Viên đại úy thành Xorơvotkơ đứng tối ngày trong tháp cao lắng nghe tiếng đại bác gầm từ Eghe vọng đến.
Ở Xorơvotkơ nắng thu rất đẹp. Lá rừng mới bắt đầu ngả vàng từ vài hôm nay, và vì ngày nào trời cũng mưa nhưng đêm nay trời cũng quang tạnh, nên gốc cây và ven suối lại xanh non mơn mởn. Cứ như không phải tiết thu mà đang mùa xuân.
Xorơvotkơ cách Eghe cũng bằng từ Isosơxee đến Gơđơnlơ hoặc từ Siôphôôc thẳng đường thủy qua Phuyrét[71]. Chỉ có cái là nó nằm giữa các dãy núi; núi tiếp núi từ Phennêmét đến Gơmơ, chỉ có một con đường hẻm, hẹp và ngoằn ngoèo dẫn vào đó.
Sáng sáng khi đại bác lên tiếng, mây tụ lại nhiều tối sầm cả bầu trời, và không đầy một giờ sau mưa đã rơi. Đôi khi có cả mưa bẩn. Gió đưa khói đến lẫn trong mây và đôi khi mưa tưới bẩn các bức tường và sân thành Xorơvotkơ, những quả núi đá, những bông hồng mùa thu của ngài đại úy, cứ như người ta giội nước rửa ống khói ở thượng giới xuống vậy.
Xorơvotkơ là một tòa thành nhỏ cũng như Đơrêgei, xây trên một quả núi đá cao. Đối với người trông thấy lần đầu tiên, nó giống như một tòa thành được đẽo ra từ đỉnh nhọn quả núi. Chả là vì nó nhỏ quá. Trong thành vẻn vẹn có ba ngôi nhà, cái sân của nó chỉ vừa đủ cho một cỗ xe quay đầu. Bảo nó là một biệt thự đi săn có lẽ đúng hơn. Chỉ có thể dùng nó làm trốn dung thân trong cái thời người ta còn chưa biết đến đại bác. Còn ở cái thời xảy ra câu chuyện của chúng ta đây cùng lắm nó chỉ có thể dùng làm chỗ nghỉ chân cho những đội quân kéo đến Eghe hoặc làm một trạm chuyển thư tín mỗi khi Eghe bị vây hãm.
Nếu Eghe thất thủ, ngài Xonkoi Botajơ có thể lên ngựa cùng bốn mươi chín tên lính của ngài mà đi lên các tỉnh miền bắc, đến chỗ họ hàng của ngài - nếu quả ngài không muốn làm như Xônđi cáu tiết hoặc như Nhari Lơrinxơ, viên đại úy thành Xônnôc, hôm mồng bốn tháng này đã một mình đứng giữa cổng thành cự địch với cả trăm ngàn tên Thổ.
Ngài Xonkoi Bolajơ đứng trong tháp cao của thành với cái áo khoác mùa thu có cổ, màu nâu sẫm, dài bén gót khoác trên vai, với cái mũ lông cáo trên đầu. Ông lo lắng đưa cặp mắt xanh ươn ướt đăm đăm nhìn ngọn núi cao đã ngăn không cho ông nhìn thấu tới Eghe. Không thể thấy Eghe thì ông nhìn ngọn núi. Mà giả dụ có nhìn về hướng khác chăng nữa ông cũng chỉ thấy núi mà thôi, bởi vì những quả núi đứng gần đến nỗi với một khẩu súng tốt ông có thể bắn trúng một con nai gặm cỏ ở bất cứ sườn núi nào.
Dưới chân thành có một vài túp nhà nhỏ và con suối Eghe. Con đường xa lộ rải đá chạy dọc ven suối.
Thế là ngài Xonkoi đứng trong tháp cao của thành mà nhìn cái hư không.
Yên lặng bao trùm quanh ông. Chả trách ông Bolajơ nhà ta suýt ngã ngửa khi người lính gác đứng sau lưng ông ta đột nhiên rúc một tiếng tù và.
- Có người đến. - Người lính gác nói để thanh minh khi anh ta thấy chủ tướng giật mình vì tiếng tù và bất ngờ, giơ tay lên định tát.
- Đồ bò! – Bolajơ quát anh ta – Tao đã ở ngay đây rồi, mày còn rúc điếc tai tao làm gì nữa!
Ông nhìn xuống con đường hẻm lượn quanh co theo triền núi, quả nhiên ông trông thấy hai kỵ sĩ. Họ có vẻ quý tộc. Người nhỏ hơn có lẽ là võ đồng. Có lẽ họ từ xa đến, bởi sau lưng họ yên ngựa chất đầy bọc to. Vai họ đeo súng ngắn nòng. Cả hai đều mặc áo khoác dài chấm bàn đạp.
- Những người này không phải từ Eghe đến. – Xonkoi suy nghĩ và buột thành tiếng.
- Có lẽ là Vosơ Mikơlốt. - Người gác tháp canh nói.
Anh ta định lợi dụng lời nói của chủ tướng để làm quên sự ngu ngốc ban nãy của mình. Nhưng anh ta gặp ngày rủi: sự bực tức lại khiến Bolajơ nổi xung:
- Đồ bò đực, Vosơ Mikơlốt đã làm sao mà đến được! Hả, đồ bê con! Mày tưởng Viên cũng gần như làng Opát đấy hẳn!
Từ khi giặc Thổ đánh phá Eghe, con người tốt bụng này lúc nào cũng dễ cáu bẳn. Thêm nữa, giờ đây ông đang lấy làm xấu hổ trước mặt người lính của mình vì đã giật thót người – khi nghe tiếng tù và, cho nên suýt nữa ông nuốt chửng anh ta.
Người lính gác ngượng đỏ mặt. Anh không dám nói thêm gì nữa. Ông Bolajơ nhà ta cầm lấy dốc gươm đi xuống cầu thanh vòng để xem thử ai đến, bởi đã hai ngày nay chỉ toàn người từ đây ra đi, còn đến thì không một ai cả.
Một chàng trai rất trẻ, da mặt trắng xanh, có cái nhìn gan góc đứng ở sân thành. Chàng ta không có ria cũng chẳng có râu. Đứng sau chàng, một thiếu niên có vẻ võ đồng giữ cương hai con ngựa. Khi thấy chủ nhà, chàng trai đi đến trước mặt ông, bỏ mũ ra với một động tác vung tay rất rộng, nghiêng mình chào.
- Tôi là em của Bônemixo, thượng úy ở Eghe. Tên tôi là Gianốt. Cậu thiếu niên đây là học sinh Rêzo Mikơlốt. Anh cậu ta cũng đang ở trong thành Eghe.
Xonkoi đưa tay ra bắt tay Bônemixo Gianốt nhưng không bắt tay người kia. Con mắt lão luyện của ông nhận ra ngay người đó không phải là quý tộc.
- Chào cậu. – Ông nói. – Ta không quen anh cậu, nhưng nếu cậu gặp anh ta, ta xin gửi lời chào. Cậu là khách quý của ta.
Và bằng một cử chỉ ân cần, ông chỉ tay về phía cửa.
- Xin cảm ơn ngài, - Chàng trai đáp - Tôi không đến đây để làm khách, mà chỉ để hỏi một vài câu thôi. Tôi muốn được biết ngài có tin gì về Eghe không?
Xonkoi nhún vai và chỉ về phía Eghe.
- Cậu cũng có thể nghe đấy!
- Vâng, tôi nghe hai bên đối pháo.
- Đã mười chín hôm nay rồi.
- Thành kiên cố lắm nhỉ?
Xonkoi lại nhún vai:
- Quân Thổ cũng mạnh.
- Có đủ lính không?
- Hôm mồng mười họ có cả thảy một nghìn chín trăm ba mươi lăm người. Từ đó tới giờ chúng nó liên tục bắn phá họ.
- Nhà vua không gửi viện binh đến ư?
- Cho đến nay thì không.
- Đức giám mục?
- Cũng không.
- Nhưng họ vẫn chờ chứ?
- Chờ thì họ vẫn chờ. Nhưng ta đừng nói chuyện nhiều thế nữa cậu em ạ. Vào đây nghỉ cho hết mệt đi đã. Nhìn ngựa của cậu, ta biết cậu đã khởi hành từ sáng sớm.
Bolajơ đã lộ rõ vẻ không thích thú gì cái việc đứng ngoài sân mà nghe những câu hỏi dồn dập của người mới đến. Từ nãy ông đã muốn đến ngồi bên bàn lắm rồi, chỉ có tiếng vang âm của trận công thành giữ ông lại trên tháp canh mà thôi. Trời đã trưa mà ông thì chưa ăn sáng.
- Thưa ngài, - người khách nói khi vào đến cửa - cậu thiếu niên đi theo tôi là một sinh viên khoa thần học.
- Sinh viên à? Vậy thì… Này, cậu sinh viên! – Ông ta gọi, vẻ trịch thượng.
Ông chỉ phòng cho khách rồi mời khách rửa bằng nước thơm (Vosanhi mang từ trại quân Thổ đến cho ông một ít dầu hoa hồng. Ông muốn khoe khoang đôi chút).
Khi hai người khách bước vào phòng ăn, bàn đã dọn xong, một con thỏ rán đang bốc hơi thơm phức trên bàn.
- Lại thỏ à? – Bolajơ quắc mắt hỏi mụ hầu bếp.
Thấy hai chàng trai bước vào, ông phân trần:
- Chúng tôi bây giờ toàn sống bằng thịt thỏ. Tất cả thỏ ở Eghe đều chạy tạt sang bên này để tránh tiếng động.
Gianốt sau khi đã cởi bỏ áo khoác, đến phòng ăn trong cái áo lụa Đamát màu anh đào bó sát người. Người sinh viên chỉ mặc cái áo sợi đay. Ngang lưng cả hai người đều có thắt lưng da cùng một kiểu, bên thắt lưng là thanh gươm kiểu Hung.
Trên bàn không có thực cụ gì khác ngoài cái thìa. Thời bấy giờ mỗi người đều cắt lấy thức ăn bằng dao riêng của mình. Cái dĩa chỉ dùng trong nhà bếp.
Hai người khách đều thò tay vào thắt lưng, chỗ đeo con dao con. Con dao của chàng trai nhiều tuổi hơn mạ vàng, có cán nạm ngọc trai. Của người sinh viên chỉ là một con dao thường cán gỗ làm ở Pheiê.
- Tôi thích thịt thỏ. – Bônemixo Gianốt đáp – Và món này làm tuyệt lắm. Ở chỗ chúng tôi người ta nấu cách khác. Thưa đại úy, chẳng hiểu ngài có biết gì về ông anh tôi không?
- Nấu cách khác à? – Xontoi hỏi.
Ông quan tâm đến khoản thịt thỏ nhiều hơn.
- Vâng, khác. – Bônemixo Gianốt trả lời - Ở chỗ chúng tôi người ta rửa con thỏ bằng rượu vang, sau đó bắc lên bếp với một tí nước thôi. Người ta bỏ cả một lát bánh mì vào trong bụng nó và nấu chín. Nhưng phải chú ý cho nước đừng sủi lên. Khi nước đã sôi, người ta bắc xuống, lấy thịt ra và lọc nước luộc. Sau đó cho đinh hương, hồ tiêu, nghệ và gừng vào. Nhưng liệu nội nhật ngày hôm nay chúng ta có thể biết được chuyện gì xảy ra trong thành không nhỉ? Có thể anh tôi đã hy sinh rồi sao?
Và mắt chàng trai rưng rưng lệ.
- Thế người ta không cho dấm vào ư? – Xonkoi lại hỏi tiếp mà không hề ngửng nhìn lên.
- Sao lại không, nhưng chỉ đến cuối cùng, khi lại cho thỏ vào nước luộc lần thứ hai. Ngay ngày hôm nay chúng tôi phải vào Eghe.
Xonkoi mút hết cái xương đùi thỏ rồi chạm cốc với hai người khách. Họ không uống rượu vang.
- Hừm. – Xonkoi lên tiếng.
Ông lấy khăn lau ria mép rồi nhìn họ và lại thốt ra.
- Hừm.
Ông im lặng một lát. Sau đó ông chợt chống khuỷu tay lên bàn và cất tiếng hỏi:
- Vào thành Eghe à?
- Vâng, vâng. – Bônemixo Gianốt tái mặt trả lời. – Ngay tối hôm nay.
- Hừm. Tôi muốn được biết các vị định vào bằng cách nào? Như chim chăng? Hay như những hồn ma chui qua lỗ khóa?
- Như chuột chũi ấy, ông anh thân mến ạ.
- Chuột chũi?
- Tòa thành còn có cả những đường ngầm nữa.
- Những đường ngầm? – Xonkoi hỏi và lắc đầu.
Bônemixo Gianốt thò tay vào ngực lấy ra một tờ giấy đặt xuống trước mặt Xonkoi.
- Đây: những nét màu đỏ này.
- Tôi biết rồi. – Xonkoi trề môi nhìn bản vẽ - Những đường hầm ấy tuy có thật đấy, nhưng ở đằng kia thì không có nữa đâu. Người ta đã bắn sập tất cả từ thời Perênhi rồi kia.
- Người ta đã bắn sập?
- Sập chứ. Khi Perênhi cắt đôi nhà thờ của Thánh vương Isơlơvan, người ta đã phát hiện ra những đường ngầm và người ta đã bắn đại bác vào tất cả những con đường ấy. Tất cả đều đã đổ sập. Không phải người Hung đào những con đường ấy. Người Hung không nghĩ đến chuyện tháo chạy khi xây thành.
- Chắc chắn như vậy chứ? – Bônemixo Gianốt hỏi.
- Chắc chắn như việc chúng ta đang ngồi ở đây vậy.
- Nhưng đã thật hoàn toàn chắc chắn đâu? Ngài làm sao mà biết được điều đó chắc chắn đến như thế?
Xonkoi nhún vai:
- Các tin sứ của Đôbô thường đến chỗ tôi. Họ đi đi về về qua doanh trại Thổ. Mấy hôm trước chúng nó đã đâm chết một người trong bọn họ. Nếu như có, dù chỉ một con đường, cậu nghĩ họ lại không ra vào theo lối đó sao?
Chàng Bônemixô trẻ tuổi yên lặng ngẫm nghĩ. Cuối cùng chàng ngửng đầu lên.
- Thế tin sứ khi nào ra đây, hoặc khi nào sẽ vào?
- Hiện giờ có hai người đang ở ngoài! Một người là Vosơ Mikơlốt, người kia là Xobô Imre. Đôbô phái họ đến Viên, chỗ nhà Vua.
- Bao giờ họ trở lại? Khi nào họ đi vào thành?
- Vosơ Mikơlốt có lẽ một tuần nữa. Xobô có lẽ hai tuần nữa. Tuần nào cũng có một tin sứ từ đây ra đi.
Lệ nhòa mi mắt người hỏi tin. Chàng ta tái mặt nhìn ra phía trước với đôi mắt đẫm lệ.
Xonkoi dốc cạn cốc rượu. Ông lại hừm một tiếng rồi ngả người ra đằng sau trong chiếc ghế bành và vừa liếc nhìn qua đuôi mắt vừa nhẹ nhàng nói:
- Cậu Bônemixo Gianốt, cậu hãy nghe đây! Cậu không phải là Gianốt cũng như thể tôi không phải là Abraham[72]. Và cậu không phải là em của Bônemixơ cũng như thể tôi không phải là giám mục Eghe vậy. Cô là phụ nữ, cô em ạ, dù cho cô có mặc áo đôn- man gi đi nữa, cô cũng không thể đánh lừa nổi con mắt của tôi.
Người khách vội đứng dậy đáp:
- Ngài Xonkoi, xin ngài thứ lỗi. Không phải tôi giấu ngài là để đánh lừa ngài đâu, mà để ngài đừng cản đường tôi. Tôi là vợ Bônemixo Gergey.
Xonkoi đứng dậy, nghiêng mình đáp lễ:
- Tôi xin sẵn sàng giúp đỡ phu nhân.
- Cám ơn ngài. Vậy bây giờ tôi sẽ nói vì sao tôi đến đây. Chồng tôi có một cái bùa hộ mệnh Thổ Nhĩ Kỳ. Cái tên vốn là chủ cái bùa đó đã bắt mất con trai của chúng tôi và đem đến Eghe đây. Hắn tưởng rằng cái bùa hộ mệnh đó ở chỗ chồng tôi. Ngài xem, nó đây.
Người thiếu phụ thò tay vào ngực lấy ra một cái nhẫn Thổ tuyệt xảo treo đầu một sợi dây.
Xonkoi chăm chú nhìn cái nhẫn.
Người thiếu phụ nói tiếp:
- Tôi đã sai quân lính ở Sôpơrôn tìm kiếm tên Thổ đó một thời gian, nhưng vì họ không tìm thấy hắn nên tôi phải đuổi theo hắn tới đây. Người Thổ mê tín lắm. Cái bùa hộ mệnh này là tất cả đối với hắn. Nếu có thể, hắn sẽ giết chồng tôi. Nếu không thể, hắn sẽ giết con trai tôi. Nếu như cái nhẫn ở chỗ chồng tôi thì có lẽ họ còn có thể nói chuyện với nhau được, chồng tôi sẽ trả lại cái nhẫn, hắn sẽ trả lại đứa bé.
Xonkoi lắc đầu:
- Phu nhân thân mến ạ, những người ở Eghe đã thề không lời qua tiếng lại với bọn Thổ, không phân bua một lời bắn tin nào chúng. Kẻ nào trò chuyện, nhắn nhe với bọn Thổ thì dù là quan hay lính đều sẽ bị tử hình.
Ông già vừa gãi gáy vừa tiếp:
- Giá phu nhân đến đây hôm qua thì hay biết mấy. Nhưng ai biết họ có lọt được vào không?
Viên đại uý nghĩ đến Nogiơ Lukát.
- Bây giờ thì đằng nào cũng thế. – Người thiếu phụ đáp. – Ngay hôm nay tôi phải vào thành! Tôi chưa thề là sẽ không nói chuyện với quân Thổ.
- Nhưng phu nhân nghĩ thế nào chứ? Hẳn là hai người không định mở đường máu qua trại quân Thổ?
- Chúng tôi sẽ cải trang mà đi.
- Nếu cải trang, quân trong thành sẽ bắn chết các bạn.
- Chúng tôi sẽ gọi lên.
- Thế thì các bạn sẽ rơi vào tay quân Thổ ở ngoài thành. Các cổng thành đều đã lấp kín. Có thể hôm nay người ta đã xây bít lại rồi cũng nên.
- Vậy tin sứ của Đôbô năm hôm nữa làm sao mà vào được?
- Rất nguy hiểm. Vả lại anh ta biết chắc trong thành chờ anh ta ở cổng vào. Anh ta có còi, có khẩu lệnh. Anh ta biết tiếng Thổ. Các bạn phải chờ anh ta, nếu quả các bạn muốn lao vào nguy hiểm bằng bất cứ giá nào.
- Thế nếu tôi đội khăn trắng mà đi? Nếu tôi nói với chúng rằng tôi muốn tìm một võ quan tên là Yumusac?
- Phu nhân đẹp và trẻ. Nếu như chúng nó coi phu nhân là nam giới đi nữa thì phu nhân vẫn có giá trị đối với chúng như nữ giới vậy. Tên lính đầu tiên bắt được phu nhân sẽ trói phu nhân vào trong lều của nó.
- Nhưng nếu tôi viện đến một tên võ quan.
- Ở đó có hai trăm nghìn người. Chúng nó không biết hết tên các sĩ quan. Chúng nó lại không cùng một tiếng nói Ba Tư, Ả rập, Ai Cập, Cuốcđơ, Tácta, Xechi, Antani, Hôrơvát, Hy Lạp, Ácmêni – hàng trăm giống người pha tạp. Tên các võ quan của chúng cũng chỉ bọn trong cùng binh đoàn mới biết. Cái thứ tên ấy cũng không phải tên thật của các võ quan, mà tự chúng đặt ra. Giả dụ một tên võ quan có mũi to thì bất kể tên hắn là Amét hay Hoxan, giữa chúng nó với nhau chúng chỉ gọi là Mũi to hay Voi mà thôi. Nếu một tên tóc đỏ, tên hắn sẽ là Sóc hoặc Đồng điên. Nếu người gầy và chân dài, chúng nó sẽ gọi là Cò hương. Và bao nhiêu tên khác nữa đại loại như thế. Ở đó tên gọi của tất cả bọn chúng là cái tên có thể giúp chúng dễ nhận ra hình dạng nhất.
Người thiếu phụ thất vọng cúi đầu xuống:
- Vậy ông bày cho tôi một kế gì đi.
- Lời khuyên của tôi là chúng ta hãy chờ một người tin sứ đi vào. Dù đó là Vosơ Mikơlốt hoặc một người nào khác, phu nhân hãy đưa cái nhẫn cho anh ta, anh ta sẽ mang nó vào. Lúc đó ngài Bônemixo Gergey tự khắc sẽ tìm ra cách nói chuyện với tên Thổ.
Đó quả là một lời khuyên thông thái. Nhưng hỡi ôi, trái tim đang giãy giụa của người mẹ không biết đến chữ gượm. Nó chỉ thấy cái chết đang lơ lửng trên đầu những người thân yêu. Phải giơ mộc ra chặn cái chết đó càng sớm chừng nào càng tốt chừng nấy!
Êvo mở bản đồ thành Eghe ra, đắm mình rất lâu vào việc xem xét. Sau đó nàng ngửng đầu lê nói:
- Nếu người ta xây dựng cái thành này trước khi dân Hung di cư vào, những người thời nay không thể nào còn biết được có gì bên dưới nó. Đây, cái nhà thờ ở đây, từ đây ba đường hầm tỏa đi ba nơi. Quả có thể người ta đã bắn sập những đường hầm này. Nhưng đường hầm thứ tư ở đây, nó đi xuyên qua dưới soái phủ ngày nay và ở xa ba đường hầm kia. Người ta không thể tìm ra được đường hầm này khi xây pháo đài Sanđô. Có thể họ biết đến nó, mà cũng có thể không. Cửa vào của đường hầm này ở đâu, hở Mikơlôt?
Nàng đẩy mảnh giấy đến trước mặt cậu thiếu niên.
- Ở chỗ mấy cái lò gạch. – Người thiếu niên nói sau một phút xem xét.
- Ở đó có lò gạch không? – Người thiếu phụ hỏi Xonkoi.
- Có. – Xonkoi trả lời - ở mạn đông bắc thành.
Người thiếu niên đọc dòng chữ nhỏ li ti như hạt vừng:
- Lò gạch ở đông bắc. Tảng đá tròn và dẹt, cách cây hồ đào mười bước về phía nam. Đó là cửa vào.
- Ở đó có cây hồ đào à? – Người thiếu phụ lại hỏi.
- Cái đó thì tôi không nhớ. – Xonkoi đáp – Cả đời tôi mới đến đấy có một lần, từ cái thời ông Perênhi cơ.
- Cái lò gạch có xa thành không?
- Không xa đâu. Có lẽ độ mười lăm phút đường đất.
- Thế thì ở đó cũng có quân Thổ.
- Có hẳn đi chứ lị. Nếu không có quân chính ngũ thì cũng là dân đi theo đoàn quân: nông dân và những loại người khác tương tự.
- Ngài có thể cho chúng tôi vào bộ quần áo Thổ được không?
- Được.
- Có cả áo khoác đeli[73] nữa chứ?
- Có, nhưng chỉ mỗi một cái thôi. Mà nó cũng bị xẻ đôi suốt từ trên xuống dưới.
- Tôi sẽ khâu lại. – Người thiếu phụ nói – tôi đã có lần đi xa mặc giả làm đêli. Không ngờ việc đó lại có ngày giúp ích cho tôi.
Nàng tì trán vào lòng bàn tay, suy nghĩ. Bỗng nàng giãy nảy lên:
- Không, tôi không thể chờ đến khi khâu xong áo khoác được. Mà như thế này còn tốt hơn. Xin cảm ơn sự tiếp đãi ân cần của ngài.
Nàng chìa tay ra cho viên đại uý.
- Nhưng có điều phu nhân không…
- Chúng tôi khởi hành ngay bây giờ.
Viên đại uý đứng dậy chắn lấy cửa.
- Tôi không thể để cho phu nhân đi được! Vào chốn hiểm nghèo một cách mù quáng như thế này. Nếu vậy suốt đời tôi sẽ lên án bản thân mình vì phu nhân.
Êvo rơi phịch xuống ghế.
- Ngài nói đúng. – Nàng thở dài nói – Chúng tôi phải đi bằng cách khác. Cần phải nghĩ ra cách gì đó để chúng khỏi bắt.
- Chính thế. – Ông Bolajơ đáp lại và cũng ngồi xuống – Nếu có một khả năng hé ra dù chỉ bằng một sợi tóc, tôi lập tức xin để phu nhân đi.
2
Về phía đông bắc thành Eghe có một khoảng núi cao gọi là Eghét. Chính ra tên thật của nó đáng lẽ là núi Thành Eghit hoặc thành Eghét, nhưng bởi dạ dày Hung không bao giờ tiêu nổi cái tên Eghét, nên đến nay tên của quả núi đó vẫn chỉ là Eghét. Nó cách xa thành Eghe cũng bằng từ núi Thành Genlê đến Kơbanho[74]. Nhưng nó cao hơn và đồ sộ hơn rất nhiều.
Nếu một người có cánh tay thật khoẻ đứng trên thành Eghe bắn một phát tên có đuôi bằng lông ngỗng về phía quả núi đó, mũi tên sẽ bay qua quả đồi, nơi một dàn đại bác Thổ đang gầm ghè, và sẽ rơi vào một thung lũng, nơi đám dân ô hợp ở. Cái thung lũng ấy giờ đây là của bọn con buôn, lái ngựa, thợ cạo, đạo sĩ, lang băm, thợ mài, bọn bán bánh kẹo và nước hoa quả, bọn làm xiếc, bọn buôn nô lệ, hàng tầm tầm, dân xigan và những loại người tương tự. Từ đó, hàng ngày chúng đi vào trại quân mua bán, đổi chác, rinh đồ rơi vãi, tiêu khiển bọn lính, chữa bệnh, ăn cắp, lừa đảo, tóm lại: đến sống giữa bọn lính.
Ngày mồng hai tháng mười, ba ngày sau cuộc công kích vào dịp lễ Thánh Mihai, một chàng đeli trẻ tuổi từ cánh rừng Rokanhi đi tới chỗ đó. Chàng ngồi trên ngựa, mình mặc quần đi ngựa hẹp ống, chân dận ủng màu vàng, khoác áo choàng lông lạc đà. Chàng không đội tuyban mà chụp cái mũ may liền vào áo choàng lên đầu theo tập quán những người đeli. Gươm cong giắt quanh người, vai đeo cung và ống tên. Chàng lùa một thiếu niên Hung bị xiềng chân đi trước. Người thiếu niên lại lùa một con bò đực. Có thể thấy ngay người thiếu niên và con bò là chiến lợi phẩm của chàng đeli.
Mạn đó có ruộng nho. Năm nay dân Hung không hái quả. Nhưng những ruộng nho đầy rẫy quân Thổ. Nhìn về bất cứ phía nào cũng thấy bọn Thổ đội tuyban hoặc mũ lông nhấp nhô giữa những ruộng nho.
Một vài tên gọi to lên với chàng đeli trẻ tuổi.
- Mày nhặt cái của chiến lợi phẩm tuyệt vời ấy ở đâu thế?
Nhưng chính lúc đó hai người kia lại lùa con bò đi được một cách bực tức nhất. Họ không đáp lại.
Chàng đeli: Eevo.
Người tù binh: Mikơlốt.
Ở mạn này không có lính gác hoặc nếu có chúng cũng sục sạo trong ruộng nho. Lính gác làm gì cơ chứ, khi ngoài này không có địch? Phu nhân Bônemixo đến thung lũng có lò gạch mà không bị chặn hỏi gì cả, nơi đây những lều vải bẩn thỉu và lịch sự xen lẫn với nhau, chó và bọn gái giang hồ xigan đông đúc, ầm ỹ quanh họ. Rồi bọn con buôn chen qua những người khác đến chỗ họ:
- Mày bán thằng con trai bao nhiêu nào?
- Tao trả giá nó năm mươi piaxte.
- Tao trả giá nó sáu mươi gurut.
- Tao trả bảy mươi.
- Tao trả con bò đực hai mươi piaxte.
- Tao trả ba chục.
- Bốn chục đấy.
Chàng đeli không thèm nói gì với bọn chúng. Cây giáo trong tay chàng lúc thì giơ ra để giữa con bò, lúc thì giữ người tù binh. Ngọn roi trong tay người tù binh quất đen đét.
Từ sườn núi trồng nho họ rẽ xuống lò gạch. Ở đây bộ mặt thế giới lại càng hỗn tạp hơn. Dân xigan lấy gạch xây nên những túp nhà thấp lè tè, phủ bằng bồi hoặc bằng vải bạt thay cho mái ngói. Trong những lò gạch cũng có một vài gia đình xigan ở. Chúng đang nấu nướng hoặc nằm dài dưới ánh nắng mùa thu.
Cây hồ đào cổ thụ vẫn còn đứng đó và còn sống. Một tên lái ngựa nào đó đã đến ở dưới gốc cây. Êvo chỉ nhìn vào cái chỗ cách cây mười bước về phía nam. Đó là chỗ đứng của đàn ngựa. Cạnh đó là cái lều bốn cọc của tên lái, trước lều có viết một câu bằng chữ Thổ trích từ kinh Côran:
Pancori Phacohiri. (Cảnh nghèo túng là niềm kiêu hãnh của tôi)
Dân lái buôn Thổ không bao giờ viết tên mình lên cửa hiệu mà chỉ viết một vài chữ lấy từ kinh Côran.
Êvo đã trông thấy hòn đá. Xưa kia nó đã từng là thớt cối xay. Nó nằm đây có lẽ đã lâu lắm. Nó đã lún xuống đất đến nỗi chỉ còn một nửa tai nhô lên. Ở chính giữa cỏ đã mọc cao, rêu và chua me đã phủ kín mình nó.
Êvo lùa con bò đực và người tù binh của mình vào giữa đàn ngựa. Nàng cắm ngọn giáo vào cái lỗ ở giữa thớt cối xay đá. Tên lái buôn nghiêng mình bước ra.
- Mày bán thằng nô lệ bao nhiêu? – Hắn vừa hỏi vừa vuốt râu cằm.
Êvo giả vờ đóng vai người câm. Nàng chỉ vào môi mình rồi lắc đầu.
Linh cảm không phải là của hiếm. Nếu gặp một người nào đã vừa câm, lại vừa không có râu ria gì cả, người Thổ lập tức hiểu ngay kẻ đứng trước mặt hẳn là một tạo vật mà khi không làm đeli thì nghề kiếm cơm là cách sống bằng những thứ không phải của mình.
Tên Hy Lạp liền nói:
- Otudơ gurút (Ba mươi piaxte).
Êvo ra hiệu chỉ bán con bò đực thôi.
Tên Hy Lạp nhìn kỹ con bò cả đằng trước lẫn đằng sau. Hắn đánh giá bằng một động tác nâng yếm con bò lên rồi mặc cả một giá mới:
- Jirơmi gerút (Hai chục piaxte).
Êvo lắc đầu.
Tên lái mặc cả ba chục rồi ba mươi lăm đồng.
Trong lúc đó Êvo đã ngồi xuống phiến đá và đau đớn nắn bóp bắp chân. Nàng đã buộc thịt sống vào quanh bắp chân. Nước thịt sống đã ngấm qua làn da xanh.
Khi tên Hy Lạp đã mặc cả đến ba mươi lăm đồng, Êvo ra hiệu bằng mũi giáo để tỏ rằng nàng cần một cái lều ở ngay chỗ đó.
Tên Hy Lạp thấy chàng đeli bị thương, người xanh nhợt và mệt mỏi gần ngất đi được. Hắn hiểu chàng đeli muốn nghỉ ngơi cho qua cái phần thời gian còn lại của cuộc vây thành. Hắn sai người hầu mang ra ba bốn cái lều vải rách, vá chằng chịt.
- Chọn đi.
Êvo chọn lấy cái lều to nhất, đó là cái vá nhiều chỗ nhất, rồi chỉ con bò ra hiệu có thể dắt đi. Tên lái chê con bò còn ít.
Êvo cho thêm tên lái cả con ngựa nhưng ra hiệu cho hắn hiểu rằng nàng muốn nhận cái lều sau khi đã được dựng.
Tên lái ưng thuận. Hắn sai hai tên hần da đen căng lều phía trong chỗ Êvo ngồi.
Việc đó thế là trôi chảy trót lọt.
- Trời đã giúp chúng ta! – Êvo thầm thì nói, khi cùng Mikơlốt còn lại một mình trong lều.
Bây giờ chỉ còn một vấn đề: làm thế nào và bao giờ họ có thể nhấc phiến đá lên? Họ chỉ cần kiếm lấy một cái cọc nữa mà thôi. Họ sẽ cắm nó vào lỗ ở giữa thót cối xay đá mà bẩy nó lên.
Kiếm một cái cọc cũng chẳng đến nỗi khó khăn gì lắm. Họ chỉ cần lấy một cái cọc chỗ quây ngựa. Họ làm việc đó vào ban đêm.
Đại bác nổ liên hồi kỳ trận bên kia đồi và những khẩu tu pháo cổ nhỏ hơn từ trong thành cũng vang tiếng. Đôi khi mùi thuốc súng hôi nồng thoảng cả đến đây. Giữa những tán lá, họ trông thấy cả một ngọn tháp của thành. Nó đã bị hủy hoại như một cây nến bị chuột gặm, tuy vậy họ vẫn vui mừng nhìn nó. Ngọn tháp đó chỉ cái chỗ mà ngay trong đêm nay họ sẽ đi đến.
Mọi người tứ chiếng trăm loài đó ầm ĩ suốt cả ngày xung quanh họ, đôi khi lính cũng xuất hiện ở đó. Phần lớn chúng đến mua ngựa hoặc tìm người bán thuốc dấu. Những thứ bùa, khánh của dân xigan cũng bán được rất chạy. Chúng chẳng tin tưởng gì lắm, tuy vậy vẫn cứ mua. Một tên axap người lông lá, đeo bùa khánh đầy trên ngực như một vòng hoa.
Eevo nằm duỗi thẳng trên cái áo choàng.
- Cậu nghĩ thế nào Mikơlốt, tôi không thể tìm được con trai tôi hay sao? Tôi đã đến được chốn đây, vậy tôi cũng có thể vào đến cả trong kia nữa.
- Phu nhân đã lại nghĩ đến chuyện ấy rồi ư?
- Trong bộ y phục này không ai ngăn cản tôi đâu. Tôi có thể tìm, tôi có thể tìm thấy trong đạo quân này cũng được. Tôi sẽ đến trước mặt Yumusac và nói với hắn: nhẫn mày đây, trả lại con trai cho ta!
- Hắn sẽ lấy cái nhẫn mà không trả thằng bé lại!
- Ồ, con thú dữ nghịch thiên vô đạo!
- Mà nếu hắn không như vậy. Nhưng dù hắn có lương thiện đi nữa, sự thể sẽ ra sao nếu trong trại quân một võ quan nào đó sẽ ra mệnh lệnh cho phu nhân? Có thể có những đội quân mà lính đeli không được phép đi lẫn vào. Khu vực pháo chắc hẳn cũng là nơi cấm. Lập tức chúng nó sẽ nhận ra phu nhân là kẻ lạ trong trại quânn ày.
- Chúng nó sẽ bắt…
- Mà nếu chúng nó không bắt, Yumusac cũng không để phu nhân lọt khỏi tay nó.
Êvo thở dài. Nàng mở tay nải, lấy bánh mì và thịt gà nguội ra bày lên thớt cối xay.
- Ăn đi, Mikơlốt.
Cuối cùng, trời cũng tối. Đại bác ngừng nổ. Trong bóng tối chẳng bao lâu tất cả mọi người đều đi ngủ.
Êvo lấy từ trong tay nải ra một gỗ nến, rồi dùng đá lửa châm lên.
Khoảng nửa đêm Mikơlốt lẻn ra ngoài, vài phút sau trở về với một cái cọc to bằng bắp tay.
Họ cắm vào thớt cối xay, bẩy phiến đá đi chỗ khác. Dưới phiến đá không có gì khác ngoài nền đất sét ẩm đen đen với một vài con bọ đen.
Êvo lấy chân giậm vào chỗ đặt phiến đá. Cái giậm chân đó là câu hỏi đối với mặt đất: mi có rỗng hay không đấy?
Mặt đất trầm trầm đáp lại:
- Tôi rỗng đây.
Êvo lấy trong tay nải ra một cái xẻng. Nàng cắm vào cán dao và bắt đầu đào. Mikơlốt dùng tay cào đất.
Ở độ sâu hai gang tay, lưỡi xẻng chạm vào ván gỗ.
Đó là một tấm gỗ sồi dày và chắc, nhưng nay đã mục. Họ đào ra, nhấc nó lên. Dưới nó là cái miệng há hốc của một hầm đá tối om, rộng bằng chỗ thắt lưng người.
Họ phải đi xuống mười bậc thang. Ở đó hầm đá mở rộng dần, vách đá ghép như kiểu hầm rượu, có thể đứng thẳng người mà đi trong đó được.
Không khí nặng nề. Đường đi tối om om. Đây đó diêm tiêu điểm hoa trắng lên vách đá. Những viên đá phả ra hơi lạnh lẽo ẩm ướt.
Mikơlốt đi trước cầm nến. Đôi khi họ đi qua những vũng nước ngập đến mắt cá chân, đôi khi họ vấp phải những viên đá từ vòm hầm rơi xuống. Những lúc đó Mikơlốt dặn lại sau:
- Cẩn thận, có đá giữa đường.
Nền đất đôi khi vang âm dưới chân họ. Dưới đó chắc hẳn còn một đường hầm khác nữa. Giống người nào đã có thể xây dựng nên? Khi cái thành này được xây nên, loài người còn chưa viết sử. Ai biết được những giống người nào đã từng sống trên mảnh đất này trước chúng ta?
Mikơlốt lại nói ra phía sau:
- Cẩn thận đấy, phải khom lưng xuống!
Con đường còn đổ dốc một quãng dài, vòm trần mỗi lúc một thấp, sau đó con đường cao dần lên nhưng vòm trần thì không.
Mikơlốt đã đi bằng bốn tay chân. Êvo dừng lại, nàng bảo:
- Cậu cứ đi lên trước xem nào, Mikơlốt ạ. Nếu đường hầm bị tắc, ta phải trở lại lấy xẻng.
Mikơlốt tiếp tục bò. Ánh nến mỗi lúc một nhỏ, cuối cùng biến mất. Êvo còn lại một mình trong bóng tối. Nàng quỳ xuống và cầu nguyện:
- Ồ, lạy Chúa tôi… người cha của linh hồn phiêu bạt đáng thương của con! Người có thấy con ở đây trong hầm sâu mù mịt này chăng?... Chỉ còn vài bước chân ngăn cách con với Gergey của con mà thôi… Người đã xe chúng con lại với nhau để chúng con phải chia lìa nhau một cách bất hạnh như thế này chăng?... Con hướng mắt con, hướng trái tim run rẩy của con về phía Người. Lạy Chúa tôi, nơi đây, dưới gót chân thù địch, trong lòng đất sâu tăm tối, con xin Người hãy cho con đến được bên chàng!
Ánh sáng lại xuất hiện. Ngay sau đó Mikơlốt cũng hiện ra. Cậu ta bò sát bụng rồi dần dần lom khom bò ra từ bóng tối dày đặc.
- Đường hầm thắt lại độ vài chục bước, sau đó lại rộng ra trên một chiều dài mười bước. Đến đó đường chia hai ngả, nhưng cả hai đều đã bị sập.
- Cậu quay lại lấy xẻng đi, Mikơlốt. Chúng ta phải đào đến sáng. Nhưng mỗi giờ cậu lại phải ra trước lều một lát Mikơlốt ạ, để chúng nó khỏi nghi.
Chàng trai lặng lẽ vâng lời.
- Nếu tôi đến được chỗ chồng tôi, chúng tôi sẽ đền ơn tấm lòng tốt của cậu. – Êvo nói. – Đôbô yêu chồng tôi như em trai. Chồng tôi sẽ đưa cậu vào làm thư kí bên cạnh Đôbô.
- Tôi không nhận đâu. – Mikơlốt đáp. – Thằng bé lạc mất là do sự sơ xuất của tôi, tôi phải giúp phu nhân tìm cho ra. Hễ tìm được cháu, tôi sẽ cầm gậy viễn du và đi vào trường học.
Cậu Mikơlốt tốt bụng đáng thương ơi! Cậu sẽ chẳng bao giờ đến trường học nữa!
3
Cuộc công kích vào dịp lễ Thánh Mihai kéo dài đến trưa. Buổi chiều cả hai bên đều để cho đại bác nguội. Trong thành vang bài kinh circumdederun[75]. Xung quanh chân thang, các tuyên úy và đạo sĩ Hồi giáo thu nhặt xác chết và những thương binh không thể tự mình lên xe được nữa.
Mặt trong và mặt ngoài tường thành đều đọng máu đen ngòm. Trên các pháo đài và ở bốn chỗ đột phá khẩu, các bà phụ nữ rắc tro, rắc vôi bột lên các vũng máu. Người đao phủ trong thành vứt xác những tên ionisa bị tháp gác đổ đè chết xuống chân thành. Người ta đem những lá cờ của chúng vào phòng hiệp sĩ. Vũ khí của chúng người ta vứt cho binh lính: ai thích cái gì chọn cái ấy, không mất tiền. Trong quần áo, trong thắt lưng hoặc trong mũ tất cả mỗi tên ionisa, người ta đều tìm thấy tiền bạc, tiền đồng, đôi khi có cả tiền vàng nữa, không nhiều lắm. Người ta bỏ vào bị, niêm phong lại rồi cất vào cái hòm của thành, để sau cuộc vây hãm sẽ chia nhau.
Ngay sau bữa trưa, Đôbô phái những chiến sĩ còn xung trận ít thời gian nhất ra chữa tường thành. Trước hết họ dọn sạch đống đá của cái tháp đổ. Đến xẩm tối họ vẫn còn lôi từ trong đống đá ra xác những tên Thổ bị nén vào đó.
Cả bọn trẻ con cũng được Đôbô giao việc:
- Các cháu ơi, đi nhặt đạn đại bác vương vãi lại một chỗ đi. Viên nào to thì mang đến các khẩu pháo to, viên nào nhỏ thì mang đến các khẩu pháo nhỏ dưới chân các pháo đài ấy!
Đêm đó trung úy Heghétđuy ngủ ngoài pháo đài Sonđô cùng Gergey.
