thoáng, chiếu sáng lòa bãi trống ở trước thành với ánh sáng màu đỏ. Đó là những viên pháo sáng. Giờ đây đã phải cần đến chúng. Người ta đề phòng quỷ kế của bọn Thổ.
- Làm đi, các người làm đi! – Đây đó vang lên tiếng thúc giục của các sĩ quan.
Một thợ nề theo dây thụt xuống phía ngoài thành để dùng đinh để đóng thanh xà bắc ngang lỗ hổng vào mặt tường bên ngoài.
Từ phía dưới, ánh lửa sáng chớp chớp. Một cơn mưa đạn trút lên những người thợ. Sau đó còn có nhiều ánh lửa lóe lên và nhiều tiếng súng nổ ra. Ánh lửa của những khẩu súng Thổ soi sáng hai đại đội ionisa nằm phục trước chân thành.
Từ trên mặt thành một loạt đạn trả lời chúng.
Những người thợ nề đã rơi xuống dưới chân thành phía bên ngoài.
- Chỉ làm việc bên trong thôi! – Tiếng Petơ vang lên.
Và những người thợ vẫn tiếp tục làm việc giữa những loạt súng chốc chốc của bọn tưphensi.
Lúc nửa đêm, tiếng tù và của người gác cổng bỗng rúc lên.
Đôbô đang ngồi trên một thùng thuốc súng, ông ngửng phắt đầu lên.
- Nào, phúc thư của nhà vua đây rồi.
Quả thực chưa đầy năm phút sau, hai người đầy máu me thở hổn hển đã đứng trước mặt Đôbô. Cả hai đều mặc trang phục Thổ. Thanh gươm dính máu vẫn nằm trong tay họ chứng tỏ vào được thành Eghe không phải chuyện dễ dàng.
- Nào. – Đôbô giục. – Các ngươi nói đi chứ.
Một trong hai người đó là Vosanhi, anh ta vừa đi ra đêm qua. Người kia là Vosơ Mikơlôt, người mang lá thư của Pasa Amét đến chỗ nhà vua.
Vosanhi vẫn thở hồng hộc.
- Suýt nữa thì bị chúng nó giết!
Vosơ Mikơlôt tra thanh gươm còn dính máu vào vỏ rồi ngồi xuống thềm đất đầy bột đá. Anh ta lôi chiếc ủng da vàng, rút dao ra cậy đế giày lên. Trong đó có một phong thư, anh trao cho Đôbô. Chỉ lúc đó anh mới cất tiếng được:
- Con đã gặp đích thân ngài giám mục. Ngài gửi lời chào kính trọng đến đại úy. Ngài giám mục đích thân mang thư đến chỗ hoàng thượng. Đây là lời phúc đáp.
- Người thứ ba đã bị chúng nó giết mất. – Vosanhi nói.
- Người thứ ba nào? – Petơ hỏi ngay.
- Xuyxobô Isơtơvan, một chiến sĩ của ta. Anh ta cũng bị mắc kẹt ở bên ngoài. Anh muốn vào cùng với chúng con. Chúng nó đã dùng giáo đâm chết anh ngay trước cổng thành.
Anh ta thở một hơi dài rồi lại tiếp.
- Chúng con không hề nghĩ là lại gặp bọn Thổ ở ngay cổng thành. Khi vào đến nơi, con thổi cái còi của con. Con vừa thổi còi lên, lập tức mười tên Thổ đã từ bên cổng thành ập đến. Úi chà chà! May mà trời tối, với lại người của ta đã lập tức mở cổng kịp thời, Isơtơvan bị chúng nó đâm ngã ngay trước mặt con, con vừa vặn kịp nhảy vào.
Trong lúc đó Đôbô đã bẻ dấu niêm phong, mà thực ra cũng đã nát thành cám dưới gót giày, và nghiêng xuống ngọn đèn đọc bức thư. Nét mặt ông mỗi lúc một tối sầm lại. Cặp lông mày đã hoàn toàn sát lại gần nhau. Khi đọc đến cuối bức thư, ông hất đầu một cái và nhét bức thư vào túi.
Petơ rất muốn hỏi nhà vua viết những thứ. Nhưng Đôbô đưa cặp mắt tối sầm liếc nhìn quanh rồi quay về phía Vosanhi:
- Nhà ngươi đã trao bức thư cho ngài Xonkoi rồi à?
- Thưa ngài, con đã đưa rồi ạ. Ông gửi lời chào ngài. Ông ấy đã viết suốt cả buổi sáng và xong được bao nhiêu bức thư, ông ấy liền sai ngần ấy phi mã gửi đến khắp nơi ngay trong buổi sáng.
- Các ngươi còn việc gì nói nữa không?
- Con không có gì nói nữa. – Vosơ Mikơlôt nói. – Ngài giám mục đã tiếp con rất ân cần. Ở chỗ hoàng thượng cũng thế, tất cả mọi người đều vui lòng tiếp, nhưng con bị một nhát chém vào đầu, con muốn được đến ngay chỗ thợ cạo.
- Petơ con ơi, - Đôbô nói – sáng mai anh đừng quên nói với Sukan ghi tên hai người này vào danh sách những người mà sau cuộc vây hãm chúng ta sẽ xin nhà vua ban thưởng cho họ.
- Thưa ngài. – Vosanhi vừa nói vừa đưa tay mân mê yết hầu. – Con còn có điều báo cáo.
Đôbô nhìn anh ta.
- Đó là – Vosanhi tiếp – Nogiơ Lukát bảo con xin với ngài cho thắp một vài cây đuốc ở chỗ cổng chính. Anh ấy muốn trở về trong đêm…
- Ta sẽ sai gông cổ nó lại. – Đôbô giận dữ quát lên – rồi ta sẽ dạy cho nó biết thế nào là chậm trễ.
Một người đeo thùng sau lưng mang nước lên cho thợ nề vội vã đi qua bên cạnh họ. Đôbô đứng né sang một bên và gọi to lên bảo đám thợ nề:
- Bắc ngang thanh dầm lại, đừng để dọc như thế!
Rồi Đôbô quay sang Vosanhi.
- Có lẽ cái anh chàng Lukát ấy tưởng rằng… Được rồi, hắn cứ việc mà đến trước mặt ta!
Vosanhi gãi gãi cằm và cầu khẩn nhìn Đôbô:
- Thưa ngài, anh ấy rất lấy làm hối hận vì đã bị mắc kẹt ở ngoài. Thật anh ấy buồn rầu không biết để đâu cho hết.
Đôbô mất bình tĩnh đi đi lại lại dưới cây đèn.
- Chỉ là chuyện điên rồ! Cái anh chàng ấy nghĩ thế nào cơ chứ? Vả lại hắn nhắn nhe cái gì cũng mặc, không tránh khỏi hình phạt đâu. Ngay đêm nay các người lại phải quay ra, mang thư đến chỗ ngài giám mục, đến chỗ nhà vua một lần nữa. Mikơlôt, nhà ngươi còn có thể đi nổi nữa không?
Mikơlôt đắp khăn lên đầu. Trên khuôn mặt trai trẻ của anh, máu từ bên trái ứa ra như suối, cái khăn đã đỏ lòe vì máu.
- Nổi ạ. – Anh sẵn sàng trả lời. – Vậy thì để đến Xorơvotkơ, con sẽ bảo khâu lại đầu cũng được.
14
Đổ nát một ngày một lan rộng trên những tường thành. Bây giờ đã nhiều người làm công việc của thợ nề hơn. Đêm đêm số lính gác cũng đông hơn. Hôm sau, khi những đạn đại bác Thổ lại lên tiếng, vữa từ các mặt thành vọt lên cao hàng chục sải và những viên đạn bắn vào đó nằm lại vĩnh viễn trong tường.
- Chúng mày bắn nữa đi! – Lão già Xexey la lên – Cứ lấy sắt mà gia cường mặt lũy cho chúng tao.
Nhưng đến ngày thứ mười, quân Thổ thức dậy đã thấy có những đổ nát không hàn gắn được. Trong một đêm, người ta không còn chữa nổi tất cả những chỗ bị bắn vỡ.
Cuối tuần thứ hai một lão nông dân già khoác áo lông cừu đến trước cổng xin vào. Áo lông cừu trên người lão không phải áo vùng Hevét[66] tuy vậy người ta vẫn để lão vào.
Đôbô tiếp lão trên bãi chợ.
- Lão người ở đâu? – Ông giận dữ hỏi.
- Thưa ngài, con là dân vùng Tsabơrac.
- Lão tìm gì ở đây?
- Thưa ngài, con chở bột mì đến cho bọn Thổ ạ.
- Bao nhiêu?
- Dạ… dạ, mười sáu xe ạ.
- Ai gửi lão đến đây?
- Ông tổng quản ạ.
- Nó không phải là tổng quản mà là đồ Hung gian mạt hạng!
- Dạ bẩm ngài… chúng con đành phải khuất phục. Chúng con không muốn lâm vào cảnh như bên láng giềng ạ.
- Láng giềng đó là ai vậy?
- Thưa ngài, thành Đơrêgey ạ.
- Lão mang thư đến phải không?
- Dạ… dạ, quả con có mang.
- Từ chỗ bọn Thổ đến phải không?
- Vâng thưa ngài, từ đấy đến ạ.
- Lương tâm lão có bảo lão rằng khi lão nhận mang thư đến đây là đã làm một việc tội lỗi hay chăng?
- Thì… con có biết trong thư có gì đâu ạ?
- Quân Thổ lại có thể gửi một cái gì tốt đẹp đến sao? Lão già không đáp.
- Lão có biết đọc chăng?
- Bẩm không ạ.
Đôbô quay sang bảo đám phụ nữ.
- Các ngươi mang một nồi than đỏ ra đây.
Họ mang ra và đổ than xuống đất. Đôbô ném bức thư lên đống than hồng.
- Bắt lấy cái thằng già bán nước này và đút mũi nó vào khói. Đồ vô loài, nếu mi không biết đọc thì hãy ngửi đi!
