Nơi Lục Bình Dừng Lại

Lượt đọc: 10982 | 8 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 8 -

Hai con heo tranh nhau ăn nên lớn như thổi. Để đỡ tốn tiền mua gạo lức, dì Sáu bèn theo thím Chín ra vườn chuối, lựa một cây đã trổ buồng để đốn rồi vác về cho chúng ăn kèm.

Thím Chín đem qua cho dì Sáu mượn cây dao dâu, dụng cụ chuyên dùng để xắt chuối. Cách dì cầm cây dao khiến thím biết ngay là dì chưa hề làm qua cái công việc nầy.

Thế là thím hướng dẫn cho dì từng li, từng tí. Từ việc lựa giống chuối nào có thân ngon, mềm, không chát...cho tới cách ngồi như thế nào, cầm cây dao như thế nào và xắt như thế nào.

Dì Sáu cũng chưa từng cầm cái chày to để quyết bất cứ thứ gì kể cả chuối. Thím Chín đang mang bụng, cũng mạo hiểm làm thử mấy bận cho dì xem. Thế rồi thím phát hiện, dì là một người học trò hết sức thông minh và cần cù. Chỉ hơn một tuần mà thuộc lòng hết lý thuyết và thực hành ro ro...

Dì lại còn rất khéo tay, mấy lát chuối dì xắt ra, mỏng tanh như miếng ren và đều tăm tắp. Dì còn vừa quyết, vừa vùa chuối mình ên, y như một tay cao thủ.

Ngắm dì Sáu quết chuối cũng khá vui mắt. Thím Chín thích nhìn cái dáng dì đứng chỉ với một chưn, chưn còn lại gát hờ lên miệng cối.

Hai tay dì nâng cái chày đưa lên, cùng lúc với bàn chưn vùa chuối vào cho đầy cái lỗ trũng ở giữa, do cái chày vừa bỏ lại. Động tác hết sức chuẩn xác khiến thím không khỏi trố mắt ngạc nhiên và lấy làm thú vị.

Dì làm gọn bân không để chuối rơi ra ngoài đến một miếng, cũng không thèm nghỉ xả hơi, quết một lèo cho tới khi nát mấy lát chuối đều nát nhừ như cám.

Thím Chín tin rằng, những thành quả đó có được là nhờ cái quyết tâm cao ngùn ngụt của dì Sáu.

Thím cũng biết dì Sáu có lòng tự trọng hơn người. Dì từng nói với thím là chừng nào giải quyết xong hai dây hụi mới rước Tím về, để người ta khỏi cho rằng dì bắt con dâu trả nợ thay mình.

Dì Sáu vốn rất sợ mắc nợ, xưa nay thà nhịn tiêu xài chớ ít dám mượn tiền sắm sửa. Từ ngày bậm gan làm đầu thảo hụi, dì cứ ngày đêm lo ngay ngáy.

Dì gắng hết sức, sao cho mỗi tháng có đủ tiền đóng trả cho bà con, lối xóm. Để bản thân không bị mang tiếng và thím Chín cũng khỏi mất mặt.

Từ ngày dì nuôi heo, công việc hầu như tăng gấp đôi. Đã vậy lại càng thắt lưng buột bụng riết róng, ăn tiêu giảm còn một nửa nên dì gầy đi thấy rõ.

Thím Chín thấy dì làm không hở tay và ăn uống sơ sài quá, sợ đổ bịnh nên rầy:

-Lúc nầy tui thấy chị ốm dữ lắm rồi đó nghen chị Sáu! Làm nhiều thì phải ăn nhiều chớ! Ba bữa nay tui thấy chị cứ mắm chưng, núm rơm kho với canh mướp không hà.

Dì Sáu phân trần:

-Tui không dám mua thịt, mua cá. Để dành từng đồng đóng hụi. Chừng nào trả dứt hết hụi rồi tui mới rảnh rang mà lo mấy thứ khác.

Thím Chín chắt lưỡi:

-Bộ chị hổng nhớ cái câu mà ông bà mình dạy hay sao? "Công nợ trả lần, cháo nóng húp quanh". Nợ thì trả từ từ chớ đâu thể làm cái một. Phải ăn để có sức chớ!

Dì Sáu dù biết thím Chín nói đúng nhưng tật lớn khó bỏ. Dì ráng làm theo chừng đôi ba bữa, cho cả nhà rửa ruột vài hôm rồi cũng rau, mắm như cũ.

Thím Chín nói với chồng:

-Thấy chị Sáu làm gần chết mà ăn uống cầm hơi sao tui rầu quá mạng! Phải biết vậy tui hổng làm mai con Tím cho thằng Phục làm chi. Báo hại chị vừa nhón, vừa vói cho bằng người ta, mệt gần chết!

Chú Chín gật đầu:

-Phải chi bà kiếm cho chỉ cái gia đình nào xấp xỉ hoặc nghèo hơn một chút thì dễ thở biết mấy. Làm sui, làm dâu, làm rể nhà giàu mệt gần chết, cực thấy mồ mà chưa chắc sơ múi được chút gì!

Thím chín chù ụ cái mặt, nói:

-Cái chuyện nầy tui quá rành, cần gì ông nói!

Nghe cái giọng chua như giấm của vợ, chú biết thím còn giận má mình về chuyện chia của không đều, thiếu công bằng, phần của họ ít hơn người khác.

Thím Chín vẫn còn tiếc hùi hụi căn nhà ngói lẫm liệt, vườn cây ăn trái sum sê và phần đất hương hỏa mầu mỡ, thay vì của họ lại về tay cô em chồng.

Thím thường phân bì với chồng, cho là mình cực hơn hết thảy, mà hưởng ít hơn hết thảy.

Thím hay đưa hai bàn tay ra trước mặt chú mà nói: "Coi nè! tui làm dâu thiếu điều muốn sút móng tay, vậy mà bà nội sắp nhỏ còn chưa vừa bụng".

Mấy cái chuyện nầy mà đụng vào thì y như lấy cái que chọt vào ổ kiến lửa. Chú Chín ngồi im re, ngậm cứng cái miệng, ráng biểu hai lỗ tai đóng lại mà tụi nó không chịu

Thím Chín vẫn chưa muốn dừng, nói tiếp:

-Nghĩ tới đó mà tui giận cành hông! Hổng hiểu má tính sao mà để mấy đứa cháu khác họ lo việc cúng kiếng. Ba cái đứa phá của, làm biếng nhớt thây đó, đây rồi ông coi...

Chú Chín thở dài:

-Má chết rồi, mình trách móc hoài má khó mà siêu, mang cái tội bất hiếu nặng lắm!

Rồi chú an ủi thím:

-Phải chi hồi đó tụi mình khôn khéo một chút, đừng có đeo xà nẹo với nhau, thương mà đừng cho má biết thì đâu đến nổi...Đàn bà hay ghen lắm!

Thím Chín nghe vậy thì nguôi nguôi, quay về chủ đề cũ:

-Tui sợ đây rồi ba má con Tím được voi, đòi tiên. Họ còn đòi hỏi thêm thứ nầy, thứ nọ tùm lum. Chỉ phải ráng sức hoài dám bức gân lắm!

Thở một hơi dài, thím tự trách:

-Mình cũng tính giúp chỉ có con dâu nết na, xinh đẹp, giỏi giang thôi! Ai mà ngờ...

Thấy vợ buồn chú Chín bèn khuyên:

-Có khi mình cho là khổ còn chỉ lại thấy vui. Con Tím coi bộ cũng hiểu chuyện lắm! Biết đâu nó cảm động, thương chỉ như má ruột rồi hết lòng trả hiếu.

Thím lắc đầu :

-Tui sợ nó về đây, thấy chị sống kham khổ quá lại đâm ra xem thường đó chớ...

Chú Chín nghe vợ than vãn hoài nên bực mình gắt:

-Vậy thì bà kêu chỉ thôi quách đi cho khỏe?

Thím Chín cự lại:

-Làm như vậy thì tội nghiệp nhà bên kia. Đây rồi bà con kêu rêu là tại họ khó khăn, đòi hỏi đủ thứ nên nguyên cái đám con gái hổng ai dám rớ. Cái rồi hổng ai thèm tới coi mắt nữa thì tội nghiệp cho con Tím với mấy chị em của nó. Thằng Phục cũng bị mang tiếng là vô duyên, khó mà kén được vợ!

Thấy chú cau mặt, thím vội vã phân bua:

-Tại tui sợ chỉ lăn ra bịnh thì khổ cả đống!

Đúng là thần khẩu hại xác phàm. Mấy hôm sau dì Sáu lại ra vườn đốn chuối về cho heo. Dì vác cây chuối còn mập và cao hơn mình, về vừa tới cái giàn mướp là đặt xuống liền.

Ngồi bệt lên sàn nước nghỉ mệt, thở dốc mấy hơi, dì kéo cái khăn đang đội trên đầu xuống để lau mồ hôi tươm đầy mặt. Nghe khô miệng nên dì mở nắp lu, nhúng cái gáo vô múc nước uống...

Dì bưng gáo uống một hơi, chưa kịp máng lên cây cọc tre trở lại thì bỗng ngã bật ngửa, té xỉu một cái rầm, nằm ngay đơ trên mặt đất.

Thím Chín đã thấy dì Sáu về, thím đang đi xuống cầu thang định qua nhà dì chơi, nên tận mắt thấy cái cảnh dì Sáu ngã vật ra y như cây chuối bị đốn.

Thím hét inh ỏi:

-Chị Sáu! Chị Sáu! Ông ơi! Ba con Nhu ơi!

Chú Chín đang ở sau hè cuốc đất, chú tính lên giồng để trồng cải bẹ xanh. Nghe tiếng kêu vang vội của thím thì bỏ thí cái cây cuốc đang cắn cục đất nằm ì đó, ba chưn, bốn cẳng chạy lại.

Chú kêu to:

-Từ từ, coi chừng té đó bà ơi!

Chú xốc dì Sáu lên vai đi lẹ theo vợ. Thím Chín chạy te te phía trước vẹt tấm màn che cửa buồng để chú đặt dì Sáu vào nằm lên chõng.

Chú Chín cho cái đầu dì Sáu tựa vô gối xong là quay trở ra liền. Chú chụp lấy chiếc xe đạp đang dựng sát cầu thang, thót lên ngồi rồi đạp vù vù.

Một chiếc xe hon đa chở đôi vọt qua, chú kêu vói theo:

-Sớm, Sớm đi rước ông thầy Bảy giùm, cô Sáu Dọ bị bịnh nặng lắm! Té xỉu rồi!

Hai Sớm con của cậu Ba Sáng, người vừa cưới vợ mấy tháng trước, đang chở cô vợ trẻ đi công chuyện, quay đầu lại "dạ" một tiếng thiệt lớn rồi rồ hết ga vọt thẳng...

Chú Chín đạp chiếc xe ra luôn nhà sau của dì Sáu, đi cửa hông cho gần.

Thấy cô Năm đang đứng bên sào phơi đưa mắt nhìn mình, chú gọi to:

-Chị Sáu Dọ chết giấc kìa cô Năm ơi!

Cô Năm đang giũ cái khăn cho thẳng sắp trải lên cây sào tre, nghe vậy bèn thảy trở lại vô thau. Cô bỏ cái tiệm mà chạy theo chú Chín qua nhà dì Sáu.

Đến nơi họ thấy thím Chín khóc hu hu thì hết hồn.

Cô Năm hỏi:

-Chỉ chết rồi sao?

Thím Chín lắc đầu:

-Tui... hổng biết!

Chú Chín bước lại, lật đật vạch mí mắt lên coi.

Thím Chín và cô Năm cùng hỏi một lượt:

-Còn sống hông?

Chú Chín làm thinh. Mấy lần thấy thầy Bảy làm vậy nên chú bắt chước chớ đâu có biết cái gì mà nói.

Tiếng xe máy dừng ngay cổng. Thầy Bảy ngồi sau lưng Sớm. Thấy Sớm cho vợ xuống đi bộ để chở thầy tới cho nhanh, chú Chín ưng bụng lắm!

Chú nhủ thầm:

-"Cái thằng nầy còn nhỏ mà ăn ở có tình, có nghĩa. Vợ chồng ba Sáng có thằng con như vầy là gỡ vốn được rồi. Mấy thằng kia mà như anh nó thì họ lời khẳm".

Thầy Bảy còn mặc bộ đồ trong nhà, cái quần bi da ma kẻ sọc và áo thun ba lỗ. Chắc bị thúc giục dữ quá nên ổng không kịp xỏ tay vào áo.

Thấy cái phòng tối hù. Ổng hối:

-Mở giùm cửa sổ cho sáng, tối quá!

Cô Năm đứng gần đó, vói tay làm liền.

Căn phòng sáng trưng lên. Thầy Bảy vạch mí mắt dì Sáu, rọi đèn pin nhìn vào, rồi tắt đèn bỏ vô cặp trở lại. Lần nầy không ai dám hỏi.

Thầy Bảy đặt cái ống nghe đang đeo lòng thòng trên cổ lên ngực dì Sáu, nghe một cách hết sức chăm chú. Tiếp đó ổng lấy cái máy đo máu ra, tròng miếng vải vô cánh tay dì , siết mấy vòng cho chặt. Tay cầm trái banh cao su nhỏ màu đen thầy bóp liên tục, mắt nhìn đăm đăm cây kim màu đỏ đang chạy cà giựt trên cái đồng hồ ...

Cây kim dừng lại, thầy vặn cái bánh xe nhỏ xíu, mở van cho cái hơi căng phồng trong tấm vải xẹp xuống. Chờ cho tiếng "xì, xì..." tắt hẳn thầy mới nói :

-Huyết áp không có tăng, tim đập hơi lẹ nhưng hổng sao!

Mở cặp lấy ra ống tiêm, thầy đặt miếng bông gòn lên miệng chai ancol rồi chổng ngược đít chai. Thầy lấy ra một ống thuốc, búng chóc chóc trên cái đầu nhọn của cái ống thủy tinh nhỏ bằng ngón tay út, có chứa thứ nước trong veo. Bẻ đầu nhọn một cái rắc, thầy đưa mũi kim đã được miếng gòn tẩm cồn ban nãy sát trùng, vào rút cạn.

Thầy lụi một phát vào mông dì Sáu. Một cái nhăn mặt rất nhẹ lướt qua mặt dì khiến chú thím Chín và cô Năm cùng thở phào ra một lượt.

Thím Chín hỏi:

-Có vô nước biển cho chỉ hông anh Bảy?

Thấy thầy Bảy hơi ngần ngại, thím nói:

-Thầy vô giùm nghe, hổng nhiều thì một chai cũng được.

Thầy Bảy gật đầu. Thầy biết khó mà từ chối, bởi chai nước biển chính là liệu pháp tâm lý, giúp người bịnh và thân nhân của họ yên bụng.

Thầy vừa lau cái chai vừa cắt nghĩa:

-Cái thứ nầy khi nào cần mới xài, hở hở là truyền nước biển cũng đâu có tốt.

Bà con nông thôn nói chung và xóm Cầu Ván nói riêng, xem cái thứ nước không màu, không mùi, không vị đó y như thần dược vậy.

Hầu như tất tần tật bà con trong xóm. Mười người như một. Hể nghe trong người có vấn đề là ngoắc thầy Bảy lại đòi truyền nó vô mình cho bằng được.

Điển hình là mợ Hai Thọ, người từng tuyên bố thẳng thừng trước mặt thầy Bảy, khi ổng do dự, chưa chịu nghe lời mà làm theo ý mợ:

-"Tui phải vô nước biển mới khỏe được, hổng cần chích, uống gì ráo!".

Thầy Bảy rầu sẩu mình, khuyên hoài mà hổng ai chịu nghe, đành phải chìu. Lần nào cầm cái chai dung tích nửa hoặc một lít đó lên thầy cũng nói một câu:"Cái thứ nầy khi nào cần mới xài, hở hở..." i sì như trên, riết rồi tạo thành thói quen, bà con nghe hoài cũng nhàm, không còn chút tác dụng nào!

