Nỗi sợ hãi tột cùng

Lượt đọc: 3760 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
thành phố của chúa

Camera đã được đặt sẵn. Chiếc máy bay vận tải C-5B của lực lượng không quân đã chất những chiếc xe van gắn trạm mặt đất công nghệ tiên tiến nhất từ Căn Cứ Không Quân Andrews lên và chở chúng đến Sân Bay Leonardo da Vinci. Đây không hẳn vì buổi lễ ký kết – các nhà bình luận tỏ ra lo lắng liệu nó có xảy ra được không – mà còn cả màn trình diễn trước đó. Các nhà sản xuất cảm thấy thiết bị độ nét được cải tiến hoàn toàn bằng kỹ thuật số sẽ mô tả tốt hơn các bộ sưu tập nghệ thuật rải rác các bức tường Vatican như những hàng cây dọc theo các công viên quốc gia. Những người thợ mộc và chuyên gia địa phương từ New York và Atlanta bận rộn xây dựng trạm phát sóng, để chuyển phát tin tức ngay tại hiện trường. Cả ba mạng thông tấn tin tức lớn nhất Hoa Kỳ sáng nay đều phát bản tin về Vatican. CNN cùng  NHK, BBC và gần như mọi đài truyền trên thế giới đều có mặt ở đây, tranh dành từng khoảng không để dành vị trí trên quảng trường lớn phía trước nhà thờ vốn được Bramante xây dựng từ năm 1503, sau đó được Raphael, Michelangelo và Bernini tiếp nối. Một cơn bão mạnh nhưng ngắn đã cuốn sương nước từ đài phun nước trung tâm vào trường quay của Deutsche Welle làm hỏng thiết bị hàng trăm ngàn Mark (DM: đồng tiền cũ của Đức). Các quan chức Vatican cuối cùng cũng phàn nàn rằng không đủ chỗ cho tất cả mọi người muốn chứng kiến sự kiện này – cho sự kiện họ đã cầu nguyện để nó diễn ra – nhưng rồi cũng quá muộn để phàn nàn rồi. Vài người nhớ ra rằng vào thời La Mã, đây từng là Đấu Trường La Mã, và cùng đồng ý vào thời khắc này, đây chính là đấu trường tráng lệ nhất trong vài năm trở lại dây, ngoại trừ việc “đâu trường” La Mã thời xưa chủ yếu là đua xe ngựa

Mọi người trong thế giới truyền hình tận hưởng niềm vui ở Rome. Đội truyền thông tờ Today và Good Morning America một lần nữa lại không phải dậy sớm hơn mấy mấy đứa trẻ bán báo, như họ vẫn làm ở Mỹ, mà bắt đầu phát bản tin sau bữa trưa -!!!- và sau khi kết thúc chương trình vẫn còn thời gian mua sắm sau giờ làm việc buổi chiều, rồi ăn tối trong nhà hàng ngon ở Rome. Mấy người đi tiền trạm của họ đã thu thập thông tin về các địa điểm tham quan ở địa phương, chẳng hạn như Đấu trường La Mã (Colosseum) – tên chính xác phải là Flavian Amphitheater, một căn phòng bí mật được khám phá ra sau này – nơi người ta xem các trò chơi để giải phóng các cảm xúc điên cuồng, giống như tại giải NFL nhưng thay thế bằng cách chơi kiểu La Mã: Thực chiến, chiến đấu đến chết, người đấu với người, người đấu với thú, thú đấu với người cơ đốc giáo và nhiều dạng đấu nhau khác. Nhưng điểm tiêu biểu nhất trong chuyến đi đến Rome là Diễn Đàn La Mã (Forum). Đây là tàn tích của trung tâm thành phố La Mã cổ đại, nơi Cicero và Scipio đã đến, nói chuyện và gặp gỡ những người ủng hộ cũng như kẻ thù, nơi đã được các du khách ghé thăm trong hàng thế kỷ qua. Rome bất tử, mẹ của một đế chế rộng lớn, giờ đóng một vai trò khác trên sân khấu chính trị thế giới. Trung tâm của Rome là tòa thánh Vaticcan, đường kính chỉ vài mẫu anh, thực thế, nhưng lại là một quốc gia riêng biệt có chủ quyền