Sau đó ông sai gô cổ lão già đó lại và bêu giữa bãi chợ để cho dân thành thấy kẻ nào nhận thư bọn Thổ thì sẽ ra sao.
Các sĩ quan cũng chứng kiến cảnh đó. Dân chúng cũng kéo nhau đến: họ cười, nhìn lão già chảy nước mắt nước mũi vì khói và vì đau xót.
- Thấy chưa đồ thổ tả. – Gã xigan bảo lão – Can cớ gì mà làm phu trạm?
Bức thư rời ra từng tờ khi đỏ, khi đen trên đám than hồng. Khi nó đỏ, những hàng chữ hiện lên như những họa tiết trang trí màu đen; đến khi những trang giấy đã thành than, những hàng chữ lại đỏ rực lên ngoằn ngoèo một lát trên nền đen.
Gergey cũng đứng đó.
Khi lão nông dân bước vào cổng, mọi khẩu đại bác đều im tiếng. Bọn Thổ chờ sự trả lời.
- Thưa đại úy, - Gergey nói khi họ bước ra khỏi đám đông – tôi đã vô tình đọc thấy một dòng trong bức thư kia.
- Anh đọc làm gì? – Đôbô nhún vai đáp – Ta không đọc, tuy vậy ta vẫn biết.
- Đáng lẽ cũng chẳng nên nói đến làm gì. – Gergey tiếp – Nhưng mà cái câu đó thật quá vô đạo, vì vậy tôi đã không thể đừng được mà không nói với ngài.
Đôbô không bảo nói đi, cũng không bảo đừng nói.
Thế là Gergey lại tiếp:
- Câu ấy như thế này: Hay là quan tài của ngươi đã đóng xong rồi, hở Đôbô Istơvan?
Đôbô hừm hừm:
- Xong rồi. Như vậy là chúng hỏi ta đã chuẩn bị sẵn sàng để chết hay chưa chứ gì? Về một điều đó, ta sẽ trả lời cho chúng biết.
Mười lăm phút sau, một cỗ quan tài sơn đen xuất hiện trên tường thành. Hai đầu móc vào xích sắt buộc vào hai ngọn thương. Các chiến sĩ cắm hai cây thương vào kẽ đá.
Những khẩu đại bác Thổ lại gầm vang.
15
Đến tối hôm lễ thánh Mikai đã có khoảng mười lăm lỗ hổng lớn há miệng toang hoác trên các tường thành.
Nhiều nhất là ở trên tường thành ngoài. Cảnh đổ vỡ lớn thứ hai là ở pháo đài góc đông nam. Thứ ba và thứ tư là ở về phía nam, nơi đó chúng nó đã bắn vỡ cổng. Cái tháp canh cao bị bắn phá đến nỗi người ta không thể hiểu cái gì còn giữ được nó chưa đổ xuống, đặc biệt là ở đoạn lưng chừng tháp.
Dân thành đã không còn đủ sức lấp những lỗ hổng, chữa lại đường. Có thể thấy là dù tất thảy mọi người có ra làm việc chăng nữa, một nửa số chỗ đổ vỡ vẫn không thể hàn gắn kịp.
- Nhưng các người ạ, ta vẫn cứ phải làm đi!
Lúc nửa đêm, Đôbô gọi các sĩ quan của ông lên pháo đài nhà thờ và sai bắn pháo sáng lên trời.
- Các ngươi hãy nhìn xem. – Ông nói. – Những đụn đất kéo dần vào đây kia kìa, thật y như đám chuột chù thỉnh thoảng lại dũi xuống dưới mặt đất, những giao thông hào kia đều đầy bọn Thổ.
Đêm hôm đó quả thật quân Thổ đã tiến vào gần tất cả những tường thành. Có thể thấy ở khắp mọi hướng trong một tầm ngắm, những lá cờ vàng đỏ của bọn ionisa, những cái thang công thành dài thuồn thuỗn giữa các lều trại và những cái lều ionisa bằng khố tải, trong mỗi chiếc như thế có chừng mười – hai mươi tên nằm ngủ. Lúc này, đó là tuyến trong của vòng vây.
- Các con ơi. – Đôbô lại nói. – Điều này có nghĩa là ngày mai chúng nó sẽ tấn công vào thành. Tất cả mọi người hãy ngủ ở ngoài này.
Ông ra lệnh đặt pháo bắn đạn ria và súng kíp ở những nơi tường thành bị vỡ. những khẩu đại bác cũng được chỉnh hướng về những phía đó. Tất cả thương, giáo, hỏa hổ, cuốc chim, lưỡi hái, nghĩa là tất cả những gì có trong kho binh khí dự trữ của thành đều được đem ra dựng dọc quanh tường thành.
Rồi ông bắt tay tất cả các sĩ quan.
- Các con ơi. – Ông nói. – Tất cả các con đều đã biết nhiệm vụ của mình. Bây giờ đi ngủ đi, được ngần nào hay ngần ấy. Chúng ta cần phải đánh lui đợt tấn công này.
Lúc đó một tiếng ồn ào khác thường từ phía thành phố vẳng đến. Tất cả bọn họ đều chú ý về phía đó.
Trước cổng thành, về phía con suối, tiếng còi của Vosanhi lảnh lót vang lên.
- Mở cổng mau! – Đôbô quát.
Dưới thành phố tiếng ầm ĩ mỗi lúc một tăng. Tiếng vó ngựa, tiếng binh khí chạm nhau, tiếng súng nổ. một giọng Hung la lớn:
- Mở cổng ra! Lukát về đấy!
Người trực gác cổng là trung úy Voiđơ Gianốt. Anh lập tức sai đốt đuốc sai ra ngoài. Thì ra đội quân của Nogiơ Lukát trong một hàng dài, đang cố sức chọc qua bọn lính thiết giáp Thổ nghỉ đêm ở bãi chợ để tiến về phía thành.
- Hạ đuốc xuống! Chiếu vào dưới cổng! – Voiđơ hét, bởi vì anh lập tức thấy ngay rằng để đội quân đó tiến về trong bóng tối thì có lợi cho họ hơn.
Người ta lập tức hạ cầu xuống và kéo cây đại phong cầm lên.
- Những người có súng, có giáo đến ngay quanh cổng!
Các dũng sĩ của chúng ta nối nhau thúc ngựa nhảy vào cổng. Bọn Thổ la ó ùa theo sát gót họ.
Một trận xô xát đẫm máu bắt đầu dưới vòm cổng.
Một tên piát đi chân đất lẹ như con mèo, thoăn thoắt leo lên dây xích cầu treo, thanh gương cong ngậm ngang trong mồm. Người lính gác cầm đuốc đã trông thấy nó. Hai bên gườm gườm nhìn nhau một phút, rồi người lính gác quật đầu đuốc lửa vào mặt hắn một cái mạnh đến nỗi tên Thổ rơi tõm xuống khoảng tối đen.
Trong lúc đó những tên Thổ khác không ngừng la hét Allahakbar (Thượng đế chí cao) chen nhau xông vào dưới cổng.
- Kéo cầu lên! – Đôbô thét.
Loạt đạn của các xạ thủ nổ rền át mất giọng của ông.
- Cầu không thể kéo lên được! – Người gác cổng gào đáp lại.
Ai cũng thấy quân Thổ đứng đầy trên cầu.
Lúc đó Gergey vừa đến nơi. Chàng giật lấy cây đuốc trong tay một người gác và cố tiến đến chỗ khẩu súng cối.
Trong giây lát sau đó, khẩu cối khạc lửa, gầm lên và quét quang một vệt rộng giữa bọn Thổ chen chúc trên cầu.
Cái cầu khục khặc, cót két nâng dần lên qua trục vít to bằng cái bánh xe bò và nhấc bổng cả bọn Thổ lên theo.
Bên trong, những cái cọc sắt của cây đại phong cầm sập xuống, bên ngoài cái cầu ốp lên, khoảng chừng năm chục tên Thổ mắc kẹt trong một khoảng hẹp dưới vòm cổng. Chúng điên khùng quay cuồng, đạp phá lung tung cho đến khi ngã chồng lên nhau thành đống dưới những loạt đạn và những ngọn giáo xỉa vào.
Vài phút sau dưới cổng vòm tối om chỉ còn lại một đống hình thù thở dốc, quằn quại.
Đôbô đã đứng lên bãi đất trong cổng.
Dưới ánh đuốc, hai mươi kỵ sĩ đầu trần đứng sắp hàng trước mặt ông.
Một người thấp, vai rộng, bước lên, dừng lại trước Đôbô, vừa thở vừa nói:
- Xin báo cáo đại úy, tôi đã về.
- Lukát con ơi! – Đôbô xúc động trả lời – Ngươi đáng được một cái cùm vào chân lắm, đồ lông bông lêu lổng! Nhưng lại cũng đáng được một vòng vàng đeo vào cổ, chàng dũng sĩ gan dạ, trung thành của ta ạ!
Và ông ôm lấy người chiến sĩ của mình, hôn lên má.
- Vậy các người làm thế nào mà vào được?
- Thưa đại úy, chúng con phải chờ cho đến khi chém được một số quân Thổ đủ để lấy cho mỗi người một cái tuyban và một áo khoác. Chúng con thường từ Xorơvotkơ xuất kích ra, và đến đêm nay chỉ còn thiếu hai tuyban nữa mà thôi. Vosanhi đưa cho chúng con mượn cái còi của anh ta. Giá như ở bãi chợ có cả kỵ binh thì chúng con đã có thể vào một cách êm thấm. Nhưng bọn bộ binh đã đánh hơi biết được chúng con không thuộc bọn chúng, thế là chúng nó tấn công vào chúng con.
- Thiếu những ai?
Các chiến sĩ đưa mắt nhìn nhau. Ánh đuốc ban đêm chỉ soi rõ một nửa mặt họ.
Người nào người nấy đều chảy máu, máu thấm đỏ cả quần áo, cả mình ngựa.
- Gabô. – Một tiếng nói khe khẽ.
- Bitsơkei. – Lại có tiếng.
- Bonkanhi…
- Sôsơ Giuri…
Mắt Đôbô chợt ngừng lại trước một chiến sĩ nhỏ nhắn có bộ tóc như con gái, đứng lùi về phía sau hàng và giấu mặt vào bên cổ ngựa.