Trời đêm lành lạnh. Mảnh trăng hình lưỡi liềm rộng tỏa sáng trắng giữa ngàn sao. Gergey sai mang nóp rơm đến dưới một vòm cổng cho mình và hai bạn trung úy. Một đống lửa cháy trước vòm cổng.
Khi họ nằm xuống trong làn hơi ấm áp của đống lửa, Heghétđuy lên tiếng:
- Gergey, cậu là một nhà thông thái. Tớ cũng đã từng đi học nghề cha cố, nhưng rồi bị đuổi. Hôm nay tớ đã đánh ngã gục bốn chục tên Thổ bằng cánh tay này của tớ. Trong số đó có một tên hai lần xông vào đánh tớ. Vậy cậu không thể bảo là trong con người tớ không có lòng dũng cảm.
Gergey đã mệt lắm và buồn ngủ. Nhưng giọng nói của Heghétđuy run lên sao mà khác thường. Chàng bèn nhìn anh ta. Viên trung úy ngồi trên cái nóp rơm, ánh lửa soi sáng khuôn mặt và cái áo choàng xanh thẳm dài đến mắt cá của anh ta. Anh ta nói tiếp:
- Tuy vậy nhiều khi tớ vẫn ngẫm nghĩ, con người vẫn cứ là con người bất kể đầu hắn có cạo trọc hay không. Và như vậy chúng ta thực ra đang giết người.
- Thì đã hẳn… - Gergey ngái ngủ làu bàu.
- Và chúng nó cũng giết chúng ta.
- Tất nhiên là chúng nó giết. Nếu chúng nó trèo lên những tường thành không phải với vũ khí mà với bầu rượu, chúng ta cũng sẽ đón tiếp chúng bằng bầu rượu. Rượu vang sẽ chảy thay máu.
- Cái đó thật rõ ràng. – Heghetđuy đáp.
Anh ta nuốt nước bọt và quay nghiêng mặt nhìn vào đống lửa như một người lưỡng lự không biết nên nói hay đừng. Cuối cùng anh ta hỏi:
- Lòng dũng cảm là cái gì?
- Cậu vừa nói rằng cậu đã đánh ngã bốn chục tên Thổ. Thế mà cậu còn hỏi lòng dũng cảm là cái gì ư? Thôi nằm xuống, ngủ đi! Cậu cũng mệt rồi đấy!
Heghétđuy nhún vai:
- Nếu giữa chúng ta có một người thông minh mà trí tuệ bằng trí tuệ của tất cả bọn ta cộng lại, hoặc nói giả dụ bằng trí tuệ của tất cả mọi người trên thế gian này gộp lại, tớ tin rằng người ấy sẽ chẳng dũng cảm đâu.
Anh ta nhìn Gergey. Ánh lửa chiếu thẳng vào mặt Gergey, còn ở anh ta, lửa chỉ soi sáng đường viền quanh những cục xương lòi ra trên khuôn mặt.
Gergey nhắm mắt lại và ngái ngủ trả lời:
- Trái lại chính người đó mới sẽ là người dũng cảm nhất. Vì đâu cậu lại nghĩ rằng một người như thế sẽ không dũng cảm?
- Vì rằng người đó sẽ biết giá trị cuộc sống hơn. Đành rằng chúng ta đang ở đây trên đất này, điều đó chắc hẳn đi rồi, nhưng nếu quân Thổ lấy mất đầu của ta đi, không chắc chúng ta còn tiếp tục tồn tại nữa không… Cái gì hiện có, một người trí tuệ vĩ đại như thế sẽ không dễ dãi vứt đi chỉ vì mong muốn được thiên hạ khen: anh ta đã là một người trung trực!
Gergey ngáp rồi trả lời:
- Chỉ một đầu óc tầm thường mới khư khư tham sống. Nếu một người có đầu óc ngu dốt mà can đảm là vì không hiểu cái chết. Người có đầu óc mạnh mẽ sở dĩ can đảm vì anh ta hiểu rõ.
- Cái chết ấy à?
Gergey chống khuỷu tay nhỏm dậy:
- Chính thế. Kẻ có đầu óc ngu muội sống cuộc sống súc vật. Súc vật không hiểu biết cái chết. Cậu hãy xem con gà mái chẳng hạn: nó bảo vệ đàn gà con của nó quyết liệt biết chừng nào. Nhưng hễ con gà con quay lơ ra chết, nó sẽ bỏ đi không chút thương tiếc. Nếu nó hiểu cái chết như một người bình thường, có phải là nó đã tiếc thương khóc lóc rồi không? Vì như vậy nó sẽ biết con nó đã bị mất cuộc sống. Nhưng một kẻ đã không có khái niệm về cái chết, hẳn cũng chẳng thể có ý thức gì về cuộc sống. Và bây giờ ta hãy xem một người có đầu óc mạnh mẽ. Người đó sẽ can đảm chính vì cảm thấy rằng thể xác không phải là tất cả. Người đó cảm thấy ở mình tâm hồn nhiều hơn thể xác. Con người càng sống nhiều bằng tâm hồn bao nhiêu đối với anh ta thể xác càng ít giá trị bấy nhiêu. Những đấng anh hùng, những vĩ nhân trong lịch sử thế giới đều là những con người sống nhiều bằng tâm hồn. Tất cả. Nào, bây giờ chúng ta ngủ đi thôi.
Tuy vậy, để làm Heghétđuy yên tâm, chàng trầm ngâm nói tiếp:
- Chúng ta đã ở đâu trước khi bước vào cuộc sốn, chúng ta sẽ về đâu sau khi từ giã cuộc đời, điều đó trong cái vỏ bọc thế tục này chúng ta không biết. Nhưng giả sử chúng ta biết thì rồi sẽ ra sao? Nếu thế thì chúng ta sẽ không còn suy nghĩ về những sự việc hiện tại nữa mà cứ nghĩ người quen này người thân nọ đang làm gì ở thế giới bên kia, với lại công việc ở chỗ đó ra sao, những công việc mà chúng ta cũng đã từng tham dự, và nó sẽ tiếp tục như thế nào.
- Được rồi, được rồi. – Heghétđuy nói – tớ được nghe các giáo sĩ nói như thế cũng đã nhiều lần. Nhưng cuộc sống trần thế này chắc chắn có giá trị của nó, và không phải là để cho một tên vô đạo tứ chiếng nào đó có được mục tiêu mà chém.
Đống lửa cháy lép bép, mạ vàng những thanh gươm, những tấm giáp đặt cạnh cái nóp rơm. Cái gối của Gergey là một cái khiên da. Chàng lại nằm xuống và rất buồn ngủ đáp lại:
- Cậu Heghétđuy tốt bụng ơi, cậu nói toàn chuyện vớ vẩn. Con người, súc vật đôi khi mù quáng mà làm được việc tốt, người có tri thức luôn luôn biết chắc việc mình làm. Cậu cũng biết việc bảo vệ Tổ quốc là một sự nghiệp lớn và thiêng liêng cũng như khi đứa con bảo vệ bà mẹ đẻ ra nó.
Chàng kéo áo choàng che kín tai và tiếp:
- Ở đâu có ghi thành văn bản, trong bộ luật nào, rằng một người nào đó phải bảo vệ mẹ mình; nếu cần, bằng cả tính mệnh nữa? Con vật chắc chắn không bảo vệ mẹ nó. Nhưng con người, kẻ ngu ngốc nhất cũng như người thông thái nhất, lăn xả vào đứa đánh mẹ mình, và dù có chết anh ta cũng cảm thấy không thể nào hành động khác được.
Cái giọng ngái ngủ của chàng lại tiếp:
- Quy luật thiên đẳng đôi khi chi phối ý muốn của người ta. Tình yêu là một quy luật thiên đẳng. Tình yêu mẹ với tình yêu tổ quốc là một. Quân Thổ không thể giết nổi tâm hồn. Nhưng mà thôi, mặc kệ lão Pônxiux[76] của cậu, cậu cho phép tớ ngủ thôi! Cậu triết lý vào những lúc như thế này ư? Tớ lại choảng cái khiên tồi này vào người cậu bây giờ.
Heghétđuy không nói gì nữa. Anh ta cũng nằm dài trên nóp rơm. Trong thành không còn nghe tiếng gì khác ngoài tiếng bước chân đều đều của những người lính gác, với lại tiếng rì rầm khe khẽ của một cái cối xay và những bước chân lộp cộp của con ngựa kéo cối xay đó.
☆ ☆ ☆
* *
Sáng hôm sau đại bác không lên tiếng. Nhưng trại quân ồn ào nhao nhao đằng sau những ụ cản bằng đất của quân Thổ.
- Bọn Thổ lại viết thư rồi. – Đôbô nói.
Trong tay ông có một tờ giấy trắng. Ông ra lệnh thổi kèn tập hợp. Hai phút sau, những chiến sĩ đang phiên nghỉ đã tề tựu trong hàng ngũ chiến đấu.
Đôbô nói:
- Hỡi quân sĩ! Sở dĩ ta gọi các ngươi lại đây là cốt để ngợi khen các ngươi. Các ngươi đã dũng mãnh đánh lui đợt công kích đầu tiên vào thành một cách xứng đáng với danh dự người lính Hung. Ta không hề thấy một kẻ hèn nhát nào trong số các ngươi. Các ngươi thật xứng đáng với danh hiệu anh hùng! Sau khi quân Thổ cút khỏi nơi đây, ta sẽ đích thân đi tới chỗ hoàng thượng và ta sẽ xin ban thưởng cho các ngươi. Nhưng cho tới khi ta có thể thực hiện được điều đó, trong số các ngươi có bốn người mà ta cần phản tặng thưởng bằng ngân quỹ ít ỏi của thành. Bokôtsoi Isơtơvan, Tơrôc Luxlô, Kômlôtsi Onton, Sônxi Xonixtô hãy bước ra khỏi hàng.
Bốn người dũng sĩ bước ra khỏi hàng đến đứng trước mặt Đôbô. Đầu cả bốn người đều buộc băng.
Đôbô nói tiếp:
- Quân giặc đã vượt được lên mặt tường ngoài và đã cắm được lá cờ đầu tiên. Chiến sĩ Bokôtsoi Isơtơvan đã một mình xông vào giữa đoàn quân ionisa, giằng lấy lá cờ khỏi tay tên Thổ và ném xuống. Trong khi chưa nhận được ân từ của nhà vua, ta cất nhắc anh ta lên chức thập trưởng và thưởng cho năm mươi đêna và một bộ quần áo mới.
Lão quản lý Sukan đếm năm chục đêna vào lòng bàn tay người dũng sĩ.
Đôbô nói tiếp:
- Đạn đại bác đã quét đổ lá cờ của thành cùng với mảng tường. Lá cờ đã rơi ra ngoài, vào giữa bọn Thổ. Tơrốc Luxlô đã một mình nhảy ra khỏi kẽ tường và đem lá cờ về. Trong khi ân từ của nhà vua chưa đến, anh ta được thưởng một phôrinh trong ngân quỹ của thành và một bộ quần áo dạ.
Người dũng sĩ đắc thắng liếc nhìn quanh. Sukan đếm tiền thưởng vào tay anh ta.
Đôbô lại tiếp:
- Ở Cổng Cũ quân giặc cũng đã cắm được một lá cờ: Kômlôtsi Onton đã xông lên tường và chặt gãy lá cờ đó xuống cùng với bàn tay phải của tên Thổ. Trong khi ta chưa có thể đề nghị nhà vua ban thưởng, anh ta được nhận hai phôrinh, và một bộ quần áo.
Còn lại người dũng sĩ thứ tư.
- Sônxi Xonixlô, - Đôbô nói – khi chỗ hàn khẩu bị vỡ và đáng lẽ quân Thổ đã ùa nhau vào hàng trăm tên, một mình ngươi đã nhảy lại chỗ đó và, không hề nhìn xem chúng có bao nhiêu đứa, ngươi đã choảng sứt đầu vỡ trán quân xâm lược, cho tới khi quân cứu viện kịp đến. Phần thưởng của ngươi, ngoài ân từ của nhà vua, giờ đây chỉ có hai thước dạ tốt và một phôrinh.
Dạ thời đó cao giá lắm và bởi chưng quân lính không mặc đồng phục, một bộ quần áo dạ chắc dùng suốt cả đời. Còn phần tiền, chúng ta nên biết toàn bộ niên bổng đại úy trấn thủ của Đôbô chỉ có sáu trăm phôrinh và cái ông gọi là ngân quỹ của thành chúng ta phải hiểu đó là tiền túi của ông.
Đôbô còn nói thêm:
- Ta quy định phần thưởng này không phải theo mức độ dũng cảm của các ngươi mà tùy theo túi tiền của thành. Ngoài các ngươi ra trong hàng ngũ còn nhiều người khác cũng đã làm được những việc anh hùng. Chính ta đã thấy có một đôi người giết được hàng dăm chục tên Thổ. Để khỏi nói đâu xa, đây có Nogiơ Lukát và đội quân của anh ta. Các ngươi đã biết anh ta làm những gì! Vậy bây giờ các ngươi phải hiểu: ta chỉ muốn tuyên dương những người xuất sắc đặc biệt nhất, những người đã vì Tổ quốc mà dấn thân mình vào nơi nguy hiểm chắc chết mười mươi.
Từ phía cổng có tiếng kèn vang lên và một phút sau, một người nông dân xa lạ đi qua bãi chợ về phía Đôbô. Tay y cầm một bức thư.
- Thôi, ai đi làm việc nấy. – Đôbô bảo quân sĩ.
Ông còn nói với Mectsei một điều gì đó, rồi khi người nông dân đến nơi, ông khinh bỉ nhìn từ đầu tới chân, sau đó ông lên ngựa đi thẳng.
Các võ quan tiếp người nông dân.
Lá thư, không được đọc, bị xé làm đôi. Người ta ném một nửa vào lửa, một nửa nữa người ta nhét vào mồm gã nông dân:
- Ăn cái của mày đã mang đến này đi, đồ chó!
Sau đó y cũng bị điệu vào ngục và có thể tha hồ mà ngẫm nghĩ, phục vụ quân Thổ bằng bất cứ cách nào cũng chẳng có lợi.
Tên người đó là Sari Onđơrat, quân Thổ đã đem y theo từ thành Phêlê.
Đoàn quân dị giáo chờ suốt một giờ xem người kia có trở ra nữa hay không. Khi chúng thấy những người Eghe không phúc đáp cho chúng, tất cả đại bác của chúng lại gầm lên quanh thành. Trong những hào đào dưới chân thành, chật ních lính chiến đấu Thổ.
Nhưng nếu cho đến nay trại quân Thổ chỉ vang lên tiếng thét Ala và những câu phỉ báng, thì giờ đây khắp quanh thành đều vang lên lời kêu gọi bằng tiếng Hung:
- Chúng mày hãy đầu hàng đi! Nếu chúng mày không chịu hàng, cái chết của chúng mày sẽ thê thảm!
Tiếng khác:
- Chúng mày tưởng mãi mãi có thể đánh lui được những đợt công kích hay sao? Đó mới chỉ là trận thử sức thôi! Cả hài nhi chúng ta cũng sẽ không tha !
Lại tiếng khác:
- Chúng mày hãy bỏ mặc Đôbô ở đấy! Đôbô là thằng điên! Nếu nó muốn chết, cứ việc chết một mình! Ai đi ra cổng thành sẽ không bị xâm phạm gì hết! Có thể mang tiền và binh khí theo!
- Ai muốn đi ra cứ việc buộc khăn trắng lên ngọn giáo! – Một tên xpahi đội mũ có chóp nhọn từ dưới hào rống lên.
- Kẻ nào mở cửa cho chúng tao vào sẽ được thưởng nghìn vàng! – Một tên aga ionisa đội mũ cắm lông đà điểu la lớn.
Nghe thế có ba người chĩa súng bắn, nhưng hắn đã kịp thời thụt xuống.
- Đôbô là đồ hóa dại! – Từ một phía khác tiếng gọi lại vang lên – Chúng mày đừng có điên! Kẻ nào ra khỏi thành đầu tiên sẽ được thưởng một trăm đồng vàng, hai chục đứa ra sau đó mỗi đứa được mười đồng vàng, và chúng mày có thể yên ổn mà đi!
Những tên lính già biết tiếng Hung trong trại giặc đã hô la lên như vậy. Chúng còn gọi cả bằng tiếng Tiệp, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý nữa.
Còn dân trong thành không trả lời chúng, chẳng bằng tiếng Hung, chẳng bằng tiếng Tiệp, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha, cũng chẳng bằng tiếng Ý.
Tiếng gọi hàng mỗi lúc một vang lên. Điều hứa hẹn mỗi lúc một hấp dẫn, sự đe dọa mỗi lúc một ghê rợn. Cuối cùng Gergey điều lính trống, lính kèn, lính tù và của mình lên mặt thành và mỗi khi một tên Thổ nào ở dưới kia bắt đầu gào, trống lại khua rộn, tù và châm biếm rúc lên, hoặc kèn lanh lảnh át đi. Việc đó làm cho dân thành tươi tỉnh lên. Ở các mạn khác người ta cũng điều lính trống, lính kèn ra, ba người thôi tiêu dài trong thành cũng kiếm được việc làm. Các chiến sĩ, ai có lá chắn bằng sắt, thảy đều gõ lên xoang xoảng. Cảnh ồn ào địa ngục đó bóp chết tất cả mọi tiếng gọi chiêu hàng khác.
Trung úy kỵ binh Poócsi Yêp xin phép Đôbô cho xuất kích đánh bọn gọi hàng. Chàng trung úy ấy là một chàng trai cao đẹp, sức khỏe như Hecquyn[77]. Bộ ria của anh, khi sáng sáng anh kéo nó ra, dài đến mang tai. Khi xung trận anh sử dụng một thanh mã tấu. Chỉ một nhát anh đã bổ đôi một cái đầu Thổ đội mũ sắt, đến nỗi cái mũ sắt chắc chắn ấy cũng rời ra làm hai mảnh.
Anh chỉ xin một trăm người.
- Đừng có khôn lỏi, chú Yôp ạ, - Đôbô đáp – Nhỡ có chuyện gì thì khốn.
Nhưng Poócsi Yôp đang bừng bừng giận dữ. Anh hạ thấp dần yêu cầu như Abraham trên đường Sôđôma[78].
- Chỉ năm chục thôi. Chỉ hai chục thôi vậy.
Cuối cùng anh chỉ xin có mười người để được tung hoành một chuyến.
Đáng nhẽ chừng ấy thôi Đôbô cũng chẳng cho phép đâu, nhưng mà lúc đó rất nhiều chiến sĩ ngứa tay cũng đã sắp thành hàng từng đoàn bên cạnh Poócsi. Mặt đỏ bừng, họ kêu lên :
- Thưa ngài đại úy!
Đôbô ngại rằng nếu ông còn tiếp tục phản đối, họ sẽ không coi đó là sự thận trọng khôn ngoan nữa mà cho rằng ông đã thấy lực lượng trong thành quá ít. Vì vậy ông nhún vai :
- Nếu quả các ngươi đang có cái thú muốn được người ta đánh cho vỡ đầu thì cứ việc mà đi.
- Bao nhiêu người ạ? – Poócsi hỏi, gần như thét lên vì mừng rỡ.
- Hai trăm. – Đôbô đáp.
Cánh cổng mở ra phía con suối vẫn còn nguyên lành, Poócsi chọn lấy hai trăm người của mình rồi xông ra.
Việc đó diễn ra vào khoảng trưa.
Con suối đầy quân Thổ đang cho ngựa và lạc đà uống nước dọc ven bờ. Trước cổng chủ yếu là bọn akinji đang cho ngựa uống.
Hai trăm chiến sĩ ập xuống đầu chúng như tia chớp. Bọn akinji rụng như sung. Poócsi đi trước mở đường xuyên qua giữa bọn chúng, áo giáp và sườn bên phải con ngựa của anh đỏ lòm những máu – các chiến sĩ khác cũng noi gương anh, và toán quân akinji hoảng hốt kêu la, đạp lên nhau mà chạy, mãi cho đến lúc hàng ngàn tên ionisa từ hai phía xông vào họ mới thôi.
Đôbô truyền thổi kèn thu quân.
Nhưng những chiến sĩ ở dưới kia không nghe thấy. Hăng tiết lên trong cơn xô xát; họ chém giết cả bọn ionisa.
Con ngựa của Poócsi chợt giật mình trước một con lạc đà và nhảy né sang bên. Trong nháy mắt đó Poócsi đang định bổ một nhát chém khủng khiếp xuống một tên xpahi mặc áo lưới thép. Anh ngã nhào xuống khỏi mình ngựa. Chúng nó đâm vào ức con ngựa. Con ngựa ngã đè lên chân Poócsi và nằm nguyên đó bên cạnh anh.
Các chiến sĩ khác thấy thế liền xúm quanh Poócsi và vung gươm chém sa sả để người trung úy có thì giờ đứng dậy. Nhưng Poócsi không đứng dậy. Chân anh đã bị trẹo khớp. Trong tư thế ngồi như thế, anh vẫn hăng máu múa tít thanh gươm, đâm chém tứ phía. Cái mũ sắt rơi ra khỏi đầu.
Một tên ionisa chém xuống đầu anh.
Trên mặt thành những tiếng kèn mạnh mẽ vang dội : Quay về ! Quay về !
Đoàn chiến sĩ quay lại, mở đường qua vòng vây Thổ. Chỉ còn mười người ở lại bên cạnh Poócsi. Một rừng giáo liền tua tủa vây kín lấy họ.
- Đầu hàng đi – Bọn Thổ gọi họ.
Mười chiến sĩ, lần lượt người nọ sau người kia, hạ gươm xuống.
- Đồ hèn nhát! – Từ trên thành mọi người giận dữ gọi vọng xuống.
Khó khăn lắm mới giữ được Mectsei để anh khỏi xông ra.
Một giờ sau, quân địch dựng lên một giàn gỗ cao hình cái đĩa trên đồi Ghế Vua. Trên giàn gỗ đó, trước mắt quân dân trong thành, tên đao phủ Thổ dùng bánh xe sắt bẻ gãy xương các dũng sĩ Eghe bị thương, tất cả, chỉ trừ Poócsi.
4
Cho tới lúc đó Eghe chỉ căm thù quân Thổ, từ lúc đó trở đi họ còn ghê tởm chúng. Đám phụ nữ bật khóc. Quân sĩ muốn xông ra. Nhưng Đôbô đã sai khóa chặt cổng.
Sau hành động tàn bạo nhục nhã đó, pasa Ali cho gọi chõ vào thành :
- Chúng mày nên biết đạo quân của nhà vua đến cứu viện cho chúng mày đã bị chúng tao đánh tan tác! Không còn khoan hồng nữa! Nếu chúng mày không đầu hàng, tất cả chúng mày đều sẽ bị hành hình như những đứa ở đây.
Dân thành tái người khi nghe lời gọi đó . Hành động dã man của bọn Thổ đã khiến cả những người lính trông sững sờ đến nỗi quên cả đánh trống để át tiếng gọi.
- Bọn hèn hạ nói dối đấy! – Gergey nói với đám quân sĩ đứng xung quanh – Chúng nó nói dối cũng như đêm đêm chúng vẫn kêu gào là vợ chúng ta, người yêu chúng ta, con cái chúng ta đã bị bắt. Đạo quân nhà vua sẽ đến. Chúng ta có thể đợi họ đến trong bất cứ giờ nào.
- Nhưng ngộ chúng nó không nói dối? – Một giọng sống sượng vang lên sau lưng chàng.
Không thể, mặt Gergey cũng đã tái rồi; nghe câu hỏi đó mặt chàng trắng bệch đến nỗi có thể đếm được từng sợi râu.
Trung úy Heghétđuy là người đã nói câu đó, Gergey nhìn thẳng vào mặt anh ta, tay để dốc gươm xuống và đáp :
- Ái chà, ngài trung úy! Đáng nhẽ ngài cũng phải biết đôi điều tục lệ của các đạo quân chứ, kẻ địch thường cướp lấy những lá cờ của đạo quân đã bị đánh tan. Nếu quả thực chúng đã đánh họ tan tác, chúng lại không giơ những lá cờ lên khoe hay sao?
Rồi chàng nhìn anh ta từ đầu đến chân.
Việc đó xảy ra trên pháo đài nhà thờ. Đôbô cũng đứng trên pháo đài xa hơn một chút. Cạnh ông, Xexey tì người lên cái nạng. Zôntoi, Phuyghétđi và giáo sĩ Marotôn cũng đứng đó. Giáo sĩ mặc áo trắng, quàng khăn lễ. (Ông vừa mai táng một người chết vì bị thương nặng).
Khi chỉ nghe tiếng nói của Gergey. Đôbô mới bắt đầu chú ý. Ông kinh ngạc nhìn Heghétđuy.
Xexey cũng quay lại, ông quát Heghétđuy :
- Nói mới ngu chứ! Cậu muốn làm cho người ta sợ hãi à ?
Heghétđuy tức tối nhìn trả lại Gergey :
- Ta là một chiến sĩ nhiều tuổi hơn ngươi, đồ nhãi con ạ! Sao ngươi dám lên giọng dạy ta! Sao ngươi dám nhìn ta hỗn xược như thế!
Và thanh gươm của y rút ra khỏi vỏ.
Gergey cũng rút gươm ra.
Đôbô bước vào đứng giữa hai người :
- Sau cuộc bao vậy, các người có thể thanh toán với nhau! Chừng nào thành còn bị vây, chớ có cả gan rút gươm ra mà đánh nhau!
Hai sĩ quan bất hòa đành tra gươm vào vỏ. Giọng lạnh lùng, Đôbô ra lệnh cho Heghétđuy đến phục vụ ở Cổng Cũ trong đội của Mectsei, còn Gergey nếu không có lý do quan trọng thì phải rời khỏi thành ngoài.
- Sau ngày giải tỏa!... Heghétđuy còn nói một lần nữa với một cái liếc đe dọa.
- Tôi không trốn đâu. – Gergey đáp, giọng lạnh như băng.
Việc bất hòa đó làm Đôbô mất vui. Khi hai võ quan đã đi khuất theo hai hướng khác nhau, ông quay sang bảo Xexey :
- Chúng ta sẽ ra sao nếu các võ quan cũng coi nhau là cừu địch? Họ sẽ làm thế nào mà đồng tâm chiến đấu! Cần phải hòa giải bạn họ!
- Quỷ bắt cái bọn Koso ấy đi. Con trai tôi nói đúng.
Họ đi bộ qua bãi chợ. Từ trong quán rượu tiếng hát vọng ra, và khi họ vừa vặn tới đó, ba người lính ngặt ngưỡng nhào ra, tay quàng vào cổ nhau. Với những động tác Laokoon[79], ba người lính chân nam đá chân chiêu đi về phía dãy nhà doanh trại. Người ở giữa là Hokôisoi, anh ta gào lên câu cuối cùng ở một bài hát :
- Chúng ta không bao giờ chết!
Khi những anh chàng phởn chí ấy trông thấy Đôbô, họ vội buông nhau ra và đứng lại như những cái tháp Piza[80], mắt lấm lét, im bặt.
Đôbô đi qua bọn họ không nói gì cả, và dừng lại trước của quán.
Trong quán người ta đang hò hét ầm ĩ. Tơrôc Laxlô đang vung vẩy cái khăn mới đây vừa dùng buộc cánh tay bị thương của anh. Kômlôtsi dùng cốc thiếc gõ lên bàn. Sônxi Xonixlô đang gào những người thổi tiêu. Cạnh họ còn ba chiến sĩ nữa đang giúp họ uống cho hết số tiền thưởng vì lòng anh dũng.
Đôbô quay sang bảo người võ đồng :
- Gọi hai người chủ quán lại đây.
Một phút sau cả hai đã đến : Debrơi Giơrgiơ trong cái áo ngắn xắn tay, Nothơ Laxlô trong cái tạp dề màu xanh có túi ngực. Hai người bối rối đứng trước cặp mắt giận giữ của ngài đại úy.
- Các ông chủ quán ! – Đôbô cao giọng nói – Nếu ta còn thấy lính say trong thành một lần nữa, ta sẽ sai treo cổ kẻ nào đã để cho họ uống quá chén !
Rồi ông quay người đi tiếp.
Đến đêm người ta lại xếp đá vá những chỗ tường bị đại bác bắn vỡ trong ngày. Đôbô chỉ ngủ một hai tiếng. Suốt ngày thâu đêm lúc nào cũng có thể thấy ông lúc ở chỗ này, lúc ở chỗ nọ, có thể nghe cái giọng cắt đặt trầm trầm, điềm tĩnh của ông.
Khuya đêm thứ ba sau đợt công kích, một tiếng gọi to khỏe lại vang lên từ ngọn đồi phía đông :
- Ngươi có nghe chăng, Đôbô Isơtơvan! Địch thủ cũ của ngươi có lời chào ngươi đây : bêi Orơxơlan. Danh dự của ta cũng trong sạch như thanh kiếm của ta. Ngươi chưa bao giờ có thể nghe những chuyện xấu xa về ta.
Một phút nghĩ, sau đó.
- Các ngươi đừng quay quất lấy cái chết của Lôsônxi Isơtơvan ra mà làm ví dụ! Chính bản thân ông ta là nguyên nhân gây ra cái chết đó! Nhưng nếu các ngươi không tin, ta xin lấy bản thân ta làm con tin! Ta không sợ một mình đi vào chỗ ngươi, nếu ngươi chịu dựng cờ trắng! Các ngươi hãy bắt giữ ta cho tới khi nào các ngươi đã kéo ra khỏi thành và nếu một người nào đó trong số quân kéo ra bị động đến một sợi tóc, các ngươi hãy lập tức giết ta đi. Ta đang gọi đây: bêi Orơxơlan, con trai của basa lừng lẫy danh vọng Oclu Môhamét.
Yên lặng tiếp đến, dường như kẻ chiêu hàng đang chờ lời đáp lại.
Nhưng ngay từ những tiếng đầu tiên. Đôbô đã lên ngựa phi sang pháo đài khác. Bằng cách đó ông tỏ rõ cho mọi người biết đối với lời dụ dỗ của giặc Thổ ông điếc tới mức độ nào.
Chỉ các chiến sĩ nghe phần tiếp tục của lời kêu gọi.
- Ta biết rằng cá nhân ta đã là một bằng chứng đầy đủ đối với ngươi. Nhưng nếu chưa đủ đối với sĩ tốt các người, chúng ta có thể rút toàn bộ trại quân lui ra ba dặm. Chừng nào các ngươi chưa đi ra khỏi thành ba dặm về hướng đối diện, chừng đó không một người Thổ nào xuất hiện. Đôbô Isơtơvan vũ dũng, hãy trả lời cho ta hay!
Tòa thành yên lặng.
5
Lúc nửa đêm Đôbô trông thấy một người lính trẻ ở trước cửa kho thuốc súng, anh ta đang đội mấy cái khay to trên đầu.
- Cái gì thế ?
- Thượng úy Gergey sai lấy những cái khay trong nhà bếp ra.
- Thượng úy đâu rồi ?
- Bẩm trên pháo đài nhà ngục.
Đôbô phóng ngựa đến đó. Ông xuống ngựa, vội vàng đi lên pháo đài. Ông bắt gặp Gergey dưới chân tường, nơi một ngọn đèn chiếu sáng. Gergey đang cúi xuống xem xét một khay nước, chân quỳ xuống, bất động mặt tái đi, nghiêm nghị.
- Gergey!
Gergey đứng dậy, chàng nói :
- Tôi không biết đại úy vẫn còn thức. Ngoài ra tôi đã báo cáo với Mectsei về việc sai theo dõi những khay nước.
- Chúng nó đào đường ngầm à?
- Chắc thế. Chúng ta đã đánh lui đợt công kích, cho nên có thể thấy trước là chúng nó sẽ đào đường ngầm.
- Được. – Đôbô đáp – Đám lính trống cũng hãy đặt trống xuống đất và rắc hạt đậu lên mặt.
- Và đạn chì nhỏ nữa.
Đôbô từ trên pháo đài gọi với xuống bảo võ đồng Kơrixtôp :
- Con hãy đi đến khắp các vọng gác và bảo họ cứ sau một tua lại phải chú ý xem xét mặt trống và mặt khay nước. Hễ thấy mặt nước rung rinh hoặc đậu và đạn chì lao xao trên mặt trống là phải lập tức báo ngay.
Rồi ông quàng lấy tay Gergey kéo vào phía trong.
- Gergey, con thân mến. – Ông nói với chàng bằng cái giọng cha chú mà thường ông chỉ dùng để nói với các võ đồng – Ta chú ý theo dõi con đã một tuần nay. Con có việc gì thế? Con có hay như thế này đâu.
- Thưa ngài, - Gergey trả lời giọng run run – tôi không muốn đem câu chuyện đó ra làm ngài phải nghĩ ngợi thêm. Nhưng ngài đã hỏi thì tôi xin nói. Kể từ khi chúng nó hãm thành, đêm nào chúng cũng gọi chõ vào rằng con trai tôi đang ở chỗ chúng nó.
- Chuyện dối trá!
- Tôi cũng đã nghĩ thế. Thoạt đầu tôi cũng chẳng thèm để ý. Nhưng các đây một tuần, chúng ném vào thành một thanh gươm nhỏ. Đó là gươm của con trai tôi.
Vừa nói thế chẳng vừa rút dưới áo đônman ra một thanh gươm nhỏ có vỏ bọc nhung.
- Thưa ngài đại úy, thanh gươm này đây. Tôi biết ngài không nhớ ra nó nữa. Vậy mà chính ngài đã cho tôi thanh gươm này khi chúng ta gặp nhau lần đầu tiên. Sau này tôi đã cho con trai tôi khi tôi từ biệt nó đến đây. Cái này làm sao lọt vào tay bọn Thổ được?
Đôbô ngẩn ra nhìn thanh gươm.
Gergey lại tiếp :
- Tôi để vợ con tôi ở lại Sơpơrôn. Mạn đó không có bọn Thổ nào đến cả. Nếu đứa nào bén mảng đến người ta sẽ đánh chết ngay. Còn vợ tôi thì không rời khỏi chốn đó, vì cũng chẳng còn biết đi đến bà con nào khác nữa.
- Khó hiểu thực. – Đôbô lắc đầu đáp – Có lẽ thanh gươm đã bị đánh cắp rồi chuyển đến chỗ lính Thổ?
- Nếu vậy làm sao chúng lại biết là thanh gươm của con trai tôi? Và còn một mối liên quan nữa trong việc này, nó cứ như một con rắn cấu xé trái tim tôi. Cái tên Yumusac này, hoặc nói cách khác cái tên bêi Đạo sĩ này trước đây có một vật hộ mệnh. Vị giáo sĩ Gabô, người thầy đã quy tiên của tôi, đã lấy mất của hắn vật đó và để lại cho tôi. Từ đó cái tên Thổ điên ấy cứ ra sức tìm. Làm sao hắn lại biết được vật đó ở chỗ tôi? – tôi không thể hiểu nổi. Nhưng chắc chắn là hắn biết, vì hắn đòi tôi.
- Và anh nghĩ rằng con trai của anh quả thực ở chỗ hắn ư? Vậy thì quỷ tha ma bắt cái nhẫn ấy đi hãy ném ra cho hắn!
Gergey bỏ mũ sắt ra lấy khăn lau trán.
- Nhưng chính điều này mới thật lạ lùng, cái nhẫn không có ở đây. Tôi đã để nó ở nhà.
- Trí khôn của ta đến tắc tị mất. – Đôbô lắc đầu nói – Ta… nghĩ nếu giả dụ đã có những tên Thổ lang thang ở Sơpơrôn… hừm… thì tên bêi đã cướp cái nhẫn đi rồi chứ không phải là cướp thằng bé.
- Tôi cũng điên đầu lên trong giả thiết ấy đây. – Gergey đáp.
- Và anh nghĩ rằng con anh quả thực có ở đấy à?
- Cứ bằng vào thanh gươm nhỏ đã từ Sôpơrôn chuyển đến đây, tôi bắt buộc phải nghĩ rằng con trai tôi cũng có thể bị đưa đến đây lắm.
Họ đã đến soái phủ. Đôbô ngồi xuống cái ghê đá hoa trước lâu đài, dưới một cây đèn.
- Anh cũng ngồi xuống đây.
Ông chống hai khuỷu tay lên đầu gối nhìn ra phía trước. Cả hai đều im lặng. Cuối cùng Đôbô phát vào đầu gối một cái và nói:
- Ngay đêm nay chúng ta sẽ có thể biết lời bọn Thổ có đúng hay không.
Ông bảo với người lính gác đang đi đi lại lại trước soái phủ :
- Misơko, ngươi hãy đi vào nhà ngục dẫn cái tên Cuôcđơ ra đây, cái tên mà ngươi đã bắt được bên bờ suối ấy.
Phu nhân Bolôc từ trong cửa sổ nói vọng ra :
- Ngài đại úy, cái áo khoác ngoài của ngài…
Vì trên người Đôbô chỉ có áo đôn-man, một cái áo đôn-man bằng da nai màu xám, mà khi đêm thì quả thực đã lạnh.
- Cảm ơn phu nhân. – Đôbô đáp – Tôi đi ngủ ngay bây giờ đây. Petơ thế nào?
- Anh ta nói mê nói sảng và rên rỉ.
- Ai sẽ túc trực bên cạnh anh ta ?
- Tôi đã cho gọi vợ Kôtsit Gatpa vào. Nhưng chừng nào anh ta chưa yên lặng, cả tôi cũng sẽ thức.
- Không có lý do gì phải làm thế. – Đôbô đáp – Tôi đã thấy vết thương. Nó sẽ lành thôi. Phu nhân hãy đi ngủ đi!
Người lính gác dẫn tên Cuôcđơ đến.
- Cởi xiềng cho nó. – Đôbô bảo anh ta.
Tên Cuôcđơ vòng tay lên ngực, cúi rạp người chờ đợi.
- Đồ dị giáo, mày hãy nghe ta nói đây. – Đôbô nói.
Gergey dịch từ đầu đến cuối.
- Mày có biết tên bêi Đạo sĩ không?
- Bẩm có ạ.
- Hình dạng hắn thế nà?
- Chột một mắt. Hắn mặc áo đạo sĩ, nhưng bên trong là áo giáp.
- Đúng hắn đấy. Mày là người ở đâu?
- Thưa ngài ở Đilixơ.
- Mẹ mày còn sống không?
- Thưa ngài còn sống ạ.
- Gia đình mày ?
- Con có hai đứa con ạ.
Và hắn bật ra khóc.
Đôbô nói tiếp :
- Ta sẽ thả mày ra, nhưng mày phải trung thực làm một việc của ta giao.
- Thưa ngài, con sẽ là nô lệ của ngài đến trọn đời.
- Mày hãy đi đến chỗ bêi Đạo sĩ. Nơi hắn có một thằng bé Hung bị bắt. Mày bảo tên bêi rằng nếu sáng mai hắn dẫn thằng bé ấy đến chỗ cổng nhìn ra con suối, nơi mày bị bắt, hắn có thể đổi thằng bé lấy cái mà hắn muốn. Khi đến, chúng mày phải đem theo khăn trắng.
- Thưa ngài, con đã hiểu.
- Một người của chúng ta sẽ ra cổng đón thằng bé và mang theo cái nhẫn bùa của tên bêi. Còn mày dẫn thằng bé từ chỗ tên bêi đến trao cho người của ta. Nhưng mày phải thề sẽ làm trọn cái điều chúng ta đòi hỏi.
- Dạ thưa ngài, con xin thề ạ. – tên Cuôcđơ đáp.
Kơrixtôp đã đến đứng bên cạnh. Đôbô quay sang bảo chú :
- Kơrixtôp, con hãy đi vào phòng hiệp sĩ. Trong góc phòng có một đống đồ đạc Thổ, trong số đó có một quyển sách nhỏ. Con hãy mang quyển sách nhỏ đó ra đây.
Quyển sách đó là quyển kinh Côran, những tên lính Thổ biết đọc đều mang nó theo trong người. Quyển sách bọc bìa da và có vòng sắt ở góc, trong vòng sắt xâu một sợi dây. Bọn Thổ biết đọc thường đeo nó ở ngực. Tên Cuôcđơ đặt ngón tay lên quyển kinh Côran và thề. Sau đó hắn phủ phục xuống chân Đôbô. Hắn hôn lên nền đất và mừng rơn đi ra.
- Nhưng thưa ngài. – Gergey giọng run run nói – nếu tên Thổ thấy chúng ta lừa nó…
Đôbô điềm tĩnh trả lời :
- Nếu như có thằng bé ở chỗ nó thì nó đã dẫn ra cho ta thấy rồi. Tất cả bọn Thổ đều dối trá. Ta chỉ muốn làm cho anh yên lòng đó mà thôi.
Gergey phấp phỏng đi vội lên pháo đài để ngủ lấy một chút trước khi trời rạng. Khi chàng đi qua bên cạnh mấy cái cối xay, từ trong bóng tối vẳng ra một tiếng “huýt”, nói đúng hơn là một tiếng “suỵt”.
Gergey nhìn về phía đó. Chàng trông thấy gã xigan đang quỳ trên đống rơm và vẫy chàng.
- Nào, anh muốn gì thế ? – Gergey hỏi, giọng không vui.
Gã xigan đừng lên thầm thì :
- Thưa đại nhân Gergey, trong vườn có trộm.
- Thế à
- Lúc đầu hôm, con chữa miếng sắt quai hàm cho cái mũ của một người lính Koso ở chỗ Cổng Cũ. Con nghe ngài trung úy Heghétđuy đã nói là khi thành bị vây, đáng lẽ tiền lương phải trả gấp đôi. Đám lính cằn nhằn đại nhân Đôbô đấy. Họ bảo quân Thổ hứa đủ mọi cái tốt đẹp, còn đại nhân Đôbô chẳng hứa gì sất. Cần phải lựa chọn.
Hơi thở của Gergey tắc lại.
- Họ nói như thế trước mặt anh à?
- Trước tất cả đám lính tráng. Đáng nhẽ con cũng chẳng nói đâu. Nhưng nếu đã phải sợ thì con còn sợ quân Thổ hơn ngài trung úy ở Koso.
- Đi theo ta. – Gergey bảo.
Chàng đi tìm Mectsei và bắt gặp anh ở chỗ đám thợ nhồi thuốc súng vào vỏ đạn.
- Pisơto, - chàng bảo anh – anh hãy nghe Sakơdi kể. Rồi chàng bỏ họ lại ở đó.
6
Sáng ra, khi Đôbô bước ra ngoài cửa soái phủ. Heghétđuy đã chờ ông ở đó.
- Thưa ngài ! – Y vừa nói vừa đưa tay lên mà chào – Tôi có điều muốn báo cáo.
- Gấp à?
- Không gấp lắm.
- Vậy theo ta. Đến chỗ cổng sẽ nói.