Thầy Bảy vỗ nhè nhẹ mấy ngón tay vào hai bên má của dì Sáu rồi hỏi:

-Tỉnh chưa chị Sáu?

Dì Sáu mở mắt ra rồi gật đầu. Đưa mắt về hướng thím Chín dì hỏi:

-Tui bị sao vậy chị Chín:

Thím Chín nghe dì hỏi thì mừng đến chảy nước mắt thêm lần nữa, thím nói:

-Chị bị xỉu, thầy Bảy mới chích cho chị một mũi đó.

Thầy Bảy hỏi:

-Chị Chín biểu tui vô nước biển cho chị đó! Tui thì thấy không cần thiết, chị có muốn thì tui làm.

Dì Sáu lắc đầu lia lịa, đâu thể tốn tiền một cách vô ích như vậy!

Thím Chín cứ nằng nặc:

-Chị yếu lắm! Nghe lời tui vô một chai cho khỏe đi.

Chú Chín rầy vợ:

-Anh Bảy là người trong nghề, ảnh đã nói hổng cần thì thôi. Tui thấy bà về nhà, nấu liền cho chỉ một nồi cháo cá lóc coi bộ còn tốt hơn.

Thầy Bảy cũng hùa theo:

-Anh Chín nói đúng đó. Ăn uống được thì không cần vô nước biển làm chi. Để tiền đó mua đồ bổ ăn cho nó sướng cái miệng, hổng hơn sao?

Thím Chín nghe cả hai người đàn ông đều nói vậy thì không kèo nài nữa.

Thím quay qua nói với cô Năm:

-Chị ở lại ngó chừng chị Sáu nghe! Tui về nấu nồi cháo rồi qua.

Cô Năm gật đầu, nói:

-Ừ chị về đi, để tui coi chỉ cho, hổng sao đâu?

Chú Chín chờ vợ đi khỏi rồi mới nói:

-Có tui với anh Bảy ở đây rồi, cô có về thì về, kẻo bà con tới mua đồ lấy ai bán cho họ?

Cô Năm nói:

-Hổng sao đâu anh Chín.

Ngó thầy Bảy cô hỏi:

-Bây giờ chỉ uống sữa được chưa anh Bảy?

Thẩy gật đầu:

-Tốt nhứt hạng đó!

Cô Năm quày quả về nhà, lát sau bưng qua một ly sữa nóng hổi có lót cái dĩa để cầm cho khỏi phỏng tay. Cổ cầm cái muỗng cán dài khuấy tưng bừng, chu miệng thổi phù phù cho sữa mau nguội.

Cổ Nếm thử thấy bớt nóng liền đưa cho dì Sáu rồi nói:

-Ráng ngồi dậy uống một hớp đi chị.

Thầy Bảy vội lòn tay đỡ dì Sáu ngồi lên. Dì Sáu cầm lấy ly sữa trong tay cô Năm rồi uống cạn.

Dì mắc cỡ vì bàn tay của thầy Bảy vẫn còn đặt trên lưng mình, muốn biểu thầy lấy ra mà sợ thầy quê nên làm thinh. Dì nghe máu chạy rần rần trên hai gò má.

Cô Năm nhìn dì, xuýt xoa:

-Mới uống có một ly sữa mà cái mặt của chỉ đã hồng hào trở lại rồi kìa!

Cô Năm đỡ lấy cái ly không còn một giọt sữa nào trong tay dì Sáu rồi nói:

-Chị nằm nghỉ đi! Có anh Bảy, anh Chín ngó chừng giùm rồi, tui về coi cái tiệm một lát.

Quay sang chú Chín cô nói:

-Chừng nào anh về thì hú một tiếng đặng tui qua thay phiên hén!

Chờ cô Năm đi khuất, chú Chín mới bảo thầy Bảy:

-Tui cũng về coi phụ bà nhà một tay. Lúc nầy bả nặng nề lắm rồi, leo lên leo xuống cầu thang bất tiện lắm! Anh dòm chừng chị Sáu nghen!

Thầy Bảy không nói gì, chỉ nhìn chú bằng ánh mắt chan chứa ân tình, gật đầu tới hai ba lần.

Dì Sáu cảm thấy mình đang lâm vào tình thế ngặt nghèo, muốn năn nỉ chú Chín ở lại mà không dám mở miệng.

Dì nghĩ ngợi lung tung, oán thầm chú Chín:

-Cha nội nầy vô "dang"(duyên) chưa từng thấy! Khi không đuổi chị Năm về rồi cũng cuốn gói đi luôn. Bộ ổng không thấy ông thầy Bảy đang de mình hay sao?

Dì Sáu hướng đôi mắt van xin về phía chú Chín. Chú đâu có dám nhìn lại dì, cúi đầu đi thẳng một lèo, không thèm ngó lại đến một lần.

Thầy Bảy tằng hắng:

-Để tui đỡ cô nằm xuống nghen?

Dì Sáu nhận ra bàn tay của thầy Bảy vẫn còn đặt sau lưng mình nên sẳng giọng:

-Tui nằm mình ên được rồi, anh lấy cái tay ra đi.

Thầy Bảy lấy cái tay ra liền, miệng tủm tỉm cười vì biết sắp chứng kiến một chuyện vui.

Dì Sáu vừa nghiêng người chưa kịp nằm xuống, bỗng thấy căn nhà quay mòng mòng.

Dì la bài hải:

-Té! té! Cứu giùm tui anh Bảy ơi!

Thầy Bảy đem giấu nụ cười khoái trá của mình một cách vội vàng. Thầy dang cả hai cánh tay ra ôm dì vào lòng như ôm đứa con nhỏ.

Dì Sáu cũng bám chặt cứng lấy thầy. Thầy nghiêng người, đặt dì nằm xuống gối rồi mà hai bàn tay của dì vẫn còn ôm riết cái lưng của thầy.

Một lát sau dì Sáu mới hoàn hồn, buông thầy Bảy ra rồi hỏi:

-Cái chuyện nầy là sao vậy anh Bảy? Khi không mà tui thấy căn nhà lộn mèo, thấy như mình sắp rớt từ trên đọt cây xuống đất là tại làm sao?

Tới lúc nầy thầy Bảy mới chịu đặt dì Sáu nằm thẳng thớm lên bộ giạt. Ổng sửa cái gối trên đầu dì cho ngay ngắn rồi mới cắt nghĩa:

-Cô bị té bật ngửa nên cái đầu đập mạnh xuống đất. Cái đầu của mình có khoang trống. Nó cũng như cái thau có chứa nước ở trong đó, cô biết hông?

Dì Sáu ngớ người ra mấy giây rồi từ từ gật đầu.

Thầy hỏi thêm:

-Cô đang bưng thau nước trong tay rồi khi không mà để thiệt mạnh xuống, cô thấy nước trong thau có dợn sóng rồi vài ba giọt bắn ra ngoài hông?

Dì Sáu lại gật đầu.

Thầy lại hỏi:

-Cái nước còn trong thau, cô thấy nó có đứng im liền hông?

Dì Sáu lắc đầu.

Thầy Bảy cắt nghĩa tiếp:

-Bây giờ cái nước trong đầu của cô cũng y như vậy. Nó chưa có chịu nằm yên đâu! Còn chao qua chao lại lung tung trong đó, đã đời rồi mới chịu dừng! Mỗi lần cô thay đổi tư thế, như đang ngồi mà nằm xuống là bị chóng mặt liền, tưởng như sắp té mà không có phải.

Rồi thầy biểu:

-Đâu cô nghiêng thử cái đầu qua một bên coi!

Dì Sáu làm theo, dì lại la bài hải, kêu tên và chụp lấy thầy.

Thầy Bảy liền ôm dì rồi nói:

-Có tui đây nè, hổng có sao đâu?

Thầy nói tiếp:

-Cũng may mà cô té trên đất bằng phẳng, nếu trên đá cứng hay bị cái gì nhọn nhọn đập vô đầu, dám hui nhị tì lắm đó!

Thầy bắt đầu khai thác lợi thế của mình, chưa chịu buông dì Sáu ra mà hỏi:

-Cô biết tại sao mà khi cô chóng mặt, có người khác vịn vào là cảm thấy bớt liền hông?

Dì Sáu ngẫm nghĩ một lát rồi lắc đầu:

-Cái đó gọi là tâm lý! Cô biết có người sẽ đỡ mình nên vững bụng, bớt nghe lảo đảo liền. Chớ nếu không có ai là cô cố gắng giữ thăng bằng rồi dám té sặc máu nữa chớ hổng chơi!

Dì Sáu nghe vậy thì xanh cả mặt rồi không dám xô thầy ra liền. Để giữ thể diện, thầy không chờ dì lên tiếng, tự mình buông tay, đứng lên.

Thầy dặn dò thêm:

-Bắt đầu từ bây giờ, khi chưa lấy lại bình thường, cô đi đâu cũng phải có người kèm. Đêm ngày gì cũng phải có người ở chung, ở một mình là nguy hiểm lắm đó!

Dì Sáu thở dài, hỏi:

-Cái vụ nầy chừng nào mới hết vậy anh Bảy?

Thầy Bảy đáp:

-Nhanh chậm tùy theo té nặng hay nhẹ, có bị thương, bầm giập nhiều hông.

Chợt nhớ ra, thầy nói thêm:

-Cô khoan có xuống sông, hay đi cầu cá nghen.

Dì Sáu hết hồn:

-Vậy thì làm sao?

Thầy Bảy đáp:

-Thì kêu con cái nó xách nước lên nhà mà tắm. Đi vô bô cho nó đem đổ.

Di Sáu chắt lưỡi không nói. Thầy Bảy nhìn cô rồi nói, giọng hết sức nghiêm túc:

-Cô sợ tụi nó mắc công, thì để tui làm giùm cho!

Khi thím Chín bưng chén cháo qua cho dì Sáu, thím cảm thấy không khí trong phòng như có cái chất gì ngộ lắm! Vốn là người nhạy bén, thím không đút cho dì Sáu mà đưa chén cháo cho thầy Bảy.

Thím nói:

-Anh Bảy cho chỉ ăn cháo giùm nghen! Tui còn phải lo nấu cơm chiều nữa.

Thầy Bảy sốt sắng:

-Chị cứ đưa đây, tui làm cho, về nấu cơm liền đi.

Dì Sáu thì nhắm mắt khít rịt, giả bộ ngủ.

Thím Chín vừa leo lên thang vừa cười ngỏn nghẽn.

Chú Chín hỏi:

-Mắc gì mà bà vừa đi vừa cười vậy?

Thím hỏi lại:

-Đố ông tui mới vừa thấy chuyện gì?

Rồi không chờ chú Chín trả lời, thím kề tai chú nói thiệt là nhỏ:

-Chị Sáu coi bộ chịu đèn ông thầy Bảy rồi!

Chú Chín cũng cười với vợ nhưng không tỏ vẻ ngạc nhiên lắm, làm thím Chín hơi cụt hứng. Vốn là người tánh tình mau mắn, thích cái gì là làm rụp rụp liền, nên thím Chín nghe nôn nao trong lòng quá mạng!

Thím nói:

-Hổng chừng cái đám nầy còn trước cái đám của thằng Phục nữa đó.

Chú Chín thực tế hơn, hỏi lại:

-Tới chừng đó ai lo nuôi đẻ cho bà?

Thím Chín gạt phắt:

-Hổng người nầy thì người khác, lo gì? Em, cháu tui cả đống, hô lên một tiếng là tụi nó chạy tới làm rụp rụp liền, tại tui chưa biểu đó thôi!

Thím nói một cách quả quyết:

-Miễn chỉ hết cực, hết khổ là tui mừng rồi.

Rồi nói tiếp, giọng mơ màng:

-Vậy là từ nay chị Sáu nở mặt, nở mày với bà con lối xóm biết bao nhiêu mà nói. Được ở nhà đúc, ngồi xe hon đa, chồng còn làm bác sĩ nữa chớ!

Chú Chín lật đật thắng bớt lại:

-Ảnh mới làm y tá thôi bà ơi!

Rồi chú nhắc thím:

-Thằng con ổng nghe nói làm biếng lắm! Không lo làm ăn gì hết, cả ngày chỉ nằm võng đưa cọt kẹt, đi lòng vòng trong vườn rồi nói lảm nhảm như khùng. Cái nhà thì lớn mà bầy hầy hết chỗ nói. Hổng chừng ông thầy Bảy thấy chỉ siêng năng, đảm đang, kỹ lưỡng nên mới theo đuổi đó chớ!

Thím Chín cự lại:

-Vậy sao ổng hổng chọn cô Út Ngọt sát bên nhà. Cổ đâu có thua chị Sáu chỗ nào, lại còn son rỗi nữa, không có con cái lòng thòng như chỉ.

Chú Chín gạt ngang:

-Cổ đâu có ngộ bằng chị Sáu. Ảnh mà chịu là cưới từ ba mươi đời vương rồi. Lúc vợ ảnh mới mất, ông bà Tám Ngon đã kêu gã liền tay rồi đó chớ!

Buổi chiều bà con về nhà đầy đủ, cái tin dì Sáu bịnh nặng đã lan đi khắp xóm.

Mợ Ba là người đầu tiên lật đật chạy tới thăm. Không biết Hai Sớm, con trai mợ, người có công đi rước thầy Bảy, phóng đại tới mức nào mà vừa bước vào nhà là mợ Ba vừa khóc vừa hỏi:

-Làm sao mà tới nổi nầy vậy chị Sáu? Tội ...

Thím Chín đang ngồi trên giường, dưới chưn dì Sáu, thay cho thầy Bảy vừa về vì có người đến rước đi chửa một ca gì đó. Thấy mợ Ba bù lu, bù loa, thím liền lắc đầu, ngầm biểu để yên cho dì Sáu ngủ.

Thực ra dì Sáu đâu có ngủ, dì nhắm mắt để khỏi bị thím Chín chọc nghẹo, vặn hỏi về thầy Bảy đó thôi!

Mợ Ba thấy thím ra dấu liền ngưng ngang một cái rụp, y như cây đờn đứt dây.

Mợ hỏi, giọng nhỏ xíu:

-Chỉ ra làm sao rồi?

Thím Chín thấy gương mặt của mở hết sức lo lắng, bèn sửa cái giọng trầm trọng cho phù hợp:

-Nặng lắm! Ông thầy Bảy biểu phải có người ở suốt ngày suốt đêm với chỉ, canh không cho nhúng nhích cục kịch gì hết, tiêu tiểu tại giường luôn!

Mợ Ba thất sắc:

-Nặng dữ vậy sao chị? Có biết tại sao mà chỉ té hông?

Thím Chín ra dấu bằng tay cho mợ Ba đi ra ngoài theo mình. Họ đi khuất tầm nhìn, tầm nghe của dì Sáu rồi thím mới nói, giọng vẫn nhỏ xíu:

-Cũng tại cái vụ đám cưới của thằng Phục đó! Chỉ lo thôi là lo, gồng quá mức nên mới bức gân một cái bực. Cái thân ốm nhom như cây tre miễu mà vác nguyên một cây chuối nặng ì. Vừa để xuống là té bật ngửa liền. Cũng may chỗ đó đất bằng, chỉ hổng có đứng quay lưng về phía lu nước nên mới còn giữ được cái mạng đó!

Mợ Ba hỏi:

-Bây giờ chỉ đỡ chưa?

Thím Chín nói:

-Tui cũng hổng biết! Nghe ông thầy Bảy nói sao tui lo quá! Cái gì mà ngồi dậy từ từ, nhứt là nằm xuống phải có người vịn sau lưng y như con nít còn ẵm ngửa vậy đó!

Mợ Ba nói:

-Tui có người bà con leo cây bẻ dừa, y té đập đầu xuống đất rồi đi chầu diêm vương luôn đó chị. Chỉ còn sống chắc hổng sao, nếu chết là chết liền rồi.