- Bolajơ! Con đấy ư? – Ông kêu lên, trái tim ông cũng nhói lên một cái.
Chú thiếu niên bước lên, quỳ một chân xuống, đặt thanh gươm đảm đẫm máu đang cầm trên tay xuống bên chân Đôbô và lặng lẽ cúi đầu.
Đúng là Bolôc Bolajơ, người võ đồng bé nhất của ông.
16
Đêm đó, trừ tám mươi tay súng, tất cả mọi chiến sĩ đều được ngủ. Họ ngủ cạnh những tường thành, trên lớp rơm rạ trải dưới chiến hào. Gươm giáo đặt ngang trên người hoặc để bên cạnh.
Trên kia, bên cạnh tường con chạch, những tay súng đặt súng trên tường: súng đã nhồi thuốc, sẵn sàng nhả đạn, được phủ một lớp giẻ rách, vải mỏng để che sương.
Cứ độ mười – hai mươi bước lại có người đứng gác giữa những người ngủ. Cạnh các khẩu pháo, trong các tháp canh cũng vậy. Phía bên thành phố ít người gác nhất.
Tất cả mọi nông dân có trong thành, những đồ tể, thợ xay bột, thợ nguội, thợ mộc, bốn người thợ rèn, hai tay lái chó và cả gã xigan đều được Đôbô cử đến giúp việc đám thợ nề.
Người ta đặt những cây gỗ dài nhất vào các chỗ tường đổ. Đất, ván gỗ và cát, và bao nhiêu đá có thể chuyển đến được trong sự bề bộn của công việc vội vàng, đều được ném vào các chỗ tường đổ. Cánh cổng bị bắn vỡ thì phải lấy đất, đá, cát và những thùng gỗ tọng đầy đất để lấp chặt lại. Súng cối được đặt phía trong và phía trên cổng, pháo bắn ria và tu pháo đặt hai bên, người ta chuyển đến đây tất cả những khẩu súng nào có thiểu điều động được.
Bọn tưphensi[67] đứng dưới những hào sâu, thỉnh thoảng lại bắn lên, mỗi khi có một người thợ nào xuất hiện ở những chỗ tường đổ. Vậy mà họ vẫn cần phải xuất hiện, vẫn phải nhô người ra, mặc dù họ đã dùng những ụ cản đạn bằng nhánh cây để che tầm mắt nhìn lên như thế nào đi nữa.
Bên tháp góc, Bôiki Tomát đôn đốc việc lấp chỗ sụt lở. Ở đó, vì tường bị sụt sâu đến ba sải tay, người trung úy ở Bôrơsôt phải sai lấy chão, lấy xích sắt buộc chặt những thanh gỗ đặt hai bên mép tường. Một công việc nguy hiểm. Thỉnh thoảng cần phải nhô người ra và mỗi lần như thế, bọn ionisa ở dưới kia đều nổ súng.
Người ta bắn trả lại chúng, vô ích, vãi hỏa hổ xuống cũng không ăn thua, bọn chúng đã bao kín chỗ nắp bằng ụ đất và đường con chạch đến nỗi chỉ còn thấy mũi súng của chúng thò ra mà thôi.
Thêm vào đó ánh đèn của những người trong thành lại soi rõ mục tiêu cho chúng.
- Đưa gỗ lên! – Bôiki Tomát ra lệnh.
Đám nông dân đứng ở chỗ đống ghỗ thanh, nhưng đêm đó đã ba người trong số họ bị chuyển đến chỗ thương binh.
- Đưa gỗ lên! – Bôiki lại kêu.
Đám nông dân vẫn đứng ngần ngừ.
Người trung úy bước đến chỗ tường sụt và lại thét lên:
- Nhúc nhích đi chứ! Lên đây! Lên đây!
Những thanh gỗ thoăn thoắt bay lên. Từ phía dưới, súng Thổ nổ như ngô rang. Trên này búa đóng chan chát, và xích sắt rít lên, kêu lách cách, riết chặt những thanh gỗ lại với nhau.
- Đừng sợ! – Người trung úy sứ Bôrơsôt quát lên.
Không một ai còn dám sợ nữa.
Một viên đạn đập chát vào cái mũ sắt của người trung úy, làm gãy cái mỏ bạc cắm lông trên mũ.
- Nhanh lên, nhanh lên!
Người trung úy lại hò hét và giật lấy một cây gỗ, dùng xích buộc chặt vào một thanh xà khác.
- Tomát! – Mectset gọi chõ lên – Xuống ngay!
Bởi vì đạn cắm vào tháp dày đặc, và ở dưới kia, súng Thổ càng nổ rền.
- Tôi xuống ngay đây.
Bôiki Tomát đáp và lại cúi xuống để giúp đưa một thanh gỗ khác lên. Anh sững lại trong cái tư thế cúi xuống, như thể đã hóa đá.
- Tomát! – Mectset bồi hồi kêu lên.
Tomát quỳ khuỵu xuống. Cái mũ sắt rơi khỏi đầu, làn tóc dài màu xám xõa ra đằng trước.
Mectset xông lên, bế Tomát xuống khỏi quãng tường sụt và đặt anh nằm xuống một góc trong tường pháo đài.
- Đưa đèn lại đây!
Mặt Bôiki Tomát đã trắng bệch như sáp. Máu chảy dọc theo râu anh nhỏ giọt xuống lớp bụi vôi trắng trên nền đất.
- Tomát! Cậu còn nói được không? – Mectset hỏi và ứa nước mắt nhìn anh.
- Được. – Tomát khó nhọc nói – Các bạn hãy chiến đấu… vì Tổ quốc…
Đèn và những cây đuốc tẩm hắc ín cắm vào đinh cháy rải rác trong thành. Đôbô cưỡi ngựa đi từ chỗ sạt lở này đến chỗ sạt lở khác.
Cái tháp đứng trên cổng Cũ khiến ông lo ngại nhất. Đại bác Thổ đã bắn vỡ cả cổng, làm hư hỏng cả tháp. Cái cầu thang vòng đã lộ ra đen đen ở mặt phía nam và cũng đã gãy mất bốn bậc.
Cánh cổng còn có thể lấp kịp nhưng để xây lại cái tháp thì không còn thời gian nữa. Nếu ngày mai chúng nó vẫn bắn cái tháp thì sẽ ra sao? Cái tháp ấy là địa điểm quan sát và là nơi đặt súng bắn về hướng nam: nếu nó đổ, tòa thành sẽ mất một điểm mạnh rất đáng kể.
Ông phái bốn chục tay súng giỏi đến đó. Họ phải ngủ lại đó với khẩu súng đã nhồi sẵn thuốc, sẵn sàng chiến đấu.
- Ngủ đi! – Ông kêu lên bảo họ - Chỉ cần hai người thức canh ở mấy cửa sổ là đủ.
Rồi ông quay ngựa lại, tiến đến chỗ tháp đằng góc.
- Cái gì ở đây thế? – Ông la lớn – Sao các người không làm việc?
- Thưa ngài, - một người thợ nói với giọng run run, - vừa trong phút này đây chúng nó đã bắn chết ngài trung úy Bôiki.
Lúc đó người ta khêng chàng trung úy xuống cầu thang, trên một tấm ván khênh đá. Chân anh lủng lẳng thò xuống dưới tấm ván. Hai tay không đeo găng cài vào nhau, đặt trên tấm giáp hộ tâm. Mectset cầm cái mũ sắt của người chết đi theo sau.
- Anh ấy chết rồi ư? – Đôbô hỏi.
- Vâng. – Mectset buồn rầu đáp.
- Tiếp tục làm việc đi! – Đôbô gọi lên pháo đài.
Ông xuống ngựa, bỏ mũ ra, bước đến người đã chết, lặng lẽ, buồn rầu nhìn anh ta.
- Cầu thượng đế phù hộ cho anh, Bôiki Tomát. Hãy đứng lại trước mặt Thượng đế: hãy chỉ cho người xem vết thương của anh, và hãy chỉ cả xuống cái thành này nữa.
Ông đứng đó đầu trần buồn rầu nhìn theo họ cho đến khi cây đèn biến mất đằng sau góc chuồng súc vật. Lúc đó ông lại lên ngựa và vội vã đi ra đằng sau soái phủ, đến một chỗ sạt lở khác.
Ở đó Zôntoi đang chật vật với một cuộn chão lớn để buộc các thanh gỗ vào nhau đem lấp chỗ vỡ. Bản thân anh cũng đang xúm vào giúp kéo dây, giữa chừng thỉnh thoảng anh quát bảo người này người nọ:
- Đừng có sợ hỏng dây, không phải xúc xích đâu mà sợ! Cầm lấy, Iontsi, chắc vào chứ! Kéo mạnh vào, như thể kéo hoàng đế Thổ lên giá treo cổ ấy.
Và những thanh gỗ răng rắc ép sát vào nhau. Những người thợ mộc đóng đai sắt ôm xung quanh, rồi đất, đá và cát tuôn đổ rào rào để lấp chỗ vỡ mà đại bác Thổ đã phá ra trên tường thành.
Đôbô gọi lên bảo Zôntoi: Anh xuống đây!
Zôntoi thả cái dây xuống nhưng còn ngoái lại thét lên một lần nữa:
- Đóng đinh đỉa vào, càng nhiều càng tốt!
Đôbô đặt tay lên vai anh.
- Đi ngủ đi con. Ngày mai cần phải có sức!
- Còn một vài thùng nữa…
- Xéo đi ngủ ngay! – Đôbô quát anh – Một! Hai!
Zôntoi đưa tay lên vành mũ rồi lặng lẽ bước đi.
Đôbô không muốn người ta là trái ý ông.
Ông còn đuổi Phayghétđi và Petơ vào nữa, sau đó ông cũng xuống ngựa trước soái phủ, giao ngựa cho người lính gác cửa và đi vào phòng riêng.