Gergey đã đứng trên cổng, cả Mectsei, Phuyghétđi cũng đứng đó cùng chàng. Lớp bồi đã che khuất họ không để bọn Thổ đang nhốn nháo ngoài suối trông thấy.
Đôbô nhìn xuống thành phố qua kẽ lớp bồi, sau đó quay lại hỏi Gergey :
- Chưa có ai à ?
- Chưa ạ. – Gergey đáp rồi liếc nhìn Henghétđuy.
Henghétđuy đưa ngón tay lên vành mũ nửa chào nửa vẫy. Gergey cũng vậy, nhưng họ nhìn nhau lạnh nhạt.
Đôbô nhìn Heghetđuy, chờ báo cáo.
- Thưa ngài. – Heghétđuy nói – tôi cần phải nói rằng tôi đã nghiệm thấy đời có chút bắt mắt giữa đám lính tráng.
Mắt Đôbô giương tròn xoe.
- Rất tiếc, - Heghétđuy vừa lẩn tránh cái nhìn của Đôbô vừa tiếp – giữa bọn họ có những người lính già đã biết các khoản ấy… cái khoản tiền công cố thủ. Hôm qua họ đã chờ suốt ngày để mong được lĩnh khoản tiền ấy như mọi lúc và mọi nơi vẫn thường quen. Đến tối họ đã nói vung lên. Tôi nghĩ nếu mình mắng át họ đi, sự bất mãn sẽ chỉ càng tăng. Bởi vậy tôi đã để cho họ nói. Họ yêu cầu tôi nói cho ngài biết nguyện vọng của họ.
- Trước hết, đáng nhẽ ngài đã không được phép quên, ngài trung úy ạ, là trong thành không có chỗ cho bất cứ một sự xì xào thậm thụt nào. Thứ hai, về khoản tiền công cố thủ, ở đây kẻ nào không chiến đấu vì Tổ quốc mà vì tiền công thì cứ việc đến chỗ ta, hắn sẽ được lĩnh.
Đôbô trả lời rồi bước đi khỏi chỗ viên trung úy, nghiêng mình ngó qua lớp bồi.
- Chúng đã đến. – Gergey lên tiếng.
Từ giữa đám lính Thổ, tên Cuốcđơ đi ra, hắn đã được võ trang, hai tay dắt hai đứa bé Hung. Cả hai đều mặc áo cộc tay, quần xà lỏn, chân đi đất, đều có vẻ con nhà nông. Vì tên Cuôcđơ bước những bước dài, hai đứa bé phải chạy lon ton bên cạnh.
Cách chúng chừng một trăm bước có thể trông thấy tên đạo sĩ chột. Hắn cưỡi ngựa theo sau tên Cuốcđơ nhưng đến tầm bắn thì dừng lại và đứng thẳng người trên bàn đạp nhìn về phía thành.
- Hai đứa bé này không phải con tôi! – Gergey nói với nỗi mừng rỡ cuống quýt.
Thực thế, hai đứa bé nhiều tuổi hơn Iontsiko của chàng: một đứa chừng mười tuổi, một đứa độ mười hai.
Tên Cuôcđơ dừng lại trước cổng thành, gọi to lên :
- Ngài bêi gửi hai đứa đến thay cho một đứa. Chúng mày đưa cái nhẫn ra rồi ngài sẽ gửi cả đứa thứ ba đến nữa.
Đôbô nói lên với người lính gác trên tháp canh.
- Bác hãy nhô ra ngoài, lấy tay vẫy cho tên Cuốcđơ kia hiểu là nó có thể cút đi được đấy.
Ngày hôm đó quân Thổ cũng vẫn bắn phá tường thành như trước. Những khẩu Zobuzan to họng làm việc chậm chạp nhưng với sức mạnh kinh khủng. Đồng thời với mỗi tiếng nổ, tường vỡ rào rào, đôi khi còn nghe được cả tiếng ầm của từng chỗ đổ sập.
Nhưng tuy vậy ngày hôm sau đó vẫn có một cái gì thay đổi, những người lính gác đã báo cáo điều đó từ sáng sớm.
Kỵ binh Thổ đã rút ra xa thành. Không đâu còn thấy bóng dáng của những tên akinji mũ đỏ, những tên xpahi mặc áo giáp sáng chói, những tên betli quân phục tạp nham, những tên đeli áo choàng rộng, những tên gonưlư cưỡi giống ngựa bé nhỏ, những tên gureba, những tên mưxenlem và bọn xilida[81] . Mà ngay cả chín trăm con lạc đà của trại quân Thổ cũng biến đâu mất.
Chuyện gì đã xảy ra vậy ?
Quân dân trong thành tíu tít đi lại, nét mặt mừng vui hớn hở. Cả gã xigan cũng đến chỗ thợ mài nhờ mài sáng một thanh gươm đã hen gỉ. Bên những lò nướng bánh, lời ca của những người phụ nữ vang lên. Bọn trẻ đùa nghịch ở bãi cỏ trên gò cạnh lò bánh, bọn con trai chơi trò chơi trận giả, bọn con gái chơi rồng rắn :
Kotôko nhà Uivari
Váy lông vàng diện gớm còn chi
Ngựa cô đòi ăn ngô ăn thóc
Mẹ cô đòi cheo vàng cheo ngọc
Chuỗi hạt cho cô nữa rồi đi.
Người hầu của phu nhân Bolôc dẫn thằng bé Thổ đến đó. Nó ngây người nhìn trò chơi.
- Chúng mày cho thằng này vào chơi với! – Người hầu nài bọn con trai.
- Không được – Các em trả lời.
Bọn con gái bèn nhận cho vào chơi. Thằng bé Thổ không hiểu các em hát gì nhưng cũng nghiêm chỉnh quay lộn với chúng.
Nhưng nguyên nhân của sự mừng rỡ, vui vẻ đó là gì vậy?
Kỵ binh Thổ đã biến đi. Chắc chắn đạo quân cứu viện đã tới gần. Đạo quân của nhà vua! Nếu kỵ binh Thổ không đi nghênh chiến với đạo quân đó thì còn đi đâu nữa?
Những người lính trống càng vui vẻ khua trống át những lời chiêu hàng gọi chõ vào thành. Người cầm dùi cái trống đại của thành chốc chốc lại nhảy lên mặt thành phía có quân địch léo nhéo mà nện thùng thùng át tất cả mọi tiếng kêu.
Những truyền đơn cũng rơi vào thành. Chúng nó gài theo mũi tên bắn vào. Không ai đọc cả. Ai nhặt được đều ném vào lửa, còn những mũi tên họ đem đến cho lão Xexey.
Ông lão ngồi tối ngày trên pháo đài nhà ngục, và mỗi khi quân Thổ lấp ló đến gần, ông lại giương cung bắn xuống.
Chỉ có nét mặt của Đôbô là vẫn nghiêm nghị không đổi.
Khi ông leo lên tháp canh này, khi ông leo lên tháp canh kia để dò xét quân địch. Đôi ghi ông nhìn rất lâu về phía núi Eghét, đôi khi ông lại lắc đầu. Có lần ông gọi Mectsei vào soái phủ.
- Chú ạ. – Ông vừa ngồi xuống vừa nói – Cái tay Henghétđuy ấy không vừa ý ta chút nào cả. Chú hãy cho người theo dõi y.
- Tôi đã cho người theo dõi rồi.
- Y nói chuyện với ai, nhòm ngó những đâu, đặt chân đến chỗ nào, ta cần phải biết từng giờ từng phút.
- Vâng, chúng ta sẽ biết.
- Nhưng đừng để cho y đánh hơi thấy, nếu không y sẽ làm cho ta bị bất ngờ đấy.
- Y sẽ không biết được đâu.
- Nếu trong thành rối loạn thì chúng ta sẽ hết đường. Ta có thể làm cái việc sai bắt giam y lại, nhưng ta cần phải biết có những ai hùa theo y nữa. Ta cần phải cắt bỏ cái phần mục nát sao cho đừng sót lại một tí gì. Anh sai ai theo dõi đấy ?
- Gã xigan.
- Đáng tin cậy không ?
- Gã đáng tin cậy lắm. Hôm qua gã đã làm việc ở giữa đám lính Koso, hôm nay lại sẽ tìm được việc ở đó. Tôi đã bảo gã nếu có công trong việc này thì gã sẽ được thưởng một con ngựa tốt với toàn bộ yên cương lành lặn. Gã sẽ giả vờ về hùa với chúng nó. Nếu có chuyện gì xảy ra chúng ta sẽ biết ngay.
- Cậu không còn người nào khác đáng tin cậy hơn nữa hay sao ?
- Có thì còn có, nhưng đám lính, Koso sẽ không tin vào người đó. Với gã xigan, chúng nó sẽ coi thường và không thèm giữ gìn trước mặt gã.
- Gã chỉ cần dò biết những kẻ cầm đầu!
- Tôi cũng bảo gã như thế,
- Vậy thì được. Ta đi đi.
- Thưa ngài đại úy tổng trấn, - Mectsei đổi giọng nói – những dấu hiệu bên ngoài tỏ ra rằng quân đội nhà vua đã đến.
Đôbô nhún vai, buồn bã đáp :
- Có thể là có đạo quân đến. Nhưng những dấu hiệu được tất cả các anh giải thích bằng việc đó, với ta chúng không có nghĩa là đạo quân nhà vua đã đến.
Mectsei ngớ người nhìn Đôbô.
Đôbô dang rộng hai cánh tay :
- Bọn giám trận đều đang ở đây cả. Ta đã trông thấy cả hai tên thống tướng cùng cưỡi ngựa ở mạn Onmodo. Chúng chưa điều đi một khẩu đại bác nào. Hai cánh quân của chúng cũng còn ở đây cả.
- Vậy có chuyện gì nhỉ? – Mectsei ngượng ngùng hỏi.
Đôbô lại nhún vai!
- Không thể có việc gì khác hơn, cậu em ạ, chỉ có thể là chúng nó đi vào rừng.
- Vào rừng?
- Vào rừng, với lại vào các ruộng nho. Ta nghĩ rằng hai tên thống tướng muốn tìn cách hạ bớt chiều cao tường thành. Chúng sai quân đi chở cành cây và lấy đất. Chúng sẽ lấp cái hào của ta và đắp gò lên ở những chỗ tường sạt lở. Có điều Pisơto thân mến này, điều này ta chỉ nói với cậu thôi. Hãy cứ để cho quân dân trong thành mừng rỡ vì việc có quân cứu viện đến.
Ông chìa tay ra cho người bạn đồng nhiệm và trìu mến nhìn anh ta. Sau đó ông quay vào cái phòng chỗ Petơ nằm.
Trời vừa xẩm tối, các toán kỵ binh Thổ lại lúc nhúc bò ra.
Dưới ánh một quả pháo sáng có thể trông thấy tất cả bọn kỵ binh đều cầm cương dắt ngựa, và mỗi một con ngựa đều tải nặng cành cây. Đàn lạc đà dài dằng dặc thì chở những bao tải đầy ắp. Khi chúng đi từ trên núi Boiut rẽ xuống, đàn lạc đà đi hàng một, con này nối con kia.
Đôbô chĩa nòng những tu pháo và những khẩu cối xuống, bắn vào giữa đội hình quân địch. Nhưng đêm tới mỗi lúc một dày đặc và số kỵ binh địch không hề giảm bớt. Đôbô ngừng nã đại bác, chỉ ra lệnh cho những tay súng trường thỉnh thoảng bắn vào bọn chúng.
Quân Thổ rộn rịp làm việc dưới chân thành. Cành cây và dây nho ném lên nhau gẫy răng rắc. Xen vào giữa là tiếng hò của bọn quan giám trận đang cắt đặt.
Đôbô sai đem phần lớn đèn trong thành đến những chố tường vỡ. Người ta để đèn ở những chỗ có thể soi sáng ra ngoài tường thành, nhưng từ phía dưới không thể dùng tên hoặc dùng đạn mà bắn trúng được.
Bên trong thành tối đen, chỉ rải rác đây đó mới có một ngọn đèn. Ánh sáng hắt ra từ lò bánh chiếu sáng vùng Cổng Cũ. Đám phụ nữ lúc này cũng vẫn vừa làm vừa hát.
- Họ cứ hát nữa đi, - Đôbô nói – May mắn không bao giờ lìa bỏ những nơi có tiếng hát.
Quãng nửa đêm, Mectsei đứng trên tháp canh pháo đài Bôiki theo dõi xem quân Thổ có rục rịch chuyển sang công kích ban đêm hay không. Các võ quan khác cũng thay nhau đi khắp nơi trực đêm.
Mectsei khum hai bàn tay lại đặt sau tai và cúi xuống, tia mắt anh cố sức xuyên qua màn đêm.
Có ai từ phía sau giật giật áo đôn-man của anh.
Gã xigan.
Gã đi dép ionisa đến đây, trên đầu gã đội một cái mũ sắt cắm đầy lông gà. Một bên sườn đeo gươm, sườn bên kia đeo gươm cong kiểu Thổ có cán màu trắng.
- Suỵt … - gã nói vẻ bí ẩn – suỵt!...
- Cần gì đấy?
- Con đã cảm thấy dây cương con ngựa tốt nằm trong tay con rồi.
- Mày biết được chuyện gì rồi ư?
- Ôi ôi!
- Mày có cả chứng cớ nữa chứ?
- Có ạ chỉ cần bắt lấy nữa thôi.
- Thế thì bắt đi, đồ chó đẻ.
- Con bắt ư? Xin mời ngài đi theo con, rồi sẽ thấy. Nhưng phải quàng lên.
- Đi đâu?
- Đến chỗ bể nước. Heghétduy đã xuống dưới ấy. Giời ơi là giời!
- Một mình à?
- Ba tên lính của ông ta đứng canh bên cửa bể nước.
Mectsei hộc tốc lao xuống cầu thang.
Đến dưới chân tháp, anh gọi sáu chiến sĩ lại bên mình và bảo:
- Đi theo ta, không mang binh khí gì cả! Bỏ ủng ra! Đem theo dây da hoặc dây thừng!
Sáu chiến sĩ lặng lẽ tuân lệnh.
Khi họ đã xuống khỏi pháo đài, Mectsei nói tiếp mệnh lệnh:
- Chúng ta đi đến chỗ bể nước. Ba người lính đang ngồi ở đó hoặc có thể đứng, hoặc có thể nằm. Các ngươi hãy từ đằng sau xông lên bắt lấy chúng và trói cổ lại. Sau đó dẫn chúng vào ngục giao cho người cai ngục, bảo anh ta giam chúng lại. Không một tiếng kêu, một tiếng động nào đấy nhé!
Khu vực bể nước tối đen, ánh sáng chỉ chiếu tới đỉnh một cái cột cà khổ. Bắt đầu từ chỗ đó sáu chiến sĩ đi bằng bốn chân tay. Gã xigan làm dấu thánh giá lên mình.
Vài phút sau có tiếng lách cách, huỳnh huỵch, tiếng chửi rủa vang lên ở khu vực bể nước. Mectsei liền chạy đến.
Ba tên lính kia đã bị trói nằm dưới đất. Cả hai cánh cửa bể nước mở toang. Mectsei cúi nhìn vào. Dưới ấy là bóng tối lặng lẽ.
Anh quay lại khe khẽ hỏi gã xigan:
- Ở đây à?
- Chính con đã trông thấy lúc ông ấy đi xuống.
- Trung úy Heghétduy à? Mày không nhầm chứ?
- Ông ấy đấy ạ!
- Chạy mau vào chỗ ngài đại úy trấn thủ. Tìm ở chỗ pháo đài mới ấy. Bảo là ta mời ngài đến đây! Dọc đường nhớ nói với thượng úy Gergey phái ngay năm tay súng đến.
Gã xigan co giò chạy.
Mectsei tuốt gươm cầm tay, ngồi xuống bậc cầu thang dẫn xuống bể nước.
Lúc đó ở dưới kia tựa hồ có những tiếng động văng vẳng.
Mectsei đứng dậy, đóng một bên cánh cửa che cầu thang
Ở phía trên nghe rõ tiếng bước chân đi đến của năm tay súng và gần như cùng một lúc với họ, của Đôbô cùng với đồng Karixtôp. Người võ đồng xách một cái đèn soi đường cho Đôbô.
Mectsei ra hiệu cho họ nhanh nhanh lên. Những tiếng động dưới bể nước lúc đó đã to dần.
- Đằng này, đằng này! – Một giọng trầm vang lên dưới sâu.
Đôbô ra lệnh cho năm tay súng lên cò, họ phải kê súng lên mép hầm cầu thang bể nước, chĩa nòng xuống. Sau đó ông nói:
- Kơrixtôp, đến chỗ ngài Gergey lấy thêm hai chục người nữa lại đây.
Ông cầm lấy cây đèn trong tay chú, đặt xuống bên chân cột để ánh sáng khỏi chiếu vào hầm.
Dưới sâu có tiếng lách cách của binh khí, tiếng bước chân lạo xạo.
- Đằng này, đằng này! – Tiếng nói nghe đã rõ hơn.
Một tiếng bõm mạnh vào nước, liền đó một tiếng bõm khác… Tiếng kêu eiva (Úi chà). Međêt! (Ối). Lại những tiếng lõm bõm…
Cánh cửa che cầu thang kêu đánh cộp. Rồi một người nhô đầu lên. Đôbô vớ cái đèn lên, soi vào mặt y.
Đó là trung úy Heghétđuy, mặt y xám ngắt như chì.
Mectsei thộp lấy cổ áo y.
- Bắt nó lại! – Đô bô quát.
Những bàn tay mạnh mẽ vồ lấy viên trung úy, lôi y ra khỏi hầm.
- Tước vũ khí!
Dưới kia tiếng lõm bõm vẫn mỗi lúc một vẳng lên nhiều hơn, rồi tiếng kêu bối rối loạn xạ:
- Jetisin! Jetisin! (Cứu với! Cứu với!).
Đôbô rọi đèn xuống một thoáng. Thì ra dưới đó rất đông bọn Thổ đội tuyban, binh khí tua tủa, đang dò dẫm trong bể nước rộng, tối thăm thẳm, và ở một đường hầm bên cạnh những tên khác vẫn đẩy nhau ùa vào.
- Bắn! – Đôbô thét.
Năm tay súng nhả đạn vào hầm.
Cái hầm nước ầm vang như ruột khẩu đại bác. Tiếng la hét tức tối đáp lại.
- Cậu ở lại đây nhé. – Đôbô bảo Mectsei – Cần phải đi vào trong đường hầm, đi đến tận cùng. Nếu nó xuyên qua ra ngoài thành, chúng ta sẽ lấp lại, trát kín lại. Lúc nào cũng phải cử một người lính gác đứng bên tường.
Rồi quay sang đám chiến sĩ, ông trỏ Heghétđuy và các đồng lõa của y:
- Lấy gông sắt gông chúng nó lại! Nhốt riêng chúng nó ra từng đứa!
Và ông lại quay về pháo đài.
Từ dưới hầm sâu, Mectsei nghe một tiếng Hung vọng lên:
- Cứu với!
Anh soi đèn xuống. Một tên Thổ đội mũ da đang quằn quại trên xác những tên chết đuối: hắn đã kêu cứu.
- Các ngươi hãy dòng một cái dây xuống. – Mectsei bảo – nhỡ tên này cũng là người trong thành.
Cạnh đó có một sợi dây kéo nước, người ta thả cả gầu xuống. Tên sắp chết ngạt bíu vào gầu, ba chiến sĩ kéo hắn lên.
Lúc lên đến nơi, hắn há hốc miệng ra thở như một con cá leo bị kéo lên bờ.
Mectsei soi đèn vào mặt hắn. Đó là một tên akinji ria mép rất rậm. Nước từ ria mép và quần áo hắn nhỏ ròng ròng.
- Mày là người Hung à? – Mectsei hỏi.
Tên kia vội quỳ thụp xuống:
- Thưa quan, mày tha cho tao!
Bằng cách gọi Mectsei là mày như thế, gốc tích Thổ của hắn lòi ra.
Xuýt nữa Mectsei xô hắn trở lại xuống hầm sâu, nhưng anh đã kịp nghĩ đến việc để hắn lại làm chứng thì tốt hơn. Anh bảo các chiến sĩ:
- Tước vũ khí của hắn đi và giam hắn vào chỗ mấy gã nông dân chuyển thư ấy.
7
Ngày hôm sau, mồng bốn tháng mười, mặt trời mọc chiếu sáng một dải đất cao mới đắp xung quanh thành. Con hào sâu bao quanh thành về phía bắc giờ đây đã bị lấp từng quãng. Nơi trước kia là hào giờ đây đã thành gò.
Những gò đất mới đắp nhô lên đối diện với những chỗ tường vỡ. Bên dưới là bồi, cành cây khô, dây nho khô buộc thành bó, bên trên là đất. Chắc chắn quân Thổ sẽ tiếp tục công việc đó cho đến khi một vài gò đất đã cao đến mức có thể đặt pháo bắn thẳng vào trong thành và có thể xung phong vào thành không cần thang.
Đôbô quan sát công việc của chúng. Ông lặng lẽ, nét mặt bình tĩnh quan sát tất cả mọi hướng. Sau đó ông cho mời các sĩ quan. Ông mời vào phòng hiệp sĩ bốn viên thượng úy, một trung úy, một viên quản, một thập trưởng và một binh nhất. Cả viên thư lại Mihai người phát bánh, cũng được mời vào.
Cái bàn đã được phủ một tấm dạ xanh lá cây. Trên bàn đặt một cái tượng chịu nạn và hai cây nến cháy hai bên. Trong góc phòng là người đao phủ mặc quần áo dạ màu đỏ. Than đỏ hồng trong cái lồng ấp bên cạnh. Tay gã cầm một cái quạt gió. Bên cạnh cái lồng ấp còn có những thỏi chì và những cái kim.
Đôbô mặc quần áo dạ đen. Cái lông đại bàng của hàm đại úy cắm trên chỏm mũ sắt. Một tờ giấy trắng đặt trước mặt ông.
- Các chiến hữu, - ông nói, nét mặt nghiêm nghị gần như cau lại – sở dĩ chúng ta hội họp lại đây là để xét xử trường hợp của trung úy Heghétđuy và các đồng lõa của y. Hành động của chúng chứng tỏ chúng là những tên phản bội. Chúng ta sẽ xét xử chúng một cách phù hợp với lương tâm.
Rồi ông ra hiệu dẫn các tội nhân ra.
Gergey đứng lên nói:
- Thưa các ngài, trong việc này tôi không thể làm quan tòa được. Tôi đang có điều bất hòa với bị can. Xin các ngài hãy cho tôi rút khỏi ghế buộc tội.
Mectsei cũng đứng dậy nói:
- Tôi chỉ có thể làm chứng mà thôi. Không ai có thể vừa làm quan tòa lại vừa làm chứng được.
- Vậy ông hãy làm chứng. – Những người ngồi quanh bàn trả lời.
Gergey rời khỏi soái phủ, Mectsei đi ra tiền sảnh.
Lính gác dẫn Heghétđuy cùng ba đồng lõa của y vào, và cả tên Thổ nữa.
Heghétđuy tái mét mặt. Những quầng thâm viền quanh mắt y. Y không dám ngửng nhìn lên.
Đôbô chỉ để y lại, những tên kia ông bảo dẫn ra ngoài.
- Ngươi hãy nói cho chúng ta hay. – Ông nói - Việc đưa đường cho quân Thổ là việc gì thế?
Heghétđuy thu hết can đảm, ấp úng thanh minh:
- Tôi chỉ muốn lừa quân Thổ vào bể nước. Tôi không muốn nộp thành cho giặc. Bể nước thì rộng. Chúng tôi tìm thấy một lối hẹp đi vào qua bể nước. Tôi nghĩ nếu chính tôi tiêu diệt được hàng nghìn tên Thổ, công đầu sẽ thuộc về tôi.
Đôbô bình tĩnh nghe từ đầu đến cuối. Các sĩ quan cũng chẳng hỏi han gì y cả. Khi y không còn gì nói nữa. Đôbô sai dẫn y đứng sang một bên rồi lần lượt gọi từng tên lính vào.
- Chúng con, – tên đầu tiên nói – chúng con không thể làm gì khác ngoài lệnh của ngài trung úy. Chúng con phải vâng lời khi cấp trên ra lệnh.
- Nó ra lệnh như thế nào?
- Ngài trung úy ra lệnh cho chúng con đứng trên miệng bể nước để ngài đưa một vài tên Thổ vào.
- Nó nói sao, để làm gì?
- Để bàn việc nộp thành.
Đôbô nhìn viên trung úy, Heghétđuy lắc đầu:
- Không đúng! Nó nói dối!
- Con mà nói dối à? – Gã lính tức giận nói – Thế ngài trung úy đã chẳng bảo là quân Thổ hứa đủ mọi điều tốt đẹp, còn chủ tướng Đôbô chẳng hứa điều gì tốt cả, đến như tiền công cố thủ cũng không muốn trả.
- Nói láo. – Heghétđuy nhắc lại.
Người ta dẫn tên lính thứ hai vào.
- Tại sao chúng mày lại ở bên giếng?
- Chúng con chờ quân Thổ ạ. – Gã buồn rầu đáp – Ngài trung úy bảo rằng trước sau rồi thành cũng lọt vào tay quân Thổ, vậy chẳng thà được tiền còn hơn là đổ máu. Nếu chúng ta không nộp thành, chắc chắn chúng ta sẽ chết.
Đôbô sai dẫn cả gã thứ ba vào.
- Con không biết gì cả ạ. – gã ấp úng – con được phái đến bên giếng thôi ạ, chứ còn tại sao, con không biết ạ.
- Trung úy Heghétđuy không bảo mày rằng điều đình với quân Thổ thì tốt hơn hay sao?
- Cái ấy thì có đấy ạ.
- Lần đầu tiên trung úy nói vào lúc nào?
- Vào buổi tối sau đợt đại công kích ạ.
- Trung úy nói thế nào?
- Trung úy nói là ấy … rằng trung úy bảo là: chúng ta ít người, quân giặc thì đông, rằng là đấy, những thành khác cũng có giữ được đâu, vậy mà lúc đó quân Thổ còn đi riêng làm hai đạo.
- Trung úy Heghétđuy có nói gì về khoản tiền cố thủ không?
- Có ạ. Trung úy nói đáng lẽ chúng con phải được lĩnh gấp đôi tiền.
- Còn về việc nộp thành thì trung úy nói sao?
- Nói rằng là ấy … trung úy bảo rằng, thì quân Thổ thể nào rồi cũng lấy được thành, vậy thà để chúng nó trả tiền cho, còn hơn là để đầu cũng mất.
- Thế quân lính nói lại thế nào?
- Dạ, không nói gì cả. Khi quân Thổ gọi vào, chúng con chỉ nói chuyện bên cạnh đống lửa thôi ạ.
- Các ngươi không đối đáp với chúng ư?
- Không ạ. Chỉ có ngài trung úy nói chuyện với chúng vào lúc khuya thôi.
- Nói bằng cách nào?
- Nói qua một kẽ nứt ổ chỗ Cổng Cũ ấy ạ. Trung úy đi đến chỗ ấy và nói chuyện đến ba lần cơ ạ.
- Với quân Thổ à?
- Với quân Thổ ạ.
- Và khi quay về, trung úy nói gì?
- Trung úy nói là quân Thổ để cho tất cả mọi người rút đi không động chạm gì đến, không chém ai cả. Ngoài ra còn trả cho toàn lính Koso mỗi người mười đồng vàng, với lại hai pasa gửi thư có tướng ấn đến để bảo đảm lời hứa.
- Trong số lính ở đấy, mấy người nghe nói về chuyện đó?
- Độ mươi người.
- Thế tại sao các người không báo cho ta biết? Các ngươi đã chẳng thề không nói chuyện về việc nộp thành hay sao?
Gã lính im bặt. Đôbô tiếp:
- Đáng lẽ bổn phận của các ngươi là phải báo cáo ngay về câu chuyện của ngài trung úy!
- Chúng con không dám ạ.
- Tóm lại các ngươi đã rắp tâm trao thành vào tay giặc Thổ. Những ai đồng tình vào việc này?
Gã lính kể ra bảy tên nữa, sau đó gã phân trần:
- Chúng con, thưa ngài đại úy, chúng con không đồng tình đâu ạ. Chúng con chỉ tuân theo mệnh lệnh. Chỉ có ngài trung úy nói thôi, ông ta đã ra lệnh cho chúng con ạ.
Bức tường bị viên đạn bắn vào kêu lên một tiếng. Những bộ giáp treo trên dãy cọc rung lên lách cách. Một mớ vôi vữa trên tường rơi xuống sàn nhà.
Đôbô nhìn các quan tòa:
- Ai còn gì hỏi nữa không?
Các quan tòa ngồi bên bàn hầu như cứng đờ cả người. Cuối cùng viên quan tòa binh nhất lên tiếng hỏi:
- Mười người lính đã đồng tình vào việc giao thành cho quân Thổ à?
Gã lính tái mặt, nhún vai:
- Người lính không thể muốn gì khác ngoài điều mà sĩ quan của mình muốn.
Không còn câu hỏi gì khác.
- Đang còn tên Thổ nữa – Đôbô nói – Dẫn nó vào đây.
Tên Thổ cúi vài ba lần rồi mới đi tới trước cái bàn. Tới đó hắn đứng khom lưng xuống, tay vòng lại trước ngực
- Tên mi là gì? – Đôbô hỏi.
- Iuxup.
- Iuxup, tiếng Hung nghĩa là IôJép. Đứng thẳng người lên!
- Tên Thổ đứng thẳng dậy. Hắn là một tên akinji khoảng chừng ba chục tuổi, người chắc nịch, bắp thịt nổi cuồn cuộn. Cái mũi bị tẹt và vết sẹo đỏ trên đầu chứng tỏ hắn đã từng xông pha nhiều trận mạc. Trả lời cho các câu hỏi, hắn nói hắn đã ở nước Hung mười năm nay, hắn đã đứng bên tường thành khi Heghétđuy hỏi qua kẽ nứt: - Ê, bọn Thổ, đứa nào biết tiếng Hung?
- Nó nói láo. – Heghétđuy lầm bầm – Zôntôi cũng luôn luôn nói chuyện với quân Thổ đấy thôi.
- Tôi? – Zôntôi hỏi như quát lên.
- Đúng cậu nói. Mỗi lần có đợt công kích cậu đều luôn luôn kêu to lên với chúng nó.
Zôntôi tái người đi vì giận, nhảy dậy khỏi ghế ngồi.
- Tôi đề nghị điều tra về bản thân tôi. Tôi không thể tiếp tục ngồi trên ghế quan tòa nữa. Còn mỗi khi tôi đánh tôi lại kêu lên một tiếng, cái đó có thể. Nhưng đó chỉ là tiếng chửi. Đó không phải là lầm lỗi! Nói như vậy là nghĩa lý gì?
Đôbô nói để anh bớt giận:
- Tất cả chúng ta đây đều biết cái thói quen đó của anh, và chẳng ai vì thế mà nói anh. Nhưng vì anh đã nổi giận đối với kẻ bị cáo, chúng ta miễn cho anh khỏi việc xét xử.
Zôntôi cúi chào và đi ra. Đôbô lại nhìn tên Thổ.
Bằng một thứ tiếng Hung cà khổ, hắn kể rằng Heghétđuy đã nói chuyện với một tên aga, sau đó với bêi Orơxơlan ở chỗ Cổng Cũ. Heghétđuy đã đề nghị tên bêi hứa lời hứa danh dự làm chứng và đưa một trăm đồng vàng. Heghétđuy đã nói đến đêm sẽ đưa đường cho tất cả đạo quân vào thành, chỉ cần đào hầm bên cạnh cổng chỗ vẫn thường đặt cái trống đồng lớn. Y (hắn chỉ Heghétđuy) nói là một đêm y đã đi trong bể nước và tìm thấy một đường hầm, nhưng đường hầm đó đã bị lấp ở chỗ Cổng Cũ. Ở chỗ lấp y nghe tiếng trống đồng đánh ngay trên đầu và nghe cả tiếng bước chân của bọn lính, như vậy không cần phải đào nhiều lắm. Đến mười hai giờ đêm, y sẽ chờ bọn kia. Nhưng bọn kia cũng cần phải đảm bảo sẽ không phạm đến những người lính Koso đứng ở chỗ Cổng Cũ. Chúng nó thỏa thuận. Nửa đêm Heghétđuy xách đèn dẫn đường cho chúng. Bọn Ionisa, axap và piát lẫn lộn cùng vào. Ba nghìn tên đi vào đường hầm. Những bộ phận khác của đạo quân, có trời biết bao nhiêu nghìn tên, chờ hai cửa thành sẽ mở. Nhưng một sự cố đã xảy ra là cái đèn của Heghétđuy bị va vào tường ở chỗ góc bể nước và tắt ngầm. Y tiếp tục dẫn tiền đội đi trong bóng tối. Y biết đường đi nhưng thành bể nước hẹp, trong bóng tối y có thể đi được nhưng đám lính tiền đội chen chúc nhau nên ngã xuống nước.
- Mi có biết về chuyện bêi Đạo sĩ cướp mất đứa con trai của một thượng úy bên chúng ta không? – Đôbô hỏi.
- Có ạ. Đã hai tuần nay người ta tìm đứa bé ấy khắp trong các trại. Ngài bêi sai đi tìm. Người ta đã ăn cắp mất của ông ta, hoặc giả đứa bé đã trốn mất vào ngày thứ ba sau khi đến đây.
Đôbô nhìn Heghétđuy và nói:
- Đồ khốn kiếp!
Heghétđuy quỳ sụp xuống:
- Xin các ngài khoan thứ, xin các ngài đoái thương đến thân tôi: Tôi đã lầm lạc, đầu óc tôi đã lú lẩn.
- Mi có thú nhận là mi đã muốn trao thành vào tay quân địch hay không?
- Tôi xin nhận.
Cuộc thảo luận không kéo dài quá một tiềng đồng hồ.
Sau đó, trung úy Heghétđuy đã lủng lẳng giữa bãi chợ, trên cái giá treo cổ đóng vội bằng một thanh xà. Phuyghet loa to với dân thành:
- Tất cả những kẻ phản bội lời thề, bất kể lính thường hay sĩ quan mà muốn trao thành vào tay giặc Thổ đều chết như thế này cả!
Ba gã lính trơn bị xẻo tai dưới giá treo cổ. Bảy tên nữa bị xiềng chân và sai đi phục dịch ở trong thành.
Còn tên Thổ, người ta ném nó ra ngoài thành qua bức tường cao ở phía tây cho nó rơi xuống gãy cổ giữa đồng bọn.
Dân thành có thể thấy rằng Đôbô không đùa.
8
Tình mẹ. Người mạnh hơn tất cả mọi sức mạnh trên đời! Người là ánh dương náu trong cơ thể con người! Người là ngọn lửa thiêng từ trái tim Thượng đế giáng trần, là sự dịu dàng mà vô địch, không sợ cả cái chết!
Người, kẻ đã từ bỏ mái nhà yên ổn, gối êm đệm ấm, tất cả gia tài châu báu để cải hình đổi dạng vượt qua cái chết trùng trùng điệp điệp mà đến với những người thân yêu đang bị hiểm nguy đe dọa của Người! Người, kẻ chui xuống lòng sâu quả đất, với thanh gươm mỏng manh mà muốn vượt qua tường thành, bức tường thành mà hàng trăm ngàn con dã thú vũ khí tua tủa lúc nhúc phía trước mặt đang phải gào thét một cách bất lực! Người, kẻ không biết đến những việc gọi là không thể được mỗi khi nói về người mà Ngươi yêu, dù có phải đồng nguy cộng khổ, cùng chịu chết với họ chăng nữa – Ôi trái tim phụ nữ, ta xin bái phục Người!
Suốt hai đêm, hai ngày họ đào cật lực qua những chỗ sụt của đường hầm, trong cái lạnh lẽo ẩm ướt dưới những vòm trần lúc nào cũng chỉ chực đổ. Đôi chỗ đường chỉ bị lấp có vài bước, sau một giờ lao động họ đã có thể chui qua. Nhưng đôi chỗ họ phải trầy trật với cả những tảng đá, mà cánh tay phụ nữ yếu đuối cũng như cánh tay của người thiếu niên mười lăm tuổi chẳng lấy gì làm mạnh khỏe cho lắm đều không quen với loại công việc như vậy.
Đêm mồng ba tháng mười, khi trại giặc vừa yên ngủ, họ mang theo tất cả số lương thực. Theo tính toán của họ thì tòa thành chỉ còn cách họ chừng trăm bước. Họ hy vọng sẽ không phải quay trở lại lần nữa.
Và họ làm việc suốt đêm.
Ở dưới đất họ không thể biết được khi nào trời hửng, khi nào mặt trời lên. Suốt đêm họ nghe tiếng vó ngựa chở đất và chở cành cây, họ nghe cả tiếng nổ của tu pháo và các cỡ đại bác trong thành. Ở dưới đó họ cứ ngỡ là có tấn công ban đêm và họ làm việc càng hăng hái hơn để có thể lọt vào thành được.
Nhưng ngoài kia trời đã hửng, bình minh đến, rồi mặt trời nhô lên sau những dải núi xứ Bôrơsốt. Gia nhân của tên lái ngựa Thổ trông thấy cảnh hoang vắng của cái lều bèn nhòm vào. Hòn đá bị vần sang một bên và cái miệng hầm rộng làm chúng vô cùng kinh ngạc. Vì bọn kỵ binh đã lại tản đi khắp nơi để thu nhặt cành cây, tên lái ngựa đích thân chạy bổ đến chỗ một tên võ quan đeli và hầu như run lên vì mừng rỡ, báo cáo:
- Thưa quan, con xin trao thành vào tay quân đội. Đêm qua con vừa phát hiện ra một đường hầm!
Đông đảo bọn đeli, bọn akinji, bọn bêli, và gureba lập tức bỏ cành cây, bỏ ngựa giữa đồng. Tiếng kèn tập hợp vang động. Lính của tất cả các cờ ngũ chen chúc xáo trộn vào nhau, binh khí va chạm lách cách, reo hò xô nhau qua miệng hầm xuống lòng đất. Tên lái ngựa cầm đuốc dẫn đường.
Trong lúc đó, hai linh hồn đáng thương đang trườn, bò, bì bõm, dọn dất vần đá, cố gắng tiến lên phía trước. Đến một chỗ con đường lại trở nên dốc và mở rộng ra có những hòn đá khô ráo. Họ đi vào một cái phòng ngầm rộng hình tam giác và ẩm ướt.
- Chúng ta đang ở bên dưới con hào ngoài thành thì phải – Mikơlốt nói.
Nhưng hai góc kia của cái phòng ngầm đều bị đất sụt lấp kín. Trong hai góc đó, góc nào có lối đi?
Ở một góc, đất sụt võng xuống hình yên ngựa. Trên đỉnh có một lỗ hổng nhỏ, may lắm cũng chỉ đút lọt nắm tay. Ở góc kia, bên cạnh lớp đất sụt có một kẽ nứt nhỏ.
- Ở đây con đường chia hai ngả - Mikơlốt nói – vấn đề bây giờ là chúng ta phá lối nào?
Cậu đứng lên mấy hòn đá, giơ cây nến vào chỗ lỗ hồng. Ngọn lửa lay động. Cậu lại thử ở chỗ kẽ nứt phía bên trái. Ở đó ngọn lửa cứ đứng yên. – Cậu cắm cây nến lên vành mũ rồi bíu vào hòn đá ở trên cùng. Êvô đến giúp sức. Hòn đá lộc cộc lăn qua những hòn khác.
- Một hòn nữa! – Mikơlốt nói.
Cả hai lại cố sức kéo. Hòn đá này không chịu nhượng bộ.
- Ta phải đào những hòn đá nhỏ xung quanh nó ra.
Mikơlốt nói rồi cầm lấy xẻng hớt lớp đất sỏi xung quanh hòn đá. Sau đó họ lại bíu vào nó. Hòn đá lung lay.
Mikơlốt thở phào một cái, đưa tay lên lau mặt.
- Mệt quá. – Cậu mỏi mệt nói.
- Nghỉ một tí. – Êvô đáp.
Họ ngồi xuống một hòn đá. Mikơlốt ngã lăn ra và ngủ thiếp đi luôn.
Êvô cũng choáng váng, mệt tưởng chết được. Quần áo nàng ướt sũng đến ngang đầu gối, bùn lấm be bét, tay nàng rơm rớm máu. Vì cứ phải cúi lên cúi xuống nhiều, tóc nàng xổ tung ra, một nửa lấp trong áo đônman, một nửa xõa ra ngoài áo, phất phơ vờn quanh cổ.
Nàng cầm cây nến soi vào cả hai lỗ hổng. Cà hai đều chỉ con đường tự do.
- Ta nghỉ một tí. – Nàng vừa gắn cây nến xuống mặt hòn đá vừa nói – Nhưng ta không ngủ đâu, không, ta chỉ nghỉ thôi.
Vừa ngả lưng ra phía sau, nàng đã nghe tiếng vang khe khẽ ở đằng trước. Nàng nhíu lông mày nhìn vào bóng tối phía trước mặt: tiếng ồ ạt ở trên kia hay ở dưới này?
Từ đằng kia đường hầm, một tia sáng đỏ vụt hiện ra.
- Mikơlốt! – Êvô rú lên, lay cậu thiếu niên – Chúng nó đến đấy!
Người thiếu niên mệt mỏi giương mi mắt lên.
- Chúng nó đến đấy! Êvô tuyệt vọng nhắc lại và đưa tay lên đốc gươm.
Thanh gươm chỉ còn lại cái vỏ. Nó đã nằm lại ở một chỗ hầm sụt nào đó, nơi họ bẫy đá. Những thanh gươm cong cái quanh thắt lưng nàng cũng đã bị gãy hết trong lúc làm việc, cả con dao găm cũng vậy. Trong tay họ không có gì nữa.
Ánh sáng càng đến gần càng rõ dần.
Êvô thu hết sức lực bíu vào tảng đá. Mikơlốt cũng vậy. Cây nến của họ tắt phụt. Tảng đá nhúc nhích nhưng vẫn không chịu nhường bước.
Họ rụng rời nhìn tên lái ngựa cầm đuốc từ trong bóng tối nhô ra, và cạnh hắn tên aga hộ pháp, ria dài lòng thòng, quanh thắt lưng lấp lánh những thanh gươm cong.
Sau đó là những bàn tay vỗ xuống người họ.
Tên aga đưa mắt nhìn cái công việc đang làm dở và nhanh chóng quyết định.
- Nhãi con, cầm lấy cây đuốc! Ở đây mày đã biết đường rồi. – Hắn bảo Mikơlốt.
Mikơlốt không hiểu lời nói, cậu chỉ biết chúng nó ấn cây đuốc vào tay cậu. Chỉ một loáng bọn lính giặc đã dở hết những tảng đá nặng. Con đường rộng bằng hai tầm người đã mở thông. Căn phòng ngầm chật ních lính địch.