Thím Chín cự lại:

-Bộ chị hổng nhớ ông Tám Vó xóm chợ hả? Ổng bị xe quẹt, té trúng đầu rồi đứng lên tỉnh rụi, đi làm đồng như thường. Cái rồi mấy ngày sau, đang cầm cây cuốc đưa lên chưa kịp bổ xuống thì té nhào. Mấy đứa con lật đật chở đi nhà thương, bác sĩ cả đống mà hổng ai cứu được. Họ nói tại ổng té bị giập mạch máu. Cái cục máu bầm nó chận không cho máu chạy vô đầu, cái óc không được nuôi nên chết!

Mợ Ba thở dài:

-Bởi vậy, ba cái chuyện nầy khó nói lắm!

Thím Chín muốn trút hết trách nhiệm lên nhà dì hai Trắng nên bịa :

-Cái thân mình chưa biết sống chết lúc nào mà chỉ hổng chịu lo. Mới hơi tỉnh tỉnh là rầu, sợ chết bất đắc kỳ tử, rồi cái đám cưới phải hoãn lại ba năm cho tới mãn tang. Để lâu e hư bột hư đường...

Mợ Ba lại sụt sùi:

-Bên con Tím biết chưa? Có ai tới hông?

Thím Chín lắc đầu:

-Thằng Phục với con Nhạn còn chưa hay nữa là...

Mợ Ba ngạc nhiên:

-Hai anh em nó đi đâu?

Thím Chín đáp:

-Tụi nó đi mua tre tuốt ở bên Hòa Lạc á!

Mợ Ba hỏi:

-Tre xóm mình cả đống, mắc gì phải đi xa dữ vậy?

Thím Chín nói:

-Nghe nói ở bển nhiều hơn, bán rẻ hơn! Còn có cái ông thợ nào đó, đương lộp giỏi mà có tay sát tôm, sát cá dữ lắm! Hai anh em nó mượn cái xuồng của tui rồi bơi từ sáng, tới giờ chưa thấy về.

Mợ Ba chắt lưỡi:

-Tội nghiệp dữ quá! Đây rồi về nhà thấy má nó như vậy chắc hai anh em khóc mù trời...

Rồi mợ nói:

-Để tui lên cho chị Hai với con Tím hay liền mới được, dù gì cũng... Thôi chị vô với chỉ đi, tui về liền đây!

Mợ Ba vừa đặt chưn vô nhà là kêu Sớm chở mình đi lên nhà bà chị liền.

Đang đói bụng, cơm dọn mà chưa được ăn nên Sớm bực bội.

Cậu ta vừa đạp ào ào cho cái máy nổ, vừa trách:

-Tại dì Hai đòi hỏi đủ thứ nên...

Mợ Ba nạt ngang:

-Mầy biết cái gì mà nói?

Sớm cự:

-Sao má biết tui hổng biết? Cả xóm người ta đồn rần rần kìa. Họ còn nói vái cho thằng Phục nó bỏ ngang cho nhà dì Hai biết mặt.

Mợ Ba than:

-Chắc tại tao hổng có tay làm mai nên cái vụ nầy coi bộ rắc rối quá chèng, quá đéc. Còn hơn vãi chài bị mắc gốc, hổng biết phải gỡ làm sao cho gọn!

Mợ cằn nhằn tiếp:

-Mới ăn có mức dừa mà cực trần thân. Nghĩ mà giận con mẹ Chín Nho hết biết! Tại bả cứ đeo năn nỉ hoài, hết khen bên nầy rồi khen bên kia, bởi vậy...

Tới nhà dì Hai, mợ không thèm đáp lời chào của mấy đứa cháu mà hỏi lại:

-Má tụi bây đâu rồi?

Vàng chỉ tay ra sau hè:

-Má con đi ra đồng rồi?

Mợ hỏi:

-Chạng vạng còn ra đó làm chi, bộ hổng sợ âm binh rủ rê sao? Sao hổng chờ tới tối rồi đi xuống sông?

Vàng cười:

-Cái chuyện nầy đâu có chờ được.

Thấy mợ đi xâm xâm ra đồng, Vàng hỏi:

-Bộ dì cũng mắc...

Mợ Ba gạt ngang:

-Tao ra kiếm chỉ

Mợ xăng xái quá nên Tím sinh nghi.

Cô hỏi Sớm:

-Có chuyện gì mà dì Út coi bộ gấp gáp quá vậy?

Sớm đáp, nhấn mạnh từng chữ:

-Má ông Phục té gần chết kìa. Bộ chị hổng biết gì sao?

Tím hớt hải:

-Làm sao mà té? Bộ nặng lắm hả?

Sớm hỏi lại:

-Hổng nặng mà nằm chết giấc à? Hồi sáng chính tui đi rước ông thầy Bảy chích chớ ai. Ổng cấp cứu tới ba, bốn tiếng đồng hồ. Có người rước mới chịu bỏ đi đó!

Tím năn nỉ:

-Chở chị tới nhà dì Sáu liền đi Sớm!

Sớm thấy Tím sợ quýnh, sợ quáng thì tội nghiệp nên đập tay lên cái yên xe, ra dấu mời Tím leo lên ngồi. Tím ngồi bỏ hai chưn qua một bên, không ôm eo Sớm mà nắm cái yên cứng ngắt.

Sớm quay lại nói:

-Kềm cho chắt nghe hông, đường dằn dữ lắm đó!

Thím Chín thấy Tím bước vô thì ngạc nhiên quá cỡ, thím hỏi:

-Má con đâu?

Thím cúi mặt đáp:

-Con nóng ruột nên đi trước, má con một lát tới sau.

Rồi bước lại giường định cầm tay dì Sáu. Thím Chín ngăn lại, nói:

-Để chị ngủ cho khỏe. Con muốn giúp thì ra nấu giùm ba hột cơm. Thằng Phục với con Nhạn, tụi nó đi mua tre chắc cũng sắp về tới rồi.

Tím "dạ" rồi đi liền ra sau bếp. Cái bếp của dì Sáu tuy nhỏ nhưng sạch và gọn gàng hổng chỗ chê. Tuy cũng nấu củi như mọi người nhưng mấy cái nồi được chùi sáng bóng, chỉ có cái chảo vòng là đen thui thôi.

Tím mở nắp hai cái nồi trên bếp lò nhìn vào, thấy một cái đựng cơm còn một cái chứa canh khoai ngọt.

Cô trở vô buồng hỏi thím Chín:

-Dì Sáu ăn cơm được hông thím Chín? Hay là để con nấu cháo...

Thím Chín gạt ngang:

-Thím có nấu cho chỉ một nồi cháo cá lóc chưa kịp bưng qua. Con cá hơi bự nên cái nồi cháo bành ky, ăn tới mai cũng chưa chắc hết! Con nấu cơm thôi!

Tím vét cơm nguội ra tô, mở nắp một trong mấy cái khạp da bò sắp một hàng sát vách, trúng phóc lu gạo. Cô tính nhẩm, ước lượng mỗi người chắc ăn chừng ba chén cơm, xấp xỉ một lon gạo, nên xúc hai lon sữa bò đầy vun, đậy nắp lu xong lại mở ra xúc thêm một phần tư lon nữa.

Nhìn cái kệ chứa đồ gia vị của nhà dì Sáu mà Tím nghe thương quá! Chỉ có muối và nước mắm là nhiều còn tiêu, đường, bột ngọt, dầu, mỡ... không thấy miếng nào. Chắc ăn tới đâu mới mua tới đó.

Thím Chín không ngồi trong buồng mà đi ra dòm coi Tím làm ăn ra sao. Thấy cô vo gạo rồi chắt nước ra thau chừa lại thì khen thầm trong bụng: "Con nhỏ nầy coi bộ biết tiết kiệm, hợp với chị Sáu à nghen!".

Tím nhóm lửa rồi bắc nồi cơm lên, quay lại thấy thím Chín nhìn mình, cô nói:

-Con gởi thím ngó giùm nồi cơm, con chạy ra tiệm tạp hóa một chút.

Thím Chín hỏi:

-Cái tiệm của cô Năm sát một bên, con biết chưa?

Tím đáp:

-Dạ biết!

Rồi đi ngay lập tức .

Thím Chín cũng đi ra cửa, đứng nhìn theo cho tới khi Tím rẻ trúng phóc mới yên tâm trở vô, kéo cái ghế thấp ngồi thấp chũm lại trước mặt ông táo rồi ngồi xuống.

Lát sau Tím về, xách theo lủ khủ nào là dầu ăn, đường, bột ngọt, hai cái trứng vịt, và một cái gói không biết bên trong đựng thứ gì vì bị tấm giấy nhựt trình bọc kín mít .

Thím Chín lại ưng bụng thêm một chút. Thím chắc lưỡi nhủ thầm:

-"Có con gái ý tứ, khôn khéo như vầy hèn gì chị Hai hổng kêu giá cao sao được? Phải con Nhu của mình được phân nửa nó cũng đỡ!"

Cơm sôi, Tím sang lửa qua cái bếp bên cạnh rồi bắc cái chảo lên. Mở gói giấy nhựt trình trút đậu phọng vô rang để làm cái món đậu phọng tẩm muối cho Nhạn, rồi đập luôn hai cái trứng vịt ra kho.

Ngồi trong buồng, ngửi mùi thức ăn bay vào, thím Chín trầm trồ:

-Con nhỏ nầy con bộ biết nấu ăn à nghen!

Khi Phục và Nhạn cặp xuồng vào bến. Mợ Tư Đờn, dì Hai Phích cùng bầy con đang tắm liền nhao nhao:

-Về rồi kìa! Về rồi kìa!

Dì Hai và Mợ Tư nói một lượt, tiếng người nầy chồng lên tiếng người kia:

-Tụi bây lên nhà lẹ đi! ...Chị Sáu té chết giấc từ trưa tới giờ.

Nhạn ngồi phía mũi xuồng, đang cầm sợi dây lòi tói tính quàng vô cây cột cầu, nghe nói vậy thì bỏ liền xuống, phóng cái ào lên bờ rồi chạy thục mạng.

Nhạn chạy ngang qua nhà cô Năm, cô Năm nãy giờ ở trong nhà mà hai con mắt cứ ngó chừng xuống bến, thấy Nhạn chạy vút qua thì gọi vói:

-Nhớ nhắc chị Sáu...

Không kịp dừng lại để nghe cổ biểu nhắc má mình chuyện gì, Nhạn "dạ" rồi cứ chạy thục mạng. Phục chạy ngay sau lưng cô nên hứng được nửa câu cuối:

-Uống sữa...

Chàng ta cũng "dạ" rồi cắm đầu đuổi theo Nhạn.

Trong bếp vắng tanh nhưng có tiếng lao xao phát ra từ buồng ngủ.

Nhạn xông vào buồng liền, cô thấy dì Hai Trắng đang đút cháo cho má mình. Dì Sáu không ngồi lên để ăn mà kê đầu lên hai cái gối, cổ lót cái khăn mù xoa...Bộ dạng giống như mấy đứa con nít mới tập ăn, bị bắt đeo cái xây để hứng cho bột không rơi vào áo vậy!

Nhạn ngỡ dì Sáu bị liệt nên khóc hu hu:

-Má ơi! Má có sao hông má!

Phục cũng chạy trờ tới, đứng chết trân mà không nói được tiếng nào. Dì Sáu thấy hai anh em họ mặt xanh lè không còn một hột máu, liền nuốt cái ọt cho miếng cháo chui xuống bụng rồi nói:

-Má hổng sao, rêm mình chút đỉnh thôi hà! Làm gì mà khóc dữ vậy?

Rồi dì rầy họ:

-Tụi con gặp dì Hai sao lấy con mắt ngó, hổng chào hỏi gì hết, coi mất lịch sự quá!

Dì Hai xua tay:

-Tụi nó thấy chị nằm mà ăn là sợ gần chết, còn hồn vía nào mà để ý tới tui? Tui hổng có trách đâu, chị đừng có lo.

Dì Sáu lại nói với Nhạn:

-Hồi nãy má nghe hai con heo nó la dữ quá! Chắc chị Tím con đang cho tụi nó ăn, con đi riết ra ngoài chuồng coi phụ chị con đi!

Nhạn nghe dì nói chuyện rành rẻ thì đỡ lo, còn muốn ở lại thêm chút nữa mà hổng dám. Cô riu ríu nghe lời, sắp cái lưng trở ngược mà bước ra .

Tím đang vịn cái máng để hai con heo không hất đổ, thấy Nhạn ra thì hỏi:

-Em về rồi đó hả?

Nhạn hỏi:

-Chị tới lúc má mới té hả?

Tím lắc đầu:

-Chị đâu có hay mà tới liền. Em với anh Phục sao đi lâu dữ vậy?

Nhạn đáp:

-Tại anh Hai ảnh nôn, muốn rồi trong ngày nên ở lại phụ ông thợ.

Tím hỏi:

-Xong chưa?

Nhạn gật đầu:

-Đáng lẽ phải chờ cả tuần lễ lận, nhưng ổng đưa cho mình mấy cái làm rồi, còn tre của mình thì chưa đụng tới.

Tím ngạc nhiên:

-Vậy tại sao mà trễ dữ vậy?

Nhạn đáp:

-Ổng ra điều kiện mình phải ở lại làm đổi công với ổng. Em với anh Hai ngồi vót một bó tre bự như vầy nè.

Nhạn vừa vòng hai cánh tay lại thành một vòng tròn để diễn tả cái độ lớn của bó tre, vừa nói tiếp:

-Hai anh em làm từ sáng tới giờ chưa có hột cơm nào trong bụng hết!

Tím ngạc nhiên:

-Bộ vợ con ông thầy hổng có nấu cơm rồi kêu ăn chung luôn sao?

Nhạn lắc đầu:

-Ổng ở có mình ên hà chị ơi. Thấy tội nghiệp lắm! Nước trà còn hổng có mà uống nữa. Buổi trưa ổng rủ tụi em đi theo ăn đám giỗ bên sông mà em với anh Hai hổng chịu. Ổng đi đám giỗ hết nửa ngày trời. Hai anh em vót hết bó tre ổng mới về tới. Thấy tụi em làm được việc quá ổng ưng bụng lắm! Đưa cho ba cái lộp mà hổng lấy một xu tiền công gì ráo.

Nuốt nước miếng một cái, cô nói tiếp:

-Ổng còn biểu tụi em lội xuống cái vũng sau nhà để bắt cua.

Tím ngạc nhiên:

-Chi vậy?

Nhạn cắt nghĩa:

-Ổng nói muốn cho con tôm chui vô lộp phải đập cua bỏ vô. Mấy con tôm nó khoái cua lắm, nghe cái mùi nầy thì ở đâu cũng tìm tới.

Tím nói:

-Để chị coi cho heo ăn, em vô dọn cơm đi. Hai anh em chắc đói dữ lắm rồi! Hổng khéo lại ngã ra xỉu cái rầm như má nữa đó!

Nhạn nghe Tím gọi mà mình bằng má thì mừng lắm ! Cô vốn thương Tím như chị ruột, cứ trông cho tới ngày được ở chung một nhà.

Vừa bỏ giò đi thì bị Tím kêu giựt ngược:

-Hay là em đi tắm trước đi. Hai con heo ăn gần xong rồi, để cơm đó chị dọn cho.

Nhạn ngoan ngoãn đáp:

-Dạ.

Nhạn xuống cái bến ngay trước nhà, bến nầy dành cho đàn bà và tụi con nít tắm, liếc qua thấy Phục đang tắm ở cái bến đầu trên là chỗ của đàn ông.

Cô nghĩ thầm:

-Chắc anh Hai muốn né mặt bà già vợ nên không ngồi lại với má mà bỏ đi tắm.

Nhạn lên nhà sau Phục một đổi. Cô đi ra cửa sau để vào nhà, thấy Tím đang lui cui dọn cơm, còn Phục thì lau bộ giạt ngoài sân. Họ sẽ ngồi ăn cơm ở đó để tận dụng cái ánh sáng vằng vặt của con trăng mười sáu.