Cái phòng nhỏ ở tầng một, nơi ông ở từ khi giặc bắt đầu bắn phá, được chiếu sáng bằng một cây đèn treo bằng gốm màu xanh. Trên bàn có thịt nguội, rượu vang và bánh mì. Đôbô cứ đứng như thể đang cầm bánh mì lên, bẻ một mẩu.
Từ phòng bên cạnh, một phụ nữ tóc hoa râm, mặc tang phục mở cửa vào, tay bà cầm cây nến. Trông thấy Đôbô, bà bước hẳn vào phòng.
Đó là phu nhân Bolốc, mẹ võ đồng Bolajơ.
Người phụ nữ quý tộc nhỏ nhắn, khí khái này ngay từ lúc bị kẹt lại trong thành đã lập tức thích ứng với tình thế. Bà cáng đáng công việc của người vợ viên giữ cổng và nấu ăn cho Đôbô, bà lo lắng về tất cả mọi thứ.
- Công tử thế nào rồi? – Đôbô hỏi.
- Cháu nó ngủ rồi. – Phu nhân trả lời. – Người nó bị những sáu vết thương. Trên ngực, trên đầu, ở tay. Nhưng ngài đại úy, ngày ngài không ăn, đêm ngài không ngủ, chuyện này không thể tiếp tục như thế được nữa. Nếu ngày mai ngài cũng không về ăn trưa, tôi sẽ đích thân bưng theo ngài cho đến khi nào ngài ăn hết.
- Tôi không có thì giờ. – Đôbô đáp và dốc cạn cốc. – Giường của tôi đã trải chưa ạ?
- Ba ngày đêm nay nó vẫn thế.
- Nào, vậy thì đêm nay tôi sẽ ngả mình một cái (quả thực ông đã ngồi xuống). Cậu bé không bị vết thương nào to chứ?
- Trên đầu nó có một vết chém dài lắm. Những vết kia nhờ được cái áo đônman bằng da đỡ cho một phần, cũng nhờ ơn Trời! Tay chân nó cử động dễ dàng.
- Thưa phu nhân tôn kính, phu nhân cũng phải đi ngủ đi thôi. Hôm nay tôi cũng sẽ làm thế. Tôi phải nghỉ ngơi một chút. Chúc phu nhân ngon giấc.
Ông nhìn ra ngoài trời và lại bước ra khỏi phòng.
Cái áo khoác dài mặc ban đêm của ông treo ở tiền sảnh. Ông khoác lên người rồi vội ra pháo đài Ngục thất. Ông bắt gặp Gergey ở đó đang sai một gã thanh niên vác một bì da to tướng lên phía trên.
- Cái gì thế nào? – Ông giận dữ bảo chàng. – Té ra anh còn thức hở? Không phải ta đã ra lệnh cho anh đi ngủ ư?
- Tôi đã ngủ rồi. – Gergey đáp – Nhưng tôi chợt nhớ là sương sa xuống pháo. Tôi sai đem thuốc súng khô đến tất cả các nơi.
Đôbô gọi xuống chỗ súng cối bắn pháo sáng:
- Bắn!
Khẩu cối xòe xòe, nổ vang. Viên đạn hắt lửa ra ở độ cao một trăm sải, và nổ hừng hực, soi sáng quanh thành.
Trại quân Thổ nằm im quanh thành. Đây đó chỉ có những tên lính gác bẻ cổ áo lên đến tai ngồi trước các đội quân.
Đôbô theo Bônemixo lên pháo đài nhà thờ xem cách chàng thổi thuốc ẩm ra khỏi các lỗ điểm hỏa, cách chàng cẩn thận rắc thuốc khô lên, cách chàng nhìn xem dây ngòi, gậy nhồi thuốc, môi đong thuốc và đạn có để đúng chỗ hay không.
Sau đó Đôbô ở lại. Ông đứng khoanh tay trên mỏm pháo đài, bên khẩu đại bác Búpbê. Trong cái lặng lẽ mênh mông đang nghe ngóng xung quanh, ông ngửng lên nhìn trời, bầu trời đầy mây, không ánh trăng. Chỉ có một vài ngôi sao trắng le lói trên một khoanh trời nhỏ.
Đôbô bỏ mũ ra, quỳ xuống, ngửng mặt lên trời. Ông chắp tay lầm rầm cầu nguyện:
- Thượng đế của con! Người đang thấy cái thành nhỏ đổ nát dần của chúng con và cái nhúm người quyết tâm này trong đó… Trong cái vô cùng vô tận của Người, thế giới trần tục này nhỏ không đáng kể. Ôi, nhưng đối với chúng con, đây lại là tất cả! Nếu cần đến cuộc đời chúng con, xin Người hãy lấy đi! Chúng con hãy rơi rụng đi như cuộng cỏ trước đà lia lưỡi hái! Chỉ cần đất nước này tồn tại… cái nước Hung nhỏ bé này…
Mặt ông tái nhợt, lệ trào ra khóe mắt. Với khuôn mặt đầm đìa nước mắt, ông lại tiếp:
- Maria, mẹ của Giêsu, người mẹ bảo trợ của nước Hung! Chúng con vẫn hằng mang ảnh Người trên lá cờ của chúng con! Tên của Người hàng triệu đôi môi vẫn ca ngợi bằng tiếng Hung! Xin hãy đoái thương đến chúng con!
Thánh vương Isơtơvan! Từ thượng giới Người hãy nhìn xuống đây! Hãy nhìn xuống đất nước đang bị tiêu diệt, dân tộc đang đau khổ của Người! Hãy nhìn Eghe, nơi những bức tường nhà thờ của Người đang đứng và nơi nhân dân đang ca ngợi đấng vạn năng bằng tiếng nói của Người, bằng tôn giáo của Người! Người hãy dậy đi nơi doanh trướng thiên đình, Thánh vương Isơtơvan, ôi, Người hãy phủ phục xuống chân Thượng đế! Thượng đế! Thượng đế! Xin hãy dành trái tim của người cho chúng con!
Cái khoảnh nhỏ quang mây trên bầu trời kia như thể cái cửa sổ của thiên đình, trong đó những ngôi sao là những cây nến trắng.
Đôbô lau nước mắt rồi ngồi lên giá gỗ khẩu đại bác. Chìm sâu trong lo nghĩ, ông ngồi bất động, nhìn vào khoảng tối om ở dưới chân thành.
Trại quân Thổ ngủ yên với tiếng rì rầm khe khẽ. Không trung rung động vì hơi thở của hàng chục vạn con người.
Đôbô tựa lưng, tì tay lên nòng đại bác. Đầu ông mỗi lúc một gục thấp xuống, cuối cùng gục lên cánh tay: ông đã thiếp đi.
17
Ở phía chuồng súc vật, một tiếng gà trống chưa cứng cựa tè té te cất lên, liền đó là một tiếng gáy ồ ồ. Về phía đông, một dải mài xám nhạt tách bầu trời tối đen ra khỏi những ngọn đồi.
Bình minh.
Dường như những cục đất của địa cầu bỗng nhiên chuyển động ở dưới kia. Tiếng lích kích khe khẽ nổi lên trong một khoảng rộng xa tít. Mặt đất dồi lên như những làn sóng đen ngòm, và tiếng lích kích, rì rầm ngày một vang ầm. Một đôi tiếng chuông lắc cũng đã hòa vào tiếng lích kích, và một đôi tiếng còi khe khẽ nữa. Đất màu xám ở đằng chân trời ngày một mở rộng, màu đen trên bầu trời đã chuyển thành một cái chàng mạng có thể nhìn thấy qua.
Đã có thể nhìn thấy bóng phấp phới của những lá cờ ở dưới kia. Đã có thể nhìn thấy những tốp tuyban, những chiếc thang mảnh khảnh chĩa lên trời, lắc la lắc lư tiến về phía chân thành.
Bầu trời đằng đông sáng rất nhanh. Màu hồng đã thế chỗ dải màu xám và những cái tháp không mái, những bức tường đổ của tòa thành đã nhô ra khỏi lớn sương mù lành lạnh đang tan dần.
- Thưa chủ tướng. – Bônemixo gọi và đặt tay lên vai Đôbô.
Đôbô choàng dậy:
- Anh đấy à, Gergey?
Ông nhìn xuống đám lính Thổ đang bạt ngàn nhấp nhô.
- Cho thổi kèn báo thức đi!
Cái kèn của pháo đài lanh lảnh vang lên. Tám kèn khác lập tức trả lời nó. Binh khí va loảng xoảng. Tiếng rậm rịch và tiếng người vang vang khắp mọi nơi. Những cái hào trên thành ngoài cũng nhộn nhịp lên. Quân lính đã sắp hàng trên những pháo đài và trên các mặt lũy.
Đôbô nhảy lên ngựa, trong ánh sáng của buổi bình minh, ông quan sát cách bố trí, những chỗ tập trung của các binh đoàn Thổ.
Bọn chúng bố trí đông nhất ở mạn thành phía các lâu đài.
- Hễ bọn chúng xông lên mặt thành là ném hỏa hổ xuống ngay!
Đôbô ra lệnh khắp mọi nơi.
Võ đồng Kơrixtôp gặp đại úy ở bãi chợ. Chú cưỡi trên một con ngựa Thổ nhỏ màu xám, mặc áo khoác màu xanh thẫm.
- Thưa chủ tướng, con mang áo giáp ra chứ ạ?
- Đừng. – Đôbô đáp – Ta vào ngay bây giờ.
Nhưng ông không đi vào. Trong ánh sáng mỗi phút một tăng, ông tế ngựa từ pháo đài này qua pháo đài khác để xem mọi người chuẩn bị ra sao.
- Các ngươi nhớ chỉ bắn vào những chỗ đông đặc thôi! – Ông bảo các pháo thủ - Cái chủ yếu hiện nay là hỏa hổ và thương, giáo.
Sau đó ông lại la to:
- Chừng nào bọn Thổ chưa bắn xong tất cả các khẩu đại bác, các ngươi đừng có vượt lên mặt thành.