- Mày sẽ dẫn chúng tao đi. – tên aga bảo Mikơlốt – Còn tên kia – hắn nhìn sang Êvô nói tiếp - ở lại đây. Nếu mày dẫn chúng tao đi lạc hướng tao sẽ quẳng con đàn bà này vào giữa đám lính.
Một tên ionisa dịch lời hắn nói.
Êvô nhắm mắt lại.
Tên aga ngoái nhìn ra sau ra lệnh:
- Một đeli giữ lấy nó!
Rồi hắn xô Mikơlốt đi lên trước.
Một tên đeli đến đứng bên cạnh Êvô, những đứa khác tiếp tục đi. Nhưng vì tên aga không nói đích đứa nào phải giữ tù binh nên tên đeli liền chuyển ngay sang cho một tên đeli khác.
- Mày giữ lấy nó!
Tên này cũng đứng cạnh một lát, nhưng rồi hắn sực nhớ ra rằng những kẻ nào vào được thành trước tiên sẽ được phong quan to đến mãn kiếp, hắn liền định chuyển tù binh cho một tên mưxenlem.
- Tao không giữ đâu – Tên mưxenlem trả lởi và tiếp tục bước đi.
Tên đeli cáu tiết uất người.
- Được, để tao giữ cho, mày cứ đi đi - lúc đó một tên axap nhỏ bé đội mũ lông bảo tên đeli như vậy rồi tuốt gươm cong đến đứng bên người thiếu phụ.
Êvô dở sống dở chết tựa người vào vách. Những tên lính ăn mặc đủ các loại trang phục khác nhau, bẩn thỉu, nồng nặc mùi thuốc súng và mùi hành, hấp tấp bước qua bên cạnh nàng. Đứa nào đứa nấy gươm đều đã tuốt trần lăm lăm trong tay, mắt tất cả chúng nó đều đã cháy rực niềm hy vọng chiến thắng.
Thỉnh thoảng một tên lính cầm đuốc soi đường trước một tốp lính mới lại đi đến. Cũng có một đôi tốp chỉ dò dẫm trong bóng tối mà đi vào. Binh khí lách cách loảng xoảng trên mình chúng. Một tên địch vác trên vai một lá cờ lớn màu đỏ.
Chợt một tiếng rầm rầm xa xăm bỗng vẳng lên tựa hồ như sấm ran trong lòng đất. Con đường hầm, từ chỗ đổ vào phòng ngầm lui về phía sau một quãng dài đổ sập xuống. Tiếng rầm rầm kéo dài đến mấy phút. Đá lở, đá lăn phát ra tiếng động trầm trầm. Sau đó không một kẻ nào còn có thể vào thêm được nữa.
Từ hướng hầm sập có tiếng rên la và tiếng thở dốc vẳng đến. Về phía ngược chiều lại là tiếng lách cách khe khẽ của khối binh khí đang đi xa dần.
Tên lính canh người thiếu phụ bỗng nói bằng tiếng Hung:
- Cô đừng sợ!
Và y cầm lấy tay người thiếu phụ hỏi:
- Cô là ai?
Người thiếu phụ không thốt nổi nên lời.
- Cô là người Hung chứ?
Người thiếu phụ gật đầu.
- Cô hãy đi theo tôi. – Tên axap nói. - Ở đây con đường rẽ hai ngả. Nếu tôi mở được lối kia chúng ta sẽ thoát. Nhưng nếu chỗ này cũng bị sập nữa ….
Êvô lại cảm thấy cái dòng sự sống luân chuyển trong mạch máu của mình.
- Bác là ai? – Nàng tỉnh người lại, hỏi.
- Tên tôi là Vosanhi. Tôi muốn làm điều tốt cho cô.
Anh ta lấy từ trong thắt lưng một thỏi thép và đá lửa rồi đánh lửa lên. Cái bùi nhùi mau chóng bắt lửa. Làn khói thơm hòa lẫn vào không khí ngột ngạt của đường hầm. Anh ta giơ bùi nhùi lại chỗ cây nến và thổi. Cây nến cháy bừng lên. Căn phòng lại tràn đầy ánh sáng.
- Cô hãy cầm lấy cây nến này.
Anh ta bước đến chỗ đất sụt phía bên trái và chỉ lắc một cái đã làm lung lay những hòn đá. Anh nhỏ người nhưng khỏe sức. Những hòn đá vuông to lần lượt lăn đi, hòn lăn ra ngoài, hòn lăn vào trong. Chẳng bao lâu đã có một lỗ hổng vừa đủ cho một người có thể chui qua.
Anh cầm lấy cây nến trong tay người thiếu phụ và đi lên trước. Một bàn tay anh xòe ra che trước ngọn nến. Anh đi vội đến nỗi Êvo phải khó khăn lắm mới theo kịp.
Con đường chỗ đó đã quang hơn nhưng họ vẫn cứ còn phải đổ dốc.
Voxanhi bỗng nhiên quay người lại hỏi:
- Cô là ai? Có lẽ cô từ chỗ hoàng thượng đến chăng?
- Từ đấy đến. – Êvo trả lời, cứ như thể đang nói mê.
- Chúng tôi có nhận được viện binh không?
- Tôi không biết
- Thôi, đằng nào cũng thế. Phải chi tôi biết được chúng ta đang ở đâu. Chúng ta phải đi gấp lên để vào trước bọn Thổ.
Con đường đã dốc lên. Ở hai bên đường đôi khi đã thấy một vài phòng ngách. Còn những hòn đá thì lại màu nâu và hơi ẩm lấp lánh như sương trên vách đá.
- Chúng ta vào đến trong thành rồi. – Voxanhi nói – Chúng ta sẽ chui ra ở chỗ bể nước chứ không sai.
Một đống vữa trắng ngăn con đường lại, mùi vôi nồng nực phả đến chỗ họ.
Voxanhi chửi:
- Cha chả, purgatorium[82].
- Cái ấy nghĩa là gì?
- Không có gì cả, nào. Tôi sẽ trèo lên trước. Cô cầm lấy cây nến này.
Anh nẳm áp bụng lên đống vữa, bò qua. Êvo thò tay đưa cây nến sang. Voxanhi đã đứng ở phía trong anh cầm lấy cây nến và lầu bầu cái gì không rõ. Rồi anh giúp Êvo bò qua đống vữa.
Họ đứng trong một căn hầm rộng và trắng lóa. Từ phía trên, tiếng kinh cầu siêu vẳng xuống: Bái laparadisum deducant te angeli[83] và từ cao hơn nữa, ánh sáng ban ngày le lói chiếu xuống.
Căn hầm đầy những quan tài trắng để chồng chất lên nhau, và khắp xung quanh là vôi pha loãng. Trên mép các quan tài, vôi khô đi thành những viền tua tua. Một bên vách căn hầm, cạnh đống quan tài, một xác chết mặt gầy gầy có ria mép, mặc áo, nhô ra khỏi bể nước vôi trong tư thế nghiêng nghiêng. Ánh sáng phía trên lọt xuống chiếu sáng khuôn mặt xác chết, một sợi dây lủng lẳng trên cổ.
Voxanhi kinh ngạc nhìn cái xác đó. Rồi anh ngoái nhìn lại.
Êvo ngã lăn trên mặt đất sau lưng anh, bất tỉnh nhân sự.
Trong thời gian đó, người thiếu niên phải đưa đường cho quân Thổ đi.
Thoạt đầu cậu sững sờ vì khiếp hãi, nhưng sau đó cậu nghĩ rằng nếu chui lên được vào trong thành cậu sẽ hô hoán lên. Ý nghĩ đó làm cậu cứng rắn lên. Không chút nao núng, cậu giơ đuốc khi đi trước tên aga, khi đi bên cạnh hắn.
Chẳng mấy chốc, cậu và chúng nó cũng đi ngược lên. Không gặp trở ngại gì, cậu và chúng đến chỗ một bức tường xây bằng thứ sa thạch giống như thứ đã ở khắp mọi nơi trong khu vực Eghe, lớp hồ xây tường tỏ ra người ta xây nó chưa lâu lắm.
- Phá nó ra! Tên aga ra lệnh.
Lớp hồ chẳng mấy chốc đã rời rã dưới mũi thép của những thanh gươm cong và những ngọn giáo. Chúng nó chỉ hơi vất vả gỡ vài ba hòn đá đầu, những hòn sau dễ dàng xê dịch trước sức mạnh của những cánh tay rắn như thép. Tuy vậy, chúng nó vẫn phải làm hơn một tiếng đồng hồ. Khi kẽ hở đã lớn bằng bề ngang con người, tên aga ra lệnh cho Mikơlốt lách qua.
Cậu và chúng nó lọt vào một nơi giống như một cái hầm rộng. Khắp nơi đầy những thùng là thùng. Chỉ có điều đặc biệt là chỗ đó có vẻ giống một cái phòng hơn là giống một cái hầm. Trên tường có cả một bức tranh lớn đã rách, ngay bên dưới bức tranh là một cái bồn tròn. Trên bức tranh còn có thề thấy hai cái đầu. Một cái có râu, nét mặt buồn rười rượi. Cái thứ hai là đầu một thiếu niên, cũng buồn, đang gục vào ngực người có râu. Trên đầu họ có vòng hào quang. Bên dưới đầu người thiếu niên bức tường trắng ló ra giữa những xơ vải rách.
- Binh khí cầm tay! – Tên aga khe khẽ truyền lệnh ra phía sau – Im lặng tập hợp. Im lặng! Im lặng!... Khi nậy cửa không được phép hô hét! Nếu không thấy ai, chúng ta sẽ chờ những người đến sau! Những tên cầm cờ phải lập tức vọt lên mặt thành!
Thấy những tên đứng quanh gật đầu tuân lệnh, hắn lại tiếp:
- Chúng ta sẽ xung phong về phía cổng. Không có khoan hồng! Việc trước hết là tước khí giới bọn lính gác ở đó và mở cổng. Chúng mày đã hiểu chưa?
- Hiểu rồi ạ. – Tiếng đáp của bọn lính khe khẽ vang lên. Tên aga bước lên trước và chợt trông thấy cái bồn to chứa đầy thuốc súng ở trước cánh cửa sắt. Hắn hoảng hốt khựng lại.
Chúng nó đang ở trong kho thuốc súng. Trong những cái thùng to kia, không phải rượu vang mà là thuốc súng. Nhưng Mikơlốt cũng đã biết cậu và chúng nó đang ở đâu. Đến bên cái bồn to, cậu quay ngoắt lại. Cậu nhìn suốt cái đám đông vũ trang đang chen chúc nhau. Mặt cậu tái đi, đượm vẻ thâm trầm. Cậu giơ cây đuốc đang cháy lên, dúi vào bồn thuốc súng.
9
Khi người ta đóng cái quan tài xuống. Vosanhi kêu to lên với họ:
- Hê, bà con ơi!
Nghe tiếng kêu, những khuôn mặt sửng sốt xuất hiện ở bên trên, quanh cửa miệng hầm mộ. Một cái đầu trần, cái thứ hai đội mũ sắt gỉ, có quai da mắc vào cằm.
Vosanhi lại kêu với lên:
- Tôi đây, Vosanhi đây! Kéo tôi lên với!
Anh bế Êvo lên tay rồi bước từ quan tài này sang quan tài khác mà đến chỗ mấy cái dây thừng. Anh buộc hai cái thừng vào nhau rồi ngồi vào. Người ta kéo anh lên.
Bên miệng hầm mộ không có ai khác ngoài hai giáo sĩ và hai nông dân dòng dây. Mấy người đó nhạc nhiên nhìn Êvo nằm như một xác chết trên đám cỏ, nơi Vosanhi đặt nàng xuống.
- Các bác lấy nước lại đây! Vosanhi bảo hai nông dân.
Trong nháy mắt đó một tháp lửa đỏ đòng đọc phụt lên từ dưới pháo đài nhà thờ, cột lửa phụt lên đến tận trời, những mảnh gỗ đen, những thanh xà, đá cục, gỗ súc, thân người cũng bay lẫn theo trong đó.
Một tiếng nổ lay chuyển toà thành, vang to đến nỗi tất cả mọi người điếc đặc tai và ngã dúi dụi.
Từ không trung giội xuống một cơn mưa đá, máu, binh khí và gỗ thanh, gỗ thỏi.
Một sự yên lặng như chết kéo dài đến hàng chục phút tiếp theo tiếng nổ đó. Yên lặng như chết không những ở trong thành mà cả ở ngoài thành, trong trại quân Thổ cũng thế.
Tất cả mọi người choáng váng và sững sờ.
Trời đã sập xuống chăng? Hay là đất vừa mở miệng đến cho núi lửa tuôn lên thành địa ngục phủ ngập cả thế gian trong thác lửa khủng khiếp của ngày tận thế? - không một ai hiểu.
Mẹo giặc Thổ! – Đó là ý nghĩ độc nhất trong thành, trong tất cả mọi người.
Thành mất rồi! – Đó là cảm giác độc nhất đã làm hoá đá những trái tim vừa ngừng đập. Gergey lúc đó đang buộc những bình đầy chất giết người dưới chân pháo đài Sanđô. Luồng gió của vụ nổ quạt ra đã xô chàng vào những tấm lá chắn treo trên dây đinh, phủ kín tường. Khi ngước mắt lên, chàng trông thấy cột lửa toả rộng dần như cái phễu đỏ rực cả bầu trời, trong cột lửa đó có một cái bánh xe cối xay đen ngòm, xung quanh cái bánh xe là người nằm ngửa, quay tròn, rớt xuống và cả một cái cẳng chân còn nguyên, không có đùi.
Chàng còn đủ tĩnh trí để nhảy vào dưới vòm pháo đài, nhưng trong phút đầu tiên đó, cả chàng nữa cũng ngây bộ mặt bần thần điếc đặc ra mà nhìn.
Trong giây lát tiếp sau đó, dân thành nhốn nháo cả lên. Dân thường chạy ngược chạy xuôi, quân lính vứt bỏ vũ khí, phụ nữ kêu khóc, những con chiến mã giật đứt dây cương, dây hãm, điên cuồng chạy lồng lên khắp nơi.
Dưới kia, trại giặc Thổ vang tiếng hò la đắc thắng, những cái thang vượt thành giơ cao và hàng ngàn tên giặc tràn về phía thành.
- Tận số rồi! - Tiếng kêu vang lên khắp nơi trong thành.
Phụ nữ túm chặt lấy tay con cái họ, hoặc bế xốc vào lòng mà chạy nhớn nhác qua những hòn đá, qua những thanh xà đen nhẻm bồ hóng, qua những khúc gỗ đang cháy dở. Tất cả mọi người đều bỏ chạy nhớn nhác mà chẳng ai biết chạy đi đâu.
Từ không trung, tuyết đen dày đặc lả tả rơi xuống. Dày đặc đến nỗi cách nhau mươi bước đã không thể nhìn thấy gì nữa. Đó là muội than. Nó bay xuống phủ khắp thành, tựa hồ như muốn khoác áo tang lên toà thành.
Những xác chết nát bét, những chân tay người hoen máu nằm lay lắt trên những hòn đá và những thanh gỗ rải rác khắp nơi.
Đôbô đầu trần, gò cương ngựa phi đến chỗ xảy ra vụ nổ và ra lệnh cho quân sĩ lên mặt thành.
- Không có gì xảy ra cả! – Ông quay sang hai bên thét to – Chỉ có hai mươi bốn tấn thuốc súng trong kho đồ thánh đấy thôi!
Tất cả các sĩ quan đều nhảy lên ngựa và lấy lời Đôbô để trấn an dân thành ở khắp mọi nơi.
- Tất cả mọi người hãy trở về vị trí! Chỉ có hai mươi bốn tấn thuốc súng…
Mectsei nổi cáu dùng một cái cán thương gãy đánh những người lính bần thần và không tuân lệnh.
- Cầm lấy vũ khí, đồ chó Do Thái[84]!
Bản thân anh cũng nhảy xuống ngựa, giật lấy một cây thương cán to, lao lên mặt thành – Theo ta, bớ quân sĩ! Kẻ nào đáng mặt nam nhi hãy theo ta!
Một loạt đạn dài đón tiếp những tên Thổ đang leo thang. Những chiến sĩ ở quảng trường thành trong không có lệnh cũng chạy lên mặt thành, và chùy, thương, gươm, cuốc chim vung lên tới tấp.
Quân Thổ cũng xô đẩy nhau tiến thoái một cách hỗn độn, và ở bên ngoài thành sự bối rối cũng chẳng kém gì bên trong.
Chúng nó ồ ạt xông đến đông nhất ở chỗ xảy ra vụ nổ. Từ trên pháo đài của mình, trong cơn mưa muội than, Gergey trông thấy đoàn quân Thổ pha tạp đổ xô về phía pháo đài Nhà thờ.
- Anh ở đây nhé! – Chàng kêu to lên bảo Zoontoi, rồi tuốt gươm ra lao đến pháo đài Nhà thờ
Dọc đường chàng chạy qua bên cạnh những cái vạc lớn. Đó là những cái vạc nấu xúp cho những người nghỉ phiên buổi trưa, đáng lẽ bây giờ họ đã vào ăn rồi. Gergey liếc mắt nhìn tám cái vạc lớn, món xúp thịt thái nhỏ đang bốc hơi nghi ngút, sôi lục bục. Chàng xỏ đòn qua quai một cái vạc rồi gọi người nông dân phụ trách việc chia khẩu phần:
- Bác cầm lấy! Những cái vạc kia cũng khiêng nốt ra pháo đài!
Khi họ lên đến pháo đài, chàng giội vạc xúp nóng bỏng lên bọn Thổ đang chen chúc leo thang.
Khi tỉnh lại, Vosanhi thấy người thiếu phụ vẫn nằm trên đất trước mặt mình. Hai người giáo sĩ đã để nguyên cả khăn lễ áo lễ như thế mà leo lên mặt thành, còn hai người nông dân chạy về hai ngả, chắc là đến chỗ các khẩu đại bác.
Vosanhi xốc Êvo lên vai như kiểu người ta vác một cái bị và đem vào soái phủ. Anh nghĩ nếu là sứ giả của triều đình thì ắt phải đưa vào chỗ đó. Rồi anh giao lại cho phu nhân Bolốc để bà vẩy nước cho cô ta tỉnh lại.
Chỉ sau khi đã đánh lui xong đợt công kích, người ta mới đến quan sát xem vụ nổ đã gây ra thiệt hại đến nhường nào.
Phía bên phải pháo đài Nhà thờ cùng với kho đồ thánh giờ đây là một cái hố toang hoác đen ngòm. Ở chỗ đó tường thành đã sụp đổ cùng với cả phần mới xây lại hồi đêm và hai cái cối xay vẫn làm việc ở đó giờ chỉ còn lại hai đống đổ nát. Sát tường kho đồ thánh, trước kia có ba chục con bò thịt đứng ở đó, giờ đây chúng nằm chết còng queo trong vũng tiết của chính chúng.
Người ta tìm thấy xác của tám người lính đang phiên nghỉ bị xé ra thành từng mảnh. Một trung uý cũng bị thiệt mạng: Nogiơ Pan, người mà Batôri Giorgiơ đã gửi đến cùng với ba chục tay súng từ thành Erođơt.
Trong số những người lính đứng gần đó cũng nhiều người bị thương. Một hòn đá từ chỗ nổ bắn ra đã phang cụt cánh tay ở sát bả vai của một dũng sĩ tên là Hôrơvát Gergey. Anh ta chết ngay hôm đó, ngay hôm đó người ta thả anh xuống hầm mộ.
Quân dân trong thành chỉ thực sự tỉnh táo lại khi thấy quân Thổ không đột nhập được vào thành.
- Thượng đế phù hộ chúng ta đây! – Đôbô vừa kêu lên vừa đưa tay vuốt tóc và ngước nhìn trời – Bớ các dũng sĩ, hãy tin vào Thượng đế.
Chính ra món xúp đã đẩy lùi đợt công lích. Quân Thổ đã từng dạn dày với lửa, với lưỡi gươm, với ngọn thương mũi giáo, nhưng cái khoản nước xúp bỏng dẫy thì chúng không quen. Khi dòng nước xúp cay xé, nóng bỏng trút xuống cái thang đầu tiên, bọn lính giặc cứ như thể bị ai cầm chổi mà quét xuống. Đám quân chen lấn nhau dưới chân thang cũng nhảy tứ tung. Đứa ôm lấy tay, đứa sờ lên cổ, đứa bưng mặt. Bọn chúng đưa mộc lên che đầu, tháo chạy khỏi chân thành.
Quân dân trong thành thở phào.
Đôbô triệu những người thợ xay bột và thợ mộc đến rồi bảo:
- Các ngươi hãy mau thu nhặt lấy những bộ phận còn lại của hai cái cối xay. Từ hai cái các ngươi hãy làm lấy một cái cối nghiền thuốc súng. Còn thiếu gì nữa thì mấy tay thợ mộc đẽo ngay đi!
Rồi ông nhìn quanh:
- Viên quản lý đâu rồi?
Một hình người đen nhẻm từ góc tường tu viện bước ra, vừa thổi muội than bám lên bộ ria vừa phẩy phẩy bộ râu, đến đứng trước Đôbô. Đó là lão Sukan.
Bác Sukan, - Đôbô bảo – bác xuất diêm sinh, lưu huỳnh và than trong kho cho họ. Hễ cối nghiền làm xong, đám thợ xay bột sẽ nghiền thuốc súng.
Chỉ đến lúc đó ông mới nghĩ đến việc đi rửa ráy. Chính ông cũng đen nhẻm chẳng khác gì một người thợ thông khói.
Trong cửa soái phủ có một người đen nhẻm đang ngồi, anh ta ăn mặc pha kiểu Thổ, tay cầm một miếng bì nướng to và dùng thìa xúc ăn. Khi trông thấy Đôbô anh ta liền đứng dậy.
- Vosanhi, ngươi đấy ư?
- Thưa ngài, chính con đây ạ.
- Ngươi mang tin tức gì về đấy?
- Thưa ngài, con mang sứ giả của triều đình vào thành đấy ạ. Một phụ nữ.
Đôbô đi gần như chạy đến chỗ Bolốc phu nhân.
- Sứ giả đâu? – Ông hỏi ngay.
Phu nhân đang ngồi trên giường Petơ. Bà dùng lụa đỏ lót vào trong cái mũ sắt, cái mũ sắt của con trai bà.
- Sứ giả nào? – Bà ngạc nhiên hỏi lại. – Chỉ có một phụ nữ đến thôi.
- Thế người phụ nữ ấy đâu?
Bolốc phu nhân mở cửa vào phòng bên cạnh rồi lại khép cửa lại.
- Cô ấy đang ngủ. – Bà nói – Chúng ta đừng làm kinh động. Cô ấy bị kiệt sức ghê lắm, tội nghiệp.
Đôbô mở cửa vào.
Êvo nằm trong giường, một cái giường sạch sẽ, trắng tinh. Chỉ có đầu nàng thò ra ngoài, xanh xào, ngập sâu đến một nửa vào trong gối, mái tóc xoã tung viền quanh khuôn mặt.
Đôbô sửng sốt nhìn khuôn mặt phụ nữ mà trong giấc ngủ cũng đượm màu gian khổ chết chóc. Ông không quen biết khuôn mặt ấy.
Ông quay ra và lại hỏi:
- Cô ấy không mang theo thư tín gì ư?
- Không.
- Cho tôi xem quần áo của cô ấy. Cô ấy là ai?
Bolốc phu nhân nhún vai, rồi khẩn khoản nhìn Đôbô:
- Cô ấy bảo chúng tôi đừng hỏi tên cô ấy. Cô ấy e rằng ngài sẽ không vui lòng gặp cô ấy.
- Cho tôi xem quần áo của cô ấy!
Bolốc phu nhân đem từ ngoài hành lang vào một bộ quần áo lính Thổ dính đầy vôi và bùn. Đôi ủng nhỏ nhắn màu vàng lưu huỳnh có đính cả cựa giày. Trong thắt lưng có hơn năm chục đồng tiền vàng của Hung, vỏ của một thanh gươm và hai cái gươm cong đã gãy.
- Phu nhân nắn hết các túi xem.
Trong một cái túi có giấy kêu sột soạt.
- Đây rồi đây. – Đôbô nói và dùng bàn tay đang đen nhẻm mà giở tờ giấy gập cẩn thận ra.
Đó là bản đồ toà thành.
Trong các túi khác không còn gì nữa, ngoài một cái khăn tay với một đôi găng nhầu nát. Họ nắn cả các đường chỉ khâu trên quần áo, rồi tháo cả chỉ ra. Họ bóc tung cả đôi ủng. Không có gì hết.
- Không có ở chỗ cô ấy trong giường ư?
- Không có. – Bolốc phu nhân đáp – Tôi đã đưa cả áo cho cô ấy nữa đấy. Ôi, cô ấy mệt đến quỵ cả người… Có lẽ lâu lắm cô ấy chưa được ngủ. Cô ấy đã đi vào bằng đường hầm qua con đường xác.
Đôbô gọi Vosanhi vào.
- Ngươi bảo là sứ giả?
- Thì con đã hiểu ra như vậy.
- Thế cô ấy nói không rõ à?
- Thưa ngài, chúng con đã kịp nói chuyện gì đâu. Chúng con vào theo đường hầm gần như là chạy ấy.
- Đường hầm nào?
- Dạ đường hầm qua hầm mộ.
- Ở đó cũng có đường hầm cơ à?
- Thưa ngài, bây giờ thì không còn nữa ạ.
- Quân Thổ còn lương thực không?
- Thỉnh thoảng có một chục – vài chục xe bột đến, với lại một hai bầy cừu. Có Trời biết chúng nó kiếm được ở đâu! Gạo chúng nó đã hết từ lâu.
- Như thế nghĩa là chúng nó chưa đói?
- Cho tới nay thì chưa mấy khi.
- Ngươi còn biết gì về tình hình trong trại giặc?
- Con chỉ biết một điều nữa là chúng nó đào hào về phía đồi Ghế Vua.
- Đào hào vào thành à?
- Chắc thế, bởi vì bọn công binh làm.
- Tại sao ngươi không vào sớm hơn? Đáng lẽ ngươi đã phải đưa tin về việc chở cành cây.
- Dạ, không thể nào vào được ạ. Chúng nó cắt những tên ionisa khoẻ mạnh nhất đến trước cổng thành, mà con thì không có quân phục ionisa. Nếu con muốn vượt qua chúng nó để vào thì sẽ làm chúng nghi ngay.
- Vậy bây giờ ngươi ở lại trong thành thôi. Hãy đến trình diện với ngài Bônemixo Gergey và báo cáo cho ngài biết chúng có đào đường ngầm ở phía nào. Sau đó ngươi quay về đây và túc trực quanh soái phủ.
Trong tay ông còn cầm tờ giấy vẽ bản đồ. Ông cho gọi Mectsei đến và bảo:
- Anh cầm lấy bản đồ này. Trên bản đồ có vẽ những đường hầm. Ta cũng không hề biết trên đời lại có một tấm bản đồ như thế này cơ đấy. Anh gọi ngay các thợ nề lại và sai họ nếu còn đường hầm nào thông thì xây tường bịt kín đi. Trước hết là phải xây tường chắn con đường ở dưới hầm mộ.
Ông còn giao cho hai võ đồng một vài việc nữa rồi mới đi tắm. Tắm xong ông lại mặc võ phục vào, đeo cả giáp chân, sau đó ông ngả mình lên tấm kỷ bọc da gấu.
Mỗi khi cơn buồn ngủ đến đè trĩu tâm trí ông, dù ban ngày hay ban đêm, ông cũng chỉ ngủ như vậy. Các chiến sĩ trong thành đồn nhau rằng ông không bao giờ ngủ.
Chỉ đến tối Đôbô mới nói chuyện được với Êvo.
Lúc đó Bônemixo phu nhân đã dậy. Nàng mặc bộ quần áo nội thất nhẹ nhàng. Chắc nàng đã lấy trong số y phục nữ chiến lợi phẩm mà chồng nàng thu được trong lần xuất kích đầu tiên. Những bộ quần áo nữ ấy không thể bán hoá giá được, nên người ta cất vào một căn phòng bỏ trống trong soái phủ. Sau cuộc bao vây sẽ phát cho dần nghèo vẫn còn tốt chán.
Đôbô nói chuyện với nàng trong bữa cơm tối.
- Phu nhân là ai? – Đó là lời đầu tiên ông nói với nàng, bởi ông thấy ngay nàng không phải là một người đàn bà bình thường.
Võ đồng Bolajo đứng sau lưng Đôbô, Bolốc phu nhân cũng đang bận rộn ngay trong phòng, lúc đó bà đặt bình rượu vang đỏ bên cạnh món bít tết cừu, rồi châm thêm một cây nến nữa bên cạnh hai cây bạch lạp.
- Tôi không hiểu là tôi có quyền nói trước mặt người khác ngoài hai chúng ta hay không. – Êvo đáp – Không phải vì Bolốc phu nhân đâu, mà vì tôi không biết ngài đại uý trấn thủ có cho phép tôi được công khai xưng tên hay không.
Theo hiệu tay của Đôbô, người võ đồng rút lui ra. Bolốc phu nhân cũng rời khỏi căn phòng.
Êvo nói:
- Tôi là vợ của Bônemixo Gergey.
Con dao ăn rơi khỏi tay Đôbô.
Với vẻ nhìn lo lắng, Êvo nói tiếp:
- Tôi biết rằng ở một chỗ như nơi đây, trong một công việc như thế này mà có đàn bà bên cạnh là không tốt. Nhưng xin ngài hãy tin tưởng, tôi sẽ không năn nỉ chồng tôi rời khỏi cuộc chiến đâu.
- Mời phu nhân ngồi xuống. – Đôbô đáp – Tôi xin phép được vừa ăn vừa tiếp phu nhân. Xin mời phu nhân cùng ăn với tôi.
Nhưng đó chỉ là những lời lạnh lùng.
- Xin cám ơn. – Êvo trả lời và bải hoải ngồi xuống.
Họ im lặng đến mấy phút, sau đó Đôbô mới lên tiếng:
- Gergey biết phu nhân ở đây rồi ư?
- Chưa. Và chắc như vậy là tốt.
- Hà, phu nhân thân mến, - nghe vậy Đôbô nói với cái nhìn giờ đây đã hiền từ hơn – phu nhân đã giấu tên mình đi là rất đúng. Gergey không được phép biết phu nhân có mặt ở đây. Trong vấn đề này tôi rất kiến quyết. Cuộc vây hãm không có có thể kéo dài lâu nữa: đoàn quân cứu viện nhất định phải đến. Vì sao phu nhân lại đến đây?
Êvo ứa nước mắt nói:
- Vì con tôi.
- Thế ra chúng nó đã cướp đi thật ư?
- Vâng.
- Và cái nhẫn?
- Nó đây. – Êvo vừa đáp vừa lôi cái dây đeo ở cổ ra.
Đôbô liếc nhìn cái nhẫn. Ông uống một hớp rượu, rồi đứng dậy.
- Phu nhân lấy gì đảm bảo sẽ không nói chuyện với Gergey?
- Thưa đại uý, tôi phục tùng tất cả mọi mệnh lệnh của ngài. Tôi biết rằng…
- Phu nhân có hiểu tại sao không được phép nói chuyện với Gergey không?
- Tôi có nghĩ đến.
- Gergey là trí tuệ của thành. Không được phép thu hút suy nghĩ của cậu ấy khỏi công việc bảo vệ thành một phút nào cả. Phu nhân còn biết những ai ở đây nữa?
- Mectsei, Phuyghétđi, Zôntoi. Cha tôi cũng ở đây, bác Balin nữa, ông giáo sĩ của chúng tôi ấy mà.
- Phu nhân không được phép ra khỏi mấy căn phòng của Bolốc phu nhân. Phu nhân hãy lấy danh dự mà hứa đi!
- Tôi xin hứa.
- Phu nhân hãy thề đi!
- Tôi xin thề!
- Còn tôi xin hứa sẽ làm tất cả để tìm bằng được cậu con trai của phu nhân. Phu nhân đưa cái nhẫn đây cho tôi.
Êvo đưa nhẫn cho ông.
Đôbô thắt quai mũ chiến, rồi chia tay người phụ nữ trước khi đi găng.
- Xin phu nhân thứ lỗi cho về việc tôi đã thô bạo như vậy. Nhưng không thể làm cách nào khác được. Phu nhân hãy coi mấy căn phòng và đồ đạc để lại đây của vợ tôi như của mình.
- Còn một điều nữa. – Êvo nói – Tôi sẽ nói gì với Bolốc phu nhân: tôi là ai?
- Phu nhân muốn nói gì thì nói, miễn là Gergey đừng biết.
- Anh ấy sẽ không biết được đâu.
Đôbô chào nàng, bước ra cửa, gọi người dắt ngựa của ông lại.
Về tối trời nổi gió mạnh. Gió thổi bạt tro và muội than ra khỏi thành.
Đôbô gọi đám thợ nề và nông dân đến những chỗ sụt lở do vụ nổ gây ra, và bảo họ:
- Các ngươi nhặt nhạnh những hòn đá nằm ngổn ngang kia lại! Phải xây lại cái tường, mà nhớ đứng làm sao để tránh được đạn thì đứng.
Đoạn ông đi lên chỗ khẩu đại bác Búpbê, ngồi lên khẩu súng và dùng thiếc viết lên một mẩu giấy như sau:
“Bêi Đạo sĩ, hãy nghe đây! Hễ ngươi tìm thấy con trai của Bônemixo, hãy dâng cờ hiệu xanh đỏ báo tin cho ta biết ở chỗ cây dương bên bờ suối về phía bắc thành. Dấu nhẫn của ngươi ta đóng trên bức thư này. Ngươi có thể cho phái viên cầm cờ trắng dẫn đứa trẻ đến. Không những ta chỉ trả lại ngươi cái nhẫn, mà còn cả một đứa bé Thổ ở chỗ chúng ta nữa”
Ông cho gọi Mectsei đến.
Ông lấy tay che những dòng chữ rồi bảo anh:
- Ta yêu cầu cậu ký tên vào đây.
Mectsei ký tên, không hỏi han gì cả.
Bolajơ đứng sẵn bên cạnh với con dấu và cây nến. Đôbô ngồi trên khẩu đại bác cúi xuống, rỏ sáp vào tờ giấy viết thư, Mectsei in dấu nhẫn của mình lên sáp, sau đó cũng chẳng hỏi giấy gửi cho ai, làm gì – anh vội vã đi làm việc của mình.
Đôbô gập bức thư lại, áp mặt cái nhẫn Thổ lên dấu niêm phong bên ngoài.
Nửa vầng trăng và những ngôi sao in rõ ràng trên dấu sáp.
Ông sai gọi Vosanhi đến, hiền từ bảo anh:
- Anh bạn Vosanhi! Bây giờ ta đã biết tại sao anh lại không vào thành. Anh vào làm gì cơ chứ, khi biết rằng chúng ta lại cứ luôn luôn phái anh ra. Anh có biết tên bêi Đạo sỹ không?
- Như thể biết cái ống giày của con vậy. – Vosanhi vui vẻ trả lời.
- Vậy ta có bức thư này đây. Anh lén bỏ nó vào lều, hoặc vào quần áo, hoặc vào cốc của tên bêi ấy: tóm lại có cách nào thì anh chuyển đến cho hắn bằng cách ấy.
- Thưa ngài, nhất định được.
- Sau đó anh đến Xorơvotkơ và chờ Vosơ Mikơlốt ở đó. Bây giờ anh ta phải về đến nơi rồi.
- Rồi chúng con làm sao mà vào thành được?
- Về phía bên phải cổng thành đêm nào cũng sẽ có dây dòng xuống. Anh hãy rờ lấy và giật dây. Nghe tiếng chuông, quân ta sẽ nhìn xuống và cho các anh vào.
Vosanhi bọc thư vào khăn, giấu vào ngực.
Trên pháo đài Sanđô đạn đồm độp rơi dày đặc. Đôbô trống thấy có sự bối rối ở đó. Quân lính lộn xộn nhảy ra khỏi pháo đài.
Bằng cách nào đó, quân Thổ đã biết được có một cửa hẹp nối liền giữa tường thành ngoài và thành trong (Lối đi giữa hai tường thành cũng giống cái chốt cài qua cái trâm gài đầu). Hai cái thang dài đặt châu vào nhau trên núi thành hình chữ V ngược. Một tên Thổ thoăn thoắt trèo lên. Hắn trông thấy các chiến sĩ ra đi ra đi vào qua cái cửa hẹp đó. Chúng lập tức kéo đại bác lên núi, bắn rất mạnh vào chỗ cửa đó.
Chỉ non một giờ, quân Hung đã bị thương hàng đống ở chỗ cửa, có năm người chết gục.
- Đưa gỗ lên! Đôbô thét – Dựng con chạch cao hơn nữa!
Nhưng họ dựng ván che lên cũng vô ích. Những khẩu đại bác Thổ đã nằm ở điểm cao, có thể đổ đạn vào cái cửa hẹp qua cả dãy ván che, quá cả lưng con chạch.
- Vụ này tốn của ta một tạ thuốc súng đây! – Đôbô càu ràu – Mà lại đúng vào lúc này!
Gergey từ tháp đằng góc chạy đến.
- Thưa đại uý, không thể để cái cửa như thế này được! Chúng nó sẽ bắn chết hết những chiến sĩ cừ nhất của tôi.
- Chúng ta sẽ giải quyết – Đôbô đáp rồi nói tiếp với giọng khe khẽ - Cần phải chờ cho đến lúc bắt đầu nghiền được thuốc súng.
Đạn rơi xuống lối cửa hẹp như mưa rào.
- Xin đại uý cho phép chúng tôi phá cái tường hoặc đào lối đi xuyên dưới đất.
- Gergey, anh thì không cần phải xin phép nữa. Anh cứ làm!
Gergey sai đào một lối đi xuyên dưới chân tường ở cạnh cái cửa hẹp để quân lính ra vào.
Còn quân Thổ vẫn tiếp tục đổ đạn xuống cánh cửa trống, dưới bậc cửa đạn nhiều đến nỗi có thể quét được.
Đến tối quân Thổ lại chở đất, chuyển cành cây. Trăng lờ mờ soi sáng cho chúng. Từ trên thành thỉnh thoảng người ta vẫn bắn vào chúng.
- Đừng bắn nữa! – Đôbô hạ lệnh.
Thấy trong thành im lặng, tiếng xôn xao, lục đục của bọn Thổ mỗi lúc một mạnh lên. Mỗi lúc chúng một thêm đông.
Đôbô phái tất cả lính bắn súng đến chỗ tường vỡ. Sau một hàng nằm đến một hàng quỳ, sau một hàng quỳ là một hàng đứng tựa vào tường con chạch nhô ra ngoài.
Những ngọn đèn tối đi.
Quân Thổ càng thêm đông và càng sơ hở. Những ngọn đèn xách tay nho nhỏ chiếu sáng cho chúng làm việc.
Khi toán quân giặc mỗi lúc một leo lên cao để lộ lớp mũ tuyban nhấp nhô trước chỗ tường vỡ, Đôbô hô bắn.
Tiếng kêu thét và cảnh hỗn loạn tiếp sau tiếng nổ. Những tốp giặc bỏ chạy cuống cuồng đã chứng minh rằng loạt đạn không nổ một cách vô ích, một vài tên tưphensi[85] nổ súng bắn trả nhưng không trúng ai cả. Quân địch chỉ dám tiếp tục công việc ở chỗ sát chân thành một cách thận trọng, lúc nào cũng lo che mình.
11
Cái cối nghiền chạy ầm ù suốt ngày đêm. Thuốc súng mới tinh, đen nhánh xối xả tuôn ra máng. Niềm tin của quân dân trong thành đã trở lại.
Quân Thổ đắp công sự mới và trời vừa hơi rạng, ba khẩu zobuzan đã nổ ran ở chỗ nhà Giám mục. Mục tiêu mới của chúng là cái tháp phía tây bắc. Từ phía đó mà bắt đầu đợt công kích thì gay go thật đấy, nhưng có lẽ chúng muốn thu hút bớt lực lượng từ các phía khác của thành.
Những viên đạn đại bác to, đen chùi chũi như những con diều hâu bay lên tháp.
Nhà ở của binh sĩ nằm trong hướng đạn. Đó là một dãy nhà thấp, dựa lưng vào tường thành. Những viên đạn phá tường không nhận đủ thuốc súng đều rơi xuống dãy nhà đó.
Sườn phía tây của soái phủ bắt đầu sụp đổ.
Bolốc phu nhân hoảng hồn nhào vào căn phòng mà bà dọn giường cho Đôbô.
Viên đại uý đang ngồi bên cạnh giường, mình mặc nguyên áo giáp như lúc ở ngoài, chỉ không đội mũ chiến. Hai tay đặt trên hai tay ghế, ông đang ngủ ngon lành. Trước mặt ông, cây nến vẫn cháy. Trên đầu ông, một bức tranh sơn dầu đã ngả màu nâu. Hình Thánh vương Isơtơvan đang trao vương miện cho Maria. Người ta đã đem bức tranh từ cái nhà thờ bị cải biến thành pháo đài vào phòng này, và nó đã phai màu đến nỗi mắt của những nhân vật trong tranh chỉ còn như những chấm nâu nâu.
Đôbô vẫn thường ngủ ở đó.
Hôm đó chỉ gần sáng ông mới về phòng. Có lẽ ông chờ đợt công kích bất thình lình vào lúc bình minh cho nên mới không cởi bỏ áo giáp.
Quân địch bắn vào chái nhà chỗ ông ngủ. Những viên đạn làm rung chuyển ngôi nhà đến nỗi các thanh xà kêu răng rắc. Một bức tường trong phòng nứt toác, rộng đến bốn ngón tay. Qua kẽ nứt đó có thể nhìn thấy tận lớp tường con chạch.
- Ngài đại uý! - Bolốc phu nhân rú lên.
Một viên đạn mới bắn đến làm vữa trên tường rơi xuống đầu bà. Bà nhảy đến chỗ viên đại uý, lay mạnh.
- Ồ, cái gì thế? – Đôbô sực tỉnh.
- Chúng nó bắn soái phủ! Dậy đi ngài, hãy vì lòng thương của Chúa!
Đôbô nhìn quanh, Ông trông thấy chỗ tường nứt, bèn đứng dậy.
- Phu nhân bảo đưa giường của tôi xuống một phòng nào đó ở tầng dưới, phòng nào gần cửa ấy. Tôi sẽ trở lại ngay đấy.
Câu tôi trở lại ngay đây này là một câu nói không bao giờ thực hiện của Đôbô, khiến Bolốc phu nhân ngay giữa lúc nguy hiểm này vẫn phải mỉm cười.
- Thì ít nhất ngài hãy chờ tôi nấu một ít xúp rượu vang đã.