Cô đi thẳng vô buồng. Dì Hai không còn ở đó, nhưng bù lại, thím Chín, mợ Hai Thọ và dì Sáu Lữ đang chuyện trò rôm rả. Nhạn lắng tai nghe, giọng thím Chín đang hết sức sôi nổi:

-Để tui, để tui làm cái món nem cho. Cái món nầy là phải lựa bưởi dữ lắm nghe! Hổng cần ruột, nhưng trái bưởi phải già với lại vỏ dày, nó mới dai như thịt.

Mợ Hai Thọ nói lấy lòng thím Chín:

-Chị Chín mà làm nem chay thì khỏi nói! Ăn y hệt như nem thịt, hổng khác chút nào!

Dì Sáu Lữ hỏi:

-Sao tự nhiên mà bà Hai Trắng, má con Tím dễ dữ thần vậy? Cho làm hai đám nhập một còn nói đãi chay cho đỡ tốn nữa?

Thím Chín hạ giọng nhắc dì Sáu:

-Chị nói nhỏ nhỏ, con Tím đang ở trong bếp đó! Nó mà nghe được hổng hay. Chắc chỉ thấy chị Sáu gặp hoạn nạn nên tội nghiệp, mới giảm giá hết mức đó!

Dì Sáu phản đối:

-Chớ hổng phải bả sợ thằng Phục phá ngang hổng cưới, hay sợ chị Sáu có bề gì là chờ cho tới cóc mọc râu, con Tím chưa xong thì mấy đứa kia cũng mắc kẹt.

Rồi dì lại chép miệng:

-Hồi nào tới giờ tui chưa thấy có ai làm đám cưới ngay rằm, còn rằm lớn mới ác!

Thím Chín lại lên tiếng bênh vực:

-Thì ngày rằm là tốt nhứt hạng! Ngày của Phật mà làm cái gì hổng được!

Mợ Hai Thọ nói:

-Còn chừng một tháng hà, liệu có kịp hông?

Thím Chín gật đầu:

-Kịp, chắc chắn kịp, chén bát, bàn ghế có sẵn. Hô lên một tiếng là tụi nhỏ nó đi mượn, đi khiêng đem về cấp kỳ. Đâu có đãi mặn mà chờ heo lớn!

Thím chép miệng, nói tiếp:

-Uổng công chỉ nuôi hai con heo...

Mợ Hai chụp liền:

-Dẹp hai con heo luôn đi cho bớt công, bớt chuyện! Hay là để tui mua lại, đem về thả chung vô bầy heo của tui cho chỉ khỏi phải đi đốn chuối, xắt chuối, quyết chuối...

Dì Sáu nằm im ru. Đáng lẽ dì phải đóng vai chánh trong cái vụ nầy, vậy mà bị bỏ qua một cách oan ức. Không biết là tại giận hay tủi thân mà dì rưng rưng nước mắt.

Mấy lúc sau này mâm cơm của bà con thiếu bớt chất đạm. Con sông bị bạc đãi quá nên đâm giận. Nó không còn cung cấp thừa mứa sản vật như xưa nữa. Phương pháp dùng chất nổ, chích điện để đánh bắt khiến khiến binh tôm, tướng cá của hà bá, bà thủy chết hàng loạt.

Thời thế tạo anh hùng! Có một "thứ" ngày càng lên ngôi trong bếp bà con.

Nó được lòng hết thảy mọi người trong xóm, được họ tôn thờ vì tăng thêm vị thịt cho các món ăn. Nó là những hạt màu trắng trong suốt, nhỏ xíu, chỉ to gấp hai lần hột đường cát nhuyễn. Chúng không có mùi, khi cho vào miệng thì nghe lạnh lạnh, tanh tanh, vậy mà có sức hấp dẫn diệu kỳ, chẳng ai có thể cưỡng lại. Bà con miền tây có lẽ khoái và trân trọng mấy món ngọt ghê lắm nên gọi chúng là "bột ngọt".

Để khẳng định điều đó, xin dẫn chứng một trường hợp:

Từ ngày nghe tin Thụ có vợ con và gia đình cậu mợ Hai Thọ lấy đó làm điều hãnh diện, mang hình đi khoe khắp xóm thì thím Chín hết sức là bất mãn.

Thím mạnh dạn gửi trả lại hai chai dầu xanh, nói là nhà mình ai cũng kỵ cái mùi nầy. Kể ra đó là một hành động hết sức can trường vì lúc đó chai dầu có cái nước màu xanh, mang cái nhãn màu vàng có hình con ó xòe rộng hai cái cánh, đang là "niềm mơ ước của người".

Mợ Hai luôn mang mặc cảm có tội với gia đình chú Chín nói chung, thím Chín nói riêng, nên quyết tâm chuộc lỗi. Mợ không muốn cắt đứt sợi dây thiêng liêng nối liền mợ với bé Nhân, thằng nhỏ mà mợ cho là máu mủ của mình nên tìm mọi cách lấy lòng thím Chín.

Trước ngày cưới của Phục đâu một tuần lễ, mợ mang tặng dì Sáu Dọ một bịt bột ngọt to gần nửa ký.

Món quà đó quá lớn lao, quá cần thiết, quá bất ngờ khiến dì Sáu chới với. Dì không dám nhận vì biết chẳng có lý do gì để mợ Hai ưu ái mình tới mức đó, ngoài việc dùng nó để vuốt giận thím Chín. Dù cương quyết không để bị mua chuộc, nhưng mợ Hai năn nỉ ỉ ôi quá tha thiết khiến dì Sáu phải xiêu lòng.

Để không mang tiếng là "bán đứng" bạn bè. Dì Sáu đem chuyện đó ra nói với thím Chín:

-Khi khổng, khi không mà chị Hai Thọ đem cho tui một bịch bột ngọt bự bành ky, trả hoài mà bả nhứt định không chịu cầm. Tui phải làm sao bây giờ hả chị Chín?

Thím Chín nghe mát ruột lắm! Cho dù chính mình được tặng cũng chẳng đủ can đảm mà từ chối, nói gì đến chuyện xúi dì Sáu trả lại.

Dù biết cái người mà mợ Hai Thọ muốn nhắm tới là mình, thím vẫn làm bộ nói:

-Chắc bả thương chị đó! Hổng chừng thấy con Nhạn xinh đẹp, giỏi giang lại có hiếu nên ngấp nghé nó cho thằng cháu ngoại của bả lắm!

Chẳng là người con gái lớn của mợ Hai Thọ, có đứa con trai đầu lòng sắp xỉ tuổi Nhạn.

Rồi thím chép miệng:

-Nhà họ giàu mà, một gói bột ngọt có thấm tháp gì? Chị nhận cho bả vui đi.

Biết tỏng rồi mà Thím vẫn chơi theo kiểu "bá đạo", tỉnh bơ xài mà không thèm hỏi đến xuất xứ của nó, không tỏ ra một chút quan tâm nào.

Thím còn dặn dì Sáu:

-Chị cứ việc xài, có điều trước mặt tui với bả, chị đừng có nhắc tới cái tiếng bột ngọt, bột mặn gì hết nghe hông?

Dì Sáu liền gật đầu, tuân theo rụp rụp.

Nhờ có nguồn "tài nguyên" chan chứa đó mà mấy món thịt heo quay chay, thịt nướng chay, chả giò chay, vịt tiềm chay, gỏi chay, nem chay... của thím trong bữa tiệc cưới của Phục và Tím, tràn trề vị thịt khiến bà con ngon miệng, hài lòng quá xá! Họ ca ngợi hết lời khiến cái mũi của thím Chín nở to bằng trái cà gió.

Thế nhưng cái món để đời trong bữa tiệc đó, lại không dính líu chút gì tới bột ngọt. Đó chính là cái nồi kiểm "vô tiền, khoáng hậu " của thím Chín!

Sở dĩ nồi kiểm ấy được ca tụng là "thiên hạ đệ nhứt kiểm" như vậy là có lý do: Chú Chín ghét ăn chay nhứt hạng. Chỉ có một điều an ủi ổng trong những ngày đau khổ đó là cái món kiểm, mà phải do thím nấu. Thím Chín có óc cầu tiến lại thương chồng nên mỗi ngày mỗi ráng nâng cao tay nghề. Thím thành công cho đến nỗi những ngày mười bốn, mười lăm, hăm chín, ba mươi, mùng một... âm lịch, bỗng được chú mong đợi hết lòng!

Hôm nấu đám, vì thiên vị chồng nên thím Chín tập trung hết nội lực để đánh vào món kiểm. Nồi kiểm của thím còn nguyên trong bếp mà mùi thơm đã bay ngào ngạt khiến bà con nức lòng. Tô kiểm to được đặt ngay tâm của cái bàn tròn, chỉ cần nhìn thôi đã thấy đáng đồng tiền, bát gạo rồi. Nó giúp thực khách khoan khoái chẳng khác gì đang ngắm một cánh đồng hoa thu nhỏ đủ màu sắc, có điều không mọc trên nền đất nâu hay cỏ xanh mà trên nền tuyết trắng tinh, màu của nước cốt dừa.

Trên cái nền béo bở, màu mỡ ấy mít và khoai lang bí là những đóa hoa cúc dại mọc rải rác, những trái táo tàu mang màu đỏ của những cánh hoa hồng, cà tím là bông rau muống, nấm mèo là màu của một loại hoa họ đậu... Những hạt đậu phọng được bóc vỏ là những cô ong, chú bướm non vừa nở, còn chưa có áo màu để mặc. Những lát mướp, sợi tàu hủ ky và bột khoai là vô số cành lá điểm xuyết, giúp vừa ngon thêm mắt vừa ngon thêm miệng.

Chưa hết, một chén tương xào xả ớt khiêm nhường đứng cạnh. Nó bổ xung những màu sắc, mùi vị mà tô kiểm còn thiếu, cả hai phối hợp hết sức ăn ý, cùng giúp nhau nâng cao giá trị, nhờ vậy mà thành quả của thím Chín bỗng vọt lên cao chót vót.

Trước đám cưới mươi bữa, thím Chín lo cái gì hổng biết mà gương mặt cứ rầu rầu.

Chú Chín hỏi vợ:

-Bà nhắm có làm nổi hông, hay là kêu con Nhu nó nghĩ dạy một bữa mà thay bà.

Thím Chín lắc đầu:

-Chỉ đãi ít xịt, chưa tới mười bàn thì nhầm nhò gì. Tui lo chuyện khác kìa.

Chú Chín hỏi:

-Bà lo chuyện gì? Đâu nói ra nghe thử biết đâu tui tính giùm được.

Thím Chín chép miệng:

-Nghe thầy Bảy nói cái bịnh của chỉ muốn té lúc nào là té, tui sợ quá! Đâu ông hỏi thẩy coi có thuốc gì thiệt hay, thiệt tốt cho chị xài, cho nó lặn mất tiêu đặng tui yên cái bụng coi!

Chú Chín bèn đón đầu khi thầy Bảy vừa thắng xe cái "ét" trước nhà dì Sáu. Lúc sau nầy mỗi ngày ổng đều ghé thăm bịnh cho dì Sáu, mỗi lần cà rà cả mấy tiếng đồng hồ.

Chú Chín hỏi:

-Anh có hưỡn hông, vô ngồi uống hớp nước với tui nghen?

Biết chú Chín mời mình vô nhà là có chuyện nói. Thầy Bảy xách cặp đi theo liền.

Không chờ thẩy bưng ly trà mình vừa rót mời lên uống, chú Chín hỏi liền:

-Anh nhắm chị Sáu có đi rước dâu rồi đứng tiếp bà con nổi hông. Má con Nhu biểu tui hỏi ông coi có cái ống thuốc nào thiệt tốt, chích cho chị Sáu một mũi đặng chỉ có đủ sức mà đi sân sẩn. Bả sợ hổng khéo bữa đó chỉ ngã một cái rầm là ngặt dữ lắm à nghen!

Thầy Bảy cười tủm tỉm, con mắt giựt giựt mấy cái rồi nói:

-Anh nói chỉ đừng có lo, hổm rày ngày nào tui cũng vô thuốc cho cổ đều đều. Bây giờ cổ chỉ còn hơi chóng mặt khi đứng lên hay ngồi xuống bất thần thôi hà!

Chú Chín cũng cười phụ họa:

-Tui cũng biết tay nghề anh cao lắm! Ba cái bịnh nầy nhầm nhò gì, nhưng mà cũng phải hỏi cho bả vừa bụng. Chuyện nầy làm bả hổm rày ăn ngủ hổng yên.

Rồi chú hỏi tiếp:

-Bữa đó anh có đi rước dâu hông?

Thầy Bảy gật đầu:

-Có chớ sao không? Hổng có tui rủi cổ xỉu bất tử thì làm sao?

Chú Chín vỗ vai thầy Bảy:

-Bà nhà tui mà biết chắc là bả mừng lắm! Mang ơn anh dữ lắm à nghen!

Thầy Bảy cười:

-Còn tui thì mang ơn cây chuối của chỉ .

Chú Chín hiểu ra cái ý của thầy Bảy nên cứ vỗ tay bồm bộp lên lưng ổng mà cười hềnh hệch.

Thầy Bảy vừa bước vào nhà là bị dì Sáu hỏi liền:

-Anh Chín kêu lại hỏi chuyện gì vậy?

Giong dì đượm vẻ lo lắng nên thầy vội trấn an:

-Ba cái chuyện đau nhức lặt vặt của ổng đó mà!

Nhìn cái rỗ đựng đồ may với vô số những mảnh vải vụn đủ màu hình lục giác thầy hỏi:

-Sáu kết mấy miếng vải nhỏ nầy để chi vậy?

Dì Sáu nói:

-Ráp lại làm cái mền để đắp, ở không hoài nghe còn muốn bịnh thêm.

Thầy Bảy hỏi:

-Bữa nay còn chóng mặt hông?

Dì trả lời:

-Dứt tiệt rồi, chắc ngày mai khỏi chích được rồi đó!

Thầy Bảy vẫn mở túi đồ nghề lấy cái ống chích ra, ổng lắc đầu:

-Ba cái thuốc nầy bổ gân cốt, thần kinh, máu huyết... Chích càng nhiều càng tốt chớ đâu có sao!

Dì Sáu hỏi, giọng e dè:

-Chắc nó mắc lắm hả? Một ống tới cả chục đồng lận, đúng hông?

Thầy Bảy cười:

-Thuốc bổ rẻ rề hà, có phải trụ sinh đâu mà mắc?

Rồi thầy biểu dì:

-Đâu bữa nay tự nằm xuống một mình coi có xây xẩm nữa hông!

Dì Sáu từ từ nghiêng người, đặt cái vai lên tấm giạt một cách thận trọng, như thể nó đúc bằng loại thủy tinh mỏng lét như cái ống khói đèn vậy.

Thầy Bảy hỏi:

-Thấy sao?

Dì lắc đầu:

-Hổng sao hết!

Thầy rút cây kim ra, chậm miếng bông gòn thấm ancool vô vết chích, rồi biểu:

-Ấn mạnh miếng gòn cho máu hết chảy rồi hãy lấy ra nghen!

Dì Sáu nghe theo, mấy ngón tay dì chạm vào tay thầy Bảy, ổng cảm nhận được cái e ấp, ngượng ngập từ những ngón tay run nhè nhẹ đó! Thế là không kìm nén được. Vẫn còn cầm cái ống chích trên tay, ổng cúi xuống, đặt mũi lên gò má của dì rồi hít sâu một hơi. Làn da mặt của dì Sáu vốn rất mịn, rất trắng, bỗng đỏ ửng lên rồi mấy con ốc nhỏ li ti bằng đầu mũi kim gút bỗng bò lổm ngổm.