Hỏa hổ đã sẵn sàng từng đống hình tháp, cạnh những chỗ tường vỡ. Người ta chế tạo suốt mấy tuần nay. Gergey đã cho đặt thêm vào giữa một liều thuốc nữa, với liều thuốc đó, hỏa hổ trở nên mạnh gấp đôi. Khi người ta ném xuống chúng nổ lần đầu, khi cái nhân bắn ra, chúng sẽ nổ lần thứ hai. Sau đó những tia lửa trắng cháy đến hàng mấy phút từ trong hỏa hố phụt ra tứ tung, kẻ nào bị nó bắn vào quần áo vào mặt, nhất định phải nhảy lùi ra xa. Quân Thổ không biết chế tạo loại hỏa hổ như thế.
Võ đồng Kơrixtôp chờ chủ tướng trước cửa soái phủ một lát, sau đó cậu thấy ông đi ngựa đi hết pháo đài này sang pháo đài khác mỗi lúc một nhanh hơn. Cậu đi vào phòng mang ra đặt lên ngựa tấm giáp hộ tâm, giáp che tay, giáp che đùi, cắp cái mũ chiến vào nách rồi ra đón gặp Đôbô ở chỗ tháp góc.
Đôbô cứ ngồi yên trên ngựa và mặc bộ quần áo sắt vào người. Kơrixtôp cũng ngồi trên ngựa lần lượt trao cho ông tấm giáp hộ tâm, giáp che tay, găng tay sắt. Rồi cậu nhảy xuống thắt đai giáp che đùi cho chủ tướng. Cuối cùng cậu trao chiếc mũ khảm vàng lên cho ông.
- Con mang cái kia ra đây. – Đôbô bảo – Cái mũ thép ấy.
Lúc đó trời đã sáng bạch, đến mức có thể thấy rõ rằng các binh đoàn Thổ ở dưới kia. Dưới chân thành, trong những dây hào, hàng ngàn tuyban và mũ chiến nhấp nhô. Nhưng chúng nó vẫn đứng một chỗ - chúng đang chờ hiệu lệnh để bắt đầu đợt công kích.
Chàng không phải chờ lâu. Khi ánh sáng đã tăng đếu độ có thể thấy rõ những bậc nhấp nhô ở những bức tường bị phá, những hòn đá nhô ra và những hàng gỗ, trong trại quân Thổ tiếng hát cầu kinh thành kính của các tu sĩ Hồi giáo đồng thanh nổi lên ở hàng trăm chỗ quanh thành. Đám quân trùng điệp, trong tiếng lách cách lan đi rất xa, nằm phủ phục úp mặt xuống đất rồi lại quỳ lên.
Như tiếng ì ầm của một cơn giông đang đến gần, đám quân dị giáo khổng lồ lầm bầm khấn khứa:
- Ala… giáo tổ Môhamét của chúng con… Người hãy làm cho trái tim chúng con trở thành dũng cảm… Người hãy dang rộng những cánh tay vô địch của Người… Người hãy làm tắc lượng sáng khạc lửa của chúng nó… Người hãy biến bọn vô tri vô đạo đó thành bầy chó để chúng cấu xé chí tử lẫn nhau… Người hãy phái cơn gió lốc đến chỗ chúng nó để quật chúng nó xuống đất, cho mắt chúng nó đầy bụi… Người hãy bẻ gãy xương chân chúng nó để chúng nó không thể nào đứng vững trước chúng con… Giáo tổ vinh quang của chúng con, xin Người hãy làm nhục chúng nó để chúng con có thể rạng rỡ trên thây chúng nó và để đất nước của Người vĩnh viễn phồn vinh!
Rồi chúng nó nhảy dậy trong tiếng lách cách ầm ĩ.
- Bitxmila! Nhân danh Thượng đế!
Đại bác và súng tay Thổ nhất loạt nổ rền. Tường thành rung chuyển, những chỗ hàn khâu lại nứt vỡ lung tung bởi vô vàn đạn đại bác bắn tới. Tên và đạn súng tay rơi như mưa rào xuống dãy tường con chạch trên các pháo đài. Không gian sặc sụa mùi thuốc súng. Hòa vào tiếng nổ rung trời chuyển đất là tiếng ầm ĩ của trống trận, kèn co, kèn đại và tiếng gào thét Ala của trăm ngàn tên Thổ.
Từ các chiến hào, bọn axap, Ionisa, đeli, rebêtri và tất cả các loại bộ binh Thổ nhảy lên đông như châu chấu. Rừng thang vượt thành bay về phía các đoạn tường và pháo đài bị bắn vỡ, từ phía sau những cái thang, cơn mưa tên bay rào rào lên các mặt lũy theo những đường vòng cung lớn.
Đội nhạc quân Thổ lanh lảnh vang lên.
Nhưng từ phía trên, câu trả lời cũng ập xuống. Những khẩu đại bác chúc nòng xuống khạc lửa, sắt, chì, mảnh chai, mảnh sành vào những chỗ quân Thổ tập trung dày đặc nhất. Hàng trăm tên ngã gục trên vũng máu, hàng ngũ chúng lay động, ngả nghiêng. Nhưng ngay sau phút đó, hàng trăm tên khác đã lại chen chúc nhau đạp qua những tên ngã xuống.
Những cái thang vượt thành va lách cách vào đá, vào sắt, vào gỗ, và đám đông gần như chạy, thoăn thoắt leo lên phía mặt lũy, khiên che trên đầu, một tay cầm giáo hoặc kích, thanh gươm cong ngậm ngang mồm.
Hai mươi bảy lá cờ Thổ phấp phới, phần phật dẫn đoàn quân leo thang ở phía sau các lâu đài, nơi những chỗ tường đổ.
- Ala, acha! La ila in Ala! Ia kerim! Ia ranhim! Ia phetta![68]
Tiếng gào thét kích động nổi lên không ngờ.
- Lên tường! Lên tường! - Ở trên tiếng hô cũng vang lên khắp nơi.
Và các mặt tường đầy người. Đến bây giờ hỏa hổ mới bắt đầu ném xuống. Người ta dùng tay mà ném xuống những quả thủ pháo cháy xèo xèo, sau đó phụt lửa và cuối cùng nổ ran. Hàng ngàn tia sét rơi xuống - nổ rền - bắn tung tóe. Tiếng kêu thất thanh, tiếng gào thét, khói, tiếng nổ đùng đùng, mùi hôi lưu huỳnh, thật là cảnh địa ngục. Cuốc chim, lưỡi búa nện chan chát lên đầu móc sắt của những cái thang. Một đôi cái thang khi rơi xuống có đến hai chục đứa bám theo. Chúng nó lăn xuống đè gẫy xương nhau và mở ra một lối giữa đám đông lúc nhúc dưới chân thành. Nhưng chỉ một phút sau, đợt sóng mới của đám đông võ trang lại tràn lên lấp chỗ của chúng, và bên cạnh những thang đã móc được vào tường, những thang mới vẫn nhô lên. Ala!
Trên pháo đài góc, nơi mà từ tối hôm qua đã được đặt tên mới là pháo đài Bôiki. Gergey và Zôntol cùng chỉ huy.
Cơn bão công kích ở đó còn gầm thét mạnh mẽ hơn ở cả chỗ tường vỡ khác, vì ở đó chỗ vỡ to hơn. Quân tấn công cũng đông hơn.
Những quả hỏa hổ quét rơi hàng trăm và hàng trăm tên leo thang, từ bên mạn sườn, người ta cũng bắn vào bọn chúng. Nhưng đối với bọn Thổ, cuộc sống có chi là quý giá khi chúng đông đến ngần ấy đứa. Chỉ cần mười tên đột phá được vào cùng một lúc là cả đạo quân sẽ theo gót chúng, chen chúc đổ vào như một dòng thác lớn cho mà xem!
Vì vậy cần phải có người làm để cản chúng lại!
Đã một giờ qua, hỏa hổ đánh lại những tên cố sức leo lên không bao giờ đứt đoạn, nhưng lúc nào cũng vẫn còn thang và bọn địch trên thang. Hễ một cái thang lớn mà mắc được vào đá là chúng nó đã chuyền lên cho nhau những đoạn thang nhỏ hơn để trèo tiếp lên mép thành phía trên.
- Giật cái thang lên! – Gergey kêu to.
Và trước sự ngơ ngác sững sờ của bọn Thổ, chẳng những người ta không chặt phá thang, mà khi bọn chúng vừa giơ lên, ở trên đó người ta nhanh nhẹn bắt lấy và giật lên.
Người ta đã giật lên được năm cái thang của chúng, khi một tên Thổ mặc áo bằng đồng vàng đưa cái thang của hắn lên và hắn cũng lập tức đeo lên theo.
- Kéo nó lên! – Gergey kêu to và thọc cán thương vào giữa hai bậc thang, bẩy lên.
- Các người mau giúp ta!
Cái thang vòng lên ra xa tưởng như một cái cầu treo, ở đằng cuối thang tòng teng tên Thổ mặc giáp đồng. Trong tay hắn cầm một cây giáo dài có đinh ngủ. Nhưng khi bị nhấc bổng lên giữa không trung, hắn buông rơi cái mộc và cây giáo, hai tay bíu vào nấc thang cuối cùng.
Hắn lủng lẳng giữa không trung.
Đoàn quân ở bên dưới gào rú.
Gergey muốn kéo hắn vào nhưng không có thì giờ. Một tên axap đội mũ lông nhảy thoắt lên một cái thang nhỏ khác, phải xử trí với tên đó.
- Lật úp nó xuống! – Chàng kêu lên với bốn thanh niên đang kéo cái thang.
Rồi chàng rút cây thương lên, đâm phập vào vai tên axap. Tên axap lảo đảo trong một phút, máu trào ra thấm đỏ suốt cánh tay. Sau đó hắn ngã lộn tùng phèo xuống, cuốn theo khoảng mười tên nữa trong số những tên đang cố vượt lên.
Trong lúc đó mấy chàng trai cũng tuân lời chàng: họ lật cái thang lại. Tên Thổ mặc giáp đồng phải lựa chọn: hoặc gãy tay hoặc bay một quãng hai chục sải giữa không trung.
Hắn chọn cái sau.