- Món ấy tốt đấy. Xin cám ơn phu nhân. – Đôbô lấy tay phủi bụi vữa trên mái tóc – Bụng tôi nó hơi no. Cho tôi xin cả vài hạt đinh hương vào đấy nữa.
- Tôi gửi ra chỗ nào đây?
- Rồi tôi sẽ tạt về ăn.
- Ngài chẳng tạt về đâu, đại uý ạ. Tôi sẽ sai con trai tôi mang ra vậy.
Một con ngựa yên cương sẵn sàng lúc nào cũng đứng chờ trước cửa, bên cạnh nó khi người võ đồng này, khi người võ đồng kia túc trực cùng với con ngựa nhỏ của mình. Đôbô lên ngựa, đi quanh khắp thành.
Một phần binh sĩ lếch thếch túa ra khỏi những dãy nhà thấp đứng bên phía thành phố. Vũ khí và áo khoác vắt vai hoặc cắp dưới nách, một vài người còn quấn cả quần quanh cổ. Tiếng chửi rủa nổi lên lao xao như mưa đá.
- Đi vào chỗ tu viện ấy. – Đôbô bảo họ - Cái nhà ấy sẽ không bị bắn.
Mectsei cùng một toán lính khác vội vã qua bãi chợ. Các chiến sĩ vác xẻng, cuốc, cuốc chim. Mectsei xách một khẩu súng hoả mai.
Trông thấy Đôbô anh liền giơ khẩu súng lên vẫy về phía ông. Đôbô thúc ngựa vọt đến chỗ anh.
- Chúng nó đào hào từ phía đồi Ghế Vua. - Mectsei báo cáo – Chúng tôi đi đánh bọn chúng đây.
- Tốt – Đôbô đáp – Anh cứ việc dẫn họ đi mà làm. Bảo cách cho họ đào rồi anh đến tìm tôi ngay nhé.
Ông đi sang pháo đài Bôiki. Có năm người đang ngồi dưới chân pháo đài, cạnh chuồng bò. Đầu họ đội mũ sắt, mặt đỏ bừng vì ánh lửa. Họ đang bện những cuộn con cúi rơm. Cạnh họ là những cái vạc nấu hắc ín.
Ông gặp Gergey trên pháo đài, chàng đang cúi mình trên mặt trống quan sát những hạt hồ tiêu. Trông thấy Đôbô, chàng đứng thẳng dậy.
- Bọn Thổ đang đào hầm ngầm. Hôm nay chúng tôi đã dò được một ngách. Mectsei đã đích thân đi diệt bọn chúng nó.
- Ta biết rồi. – Đôbô đáp.
- Mấy cái mặt trống bị dãn cả rồi, không thể dùng được nữa, nhưng mặt nước lay động đã mách chỗ bọn chúng nó.
Đôbô đến đứng bên lớp tường con chạch, nhòm qua kẽ hở ra ngoài.
Ở những chỗ tường thành bị vỡ, đống bồi và cành cây đã cao lên chừng một sải tay. Vừa lúc đó bọn đạo sĩ dùng hai cái thương khiêng xác một tên akinji ra khỏi đống cành cây. Đó là tên giặc chết trong loạt đạn bắn từ hồi đêm.
Đối diện với tường thành, ở khắp nơi đã thấy có nhiều hào và hàng rào gỗ. Bọn Thổ cũng tìm cách che mình.
- Lại có một cái gì đang sửa soạn đây. – Đôbô nói – Không thấy bọn giám binh và bọn ionisa thò mặt ra ở đâu cả.
Lúc đó Mectsei vừa lên đến pháo đài, anh báo cáo ngắn gọn:
- Họ đang đào.
Nét mặt anh để lộ đêm vừa rồi anh không ngủ chút nào. Cặp mắt đỏ ngầu, da mặt tái nhợt, tóc rối xù. Vai áo đônman của anh dính vôi và bùn. Chắc hẳn anh đã giúp đám thợ nề khiêng gỗ.
- Anh bạn đại uý đồng nhiệm. – Đôbô nói với giọng cứng nhắc, có vẻ trách móc, - anh đã lại muốn đích thân chui xuống đường hầm rồi! Đi ngủ ngay đi!
Lúc đó võ đồng Bolajơ nhô lên khỏi bậc cầu thang, tay bưng một cái khay bạc, trên khay là một cái cốc bạc. Cái cốc bốc hơi trắng xoá trong khí lạnh ban mai.
Mectsei chào rồi bước đi.
Đôbô gọi với theo bằng cái giọng đã hiền dịu:
- Pisơto!
Mectsei quay lại.
- Cậu em thân mến, cầm lấy cái cốc ở khay Bolajơ mà uống đi.
12
Đêm sau người ta mới biết bọn ionisa hôm ấy đã làm gì.
Thì ra bọn chúng đóng những chiến cụ như cái phương dù che cho các cha cố cầm minh thánh đi bên dưới trong những dịp lễ rước. Chỉ khác cái là đằng này mái làm bằng gỗ chắc chắn, còn bốn cái cột là bốn cây thương.
Từ hôm đó trở đi, đêm đêm bọn chúng chở đất và cành cây dưới những cái mái di động như thế.
Hồi ấy người ta gọi loại chiến cụ đó là động ốc.
Buổi chiều các viên chỉ huy trưởng ngủ một giấc dài, hết cả mệt mỏi. Phần nhiều họ ngủ vào buổi chiều vì chỉ cần đề phòng các đợt công kích vào lúc ban mai, và nội trong buổi sáng mà đã có thể biết rõ ý định trong ngày của bọn Thổ. Đêm đêm họ lại thức, và lúc đó một nửa số binh sĩ được đi ngủ. Đôbô đã thoả thuận với Mectsei là không dành thời giờ một cách thường xuyên cho việc ngủ, mà khi nào một người nghỉ xong, người kia sẽ lập tức về nghỉ.
Chắc chắn là không một người nào ngủ cẩn thận cả, nếu có nghỉ, họ chỉ ngủ ngồi đâu đó trong một góc pháo đài, trên một ụ đất độ một tiếng đồng hồ, buổi chiều đôi khi họ ngủ được hai tiếng.
Việc bọn Thổ náu mình dưới rất nhiều cái mái di động làm các tay súng điên tiết. Còn bao nhiêu gỗ ván nguyên lành trong các nhà, các sân ở thành phố, bọn Thổ đều thu nhặt tất. Chúng nó đã thấy chỉ còn lại mỗi một cách là phải đắp tường thôi, ngoài ra chúng không thể thành công bằng cách nào khác nữa.
Ở chỗ pháo đài Sanđô, bọn chúng đã đắp tường cao đến ngang chỗ tường thành bị đại bác bắn vỡ.
Những cái mái di động che chở bọn Thổ, những đống cành cây che những cái đầu nhô lên. Xung quanh chỗ tường vỡ lúc nào cũng có hai chục tay súng túc trực cùng một khẩu cối đã nạp đạn sẵn. Trên mặt tường cũng có lính vũ trang canh phòng. Nhưng tất cả đều chẳng ăn thua gì: bóng tối cũng là vật che chở cho bọn Thổ trong công việc ban đêm.
Bản thân Gergey cũng túc trực bên cạnh chỗ tường vỡ nhiều nhất.
Bỗng nhiên khoảng hai chục tên Thổ trèo ra khỏi chỗ nấp. Đầu đứa nào cũng đội một bó dây nho khô.
Gergey từ trên mặt thành gọi xuống:
- Gátparit!
- Dạ. – Tiếng một người đàn ông đáp lại.
- Các ngươi không thấy ngứa tay à?
- Sao lại không ạ, tổ sư chúng nó chứ! Thưa thượng uý, cho chúng con xông ra đánh một chút!
- Xông ra đánh chết bọn dị giáo ấy đi! Chỉ cần chú ý hễ đâm xong, các ngươi phải lập tức nhảy vào ngay.
- Bẩm thượng uý, con hiểu rồi ạ.
Đám thợ nề đam làm việc ở chỗ tường vỡ, nhưng khoảng hở vẫn còn rộng đến cả một cỗ xe hàng cũng có thể đi lọt qua.
Được lời Gergey, Gátparit nhảy vụt ra, đâm vào ngực một tên Thổ giắt gươm cong đầy người, rồi nhảy trở vào.
Tên Thổ ngã gục. Những tên khác vẫn tiếp tục chuyển dây nho khô.
Trông thấy hành động anh hùng của Gátparit, ba người nữa nhảy ra khỏi khoảng hở. Họ dùng dao đâm ngã ba tên Thổ rồi lại nhảy trở vào.
Quân Thổ chửi rủa, bối rối mất một thoáng. Nhưng những đứa khác từ bên dưới đã chen lên.
Lần này đã có mười người lao vút ra khoảng hở, Người dùng gươm, người dùng giáo đâm, chém bọn vác bồi. Sau đó họ quay lại và lần lượt nhảy vào.
Bọn Thổ ném những bó bồi đi, cả ba chục tên xông vào đánh ba người còn lại sau cùng.
Gergey từ trên mặt thành ra lệnh nổ súng. Bọn Thổ ngã lộn nhào chồng lên nhau. Nhưng một người thập trưởng tên là Kamnan khi quay về cũng mang trên ngực một nhát dao.
- Các người cũng bắn đi! – Gergey hô xuống phía dưới.
Từ những lỗ châu mai ở phía dưới, cái chết loé ra phóng vào người những tên Thổ khác. Dưới ánh sáng loé lên lần này người ta trông thấy độ khoảng bốn chục tên Thổ nằm lăn trong máu trước khoảng tường vỡ. Những tên Thổ còn lại tập họp thành một toán mới, nắm chắc gươm, dao trong tay, chúng xông vào chỗ tường vỡ.
- Bắn! – Gergey hô lên với những tay súng đứng trên mặt thành.
Lúc đó Đôbô vừa đến.
Kanman nằm ngửa trong vũng máu của chính mình trước chỗ tường vỡ. Một tên ionisa thọc dao vào khoảng hở, không thấy chạm ai cả, hắn bèn thét lên một tiếng rồi nhảy vào.
Đôbô đứng vừa sát bên cạnh khoảng hở. Với nắm tay trần, ông tống cho hắn một quả vào mũi vọt cả máu ra. Cũng trong nháy mắt đó, Gátparít đâm dao vào người hắn.
Những tên Thổ khác không dám vào theo. Chúng quay lưng lại, nhảy tán loạn trong đống bồi.
- Ném con chó này ra ngoài! – Đôbô bảo đám thợ nề.
Rồi ông đi lên mặt thành.
- Chúng nó bỏ dở việc đào đường ngầm rồi. – Ông nói với Gergey.
- Tôi đã nghĩ như vậy. – Gergey đáp.
- Anh có gì báo cáo không?
- Xin mời đại úy xem những cái vò của chúng tôi.
Bên cây đèn dầu treo trên vách pháo đài có năm chiến sĩ đang làm việc, gã xigan cũng ở trong số đó. Mấy trăm cái vò sành xếp ngổn ngang bên cạnh. Họ đang nạp những cái vò đó. Một người bỏ một vốc thuốc súng vào vò. Người thứ hai tọng giẻ và đá lên trên thuốc súng. Người thứ ba lại bỏ thêm một vốc thuốc súng nữa vào vò. Người thứ tư ngồi bên cạnh một đống tướng những mẩu nòng súng gỉ đã chặt ra từng đoạn bằng gang tay một và đang nạp thuốc súng vào những mẩu nòng ấy. Anh ta dùng que gỗ nện chặt hai đầu. Người thứ năm dùng dây thép buộc chặt hai cái nút vào hai đầu ống. Gã xigan lấy bùn trét bên ngoài.
- Chúng tôi đã làm xong ba trăm vò, - Gergey báo cáo.
- Hãy cho cả lưu huỳnh vào đấy nữa. Cho những cục to to vào. – Đôbô nói.
- Món ấy chắc tốt lắm đấy. – Gergey đáp.
Võ đồng Bolajơ chạy đi lấy lưu huỳnh.
Đôbô có vẻ hài lòng đứng xem một chốc, sau đó ông nhìn quanh và hỏi:
- Gátparít có ở đây không?
- Con đây ạ. – Người chiến sĩ từ phía dưới đáp vọng lên.
- Lên đây.
Người chiến sĩ nhảy lên, dập gót giày vào nhau trước mặt Đôbô.
- Ngươi là người đầu tiên đã nhảy ra khỏi khoảng hở đấy à?
- Thưa đại úy, con ạ.
- Từ hôm nay trở đi ngươi là thập trưởng!
Vì những cái mái di động đã che đỡ cho giặc rất tốt trong đêm đầu, cho nên hôm sau quân dân trong thành trông thấy một dải đất cao chạy từ nhà giám mục Hêxey đến tường thành phía tây nam, tức là chỗ cổng thành hiện nay.
- Ở chỗ giáp tường thành, chẳng bao lâu đã thấy những thùng gỗ lớn được đẩy lên khỏi hào, hàng ngàn và hàng ngàn bàn tay chuyển những cái thùng rỗng đến, xếp chồng lên nhau.
- Quân Thổ đã phá cửa những hầm rượu trong thành phố: chúng tháo rượu vang ra khỏi các thùng rồi chuyển thùng và những cái thảng đạp nho[86] đến dưới chân thành. Một bức tường lớn bằng thùng gỗ được dựng lên ở mạn đó. Những cái thùng chuyền từ tay này sang tay kia, rồi được dựng đứng lên tất cả. Một quả núi bằng thùng đã mọc lên ngay trong hôm đó. Chỗ dựa của nó là tường thành. Ở mặt ngoài xếp thành bực.
Từ trong thành, suốt ngày người ta bắn vào quân giặc, nhưng thùng gỗ cũng che chở cho chúng. Chúng làm việc khẩn trương.
Cả ban đêm cũng vẫn vang vọng tiếng lăn thùng rượu, thảng đạp nho.
Phần lớn các tay súng giờ đây đã chuyển sang mạn đó. Những khẩu cối cũng chồm chỗm trên mặt thành ở chỗ ấy. Một vài khẩu tu pháo từ bên mạn sườn chỉa vào quả núi thùng.
- Bọn Thổ điên thật. – Phuyghétđi nói.
Nhưng chúng không điên đâu. Kìa, vừa sớm tinh sương, một vài cái mái di động to, rộng đã rục rịch bò ra dưới chân núi thùng. Tám cây thương đỡ một cái động ốc. Hai mươi – ba mươi tên Thổ cũng đứng vừa dưới một cái động ốc như thế.
- Lửa đâu, nước đâu! – Đôbô hạ lệnh – Mang rơm, mỏ neo, câu liêm, cuốc chim lại đây, nhiều vào!
Bởi vì ông đã trông thấy không những chỉ sự chuyển động của những cái động óc mà cả những cây đuốc bọn Thổ đang đốt lên ở dưới hào nữa.
Hôm qua bọn chúng đã bắn cả pháo đài Bebec và ở phía đó bọn chúng xếp bao tải đất làm thành bậc.
Đôbô cũng đến cả chỗ đó. Ông thấy Gergey đã sẵn sàng với tất cả những thứ mỏ neo, câu liêm buộc vào đầu xích sắt và các loại cuốc chim. Trên pháo đài có một đống lửa. Mỡ bò đang chảy trong những cái vạc bên cạnh đống lửa. Những cuộn con củi rơm tẩm hắc ín xếp thành đống đen nhánh lấp loáng quanh đống lửa. Ở đây bọn Thổ cũng nấp dưới những cái mái di động lớn mà tiến đánh thành.
Mectsei đang sai hàn khấu ở chỗ Cổng Cũ. Người ta chờ đợi công kích ở cả mạn đó nữa.
Mối nguy hiểm đe dọa hơn cả là ở góc thành tây nam, nơi Phuyghétđi trấn giữ, Đôbô chụp mũ chiến lên đầu rồi cùng võ đồng Bolajơ phóng ngựa lại chỗ đó.
Lúc bấy giờ dãy tường con chạch đã bắt đầu cháy.
Lần này quân Thổ không hò hét. Chúng thận trọng nấp dưới những cái mái di động bắn vào quân lính trên thành.
Từ phía trên người ta không thể bắn vào chúng được. Người ta bắn trả lại chúng từ chân tường con chạch đang cháy, và dùng cuốc chim khoét lỗ giữa kẻ thành đá để có thể qua những kẽ đó mà bắn vào bên dưới những cái động ốc.
- Ném rơm xuống đầu chúng nó! – Đôbô thét lên lanh lảnh.
Một mặt người ta tưới nước lên dãy tường con chạch đang cháy ở trên, mặt khác người ta ném những cuộn con củi tẩm dầu và mỡ đã châm lửa xuống mái những cái động ốc.
Cái động ốc nào lên tới mặt thành, người ta dùng cuốc chim lật nó lên hoặc hất nó đi. Cái nào đã bén lửa, người ta cứ để mặc nó cho số phận. Chỉ chốc lát, bọn Thổ đã quẳng nó đi, vừa kêu la vừa chạy trốn ra khỏi trận mưa lửa. Những thùng rượu rùng mình dưới chân chúng, một vài đứa đã cõng lửa hừng hực trên lưng.
- Rơm nữa vào, chỉ rơm thôi! – Đôbô thét.
Những vòng rơm tẩm dầu lại bay như những mảnh lửa rừng rực xuống mái những cái động ốc. Những tên cầm thương vứt bỏ chiến cụ, cắm đầu cắm cổ lao xuống để tránh cơn mưa đạn.
Nhưng đó chỉ là sự ngưng nghỉ tạm thời thôi. Khi những tên tấn công đợt đầu tiên đã bị đánh lui, những khẩu đại bác Thổ lại bắt đầu bắn phá dãy tường con chạch.
Đôbô hô quân nằm sấp xuống để tránh đạn. Đại bác Thổ đã bắn gãy được hai trong số những cái cọc chống tường con chạch. Dãy tường con chạch rùng mình, kêu răng rắc, ngả ra ngoài trên một chiều dài hơn chục sải. Chỉ một cái cọc nữa bị gãy thôi là tất cả sẽ đổ nhào xuống.
- Đưa cuốc chim ra! – Phuyghétđi hô to – Dây xích nữa!
Năm chục cái cuốc chim tung ra móc vào dãy tường con chạch đã ngả ra ngoài. Xích sắt, dây thừng, cọc và cừ mới được chuyển đến. Chỉ chốc lát dãy tường con chạch lại trở về vị trí cũ của nó.
Bấy giờ Đôbô đã đến chỗ tháp Bôiki, nơi Gergey tiếp nhận trận đánh trong mùi khét nồng nặc của hắc ín, của thuốc súng và của mỡ bò cháy quyện lẫn vào nhau.
Cái tháp đứng đằng góc đã bị bắn gục ngang lưng đó trở nên một niềm hy vọng lớn đối với lũ giặc Thổ. Bởi thành Temétva cũng đã vì một cái tháp mà thất thủ, nên chúng coi đây là một điềm may, mặc dù trong trận công kích đầu tiên chúng chưa đưa lực lượng của chúng vào đây được.
Ở đây, vì chúng chỉ chuyển toàn đất đến bên tường tháp, nên từ phía trên người ta không thể có cách sát hại chúng được. Bọn Thổ đẩy nhau xông lên dưới những cái động ốc rộng. những vòng rơm tẩm hắc ín và mỡ bò cháy rừng rực rơi như mưa lên mái những động ốc, tuy vậy cuối cùng chúng vẫn xông được vào trong tháp.
- Ala chí cao! Đánh đi, chém đi!
Và từ trên sườn đồi Ghế Vua, hàng trăm nghìn tên Thổ lao về phía thành.
Ở dưới nền tháp, những cây thương và cuốc chim từ mặt thành chĩa xuống. Người ta đẩy, cuốc, chặt, móc những cái động ốc. Nhưng quân Thổ cũng làm việc. Từ dưới cái mái di động, bọn tưphensi nổ súng. Giáo, thủ pháo và tên từ dưới vun vút bay lên phía đoàn quân cố thủ.
Một tên xpahi khinh thường cái chết nhảy lên mặt thành, vung tít hai bàn tay sắt đánh bật tung những ngọn thương và cuốc chim. Tên thứ hai thứ ba cũng vọt lên theo gót hắn. Trong khi quân ta dùng chùy quật ngã ba tên đó, những tên khác đã xông lên sau lưng chúng. Không đầy một phút chúng đã đẩy được một cái động ốc có mái lót da bò lên đỉnh tháp và dưới cái mái di động đó, ba bốn chục tên ionisa vừa nằm vừa quỳ bắn vào các chiến sĩ ta đang chiến đấu trên pháo đài.
- Ala! Ala! – Hàng ngàn cái họng ở bên dưới gào lên.
- Thắng lợi đã gần rồi! – Bọn giám binh Thổ hò hét.
Cái mũ chiến rơi ra khỏi đầu Đôbô. Đầu để trần, ông lao đến chỗ các khẩu đại bác.
Các chiến sĩ Hung đứng trong tháp không tài nào sát hại được bọn ionisa đã leo lên trên đầu họ, bởi vì mái tháp đã lót gỗ ván, mà cũng không thể hất những ván gỗ đó lên được vì bọn ionisa đã đứng ở trên..
- Các ngươi đi ra đi! – Gergey thét lên khi chàng trông thấy Đôbô đang quay những khẩu đại bác.
Rồi, không hề quan tâm đến những khẩu súng của bọn ionisa, chàng cũng giật lấy một cái cuốc chim, ngoắc nó vào một cây thương chống cái mái di động và giật mạnh.
Những chiến sĩ đứng trên pháo đài cũng sửng sốt khi thấy cái tháp bị chiếm. Tất thảy đều chụp lấy hỏa khí và bao phủ bọn ionisa đang xông lên tường trong một màn lửa.
Đôbô trông thấy dây chuyền của bọn ionisa đã bị đứt quãng. Bất thình lình ông quay hai khẩu đại bác xuống phía dưới, bắn vào giữa đám ionisa đang chen chúc đông đặc trên ụ đất.
Loại lính ionisa chẳng kiềng đại bác lắm. Hai viên đạn của hai khẩu đại bác chẳng sát hại được nhiều. Còn tiếng nổ thì chúng đã quá quen. Có điều là những khẩu đại bác của Đôbô nạp bằng những hạt đạn nhỏ, khi bắn gần, mỗi phát quật ngã hàng chục – hai chục tên Thổ.
Bọn ionisa khiếp sợ lùi ra xa.
- Ném lửa vào chúng nó! Lửa! – Tiếng Gergey vang trên mặt thành.
Và những con cúi tẩm hắc ín bay lên đầu bọn ionisa mắc kẹt trên mái tháp. Bọn chúng luống cuống chống đỡ, nhưng súng của chúng đã bắn hết rồi, chúng không còn thì giờ nạp đạn nữa. Lửa cháy mỗi lúc một nhiều. Chúng kêu la inh ỏi, văng mình xuống khỏi mái tháp. Tên nào rơi ra ngoài là còn may phúc, chỉ ác một cái là gãy cổ thôi. Tên nào nhảy vào phía trong thành cũng chẳng múa may được lâu, bởi người ta đánh cho nát nhừ, đến xương cũng chẳng còn cái nào nguyên vẹn.
Chập tối và đêm hôm đó bọn Thổ tiếp tục tiến đánh ở mạn pháo đài đất.
Pháo đài đất nối dài với pháo đài đá ở góc phía tây bắc thành phố. Chúng nó xới tung đất lên để hòng khoét ngách vào dưới chân pháo đài, nhưng ở đó tường thành đâu chỉ xây đến mặt đất. Tường nối tường cắm sâu vào lòng đất đến hai chục sải, dường như trong những thời kỳ xa xưa người ta đã xây dựng tòa thành từ lòng thung lũng, và dường như nhân dân thời đại tiếp sau đó đã mang đất lấp bằng tòa thành cũ rồi mới dựng lên tòa thành mới của mình, cuối cùng dân của Thánh vương Isơlơvan đến và xây nên bức tường của tòa thành ngày nay chồng lên tường của hai tòa thành trước.
Đôbô mau chóng nhận thấy rằng sự ầm ĩ của cuộc công kích ban đêm của bọn Thổ chỉ cốt để thu hút sự chú ý của quân ta khỏi việc chất gỗ của chúng.
Ông phái một trung úy cùng hai trăm người đến chỗ pháo đài đất, còn những người khác cứ túc trực với số lượng như thường lệ.
Kỵ binh Thổ không thấy xuất trận ở chỗ núi thùng, cũng không thấy có mặt trong trận công kích cái tháp. Có thể đoán biết trước là đến đêm chúng sẽ tiếp tục việc chuyển gỗ.
Giờ đây chúng nghĩ ra mẹo chở những cây gỗ to đến chứ không chở bồi nữa. Có bao nhiêu lạc đà, ngựa, bò, trâu và la trong trại giặc, tất thảy đều về đến chân tường thành lúc hoàng hôn, chở nặng gỗ tròn và gỗ xẻ.
Thoạt tiên bọn giặc chỉ đứng đằng sau những ụ đất đắp đối diện với tường thành mà ném bừa gỗ ra, sau đó, khi đống gỗ đã tương đối có thể che khuất người chúng, chúng bắt tay vào việc xếp.
Hàng ngàn vạn bàn tay khuân và xếp các súc gỗ tròn, các thanh gỗ xẻ chồng lên nhau. Thay cho công việc lặng lẽ của những đêm trước, đêm nay vang dậy tiếng gỗ chạm nhau côm cốp và tiếng đóng đinh chan chát ở khắp mọi phía. Chúng dùng đinh đỉa và xích sắt ghép chặt các thanh gỗ vào với nhau.
Một cái pháo đài gỗ đồ sộ đã ghép xong trước mặt pháo đài của Gergey, đỉnh của nó cách tường thành không đầy ba sải.
Bọn Thổ làm việc khéo léo: chúng xếp thế nào mà bao giờ gỗ cũng che khuất người chúng, và từ đằng sau lớp chắn cao một sải tay, chúng ném cả những cây gỗ tròn to qua phía hào nữa. Cái hào bị lấp đầy trông thấy, và quả núi gỗ cao dần lên bên cạnh tường đá.
Và mỗi lúc một vào gần tường thành.
Gergey lúc nhìn qua lỗ châu mai này, lúc nhìn qua lỗ châu mai nọ để quan sát công việc của kẻ địch. Cuối cùng chàng đi lên dãy tường con chạch.
Chàng gặp Đôbô ở đó. Người đại úy đứng đó, khoác cái áo khoác quen thuộc, dài đến ngang đầu gối. Đầu ông đội mũ sắt nhẹ, màu đen.
- Thưa đại úy, tôi muốn xin những đống ngói gỗ mà chúng ta đã bóc từ các mái nhà xuống, - Gergey nói.
- Anh có thể sai người chở đi.
- Tôi còn xin mỡ bò, hắc ín và dầu.
- Cần bao nhiêu anh cứ lấy. Không có nhiều mỡ bò đâu.
- Cũng không sao. Nếu không có mỡ bò, tôi xin mỡ lợn ướp, thật nhiều.
- Mỡ lợn ướp à?
- Độ vài ba chục lườn. Có thể được bao nhiêu, tôi xin bấy nhiêu.
Đôbô quay ra sau bảo Kơrixtôp:
- Con chạy đi đánh thức Sukan dậy, bảo bác ấy xuất mỡ bò và bốn chục lườn mỡ lợn ướp ở trong kho thực phẩm ấy. Cho người mang ngay ra đây nhé!
Và chỉ sau đó ông mới hỏi: để làm gì thế?
Thì ra Gergey đã nghĩ ra được một mẹo: trong khi quân Thổ đang xếp gỗ thành đống, chàng sai quân lính ném mỡ lợn ướp, mỡ bò và ngói gỗ xuống giữa những khúc gỗ và bó bồi.
Quân Thổ không để ý đến việc đó. Trong thành người ta vẫn luôn luôn ném đủ mọi thứ lên đầu chúng: đá, xương xẩu, nồi đất vỡ, mèo chết và các loại tương tự phút nào mà chẳng bay xuống giữa bọn chúng. Những miếng mỡ lợn ướp khổ rộng độ gang tay cũng chẳng nổi bật lên giữa bao nhiêu thứ khác. Nếu một tên Thổ nào đó có nhìn thấy, hoặc hắn không hiểu thứ đó để làm gì, hoặc nếu hiểu, hắn sẽ nhìn với vẻ ghê tởm[87].
Gergey sai quân lính cắt mỡ ướp ra thành từng miếng rộng độ gang tay, chốc chốc lại ném xuống giữa đống gỗ. Ngoài ra ngói gỗ quanh sơn dầu, mỡ bò, rơm cũng tới tấp bay xuống. Chốc chốc chàng còn sai ném xuống một vỏ sành ngoài bọc rơm. Những cái vò trát kín bùn, có dây thép giăng xung quanh. Trong ruột chúng là thuốc súng cùng những mẩu nòng súng đã nạp thuốc và rất nhiều những cục lưu huỳnh bằng đốt ngón tay một.
Đôbô nhìn xuống phía dưới quan sát, ông bảo:
- Chừng chúng nó làm xong thì trời đã sáng. Kơrixtốp, con hãy ngó qua bên chỗ Mectsei xem anh ta còn thức hay không? Nếu anh ta còn thức, con bảo anh rằng ta đi nghỉ đây. Nếu anh ta đã ngủ thì cứ để cho anh ngủ. Sau đó con hãy đảo qua các vọng gác. Bảo với họ rằng hễ trông thấy giặc rục rịch chuẩn bị tấn công là phải đến chỗ tháp góc báo cáo ngay. Anh không ngả lưng một lát ư, Gergey?
- Hôm nay không ạ. Tôi sẽ chờ đến sáng mai – Gergey đáp.
- Còn Zôntoi?
- Tôi đã bảo anh ấy đi ngủ để sáng mai còn có sức chỉ huy trên pháo đài.
- Khi nào pháo đài gỗ làm xong, anh đánh thức ta dậy nhé.
Ông đi lên tháp góc, ngả mình xuống một cái sạp của lính. Võ đồng Kơrixtốp tuốt gươm đứng trước cửa tháp. Đó là nghĩa vụ của võ đồng. Cậu bảo vệ con sư tử ngủ.
13
Đến rạng đông, cái pháo đài gỗ của bọn Thổ đã cao gần bằng tường thành, chỉ còn thiếu độ một sải rưỡi nữa thôi.
Gergey còn sai nạp thuốc súng vào hai cái nòng đại bác quét vôi. Chàng sai lấy gỗ đóng chặt.
- Này, hai khẩu đại bác này chẳng ngờ là còn được bắn một lần nữa! – Gã xigan nói.
- Biến cũ thành mới mà lị - Một người lính nói.
- Nếu đã mới thì ta đặt cả tên cho nó nữa đi. – Gã xigan nói. – Cho một cái là Lôi tỉ, một cái là Bồ câu.
Bởi vì tất cả các khẩu đại bác đều có tên riêng của nó.
Gergey móc một viên đạn chì ở trong túi ra, viết lên nòng đại bác nhỏ cái tên Gianốt, lên nòng đại bác to cái tên Êvo. Chàng cắp hai cái nòng đại bác vào nách, đi lên pháo đài.
Bình minh mau chóng tuôn ánh sáng ra khắp bầu trời. Dưới kia trại giặc rậm rà rậm rịch: từ khắp mọi ngả, tiếng lịch bịch của những đội quân đã đến gần.
Gergey đánh thức Đôbô dậy.
Quân lính đã cầm thương và cuốc chim đứng dàn cả trên mặt thành. Những tay súng kê nòng những khẩu súng mới nạp đạn lên những viên đá phủ trắng sương muối. Ba khẩu đại bác của pháo đài chúc nòng xuống phía dưới, còn hai khẩu đại bác ở chỗ Cổng Tối lại chĩa nòng lên mặt thành.
- Châm lửa vào những vòng rơm tẩm hắc ín và những cây gậy đầy dầu, ném ra ngoài! – Gergey hạ lệnh.
Mọi người nhất tề làm việc.
Khi Đôbô đến đó, bọn Thổ đã tràn đầy các dãy đồi như kiến cỏ. Chúng vẫn còn xếp gỗ và đóng đinh giằng. Pháo đài gỗ đã cao bằng pháo đài trong. Chốc chốc chúng lại lao những thanh gỗ xẻ qua để lấp kín những chỗ hở giữa hai bức tường. Gỗ ở chỗ đó nhiều vô kể. Cả một rừng gỗ. Cái thành gỗ rất chắc chắn. Những cái mái di động phủ da bò sống thận trọng nhô lên trên mặt thành gỗ.
Những vòng rơm cháy không tác hại đến da bò, còn cái nào rơi ra chỗ khác, quân Thổ lấy chân đá hất đi.
Theo một hiệu còi lảnh lói, hàng trăm ngàn tiếng thét Bixmila (Nhân danh Thượng đế) rung động cả không trung. Quân nhạc Thổ réo vang. Cái pháo đài gỗ khổng lồ kêu rầm rầm dưới những bàn chân ào ạt xông lên.
- Ala! Ala!
- Giêsu! Maria!
Từ dưới những cái mái di động, những cái thang ngắn nhanh chóng được đẩy ra để bắc cầu nối pháo đài gỗ với pháo đài đá.
Nhưng quân bên trong cũng đã đứng cả trên mặt thành. Hàng trăm vòng lửa nhất tề bay sang phía quân Thổ. Những bó rơm cháy và lưu huỳnh cháy phủ kín những cái thang, và ngói gỗ tẩm hắc ín tiếp tục rơi trên rơm.
Toán quân Thổ đầu tiên muốn xông qua lửa cháy để vào thành liền đụng ngay vào mũi cuốc chim và ngọn thương. Những tên khác đã có gươm, cuốc chim, gậy đầu dày rực lửa và chùy xích tiếp đón.
Một tên Thổ mặt đầy đặn giương cao một lá cờ đại nhô lên mặt đống gỗ cách Gergey chừng ba sải tay. Khi toàn bộ cái đầu của hắn đã biến thành một cái mồm há ngoác trong tiếng thét Ala, Gergey chộp lấy cái nòng đại bác nhỏ tông thẳng vào mõm hắn. Còn cái nòng đại bác to, chàng ném xuống đống lửa cháy ở bên dưới.
Quân Thổ bâu kín cái công trình bằng gỗ đồ sộ, và chắc chắn chúng đã xông qua cả đám lửa cháy nữa rồi, nếu một chuyện quái lạ không bất thình lình xảy đến, đó là tiếng súng tay và tiếng đại bác bỗng nổ vang lên từ phía dưới.
Những vỏ sành bắt đầu nổ bùng bục và bắn ra tứ tung những cục lưu huỳnh cháy. Tựa hồ như một quả núi lửa bỗng nhiên há miệng ngay dưới chân bọn giặc.
- Ôi, thôi chết! Chúng mày ơi! Cứu tao với! Ối, ối! Cứu với! – Quân giặc hoảng hốt kêu la.
Nhưng bọn giám trận không cho chúng nó lùi xuống.
- Chúng ta sẽ thắng! Đây là giờ phút chiến thắng! – Bọn giám trận thét lên đáp lại, và sai bọn lính còn ở bên dưới chạy đi lấy nước.
Bọn giặc dùng nước, binh khí, quần áo để cố cứu lấy cái công trình bằng gỗ bạt ngàn mà chúng đã tốn bao ngày đêm mới dựng lên được đó. Nhưng bấy giờ mỡ bò đặc và mỡ lợn ướp cũng đã bắt đầu chảy ra giữa những súc gỗ, và những cái vò mỗi lúc một bắn tung tóe lưu huỳnh ra với tốc độ mau hơn, làm bén cháy cả những súc gỗ to vài tay ôm.
- Ôi, chết rồi! Ôi, chúng mày ơi! Vượt qua lửa mà vào thành đi!
Bọn giặc không muốn tin rằng những cây gỗ lớn như thế lại có thể bốc cháy. Chúng tới tấp chuyển nước đến bằng những bầu da, bằng những cái xô và các loại nồi niêu xoong chảo. Nơi nào lửa từ đống gỗ bốc lên thành ngọn như hình đuôi ngựa là chúng mang nước đổ xô đến. Bọn chúng vừa nhảy nhót một cách tức tối và kinh hoàng vừa dập lửa. Nhưng cả núi gỗ đã biến thành một giàn lửa khổng lồ. Chỉ đến lúc đó những mẩu nòng súng mới bắt đầu nổ loạn xạ, còn mỡ vừa cháy xèo xèo với ánh lửa xanh vừa bắn vọt vào mắt bọn chữa lửa. Hai cái nòng đại bác liên tiếp nhau gầm lên dữ dội, hất tung gỗ cùng bọn Thổ ở nơi nó nổ.
Thật là một cảnh tượng kinh hoàng, tức tối, đầy tiếng kêu thét om sòm như ở địa ngục!
Những tên ionisa không thể rút lui qua giàn lửa nổ loạn xạ ở sau lưng, cố sức hết đợt này đến đợt khác vượt qua cái cầu ghép bằng thang để thoát ra khỏi khói và lửa. Một đôi đứa tuyệt vọng nhảy lên mặt tường đá để rồi cũng trong nháy mắt đó lại ôm đầu máu mà rơi xuống. Những đứa khác lồng lộn nhảy nhót trên đỉnh giàn lửa và dùng binh khí quật vào những đầu gỗ bén lửa. Nhưng công việc đó thật vô ích! Bên tường thành giờ đây đã nổi lên cả một biển lửa, trong đó bao nhiêu tiếng nổ đã hợp lại thành tiếng gào thét của phong ba. Quân Thổ chỉ còn là những cái bóng ma quỷ nhảy nhót chập chờn trong ánh lửa. Quần áo chúng bốc cháy, râu ria chúng bốc cháy, tuyban chúng bốc cháy. Những tên Thổ đó đang trải qua cực hình địa ngục để lên cõi thiên đường với Môhamét!
Trên tường thành cũng nóng kinh khủng, đến nỗi người ta phải kéo những khẩu đại bác đi, và các dũng sĩ phải lấy nước giội vào những vị trí phòng ngự để gỗ ở đó khỏi bị cháy lây.
Bọn thương binh Thổ không thể nào cứu ra được gào thét trong ngọn lửa dữ, bên kia biển lửa vang lên tiếng hô la điên cuồng của bọn giám trận, và người ta trông thấy từng đám hơi nước ngùn ngụt bốc lên ở những nơi bọn Thổ cố dập lửa lần cuối cùng một cách uổng công.
Lửa và khói đã ngăn cách hai đạo quân ra.
14
Nếu dùng gỗ không thành công, chúng ta sẽ thành công với đất! – Quân Thổ nghĩ vậy.
Chúng đặt thành ngoài, vốn nguy hiểm cho việc chuyên chở, vào dưới tầm pháo: ban ngày chúng bắn phá rầm rầm, còn ban đêm chúng chở bồi và đất đến. Mỗi lượt đất đắp lên chúng lại tưới nước cho dễ.
Gergey lo lắng trông thấy con đường mới không thể phóng hỏa mà đốt được ấy cứ mỗi ngày một cao dần lên về phía thành. Hàng trăm, hàng ngàn, toàn thể trại giặc sẽ theo đường đó mà lên.
Chàng lo nghĩ, đi ngược đi xuôi trong thành. Chàng nhòm ngó tất cả mọi đống đổ nát, mọi đống đá, mọi chuồng bò, chuồng ngựa, mọi hầm ngầm, mọi đống đạn đại bác. Chàng gãi đầu gãi tai, và cứ thế lắc đầu hoài. Chàng đến cả chỗ đống đổ nát của kho đồ thánh. Cuối cùng chàng dừng lại trong góc phòng thợ nguội. Ở đó, trước vô khối binh khí Hung và Thổ vứt thành đống, có một cái bánh xe lớn đen kịt, Gergey nhận ra đó là bánh xe của một cái cối xay bị nổ tung.
Gã xigan đang ngồi trên cái bánh xe, ăn thịt luộc đựng trong một cái đĩa sành to. Gã tự vũ trang cho mình một cách ghê gớm. Chân đi đôi ủng ionisa màu đỏ tươi, lưng giắt đầy những thanh gươm cong sáng loáng, đầu đội mũ chiến bằng đồng thủng lỗ chỗ, có lẽ cũng là đồ của bọn Thổ. Gã xigan cảm thấy mình cũng là chiến sĩ, liền đứng dậy, ôm cái đĩa vào cánh tay trái, còn tay phải đưa lên chào. Rồi gã lại ngồi xuống với món thịt.
- Đứng dậy cái, anh bạn. – Gergey bảo gã – Để ta xem cái bánh xe này.
Gã xigan đứng tránh ra.
Cái bánh xe còn khá lành lặn, chỉ bị gãy có hai nan hoa, Gergey đứng lên, ấn thử từng nan hoa một. Chỉ có một cái lúc lắc.
- Hừm, - chàng vừa đưa tay lên sờ cằm vừa nói. Gã xigan cất tiếng hỏi:
- Có lẽ chúng ta định nghiền bọn Thổ chăng thưa quan thượng úy?
- Đúng đấy. – Gergey đáp – Các ngươi xem chỗ nào lỏng thì tán đinh lại, nhanh lên.
Đám thợ nguội bỏ đĩa xuống, cầm lấy búa.
Gergey hỏi họ có thấy Đôbô ở đâu không?
- Hôm nay ngài đến đây cả chục lần ấy, - một thợ nguội trả lời – nhưng đã nửa giờ nay chúng tôi không thấy.
Gergey bèn đi tìm ông. Chàng đến tận pháo đài nhà thờ. Ông không có ở đó. Có lẽ ông đang ở chỗ pháo đài đất.
Chàng đang ngập ngừng bước đi chợt thoáng thấy một cặp mắt phụ nữ trong một khung cửa sổ của soái phủ. Cặp mắt đó từ trong nền tranh tối tranh sáng của căn phòng nhìn chàng.
Chàng giật thót mình, đứng sững lại, nhấp nháy mắt như muốn thấy thật rõ hơn.
Nhưng cặp mắt phụ nữ đã biến mất.
Gergey đờ người như hóa đá, nhìn chằm chằm vào khung cửa sổ. Một cảm giác ấm áp đặc biệt truyền khắp người chàng khi chàng thoáng thấy cặp mắt đó, khiến cho chàng đến hàng phút vẫn không thể nhúc nhích được.
- Ồ, chuyện vớ vẩn! – Sau đó chàng lắc đầu lẩm bẩm – Làm sao ta lại có thể nghĩ đến một chuyện như thế được!
Nhưng tuy vậy chàng lại nhìn lên lần nữa. Lần này chàng trông thấy một thằng bé Thổ trong khung cửa sổ.
Đôbô từ phía pháo đài đất đi tới. Gergey vội vã đến gặp ông.
- Thưa đại úy, tôi muốn xin cái bánh xe cối xay. – Chàng nói, tay đưa lên vành mũ chiến.