Cái phản ứng tinh khiết như một cô trinh nữ của dì Sáu, khiến thầy Bảy nghe rạo rực cả người. Thầy vứt đại cái ống chích vô túi, nghiêng người nằm ghé bên cạnh, ôm dì Sáu trong tay rồi ghì mạnh. Dì Sáu nằm chết trân, một bàn tay của dì vẫn còn ấn vào miếng bông gòn, bàn tay kia bất động như thể đã bị ai rút hết gân ra.

Con đê kiên cố trong lòng dì Sáu đang bị một cơn lũ cảm xúc dâng tràn, phá vỡ. Những đường biên tuổi tác, đức hạnh... trên ấy bị xóa mất tiêu, mất biệt.

Cái xúc chạm êm ái, dịu dàng ấy lại tạo ra một lực đẩy vô song, nâng họ lên khỏi mặt đất, đem đến một cảm giác thăng hoa làm cả hai cùng ngây ngất.

Chờ tiếng xe Hon đa của thầy Bảy xa dần thím Chín mới lệt bệt đi qua.

Dì Sáu nghe tiếng chân, biết ngay là thím Chín tới. Dì liền lật đật cầm cây lược lên liền để chải cái mái tóc đang rối cho thẳng rồi bới lại. Dì không dám mở miệng chào mà nhìn đăm đăm xuống đất, như thể cố tìm kiếm cây kim nhỏ xíu bị mình làm rơi trên đó!

Cử chỉ ấy làm sao qua mắt được một người rất ư tinh tế như thím Chín.

Để dì bớt thẹn, thím vội nói:

-Tui mới đi sau hè tỉa bớt đám cải bẹ xanh non, chưa kịp vô nhà là ghé qua đây luôn, đem qua cho chị một rỗ đầy nhóc ké kìa! Chiều nay chị nấu canh ăn liền cho ngọt.

Dì Sáu nói:

-Nấu canh uổng lắm, cải nầy ăn sống mới ngon.

Giọng dì nghe khá bình tĩnh.

Dì vừa nhìn thím Chín một cách dò xét vừa nói:

-Để tui kho lạt hết cái mớ núm rồi nướng trái me giầm vô. Cải con cay cay, chấm với nước kho chua chua, ngọt ngọt, mặn mặn ăn bắt cơm lắm!

Thím Chín hỏi:

-Sao mà ngày nào cũng ăn núm hết vậy? Hổng nấu canh thì xào, hổng xào thì kho tiêu, kho tương, kho mặn, kho lạt... Bộ ăn núm hoài hổng ngán sao? Ba cái núm rơm nầy là nhức mình đại hạng. Cực chẳng đã con Nhạn nó ăn chay thì để nó ăn mình ên thôi! Mắc gì chị với thằng Phục cũng ăn theo. Thằng Phục chắc cũng ngán ngược rồi đó, tại nó thương chị nên hổng dám có ý kiến, ý cò.

Dì Sáu chống chế:

-Có ăn cá, ăn thịt nữa chớ, tại chị hổng thấy.

Thím Chín hỏi thêm:

-Mấy cái lộp của thằng Phục đặt dưới bến sông, bộ tôm chui vô nhiều lắm hay sao mà ngày nào cũng đem qua cho bên nhà tui hết vậy?

Thím chắt lưỡi:

-Ba con Nhu ổng rầy dữ lắm. Ổng nói chị nhịn miệng đem cho, tụi tui ăn như vậy là mang tội đó!

Dì Sáu chống chế:

-Tui cho thằng Nhân để nó ăn cho mau lớn, chớ đâu phải cho người lớn mà sợ mang tội.

Thím Chín cự:

-Hai con tôm bự chảng nó ăn đâu có hết, tui với ổng phải xúm lại ăn giùm. Chị nói với thằng Phục là bên nhà tui ngán ngược rồi đó nghen! Để bên nầy ăn đi. Ăn hổng hết thì sai con Nhạn đem bán lấy tiền mua cá, thịt ăn đổi bữa. Lần nào tui qua cũng thấy ăn núm không hà?

Rồi thím nói:

-Đừng có ỷ y vô mấy cái ống thuốc bổ. Ông thầy Bảy có dặn là chị phải ăn hầm bà lằng thứ vô. Chị đừng có tiếc công, tiếc của. Rãnh thì lo nghĩ tới mấy thứ đồ ăn thức uống, đặng nó khiến cho thèm. Chịu khó làm mấy món thiệt ngon, thịêt bổ, thiệt lạ miệng đặng ăn cho được nhiều!

Thím hỏi thêm:

-Hổm rày còn uống sữa hông?

Dì Sáu gật đầu:

-Con Nhạn nó cứ bắt tui xài gối đầu hoài. Lon nầy chưa hết là đem về lon khác. Nó nói của con Tím gởi cho, tui rầy quá chừng biểu đừng có lấy mà nó nói là hổng lấy coi hổng được.

Thím Chín gật đầu:

-Nó nói như vậy là biết chuyện đó. Con Tím bây giờ là dâu trong nhà rồi, chị từ chối nó tủi tội nghiệp.

Rồi thím hỏi nhỏ:

-Mấy hôm con Tím săn sóc chị, thằng Phục có để ý rồi nói cái gì hông?

Dì Sáu cười:

-Bữa nay tui mới nói thiệt với chị nghe! Trước giờ nó đâu có thương con Tím. Nó chê con nhỏ...

Thím Chín ngắt lời, giọng đầy bất mãn:

-Con người ta lịch sự như vậy mà chê cái chỗ nào?

Dì Sáu lắc đầu:

-Nó đâu có chê xấu, mà nói là con Tím khi người. Cho tới cái hôm nó thấy con Tím bưng cái bô của tui đem đi đổ nó mới chịu thương đó!

Rồi dì kề tai thím Chín, nói thầm thì như thể có ai đang đứng sát một bên đang rình nghe:

-Hôm bữa con Tím ở đây tới khuya, Thằng Phục phải qua nhà chị mượn chiếc xe đưa về đó, chị có nhớ hông? Tui để ý thấy tụi nó đi tới mấy tiếng đồng hồ lận. Từ hôm đó cái mặt của nó mới hết quạu đeo, hở hở còn "hút" sáo. Rồi còn hỏi tui coi chừng nào cưới nữa.

Thím Chín nhảy nhổm:

-Thiệt vậy sao? Vậy là cá cắn câu rồi!

Rồi thím chụp lấy bàn tay của dì Sáu, vừa lắc mạnh vừa cười. Cười xong, thím đưa một bàn tay ra trước mặt, bấm bấm mấy cái đốt trên đó.

Thím nói:

-Còn đúng bon một chục ngày là tới đám cưới! Hồi nãy tui có biểu ba con Nhu hỏi giùm thầy Bảy coi chị có đủ sức mà đứng đãi bà con hông. Ổng nói thầy Bảy gật đầu coi bộ chắc ăn lắm!

Đúng là có tịch thì rục rịch, thím Chín chỉ nói có vậy mà dì Sáu cũng đỏ bừng cái mặt.

Thím Chín nhìn dì mà nói:

-Cỡ nầy thấy chị nhuận sắc rồi đó. Có điều mập lên chút nữa thì tốt, mặc cái áo dài của tui mới vừa, khỏi cần nhờ con Tím nó bóp cái eo vô.

Dì Sáu phản đối:

-Mặc rộng rãi cho dễ xoay trở. Hôm trước tui thấy vừa y hà!

Thím Chín lắc đầu:

-Vừa sao được mà vừa? Chị ốm hơn tui nhiều. Hôm bữa chị mặc tui thấy rồi, nó thùng thình hà! Cái áo một nơi, người một nẻo. Mặc áo dài phải hơi ôm ôm nó mới đẹp.

Dì Sáu không có cơ hội để mặc cái áo dài đó của thím Chín. Ngay hôm sau thầy Bảy đã mang tặng dì một xấp gấm màu vỏ măng cục, có những bông cúc nhỏ xíu màu vàng nằm rải rác.

Dì Sáu ưng bụng lắm, biểu Nhạn may liền để mình mặc mà ngồi sui. Nhạn đem hết khả năng cùng sự trợ giúp của Tím may cho dì một cái áo dài. Dì mặc thử thấy vừa y nên hết sức hài lòng.

Nhạn cầm cái mặt kiếng có hình dạng và kích thước bằng cái mặt trăng, rọi cho dì thấy phía sau lưng. Dì Sáu đang nghiêng qua, nghiêng lại nhìn ảnh mình in trên tấm gương lớn hình chữ nhựt, gắn thay cánh cửa của cái tủ mẹ bồng con đựng quần áo, thì thím Chín bước vào.

Thím nhìn dì Sáu trân trối, rồi hỏi:

-Ở đâu mà chị có được cái áo dài đẹp dữ thần án địa vậy chị Sáu?

Dì Sáu bẽn lẽn:

-Con Nhạn nó may cho tui!

Thím Chín hỏi Nhạn:

-Gấm nầy mắc tiền lắm, bây giờ ít thấy ai bán. Con mua ở đâu vậy?

Nhạn đáp tỉnh rụi:

-Con đâu có mua, má con có sẵn.

Dì Sáu nhìn thím Chín, nháy mắt một cái. Thím biết ý nên không hỏi nữa mà quay lưng bỏ về liền. Cái tật của thím là hể biết cái gì hay hay, lạ lạ là đi kiếm chồng để khoe trước tiên.

Chú Chín thấy vợ vừa đi qua nhà dì Sáu bỗng quay về liền thì ngạc nhiên lắm. Thường khi thím qua bển là ngồi cà rà đến mấy tiếng đồng hồ mới chịu đứng lên, nên hỏi:

-Bộ quên món gì hay sao mà lật đật quay về vậy?

Thím Chín cười tươi rói, báo tin:

-Họ xáp lá cà rồi ông ơi!

Chú Chín hơi ngờ ngợ nhưng hỏi lại cho chắc ăn:

-Họ là ai, mà xáp lá cà là sao?

Thím đáp:

-Thì ông thầy Bảy với chị Sáu đó!

Chú Chín hỏi:

-Sao bà biết, bộ chỉ kể hả?

Thím Chín lắc đầu:

-Bả mắc cỡ lắm! Dễ dầu gì tui không hỏi mà đem kể khơi khơi. Ví dầu tui có hỏi đi nữa, chưa chắc chỉ chịu khai thiệt đâu mà làm cho mắc công.

Chú Chín thắc mắc:

-Như vậy thì làm sao bà biết mà dám nói?

Thím Chín chắt lưỡi (cái tật của thím là hể gặp cái gì kích thích cảm xúc của mình, bất kể loại cảm xúc nào, cũng diễn tả bằng cách chắt lưỡi. Cái chắt lưỡi ấy có công dụng như cái dấu chấm than trong câu văn viết vậy), bồi thêm mấy cái lắc đầu rồi mới giải thích:

-Tui qua bất thình lình, thấy chỉ đang mặc thử cái áo dài con Nhạn mới may cho. Cái áo quá sức đẹp! Bằng gấm hai da đàng hoàng nghe ông. Cái thứ gấm đó là mắc tiền nhứt hạng! Tui tưởng tụi con Tím, con Nhạn, thằng Phục hùn tiền lại để mua cho chỉ, ai dè con Nhạn nói không có phải. Tui đoán là ông thầy Bảy mua tặng chớ hổng ai vô đây.

Chú Chín cười:

-Tưởng chuyện gì chớ cái đó thì tui biết trước bà. Xấp vải đó là của vợ ổng, bả mua đặng mặc đi cưới đứa dâu đầu. Tội nghiệp! Chỉ chưa kịp may là bị chìm tàu chết nên bỏ lại.

Thím Chín chù ụ cái mặt xuống mà hỏi:

-Vậy sao ông hổng kể cho tui nghe?

Chú Chín không dám trả lời là mình ngại vợ nói cho dì Sáu nghe rồi dỉ sợ có huông mà không dám nhận, nên buông một tiếng duy nhứt :

-Quên!

Nghe chú đáp cụt ngủn, thím Chín bỗng cảm thấy giận cành hông. Nhìn hai chưn mày châu lại thiếu điều cụng vào nhau, biết thím tức nên chú bỏ nhỏ:

-Tui tính nói với bà liền cái rồi thằng Nhân nó đòi chở đi chơi. Tui chở nó đi mấy vòng tới chừng về nhà là quên phức luôn. Bây giờ bà nói mới nhớ.

Thấy thím chưa nguôi, chú đành phải tiết lộ cái bí mật đang ấp ủ để chuộc tội. Chú biết không có thứ gì khiến thím khoái bằng việc biết những chuyện mà không, hoặc chưa ai biết.

Để nhấn mạnh tầm quan trọng của nó, chú kề tai thím nói nhỏ:

-Thầy Bảy ổng mê chị Sáu dữ lắm bà ơi! Ổng biểu tui chỉ giùm cách để rinh chỉ về nhà liền tay. Coi bộ ổng nóng thiếu điều cháy máy rồi đó.

Hai chưn mày của thím Chín đến lúc nầy mới chịu trở lại vị trí bình thường.

Thím hỏi:

-Thiệt vậy hả ông?

Chú Chín gật đầu tới ba lần để xác nhận.

Chú bổ xung thêm:

-Ảnh thấy bà với chị Sáu thương nhau như hai chị em ruột, nên nhờ tui đóng vai tay trong, dọ ý bà để lần ra ý chỉ. Ổng còn xúi tui kêu bà hỏi coi chỉ thích thứ gì. Tui nghe bà nói, chị Sáu không dám may cho mình cái áo dài mà mặc để đi rước dâu, nên mới biểu ổng mua tặng. Rồi ổng hỏi lại trong tủ nhà ổng còn một xấp vải, vợ ổng mua sẵn chưa kịp may, đem tặng lại cho chị Sáu có được hông? Tui nói được, miễn đừng cho chỉ biết!

Rồi chú dặn thím:

- Chuyện nầy tui nói cho bà nghe cho vui thôi, đừng có kể cho ai nghe hết đó! Rủi thấu tai chỉ rồi hư bột, hư đường hết ráo à nghen!

Thím Chín chẳng những không thèm hứa mà còn trách:

-Bộ ông tưởng tui là con nít lên ba hay sao mà mắc công căn dặn.

Rồi thím hỏi một cách háo hức:

-Ổng có kể chuyện gì nữa hông? Họ có ăn nằm với nhau chưa?

Chú Chín nạt:

-Cái bà nầy... Chuyện đó ai mà nói. Có điều ổng nôn cưới chị Sáu lắm! Ổng nói chỉ nhìn giống vợ ổng quá, mặt mày, tánh tình y khuôn. Ổng đã năn nỉ cưới chỉ muốn ráo nước miếng. Nói xa, nói gần mấy lần rồi mà chỉ dứt khoát từ chối.

Thím Chín ngạc nhiên:

-Hổng lẽ chỉ ghét ổng?

Chú Chín lắc đầu:

-Ảnh nói chỉ có thương, nhưng ngại con cái với chòm xóm cười.

Thím Chín lắc đầu:

-Cái tánh của chỉ tui biết. Đợi cho chỉ nói tiếng ừ thì còn khuya lắm! Cái chuyện nầy mình phải ép chỉ vô cái thế không còn giựt lùi nữa mới được!

Chú Chín cầu cứu:

-Bà có cách gì thì bày ra cho hết đi. Kỳ nầy tui dám chắc mình ăn trọn con heo đúng tạ chớ hổng phải cái đầu heo ba trật, bốn vuột nữa đâu!

Thím Chín biết chồng nói giỡn nên cười rồi nói theo:

-Cách thì tui có rồi đó. Nhưng ông nói với ảnh là làm cho tui cái tờ cam đoan đi rồi tui mới chỉ cho.

Hai con mắt chú Chín sáng rở, chú hỏi:

-Lẹ dữ vậy sao? Đâu bà nói cho tui nghe thử coi!