Một tên Thổ đánh trống, đang khua cái trống hình giống cái bánh xipô, đứng cách chân thành khoảng mười sải tay đã bị tên mặc áo giáp đồng thời rơi vào đúng giữa đỉnh đầu và cùng hắn lăn ra giữa đống xác chết.
Nhưng cái đó có gì là đáng kể giữa đám trăm ngàn quân.
Một cái khiên da cá sấu vừa nhô lên. Không thể trông thấy tên Thổ ở bên dưới. Ngọn thương trượt đi trên mặt khiên nhẵn. Tên Thổ ranh khôn chắc hẳn đã móc phần giữa khiên vào cái đỉnh nhọn trên mũ chiến của hắn. Dù người ta có đâm hắn bất cứ từ phía nào, cái khiên chỉ chao đi và ngọn thương sẽ trượt vào không khí.
Hấp một cái, Gergey đã nhảy tới.
- Phải thế này này!
Chàng trở ngược cán thương ra phía trước và quật dọc xuống theo người tên Thổ có khiên da cá sấu. Tên Thổ ngã lộn đầu xuống.
Tiếng gào thét vẫn vang lên không ngừng.
- Ala acba! Ia kerim! Ia phétta!
Đôi khi có cả tiếng Hung nữa:
- Chúng mày hãy nộp thành đi!
- Đây này! – Zôntơi đáp và bằng một nhát cuốc chim kinh hồn, anh quật thủng cái khiên, cái mũ sắt và cái sọ dừa.
Anh đứng ở đầu bên kia chỗ tường vỡ và chỉ làm việc bằng cuốc chim. Cái tường che đến ngang lưng anh. Anh nhường công việc bằng thương cho quân sĩ. Anh đích thân đứng trên một đoạn tường xếp bằng gỗ thành, nơi thang rất dễ móc vào, nơi thang đặt san sát bên nhau và đám đông vũ trang dày đặc chen chúc nhau xô lên.
Anh đã ra lệnh chặt gẫy một hai cái thang, nhưng sau đó anh thét lớn:
- Cứ nhè đầu chúng nó thôi, các cậu ạ!
Và anh cũng đứng ra phía trước để đích thân đón tiếp những kẻ xâm nhập. Giáp của anh bằng thép. Cán cuốc chim của anh dài như một cây còn.
- Cứ lên đây, đồ nhọ nhem, lên đây, để tao đánh vỡ cái mõm bê đẹp đẽ kia của mày ra!
Anh khích lệ một tên da đen đang giơ một cái khiên tròn, nhẹ, đan bằng sậy và tiến lên, từ phía sau cái khiên, lòng mắt trắng dã của hắn cứ loe ra. Khi đến còn cách một sải tay, hắn co tròn người lại như một viên đạn, tiếp tục tiến lên. Ý định của hắn là đến bậc thang trên cùng hắn sẽ bất thình lình bật dậy, lao ngọn giáo vào Zôntoi và nhảy lên mỏm pháo đài.
Chức tổng đốc Eghe đã được hứa phong cho kẻ nào cắm được ngọn cờ chiến thắng trước tiên. Quân dân trong thành cũng biết điều đó.
Con báo đen vẫn tiếp tục vọt lên. Nối gót hắn, một tên rebetji râu rậm, mồm xủi bọt mép, thét vang Ala acba (Thượng đế chí cao!). Sau lưng hắn, một là cái đuôi ngựa cắt ngắn giắt ở thắt lưng. Mồm hắn ngậm ngang một thanh gươm cong rộng bản tuốt trần.
- Ala acha! Ia kerim! Ia rahím!
Zôntoi giật tấm lưới che mặt xuống, vừa đúng lúc. Tên da đen bật thẳng người dậy, đâm ngọn giáo lên và cắm gãy mũi giáo vào bộ phận che cằm của cái mũ chiến.
Trong nháy mắt đó, cái cuốc chim bổ chát vào hắn và tên da đen từ bậc thang ngã vào không trung, rơi lộn đầu xuống.
Đến lượt tên rậm râu ở dưới hắn. Thằng này không cầm giáo trong tay mà cầm một cái chùy cắm đinh lởm chởm, buộc vào một đoạn xích. Đầu chùy lủng lẳng đầu sợi xích.
Zôntoi giật phắt đầu tránh cú đánh rồi quật cuốc chim trả miếng mạnh đến nỗi tay tên Thổ rậm râu bị gẫy, lủng lẳng một bên.
Tên Thổ đánh đu bằng một tay, kêu gào được một lát nữa nhưng cú đánh thứ hai đã làm hắn câm họng. Cái xác to lớn lăn xuống dọc thang, quét theo cả những thằng sống.
- Ta gửi lời chào kính trọng tới giáo tổ của mày! – Zôntoi quát với theo.
Việc nói chuyện với quân Thổ bị cấm, nhưng Zôntoi, trong cơn hăng chiến đấu đã quên mất điều đó. Rõ ràng là anh không thể chiến đấu mà không gửi gắm vào mỗi cú đánh một câu gì đó. Những câu hò hét của anh làm tăng thêm lòng hăng hái của toàn binh sĩ chiến đấu bên cạnh anh rất nhiều.
- Đánh đi con, Gianốt! – Anh kêu to với một chiến sĩ bên cạnh! – Đánh như thiên lôi ấy! Pập! Thằng này cũng chẳng trở thành tổng đốc Eghe được!
- Chờ gì nữa! – Anh nói to với một người khác – Có lẽ cậu còn chờ để nó hôn cậu chăng! Pập! Tiên sư cha nó!
Rồi khi một tên gureba đội tuyban, mặc áo giáp bằng thép xông lại xông lên trước mặt anh, anh thét lên với những người bên cạnh: - Các cậu hãy xoa nhẹ nó như thế này này!
Anh đánh trúng vào cổ nó. Máu vọt lên tường và tên gureba vừa quay tròn theo chiều nằm nghiêng vừa rơi xuống.
- Chúc mày rơi đến tận đáy âm phủ! – Anh quát theo.
Mặt trời đã tỏa nắng, có thể thấy nắng qua màn khói của những khẩu đại bác trong thành. Đôi khi một cơn gió lùa khói sang một bên, ta có thể thấy rất đông quân địch mang khiên thép, vác những cây cờ có quả thao mạ vàng, vẫn tràn tới với ánh sáng lấp lánh đến chói mắt.
Đôbô ngồi trên mình ngựa tế từ chỗ bị tấn công này đến chỗ khác. Nơi này ông chỉnh hướng đại bác, nơi kia ông ra lệnh đưa thương binh đi. Ông giục giã nạp thuốc súng và điểm hỏa. Ông cho chuyền thương, đao đến những chỗ binh khí đã gần hết. Ông khích lệ, ngợi khen, la mắng. Ông liên tục phất hai võ đồng của mình chạy đến chỗ đội dự bị do Mectsei phụ trách ở trong thành.
- Một trăm người đến chỗ các lâu đài! Năm chục lên pháo đài Bôiki! Năm chục ra Cổng Cũ!
Các đội quân cứ sau nửa giờ chiến đấu lại được thay phiên. Họ kéo nhau về nghỉ trước hai quán rượu trong thành, mồ hôi nhễ nhại, máu me bê bết, sặc sụa mùi thuốc súng, nhưng đầy hăng hái và hơi khoe khoang đôi chút, họ kể cho những kẻ chưa ra chiến đấu nghe những hành động anh hùng của họ. Nỗi khát khao được lao ngay vào chiến đấu cháy bỏng trong những người kia. Bản thân Mectsei cũng điên người lên vì không được chiến đấu mà phải láng cháng trên sân thành và phải bằng lòng với việc phái toán quân này, toán quân kia đi theo lời nhắn của Đôbô, và nói với họ những lời khích lệ:
- Số phận của Tổ quốc đang ở trên đầu thương mũi giáo của các ngươi đấy!
Những toán quân với nét mặt đỏ bừng bừng, vội vã lao mình vào cơn bão đang gầm thét.
Những cái thang vượt thành đã nhày nhụa máu. Quanh những cái thang, tường thành đã trở nên màu đỏ. Dưới chân thành, xác chết và bọn tử thương chất thành những quả đồi máu me quằn quại. Nhưng hàng ngàn và hàng ngàn tên giặc mới vẫn la hét leo lên đống tử thi. Kên lanh lảnh, trống thì thùng, đội nhạc binh vang dội và tiếng reo xung trận ở trên mặt thành vẫn hòa vào tiếng gào Ala không dứt không ngừng. Ở dưới kia là tiếng quát tháo ra lệnh của bọn laxaun[69], tiếng gầm của đại bác, tiếng đoàng đoàng của súng tay, tiếng ùng ục của thủ pháo, tiếng ngựa hí, tiếng những tên hấp hối thở dốc, rên rỉ, tiếng thang máy gãy răng rắc.
- Lên đây tổng đốc, lên đây! Pập!...
- Nói cho giáo tổ nhà mi biết, cú này là Zôntoi đánh đấy! - Tiếng thét vang lên từ trong đám khói bao phủ pháo đài.
Tiếng gào rống thú vật và tiếng súng cối nổ át những tiếng thét của dũng sĩ. Nhưng những hình thù chen chúc quanh anh và điệu múa nhanh loang loáng của binh khí cho người ta thấy toàn quân ở đó đang làm việc cật lực.
Khói che mờ cả mặt trời. Quanh chu vi thành, khói cũng bốc lên cuồn cuộn, qua lớp khói đó, thỉnh thoảng lại lấp loáng một quân đoàn Thổ đội mũ sắt, hoặc nhô ra màu nâu nâu của một hàng lạc đà chở thuốc súng và phấp pha phấp phới những lá cờ đại, cờ đuôi nheo.
Ở pháo đài Cổng Cũ nhiều người phải thay phiên nhất. Petơ Gátpa chỉ huy ở đó. Mỗi một lần rừng thang thưa đi, quân Thổ lại dùng những viên đạn đá nặng hàng tạ, công phá tường thành và lớp tường bồi. Chúng dùng cuốc chim và thuổng để phá cánh cổng đã lèn chặt, ba cọc sắt trong số hàng cọc của cây đại phong cầm đã bị gãy.