- Anh lấy đi. – Đôbô trả lời ngắn gọn và rẽ vào soái phủ.
Gergey đến nhà bếp, nơi quân lính đang ngồi trên mặt đất thành một hàng dài, ăn trưa với món đậu hầm thơm mùi dấm.
Chàng gọi mười người trong bọn họ, sai lăn cái bánh xe đến chỗ pháo đài của chàng.
Nòng súng gỉ và gãy thì trong thành vô khối. Chàng sai nạp đạn vào những nòng súng đó, rồi lấy dây thép buộc chúng vào bánh xe, sao cho đầu nòng chĩa ra phía ngoài. Chàng lại sai lấy phoi sắt, lưu huỳnh, mỡ bò, hắc ín nhét chặt vào kẽ hở giữa các nòng súng, rồi lấy ván gỗ đóng ốp hai bên. Cuối cùng chàng sai đóng những chân đế rộng bằng gỗ vào khắp xung quanh bánh xe để có thể dựng đứng mà không đổ.
Tất cả quân dân trong thành đều đến xem cái công cụ kỳ lạ đó.
Bản thân Đôbô cũng đến nhìn ngắm một vài lần. Ông cho đặt một nòng súng cối vào chính giữa.
- Gergey, anh chỉnh cái này vào bên trong, sao cho nó nổ cuối cùng.
- Thưa đại úy, được ạ.
- Cần gì nữa không con, Gergey?
- Nếu có thể được tôi xin một ít thùng rỗng.
- Ở trong hầm rượu ấy à?
- Vâng.
- Có khối ra đấy, anh cứ việc cho mang ra.
Dưới kia, gò đất mỗi lúc một cao. Trong này mỗi lúc một nhiều thùng được chuẩn bị xong. Người ta nạp đầy các thùng rỗng cũng với cung cách như làm cái bánh xe. Người ta bỏ cả đá vào nữa, ở dưới đáy, trên mặt và xung quanh thùng. Đáy đóng thật chắc, chỉ chừa một lỗ cho dây ngòi thò lò ra.
Đôbô có rất nhiều tu pháo – đến ba trăm khẩu. Tu pháo thực chất là những khẩu súng nòng to đặt vào tường, đạn lớn hơn quả hồ đào một chút là nạp không vừa nữa. Người ta gọi là tu pháo vì ở cuối nòng có một cái râu sắt quặp xuống. Sở dĩ cần cái râu sắt ấy là để nó giữ khẩu súng lại, vì mỗi khi bắn nòng súng lại nhảy giật lùi .
Đôbô bèn cho nạp cả những nòng tu pháo cũ đã gỉ vào những cái thùng to. Người ta chuẩn bị độ chừng năm chục cái thùng như thế để tiếp đón bọn Thổ. Người ta đóng đai, buộc dây thép, đóng đinh thật chắc.
Còn bọn Thổ đêm đêm lại hăng hái đổ đất đắp con đường tiến quân thênh thang, đẹp đẽ lên pháo đài.
15
Một buổi sáng Gergey đang ngủ giữa các chiến binh của chàng thì bỗng người ta báo cáo với Zôntoi rằng mặt nước xao động và hạt tiêu rung rinh ở trong góc chuồng ngựa.
Thế đấy, quân Thổ xảo quyệt không chỉ lấp hào mà còn đào ngách nữa!
Zôntoi không cho phép đánh thức Gergey dậy, chàng sai quân đi gọi Mectsei.
Mectsei lập tức đến ngay. Anh sai đặt khay nước và cái trống ở mấy điểm, cuối cùng anh tìm được cái chỗ cần phải đào ở trong nhà xe.
Mười chiến sĩ được lệnh đào. Chốc chốc họ lại ngừng tay để đặt khay nước xuống quan sát.
Gần trưa Gergey tỉnh dậy, chàng lập tức chạy bổ đến chỗ đào hầm.
Các chiến sĩ đã làm việc dưới tầm sâu ba sải tay. Tiếng thình thịch trầm trầm của bọn lagumji[88] báo cho biết chúng đã vào gần.
- Ơ kìa, ngài đại úy. – Gergey nói với Mectsei – Đây là pháo đài của tôi chứ! Anh không chỉ huy ở đây.
- Thế tớ giải quyết không đúng à?
- Chúng ta hãy ngừng lại, không đào nữa!
- Để chúng nó hất tung tường lên ấy à?
- Để chúng nó khỏi đánh hơi được công việc của ta.
- Cậu muốn thế nào thì cứ việc, - Mectsei nhún vai đáp rồi rời khỏi chỗ đó.
Gergey sai mang đến một khẩu súng ngắn. Chàng đích thân đặt đá lửa, đích thân nạp thuốc. Chàng lại gọi mười tay súng đến chỗ mình, rồi cho thổi tắt các ngọn đèn đi. Họ phục trong bóng tối. Tiếng thình thịch mỗi lúc một mạnh. Đã có thể nghe cả tiếng nói của tên võ quan cầm đầu.
Chốc chốc Gergey lại đặt bàn tay lên vách để xem chỗ nào rung rinh mạnh nhất.
- Suỵt. – Chàng khe khẽ nói với các chiến sĩ – Chúng nó đào xuyên qua bây giờ đấy.
Trong nháy mắt đó, một cái cuốc chim bổ xuyên qua, đất lạo xạo rơi xuống chân Gergey.
Một lỗ hổng bằng chỗ thắt lưng hiện ra.
Tên lagumji dừng lại, nhòm vào.
Tối mịt. Hắn không thấy gì cả. Khi hắn quay lại, có thể thấy những ngọn đèn của chúng lấp ló bên kia, giữa những ngọn đèn là một tên aga đội tuyban trắng, đeo dây thao, bụng phệ.
Tên lagumji kêu to lên là đã gặp lỗ hổng. Nghe tiếng hắn kêu, tên aga quay lại.
Gergey nhắm đích. Khẩu súng ngắn tóe lửa, nổ.
Tên aga ôm lấy bụng, ngã gục.
Gergey nhảy lùi lại, hô to:
- Bắn!
Mười chiến sĩ kê súng lên miệng lỗ. Đùng đoàng! – Họ bắn bọn lagumji đang đạp lên lưng lên cổ nhau tháo chạy.
Các chiến sĩ trở về với ba chục cái cuốc chim và xác chết tên aga. Chỉ một người ở lại dưới hầm với khẩu súng đã lên cò và với một ngọn đèn soi sáng chỗ lỗ hổng.
Họ đặt xác tên aga xuống bãi chợ trong thành, đặt chẳng nhẹ nhàng gì mấy, khiến đầu hắn va cộp xuống nền đá, cái tuyban rơi ra. Nhưng giờ đây đối với hắn như thế cũng tốt rồi. Hắn là một người thấp, to ngang, râu cằm xam xám. Ba vết sẹo dài trên cái đầu hói chứng minh hắn đã phục vụ xứng đáng với chức aga. Phát đạn của Gergey đã xuyên vào bụng hắn. Một viên đạn nhỏ trúng ngực, chắc hẳn do các chiến sĩ bắn.
Viên quản lý Sukan khám kỹ tuyban, đai lưng, các túi của hắn và ghi lại số tiền, số nhẫn, số bình khi tìm được trong người hắn. Số tiền và đồ vật đó được phân phát cho các chiến sĩ vừa phục vụ ở chỗ đường hầm.
Sau đó lão cho phép những kẻ tò mò được đến xem. Trước hết tất cả dĩ nhiên là đám đàn bà đứng xúm lại xung quanh.
- Bọn này nó đi những đôi hia đỏ thế này cơ à?
- Chúng nó dùng dây buộc gấu quần lại các bác ạ.
- Tên này chắc là một tay giàu có lắm đây.
- Trung úy hay đại úy gì đó.
- Chả hiểu nó có vợ chưa nhỉ?
- Lại không hàng chục ấy à.
- Cũng chẳng đến nỗi xấu giai. – Mụ vợ bác thợ xay bột ở Mokola nói – Tiếc thay hắn lại là Thổ.
Zôntoi cũng đi đến đó xem.
- Thế mà một mình tên aga này vẫn lọt được vào thành đấy!
Thằng bé Thổ bỗng ở đâu chui vào qua váy các mụ đàn bà và cúi xuống cái xác chết, mừng rỡ kêu lên:
- Bố ơi! Bố yêu! Bố! Bố thân yêu!
Nó gục đầu vào ngực xác chết, ôm lấy xác chết mà hôn. Nó áp má vào má xác chết. Nó lay, nó cười, nó gọi:
- Bố ơi! Bố yêu của con ơi!
Mắt các bà đẫm lệ. Bolốc phu nhân nắm lấy tay thằng bé mà bảo:
- Ta đi đi, Xelim! Bố ngủ đấy!
16
Lúc bình minh, khi đạo quân Thổ trùng trùng điệp điệp lại xuất phát từ dưới thung lũng để tiến đánh thành, các chiến sĩ đã chuẩn bị kỹ càng, nhìn sự di chuyển của chúng với một khoái cảm phấn khích. Nỗi háo hức trả thù như lò xo căng lên trong đường gân thớ thịt của họ. Họ đã không thể chờ đợi được nữa. Một gã trai trẻ thấp lùn nhảy qua chỗ tường vỡ ra ngoài gò đất, đối mặt với quân Thổ đang lũ lượt tràn đến, vừa quát tháo vừa giơ gươm lên đe chúng.
Các chiến sĩ trên mặt thành tất nhiên đều cười vang.
- Ai đấy? – Zôntoi cũng vừa cười vừa hỏi.
- Cậu Vorơgo đấy ạ. – các chiến sĩ trả lời – Vorơgo Gianốt!
Gã trai nhảy trở vào, nhưng khi thấy mọi người cười vang, gã lại lao vọt ra lần thứ hai nữa và làm hiệu dọa đạo quân Thổ trùng trùng điệp điệp.
Bây giờ bọn tưphensi đã nổ súng vào gã, nghe tiếng súng gã nhảy trở vào còn nhanh hơn lần trước nữa. Thấy thế quân ta càng cười tợn, Đôbô cũng đã trông thấy hành động đó. Ông gật đầu cho gã tỏ ý khen ngợi, Vorơgo Gianốt thấy vẻ thích thú của Đôbô thì úi chà gã nhảy vọt ra lần thứ ba nữa, và không thèm để ý gì đến những viên đạn, gã hiên ngang hăm dọa bọn Thổ đang hung hãn xông lên.
Đạn, thủ pháo, lao tua tủa bay về phía gã, nhưng không cái nào trúng đích. Gã nhảy nhót chế nhạo và lè lưỡi ra diễu chúng. Hơn thế nữa, gã còn bất thình lình quay mình lại và vỗ vỗ trên mình một cách rất chi bất lịch sự, nhưng vẫn rất thích hợp trong trường hợp đó. Sau đó gã mới nhảy vào qua lỗ hổng.
Và việc đó đã xảy ra ngay trước mũi bọn Thổ. Trước hàng trăm ngàn tên Thổ sát khí đằng đằng!
- Đáng mặt nam nhi đấy! – Đôbô gọi vọng xuống. – Ngươi sẽ được nhận phần thưởng!
Thấy ở đó mọi việc đều ổn, ông lại lên ngựa phi đến Cổng Cũ. Quân Thổ tập trung tiến vào sườn phía đông và phía nam thành. Tất cả sức mạnh của đợt công kích hướng vào hai chỗ.
Gergey mặc quần áo giáp đứng trên pháo đài. Quanh chàng là những cái thùng và cái bánh xe khổng lồ.
Chàng đứng đó điềm tĩnh như quả núi đá trên bờ một biển cả gào thét.
Quân địch vẫn tiến tới, vẫn lũ lượt tràn tới. Tiếng la hét dậy trời: Nhân danh Ala! Nhân danh Ala! Tiếng thét xung trận một lúc làm lấn át cả dàn quân nhạc. Nhưng sau đó dàn quân nhạc dừng lại trên đồi Ghế Vua đối diện với thành và vang lên không lúc nào ngớt.
- Rồi tí nữa chúng mày còn được khiêu vũ nữa kia! – Zôntoi quát lên.
Bởi vì tiếng nhạc thì thùng cuồng loạn như thúc người ta nhảy.
Đạo quân Thổ ầm ầm lướt tới. Những lá cờ đuôi ngựa, có thêu hình nửa vầng trăng bay phấp phới. Lá cờ nửa vàng nửa đỏ của bọn ionisa đi trước nhất. Phía sau là lá cờ nền xanh sọc trắng của bọn ulepheji. Bọn xpahi xông tới trong những bộ giáp sắt, người khuất sau những cái khiên dài đến gối.
- Ala! Ala!
Tay chúng cầm giáo hoặc cầm thương. Những thanh gươm trần đeo đầu dây lủng lẳng ở khuỷu tay chúng. Ngang lưng chúng lại dắt một thanh gươm khác nữa. Từ các dãy hào, bọn chúng đông nghịt, ào ào chạy lên thành.
- Ala chí cao! Vì Ala! Chúng mày ơi!
Để trả lời, một cái thùng đen lao xuống, vừa tóe lửa, vừa nhảy lóc cóc vừa lăn về phía chúng. Một tên xpahi cắm cây thương của hắn xuống đất đón đường cái thùng, tên thứ hai, tên thứ ba cắm thương xuống bên cạnh hắn.
- Ala! Ala!
Tên thứ tư vần cái thùng định ném xuống hào. Trong nháy mắt đó, cái thùng nổ và những tia lửa của nó hất tung toán quân đi đầu.
- Ala chí cao!
Đến khi chúng nó ngửng được đầu lên, cái thùng thứ hai cũng đã lao vào giữa bọn. Nó nổ lục bục và lửa bắn ra khắp mọi phía. Nó dừng lại giữa toán lính mặc quần áo giáp đầy người và hất tung chúng nó lên.
- Ala! Ala!
Nhưng bọn địch không thể quay trở lại. Từ phía dưới hàng nghìn hàng vạn tên khác xông lên dẫm bẹp chúng nó. Chỉ có thể thấy cảnh nhảy nhót cuống cuồng: cảnh những tên ép mình vào tường, sự khựng lại của những tên đứng phía sau, cùng những tia lửa phụt ra dài hàng chục sải.
Tiến lên, quân dị giáo, tiến lên! Dù có phải xông qua lửa bỏng cũng cứ tiến lên! Và đội ngũ dày đặc của bọn xpahi vẫn lũ lượt xông lên.
Nhưng đây rồi, lớp tường con chạch trên pháo đài mở ra và một cái bánh xe gỗ khổng lồ bốc khói xuất hiện trên cao.
Phần giữa cái bánh xe bốc khói, bốc khói và rít xèo xèo.Cái bánh xe từ bên tường đã lăn ra, lao xuống, xông vào đoàn quân muôn ngàn tên dày đặc.
- Tiến lên, tiến lên! – Bọn aga và bọn iaxaun[89] hò hét khắp nơi.
Nhưng sự xuất hiện của cái bánh xe lại nói với những tên gan góc đi đầu một điều khác.
Chưa đến chỗ bọn chúng, tia chớp đầu tiên đã từ cái bánh xe lóe ra cùng với một vòi lửa dài hàng năm chục sải, mỗi một giọt của nó sau khi bắn ra vẫn tiếp tục cháy với ngọn lửa xanh lè, bất kể rơi nhằm thằng sống hay thằng chết.
- Cẩn thận! Coi chừng chúng mày ơi!
Lớp đầu của quân Thổ hoảng hốt nằm sấp mặt xuống để cho cái bánh xe ma quái kia lăn qua trên lưng. Nhưng khi đến giữa bọn chúng, cái bánh xe đã trở thành một vành lửa loe lóe liên hồi. Nó phụt lửa, dầu cháy và những bông hoa lửa màu tím lên những cái đầu cạo trọc, lên những bộ quần áo dã chiến. Nó vừa xèo xèo, lách tách, vừa đùng đoàng lăn qua hàng ngũ chúng. Từ các nan hoa vãi ra, phụt ra, bắn ra những ngôi sao đỏ, xanh, vàng thành những luồng ngoằn ngoèo.
- Trời ơi, cứu tôi với!
Những toán địch gan góc nhất cũng hoảng hốt tháo lui, đạp lên nhau chạy trốn trước quái vật khủng khiếp này.
Và cái bánh xe, dường như có trí khôn và chủ định, theo sát gót những tên chạy trốn, đánh chúng ngã xuống, phụt lửa rừng rực cùng với dầu cháy, lưu huỳnh vào người chúng, làm súng của giặc Thổ nổ bắn lẫn vào nhau. Khạc đầy lửa vào mắt, mồm, tai của chúng, đến nỗi những tên đang hấp hối cũng phải nhao người mà tránh. Cái vành lửa vẫn tiếp tục lăn đi. Những lưỡi tầm sét lửa dài bay ra đánh ngã bọn giám trận, cả nguời lẫn ngựa. Những ngọn lửa dài cháy đến tận xương, khói của nó làm quân địch ngạt thở. Tiếng nổ rền đinh tai. Nó trùm lửa lên những toán quân trên đường nó lao qua. Dọc đường nó đi không còn lại gì khác ngoài những tên quằn quại trong lửa bỏng, những tử thi cháy sém, những tên còn sống bốc lửa nhảy nhót như một lũ phát cuồng.
Giờ đây đã khoác một lớp màn khói, cái bánh xe lăn vẫn tiếp tục lăn đi, hắt ra hàng trăm luồng chớp.
- Cứu với! Cứu với! Trời ơi!
Tiếng hò hét của bọn giám trận, ngọn roi có gai đánh vào mặt những tên chạy trốn đều vô hiệu tất, không còn kẻ nào dám ở lại tấn công thành ngoài nữa.
Đã thế, quân Hung còn xông ra khỏi những chỗ tường vỡ, băm vằm không thương xót những tên nằm ẹp xuống hai bên đường để tránh bánh xe, hoặc đang bủn rủn vẫn chưa chạy kịp.
- Quay về! Quay về! - Tiếng kèn rúc lên.
Khó khăn lắm Gergey mới buộc được các chiến sĩ của chàng quay về.
- Đưa thùng gỗ lên mặt thành! Đưa thùng gỗ lên!
Các chiến sĩ lăn thùng gỗ lên dựng trên mặt thành. Nhưng phần còn lại của đạo quân Thổ đã ồn ào, hỗn độn rút khỏi chỗ đó. Chỉ những khẩu đại bác còn đứng lại cùng bọn tốpsi trố mắt ngẩn người.
May mà Mectsei đã bỏ chỗ đào hầm vừa rồi quay về vị trí, nếu không ở chỗ Cổng Cũ quân địch đã lọt vào ba nơi theo đường ngầm khác.
Trong khi ở đằng này cái bánh lửa lao vào đánh địch thì dưới nền đất Cổng Cũ, cuộc chiến đấu cũng đang diễn ra. Ở đó tường thành đã sụt lở đến nỗi quân Thổ có thể chọc thương và giáo vào qua những kẽ đá hở, quân Hung thì chọc ra. Mectsei ra lệnh cho đào hầm đối diện với đường ngầm của địch và đuổi chúng chạy dài ở cả ba nơi.
Cuối cùng quân Thổ phóng hỏa đốt cổng, để muốn qua đó mà đột nhập vào thành, nhưng tất nhiên chúng đã gặp phải một lớp tường dày, kiên cố ở đằng sau cánh cổng. Mectsie đã sớm cho xây lớp tường đó.
Khi thấy quân sĩ xuất kích và quanh mạn pháo đài của mình, quân địch đã hốt hoảng bỏ chạy, Gergey sai lấy những tấm da nhúng nước phủ lên các khẩu pháo và những thùng thuốc súng, để lại mười người đứng gác, còn bao nhiêu chàng dẫn sang Cổng Cũ để giúp Mectsei.
Nhưng ở đây cũng không còn việc gì để giúp nữa.
Nỗi kinh hoàng của bọn Thổ ở đằng kia tác động đến cả mạn cổng này. Trong số những binh đoàn đưa đến đây chỉ có bọn pháo thủ đứng vững. Bọn này đứng vòng quanh cổng mà bắn, rồi lại nạp đạn, lại bắn liên hồi.
Trên mặt thành, náu mình dưới lớp tường con chạch, những người lính canh vẫn đứng gác, chỉ có một toán chiến sĩ cúi lom khom dưới công sự. Thỉnh thoảng họ đâm giáo qua những kẽ hở trên mặt tường.
Gergey chạy lên mặt thành, nấp sau một cái khiên, nhìn xuống. Chàng trông thấy một toán lính Thổ rục rịch sát trong chân tường, từ trên cao cũng như từ hai phía sườn không thể bắn vào chúng được.
Các chiến sĩ Hung đâm ra, nhưng, hoặc chúng nép ở nơi không có kẽ hở, hoặc chúng ngồi xổm xuống. Một số đứa mang bao tải, một số đứa mang đá. Bọn chúng dùng bao tải và đá hòng bịt kín những lỗ châu mai khiến các chiến sĩ Hung không thể bắn ra được. Vì vậy các chiến sĩ Hung từ bên trong đẩy những vật đó ra, thỉnh thoảng còn nhằm đâm bọn Thổ. Còn bọn Thổ mỗi khi thấy một ngọn giáo Hung đâm ra, chúng chộp ngay lấy, rồi cả hai ba đứa bíu vào nhau. Hai bên co kéo một lúc, sau đó chúng giật cây giáo ra.
Chiến sĩ Hung chửi vung lên.
- Ê! Lửa kia kìa! Hơ ngọn dáo vào lửa ấy! - Gergey gọi vọng xuống chỗ toán lính.
Một đống lửa đang cháy bên chân tường. Cả vài chục người lính nhảy vội đến chĩa ngọn giáo vào đống than hồng. Họ nung cho đến lúc đỏ lên.
Quân Thổ sẵn sàng đoạt dáo, vừa nhăn nhở cười vừa đoạt những ngọn giáo mới.
Cùng một lúc hai chục ngọn dáo từ trong tường đâm ra.
Quân Thổ chộp ngay lấy! Đã hẳn là tay chúng cháy xèo xèo trên lưỡi giáo. Đáp lại tiếng chửi rủa điên khùng của chúng là tiếng cười khoái trá của các chiến sĩ Hung.
17
Mười hai tháng Mười. Thứ tư
Ngày hôm đó tường thành đã giống như một cái sàng.
Đã ba mươi hai ngày nay kẻ địch bắn không ngừng không nghỉ, lúc ở mặt trước, lúc từ mặt sau, lúc ở phía này, lúc ở sườn bên nọ.
Đạn đại bác Thổ rơi vào thành đã nhiều đến nỗi đi đâu cũng vấp phải chúng. Đám nông dân dùng chổi buộc bằng cành dương quét thứ đạn nhỏ ra hai bên lề đường để mỗi khi có đợt công kích, quân ta khỏi ngã vì đạp phải chúng. Còn thứ đạn lớn người ta mang lên chỗ các khẩu pháo.
Giữa pháo đài Mới và pháo đài Đất, một chỗ vỡ hình chữ V há miệng toang toác trên tường. Một cạnh tường của pháo đài Nhà ngục đổ xuống hào sâu. Pháo đài Đất chi chít những lỗ, chả khác nào cái tổ ong. Tháp Bôiki chỉ còn hai bức tường. Tháp Góc trông như một cây gỗ mục đổ úp ngọn xuống đất. Dãy tường con chạch chỉ còn lại từng quãng. Những công thự trong thành, cái đổ ra phía ngoài, cái đổ vào phía trong, hoặc chỉ còn là những khung tường mất mái. Trong soái phủ chỉ còn đúng ba buồng có thể ở được, nhưng cũng bị mưa hắt vào. Bãi chợ cũng đã đổi khác, những đường hào sâu hàng sải tay chạy dọc chạy ngang. Mỗi khi quân Thổ bắn, người ta phải đi dưới hào, lúc thường thì đi qua trên những thanh xà bắc ngang bên trên làm cầu.
Bày sói dữ vẫn gào rú ở bên ngoài.
Giờ đây giữa ban ngày người ta cũng phải vá lại tường. Những cây gỗ thanh và những tấm gỗ xẻ lấp các lỗ hổng lại được chừng nào hay chừng ấy. Đá chỉ còn đủ để làm vật tựa ở đằng sau.
Ở chỗ Cổng Cũ, Mectsei cũng thân hành vác đá. Chàng khích lệ những người mỏi mệt và luôn nhắc Thượng đế sẽ xuống giúp. Có thể thấy trước là ở nơi đó cuộc công kích sẽ dữ dội lắm. Khi thì Đôbô, khi Gergey, khi Mectsei kiểm tra lại tường thành. Cả ba đều thấy rằng tháp Góc không còn bảo vệ được cổng thành nữa, cần phải có nhiều thủ pháo. Vì vậy họ ra lệnh cho mang thủ pháo lên để đầy các giàn gỗ. Những tay súng thiện nghệ được bố trí vào những kẽ hở.
Gergey cho chế nhiều vòng rơm tẩm nhựa đường, hỏa hổ và thủ pháo rồi sai mang đến khắp mọi nơi.
Zôntoi xây dựng trên pháo đài Sanđô.
Phuyghétđi sai lấy xích buộc giăng những chỗ vỡ trên pháo đài Mới.
Đôbô cưỡi ngựa lúc đến chỗ này lúc đến chỗ nọ. Người ta đã chừa lối đi cho ngựa của ông quanh chân tường, dưới những giàn gỗ. Tuy vậy ông vẫn thường phải đi giữa những làn đạn bay tới tấp. Ông xem xét, sai phái cho nhịp độ của công việc được đều đặn. Võ đồng Bôlajơ cưỡi con ngựa giống Thổ còn lại cuối cùng theo sát gót ông để truyền những mệnh lệnh của đại úy đi. Bảy con ngựa khác đều đã bị bắn chết ngay dưới mình hai võ đồng.
Ngày hôm đó Petơ cũng lên ngựa. Chân anh phải bỏ đến tận đầu gối. Da mặt anh xanh mét, nhưng bộ ria vê xoăn tít. Mectsei chiến đấu thay anh ở Cổng Cũ, bây giờ anh thế chỗ Mectsei bên đội quân dự bị trong thành.
Lúc chỗ này, lúc chỗ khác, anh nói với quân sĩ bằng cái giọng trầm sang sảng:
- Quân Thổ đến đây đã ba mươi hai ngày! Ước gì chúng nó cứ ở lại mãi đây cho đến lúc tên cuối cùng cũng được chúng ta cho về chầu âm phủ! Viện binh nhà vua thế nào cũng đến! Cả thế giới đang nói về lòng dũng cảm của chúng ta! Cả đến trăm năm sau người ta vẫn còn dùng chữ Eghe để thay tính từ dũng cảm.
Thấy có đông người xúm quanh chàng dũng sĩ hùng biện, Đôbô cũng dừng lại một phút để nghe xem anh ta nói gì.
Nghe đến câu cuối cùng, ông mỉm cười: ông tư lự nói với Xexey đứng bên cạnh:
- Trăm năm sau ấy à? Thế gian còn nhớ gì đến mặt mũi chúng ta nữa!
Điều đó ông tự nói với mình hơn là tự nói với Xexey. Và dường như thấy xấu hổ vì nói to ý nghĩ đó lên, ông nhún vai:
- Thế nào cũng được. Cái chính không phải là mãi mãi mà là tâm hồn, không phải vì ban khen mà vì nghĩa vụ!
Nói đoạn ông thúc ngựa về phía pháo đài Sanđô.
Các chiến sĩ còn tiếp tục say sưa vì lời nói chứa đựng nhiều điều tốt đẹp ấy. Không có nó họ vẫn đứng vững ở vị trí của mình, nhưng lời nói hay cũng giống như thứ rượu vang hảo hạng.
Petơ đẩy lệch cái mũ sang một bên, nói tiếp:
- Rồi cả nhà vua cũng đích thân đến đây nữa cho mà xem! Người sẽ ra lệnh cho các dũng sĩ Eghe xếp hàng và bắt tay từng người một. Ngươi tên là gì ? Nhà vua sẽ hỏi. Tâu hoàng thượng, tên con là Nogiơ Gianốt ạ! Tâu bệ hạ, tên con là Xobô Nogiơ Mihai ạ! – Cầu thượng đế phù hộ cho ngươi, con ạ! Nhà vua sẽ vui vẻ, hài lòng mà nói vậy. Nhưng các ngươi cũng xứng đáng với điều đó lắm. Ta còn nghe nói từ nay về sau hoàng thượng chỉ chọn sĩ quan trong số những chiến binh đã tỏ rõ lòng dũng cảm ở đây! Tất cả mọi lính trơn đều trở thành trung úy sau cuộc vây hãm này, ta nghe nói như thế đấy. Rồi có thể là đại úy nữa cũng nên! Suy cho cùng, đối với hoàng thượng tốt nhất cũng là người lính đã chịu đựng thử thách.
Anh nhìn qua một bên, trông thấy gã xigan đang nhảy lên như con dê vì một viên đạn vừa rơi độp xuống trước mặt gã.
- Này, xigan – anh bảo gã – ngươi thì ngay đến danh hiệu quý tộc cũng chưa được phong. Đến một tên Thổ thôi ngươi cũng chưa đập chết được.
- Thì con biết làm thế nào được? - Gã xigan đáp – Chả có lấy một đứa nào đến chỗ con đứng cả, đấng Đevơla vật chết chúng nó đi!
Lúc trời gần tối, một tên Thổ cầm khăn trắng xuất hiện bên một kẽ hở. Người ta nhận ra Vosơ Mikơlôt và lập tức kéo anh ta vào, dẫn đến chỗ Đôbô.
Dọc đường hàng trăm và hàng trăm cái miệng hỏi anh:
- Có tin gì đấy?
- Viện binh đến đấy! Mikơlôi gọi to đến khắp nơi.
Tin mừng đó lan đi trong thành như một tiếng reo :
- Viện binh của nhà vua đã đến!
Thực ra thì Đôbô đã dặn Vosơ Mikơlôt khi vào thành phải nói như thế.
Vậy là đại quân đã đến! Ngài thượng úy Petơ nói thế mà đúng đấy !
Đến trước Đôbô, Vosơ Mikơlôt bỏ tuyban ra, mở lớp vải lấy lá thư đưa cho Đôbô.
Đôbô nhìn dấu niêm phong. Lá thư của đức giám mục. Ông xé phong bì ở chỗ cạnh dấu niêm và mở là thư với bàn tay bình tĩnh. Ông ngồi trên lưng ngựa, quân dân kéo đến xung quanh. Trong khi ông đọc bức thư, quân dân cố dò nội dung của bức thư đó qua nét mặt ông. Nhưng nét mặt ấy cứ như gang thép. Khi ông bắt đầu, nét mặt cũng như khi đã đọc xong.
Ông gập bức thư lại, bỏ vào túi, đoạn nhìn quanh như thể ngạc nhiên vì thấy người ta đứng xung quanh đông đến thế. Trong số các thượng úy chỉ một mình Petơ có mặt ở đó. Ông nói với anh cốt để những người khác cũng có thể nghe:
- Tối nay tôi sẽ cho mời các ngài trung úy. Tôi muốn báo cho họ một tin đáng mừng.
Đoạn ông đi vào buồng riêng, đóng cửa lại.
Ông ngồi xuống ghế. Những nét bình thản như gang thép trên mặt ông trở thành những nét buồn bã. Ông nhìn trân trân ra phía trước, cay đắng và tuyệt vọng.
Hôm đó Đôbô còn nhận được một bức thư khác nữa. Một nông dân đã mang nó đến. Bức thư màu trắng trong tay gã chứng tỏ bọn Thổ phái gã đến. Đó là sứ giả thứ tư của pasa Ali.
Quân dân trong thành đã biết Đôbô vẫn đối xử cục cằn với những kẻ đưa thư của bọn Thổ, vậy cứ để ông tiếp gã trên bãi chợ. Và họ dẫn người đưa thư đến đó.
Ban đêm trời đã lạnh, những người lính đến phiên nghỉ đốt lửa sưởi trên bãi chợ. Họ nướng mỡ ướp và chiêu bằng một vài cốc rượu vang pha nước lã.
- Tốt hơn hết là bác hãy đốt nó đi trước khi ngài đại úy trông thấy.- Một chiến sĩ thương tình bảo người đưa thư. – Nó chẳng đưa lại may mắn cho bác đâu.
- Tôi đốt thế nào được. Có phải của tôi đâu.
- Nhưng bác đã mang nó từ chỗ quân thù đến đây.
- Ai gửi thì tôi mang từ chỗ kẻ đó lại.
- Người ta sẽ treo cổ bác.
- Treo cổ tôi ấy à?
- Chứ còn ai nữa? Ngài đại úy đã sai treo cổ cả một ông trung úy của chúng tôi đấy. Thế mà ông ta cũng là quan cơ đấy, lại còn nhà quý tộc chứ không phải loại nông dân ục ịch như bác đâu.
Cái giá treo cổ còn đứng trên bãi, người lính chỉ tay về phía đó mà bảo:
- Kia kia: cái giá treo cổ vẫn còn đấy.
Gã nông dân hoảng sợ, vã cả mồ hôi. Gã gãi quanh cái đầu rồi thò tay vào bị.
Vừa lúc đó Đôbô phóng ngựa tới:
- Cái gì thế? Người này là ai? Ngươi muốn gì?
Gã nông dân ấn cái bị vào trong áo choàng lông, vừa lúng túng xoay cái mũ vừa đáp:
- Con là Kovát Esơvanhơ, con hôn bàn tay ngài.
- Ngươi muốn gì?
- Co…on ấy ạ? Con không muốn gì cả ạ.
- Thế thì ngươi vào đây làm gì.
- Chả là... Con chỉ vào cốt để hỏi xem quân ta làm gì trong cơn hoạn nạn này?
- Ngươi đã mang thư vào phải không?
- Không ạ. Con không mang một mẩu thư nào đâu ạ.
Thấy Đôbô vẫn như nhìn xuyên qua người gã, gã vừa lau trán vừa nhắc lại:
- Trời bảo con cũng chẳng mang vào.
- Hãy khám người nó xem!
Gã nông dân tái mặt phục tùng. Bức thư bằng giấy Ai Cập có con dấu niêm to tướng được lôi ra khỏi bị.
- Ném vào lửa! –Đôbô quát.
Người lính quẳng bức thư vào đống lửa.
Gã nông dân run lẩy bẩy, gã vừa gãi đầu vừa chối:
- Con không biết làm sao nó lại ở trong người con. Kẻ nào đó đã bỏ vào…
- Gông cổ lại! – Đôbô ra lệnh - Rồi đưa cái đồ khốn kiếp ấy vào chỗ bọn kia.
18
Vì đại bác nã nhiều quá nên hôm đó (12 tháng mười) trời cũng mưa. Mãi đến tối, khi gió thu lùa mạnh trên khắp vùng, những đám mây mới tản đi.
Quân dân trong thành thấy bọn Thổ đã tập trung đằng sau các ụ chướng ngại. Đôbô chỉ cho ba trăm chiến sĩ đi nghỉ, còn tất cả những người khác đều phải sẵn sàng quanh những chỗ tường vỡ.
Khoảng mười một giờ đêm, đám mây cuối cùng cũng bị gió đuổi ra khỏi bầu trời. Trăng rằm tắm Eghe trong ánh sáng vằng vặc gần như ban ngày.
- Cầm lấy vũ khí, bà con ơi! – Tiếng kêu bỗng nhiên đồng thanh vang lên từ khắp mọi phía trong thành. – Cả thường dân cũng cầm lấy vũ khí!
Lời cấp báo vang trên mặt trống.
Vậy là sẽ có cuộc công kích ban đêm. Dậy đi, hỡi tất cả những ai còn có thể nhúc nhắc!
Và những hình thù đội mũ sắt, cầm giáo từ sau những đống đổ nát tràn ngập ánh trăng chui ra ở khắp mọi nơi.
Giáo sĩ Balin cũng vũ trang đầy người đi vào giữa đám quân dự bị. Tay ông cầm một cây thương to đến nỗi giá có đem làm cọc thùng xe cũng vừa. Hai người chủ quán cũng đã sắp hàng ở đó. Những người thợ xay bột, thợ mộc, đồ tể, những nông dân phục vụ trong thành, tất cả đều binh khí trong tay sẵn sàng đợi lệnh..
Quân dân trong thành cảm thấy giờ thử thách cuối cùng cũng đến.
Ngoài kia tiếng trống đồng Thổ Nhĩ Kỳ cũng đổ dồn. Quân Thổ lũ lượt đổ vào các dãy hào đằng sau cái ụ đất như nước lũ sau cơn giông. Những lá cờ đuôi ngựa phấp phới trên thác người. Thỉnh thoảng có thể trông thấy bọn võ quan Thổ đội mũ nhọn cưỡi ngựa đi đi lại lại bên ngoài các ụ đất. Những viên đá quý và các thứ vàng bạc nạm trên yên cương lấp lánh dưới ánh trăng. Nhiều tên còn quấn khăn tuyban xung quanh cái mũ sắt bóng loáng. Bọn giám binh đội tuyban cao nghễu nghện, phóng ngựa từ chỗ này sang chỗ khác để bố trí các toán quân tấn công.
Nửa đêm, những khẩu đại bác Thổ chớp lửa quanh thành và giữa tiếng gầm kéo dài hàng bốn năm phút, chúng khạc đạn lên thành. Sau đó, từ khắp mọi nơi mọi hướng, từ trăm ngàn cổ họng, dậy lên tiếng thét Bixmila và Ala, những lá cờ đuôi ngựa gần như bay lên các mặt thành.
Trước Cổng Cũ và trên mặt thành có đến ba mươi đám cháy. Hỏa hổ, vỏ nhồi thuốc súng và những vòng rơm xèo xèo bén lửa. Hàng trăm cầu vồng lửa bung thành những vòng cung lớn loe lóe trên không.
Nhưng bọn tấn công vẫn liều mạng xông lên, chúng dốc sức bấu víu, đẩy nhau lên mặt thành. Những đoạn thang nhanh chóng nối nhau lên. Bọn ionisa, bọn axap và bọn kỵ binh đã phiên chế thành bộ binh thoăn thoắt leo lên thang như một bầy sóc.
Trên mặt thành cuốc chim bổ chan chát lên đầu mấu thang. Lửa và đá rơi xuống tơi tấp.
- Thượng đế chí cao! Nào chúng mày ơi! Hu-ra!
Những lá cờ đuôi ngựa lả tả rơi trở xuống, nhưng những bàn tay mới lại giơ lên. Thang tốt thế ngay chỗ thang gãy. Đạp qua thi thể còn quằn quại của những tên ngã xuống, những toán quân mới lại ùa lên thang.
Bọn chúng xông lên dày đặc đến nỗi che kín cả mặt tường. Ở kẽ hở nào có ngọn dáo Hung đâm ra, y như rằng ở đó một tên Thổ rơi xuống khỏi thang, nhưng lập tức đã lại có ngay tên khác thế chân. Nó cũng chẳng tránh cái bậc thang nguy hiểm kia nữa, nhát dáo sắp tới sẽ chọc vào bụng nó hay sẽ trượt qua dưới nách, chuyện đó nó hoàn toàn phó mặc cho may rủi.
Thành đã không còn cổng nữa. Bọn Thổ đứng trên thang dùng búa bổ như mưa lên các thanh gỗ đóng ngáng ở những chỗ vỡ trên tường. Những tên từ trên cao rơi xuống đôi khi cuốn theo cả bọn dùng búa này, chúng lăn lộn, quằn quại trong máu lửa cho đến khi những tên khác xông lên che khuất chúng.
- Thượng đế chí cao! Nào chúng mày ơi! Hu-ra!
- Giê–su!
Và những chiến cụ lại tới tấp đổ xuống đầu giặc: cuốc chim chan chát, hỏa hổ đì đùng, thang kêu răng rắc, búa vung vùn vụt: cơn bão lồng lộn gào thét.
Cùng một lúc, khoảng năm chục tên địch đã cố lên được đến ngang lớp tường con chạch. Lớp tường kêu răng rắc, ngả ra phía ngoài. Mectsei giật lấy cây mã tấu trong tay một chiến sĩ, chém sả một sợi dây giằng. Đoạn tường đổ ra, lăn nhào xuống cùng với những tên lính thiết giáp Thổ bám vào nó và quét khỏi mặt thành hàng trăm tên khác nữa.
- Lên mặt tường! Lên mặt tường! – Mectsei kêu to rồi chính anh cũng nhảy lên mặt thành cùng với một cây thương dài chừng sải rưỡi.
Những tảng đá vuông lớn và những quả đạn gang nặng hàng nửa tạ do các bức kích pháo bắn vào, rơi tới tấp lên bọn Thổ ngã lăn lóc dưới chân thành.
Nhưng từ bên dưới, tên và đá cũng vun vút bay lên. Máu chảy qua lưới che mặt của Mectsei.
- Ngài đại úy! – Người ta gọi để lưu ý chàng.
- Lửa! Ném lửa xuống! – Mectsei hét và dùng đôi giầy sắt hất một đống than hồng xuống bọn Thổ lăn lóc dưới chân thành.
Người Hung cũng gục ngã trên mặt thành, người rơi ra ngoài, nguời ngã vào trong. Nhưng giờ đây người ta không còn nhìn xem người tử trận là ai nữa. Một người vừa ngã xuống, người khác đã nhảy lên thay và lại giội đá, giội đạn xuống cho đến khi những cái thang lại đầy người, lúc đó phải dùng quốc chim và chùy mà đánh bật những tên Thổ đã lên đến ngang mặt thành, trở lại.
Trên pháo đài Đất, cuộc chém giết cũng khốc liệt không kém. Đôbô chỉ huy việc phòng vệ ở đó. Khi quân Thổ đã vượt qua cả địa ngục của hỏa hổ và những vòng cháy, ông cho đem những rầm gỗ đến đặt trên mặt thành. Ông bảo quân sĩ dùng những rầm gỗ đó mà quét bọn Thổ.
Những phút nghỉ ít ỏi nhờ vậy mà có được, ông dùng để lên ngựa phi đến chỗ Cổng Cũ xem ở đó quân ta chống cự ra sao. Khi phi ngang pháo đài Nhà ngục để trở về, thấy ở đó cuộc tấn công đã ngừng, ông bèn gọi quân sĩ ở pháo đài Nhà ngục sang pháo đài Đất. Những người ở đây cũng đã chú ý về phía pháo đài Đất từ lâu. Tất thảy đều đã háo hức chờ dịp được khoa gươm múa kích. Họ đứng lên lớp tường con chạch, tựa vào tường, kiễng chân trên cỗ pháo để nhìn sang cuộc xung đột bên pháo đài bạn. Vì vậy khi nghe tiếng Đôbô gọi, họ gần như nhảy cẫng lên mà ùa sang pháo đài Đất.
Thế nhưng trong lúc đó quân Thổ cũng lại bắc thang lên pháo đài Nhà ngục. Đầu tiên chỉ hai, ba cái, sau đó đến mười, muời lăm cái. Vì từ trên thành không có lửa cũng chẳng có đá lửa ném xuống, quân giặc vun vút lao lên.