“Giáo Hoàng có bao nhiêu đội quân?” một phóng vine truyền hình đã trích lời của Stalin, rồi sau đó lan man một bài dài về các giá trị của nhà thờ đã tồn tại lâu hơn cả chủ nghĩa Marx-Lenin, đợi được đến mức Liên Xô quyết định lập quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh. Vremya cũng có chương trình tin tức buổi tối của riêng mình, đứng cách trạm phát sóng của mình chưa đầy 50 yard

Báo chí cũng dành sự chú ý cho hai tôn giáo khác cùng tham gia các cuộc đàm phán hòa bình. Tại lễ đón các đại biểu, Giáo Hoàng nhắc lại một sự kiện xảy ra trong những năm đầu tiên hình thành Đạo Hồi: Đức Tổng Giám Mục công giáo La Mã đã gửi một đoàn đến Ả Rập, thực ra họ chỉ có nhiệm vụ thu thập thông tin xem Mohammed định làm gì. Sau một cuộc gặp đầu tiên thân mật, vị giám mục cao cấp hỏi ông và các đồng đạo có thể tổ chức lễ Mass ở đâu. Mohammed đã ngay lập tức đề nghị sử dụng nhà thờ hồi giáo nơi họ đang đứng. Dù sao thì, như Vị Tiên Tri đã nói, đây không phải là ngôi nhà của Đức Chúa Trời hay sao? Đức Giáo Hoàng cũng thể hiện phép lịch sự tương tự với người Israel. Khi Đức Giáo Hoàng đón tiếp riêng hai tôn giáo lớn, một số giáo sỹ bảo thủ tỏ ra không hài lòng, nhưng Đức Giáo Hoàng đã có bài phát biểu bằng ba thứ tiếng, điều này khiến sự không vui nhanh chóng tan biến

“Tất cả chúng ta đều biết rằng Chúa có những tên gọi khác nhau trong các tôn giáo tương ứng của chúng ta, nhưng Chúa là một và giống nhau đối với tất cả mọi người. Chúng ta hãy khắc ghi thành phố này nhân danh Chúa để tiếp đãi những du khách thân thiện. Chúng ta có rất nhiều niềm tin giống nhau, cùng chung niềm tin vào một Đức Chúa Trời nhân từ và là tình huynh đệ, tin chắc vào sự tốt lành vốn có của bản chất con người, tin chắc vào giá trị tối cao của lòng trung thành, đồng thời tin rằng lòng trung thành với Đức Chúa Trời phải được thể hiện bằng lòng nhân từ và tình anh em. Đối với những người anh em từ những vùng đất xa xôi, chúng tôi gửi lời chào đến các bạn và chúng tôi dâng lời cầu nguyện rằng đức tin của các bạn sẽ tìm thấy con đường dẫn đến công lý và hòa bình của Đức Chúa Trời, và sự trung thành của bạn với Đức Chúa Trời sẽ hướng dẫn chúng tôi đến mục tiêu của mình”

“Wow” một người phụ trách chương trình thời sự buổi sáng sau khi khi tắt micro đã nhận xét “Tôi bắt đầu tin rằng gánh xiếc này không phải để mua vui”