- Năm trăm! – Đôbê hét to với Korixtôp.
Và Korixtôp hối hả quay ngựa, phi đi gọi năm trăm người.
Số đó đã hầu như là toàn bộ lực lượng dự trữ còn lại.
Mectsei chụp mũ sắt lên đầu và cùng mười người chạy đến Cổng Cũ. Nếu chúng nó phá được vào, công việc của anh cũng sẽ bắt đầu: việc cố thủ thành trong.
Dưới vòm cổng và trên pháo đài, bọn Thổ rụng như ruồi. Từ trên tháp, những tay súng của chúng ta bắn liên hồi khiến chúng đổ gục thành từng gò đống. Giọng nói như sấm của Petơ Gátpa thôi thúc vang lên:
- Theo ta, hỡi các chú! Đừng lui bước! Hai tay chứ, mẹ kiếp nó!
Bản thân anh dính đầy máu đến nửa người, anh quật, anh chém lia lịa, khi dùng gươm, khi dùng cuốc chim, có lúc lại dùng thương.
- Giêsu, cầu Chúa phù hộ!
- Ala! Ala!
Khi bọn leo thang đã vơi đi, tiếng kêu “Nước! Nước!” vang lên khắp nơi.
Đám phụ nữ dùng bình sành, cốc vại bằng gỗ đước nước đến dưới pháo đài. Petơ giật lấy một cốc vại bằng gỗ. Anh đẩy tấm lưới che mặt lên, uống ừng ực đến nỗi chảy tràn ra hai bên mép như hai dòng suối nhỏ xuống áo giáp, nước liên tục chui qua áo giáp ra khuỷu tay, đầu gối, gót chân như chảy từ trong ống máng ra vậy. Nhưng trong cơn giận dữ và khát đến khô người, anh chẳng hề để ý đến điều đó.
Vừa đưa cái cốc ra khỏi miệng, anh thấy một tên Thổ nhảy lên mặt thành. Một tay hắn cầm cờ, tay kia hắn chém thục mạng. Đằng sau hắn nhô lên một cái đầu Thổ thứ hai, rồi cái thứ ba.
- Hứ, tiên sư cha chúng mày!
Và anh chộp lấy ống chân tên Thổ giật nó vào. Anh cùng nó lăn xuống cầu thang. Khi vướng vào một chỗ nào đó, anh bóp lấy cổ nó và dùng nắm đấm đi găng sắt đánh vào mặt nó.
Sau đó anh lại nhảy dậy, bỏ tên Thổ bị bóp chết dở đó cho đám nông dân ở dưới chân pháo đài, và vội vã quay lên. Anh nhanh tay chém sa sả trong một nháy mắt cả về sáu hướng.
- Ala acba!
Quân Thổ lăn lộn trên tường. Một tên akiji đã vượt lên được đến tháp canh. Hắn cắm cờ lên. Dưới kia tiếng gào đắc thắng nổi lên như bão cồn chào mừng lá cờ. Giêsu, lạy Chúa! Có thế chứ, nó không phất phơ ở đó được đến hai phút. Những dũng sĩ của chúng ta nhào tới bổ vỡ sọ những tên sấn sổ lên tiếp sau. Một dũng sĩ Hung đội mũ sắt gỉ đã như một con mèo trèo theo tên akinji ra ngoài mỏm. Anh đặt chân lên một mỏm đá và giáng lên hắn một đòn khủng khiếp. Anh chặt đứt phăng cánh tay tên Thổ cầm cờ khiến cây cờ cũng theo cánh tay từ trên cao rơi xuống.
- Cậu là ai? – Petơ mừng rỡ hét lên dưới thành.
Chàng dũng sĩ quay lại, kiêu hãnh kêu to trả lời.
- Komlôsi Onten!
Từ phía dãy lâu đài, chú võ đồng Bolajơ phi ngựa đến. Một bên đầu chú buộc khăn trắng, tuy vậy chú vẫn phi như bay dường như không có chuyện gì xảy ra cả.
- Chỗ soái phủ, hàn khẩu đã bị vồ! – Chú la to.
- Một trăm người! – Đôbô đáp lại.
Trong khi chú thiếu niên chạy đến chỗ Mectsei, ông cúi rạp mình ra phía trước, tế nước đại đến dãy lâu đài.
Quân Thổ đã phá vỡ chỗ hàn khẩu. Những thanh gỗ từ trong tường chĩa ra như xương lườn con cá rắn. Bọn Thổ bâu lên tường đông nghịt như kiến lửa. Đôbô nhảy lên mặt thành. Ông bổ đôi đầu một tên Thổ, đá một tên khác lăn tỏm xuống và hét to:
- Hất gỗ ra ngoài!
Cho tới lúc đó các chiến sĩ vẫn dùng cuốc chim kéo các thanh gỗ vào phía trong. Nghe lệnh Đôbô, họ nhất loạt bẩy ra phía ngoài. Những thanh gỗ quệt theo cả bọn dị giáo gào thét xuống khỏi thang. Một lỗ hổng to tướng toang hoác trên tường. Đằng nào cũng thế một hai sải tay cao hơn hay thấp hơn thì vẫn phải chiến đấu chống bọn giặc xông lên.
Một viên đạn quật gẫy lá cờ Hung xuống khỏi mặt lũy, rơi xuống giữa bọn Thổ. Và đây, mảng tường vỡ to cũng có lợi: một chiến sĩ Hung nhảy qua lỗ hổng ra ngoài, chém vào mặt tên Thổ rồi giật lá cờ đem vào trước khi chúng nó kịp xông đến chém anh.
- Toroc Laxtô, ta thấy ngươi rồi đấy, con ạ! – Đôbô mừng rỡ kêu to.
Đạn đại bác đập vào tường, tung bay bụi đá đầy mắt các chiến sĩ. Phía trước Đôbô, một người thấp nhưng to chắc, ngã tựa vào tường, lăn xuống dọc chân tường. Cái mũ sắt rơi ra khỏi đầu người đó, lăn đến bên chân Đôbô.
Đôbô dụi mắt, nhìn xuống: Onđơrát nằm đó, người đốc lý của Eghe. Tay ông ta vẫn khư khư nắm chặt thanh gươm. Từ cổ ông ta, dòng máu chảy ra theo một vệt dài giống như cái cà vạt bị sổ.
Nhưng kìa, cả hai võ đồng của ông đang từ phía Cổng Cũ chạy tới. Ông vội liếc nhìn lên tháp canh Cổng Cũ: những lá cờ Thổ đính đuôi ngựa đã phất phơ ở đó một, hai, năm… có đến hàng chục cái.
Và qua những lỗ thủng trên tháp canh, súng nổ chĩa vào phía trong. Bọn ionisa lại đang trèo lên phía ngoài tháp canh. Một tên ngậm một lá cờ đỏ to tướng giữa hai hàm răng, định cắm lên đỉnh tháp.
Trong những tiếng kêu kinh hoàng chạy lan từ đầu này tới đầu kia, xung quanh thành tiếng thét đắc thắng của trăm ngàn tên Thổ lay động cả không trung
- Ala! Ia kerim! (Ala! A chúng mày ơi!)
Những bộ mặt Hung tái mét.
Đôbô nhảy lên mình ngựa phi đến pháo đài nhà thờ. Ông chĩa các khẩu đại bác vào ngang sườn tháp canh, và trong khi độ ba trăm tên ionisa hò reo đắc thắng bâu đặc trên tháp, ba khẩu đại bác nhất loạt gầm lên. Cái tháp rùng mình đổ xuống trong tiếng rầm rầm dữ dội. Bụi vôi từ đống vụn bốc lên mù mịt như mây, và từ giữa đống đá, máu giặc Thổ chảy ra như rượu vang ở máy ép trong mùa nho.
Những tên khác đang xô đẩy nhau trước cổng và trên tường, nghe thấy tiếng trời tan đất sập đó liền kinh hoàng quay trở lại, và chưa đầy năm phút sau, những cái thang vượt thành đã vắng ngắt. Chỉ còn la liệt cái khối đẫm máu của những xác chết và những tên hấp hối bao phủ xung quanh Cổng Cũ và vùng kề cận.
Về trưa cuộc chiến đấu ở các nơi khác cũng ngưng dần. Hàng ngàn tên Thổ bị chết và bị thương, ám khói, máu me nằm ngổn ngang dưới chân thành; không trung run rẩy vì những tiếng kêu “ ei va”! Và “me det” (Ai ái! Ôi, ôi!) rên rỉ của bọn bị thương. Chả khác gì tiếng cừu rống.
Không một quyền lực nào của bọn iaxaun có thể thúc ép quân lính chúng tiếp tục tấn công trong ngày hôm đó nữa.
Nhưng bãi chợ trong thành cũng đầy thương binh.
Tất cả thợ cạo và phụ nữ đều bận rộn ở quanh các thương binh với chậu nước, giẻ lau, vải băng, phèn và rượu sa tiền.
Những người bị bắn gãy tay hoặc gãy chân được chăm sóc trước tiên. Biết thế nào người ta băng bó như thế. Những người khác phải tạm bằng lòng với việc rửa vết thương do các phụ nữ đảm nhiệm. Phần lớn im lặng chịu đựng đau đớn và chờ đến lượt, nhưng cũng có một số rên rỉ thảm thiết.
- Lạy Chúa tôi! Lạy Chúa tôi! Chúng nó bắn hỏng mất một mắt của tôi rồi - Một chiến sĩ trẻ tên là Orcnho Mihai, xạ thủ người Eghe, vừa khóc vừa lấy ống tay áo bị cháy mép ấn lên khuôn mặt đầy máu.
Petơ cũng ngồi ở đó, trên một cái ghế rơm phủ áo khoác lông kiểu nông dân, giữa những người khác. Chỗ mắt cá chân của anh bị một vết thương to đến nỗi máu chảy đọng thành vũng ở dưới ghế.
- Misơkơ[70], đừng khóc om tỏi lên nữa! – Anh bảo người lính - Chẳng thà cậu sống một mắt trong thành Eghe còn hơn nguyên vẹn cả hai mắt mà bị quân Thổ nó treo cổ lên!