Khi lão Sukan đứng trực trên thành quay trở lại, đầu của một tên Thổ đội mũ sắt cũng vừa nhô lên.
- Chà, bố mày chứ! – Lão rú lên rồi bất thình lình cầm thương lao tới. Cây thương vẽ một vòng lên trời rồi bổ xuống đầu tên Thổ, hắn rơi xuống khỏi thang cùng chín mười tên khác nữa.
- Lại đây, lại đây! Ối bà con ơi! – Lão Sukan thét to và lại đâm túi bụi vào toán địch trên một cái thang khác.
Pribêch Gianốt là người đầu tiên chạy đến tiếp ứng cho lão, và người pháo thủ này quật cả cái ghế của người thợ đóng giầy vào giữa mặt một tên Thổ cầm cờ đang bước lên.
Người lính đứng gác dưới chân pháo đài vội chạy đi xin cầu viện. Hai phút sau Petơ đã có mặt ở đó với một toán quân đã nghỉ ngơi, và những vò nạp đạn, đá, hỏa hổ lại bay xuống đầu bọn quân tấn công.
Đôbô cũng chú ý nhìn sang bên đó. Ông thấy lá quốc kỳ đã bị đạn bắn gãy cán, bèn sai đem lá cờ của đội quân dự bị đến và trao cho Nogiơ Isơtơvan.
Trời lúc đó đã tảng sáng.
Trong ánh sáng màu hồng của buổi bình minh, Nogiơ Isơtơvan cầm lá cờ lao lên. Trên người anh không có áo giáp cũng không có mũ sắt, tuy vậy anh vẫn lao lên lan can của pháo đài, tìm cái cọc sắt để cắm cờ.
- Đừng cắm ra đấy! – Đôbô gọi anh. – Chúng nó có thể cướp mất!
Trong nháy mắt đó Nogiơ Isơtơvan ôm lấy ngực. Anh quay một vòng rồi ngã xoài lên mặt thành, bên cạnh khẩu đại bác.
Đôbô bắt lấy cây cờ đang như một cánh chim bay về phía ông và đưa cho Bôiskoi:
- Cầm lấy, con!
Trong ánh bình minh, cuộc tấn công pháo đài Bôiki cũng bắt đầu. Ở đó quân địch xông lên theo sau tám lá cờ. Ánh mặt trời mới mọc đỏ rực đã biến những quả thao vàng trên cán cờ thành những quả cầu bằng hồng ngọc.
Ở pháo đài này quân địch đã bao lần bị xơi đòn chí tử đến nỗi chỉ còn bọn ionisa, những con hổ già dặn nhất, trải nhiều thử thách của các đạo quân, là còn dám liều lĩnh xông lên. Đầu chúng đội mũ sắt, mặt và cổ đeo chàng mạng bằng lưới thép, ngực và tay đều mang giáp sắt, chân đi ủng da thuộc màu đỏ tươi.
Gergey và Zôntoi đều sẵn sàng ở đó. Suốt đêm qua họ đã phải thức mà không được làm gì cả, đã phải ngồi yên mà nghe tiếng náo động của trận tấn công lớn, đẫm máu bên các pháo đài khác.
Được, trời sáng lại càng tốt.
Khoảng hai trăm tên axap xếp hàng trước pháo đài với những bầu đầy nước. Mặc kệ: hễ chạm được đến đầu chúng thì cứ tuôn lửa xuống.
Ở đây quân Thổ không bắt đầu bằng thang. Khi quân bảo vệ đã lên cả trên mặt thành, ở dưới kia hàng ngàn cánh tay nhất tề cử động, một cơn mưa đá và tên bao phủ lấy những người giữ thành.
Zôntoi bị một hòn đá trúng vào đầu. May mà anh đội mũ sắt. Hòn đá chỉ làm gãy cái khóa gài quai mũ. Anh chửi ầm lên, vừa quát vừa giật cái quai xuống:
- Được, quân cầu trệ, chúng mày cứ liệu thần hồn! Vì món này, hôm nay tao sẽ đập nát một trăm cái mũ của chúng mày!
Và chỉ chưa đầy mười lăm phút sau, tiếng quát tháo của anh đã lại sang sảng:
- Này, đồ dị giáo, đây là đòn trả thù cho cái mũ của tao.
Rồi với một tên khác:
- Này, gọi là nếm thử một chút quà Eghe.
Một cái mái to bằng da bò từ trong trại quân Thổ tiến vào nom thật lạ lùng. Năm chục tên axap chỉ mới gọi là đủ để khiêng nó. Hai trăm tên inoisa nấp vừa bên dưới mái.
Gergey gọi đem thùng cháy đến và châm lửa vào cái dây ngòi tẩm dầu quấn quanh một que sắt nhỏ.
Cái mái khổng lồ như một con rùa bò đến tường thành. Dù người ta có dùng quốc chim phá được lớp da đi nữa thì đến khi đốt được nó, bọn Thổ cũng đã lên đến mặt thành. Chưa kể còn vấn đề là có thể đốt được nó hay không? Không chỉ lớp da ướt sũng nước mà cả khung gỗ cũng vậy. Quân Thổ đã rút kinh nghiệm.
Mặt trời ló ra từ sau dãy núi đằng đông, chiếu thẳng vào mắt những người bảo vệ pháo đài Sanđô. Mặt trời cũng tiếp tay cho bọn Thổ.
Khi cái mái đã lên đến sườn dốc của pháo đài, Gergey thét lớn:
- Nằm xuống!
Các chiến sĩ không nghĩ ra được tại sao phải nằm. Một loạt đạn nổ rền đã giúp cho họ hiểu.
Bọn Thổ đã nghĩ ra kế xếp nòng súng quanh cái mái da lớn. Những nòng súng như cái còi của cây đại phong cầm chĩa về phía đoàn quân phòng vệ. Gergey đã kịp trông thấy cái đó.
- Đứng dậy! – Chàng hô lên sau loạt đạn. – Thùng cháy!
Chàng sai quân lăn thùng cháy xuống.
Quân Thổ không nằm phục xuống đất trước thùng cháy nữa mà hoặc nhảy tránh sang một bên hoặc nhảy qua, rồi lại tiếp tục xông tới trước.
- Hai thùng! – Gergey hô.
Chàng tự đặt cái thùng thứ ba ở thế sẵn sàng lăn xuống, tự chàng cầm bùi nhùi lên để châm lửa.
Hai cái thùng cháy lại quét quang một đường giữa đám đông nhốn nháo ở dưới chân thành. Cái thùng thứ ba bị một tên ionisa to ngang bắt lấy, xô xuống một cái hố dọc đường và lấy đất lấp lên. Khi hắn dẫm chân lên lớp đất đỏ, cái thùng nổ tung, hất tên ionisa cùng cả lớp đất lên trời và quật ngã thêm hai chục đứa nữa trong bọn đứng quanh đó.
Việc đó khiến đoàn quân công kích phải khựng lại. Nhưng đằng sau đã vang lên tiếng thét “tiến lên” và “xung phong” của bọn giám binh cùng với tiếng các bầu nước tưới rào rào để dập các đám lửa tung tóe ra, khiến hơi nước bốc lên nghi ngút.
- Bây giờ chỉ ném đá xuống chúng nó thôi. – Gergey hô.
Chàng muốn chờ đến khi bọn địch lại bâu dày đặc trên đường và trên tường.
Và giữa tiếng thét “Ala” như trăm ngàn tiếng hổ gầm, giữa tiếng kèn vang trống thúc, đoàn quân địch lại xông lên. Rừng thang tiến đến bên tường thành.
Một tên ionisa ném một cuộn dây có móc lên tường, rồi ngậm thanh gươm cong vào giữa hàm răng, với sự khéo léo của loài khỉ, hắn theo dây leo lên. Một hòn đá rơi đúng đầu hắn và làm rơi cái mũ sắt. Cái đầu trọc của hắn với những vết chém đã thành sẹo, trông chẳng khác nào quả dưa bở.
Hắn tiếp tục leo.
Gergey vớ lấy cây giáo.
Khi tên Thổ chỉ còn cách Gergey chừng một sải tay, hắn ngửng mặt lên. Bộ mặt hắn đẫm mồ hôi, cái mồm thở phì phò.
Gergey như thể bị ai đánh vào giữa ngực, chàng sững cả người. Đây chính là khuôn mặt ấy! Đây chính là giáo sĩ Gabô, người thầy đã xấu số của chàng! Cũng những con mắt màu gio, cũng hàng ria mỏng, cũng những cái xương lông mày nhô ra như thế!
- Mi là em giáo sĩ Gabô! – Chàng quát bảo tên Thổ.
Hắn trừng mắt nhìn chàng, vẻ không hiểu gì cả.
- Các ngươi đánh chết nó đi! – Gergey quay đi bảo quân sĩ. – Đến tiếng mẹ nó cũng không còn biết nữa.
Cuộc tấn công dữ dội kéo dài đến tận chiều tà. Quân Thổ từ khắp các mặt mệt mỏi rút lui khỏi tường thành.
Hàng ngàn xác giặc Thổ chết và bị thương la liệt quanh thành. Khắp nơi văng vẳng tiếng kêu rên của những tên gãy xương đang quằn quại.
Nhưng trong thành cũng đầy thương binh, tử sĩ; mặt trong các bức tường và các giàn gỗ cũng đỏ lòm những máu. Các chiến sĩ mệt nhọc, rã rời đi khiêng thương binh, tử sĩ lại một nơi.
Các võ quan đi rửa ráy. Bản thân Đôbô cũng đen sạm khói súng, râu ria cháy xoăn lên, nếu không có cái mũ sắt đại úy trên đầu, người ta sẽ không thể nhận ra ông. Cứ y nguyên nhem nhuốc như vậy, ông đón nghe các báo cáo ngay bên khẩu đại bác Búp bê.
- Chỗ tôi có sáu mươi lăm tử sĩ và bảy mươi tám người trọng thương. Dùng hết năm tạ thuốc súng. – Mectsei báo cáo.
- Ba chục người bị chết và một trăm mười người bị thương. Thuốc súng tám tạ. Ngay đêm nay cần phải cho hàn lại chỗ vỡ. – Bônemixo Gergey báo cáo.
- Ba tạ thuốc súng, hai mươi lăm người chết, độ năm chục bị thương. – Phuyghétđi báo cáo rồi ấp tay lên má.
- Anh cũng bị thương à? – Đôbô hỏi.
- Không ạ. Nhưng cơn đau răng nó hành hạ tôi đến nỗi như thể có ai ngoáy một cây giáo nung đỏ trong má tôi vậy.
Trong số những người đến báo cáo, Đôbô trông thấy cả Vosanhi nữa. Người điệp viên mặc quần áo đạo sĩ, người anh đẫm máu từ ngực xuống đến bàn chân như thể mặc tạp dề màu đỏ ở chỗ đằng trước.
- Vosanhi! – Đôbô cắt ngang buổi báo cáo mà nói – ngươi lại đây! – Ngươi bị thương đấy ư?
- Không ạ! – Vosanhi đáp. – Con phải khiêng xác chết mãi với bọn Thổ rồi mới lọt vào được.
- Có tin gì mới đấy?
- Ngài Xonkoi đã viết thư lần thứ hai gửi đi khắp nơi cho các trấn và các thành phố rồi ạ.
- Thế mà cho đến nay vẫn chưa có ai tới?
- Từ một vài chỗ đã có người đến. – Vosanhi kéo dài giọng trả lời. - Nhưng họ còn chờ nhau đến cho đông đủ để có thể đánh thốc vào trại quân Thổ.
Đôbô hiểu là Xonkoi chẳng nhận được trả lời từ một nơi nào hết.
- Ngươi biết gì về tình hình bọn Thổ?
- Con đi lung tung giữa bọn chúng đã bốn ngày nay, vì vậy con biết chúng nó ngán ngẩm ghê lắm rồi.
- Nói to lên, Đôbô bảo, mắt ông sáng ngời lên.
Và người điệp viên nhắc lại thật to để những người đứng quanh đấy cũng có thể nghe được:
- Quân Thổ ngán ngẩm ghê lắm rồi. Thời tiết đối với chúng đã lạnh. Lương thực chúng không còn nữa. Tôi đã trông thấy, bằng chính đôi mắt lành lặn của tôi đây này, khi một gã người tỉnh Nôgrát chở đến năm xe bột vào ngày hôm qua, chúng nó lấy bát, lấy mũ xúc hết ngay. Chẳng kịp chờ để làm thánh bánh nữa: vừa lấy ở các bao tải ra là chúng nó cứ thế bốc ăn sống. Nhưng có thấm tháp gì đối với ngần ấy con người cơ chứ?
- Kơrixtôp. – Đôbô bảo người võ đồng - chạy ngay đến chỗ thợ lò mổ bảo họ vật những con bò đẹp nhất cho quân sĩ. Hôm nay và ngày mai nữa, tất cả mọi người đều được ăn bít tết.
Rồi ông lại quay sang người điệp viên. Anh ta báo cáo tiếp:
- Từ hôm qua bọn ionisa đã bất mãn lắm rồi.
- To lên chứ!
- Bọn ionisa bất mãn lắm. – Vosanhi nói tiếp như hò – Chúng nó bảo nhau rằng Thượng đế phù hộ những người Hung. Chúng nó còn bảo chúng nó đã quen với tất cả mọi thứ vũ khí, nhưng cái thứ lửa như hoả ngục ấy thì chúng nó không quen. Những vật cháy ma quái như ở đây chúng nó chưa hề thấy.
Đôbô lặng lẽ nhìn ra trước mặt một lúc rồi nói:
- Một giờ nữa người hãy có mặt trước soái phủ. Ngươi sẽ lại dẫn Vosơ Mikơlôt đến Xorơvotkơ.
Đoạn ông quay sang Sukan.
Đầu lão già quấn đầy băng, kín cả mặt mũi, chỉ còn hở có đôi mắt đeo kính với bộ ria mép. Nhưng mặc dù vậy lão vẫn báo cáo bằng một giọng cứng cỏi, sang sảng:
- Ngày hôm nay chúng ta dùng hết hai tấn thuốc súng.
19
Mặt trời vừa nhô lên đã lại được thấy các dũng sĩ Eghe trên mặt thành. Nhưng xung quanh thành xác chết vẫn còn nhiều đến mức bọn đạo sĩ không sức nào khiêng hết.
Những khẩu đại bác im lặng. Bản thân mặt trời cũng vừa run vừa nhô lên trong khí lạnh, thành phố cùng các thung lũng chìm trong lớp sương mù cao đến ngọn tháp. Mãi đến khoảng tám giờ sương mù mới tan. Lúc đó mặt trời, dường như còn muốn hoá phép cho mùa xuân trở lại thêm một lần nữa, từ bầu trời xanh quang đãng dịu dàng toả nắng xuống mặt đất.
Những người trong thành cũng thu dọn xác đồng đội của họ. Đám nông dân và phụ nữ dùng ván thùng xe khiêng những xác chết lại một chỗ. Ở đằng Cổng Cũ thì phải dùng xe chở. Giáo sĩ Balin lo việc chôn cất, Giáo sĩ Marơtôn làm lễ sức dầu thánh lần cuối cùng cho những người hấp hối.
Trong ánh sáng mặt trời đang lên cao dần, có thể trông thấy các loại binh đoàn Thổ từ những sườn đồi xa đổ về phía thành. Có thể thấy bọn chúng đang tập trung tất thảy binh lính để khi tất cả đã tề tựu, chúng sẽ tiến công toà thành đổ từ khắp các mặt với toàn bộ lực lượng đại quân.
Đêm qua, sau trận chiến đấu kéo dài, các chiến sĩ đã ngủ một giấc say sưa no mắt. Đôbô đã cho phép họ ngủ, chỉ có điều là phải ngủ xung quanh các pháo đài. Trên mỗi pháo đài chỉ để một người gác canh chừng. Đêm đó các sĩ quan cũng đã được nghỉ ngơi trong một giấc ngủ say như chết. Mãi đến tám giờ sáng Gergey cũng vẫn còn ngủ li bì dưới khẩu đại bác Cóc Tía, đến nỗi cả tiếng kèn, cả tiếng náo động của quân sĩ đi lại rầm rập cũng không khiến được chàng thức giấc. Chàng quấn mình trong một cái khăn, mái tóc dài màu nâu của chàng đọng sương muối trắng xoá.
Mectsei lấy khăn phủ lên đầu chàng và cởi áo khoác đắp thêm cho chằng.
Đôbô sai nạp đinh, sắt vụn vào tất cả các khẩu đại bác lớn nhỏ. Ông còn sai kéo những cái xe chở đầy đá đến chắn trước một số nơi tường vỡ, ở một số nơi khác thì sai bít lại bằng thùng rượu, bằng rầm gỗ, bằng da bò hoặc bằng các thứ đại loại như thế. Đám thợ nề đập vỡ một số quãng gờ tường để thang của bọn tấn công không thể bám vào một cách dễ dàng được. Người ta chở đá lên đầy các mặt thành. Người ta khuân tất cả vạc, chảo trong nhà bếp ra và đổ đầy nước. Tất cả hắc ín có thể tìm thấy trong thành đều được đem hết lên các pháo đài, để cạnh những cái vạc. Cái ống máng bằng thiếc ở soái phủ cũng bị đập vụn ra đem chia cho các khẩu pháo. Đám đồ tể có nhiệm vụ phải nướng thịt bò trên xiên cho mọi người ăn trưa. Bánh mì được mang ra bãi chợ, nơi những toán quân dự bị và những toán quân lui về nghỉ thường tập trung. Người ta xếp bánh thành từng đống. Mihai, người thư lại phái bánh, không riết róng nữa, ai muốn ăn bao nhiêu cũng được. Anh chàng diện cái áo đônman màu nâu rất bảnh, dận đôi ủng màu vàng, đi đến chỗ đám thợ nướng bánh ở bãi chợ và chỉ vắn tắt ghi vào quyến sổ của anh: 15 tháng 10. Bảy trăm xipô.
Trong thời gian đó quân Thổ vẫn tiếp tục tập trung về. Từ các sườn núi và các sườn đồi, dòng thác người màu sắc pha tạp lũ lượt trẩy xuống.
Lúc mười giờ người lính kèn trên bãi chợ trong thánh thổi kèn tập hợp. Quần dân trong thành tề tựu cả lại. Toàn những người buộc băng ở đầu, ở tay. Người ít nhất cũng có một ngón tay phải buộc băng. Nhưng vậy đấy, ai còn nhúc nhắc được đều sẽ lên mặt thành.
Chính giữa bãi, những lá cờ bằng lụa của nhà thờ bay phần phật. Một lá cờ thêu hình Đức mẹ Maria, lá thứ hai thêu chân dung Thánh vương Isơtơvan, lá thứ ba thêu hình Thánh Gianôt. Những lá cờ đã cũ và phai màu: đó là những lá cờ lấy từ trong ngôi nhà thờ đã được cải biến thành pháo đài. Hai giáo sĩ mặc áo lễ màu tím đứng bên bệ thánh lập trên một cái bàn, trên bàn để giá cắm cái nhật nguyệt đựng minh thành.
Quân dân trong thành đã biết sẽ có lễ cầu nguyện. Lẽ ra trước các đợt công kích trước cũng phải làm lễ, nhưng Đôbô không cho phép họ nhắc nhở đến việc đó. Ông vẫn thường nói:
- Những trận này chỉ mới là thử sức thế thôi! Chừng nào đến trận đại công phá, đại quân của triều đình sẽ tới.
Nhưng bây giờ rõ ràng là giờ cuối cùng đã điểm.
Ai nấy đều rửa ráy, chải chuốt sạch sẽ, mặc quần áo đẹp nhất mà đi dự lễ. Các võ quan diện đủ các màu hoa, ủng đỏ, cựa bạc: ria mép xoăn vểnh, lông chim cắm trên mũ sắt, Mectsei mặc bộ áo giáp mới sáng loáng, bó sát người. Lưng đeo hai thanh gươm, một thanh có cán chạm đầu rắn là thanh gươm anh vẫn chỉ đeo trong những ngày lễ. Gergey xuất hiện, đầu đội cái mũ sắt có chóp nhọn. Trên viền mũ, ba cái lông thiên nga trắng tinh cắm trong cái giá chân chim bằng bạc. Ngực cũng đeo giáp nên cái áo đôn-man bằng da đỏ chỉ còn hở có hai ống tay. Tay chàng đi găng lụa, bên ngoài phủ lưới thép đan mắt nhỏ. Cổ áo chàng thêu kim tuyến, bẻ ra ngoài.
Zôntoi không thể đừng được một câu nhận xét:
- Cổ áo của cậu có vẻ áo chú rể quá!
- Vợ tôi thêu đấy, - Gergey nghiêm nghị đáp. – Không phải vì quý trọng quân Thổ mà tôi mặc nó đâu, mà vì tôn trọng thần chết đấy.
Zôntoi cũng vận võ phục đôn-man bằng da, hai thanh gươm đeo hai bên sườn. Cái mũ sắt của anh không có lưới che mặt, chỉ có một thanh thép nhỏ thò xuống đến tận đầu sống mũi. Quanh vành mũ, lưới thép rủ xuống vai anh. Cái mũ sắt ấy có lẽ đã từng là của một tên võ quan xpahi nào đó. Anh đã mua nó trong buổi bán đấu giá sau đợt xuất kích đầu tiên của họ.
Phuyghétđi mặc giáp từ đầu đến chân. Mắt anh đục ngầu. Anh than phiền về nỗi đau răng quá.
- Như vậy cậu giã bọn Thổ càng hăng hơn chứ sao! – Zôntoi an ủi - Người tráng sĩ cáu tiết vào những lúc thế này là tốt lắm.
- Không có cái răng đau này tớ cũng đủ cáu tiết lắm rồi! – Phuyghétđi càu ràu.
Petơ chỉ đội mũ sắt và mặc áo đôn-man bằng da nai. Anh cưỡi ngựa vì anh chưa thể đi được. Anh đứng sau lưng đám đông, giơ gươm vẫy chào các võ quan chỉ huy các đội.
Các võ quan khác cũng đều mặc những bộ quần áo mới nhất. Không phải để hành lễ, vì lúc đầu chưa phải ai cũng biết sẽ cử lễ, nhưng chính vì tất cả mọi người đều cảm thấy hôm đó là sẽ là ngày cuối cùng. Và thần chết, dù cho người ta có vẽ nó xấu xí đến thế nào, vẫn là một vị thần rất đáng kính trọng! Cả những người không có quần áo nào khác ngoài bộ mặc thường ngày. Ít nhất cũng xoăn tít ria mép và bôi sắp hẳn hoi.
Chỉ còn thiếu có Đôbô.
Ông bước ra trong bộ giáp sáng loáng. Đầu đội mũ sắt mạ vàng, chỏm mũ cắm cái lông đại bàng dài. Bên sườn đeo thanh gươm rộng bản, chuôi nạm ngọc. Tay đi găng thép nửa hình vẩy cá, nửa bằng lưới sợi bạc. Trong tay ông lấp lánh cây đao lưỡi mạ vàng, cán bọc nhung đỏ.
Sau lưng ông, hai võ đồng cũng mặc giáp từ đầu đến chân như vậy. Lưng họ đeo gươm ngắn, tóc họ từ trong mũ chảy ra xoã sóng trên vai.
Đôbô dừng bước trước bệ thờ, bỏ mũ ra.
Vì hai giáo sĩ không biết diễn thuyết, Mectsei phải nói với quân sĩ và dân chúng.
Anh bỏ mũ xuống, ôm vào cánh tay và bắt đầu:
- Hỡi anh em đồng bào! Sau đợt công kích hôm qua chúng ta thấy hiện nay giặc Thổ đang tập trung tất cả mọi cánh quân của chúng. Ngày hôm nay toàn bộ lực lượng quân địch sẽ đọ sức với lực lượng của chúng ta. Nhưng Thượng đế đã phù hộ ta thì dù tất cả bọn dị giáo trên thế giới này có chống lại ý muốn của Người cũng vô ích. Trong buổi lễ mà chúng ta thấy ở đây, chúng ta biết chúa Giêsu cũng dự. Người đứng về phía chúng ta! Chúng ta hãy quỳ xuống và hãy cất lời cầu nguyện!
Quân dân trong thành nhất tề quỳ xuống.
Mectsei sướng kinh thay giáo sĩ:
- Đức Chúa trời, Cha của chúng con…
Mọi người lầm rầm đọc, từng câu một. Khi đọc xong cả tiếng amen, sự yên lặng trang nghiêm kéo dài một lúc lâu.
Giáo sĩ Marơtôn ghé tai Mectsei nói cho chàng biết cần phải nói tiếp những gì nữa. Mectsei đứng dậy và lại lên tiếng:
- Hai kẻ nô lệ trung thành này của Thượng đế giờ đây dâng lời cầu nguyện để xin Người xá tội hoàn toàn cho tất cả chúng ta. Thì giờ đã gấp quá khiến chúng ta không thể còn xưng tội được. Trong những giờ phút như thế này nhà chung có thể ban sự rửa tội mà không cần xưng nữa. Chỉ cần các ngươi hãy tự ăn năn về những tội lỗi của mình.
Chàng lại quỳ xuống. Chú bé phụ lễ rung chuông. Giáo sĩ Balin giơ cao cái tượng chịu nạn. Mọi người cúi mặt xuống lắng nghe người giáo sĩ già nói lên những lời xá tội. Khi họ ngửng mặt lên, cái tượng chịu nạn đã được đặt xuống bàn, và ông giáo sĩ giang rộng hai cánh tay ra để ban phước lành, mắt đẫm lệ, ông đứng không nhúc nhích nhìn lên khoảng trời cao quang đãng.
Phần nghi lễ đã hết. Đôbô lại đội mũ lên. Ông đứng lên một tảng đá, cất tiếng nói:
- Sau Đức Chúa Trời, ta có lời muốn nói với các ngươi! Ba mươi tư ngày trước đây chúng ta đã thề với nhau không nộp thành cho giặc. Chúng ta đã giữ lời thề. Cho nên đến nay thành ta đã trơ gan trước mọi cuộc tấn công, cũng như hòn đảo trước cơn bão biển. Giờ đây đến lượt thử thách cuối cùng. Chúng ta đã cầu Đức Chúa Trời đến phù hộ. Với tâm hồn không còn vương tội lỗi, chúng ta phải chiến đấu quyết tử cho sinh tồn của toà thành này và của Tổ quốc chúng ta! Cuộc chiến đấu chúng ta đã tiến hành đến nay để bảo vệ thành là một cuộc chiến đấu chưa từng có, và sự nhục nhã mà giặc Thổ chuốc lấy ở đây, cho đến nay cũng là sự nhục nhã chưa bao giờ có. Ta tin ở vũ khí của chúng ta, ta tin ở sức mạnh tâm hồn của chúng ta, ta tin ở Đức mẹ Đồng trinh Maria người đỡ đầu của nuớc Hung, ta tin ở Thánh vương Isơtơvan, người mà vong linh vẫn luôn luôn phù hộ dân tộc Hung, và nhất là ta tin ở Đức Chúa Trời. Tiến lên, hỡi anh em!
Tiếng trống đồ hồi, kèn trận lanh lảnh.
Các chiến sĩ, với một sức mạnh gang thép, vồ lấy giáo và từng toán từng toán tản đi các ngả, Đôbô lên ngựa, hai võ đồng của ông cũng cưỡi ngựa theo sau.
Đôbô lên mặt thành nhìn khắp xung quanh. Ông thấy đàn ngựa Thổ không có lính trông đang gặm cỏ thành từng bầy lớn trên các sườn đồi Eghe. Khắp xung quanh thành là một rừng giáo chuyển động. Quân Thổ như biển cả nhấp nhô quanh thành.
Và có thể thấy cả hai viên quan pasa trên đồi Ghế Vua. Pasa Ali đội tuyban hình quả dưa bở, quấn không biết bao nhiêu lớp, mặt hắn như mặt một mụ già, xám ngắt. Viên pasa kia là một tên hộ pháp, bộ râu xồm đã điểm bạc. Cả hai đều mặc áo caphơtan lụa xanh, nhưng màu áo của Ali sáng hơn. Mỗi khi chúng cử động, những hạt kim cương nạm trên binh khí dắt ở thắt lưng chúng lại loé lên những tia sáng trắng.
Bọn bêi cưỡi những con ngựa tuyệt đẹp dẫn đầu các cánh quân. Bọn aga và iaxaun cũng cưỡi ngựa. Bọn còn lại đều đi bộ. Giữa rừng quân kỳ Thổ nổi bật một lá cờ đại màu đen. Dân thành chưa hề thấy lá cờ đó bao giờ, chỉ các võ quan hiểu lá cờ đen ấy có ý nghĩa gì: Không có khoan hồng! Tất cả sinh mạng trong thành đều là mồi của thần chết!
Khoảng trưa, những khẩu đại bác Thổ gầm vang, đội quân nhạc của hai đạo quân Thổ vang lên.
Không gian đầy khói. Toà thành rung lên vì tiếng thét Ala acba (Ali chí cao).
Trong thành cũng bắt đầu nổi lửa.
Các nông dân, phụ nữ và những người vào thành tị nạn thảy đều được Đôbô phái đến bên các vạc dầu hoặc bên tường thành. Ngay cả những người ốm cũng tập tễnh ra mặt thành. Người nào còn có thể đứng trên đôi chân đều rời khỏi chỗ nằm để nếu không giúp được việc gì khác thì cũng hô truyền mệnh lệnh hoặc lời nhắn gọi đi. Có người cả hai tay đều buộc băng đeo vào cổ, thế mà vẫn mò ra đứng cạnh đống lửa để chốc chốc dùng chân đẩy củi vào dưới vạc dầu. Các nhà trong thành không còn ai khác ngoài trẻ con, trong soái phủ chỉ còn hai phụ nữ.
Bơlốc phu nhân… Tội nghiệp cho Bolôc phu nhân, bà đã gửi con vào trường cung kiếm nên không con dám xin Đôbô đừng bắt con bà phục vụ trong những trận công kích. Thằng bé còn yếu, nó đứng sao nổi trước vũ khí của bầy mãnh thú dị giáo! Tuy vậy không bao giờ bà để lộ một nét mặt lo sợ cho con. Nghị lực sắt đá của Đôbô đã dẹp đi cái nỗi lo lắng của bà. Bà không dám thở mạnh mỗi khi Đôbô nhìn bà. Y như những người lính, tất cả đều chuyển động theo lệnh của Đôbô với một sự phục tùng như máy. Những người khác mất cả ý muốn riêng, ý của ông chiếm lĩnh tất cả mọi người. Có khi cũng chẳng cần đến lời nói của ông nữa, chỉ cần ông ra hiệu là tay chân mọi người sẽ theo đó mà cử động.
Toà thành đã biến ra cái gì rồi, nếu chỉ một sợi tóc thôi của Đôbô run lên vì sợ hãi! Ông nhắc mọi người phải cẩn trọng, ông bắt tất cả mọi người đều phải mặc giáp, đội mũ sắt: nhưng khi thần chết xuất hiện trên mặt thành, ông chỉ huy quân dân chống cự, không hề phân biệt cá nhân ai cả.
Không có ai quý hơn Tổ quốc!
Đối với người mẹ đáng thương, những ngày bị vây hãm thực đầy lo ngại. Mỗi buổi sáng lại run rẩy khi con bà theo hầu Đôbô. Lúc nào bà cũng lo rình xem đạn có trúng nó không. Niềm vui lớn nhất đối với bà là mỗi khi võ đồng Kơrixtôp thay phiên cho nó, và thằng con bà mệt mỏi, sạm đen khói súng bước vào soài phủ! Bao giờ bà cũng đón nó với đôi tay giang rộng và những cái hôn như thể nó vừa từ tha phương trở về. Bà tắm rửa cho con. Bà chải chuốt mớ tóc dài mềm mại như tơ của con. Bà dọn cho con tất cả những thức gì ngon lành mà bà tìm được trong bếp.
- Ai bị chết đây con? Trong số các võ quan ai bị thương đấy! – Bao giờ đó cũng là câu hỏi đầu tiên của hai người phụ nữ.
Cậu thiếu niên không biết Êvo là ai. Cậu tưởng nàng cũng là một thiếu phụ quý tộc nào đó ở Eghe như những người khác, và mẹ cậu đã lấy vào soái phủ để giúp đỡ bà. Vì vậy cậu cứ kể tất cả mọi tin tức. Tin của cậu bao giờ cũng bắt đầu bằng việc kể tên những người tử trận và kết thúc bằng lời ca ngợi chú Gergey. Thôi thì cái chú Gergey ấy chẳng còn gì mà chưa nghĩ ra nữa! Tâm hồn cậu tràn ngập niềm khâm phục chú Gergey. Cậu kể chi li đã thấy chú ấy đánh nhau như thế nào, một mình chọi với bao nhiêu giặc Thổ, đã dùng những miếng võ gì để đánh ngã từng tên Thổ một.
Êvo nín thở, tái mặt, nhưng tự hào lắng nghe, và bao giờ cũng rưng rưng nước mắt. Nàng chỉ mỉm cười khi cậu thiếu niên đã kể đến chỗ tên Thổ không địch nổi với cái chú Gergey tuyệt vời ấy.
Dưới giông bão của những trận công kích, hai người phụ nữ đứng bên cửa sổ vừa run vừa khóc. Qua một kẽ nhỏ, họ không thể thấy gì khác ngoài những bóng người chạy đi chạy lại, khói mù mịt và ánh lửa chốc chốc lại đỏ hồng lên, rồi sau đó là những người thợ cạo đem vải băng ra chất thành một đống tướng, với những cái khay đựng đầy nước sạch. Rồi người ta đem thương binh đến từng người một, mỗi lúc một vội vã hơn và đẫm máu hơn.
Và khi tất cả chú ý của họ đã hướng về những người bị thương thì ôi, người ta lại khiêng thêm về một người nào đó nữa! Không phải Bolajơ. Không phải Gergey. Xin cảm tạ Thượng đế! Người ta lại khiêng về… Nhưng nhỡ người ta không khiêng Bolajơ hoặc Gergey về đây là vì người ta đã mang ra hầm mộ… Và đến cả mấy lời vĩnh biệt: Trời phù hộ cho anh hoặc cho con ! Họ cũng không thể nói được thì sao?!
Êvo còn có người cha già đã tàn phế nửa người ở đây nữa chứ. Đã nhiều lần nàng thấy ông tập tễnh đi dọc đường qua trước cửa soái phủ, trên vai đeo một cái cung dài cũng bằng người ông. Ống tên lúc trống rỗng lúc đầy ắp. Nàng những muốn gọi to ra:
- Cha ơi! Cha yêu quý của con ơi! Cha hãy cẩn trọng lấy mình vàng cha nhé!
Hôm nay, khi đại bác lại vang rền, hai người phụ nữ ứa nước mắt gục đầu vào vai nhau:
- Ta cầu nguyện đi em!
- Ta cầu nguyện đi thím!
Họ quỳ xuống, cúi mặt sát đất, lầm rầm cầu nguyện.
Và cùng cầu nguyện với họ tất cả mỗi ngày, mỗi đêm là một nghìn rưỡi phụ nữ ở tất cả mọi vùng xa trong miền Thượng địa nước Hung. Và những bàn tay trẻ con tí xíu chắp lại trong những vùng tị nạn xa xôi; bọn trẻ thơ ngây nguyện cầu cho những người cha đang chiến đấu ở Eghe.
- Đức Chúa Trời lòng lành vô cùng, xin hãy giữ gìn tính mạng cho cha con! Xin Người hãy đem cha về cho chúng con!
Tiếng đại bác nổ rền, tiếng kèn trận thôi thúc, tiếng kêu Giêsu, tiếng gào Ala ầm vang, náo động như địa ngục. Những đám khói nặng nề lan toả vào trong thành.
Người ta đã khiêng về những thương binh đầu tiên. Họ khiêng người thứ nhất trên một cái ván đã đọng màu đen ngòm. Đó là một chiến sĩ trẻ, mặt nhợt nhạt. Chân anh bị bắn gãy ngang đầu gối. Những người thợ cạo băng bó qua loa. Họ vất vả với anh làm gì nhiều cơ chứ, chỉ vì một hai giờ hy vọng mà họ băng bó chân anh đấy thôi, trước sau rồi anh cũng mất máu mà chết.
Và người ta đem đến người thứ hai, thứ ba, thứ tư. Khuôn mặt của một trong ba người đó chỉ còn là một cục bùng nhùng đầm đìa những máu, mất cả hai mắt, hàm răng lộ cả ra trên khuôn mặt. Người thứ hai bị tên cắm xuyên vào cổ, phải mổ mà lấy ra. Người thứ ba ấp chặt tay lên sườn bên phải, bàn tay nhuộm máu đầm đìa. Máu chảy nhỏ giọt qua các kẽ ngón tay. Anh ta ngồi xuống đất chờ đợi mà không hề rên rỉ, mãi cho đến lúc cái chết ám mờ đôi mắt của anh.
Đôbô cưỡi trên mình con tuấn mã phi nước đại dồn dập qua trước soái phủ. Võ đồng Kơrixtôp, bị rớt lại đằng sau khá xa, đuổi theo ông.
- Đứa kia đâu rồi? – Ánh mắt đau đớn của bà mẹ hỏi.
Cậu ấy cũng đang chạy kia, về phía pháo đài Sanđô: hẳn là đang truyền lệnh đi. Đa tạ Thượng đế! Ôi!
Số thương binh đã nhiều đến mức cả mười ba người thợ cạo đều phải làm việc. Cùng với thương binh, người ta đem về cả ba lá cờ Thổ. Tiếng hò hét của bọn Thổ mỗi lúc một dữ dội hơn, khói thuốc súng đã che mờ khu vực pháo đài phía đông và phía bắc, đã trùm lên cả soái phủ. Dày đặc đến mức cách ba bước là không thể nom thấy gì nữa, chẳng khác nào sương mù mùa đông.
- Lạy chúa nhân từ! – Bolôc phu nhân cầu nguyện - Nếu bọn Thổ tràn vào đây thì chúng con sẽ ra sao!?
- Nếu vậy tôi sẽ chết ! – Êvo đáp, mặt nhợt nhạt hơn cả tường vôi.
Đoạn nàng đi vào phòng binh khí lấy ra một thanh gươm, thanh gươm dùng ngày thường của Đôbô. Nét mặt đăm chiêu, nàng đặt gươm lên bàn.
Qua cánh cửa sổ mở, tiếng rên la của các thương binh vọng vào.
- Ôi, đôi mắt tôi, đôi mắt tôi! - Một người khóc lóc – Không bao giờ tôi còn thấy cảnh trần gian đẹp đẽ của Chúa nữa !
- Tôi ăn mày rồi ! - Một người khác rên rỉ - Chúng nó chặt cụt cả hai tay tôi rồi!
Xung quanh đám thợ cạo, thương binh đã nhiều đến nỗi họ không băng bó kịp nữa.
Toàn thân Bolôc phu nhân run lẩy bẩy.
- Chúng ta phải đi ra thôi! – Bà nói, nét mặt đau đớn - Cần phải giúp đám thợ cạo mới được.
- Tôi cũng đi ra ư? Tôi cũng ra! Tôi thấy lời hứa danh dự cũng như mệnh lệnh đều không thể cấm tôi chăm sóc thương binh.
Gió quét khói quang đi. Bolôc phu nhân mở cửa, nhìn ra xa, về phía pháo đài nhà ngục. Trong một đám khói bà thấy Đôbô bổ một nhát gươm kinh khủng lên đầu một tên Thổ vừa đặt chân lên mặt thành, rồi xô các xác chết xuống. Võ đồng Bolajơ đứng đằng sau ông, lưới mũ sắt đã kéo xuống. Cậu cắp đao, chùy và một thanh gươm khác nữa của chủ tướng ở dưới nách.
Mặt trời thỉnh thoảng lại ló ra giữa những đám mây và khói. Thời tiết mùa thu lẽ ra đã lạnh nổi da gà, ấy thế mà những người chiến đấu vẫn thấy nóng như kỳ đại thử! Đôbô giật quai mũ ra, ném cho Bolajơ. Đoạn ông rút khăn tay ở thắt lưng lau vừng trán đẫm mồ hôi.
Đầu để trần, ông đánh tiếp.
Võ đồng Bolajơ không biết để cái mũ sắt mạ vàng ấy vào đâu nữa, cậu bèn đội lên đầu mình.
Khói trùm kín người họ. Bay đi khói ơi, bay đi!
Màn khói loãng dần như thể đã nghe tiếng kêu của trái tim người mẹ. Bolajơ còn đứng, vẫn đứng trên mặt thành. Bà mẹ muốn gọi bảo con hãy đứng lui ra sau chút nữa, thấp xuống chút nữa, nhưng dù bà có gọi, trong cơn gào thét địa ngục này nó cũng chẳng nghe thấy tiếng nào.
Bà vừa giơ tay lên để vẫy con trai thì cậu thiếu niên buông rơi binh khí của Đôbô và đưa tay lên cổ bằng một cử chỉ uể oải, đồng thời loạng choạng quay một vòng. Cái mũ mạ vàng rơi khỏi đầu cậu, lăn lông lốc. Cậu thiếu niên ngã xoài ra mà không đưa tay về phía mặt đất để đỡ.
Bà mẹ kêu lên một tiếng nghe buốt óc, xô tung cánh cửa, chạy bổ nhào tới đó. Bà bế con trai lên, kêu khóc, gục xuống xác con, ôm chặt lấy, gọi tên con.
Đôbô liếc nhìn họ rồi nhặt cái mũ lên. Ông vẫy hai chiến sĩ và chỉ vào cậu thiếu niên.
Hai chiến sĩ đỡ lấy cậu thiếu niên, một người đỡ vai, người kia đỡ dưới khoeo chân, họ mang cậu vào soái phủ, vào phòng bà mẹ.
Cậu thiếu niên nằm bất tỉnh với cái cổ đẫm máu như một chú bồ câu trúng đạn.
- Ôi, tôi không còn con trai nữa rồi! - Người quả phụ tóc đã hoa râm khóc nấc lên.
- Có lẽ cậu ấy chỉ ngất đi thôi - Một chiến sĩ nói.
Anh ta cởi cái mũ sắt có lưới che mặt ra khỏi đầu người võ đồng, cởi giáp hộ thân và các thứ giáp khác nữa.
Vết thương hoác miệng trên cổ cậu thiếu niên. Viên đạn đi vào không phải ở chỗ cổ mà ở ngang lưng, ở cổ chỉ là chỗ nó đi ra.
Mặt người quả phụ méo mó đi vì đau đớn, cặp mắt đỏ ngầu màu. Bà vồ lấy thanh gươm nằm trên bàn mà Êvo đem ra hồi nãy, và lao vào cơn lốc người trên pháo đài Nhà Ngục.