Nhưng tất nhiên, việc đưa tin không chỉ dừng ở đó. Để dư luận công bằng, cân bằng giữa các bên, khuấy động các cuộc tranh luận, hiểu biết đúng đắn về các sự kiện và bán quảng cáo, nội dung của chương trình truyền hình bao gồm các bài phát biểu của người đứng đầu các nhóm bán quân sự Do Thái, ông nặng lời nhắc lại chuyện Ferdinand và Isabella đẩy người Do Thái ra khỏi Iberia, những thế kỷ đen tối dưới sự cai trị của Sa hoàng, và tất nhiên là chính sách diệt chủng của Hitler – mà ông ta cũng nhấn mạnh thêm do sự thống nhất của nước Đức – và kết luận rằng nếu người Do Thái tin vào bất kỳ ai khác ngoài một vũ khí mạnh mẽ trong chính tay họ, thì đó là đồ ngu. Từ Qum, nhà lãnh đạo Iran, Ayatolla Daryaei, vốn chống Mỹ từ lâu rồi và phản đối tất cả những gì Mỹ làm, thì đăng đàn chửi tất cả bọn vô đạo, rủa mọi người nên xuống địa ngục, nhưng do dịch kém, khó hiểu với khán giả Mỹ nên bài phát biểu hào nhoáng của ông ta bị cắt bỏ rất nhiều. Tác giả tự phong cuốn “charismatic Christian/ Người Cơ Đốc lôi cuốn”  đến từ miền Nam nước Mỹ được phát sóng nhiều nhất. Đầu tiên, ông ta tố cáo Công Giáo La Mã là kẻ Chống Chúa tinh túy, ông ta nhắc lại tuyên bố của chính mình rằng Chúa thậm chí không nghe lời nguyện cầu của người Do Thái, chứ đừng nói đến đám Hồi Giáo dị giáo, ông ta coi đám hậu duệ Mohammed là một sự xúc phạm

Nhưng bằng cách nào đó, mấy kẻ xúi giục này bị phớt lờ- chính xác hơn thì quan điểm của họ bị bỏ qua. Các đài truyền hình nhận được hàng ngàn cuộc gọi giận dữ phản đối rằng những kẻ cố chấp này không được phép chiếm thời lượng tin tức. Tất nhiên, các nhà đài rất hài lòng. Điều đó có nghĩa rằng mọi người có theo dõi chương trình và       lần tới sẽ tiếp tục theo dõi. Vị tác giả hoang tưởng người Mỹ ngay lập tức nhận ra quyên góp tiền giảm xuống. B’nai B’rith lên truyền hình tổ các giáo sĩ Do Thái rời bỏ chức tư tế. Lãnh đạo của Liên đoàn các quốc gia Hồi giáo, bản thân là một giáo sĩ nổi tiếng, đã tố cáo các lãnh tụ Hồi giáo cực đoan là một kẻ vô đạo và dám bất chấp chỉ dẫn của Nhà tiên tri. Các đài truyền hình phát đi tất cả các bình luận trái chiều, coi như là một sự cân bằng, xoa dịu một số người xem và đồng thời lại làm một số người khác tức giận

Trong vòng 1 ngày, một bài đăng trên tờ báo đặc biệt chỉ ra rằng do cấu trúc hình tròn của Quảng trường Thánh Peter, hàng ngàn phóng viên nước ngoài tham gia hội nghị đã bắt đầu thích gọi hội nghị hòa bình này là Cúp Hòa Bình. Những người tinh ý hơn nhận ra rằng, điều này chứng tỏ rằng các nhà báo phải chịu rất nhiều căng thẳng vì họ không thể tìm thấy bất cứ điều gì thực sự cần thiết để đưa tin. An ninh hội nghị rất hoàn hảo. Những người tham dự bằng máy bay quân sự thông qua sân bay quân sự. Phóng viên và nhiếp ảnh gia sử dụng ống kính tele chụp ảnh xa hết mức có thể và hầu hết các ảnh chụp người đến dự là vào ban đêm. Mặc dù Vệ binh Thụy Sĩ bảo vệ Tòa thánh Vatican vẫn mặc áo liền quần thời Phục hưng, nhưng họ cũng được trang bị đầy đủ vũ khí, một con ruồi cũng không lọt và vô cùng cảnh giác trước bất kỳ điều gì xảy ra – Bộ trưởng Quốc Phòng Thụy Sỹ kín đáo bước qua một cánh cửa nhỏ – không ai để ý đến ông

Thế giới đã mệt mỏi với những xung đột, và sự cải thiện trong quan hệ giữa phương Đông và phương Tây trong những năm gần đây đã nhen nhóm hy vọng trong lòng người dân. Các nhà bình luận tin tức cảnh báo công chúng rằng cuộc họp hòa bình này có thể là cuộc tranh chấp khó giải quyết nhất trong những năm gần đây, nhưng mọi người trên khắp thế giới đang cầu nguyện, bằng hàng trăm ngôn ngữ, trong hàng triệu nhà thờ để chấm dứt cuộc tranh chấp cuối cùng và nguy hiểm nhất hành tinh. Để ghi nhận, các đài truyền hình cũng thông báo tất cả chuyện đó