Thím Chín lại chắt lưỡi:

-Chẳng giấu gì ông! Cái hôm mà ông kêu anh Bảy qua nói chuyện đó, tui để ý thấy ổng ở lại lâu hơn ngày thường. Lúc ổng ra về tui để ý thấy mặt mày y ta phơi phới nên sanh nghi. Tui chờ ổng đi mút rồi mới qua dò ý chỉ. Chỉ thấy tui thì lấm lét như chó ăn vụng bột, tui đoán là họ mới hành sự.

Thím dừng lại, thở dài rồi nói tiếp:

-Tui lo rủi chỉ dính bầu rồi sợ hai đứa con xấu hổ với bà con. Hổng chừng dám làm chuyện dại dột, đi phá thai lậu cái chết oan như con Ba Mật, nên rầu ghê lắm! Cứ nghĩ đủ thứ cách.

Chú Chín cười, an ủi vợ:

-Chỉ cũng gần năm mươi rồi, khó có con lắm... bà ...ơi!

Chắc chú nhớ tới trường hợp của mình, nên đang nói ngon trớn bỗng ngắc ngứ ngang xương.

Thím Chín chỉ vô bụng mình rồi hỏi:

-Vậy cái vụ nầy thì sao ? Bả còn nhỏ hơn tui tới bốn tuổi đó!

Thím nói thêm:

-Tại cái lúc bả mới chạy giặc ở trên Miên về, người teo quéo như trái hủ qua đèo coi già ngắt. Làm tui tưởng đâu lớn tuổi hơn mình nhiều lắm nên mới kêu bằng chị đó chớ! Bây giờ biết thì quá trễ, hổng sửa lại được.

Thím chắt lưỡi thêm một cái nữa rồi nói :

-Ai mà ngờ qua cơn bỉ cực cái chỉ mát da, mát thịt rồi ngộ đến bực nầy. Làm cho ông thầy Bảy mê gần chết. Tui sợ hôm đó ổng trút hết lực lượng, vứt một cú là bả dính liền, y như ông vậy.

Chú Chín cười, nói gỡ quê:

-Đâu phải ai cũng giỏi như tui đâu bà!

Thím Chín trề môi:

-Chưa chắc! Cái kiểu giá vợ lâu như ổng là ghê lắm đó ! Dám đêm bảy ngày ba vô ra hổng kể à nghen! Cỡ như ông thì nhầm nhò gì!

Chú Chín nói:

-Tại bà đâu có chịu để cho tui xài hết ga đâu! Mỗi lần xáp tới là la bài hải.

Thím nói:

-Mình già rồi! Ba cái chuyện đó là để dành cho tụi nhỏ... Bây giờ lo tu lần lần thôi ông ơi!

Chú Chín cự:

-Nói như bà vậy là không có đúng. Mình càng già thì càng ít cái sự vui đi. Cái cây sắp khô rồi phải tưới rút rút cho nó tươi, nó tốt được chút nào hay chút đó chớ! Đừng có bít chịt khiến họ tức nước vỡ bờ, đi ra ngoài chơi bời lung tung bị mang tiếng già dịch oan mạng.

Rồi chú phàn nàn:

-Tui thấy bây giờ mấy bà cỡ ngoài bốn mươi là xúm nhau hất hủi chồng, mê ông Phật hết ráo! Báo hại tụi tui không dám giành giựt, sợ mang tội. Mà có giành cũng đâu có nổi.

Chú vừa nói vừa làm mặt khổ khiến thím Chín cười nghiêng, cười ngã.

Nhu đang ngồi thêu ở cánh cửa hông tuốt nhà sau, nghe thím Chín cười như bị cù lét đâm ra tò mò. Cô không kịp bỏ cái bằng căng trên tay xuống, đi te te ra mà hỏi:

-Có chuyện gì vui mà má cười dữ vậy?

Thím Chín không trả lời mà hỏi lại:

-Con thêu áo gối cho con Tím rồi chưa? Có kịp hông đó?

Nhu đáp:

-Con thêu mấy cái bông rồi, bây giờ đang thêu tới lá. Độ chừng mai, cùng lắm ngày mốt là xong.

Thím Chín biểu:

-Đâu đưa má coi!

Cô cẩn thận gài cây kim lên mặt vải rồi đưa cái bằng căng cho thím Chín.

Thím Chín cầm lên xem rồi chắt lưỡi:

-Đẹp quá! Cái mẫu bông nầy in là giống hệt cái của con Lài phải hông? Có điều cái màu hơi khác một chút. Màu đỏ của con Tím ngó bộ tươi hơn.

Nhu gật đầu:

-Đúng đó má! Con Tím nó thích bông hồng có màu đỏ cam, nên con ráng lựa cho được tép chỉ màu nầy để thêu cho nó. Con nhỏ đó nó khoái màu sắc rực rở lắm!

Những cô gái ở nông thôn, ngoài việc giỏi giang việc đồng, còn phải biết thêu thùa, may vá, nấu ăn, làm bánh... Những món tiểu xảo ấy tôn giá trị của họ lên rất nhiều. Giúp họ dễ lọt vô cặp mắt của những bà má chồng nổi tiếng khó tánh, đặt tiêu chuẩn cho cô dâu tương lai cao chót vót.

Thím Chín nhắc:

-Sao hổng thấy con tách mấy trái gòn khô ra để lấy gòn mà dồn gối.

Nhu đáp một cách hãnh diện:

-Anh Nghệ nói ba cái bông gòn hay theo đường thở chui vô hai lỗ mũi rồi chui vô họng. Ảnh biết con dở chịu nhột, sợ bị nó bắt ho hoài, hổng tốt cho cái thai. Bên nhà ảnh gòn nhiều lắm! Ảnh biểu để ảnh làm cho, rồi giành bốn cái bao gối đem về bển luôn.

Thím Chín hỏi:

-Sao tới bốn cái bao gối lận?

Nhu giải thích:

-Hai cái gối nằm, hai cái gối ôm.

Thím Chín chắt lưỡi:

-Bày đặt! Hai cái gối nằm là được rồi. Tụi nó mới cưới đâu có cần gối ôm. Cái giường của chị Sáu nhỏ xíu hà, để hai cái gối ôm rồi chỗ đâu mà nằm. Hổng khéo lăn qua, lăn lại rồi có đứa rớt xuống đất.

Nhu cười thích thú :

-Anh Nghệ cũng nói y chang như má! Tại con Tím nó đòi nên con phải làm, chớ mấy đám trước con chỉ tặng một đôi gối nằm thôi hà!

Ở nông thôn, khi các cô gái đi lấy chồng, chị em, bè bạn thường tặng cho họ những bộ gối, áo dài, áo bà ba... Cái nào cũng được thêu rất đẹp. Họ không được tặng những bộ đồ ngủ gợi cảm, vì một sự thật phủ phàng là những cái phòng tân hôn đa số đều không có cửa. Chúng chỉ được che bằng một tấm màn mỏng, chẳng thể ngăn cản được ai, kể cả gió!

Những căn nhà ở miền tây nói chung và xóm Cầu Ván nói riêng đều cất rập khuôn và bày trí y như nhau. Gồm có phòng khách, buồng ngủ và nhà bếp đi thằng một hàng, theo thứ tự từ trước ra sau.

Phòng khách, ngoài một bộ bàn ghế để tiếp khách (gồm một cái bàn dài và sáu ghế dựa đặt giữa nhà), còn có một hoặc hai bộ ngựa gõ kê ở song song hai bên.

Sau lưng chúng, sát cái vách ngăn phòng khách với buồng ngủ là cái tủ thờ gỗ mun cẩn xà cừ, hoặc bằng cẩm lai đánh vẹc ni bóng ngời.

Tủ thờ được thiết kế rất đặc biệt: Hai cánh cửa được gắn bên hông để cái thớ gỗ trước mặt trở thành một bức tranh khảm vỏ ốc hoặc khắc gỗ hình rồng, hình phụng... Tủ thờ giữ một vị trí quan trọng nhứt. Nó được chăm sóc chu đáo để thể hiện gia phong, nề nếp của gia chủ.

Ngoài ra còn có hai cái tủ kiếng: Một đựng ly, tách, chén, dĩa... Một đựng mấy bộ gối thêu, mùng lưới, mền con cừu... Chúng thường bị bắt đứng đối diện nhau, như thể để so đo nhan sắc.

Sau phòng khách là phòng ngủ.

Cửa phòng ngủ không trổ ra phòng khách mà về phía hông để được kín đáo. Lạ một điều là chẳng ai chịu gắn cho nó một cái cánh cửa. Cho nên chuyện chăn gối được bà con gọi một cách tế nhị là "ba cái chuyện tối lửa tắt đèn". Khỏi cần giải thích ai cũng biết là ban ngày ban mặt dù có...tới cỡ nào đi nữa, cũng phải ráng nhịn mà chờ cho tới tối!

Nghĩ mà thương cho những đôi uyên ương thuở đó! Hai cánh cửa sổ của tâm hồn của họ cho dù có mở cũng chẳng thấy được gì, bởi chẳng những đèn tắt ngúm mà còn phải trùm mền lại cho chắc ăn. Chẳng tân lang nào biết được tân nương của mình có thẹo hay không, cũng chẳng thể đếm thử coi có mấy cái mục ruồi trên người của nàng!

Cho nên những người đàn ông ở thôn quê, khi để vợ con ở nhà ra tỉnh thành làm ăn, đa số đều bị những người phụ nữ bạo dạn ở đó bắt mất cả hồn lẫn xác.

Tội nghiệp biết bao! Ơi Những cái đẹp, vật báu không được thưởng thức ! Ơi những bài thơ hay không ai biết tới! Ơi những bông hoa chưa một lần được chạm vào cho dù là gió!

Hởi những cô thôn nữ mỹ miều ! Hởi những đóa hoa lan mọc ở góc rừng sâu, xin nghiêng mình trước nỗi cô đơn, sầu muộn của các bạn!

Phần cuối của căn nhà là giang sơn của phái đẹp. Ở đây ngoài mấy cái cà ràng đặt dưới đất hay một cái lò trấu đúc bằng gạch thẻ được tô xi măng láng hoặc cẩn gạch men trắng muốt, còn có một cái bộ ngựa, được đóng bằng ván xẻ ra từ cây me nước, ô môi ... Ở những căn nhà khiêm tốn nó được thay bằng một tấm giạt làm từ tre hoặc cây cau lão rồi đặt lên bốn cây cọc tre đơn giản, cốt để mấy người phụ nữ ngồi trò chuyện.

Cái võng, đồ dùng tối cần thiết cho mỗi gia đình, cũng được treo vào góc bếp. Chiều chiều, những lời ru êm đềm trộn đều với hơi nước của nồi cơm sôi, trộn đều với những lọn khói từ miệng, từ tai của mấy ông lò rồi bay ra tại đây, nơi chái bếp ấm áp nầy.

Ở thôn quê mỗi nhà có ít nhất là một cái võng. Có nhà thì đến hai, ba, bốn cái...

Cái võng treo trong bếp là quan trọng nhất. Nó bắt buộc phải có để người mẹ vừa lột khoai mì, lặt rau, lượm thóc... vừa đều tay đưa đẩy, vừa luôn miệng ầu ơ, từ câu ca dao nầy sang câu ca dao khác. Nếu con đã ngủ say rồi mà mẹ vẫn còn ru mãi, thì chắc nàng đang muốn gửi gắm tâm tình của mình đến một người nào đó.

Nhà chú Chín có đến ba cái võng: Cái võng đủ màu được bện bằng vải vụn, treo ngoài hàng ba là nơi chú nằm đọc sách và ngủ trưa. Cái võng trong bếp may bằng tấm vải dầu nhà binh thì của thím Chín. Cái võng trong buồng chỉ dành riêng cho thằng cháu ngoại khi nửa đêm nó quấy khóc.

Đó là chưa tính tới hai cái võng, một ở ngay sau hè, treo giữa cây ổi và cây vú sữa, gần bộ giạt để ăn cơm chiều, một ở trong vườn.

Cái võng ở trong vườn được chú Chín giăng ở chỗ có bóng mát suốt ngày. Ở nơi nầy, cả ánh nắng trưa, chiếu theo chiều thẳng đứng cũng chẳng thể nào leo lên nằm ké. Chúng bị cản bởi đến mấy lớp lá đan tay che kín : Lớp dưới cùng là mấy cái lá láng lẩy của cây mít, rồi tới mù u, xoài. Bên trên chúng là những ngón tay lá tre dài sọc. Những cây gòn ra vẻ anh hùng, xòe rộng hết cỡ tất cả các ngón của cả triệu bàn tay của mình, trùm lên trên cùng để làm thành cái mái nhà kiên cố.

Hai cái võng nầy thỉnh thoảng mới được dùng. Nó cũng chỉ được hai người là chú Chín và Nghệ xài vào những buổi trưa trời nóng ngất ngây. Khi mấy đám mây rủ nhau đi trốn mất biệt và nắng cũng uể oải, làm biếng chui vào nhà, thì họ, chú Chín hoặc Nghệ mới chịu ra đây tìm chúng.

Phụ nữ ở đây cho dù nực cách mấy cũng ít khi dám nằm đưa tòn teng bên ngoài, ngay cả cái võng giăng trong hàng ba. Điều nầy được xem là không đứng đắn, đàng hoàng.

Chú Chín còn thủ thêm một cái võng may bằng vải bố rất dày để muỗi không đâm thủng. Cái võng nầy có hai sợi dây dài thậm thượt cột vào hai đầu. Một tháng đôi lần, vào những đêm trăng, chú đem nó giăng ra giữa sân, nằm ngó trời cho đến khuya mới chịu vô nhà. Có khi chú ngủ quên tận đến khi sáng bét. Mấy lần nửa đêm thím Chín thức giấc, nhìn quanh không thấy chồng. Thím liền ra sân, nắm cẳng chú giựt thiệt mạnh để ổng tỉnh dậy mà đi vào nhà ngủ.

Thấy thím Chín chưa trả lời câu hỏi của mình, Nhu lập lại:

-Có chuyện gì vui mà cười dữ vậy má?

Thím nói tránh:

-Tao nghĩ tới cái chuyện mấy người chờ tới già như tao với ba mầy mới thương, mới cưới chắc ngộ lắm, chắc mắc cỡ với bà con dữ lắm!

Nhu phản đối:

-Ở Á đông mình thì cái chuyện hôn nhân có nhiều rào cản, chớ ở tây phương thì không có gặp trở ngại gì hết ! Sáu, bảy chục tuổi mới cưới là chuyện bình thường. Mình thì cho là dị hợm còn đối với họ đó là điều may mắn. Có khi họ không cần cưới, không cần thông báo với ai, hể thấy hợp là xáp lại sống chung liền.

Câu nói của Nhu như tia sét xẹt ngang đầu chú Chín. Chú bỗng nẩy ra liền một sáng kiến, có vẻ ưng ý lắm! Chú cười mỉm chi, gật gù ra vẻ vô cùng đắc chí.

Liếc nhìn chú, thím Chín biết ngay trong đầu ổng đang phát sinh một âm mưu. Lòng khấp khởi, thím cố ghìm không hỏi, chờ nghe chồng tiết lộ.

Chú Chín đâu có biết vợ đang chú ý đến mình nên hấp tấp bước xuống cầu thang. Chú tính đi gặp thầy Bảy ngay lập tức để lên kế hoạch.

Thím Chín thấy chú ngồi lên yên xe, lật đật hỏi:

-Ông đi đâu vậy?

Chú ngoái đầu lại đáp:

-Tui lại nhà anh Bảy chích.

Câu trả lời khiến thím ấm ức, thím hỏi:

-Chi vậy?

Chú trả lời:

-Tui mới nghĩ ra cái cách nầy hay lắm! Để bàn với ảnh trước, coi y có dám làm hông rồi về kể cho bà nghe.

Thím Chín nôn nao, thím chỉ muốn nghe liền thôi.