Một số phụ nữ đã chạy đi chạy lại ở đó rồi. Họ nấu nước, hắc ín và chì ở dưới chân pháo đài rồi nhanh nhẹn khiêng những vạc đã sôi lên cho các chiến sĩ.
- Mang cả nước lạnh lên nữa chứ, nước uống ấy! – Các chiến sĩ la lên mỗi khi có một chút hở tay giữa hai đợt công kích.
- Các mụ ơi, hãy vào hầm rượu! – Đôbô gọi với xuống - Mở hết các thùng ra! Dùng bình gỗ mang ra cho các chiến sĩ.
Những người nghe tiếng gọi liền hộc tốc chạy đi. Váy xống của họ tung phồng cả lên.
Viên thư lại Imre đang vác binh khí đi đi lại lại trước cửa hầm rượu. Thấy có đông phụ nữ hộc tốc chạy đến, anh ta liền thọc chìa khoá vào cửa.
- Cho các sĩ quan có phải không? – Anh ta hỏi bà vợ Kôtsit.
- Cho tất cả mọi người, ông thư lại ạ, cho tất cả mọi người. Ngài đại uý đã bảo thế.
Imre đẩy cửa hầm ra: - Rượu ngon ở đằng trong ấy! – Anh ta nói to rồi kéo sụp lưới che mặt xuống, tuốt gươm ra. Cả anh nữa cũng lao lên pháo đài Nhà Ngục.
Quân Thổ xông lên pháo đài mỗi lúc một đông hơn. Chúng đã nhảy lên cả mặt thành, vật lộn sống chết với các dũng sĩ Eghe. Chính Đôbô cũng tóm lấy cổ một tên, một thằng hộ pháp mà chỉ riêng bộ xương của nó cũng đã đến một tạ. Ông định xô nó xuống. Tên Thổ choãi chân trụ lại. Cả hai trừng mắt thở hổn hển đến một phút. Lúc đó Đôbô dồn hết sức bình sinh vận một cái, giật nó vào phía trong, khiến nó ngã dúi từ trên giàn cao xuống sàn. Cái mũ sắt của tên Thổ rơi ra, còn nó rơi phịch xuống giữa đống đá. Nhưng nó lại gượng đứng dậy và quay đầu lại xem đồng đội của nó có đến không.
Lúc đó Bolôc phu nhân vừa đến nơi. Rú lên một tiếng như chim cắt, bà vung gươm lên, và đầu tên Thổ lìa khỏi cổ dưới nhát chém kinh khủng của bà.
Những người phụ nữ khác đã xoay xở cả trên pháo đài. Trong cuộc vật lộn, thấy các chiến sĩ không lấy hắc ín chảy, đá và chì nữa, họ bèn tự mình mang lên và trong lửa, trong khói bụi mù mịt, họ giội các thứ đó xuống đầu bọn Thổ đang cố xông lên.
Thằng chết rơi xuống, thằng sống lại chen lên. Mỗi một lần đá lăn xuống, mỗi một lượt hắc ín và chì giội xuống lại dọn quang một lối trên mặt tường bị bâu kia, nhưng đống xác chết chỉ càng giúp cho những binh đoàn vừa nghỉ sức leo lên dễ dàng hơn. Những thằng sống giật những lá cờ khỏi tay những thằng chết vừa rơi xuống, và lá cờ đuôi ngựa lại phấp phới trên thang.
- Ala! Ala! Thắng rồi! Chúng ta thắng rồi!
Đôbô ngạc nhiên liếc sang nhìn Bolôc phu nhân đang chiến đấu bên cạnh, nhưng ông không có thì giờ để nói gì cả. Chính ông cũng đang đánh nhau. Máu nhỏ ròng ròng trên bộ giáp sáng loáng của ông, từ vai đến gót.
Người quả phụ liên tiếp phân phát những nhát chém cho bọn Thổ xông lên, cuối cùng bà trúng một nhát đao, ngã từ trên pháo đài xuống giàn gỗ.
Không còn ai đến kéo bà xuống nữa. Cuộc chém giết đã chuyển lên mặt thành. Người sống xéo lên người chết. Đôbô nhảy lên mặt cái mõm chìa ra ngoài, nhìn xuống. Bọn aga cũng đã vào đến chân tường. Bêi Veli cưỡi ngựa, cầm một lá cờ đại bằng nhung đỏ thắm. Bọn chiến binh Thổ trông thấy lá cờ thì hò reo ầm lên:
- Ala giúp đỡ đấy! Phút khải hoàn đã đến rồi!
Lá cờ này là lá cờ chiến thắng của viên pasa Ali. Mùa hè năm đó nó đã tung bay trên giá cờ của ba chục thành quách và lâu đài, loan tin thắng trận của sức mạnh Thổ Nhĩ Kỳ. Ngoài ánh vinh quang, cờ chưa hề hoen dấu gì khác!
Bêi Veli cầm lá cờ tiến vào sát pháo đài Đất. Ở đó cuộc phòng vệ có vẻ yếu ớt hơn cả, vì cả phụ nữ cũng đã phải giáp chiến.
Đôbô đã trông thấy lá cờ đại trang trọng, cờ thêu chữ và lấp lánh ánh vàng. Ông nhắn về với Petơ, rồi đích thân chạy sang pháo đài Đất.
Ở đó cuộc chiến đấu đang diễn ra lộn ẩu. Thỉnh thoảng một hình thù cầm cờ nhô lên rồi lại biến mất dưới sâu. Các chiến sĩ giao tranh trong một màn khói và bụi mù mịt. Những vòng rơm tẩm hắc ín và những cái bánh lửa bay loang loáng trong đám khói như những ngôi sao chổi.
- Giêsu, lạy Chúa giúp chúng con! - Một phụ nữ rú lên.
Đôbô đến đó trong cái nháy mắt mà một tên Thổ vọt lên cắm phập thanh gươm cong đến tận chuôi vào Xuêrơ Machiát, người thợ xay bột làng Mokơla.
- Đánh đi! Đánh đi! - Giọng nói của Đôbô vang vang trên pháo đài.
Tiếng nói đó tiếp thêm sức mới cho các chiến sĩ. Họ chém giết những tên sấn lên mặt thành giữa những lời chửi rủa rất dân gian của Hung, không bao giờ có thể ghép vào tội được.
Đôbô xông vào tên giặc đã giết người thợ xay bột. Ông thấy tên Thổ mặc áo giáp bằng thép Đerơhen từ đầu đến chân, chém vào loại giáp đó, gươm sẽ trượt đi. Với một quyết định chớp nhoáng, ông nhảy xổ vào người hắn và đè hắn lên xác người thợ bột vừa bị hắn giết. Nhưng tên Thổ là một thằng to lớn lực lưỡng. Hắn cố lật Đôbô xuống. Trong cơn tức giận bất lực, hắn cắn đứt cái giáp che tay của Đôbô, rồi bất thình lình nằm lăn ra đất và phơi cái mặt ra. Nhưng đó chính là chỗ chết của hắn. Đôbô đã tìm thấy cái cổ trần và không chút thương xót, ông bóp chặt linh hồn vào trong xác hắn.
Ông chưa kịp đứng lên, thì một ngọn giáo Thổ từ trên cao rơi xuống trúng vào chân ông, xẻ đứt đai da và dừng lại trong mắt cá. Trong cơn đau đớn, Đôbô gầm lên như một con sư tử. Ông ngã quỳ lên đầu gối, ôm lấy chân, những giọt nước mắt đau đớn nhòe ướt mắt.
- Chủ tướng! Ngài bị thương đấy ư? – Võ đồng Kơrixtốp hoảng sợ hỏi.
Đôbô không đáp, ông giật mũi giáo ra khỏi chân và ném đi. Ông nắm chặt tay đứng lặng một chút, nghiến hàm răng cho đến khi cơn đau nhói đầu tiên đã dịu đi. Sau đó ông đá một cái xem chân có gẫy không. Không gẫy, nó chỉ chảy máu thôi. Khi cơn đau đã hết ông lại cầm gươm lên và văng mình như con hổ vào bọn Thổ. Thật vô phúc cho đứa nào giờ đây xông tới trước mặt ông.
Trong khi ở đó quân hai bên đã gần như dùng cả răng mà cắn xé lẫn nhau thì cách đó không đầy mười sải, một cánh quân địch cũng chen lên đông nghịt ở một chỗ vỡ khác. Những thanh gỗ bít chỗ vỡ bị gãy dưới sức ép của hàng mấy trăm tên địch, và bọn Thổ hò reo đắc thắng xông vào, không cần phải leo tường gì nữa. Tên này xô đẩy tên kia, tay phải chúng cầm binh khí, tay trái cầm cờ. Những tên đi trước cầm cờ nhảy lên pháo đài, những tên đi sau nhảy xổ vào đâm thương binh và phụ nữ đứng chờ lượt dưới các giàn gỗ. Một tên lấy chân bọc giáp sắt đá một đống củi đang cháy vào cái cột đỡ giàn gỗ. Lửa lè những cái lưỡi dài bắt đầu liếm vào cột.
Bọn giặc dễ dàng xử trí các thương binh, nhưng đám phụ nữ vừa thét lên giận dữ vừa nhấc các vạc dầu và các chảo nước sôi lên. Bà vợ Kôtsit Gátpa người to béo, tưới nước sôi vào mặt một tên aga rậm râu, khi hắn vội vã đưa tay lên chộp lấy bộ râu thì bộ râu làm dáng nằm lại trong tay hắn. Một người phụ nữ khác vớ lấy một khúc củi đang cháy trong một đống lửa ở gần đấy, phang thẳng vào mặt tên giặc Thổ khiến những tia lửa tung toé ra như hoa cà hoa cải. Các bà khác cũng vớ lấy vũ khí cự địch với bọn dị giáo.
- Đánh chết chúng nó đi! Đánh chết chúng nó đi! – Bác thợ rèn vùng Phennêmét gầm lên.
Bác xách cây búa tạ lao đến chỗ các bà. Ba tên dị giáo đang dựa lưng vào nhau mà đánh họ. Bác nện vào đầu một tên, mạnh đến nỗi óc nó phọt ra cả đằng mũi, đằng tai. Thanh gươm cong loáng lên trong tay tên Thổ thứ hai và cắm đến chuôi vào bụng bác thợ rèn.
- Đồ cầu trệ, mày sẽ cùng tao về thế giới bên kia! – Bác thợ rèn rống lên.
Bác vung cây búa tạ lên quá đầu một lần nữa và chỉ ngồi bệt xuống đất, đè tay lên bụng sau khi thấy kẻ địch của mình đã ngã sấp mặt vào giữa đống xác chết với cái mũ sắt bẹp dúm dưới nhát búa khủng khiếp.
Tất cả phụ nữ đều nhặt các thứ binh khí lăn lóc ở dưới đất lên, vừa căm hờn la hét the thé như tiếng chim cắt, vừa chọi nhau kịch liệt với bọn Thổ. Khăn trùm của họ rơi xuống, tóc họ xoã ra, váy họ xoắn đi xoắn lại trong trận kịch chiến. Nhưng họ không nghĩ gì đến giới tính của họ nữa, vừa la hét họ vừa lao vào bọn Thổ. Gươm của họ không đỡ được miếng đòn nào cả, nhát nào đánh vào, họ cũng đều phải nhận. Nhưng nhát nào họ đánh trả, quân Thổ cũng không thể tránh nổi.
- Hoan hô các bà! - Tiếng Petơ vang lên sau lưng họ.
Vừa trông thấy ngọn lửa bén vào giàn gỗ, anh vội vớ lấy xô nước và tưới lên cái cột. Anh đem đến một toán quân đã được nghỉ ngơi. Chính anh cũng vung gươm nhảy vào một tên akinji đang vọt lên như một con mèo và hạ nó xuống cái rầm gỗ. Trong khi đó, các chiến sĩ của anh rải xác những tên Thổ đã đột nhập được vào thành như vãi trấu. Hơn thế nữa họ còn xông ra ngoài lỗ hổng.
Đôbô quỳ xuống mặt thành, ngực thở phập phồng đưa cặp mắt đăm đăm nhìn xuống phía dưới. Máu nhỏ giọt từ lưỡi gươm và từ râu cằm của ông.
Những người Eghe nổi xung xông ra khỏi thành mỗi lúc một đông, họ đã choảng bọn Thổ ở dưới chân pháo đài, giữa đống xác chết.
- Quay về! – Đôbô lấy hết gân cổ hét lên.
Nhưng trong cơn lốc của trận đánh, những người kia không nghe cả đến tiếng của chính họ nữa.
Một chiến sĩ tên là Tốt Laxiô trông thấy tên bêi cầm cây cờ nhung đỏ, bèn nhảy đến chỗ hắn. Anh nổ khẩu súng ngắn trong tay vào ngực tên bêi và giật lấy cờ. Động tác tiếp đó của anh là ném khẩu súng ngắn hết đạn vào giữa mắt một tên Thổ khác. Sau đó anh nhảy lui về với cây cờ chiến lợi phẩm, trong khi năm đồng đội cùng xông ra với anh bị bọn ionisa băm nát.
Đôbô chỉ thấy tên bêi Veli ngã lăn xuống ngựa và lá cờ chiến thắng của viên pasa bị người Hung cướp lấy. Ông chỉ chỗ cho đám quân vừa được nghỉ. Ông vắt những tua áo rách đẫm máu trên cánh tay trái một cái rồi lao xuống chỗ lỗ hổng. Petơ đã đứng ở đó và đang giơ một khúc gỗ cháy lên khẩu súng cối đặt trước lỗ hổng.
Phát súng đó đã hất lùi bọn ionisa đuổi theo lá cờ.
- Nạp đạn! – Đôbô hô lên với một chiến sĩ - Bốn người các ngươi ở lại đây. Nếu có thì giờ thì mang gỗ, mang đá lại đây!
Cơn bão lửa lại tiếp tục lồng lộn trên pháo đài với một sức mạnh mới.
20
Êvo còn lại một mình với cái xác chết.
Nàng ngây ra nhìn đến một phút rồi mới cử động được. Nàng đội cái mũ sắt lên đầu, thắt áo giáp vào ngang lưng, vào cánh tay. Cậu thiếu niên cũng tầm vóc như nàng, nàng mặc quần áo cậu vào người. Nàng chê thanh gươm của cậu hơi ngắn, bèn đi vào phòng Đôbô, nhấc trên tường xuống một thanh kiếm Ý dài, thẳng đuột, đeo sợi quai da ở chuôi kiếm vào khuỷu tay.
Bỏ bao kiếm lại, nàng xách thanh kiếm trần lao vút ra cửa, co chân chạy, mà chính nàng cũng không biết là chạy đi đâu. Nàng chỉ biết một điều là chồng nàng cùng Zôntoi đốc chiến ở thành ngoài. Nhưng từ soái phủ phải đi theo ngả nào để ra thành ngoài thì nàng không biết.
Mặt trời đã trên đường đi xuống, nhưng qua những đám khói cuồn cuộn khắp xung quanh, trông nó cũng chỉ như một viên đạn đại bác đỏ lừ lửng lơ trong không khí.
Nàng nhớ mang máng về cái bản đồ của thành là thành ngoài như hình lưỡi liềm đặt bên cạnh con rùa về phía đông. Mặt trời lặn về bên tay phải, vậy thành ngoài phải ở bên tay trái.
Mười người lính sạm khói, dính đầy hắc ín chạy ngược lại phía nàng, đi đầu là một viên thập trưởng. Cánh tay phải và sườn, bên phải của họ đen ngòm những máu. Giáo vác trên vai, họ chạy về phía pháo đài Nhà Ngục. Rồi đến một người lính loạng choạng. Máu chảy ròng ròng trên mặt anh ta. Chắc hẳn anh ta định đi đến chỗ đám thợ cạo. Một vài bước lảo đảo nữa, và anh ta ngã sõng soài ra đất.
Êvo lưỡng lự một giây: không, xốc anh ta lên ư? Nhưng một người thứ hai, thứ ba nữa cũng đã chết hoặc bất tỉnh nhân sự nằm kề đó. Người thứ ba ấy là cậu con trai lớn của ông đốc lý Eghe mà nàng đã biết qua cửa sổ. Ngực anh ta mang một mũi tên.
Các bà phụ nữ thở hổn hển từ phía hầm rượu chạy tới. Đầu họ đội bình gỗ, tay họ xách vò ép phó mát hoặc vò có tai. Họ cũng chạy về phía đông, Êvo liền nhập bọn với họ. Sau khi chạy qua dãy chuồng bò, chuồng ngựa, họ biến vào trong một đường hầm dốc xuống thoai thoải. Trong đường hầm có hai ngọn đèn chiếu sáng. Đó là cổng Cũ, cổng này nối liền thành quai sanh bên ngoài với thành trong.
Vừa vượt qua cái cổng đó, họ rơi tõm ngay vào một địa ngục náo động đầy bụi và khói.
Xác chết la liệt trên mặt đất, trên bậc cầu thang trên các giàn gỗ. Êvo nhận ra một xác chết là giáo sĩ Balin. Ông giáo sĩ nằm ngửa, trên đầu không có mũ sắt, bộ râu bạc rủ dài của ông nhuộm đỏ máu, thanh gươm vẫn còn nằm trong tay ông.
Êvo nhặt từ dưới đất lên một cây chùy và lao lên cầu thang. Cuộc xô xát đã gần trở thành cuộc đánh vật. Các chiến sĩ đứng trên mặt thành đẩy bọn Thổ trở lại. Một phụ nữ từ trên cao ném xuống một khúc gỗ cháy. Một người khác vung cây gậy đầu dày đang cháy lên phang vào cổ tên giặc Thổ. Tiếng chửi bới, tiếng kêu Giêsu, tiếng thét Ala, tiếng chân nện lộp cộp, tiếng vù vù, loảng xoảng vang ầm khắp nơi.
Trên pháo đài, hai khẩu đại bác nối tiếp nhau nổ rền.
Nghe tiếng súng Êvo ngước mắt nhìn lên. Nàng thấy chồng đang cầm cái bùi nhùi bốc khói trong tay và đôi mắt nhìn xuống dưới để xem hiệu lực của phát đạn. Người ta đánh ngã năm hoặc sáu tên Thổ còn lại trên gờ tường, sau đó tiếp đến một phút ngơi tay. Tất thảy các chiến sĩ đều quay trở lại, gân cổ lên mà hét:
- Nước! Nước!
Ngay bên cạnh Êvo, một lão chiến sĩ đội mũ sắt đứng trên một tảng đá nhô ra ở chỗ tường đổ mà gào. Mồ hôi pha máu lấm tấm như sương trên mặt lão, hầu như chỉ còn chừa có hai con mắt.
Êvo nhận ra cha nàng.
Nàng giật lấy cái bình trong tay người phụ nữ và chìa cho lão. Nàng đỡ cái bình giúp lão.
Ông lão uống ừng ực. Trong bình có rượu vang đỏ Eghe để đã lâu năm chứ đâu phải nước lã. Lão tu từng hơi dài. Khi lão đẩy cái bình ra khỏi miệng, rượu từ ria mép dòng dòng nhỏ xuống. Sau đó lão mới thở phào một cái.
Êvo thấy tay phải của lão bị cháy. Chẳng có gì lạ: từ khuỷa tay trở ra, cánh tay ấy làm bằng gỗ. Chắc hẳn rơm tẩm hắc ín đã bén phải nó, thế mà ông lão chẳng hề nhận thấy.
Êvo vất cái bình và cây chùy xuống, chụp lấy tay ông lão. Nàng đã biết cánh tay gỗ được buộc đai ở chỗ nào, với những ngón tay nhanh nhẹn, nàng cởi khóa ra, và cánh tay gỗ bay vào giữa bọn Thổ.
Còn ông lão lại cầm lấy gươm, nhô người ra ngoài pháo đài, dùng cánh tay trái chém sả vào một cái khuyên bằng sậy có đóng những mặt trăng bằng đồng.
Êvo tiếp tục lao về phía chồng. Đây đó nàng lại phải nhảy qua một xác chết. Thỉnh thoảng một vệt lửa bay qua trước mắt nàng. Đôi khi một viên đạn va độp vào tường ở phía trước hoặc sau lưng nàng. Nhưng tất cả các chiến sĩ vẫn đang mải uống. Họ chỉ xin nước lã thôi, nước lã cũng đã là nước cam lộ đối với họ lúc này rồi. Huống nữa lại là rượu vang! Cứ như thể họ uống sức thần vào người!
Xen vào tiếng ầm ầm của bọn Thổ cuồn cuộn la hét dưới chân thành là tiếng quát vang rền của Zôntoi:
- Lên đây, quân cẩu trệ! Lên đây! Để tao nhắn tin về cõi Nát báng cho Môhamét!
Rồi một phút sau nữa anh chỉ còn quát:
- Chúc mày yên giấc!
Tên Thổ được anh chúc chắc hẳn đã quên chúc mừng trở lại.
- Hêri! Hêri (Tiến lên! Tiến lên!) – Bọn giám binh Thổ hò hét không ngớt – Thắng lợi rồi! Thắng lợi rồi!
Và những toán quân mới, rừng thang mới, lớp khuyên mới lại rùng rùng kéo lên cái núi xác chết.
- Ala! Ala!
Cuối cùng Êvo cũng đến được chỗ Gergay lúc chàng châm ngòi một cái vỏ thùng rượu nhỏ chứa đầy thuốc súng và ném xuống đầu lũ giặc. Sau đó chàng ném cái mũ sắt xuống đất, nhảy đến trước mặt một người phụ nữ, giằng lấy cái bình tu ừng ực đến nỗi rượu vang đỏ tràn qua cả hai bên mép, chảy xuống thành hai dòng nhỏ.
Êvo đưa rượu của nàng cho một chiến sĩ khác và cúi xuống nhặt cái mũ, nhưng khi nàng vừa cúi xuống, khói hắc ín xộc vào mắt. Lúc nàng dụi hết nước mắt thì không còn thấy Gergey đâu nữa. Nàng đang ngoái cổ nhìn quanh thì các chiến sĩ xung quanh nàng bỗng bất thình lình ngồi thụp xuống. Một loạt đạn của bọn tưphenji nổ rền, cách mặt thành không đầy mười sải – một viên đạn quật trúng cái mũ sắt của Êvo, làm nứt cả mũ. Êvo loạng choạng. Mất một lúc nàng mới hồi sức lại được.
Tiếng trống thúc, kèn reo ở dưới chân thành ầm ầm như cảnh địa ngục. Một tên giám binh Thổ cổ dài ngoằng gân họng hét lanh lảnh:
- Lại đây! Lại đây!
Cánh quân Thổ đã quây lại dưới chân thành. Chúng nó điều bọn axap mũ da và bọn akinji mũ đỏ đến thay thế bọn ionisa.
Một tên đạo sĩ khoác áo trắng nhưng lại đội mũ sắt thay mũ lông lạc đà, tay cầm cờ, miệng gào Tiến lên! Tiến lên! Hắn xông lên thành với mười tên ionsia già.
Các chiến sĩ ta thường không bắn vào bọn đạo sĩ, nhưng vì tên này đội mũ sắt, tay lại cầm gươm nên họ nổ súng vào hắn. Hắn khiến Êvo cũng phải chú ý.
Gió thổi bạt khói đi một phút và cuốn phần phật lá cờ ba quả thao trong tay tên đạo sĩ. Khi hắn quay về phía thành, Êvo thấy một bên mắt hắn buộc băng.
- Yumusác!- nàng thét lên với nỗi giận dữ của con hổ và ném cây chùy xuống như một tia chớp.
Quả chùy bay qua đầu tên đạo sĩ rồi trúng vào ngực một tên ionisa. Tên đạo sĩ nghe tiếng thét liền ngửng nhìn lên. Ngay lúc đó khẩu đại bác trên pháo đài gầm lên, bọc lấy tên đạo sĩ cùng toán quân của hắn trong một luồng lửa và khói.
Lúc khói tan, ở đó không còn dấu vết gì của tên đạo sĩ nữa. Tuy vậy tường thành vẫn đen kịt những toán quân vừa mới xông lên.
Chúng nó không chỉ leo lên bằng thang nữa. Một tên inosia mũ trắng leo lên bằng cách bám vào những tảng đá nhô ra ngoài mặt thành đã sạt lở. Rờ chỗ nào tay hắn cũng tìm được chỗ để bám, chân hắn cũng tìm được kẻ hở để đứng. Đến những đoạn giăng bằng gỗ, hắn càng dễ vượt lên. Đứa thứ hai, đứa thứ ba, mười, hai mươi, rồi hàng trăm đứa khác noi gương hắn – chúng bâu kín những mặt thành đầy ánh nắng chẳng khác gì đàn bọ xít về mùa xuân. Chúng nó bấu víu leo trèo suốt dọc dài thành ngoài, mắt cháy rực, mồm thở phì phò. Một vài tên mang theo cả thang dây để móc vào tảng đá nhô ra một cách thuận tiện, và những đứa còn lại đứng dưới đất liền bám lấy leo lên.
Gergey từ trên pháo đài chạy xuống chỗ tường vỡ, đầu trần, tay cầm giáo, mặt sạm đen khói thuốc súng.
- Sukan! – Chàng gọi to với một người đang sử dụng cây thương – Còn hắc ín trong kho nữa không?
Giọng chàng khản đặc, chàng gần như ghé sát tai lão già mà hỏi.
- Hết rồi! – Sukan đáp – Còn một thùng nhựa thông trong ấy nữa thôi.
- Bác cho mang ngay ra chỗ đại bác Perênhi ấy nhé.
Viên thư lại Imre, người phát bánh, cũng đang chiến đấu bên cạnh lão già. Anh ta đặt thương xuống, lẫn đi ngay.
- Bớ quân sĩ! Hãy ráng hết sức ra!- Gergey hô.
Từ bên cạnh, tiếng Zôntoi vọng qua như một hồi âm.
- Nếu lần này ta đánh lui quân giặc, chúng sẽ không bao giờ đến nữa!
- Bắn! Bắn! – Tiếng hô vang từ các phía khác vẳng đến.
Các bà phụ nữ xỏ đòn khiêng từng vạc chì sôi, dầu sôi, nước sôi.
Mụ Vosơ Pheren xúc một xẻng lớn than hồng chạy lên mặt thành rồi trút xuống bọn Thổ. Nhưng cũng lúc đó cái xẻng rơi ra khỏi tay mụ: một mảnh đá bị đạn bắn vỡ văng vào thái dương mụ. Mụ ngã tựa lưng vào một cái cột rồi từ từ gục xuống.
Một mụ to béo, sạm đen khói súng, cúi xuống định đỡ bạn lên nhưng mụ thấy ngay là bạn mình đã bỏ mạng. Mắt mụ liếc ngay sang tảng đá nằm bên cạnh. Mụ nhấc bổng tảng đá lên, chạy vội đến bên rìa mặt thành. Một viên đạn bắn trúng ngực khiến mụ ngã sấp về phía trước.
- Mẹ ơi! – Một cô gái váy đỏ rú lên.
Nhưng cô không nằm phủ lên người mẹ mà trước hết cô nhấc bổng tảng đá mẹ cô vừa đánh rơi, rồi giáng xuống ngay chỗ mẹ cô định ném. Tảng đá quật chết tươi hai tên Thổ. Chỉ khi đã trông thấy điều đó cô gái mới quay lại ôm lấy mẹ, bế xuống cầu thang.
Trong biển khói, một tốp lá chắn hình mai rùa tiến lại chân thành. Những cái lá chắn ghép sát vào nhau mà tiến, không thể trông thấy bọn akinji nấp bên dưới.
- Bớ quân sĩ, hãy chú ý. - Tiếng Gergey vang lên.
- Nước sôi! Lửa! - Zôntoi thét vang - Kia kìa! Kia kìa! Chúng nó đang trèo cả lên tường không cần thang kia kìa!
Một tấm ván bọc tôn từ sau công sự của bọn Thổ nhô lên. Bốn tên piát khiêng chạy đến chân thành. Bọn đứng trên thang đỡ lấy, giơ lên che kín người. Sau đó còn nhiều cái mái như thế nữa được mang tới. Cái nào cũng bọc tôn để các chiến sĩ ta không thể dùng cuốc chim mà đánh thủng được.
- Nước sôi! Nhiều vào! Gergey gọi ra phía sau.
Êvo chạy đến bên chàng, chụp lại cái mũ sắt lên đầu chàng.
Cám ơn Bolajơ! Đôbô phái chú đến đây à? – Gergey hỏi.
Êvơ không đáp, nàng chạy vội xuống dưới pháo đài lấy nước sôi.
- Nước! Nước sôi các bà con ơi! - Nàng gân cổ lên gọi. Trong lúc đó những tấm ván bọc tôn ghép sát vào nhau. Những tên xung kích mặc quần áo mỏng chạy vào bên dưới. Một số tên cởi trần trùng trục mà mồ hôi vẫn chảy ròng ròng. Đầu chúng không bị mũ sắt đè nặng trĩu. Chúng ném khỏi thắt lưng tất cả những thứ binh khí nặng nề, chỉ giữ lại thanh gươm cong sắc như nước lủng lẳng đầu dây quai đeo ở cánh tay.
Khi Êvo quay lại để được ở cạnh Gergey, trong làn khói dày đặt nàng không trông thấy ai nữa, chỉ thấy những lưỡi lửa dài, đỏ đòng đọc bay tứ tung và ánh gươm loang loáng trắng trong ánh lửa.
- Ala! Ala!
- Đùng, đùng, đùng! - Tiếng đại bác.
Khói càng dày đặc hơn, nhưng bỗng nhiên bay vọt lên quá đầu toàn quân phòng thủ như một cái đinh màn lượn sóng và có thể thấy rõ binh khí Thổ lấp loáng chĩa lên, binh khí Hung tua tủa chĩa xuống.
- Nước sôi! Nước sôi! - Gergey gào.
Cái mái tôn dưới chân thành đã bắt đầu lên cao dần. Những tảng đá hàng tạ từ trên thành lăn xuống. Cái mái tôn hé ra, nuốt lấy tảng đã rồi lại liền như cũ.
- Nước sôi! - Zôntoi cũng vừa hô vừa xông đến chỗ đó, Gergey vừa trông thấy Zôntoi đến bèn nhảy ngay xuống chỗ khẩu đại bác. Thùng nhựa thông đã sẵn sàng ở đó. Gergey xô ngã cái thùng và bảo các pháo thủ:
- Các ngươi hãy nạp đạn vào các khẩu đại bác, nạp lên trên thuốc súng! Nạp đầy vào! Dộng mạnh vào cho nó vụn ra! Bỏ ít đạn thôi!
Lúc đó từ mặt thành, người ta trút nước sôi xuống. Nước sôi chảy đến những nơi đá không đến được. Cái mái rùng rình rồi rã ra. Bọn Thổ ở bên dưới rú lên ối ối và nhảy ra khỏi các tấm mái.
Đàn bọ xít vẫn bâu kín tường, Gergey nã vào chúng một phát súng. Nhưng chúng vẫn cứ còn lại trên tường. Gergey vác một cái gậy thông nòng đại bác xông về phía chúng.
- Gergey! - Tiếng Petơ gọi to.
- Tôi đây. - Gergey trả lời giọng khàn đặc.
- Mình dẫn đến năm chục người đây. Đủ không?
- Còn được bao nhiêu cậu cứ điều đến nữa đi! Cậu cho nhóm thêm lửa và bảo mang nước sôi đến đây!
Loạt đạn mới của bọn tưphensi tung thêm khói vào đám khói của phát đạn cối và che mờ tường thành đi một lúc. Bọn xung kích mặc quần áo mỏng đã lợi dụng phút đó để lại bâu kín những cái thang.
Gergey trở về chỗ khẩu đại bác.
- Nạp xong rồi chứ? - Chàng hỏi.
- Xong rồi! - Lão Kôtsit Gátpa đáp.
- Bắn!
Khẩu đại bác tóe lửa, nổ vang. Nhựa thông từ nòng đại bác phụt ra thành một cột lửa dài đến hai chục sải. Ngay cả những tên Thổ chỉ bị luồng hơi ép của đại bác lướt qua cũng nhảy đại xuống khỏi mặt tường.
Thấy mặt tường lại bị càn quét sạch, bọn giám binh và các võ quan Thổ tức tối hò hét.
Từ trên thành có thể thấy rõ tất cả mọi tên lính địch đều chạy xa khỏi tường thành. Axap, piát, tưphenso, deli, xpahi, akanji, tất cả hỗn độn, hoảng hốt bỏ chạy về phía các ụ đất. Đứa vẩy tay, đứa nhảy lò cò. Tất cả đều đẫm máu, điên khùng, mất hết vẻ người. Đám đông bọn giám binh và bọn aga phải quát tháo dữ dội mới có thể cản được lũ lính lại. Bọn quan không chỉ dùng roi da nữa mà dùng cả gươm để ngăn đám lính chực bỏ chạy ấy.
- Kẻ nào anh hùng thì theo ta! - Tên bêi đạo sĩ hét lên với lũ lính.
Một tinh thần mới truyền vào toán quân đã bị thương đẫm máu. Chúng lại sùi bọt mép, bắc thang, ôm đầu máu xông lên, lần này thì thẳng đến bức tường đặt đại bác. Tên đạo sĩ dẫn đầu bọn chúng. Hắn vọt lên trước nhất. Máu đã nhuốm đỏ cái áo khoác trắng của hắn. Ngậm lá cờ vào mồm, hắn xông lên không cần mang mộc.
Ở cái thang bên cạnh cũng có một tên aga trèo lên, một tên đại hộ pháp. Cái tuyban của hắn to như tổ cò, thanh gươm của hắn bằng cả cây mã tấu của đao phủ.
Gergey nhìn quanh và lại thấy người võ đồng tức lồng lên đang nhấc bổng tảng đá ở ngay bên mình. Người võ đồng nhấc một tảng đá xây nhà to tướng ném mạnh xuống.
- Bolajo, chú đi chỗ khác đi! - Gergey nói.
Cái giọng khàn đặc của chàng bỗng trở nên sang sảng ở hai tiếng cuối cùng.
Êvo không đáp. Trong tay nàng vẫn còn thanh kiếm Ý mà nàng mang ở trong phòng ra. Nàng chạy vụt đến chỗ cái thang của tên đạo sĩ.
Gergey nhìn xuống. Chàng quát to với tên hộ pháp vừa hỗn hển nhô lên:
- Hoivan! Ồ, đồ bò - Chàng tiếp bằng tiếng Thổ - Thế mày tưởng gươm súng không phạm vào mày thật à?
Tên Thổ sửng sốt. Bộ mặt to bè bè của hắn ngây ra như phổng đá nhìn Gergey. Lợi dụng giây phút đó, Gergey đâm phập cây giáo vào mỏ ác hắn. Tên Thổ một tay nắm lấy cán giáo, tay kia bổ một nhát kinh hồn vào Gergey. Nhưng nhát chém chỉ rạch không khí thôi và cái xác khổng lồ rơi ngửa xuống một tấm ván bọc tôn.
Trong khi đó tên đạo sĩ đã lên đến đầu thang.
Êvo né đầu tránh nhát giáo của hắn rồi chém sả vào cánh tay trái đang bám vào thang của tên đạo sĩ. Cánh tay áo lông cừu của hắn đứt đôi nhưng ở bên dưới lấp lánh làn áo lưới thép.
Vọt một cái hắn nhảy lên mặt thành. Hắn chộp lấy chuôi thanh gươm lủng lẳng ở cánh tay, phì phò lao vào Êvo - Êvo nhảy lùi lại hai bước, chĩa thẳng thanh kiếm ra phía trước, mắt tròn xoe chờ kẻ địch lao vào. Nhưng tên Thổ từng vào sinh ra tử đã nhiều, hắn thấy hắn đang đối mặt với một thanh kiếm nhọn để đâm chứ không phải với một thanh gươm rộng bản.
Hắn biết là không nên nhảy xổ vào thanh kiếm dài đang chĩa ra kia. Hắn xuống tấn, khựng lại, chém xuống thanh kiếm để đánh bật sang một bên, và để bằng một nhát kiếm tiếp theo sẽ gửi gã võ đồng này sang thế giới bên kia.
Nhưng Êvo cũng biết miếng võ đó. Nhanh như cắt, nàng đảo thanh kiếm một vòng từ dưới lên trên, tránh nhát gươm của tên Thổ. Khi tên Thổ có thể chém được nhát thứ hai thì thanh kiếm của Êvo đã luồn vào dưới nách hắn.
Cái áo lưới đã cứu mạng cho tên Thổ. Những mắt lưới thép rít ken két, nhưng cùng lúc đó. Tên đạo sĩ đã chém nhát thứ hai và lưỡi gươm của hắn bổ trúng đầu Êvo.
Êvo cảm thấy như thể đầu mình vỡ tung ra. Trời đất tối sầm lại trước mắt nàng và dưới chân nàng mặt đất dường như bị kéo tuột đi. Nàng đưa tay ra phía trước rồi đổ xuống bên cạnh khẩu đại bác như một cái bao tải.
21
Khi Êvo tỉnh dậy khỏi cơn choáng, xung quanh đã yên ắng cả. Nàng không biết mình đang ở đâu.
Nàng mở mắt nhìn, cố nhớ lại. Ngôi nhà gỗ sụp đổ giữa những thanh gỗ là bầu trời sáng trăng quang đãng và những ngôi sao trắng lấp lánh…
Có cái gì cưng cứng ấn đau ngang hông nàng. Đầu nàng cũng nằm trong cái gì ươn ướt lạnh…
Nàng thò cánh tay rã rời xuống dưới hông. Nàng rờ phải đá răm và một viên đạn gang lạnh lẽo, to bằng quả táo.
Tất cả vụt trở nên rõ ràng trước mắt nàng.
Yên lặng, như vậy là cuộc chiến đấu đã chấm dứt. Chẳng biết ai đang làm chủ trong thành? Thổ hay Hung? Trên đài quan sát, bước chân chậm rãi, đều đều của một người lính canh vẳng đến: một, hai, ba, bốn…
Êvo muốn nhỏm dậy lắm, nhưng đầu nàng nặng như chì. Tuy vậy nàng cũng quay đầu một chút và thấy được là mình đang nằm gần pháo đài, cạnh nàng, một phụ nữ nằm sấp bụng xuống đất, với một chiến sĩ áo xanh không còn đầu nữa.
Lạy Chúa nhân từ, nếu quân Thổ mà làm chủ…
Có ánh đèn đỏ lọt qua kẻ hở giữa các thanh gỗ rồi tiếng chân người đến gần. Một giọng đàn ông khàn khàn vằng đến:
- Ta khiêng người võ đồng vào trước hay là người phụ nữ vào trước?
Ô, đa tạ Thượng đến, tiếng nói đó là tiếng Hung.
[71] Khoảng 15- 16km, Giơđơblơ là huyện lỵ của huyện Gơđơnlơ, ngoại thành Budapest về phía đông bắc, Isosơxee là một xã trong huyện Gơđơnlơ, tại đây ngày 6 – 1- 1819 quân đội Hung đã thắng quân đội của đế quốc Áo, một trong những trận thắng oanh liệt nhất trong chiến dịch mùa xuân của cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ hồi đó. Siôphôôc và Phuyrét là hai thị trấn nghỉ mát đối diện nhau hai bên bờ hồ Balatông.
[72] Theo kinh thánh là ông tổ của dân Do Thái.
[73] Một loại lính tình nguyện trong quân đội Thổ.
[74] Hai địa điểm ở Buđapest, cách nhau khoảng 8km.
[75] Tiếng Latinh trong nguyên bản: Bài kinh lễ mồ.
[76] Pônxius Herenuius, tướng của dân tộc Xamnit, chết năm 291 trước CN. Ông đã bắt được một đạo quân La Mã trong thung lũng Phuốcsê Côđin khiến người La Mã phải chịu thua và chấp nhận điều ước hòa binh (321 trước CN). Nhưng về sau Viện Nguyên lão của La Mã bội ước và chiến tranh lại tiếp diễn. Tuy vậy Pônxius đã tha mạng cho 600 tù binh La Mã mà không đòi điều kiện gì. Cuối cùng Pônxius bị thua, bị bắt và bị người La Mã giết hại trong ngục. Sau chiến bại này dân tộc Xamnit ở bán đảo Itali cũng mất luôn cả nền độc lập. Ở đây ý nói đến chủ nghĩa nhân đạo chung chung.
[77] Một nhân vật thần thoại Hy-lạp có sức mạnh vô địch, trong đời đã lập được 12 kỳ công, do đó được các thần đưa lên núi Olympia và cũng trở thành thần.
[78] Khi được các thiên thần báo tin Chúa Trời sẽ phá hủy thành Sôđôma, thoạt đầu Abraham xin phép được báo cho dân trong thành biết để cứu họ, bị từ chối, Abraham lại xin phép chỉ báo riêng cho gia đình ông Lôt (Loth), là một gia đình lương thiện, biết để cứu người lành.
[79] Laokoon, tác phẩm nổi tiếng nhất của nghệ thuật tạo hình hậu kỳ Cổ Hy Lạp (thời kỳ đế quốc Henlen). Quân tượng này do ba nghệ sĩ bậc thầy: Hagêxandrôax, Pôluyđôrôx và Alenôđôrôx điêu khắc, mô tả giáo chủ thành Tơroa và các con trai trong cuộc chiến đấu sống mái chống lại một bầy rắn. Bầy rắn do nữ thần thành Aten (là thành phố cừu địch với thành Tơroa) phái đến giết họ vì họ đã tiên cảm thấy con ngựa gỗ mà quân Aten để lại trước thành sẽ gây nên tai họa cho thành Tơroa và do đó họ đã phản đối việc đưa con ngựa gỗ vào thành. Động tác Laokoon ở đây có nghĩa là động tác cố gắng hết sức.
[80] Tháp Pisa (đọc là Piza) : một cái tháp ở thành phố Pisa (Trung Ý), nổi tiếng vì sau khi xây dựng xong, một bên nền bị lún và mỗi năm một nghiêng dần mà vẫn chưa đổ. Đứng như cái tháp Piza là đứng xiêu xiêu vẹo vẹo.
[81] Các loại lính trong quân đội Thổ hồi đó.
[82] Tiếng la tinh, có nghĩa là nơi rửa tội, nơi hóa kiếp.
[83] Tiếng la tinh trong nguyên bản: các thiên thần sẽ đưa bạn về cõi thiên đường.
[84] Nguyên văn: đồ chó Herôđex nhà mày (Herôđêx là một tên bạo chúa Do Thái vào thời 37 – 4 trước C.N)
[85] Lính bắn súng trường của Thổ.
[86] Hồi xưa chưa có máy ép, mỗi khi hái nho về người ta đổ vào những cái thảng to rồi người đứng vào giẫm.
[87] Đạo Hồi kiêng thịt lợn.
[88] Cống binh Thổ.
[89] Quan giám trận trong quân Thổ.