Các nhà ngoại giao chuyên nghiệp cảm thấy áp lực quá lớn mà họ chưa từng thấy, mặc dù một số người trong số họ chắc chắn là những người hoài nghi nhất về tôn giáo, chưa bao giờ đến nhà thờ từ khi còn nhỏ. Các nhà báo theo dõi các sự kiện tại Vatican viết những bài tường thuật sơ sài từ các nhân viên trông coi của Vatican đi bộ trong quảng trường trung tâm của thánh đường Thánh Peter vào đêm muộn, đề cập đến những người đi dạo dọc theo ban công bên ngoài vào những đêm trời trong, và đề cập đến một số người tham dự đã có một cuộc nói chuyện dài với Giáo hoàng…. nhưng không có tin tức gì thêm. Đám phóng viên đài truyền hình được trả lương cao nhìn chằm chằm vào nhau trong sự im lặng chết chóc. Các nhà báo thuộc báo in ráo riết tìm kiếm, thậm chí ăn trộm bất kỳ ý tưởng nào có thể tìm được chỉ để viết một câu chuyện. Kể từ khi cuộc đàm phán marathon tại Trai David dưới thời Carter, chưa có cuộc đàm phán lớn nào thông tin lại giữ bí mật như vậy. Và thế giới nín thở chờ đợi kết quả

Ngươi đàn ông  già đội một chiếc mũ thổ nhĩ kỳ màu đỏ được trang trí bằng màu trắng. Không có nhiều người kiên quyết mặc trang phục đặc trưng này, nhưng ông già vẫn tuân theo đặc điểm của tổ tiên của mình. Cuộc sống của Druse rất khó khăn, và niềm an ủi duy nhất là niềm tin tôn giáo, và ông đã dành sáu mươi sáu năm cuộc đời để tìm kiếm niềm an ủi đó.

Druse là thành viên của một giáo phái tôn giáo ở Trung Đông kết hợp nhiều khía cạnh khác nhau của Hồi giáo, Công Giáo và Do Thái Giáo, được thành lập vào thế kỷ thứ mười một bởi một giáo chủ Ai Cập Al-hakim bi’amrillahi, người tự xưng là hóa thân của Chúa. Hầu hết các thành viên của giáo phái này sống ở Lebanon, Syria và Israel, chiếm một vùng lãnh thổ nhỏ và đầy biến động trong xã hội của ba nước. Không giống như những người Israel theo đạo hồi, họ được phép phục vụ trong lực lượng vũ trang của nhà nước Do Thái, một thực tế khiến Druse quốc tịch Syria không được chính phủ của họ tin tưởng, nhưng vài người Druse vẫn leo lên vị trí chỉ huy trong quân đội Syria, người ta nhớ rõ rằng một đại tá quân đội chỉ huy một trung đoàn đã bị quân đội hành quyết sau chiến tranh năm 1973. Nguyên nhân là do ông bị đánh bật ra ra các tòa nhà,  pháo đài chiến lược của kẻ thù. Mặc dù theo quan điểm quân sự, ông đã anh dũng và quyết đoán trong trận chiến, và may mắn thay, ông đã rút lui giữ lại được tướng giỏi một cách trật tự, nhưng việc mất pháo đài chiến lược đó đã khiến Syria phải trả giá bằng hai lữ đoàn xe tăng, vì vậy vị đại tá đã cuối cùng đã chết … ông thực sự không may mắn, có lẽ vì ông là một Druse.