Biết không thể cản chú, thím bèn áp dụng cái chiêu dụ dỗ:

-Đi lẹ rồi về ăn cơm nghe! Bữa nay tui hầm măng với giò heo, nước cốt dừa. Có kho một ơ cá cơm rim mặn nữa. Mấy món nầy con Nhu, thằng Nghệ tụi nó mê lắm! Ông mà về trễ là mấy mẹ con tui ăn hết đó!

Biết thím nói đùa nhưng chú vẫn làm bộ phật ý:

-Hổng có ăn trước à nghen ! Tui về liền tay đó!

Rồi ngoáy mông đạp ào ào.

Nhà thầy Bảy nằm giữa một khu vườn rất rộng, ngó ra hai hướng: Cửa trước ngó đường cái, cửa sau nhìn đường cộ. Hai cánh cửa hướng ra đường lúc nào cũng đóng kín. Khu vườn um tùm, lá rụng đều đặn mỗi ngày mà không ai quét, chất chồng lớp lớp trông giống như bị bỏ hoang.

Ổng có thằng con có tính nhát hơi người nên ít ai thấy mặt. Suốt ngày cứ đi lòng vòng trong vườn, hể nghe khách đến nhà là vội vàng lủi mất, chừng dứt tiếng nói mới chịu thò mặt ra.

Tính cách hổng giống ai đó khiến bà con xếp y vào hạng ba lơn. Nghe đâu thời trước y có mấy bài thơ được đăng báo ký tên" Nguyễn Nguyên". Ở cái xứ mà tài năng được đong bằng lúa thì ba cái chuyện đó đâu được tính. Huống chi thời buổi bây giờ ai mà thèm đem tiền mua báo!

Thầy Bảy thỉnh thoảng trả lời một cách ngượng ngập: "Nó làm thơ", khi bà con hỏi rằng thằng con của thầy hiện giờ đang làm "cái giống gì?"

Cho dù có ruộng, có rẩy, nhưng cái thu nhập của thầy Bảy phần lớn do cái ống nghe, ống chích, ống thuốc... đem đến. Tiền mọi người trả cho việc chữa bịnh đủ bảo đảm cho hai cha con sống thong thả, thầy không cần o ép con trai phải nai lưng kiếm tiền. Thầy là người duy nhứt thừa nhận người con của mình cũng có một sự nghiệp như ai.

Thầy thường đem mấy bài thơ của y làm ra khoe rồi chép miệng nói với chú Chín:

-Thơ nó cũng hay chớ bộ!

Chú Chín cũng thích thơ, có điều chú thích những bài thơ có vần, có điệu, chữ nghĩa, ý tứ rõ ràng như cuốn "Lục Vân Tiên" gối đầu giường của mình. Còn những bài thơ của Nguyên, con thầy Bảy thì nói thiệt, chú đọc một cách nhọc nhằn như nhai miếng cá quá nhiều xương.

Cái tính mơ mộng của Nguyên bị bà con xếp vô cái tội lớn nhứt ở đây: "Làm biếng". Còn cái vụ lâu lâu lại vò giấy tập trắng tinh mà ném lung tung, thì bị ghép vô cái tội "xài sang". Tội nầy cũng lớn không thua, hổng chừng còn bị coi là nặng hơn cái tội làm biếng một bực.

Chú Chín đến nhà và thấy hai cha con họ đang cởi trần, cầm dao, cầm rựa phát cây, dọn cỏ khu vườn thì ngạc nhiên quá đổi.

Nhìn cái lưng trắng bóc của Nguyên, chú Chín bỗng bất mãn ngang xương.

Chú hỏi:

-Cháu có đi đồng, nhổ cỏ lần nào chưa?

Nguyên đỏ bừng cái mặt, chưa kịp đáp thì thầy Bảy cười khà khà, giành trả lời:

-Có một lần vô vụ, mướn người hổng đủ. Tui kêu nó tiếp một tay. Nó toàn nhổ lúa không hà!

Chú Chín hỏi:

-Sao bữa nay hai cha con siêng dữ vậy?

Thầy Bảy đáp thiệt tình:

-Tui tính mời cô Sáu tới nhà chơi cho biết nên...

Rồi thầy nói:

-Anh vô nhà ngó một cái đi, coi tui làm như vậy được chưa?

Chú Chín lật đật theo chưn thẩy. Chú ngạc nhiên khi thấy bên trong căn nhà được sửa sang gần như toàn bộ. Tường được quét vôi mới tinh. Đồ đạc bị dời chỗ, xem ra gọn gàng hơn lúc trước rất nhiều.

Không chờ chú Chín hỏi, thầy Bảy giải thích:

-Tui thấy nhà cô Sáu sạch sẻ, ngăn nắp quá nên sợ cổ tới đây nhìn cái nhà tui rồi dội ngược. Tui tâm sự với thằng Nguyên: "Ba có để ý một người. Muốn mời về nhà chơi mà sợ cổ thấy nhà mình bê bối quá, cổ chê ba ăn ở bầy hầy rồi không chịu ưng".

Chú Chín hỏi liền:

-Anh cho nó biết rồi hả? Nó có chịu cho anh đi thêm bước nữa hông?

Thầy Bảy cười, gật đầu:

-Nó mừng húm! Biểu tui là "ba đừng có lo, để con dọn dẹp, trang trí lại nhà mình. Làm sao cho cổ nhìn vô là mát con mắt, muốn về ở liền".

Chú Chín gật gù:

-Cái thằng nầy coi vậy mà có hoa tay à nghen! Dọn cái nhà coi phải thế quá!

Chú rờ chậu xương rồng nhỏ xíu đặt trên cái bàn thấp chủm của bộ sa lông rồi nói:

-Cây nầy mua ở đâu mà đẹp quá vậy?

Thầy Bảy nói:

-Tui đâu có biết, của nó đó!

Chú lại nhìn lên tường, thấy mấy bức tranh treo trên vách giống như bị mấy đứa con nít nhúng tay vô đủ thứ màu mực mà quẹt thì hỏi:

-Bức nầy họa cái gì vậy?

Thầy Bảy lắc đầu:

-Tui cũng hổng biết!

Chú Chín ngó đã thèm rồi nói:

-Đâu anh dắt tui vô coi cái giường ngủ có vững vàng hông? Chuyện nầy quan trọng bực nhứt đó!

Cái miệng của thầy Bảy dang rộng tới mép tai, chứng tỏ câu nói đùa của chú Chín khiến ổng vô cùng khoái trá. Chú Chín càng ngạc nhiên hơn khi thấy mùng, mền, chiếu, gối...hết thảy đều mới tinh, chúng còn được xếp rất ngay ngắn thì tỏ vẻ hết sức vừa bụng.

Chú nói, giọng khâm phục:

-Tui không ngờ anh thay đổi y như lộn ngược tới cỡ nầy! Hôm bữa tui ghé thấy mền mùng dồn cục. Một đống bầy hầy, lộn xộn như cái đám nhau mèo, vậy mà...

Thầy Bảy cười, hỏi nhưng biết chắc câu trả lời:

-Anh thấy như vầy coi được chưa? Còn thiếu thứ gì hông?

Chú Chín gật gù:

-Ổ thì lót coi bộ ngon lành lắm đó! Có điều hổng biết con gà mái có chịu chui vô nằm hông đây?

Thầy Bảy thôi cười, khẩn khoản:

-Bởi vậy tui mới nhờ anh nói với chị Chín, hối chỉ đốc vô cho dữ dội giùm tui.

Chú Chín lắc đầu:

-Đốc mà nhầm nhò gì, lâu lắc, trật vuột lắm! Tui tính rồi, cái vụ nầy phải làm một cái ào mới xong!

Thầy Bảy hỏi:

-Kiểu gì?

Chú Chín kề tai ổng nói một thôi. Thầy Bảy nghiêng hẳn một bên đầu có vẻ chăm chú hết mức. Cái miệng của chú Chín cứ lép nhép liên tục, còn cái đầu của thầy Bảy thì gật lia, gật lịa.

Chờ chú Chín dứt lời ổng mới hỏi, giọng lo lắng:

-Nhắm được hông anh? Rủi bả hổng ưng còn chửi cho một trận chắc tui mắc cỡ tới bỏ xứ mà đi quá! Chắc ra đường phải lấy cái mo mà che mặt.

Chú Chín cười:

-Đừng có lo, tui biết tánh chỉ hiền rụi hà! Hồi nào tới giờ anh có thấy chỉ dám làm mích lòng, từ người lớn cho tới đứa con nít nào trong xóm hông? Huống chi tui thấy chỉ cũng phải lòng anh rồi, nếu không đâu có chịu nhận xấp vải mà đem may áo.

Rồi chú biểu:

-Bây giờ ông gom hết ba cái bông, dây chuyền, vòng tay, cà rá đưa đây cho tui.

Thầy Bảy riu ríu nghe theo. Ổng đi ra phòng khách, lại tủ thờ cầm cái ống đựng nhang, trút ngược. Chùm chìa khóa trong đó văng ra. Ổng đem nó vô buồng trở lại, mở cái tủ đựng áo quần, lấy ra cái hộp tròn tròn, dày dày bằng nhựa màu đỏ. Không mở ra coi mà đưa luôn cho chú Chín.

Chú Chín lựa ra vài món, cầm lên rồi nói:

-Làm cái gì mà đưa hết ráo vậy? Tui lấy đôi bông cẩm thạch, sợi dây chuyền với cái mặt trái bí đao nầy. Thêm một tấm lắc với một chiếc cà rá thôi.

Thầy Bảy làm y như lời chú. Ổng lấy tờ giấy, trút mấy món không xài tới ra, đưa nguyên cái hộp cho chú Chín đựng những thứ đang cầm trên tay vô.

Thầy Bảybỗng ngậm ngủi:

-Mấy món nầy là của má thằng Nguyên. Tui làm như vầy hổng biết bả có giận hông hả anh Chín?

Chú Chín lắc đầu:

-Mừng gần chết chớ giận cái gì? Anh có người nấu cơm, giặt đồ rồi. Ba cái chuyện giường chiếu cũng có người lo thì chỉ mới yên bụng mà bay lên trời hoặc đi đầu thai. Huống chi ông cũng thủ tiết thờ vợ lâu khẳm chớ bộ!

Rồi chú hỏi:

-In là chỉ chết cũng gần chục năm, phải hông?

Thầy Bảy lắc đầu:

-Tới hai mươi lăm tháng chạp là đúng chín năm. Lần đó bả đi về nhà bà ngoại thằng Nguyên để ăn tạ mả. May mà nó hổng chịu đi theo.

Thầy ngưng lại một chút rồi nói như khóc:

-Đáng lẽ tui phải chở bả đi, mà tại ông Năm Đúng đang trở bịnh nên hổng dám bỏ! Phải hai vợ chồng đi bằng xe hon đa thì bả đâu có chết!

Chú Chín chắt lưỡi:

-Tai nạn nó tới bất tử, đâu ai biết mà tránh!

Thầy Bảy tâm sự tiếp:

-Cái bữa đó đó, tối lại là tui nằm chiêm bao thấy bả liền. Bả ôm cái bóp đầm, giống như sắp đi ăn tiệc vậy?

Chú Chín hỏi:

-Cái bữa đó là bữa nào?

Thầy Bảy ngần ngừ:

-Thì cái bữa mà anh kêu tui vô nhà hỏi coi cô Sáu hết xỉu chưa đó!

Chú Chín hỏi kiểu cắc cớ:

-Anh có làm cái gì với chị Sáu hông mà chỉ ghen đến độ xách gói ra đi vậy?

Thầy Bảy đáp, hơi ngượng :

-Tui có ôm cổ .

Chú Chín hổng tin:

-Ôm thôi? Chớ hổng làm cái gì thêm sao?

Thầy Bảy lắc đầu:

-Tui cũng tính...đó chớ, mà cổ nói "tui lạy anh, anh mà làm tới là tui cắn lưỡi chết liền cho anh coi".

Ổng gãi đầu giọng tiếc rẻ:

-Phải tui làm liền là được rồi, tại khớp quá nên... Cái rồi con gà mắc dịch của ông khi không mà gáy rân trời, báo hại cổ hết hồn, xô tui ra liền.

Chú Chín cười ngặt ngoẽo. Ổng đưa bàn tay hộ pháp của mình vỗ vào cái lưng của thầy Bảy bồm bộp.

Cái đau, cái buồn, cái tiếc... rạch lên mặt thầy Bảy mấy đường rãnh rất sâu!

Chú Chín vừa vô tới nhà là móc trong túi lấy cái hộp nữ trang ra đưa cho vợ.

Thím Chín cầm lấy, mở ra xem rồi trợn mắt hỏi:

-Ở đâu ra mấy món nầy vậy ?

Chú đáp :

-Của thầy Bảy đó! Bà nói làm sao cho chỉ chịu đeo giùm tui!

Thím Chín hỏi:

-Đeo liền bây giờ hả?

Chú lắc đầu :

-Để tới bữa rước dâu, bà hãy đưa cho chỉ.

Thím hỏi tiếp:

-Có nói thiệt cho chỉ biết là của thầy Bảy hông?

Chú Chín suy nghĩ hồi lâu rồi đáp :

-Bà dò ý chỉ rồi liệu theo đó mà tính. Nhắm nói được thì nói, còn bằng không thì thôi!

Thím Chín cầm đôi bông và cái mặt dây chuyền hình trái bí đao lên, ngó thật kỹ rồi khen nức nở:

-Cẩm thạch xưa tốt quá! Cái màu lý nầy là mắc tiền hạng nhứt đó!

Chú Chín hối:

-Thôi bà cất vô đi, rồi kêu con Nhu dọn cơm cho tui ăn ba hột đặng còn đi công chuyện nữa .

Thím Chín chưa chịu làm theo, thím nhắc:

-Ông hứa về nhà là kể cho tui nghe liền mà...

Chú Chín gắt:

-Ăn xong rồi kể.

Thím lắc đầu:

-Kể trước rồi ăn.

Nhìn vẻ cương quyết trên gương mặt thím, chú biết ngay là nếu không khéo đầu hàng là toi mạng liền, nên cũng làm y như lúc nãy, nghĩa là kề tai nói nhỏ xíu.

Thím chín không những chỉ dùng tai mà xử dụng luôn hai con mắt. Thím vừa nghe, vừa nheo, vừa trợn trông rất ư tập trung và căng thẳng.

Nhu nghe tiếng chú Chín về đã lật đật dọn cơm. Cô bước ra định mời, thấy cảnh đó thì ghìm lại liền, bước trở lui, núp vô cửa buồng rồi dỏng cả hai cái lỗ tai.

Cô nghe tiếng thím Chín nói:

-Chắc phải làm như vậy mới được. Tánh chỉ hiền chắc hổng nở làm "mất mặt bầu cua" của thầy Bảy đâu!

Chú Chín bỗng nhớ ra cái điều mà hôm trước thím Chín thắc mắc. Chú nói:

-Ông thầy Bảy chưa có "xơ múi" gì chị Sáu hết. Bà vừa bụng chưa?

Thím Chín lắc đầu:

-Ông nói như vậy tui còn lo thêm chớ vừa bụng cái gì!

Rồi hai người làm thinh. Lúc nầy Nhu mới bước ra, làm mặt tỉnh rụi mà thông báo:

-Con dọn cơm xong rồi!

Ăn cơm xong chú Chín lại xách xe đạp đi. Thím Chín còn ngồi lại ra vẻ nghĩ ngợi. Hai cái chưn mày của thím chụm đầu vào nhau.

Nhu vừa chồng mấy cái chén vô mâm để bưng một lần cho gọn, vừa hỏi:

-Bộ thầy Bảy sắp cưới dì Sáu hả má?

Thím Chín giựt mình một cái đụi. Thím hỏi:

-Sao con biết?

Nhu nói đại:

-Con Nhạn nó kể.

Thím Chín ngạc nhiên:

-Làm sao mà biết, bộ chị Sáu kể cho nó nghe hả?