Và anh cắn răng chịu đựng cho người thợ cạo dùng rượu sa tiền rửa vết thương đau ghê gớm ở chân.
Các tử sĩ nằm thành từng hàng trong cửa nhà thờ, máu mé, tơi tả, lấm láp và bất động.
Đôbô xuống ngựa, cởi mũ chiến ra đi qua giữa các tử sĩ, cặp mắt đẫm lệ.
Người đốc lý Eghe cũng nằm ở đó. Mái tóc hoa râm của ông bị máu nhuốm đỏ. Trên cái ủng đen phủ đầy bụi của ông còn thấy máu của một phát đạn. Hai người con trai quỳ gối bên cạnh.
Một phần các chiến sĩ người ngợm ám khói, rách tơi tả, mồ hôi nhễ nhại, bê bết máu me ngồi trên bãi chợ. Hai người cầm cờ ngồi ở hai đầu.
Đôbô bảo võ đồng Bolajơ:
- Con đem lá cờ của thành phố lại đây!
Ông tháo lá cờ màu xanh đỏ của thành phố ra khỏi cán và đắp lê người ông đốc lý Eghe – làm khăn niệm.
[1] Gồm các nước phía Bắc và đông Bắc nước Hung.
[2] Một tỉnh phía tây bắc nước Hung, giáp giới với nước Áo, có tỉnh lỵ cũng cùng tên
[3] Thủ đô Xiri ngày nay
[4] Tức là Istơvan đệ nhất (970-1058), ông vua đầu tiên có công thống nhất sơn hà. Được phong Thánh năm 1083.
[5] Thành lớn ở trung tâm vùng Hạ châu, ngày nay là tỉnh Xônnốc
[6] Tiếng Đức trong nguyên văn : Giê su, hãy lắng nghe lời cầu xin của chúng con! Giê su, hãy lắng nghe lời cầu xin của chúng con! Xin Chúa hãy rủ lòng thương chúng con!
[7] Sau khi Buđo thất thủ, hoàng hậu cùng triều đình phe Xopôio dời về công quốc Êrođêi, quân Thổ chiếm đóng phía nam, còn phía bắc nằm dưới quyền cai trị của vua Pheđinan nước Áo. Trông tập này mỗi khi nói đến người của nhà vua tức là nói đến quan quân của triều đình đó.
[8] Có nghĩa là gay go, nguy hiểm.
[9] Thành phố lớn thứ ba của nước Hung.
[10] Quả núi đứng bên Buđo, ngay đầu cầu Tự do và cầu Ejêbét, ngày nay trên núi có tượng Tự do.
[11] Tượng đức Chúa Giêsu bị đóng đinh trên cây thánh giá.
[12] Đơn vị đo lường ở Hung ngày xưa, tùy theo từng vùng mà có dung tích từ 12 đến 25 lít.
[13] Chức vụ của Gergey chỉ là trung úy, nhưng sau khi đến Eghe, Đôbô cử Gergey và ba người nữa lên chức thượng úy, cao hơn các trung úy khác.
[14] Một loại đại bác nạp liền, bắn đạn ria, có một cái mỏ như râu ở đằng sau để móc vào giá gỗ nên gọi là tu pháo.
[15] Ở đây có mấy câu đối đáp dựa trên sự phát âm lẫn lộn giữa phụ âm p và b trước hai từ pôrơ (thuốc súng) và bôrơ (rượu vang), chúng tôi lược đi vì dịch ra thì không có ý nghĩa nữa.
[16] Trò chơi bóng nguồn gốc ở xứ Ecốt, ngày nay rất phổ biến ở Anh và Mỹ, gậy chơi gônphơ cong một đầu hơi giống gậy chơi khúc côn cầu. Người chơi cầm gậy quật cho bóng chui vào những lỗ tròn có đường kính 12cm.
[17] Một loại áo ngắn có khuy dây dài cài ngang trước bụng, kỵ binh thường hay mặc.
[18] Thành phố trên bờ biển Cátxpiên, thuộc khu tự trị Đaghétxtăng nằm trong nước cộng hòa Adecbaidăng ngày này.
[19] Một vùng ở Ba Tư ngày này.
[20] Chỉ huy mười người.
[21] Xem chú thích từ phần 1. Ý nói, ngay cả những vị tướng tài giỏi nhất cũng vẫn có thể có những tên lính hèn nhát.
[22] Đây là chỉ nhà vua Pheđinan I.
[23] Ý nói là dù mất nước Hung, Phedinan I vẫn còn nước Áo, do đó mà y không lo gì đến việc bảo vệ nước Hung cả.
[24] Đây là người Xắcxông ở Trăngxinvani thuộc Rumani.
[25] Chưa rõ ở đâu.
[26] Chữ súng ở đây để chỉ các loại súng nhỏ, không dùng cho pháo.
[27] Theo truyền thuyết sổ do tiên Nam Tào giữ là quyển sổ khai tử của Thiên đình, ghi tên những người chết hoặc đến số chết ở nhân gian.
[28] Tiếng Đức trong nguyên văn: "Cái gì thế? Ông ta nói gì thế?”
[29] Tiếng Đức trong nguyên văn: "Thưa các ngài, đại úy Đôbô sẽ là người chỉ huy bùm bùm! Các ngài đã hiểu chưa”
[30] Một thứ bánh mì hình tròn, vừa một suất ăn.
[31] Yurisits Mikolot (1490-1515) làm tướng giữ thành Kơxec – một thành phố nhỏ, năm 1332 với một số quân ít ỏi đã bảo vệ thành, chặn đứng được cả đạo đại quân Thổ do Hoàng đế Xukeimura ngự giá thân chinh đem đi định tiến đánh Viên.
[32] Hoàng đế Thổ hồi đó.
[33] Đây là nói về trận Môhát, xem chú thích từ tập 1.
[34] Tômôri Pan (1475-1526) hồi trẻ đã gia nhập quân đội và đã từng làm tướng trấn thủ thành Phôgoret. Từ sau 1520 nhập dòng tu Pherenxơ và làm linh mục ở Eghe rồi làm giám mục xứ Kolôtsơ. Ông ta chỉ huy đạo quân Hung trong trận thảm bại ở Môhat năm 1526 và chết tại trận.
[35] Vùng Eghe có loại rượu vang màu đỏ tươi gọi là "Huyết bò Eghe"
[36] Một loài kèn cổ, tiền thân của loại kèn Klarinet ngày nay
[37] Hồi đó súng ngắn còn được gọi là súng tay.
[38] Ở ta người ta nói ngủ say như hổ, nhưng ở châu Âu và các xứ lạnh nói chung, gấu cũng là một điển hình về ngủ vì hàng năm nó ngủ li bì suốt cả mấy tháng mùa đông.
[39] Tiếng Thổ trong nguyên bản, nghĩa là: "Trời ơi! Ôi trời chí cao!"
[40] Một loại quân khí thời xưa, đó là một loại búa cán dài, có mỏ nhọn, giống như cuốc chim.
[41] Bạn đọc nên biết rằng hồi đó niên bổng của người đầu bếp của Đôbô chỉ có mười phô rinh; của người làm vườn có sáu phô rinh.
[42] Một loại tiền cũ bằng bạc, rất thông dụng ở La Mã và các nước Châu Âu hồi xưa.
[43] Khoảng 9kg.
[44] Một ông vua Ba Tư nổi tiếng giàu có nhất thời cổ đại.
[45] Một thứ giầy đi trong nhà, giống như giầy hạ hoặc hài vải ở ta.
[46] Thằng bé nói tiếng Thổ, nghĩa là “ Mẹ ơi, mẹ đang ở đâu.”, mụ Vôsơ lại nghe ra là “Mẹ ơi, lại đây!”.
[47] Miếng gỗ đẽo thành hình viên ngói để lợp nhà thời xưa.
[48] Một loại lính xung kích có lá chắn bằng thép của quân Thổ.
[49] Kỵ binh Thổ Nhĩ Kỳ.
[50] Ý là không bắn cho chúng một phát đạn to hay sao?
[51] Lưỡi hái ở châu Âu cán dài, lưỡi dài đến hàng mét, có thể vừa đứng vừa lia sát mặt đất.
[52] Thi Hào Petophi cũng có một bài thơ rất hay về những kẻ “còn rỗi chán” để chế giễu những kẻ chần chừ, việc gì cũng nay lần mai lữa.
[53] Loại binh bộ phóng lao trong quân Thổ hồi đó.
[54] Ngày nay là một công viên ở khu 1, Buđapest, dưới chân thành Buđo, rộng hơn 1km2. Tại đây năm 1795 bọn thống trị đã xử tử những người lãnh đạo phái Giacôbanh (dân chủ tư sản) ở Hung. Từ đó, bất chấp sự cấm đoán của chính quyền trung ương và tòa thị chính Buđapest, nhân dân đã gọi mảnh đất đó bằng cái tên “Đồng máu”.
[55] Pháo binh trong quân đội Thổ hồi đó.
[56] Ala chí cao.
[57] Một loại bộ binh Thổ.
[58] Một loại lính tình nguyện trong quân đội Thổ.
[59] Một loại lính đánh thuê trong quân đội Thổ.
[60] Đại bác phá tường thành.
[61] Bọn quan giám trận, bày trận.
[62] Thành phố ở phía tây nước Hung, cách Eghe hơn 200 km.
[63] Đây là kiểu cổng thành đồng thời cũng là cầu treo có hai xích sắt hai bên, khi hạ xuống thì thành cầu bắc qua hào, khi kéo lên thì đóng luôn cổng.
[64] Imre là tên, Vosanhi là họ.
[65] Một loại súng phun lửa (VHP)
[66] Eghe thuộc tỉnh Hevét.
[67] Lính bộ bắn súng kíp của Thổ.
[68] Ala chí cao! Vì Ala! Chúng mày ơi! Hura! Nào, dô ta.
[69] Bọn giám trận, phụ trách việc dàn quân, thúc quân lính trong chiến đấu.
[70] Cách gọi thân mật của tên Mihai.