Người nông dân già không biết tất cả chi tiết đằng sau câu chuyện đó, nhưng ông biết kết cuộc. Kể từ đó người hồi giáo ở Syria đã giết thêm một Druse khác, rồi lại thêm một người khác. Vì vậy ông không tin bất kỳ ai bên quân đội hay chính phủ Syria. Nhưng cũng không có nghĩa rằng ông có cảm tình nhỏ nhất với người Israel. Vào năm 1975, một khẩu pháo nòng dài của Israel cỡ nòng 175mm đã nã vào quê hương ông, chỉ vì tìm kiếm kho đạn của Syria, những mảnh vỡ từ một quả đạn lạc khiến người vợ đã gắn bó với ông suốt bốn mươi năm bị thương nặng, vì vậy cuộc sống vốn đã khốn khó của ông càng thêm phần cô đơn. Những bi kịch như vậy là một thực tế thường xuyên xảy ra trong lịch sử Israel, và đối với người nông dân già có tâm hồn chất phác này, đó là một trải nghiệm bi thảm chết chóc tức thì trong đời. Số phận buộc ông phải sống giữa hai kẻ thù, cả hai đều coi ông như một mối phiền toái không cần thiết. Ông không phải kiểu người đòi hỏi nhiều thứ từ cuộc sống, chỉ có một mảnh đất canh tác nhỏ, vài con dê, con cừu và một ngôi nhà đơn sơ bằng đá vốn được ông mang về từ cánh đồng đầy đá của mình. Tất cả những gì ông muốn là được sống. Ông từng nghĩ không nên đòi hỏi quá nhiều, nhưng sáu mươi sáu năm sóng gió đã chứng minh ông sai hết lần này đến lần khác. Ông đã cầu nguyện Chúa thương xót, cho công lý, cho một chút an ủi – ông biết rằng sự giàu có sẽ không bao giờ rơi vào tay mình – để số phận của ông và vợ có thể dễ dàng hơn một chút. Tuy nhiên, những lời cầu nguyện như vậy không bao giờ được đáp ứng. Trong 5 đứa con của vợ chồng ông, chỉ có một đứa duy nhất sống sót được đến khi trưởng thành và đứa con trai duy nhất đó được tuyển dụng vào quân đội Syria trong năm chiến tranh 1973. Sự may mắn của cậu con trai này nằm ngoài sức tưởng tượng của cả gia đình: khi cậu đang điều khiển xe vận tải có người lái BTR-60 thì bị xe tăng của Israel tông vào, cậu bị văng khỏi nóc xe và chỉ bị hỏng một mắt và một tay duy nhất. Sống sót, nhưng bị mù một mắt, anh cưới vợ và sinh cho cha vài đứa cháu, và sống một cuộc sống khiêm tốn thành công với tư cách là một thương gia và người cho vay tiền. Đó cũng không phải là một ơn trời, nhưng so với những trải nghiệm khác trong cuộc đời ông, đó dường như là điều may mắn duy nhất mà người nông dân già biết.

Người nông dân già trồng rau và chăn nuôi gia súc trên cánh đồng hẹp, đầy đá gần biên giới giữa Syria và Lebanon. Ông không kiên trì, không thực sự chịu đựng, thậm chí từ sống sót cũng là là cường điệu cho sự tồn tại của ông. Cuộc đời của người nông dân không gì khác là một thói quen không thể không đổi, một chuỗi ngày chán nản vô tận. ất cứ khi nào đàn cừu con sinh vào mùa xuân, ông đều yên lặng cậu nguyện ông sẽ không sống đến lúc chúng bị giết thịt- nhưng ông cũng không muốn những con vật ngoan ngoãn và ngu ngốc đó sống lâu hơn mình