Nhu đâm ra hối hận. Cô lo thím Chín hỏi Nhạn rồi lòi ra là mình nói dóc nên căn dặn thím Chín:

-Nó biểu con giấu biệt cái chuyện nầy, bởi vậy má đừng có đi gặp nó rồi hỏi tới hỏi lui nghe má.

Thím Chín không trả lời mà hỏi tiếp:

-Hai anh em nó có chịu cho chị Sáu lấy chồng hông?

Nhu trả lời:

-Con hổng biết.

Thím Chín xúi Nhu:

-Con hỏi nó, rồi dò ý thằng Phục giùm má coi!

Thấy Nhu có vẻ thờ ơ, thím Chín biết cô không thích nên nhấn mạnh:

-Phải hỏi liền cho má nghe hông? Để hông thôi tới bữa đó tụi nó vặn nài, bẻ ống là mệt lắm!

Nhu hỏi:

-Bữa nào hả má?

Thím Chín bèn kề tai cô nói nhỏ rồi dặn:

-Cái chuyện nầy hệ trọng lắm đó đừng có rỉ răng nghe không?

Nhu vừa gật, vừa dạ lia lịa. Cô đang bưng cái mâm đi ra sàn nước thì thím Chín kêu lại:

-Nếu tụi nó không chịu thì con ráng nói vô giùm! Má thấy thầy Bảy được lắm. Ổng thương chỉ thiệt tình nên mới bỏ công đeo đuổi lâu đến vậy. Vừa qua chỉ bị té một cái quá mạng, móp cái sọ, nghe đâu mai mốt dễ chết giấc lắm. Có ông thầy thuốc sát bên nách mới sống lâu được.

Tối hôm đó Nhu lập tức rủ Nhạn qua nhà để hỏi coi cô có chịu để dì Sáu lấy thầy Bảy không, và nhờ Nhạn dọ ý Phục thay mình.

Nhạn ngạc nhiên hết sức, cô hỏi:

-Làm sao chị biết?

Nhu đáp :

-Thầy Bảy có nhờ ba, má chị đứng ra làm mối giùm. Ba má chị thấy mấy lúc sau nầy dì Sáu bịnh rề rề hoài, ưng ổng có lợi cho dỉ nên nhận lời. Hình như dỉ ngại con cái hổng chịu với lối xóm dị nghị nên không dám ưng.

Nhạn nói:

-Hổng nghe má nói gì hết! Em thấy mỗi lần thím Chín đem chuyện thầy Bảy ra ghẹo là má hay phủi lia, phủi lịa. Coi bộ má đâu có ưa ổng.

Nhu lắc đầu:

-Tánh dì Sáu kín đáo lại hay mắc cỡ, nên hổng muốn ai biết đó thôi! Không ưa sao nhận xấp gấm ổng tặng mà đưa cho em may áo dài?

Nhạn chưng hửng:

-Mèn đéc ơi! Vậy mà em hỏi cái má nói má mua lâu lắm rồi.

Rồi giọng cô buồn thiu:

-Má mà về nhà ổng ở chắc em nhớ chịu hổng thấu. Tối em phải ngủ một mình, hổng ai nói chuyện, bịnh cũng hổng ai cạo gió với gãi giùm cái ...

Nhu ngắt ngang:

-Cần cái gì thì kêu chị một tiếng. Nhà thầy Bảy ở gần xịt chớ có xa xôi gì đâu! Nhớ là chạy qua mấy hồi. Còn hơn dỉ đi chầu diêm vương là khỏi có gặp à nghen!

Nhạn về nhà lòng đầy phân vân. Cô thấy Phục đang ngồi ôm cây đàn búng từng tưng thì ngồi cạnh rồi hỏi:

-Má đâu rồi anh Hai?

Phục đáp:

-Má đi ra tiệm cô Năm mua đồ.

Rồi hỏi:

-Em đi đâu mới về vậy?

Nhạn đáp:

-Chị Nhu kêu em qua nói chuyện.

Phục dừng tay, hỏi:

-Chuyện gì?

Nhạn không trả lời mà hỏi lại:

-Anh có thích má đi lấy chồng hông?

Phục ngạc nhiên, nhìn Nhạn trân trân. Y cũng không đáp liền mà hỏi lại:

-Tại sao em hỏi như vậy?

Nhạn đem chuyện Nhu nói với mình ra kể. Phục nghe rồi hỏi:

-Ý em làm sao?

Nhạn đáp:

-Em chỉ sợ má về đó cực thôi hà. Cái nhà thì lớn mà cái vườn thì rộng minh mông, lau quét không cũng đủ mệt!

Phục gật đầu:

-Em nói đúng đó. Anh cưới vợ đặng có người săn sóc má. Từ giờ trở đi, anh không để cho má mó tay vô chuyện gì hết! Mắc gì má phải về đó rồi mang tiếng mẹ ghẻ con chồng.

Nhạn nói:

-Rủi má bịnh nặng, má xỉu hoài thì làm sao anh hai?

Phục vò vò cái đầu không đáp. Nhạn bồi thêm:

-Chị Nhu nói má cũng có thương ổng nữa!

Phục giựt mình:

-Sao cổ biết?

Nhạn đem chuyện cái áo dài ra kể cho Phục nghe rồi nói:

-Cái tánh má anh biết rồi đó! Hổng thích ổng thì dễ dầu gì má chịu cầm.

Phục không đáp, gương mặt buồn hiu, ngồi thừ không nói thêm tiếng nào. Y như quên hẳn Nhạn đang ngồi bên cạnh và quên luôn cây đàn trong tay

Chiều hôm sau Tím chở Nhạn về nhà, cô đem theo bộ đồ tây vừa may cho Phục mặc thử. Cô thích mấy chú rể mặc theo tây, áo sơ mi, đóng thùng chớ không thích y phục cổ truyền, áo dài, khăn đống. Lúc đưa Tím về Phục không rẻ vào chòm mả mà chạy thẳng. Phục đáp lại những câu hỏi của cô một cách rời rạc. Bàn tay Tím đặt trên eo Phục lỏng ra, Phục không cầm lấy rồi đặt trở lại chỗ cũ như mọi lần. Tím nghe tủi, đến khu nhà hoang cô nói:

-Thôi anh bỏ em xuống đây đi, một lát đi bộ về xa lắm!

Giọng cô đầy vẻ trách móc. Phục chợt nhớ ra, biết Tím giận nên dừng xe, quay người ôm cô rồi nói:

-Thôi mà! Đừng có giận.

Rồi chàng quay xe trở lại, Tím hỏi:

-Sao không chạy thẳng mà...

Phục không đáp, chạy một mạch đến chòm mả.

Ánh trăng bị trái đất gọt mất một miếng nên không sáng lắm. Phục dừng lại giấu xe rồi dắt Tím lại cái chỗ khuất của cái mả lớn nhất .

Tím chỉ lên mặt trăng rồi nói:

-Chừng nào cái mặt trăng nầy tròn là...

Phục chẳng nhìn theo ngón tay cô trỏ, điều nầy khiến cơn giận vừa bỏ đi bỗng quay trở về với Tím. Cô ngồi xích ra rồi rút bàn tay mình ra khỏi tay Phục.

Phục nhìn lên mặt trăng rồi nhìn xuống gương mặt đang ngước lên của Tím. Trăng chảy tràn trên mặt cô, mắt và tóc Tím ướt rượt, gương mặt Tím trông mơ màng, tinh khiết, đẹp đến nổi Phục không dừng được đưa cả môi lẫn mũi rà lên đó. Tím vẫn còn giận nên đưa tay xô ra, Phục hỏi:

-Bộ em giận anh hả?

Tím vẫn không thèm trả lời. Phục giải thích:

-Anh đang rầu trong bụng quá chừng!

Nghe vậy Tím liền nguôi, cô hỏi:

-Có chuyện gì vậy? Nói em nghe đi!

Phục kể cho Tím nghe rồi nói:

-Em không được kể cho má với mấy bà chị nghen!

Tím gật đầu, cô nói:

-Ngu sao mà kể!

Phục lập lại y nguyên những lời nghe được từ miệng Nhạn. Cho dù rất thương dì Sáu nhưng Tím vẫn thích cô và Phục được tự do, một mình, một cõi nên nói:

-Thầy Bảy giàu lắm đó! Cái nghề chích thuốc dễ kiếm tiền nhứt. Bây giờ thiên hạ bịnh quá trời quá đất. Anh tới nhà thương mà coi, đông còn hơn cái chợ nữa.

Rồi cô nói:

-Ai mà bịnh bất tử tới đó đều phải chờ đợi lâu lắm! Mấy cô y tá đòi đủ thứ giấy tờ, gặp bịnh nặng dám chờ tới chết mà còn chưa gặp được bác sĩ nữa. Bởi vậy có người nhà biết nghề thuốc cũng đỡ lắm! Không phải tốn tiền mà còn khỏi lo mất mạng.

Cô hỏi thêm:

-Hổm rày má có bị xỉu nữa hông?

Phục lắc đầu.

Tím nói:

-Em có biết một người, đang đi cầu cá bị kinh phong giựt, té xỉu rồi chết luôn dưới đó.

Cô nói tiếp:

-Cả xứ nầy chỉ có nhà thầy Bảy là làm cầu tiêu máy trong nhà thôi hà!

Phục hỏi:

-Sao em biết?

Tím cười:

-Anh tới nhà ổng chưa? Tới đó đi rồi thấy. Ổng làm cái bồn chứa nước mưa ngay trên nóc nhà tắm. Nghe nói ổng cưng vợ lắm, hổng muốn bả xuống sông nên làm nhà kiểu vậy. Còn cho đào cầu tiêu sát một bên luôn để bả khỏi đi cầu cá.

Phục hỏi:

-Nó có bay mùi không?

Tím lắc đầu:

-Không một chút nào mới lạ chớ!

Ý định nhứt quyết không cho má mình lấy thầy Bảy của Phục, bỗng bị cái cầu tiêu làm lung lay tận gốc.

Tím còn dùng hết sức xô mạnh thêm một cái:

-Nhà mình có một cái buồng hà! Má nhường cho tụi mình rồi ra bộ giạt nhà sau mà nằm thấy kỳ quá!

Thấy Phục không nói mà chỉ ngồi đăm chiêu, Tím hỏi:

-Em nghĩ chắc má thương thầy Bảy kha khá rồi đó! Lúc nầy thấy má cười nhiều hơn lúc trước. Má cũng đâu có già gì mấy. Mình mà thương má thì nên...

Phục ngắt ngang:

-Anh với con Nhạn thì hổng nói gì, chỉ sợ má bị thiên hạ chê cười mà thôi!

Tím cự:

-Người ta chê đâu phải chuyện nào cũng đúng. Có khi chuyện tốt cũng bị chê tuốt luốt. Cái tánh của bà con là thích chê hơn khen. Có khi trong lòng thì khen mà nghe người ta chê thì cũng bắt chước chê theo. Chuyện nào mà thấy tốt cho mình, mà hổng hại ai thì cứ làm đại chớ hơi đâu mà lo!

Phục nghĩ ngợi giây lát rồi nói:

-Để anh hỏi ý kiến chú Chín cho chắc ăn.

Chú Chín Nho chẳng những có tánh tốt, ngay thẳng, nhiệt tình... mà còn là người có học vấn cao nhứt nên được bà con kính nể. Nghe đâu ngày xưa chú được lên tỉnh học, bị rớt cái bằng gì đó nên thua buồn, bỏ học luôn mà ở nhà làm ruộng. Trong xóm Cầu Ván hể có những vụ xích mích, tranh chấp, đôi co... người ta ít khi lôi nhau ra tòa mà nhờ chú phân giải giùm. Chú thích dĩ hòa vi quí nên đem hết tài "thuyết khách" của mình ra khuyên nhủ đôi bên. Nhờ vậy mà mấy cái chuyện to bị chú xé ra thành nhỏ xíu, còn những chuyện nhỏ thì bị cà nhuyễn thành tro rồi bị gió thổi bay đi mất.

Trăng chui vào mây nên gió liền đi kiếm. Thấy không khí có vẻ âm u quá, Tím đâm sợ. Cô bèn đứng lên rồi hối Phục chở mình về.

Phục chở Tím đến cổng rồi trả xe lại để đi bộ về nhà. Cái dáng lủi thủi của y làm Tím xúc động.

Tím gọi lại Phục trở lại rồi nói:

-Anh đạp xe về cho nhanh, mai cô út đi học đem trả luôn thể.

Phục lắc đầu:

-Thôi đi bộ cho giãn gân cốt.

Tím chỉ tay lên trời:

-Anh coi kìa, mây đen hết rồi, ông trời đang chuyển bụng, dám xán một đám mưa bất tử lắm! Khuya rồi, cả nhà em chắc đã ngủ hết ráo, chẳng ai biết đâu mà ngại.

Giọng cô nghe khá cương quyết, giải thích cũng hợp lý nên Phục nghe theo.

Tím chờ cho Phục chạy mất biệt mới quay vào nhà. Dượng Hai nằm đưa võng trước hàng ba, vừa thấy cô bước vô là lập tức thông báo:

-Má mầy đang hầm hơi lắm đó. Coi chừng nghe!

Tím riu ríu đi vào nhà trong, cô bước thiệt nhẹ để không có tiếng chưn vậy mà khi đi ngang căn buồng lớn, cũng nghe tiếng tằng hắng, rồi tiếng dì Hai kêu giựt ngược:

-Đi ra chòm mả hú hí với nhau, tới bây giờ mới vác cái mặt về nhà phải hông?

Tím hết hồn đáp nhỏ xíu:

-Dạ đâu có, tại bộ đồ hơi rộng, con phải bóp lại cho vừa nên ...

Dì Hai ngắt ngang:

-Bây đừng có qua mặt tao! Coi chừng mang cái bụng thè lè rồi bị cười cho thúi đầu đó.

Thấy Tím cúi đầu làm thinh nên dì Hai cho rằng mình đã đoán đúng phóc. Dì đùng đùng nổi giận, vừa nghiến răng trèo trẹo vừa nói:

-Đừng có thấy tao xuống nước mà làm tới nghe hông! Tao tháo được hổng lẽ cột lại hổng nổi? Tụi bây buông tuồng là tao dẹp cái đám cưới liền đó!

Biết má mình tính tình cứng rắn, nói là làm nên Tím lật đật nói:

-Tụi con đâu có dám mặc áo chui đầu, tại nhà anh Phục xảy ra một chuyện nên...

Dì Hai ngắt lời rồi hỏi dồn, hỏi dập:

-Chuyện gì? Có hệ trọng lắm hông? Nói tao nghe thử!

Tím kể cho má mình nghe, thêm thắt chút đỉnh cho câu chuyện đượm phần gay cấn. Dì Hai vừa nghe vừa chắt lưỡi, nói một cách ngậm ngùi:

-Mèn ơi! Ai dè chị Sáu ốm nhom, ốm nhách lại có số đào hoa tới cỡ đó. Tội nghiệp cô Út Ngọt, chờ đợi cả chục năm rồi đùng một cái...

Tím e dè căn dặn:

-Má đừng có nói cho chị Hai, chị Ba với mấy đứa kia biết nghe má!

Dì Hai nạt:

-Bộ bây giờ mầy tính làm má tao hay sao mà lên mặt dạy dỗ vậy?

Tím lật đật cải chính:

-Đâu có, đâu có...Tại con sợ má vui miệng rồi...

Dì Hai hứ một tiếng ra vẻ phật ý. Tím nghe yên tâm nên quay quả vào buồng. Cam nằm cạnh dì Hai bây giờ mới dám cựa mình.

Dì hai vội hỏi:

-Mầy thức hay ngủ đó Cam?

Cam đáp tỉnh bơ:

-Ngủ!

Dì hỏi tiếp:

-Nãy giờ có nghe cái gì hông?

Cam làm bộ mờ ơ hỏi lại:

-Nghe vụ gì hả má?

Dì Hai lắc đầu, hấp tấp nói:

-Hổng nghe thì thôi!

« Lùi
Tiến »