Một mình minh khác.  Lão nông chưa bao giờ có đồng hồ báo thức, mà cũng không cần.  khi mặt trời ló rạng, tiếng kêu của mấy con cừu và dê cũng giống như tiếng chuông kêu leng keng. Mở mắt ra ông lại thấy chân tay đau nhức. Ông nằm dài trên giường và từ từ đứng dậy. Trong vài phút, ông đã rửa mặt và cạo sạch những sợi râu bạc phơ, ăn xong chiếc bánh mì cũ và uống hết ly cà phê ngọt ngào, êm dịu, rồi bắt đầu một ngày làm việc. Buổi sáng, trước khi cái nóng như thiêu như đốt xuất hiện, lão nông miệt mài làm việc trong vườn. Ông có một khu vườn lớn, và bán những sản phẩm dư thừa trong vườn tại chợ địa phương lấy tiền mặt để mua một vài thứ mà ông coi là xa xỉ. Ngay cả việc làm vườn giờ cũng không dễ dàng. Ông phải chịu đựng rất nhiều vì chân tay già nưa bị bệnh khớp và khiến cuộc sống của ông khó khăn hơn là việc phải dỗ dành gia súc đi và không cho chúng ăn chồi non của cây trồng. Nhưng cừu và dê vẫn có thể kiếm tiền, nếu không có số tiền đó thì ông hẳn đã chết đói từ lâu. Sự thật của vấn đề là ông có thể ăn nhiều hơn từ những giọt mồ hôi trên đôi mày nhăn nheo của mình, và ông có thể ăn được nhiều hơn nếu không quá cô đơn. Như bây giờ, vì sống cô đơn mà ông ăn uống rất đạm bạc. Ngay cả các công cụ làm vườn cũng quá cũ kỹ. Trước khi mặt trời mọc, ông ra đồng để dọn cỏ dại mọc trên đám rau anh đang trồng hàng ngày. Giá như ai đó có thể huấn luyện một con dê để làm công việc này, ông nghĩ, lặp lại những lời như cha và ông cố. Một con dê sẽ ăn cỏ nhưng không ăn cây cối khác, sẽ thật đáng kinh ngạc. Nhưng một con dê thì cũng chẳng thông minh hơn cục đất, trừ khi nó làm trò nghịch ngợm. Ông dùng cuốc bới cỏ và bận rộn suốt 3-4 giờ. Việc làm cỏ bắt đầu ở cùng một góc, với tốc độ ổn định không có dấu hiệu của tuổi tác hay già cỗi, dọn sạch cỏ dại từng luống rau

Cờ lắc. Đó là cái gì? Người nông dân đứng thẳng người lau mồ hôi. Công việc diễn ra được nửa buổi sáng, ông bắt đầu mong được nghỉ để xem đàn cừu….Không phải là một viên đá. Ông dùng dụng cụ đào đất xung quanh- ồ, chính là thứ đó

Mọi người thường hay hoang mang trước việc này. Nông dân trên khắp thế giới thường đùa về những tảng đá mọc trên cánh đồng của họ kể từ khi bắt đầu làm nông. Có rất nhiều hàng rào đá dọc theo các con đường ở New England để họ có thể chứng thực sự tồn tại của những bí ẩn siêu nhiên kiểu thế này. Nước chính là nguồn cơn của hiện tượng đó. Nước cạn đi, và mưa rơi trên bề mặt và ngấm vào đất. Nước đóng băng vào mùa đông và tan chảy khi nó chuyển từ thể lỏng sang thể rắn. Sự giãn nở này đẩy viên đá lên phía mặt đất thay vì đẩy nó xuống dưới vì nó dễ đẩy lên hơn nhiều. Hành động đó di chuyển đá trong đất lên bề mặt và do đó, các cánh đồng mọc đá, một điều đặc biệt đúng ở vùng Golan của Syria, vốn rất lạnh vào mùa đông và dễ bị băng giá, vì vậy hiện tượng này đặc biệt nổi bật.

Nhưng thứ này không phải là đá, nó là kim loại, ông thấy nó có màu nâu cát khi đẩy lớp đất ra. Ồ. Phải, đó chinh là ngày hôm đó. Cùng ngày khi con trai ông…..

Mình nên làm gì với cái thứ chết tiệt này đây! Người nông dân tự hỏi. Tất nhiên đó là một quả bom. Ông không ngu đến mức không nhận ra đây là cái gì. Tất nhiên, việc thế quái nào nó ở đây vẫn là một bí ẩn. Ông chưa bao giờ nhìn thấy bất kỳ máy bay Syria hay Israel thả bom ở bất kỳ đâu cạnh trang trại của ông, nhưng điều đó cũng không quan trọng. Không thể phủ nhận rằng nó đã ở đây. Dưới con mắt của người nông dân, nó vốn là một hòn đá, nhưng là một khối đá nâu khổng lồ, quá lớn để đào lên, không thể vận chuyển đến bờ ruộng, nhất định sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của hai hàng cà rốt. Ông không sợ gì thứ này. Dù sao thì nó cũng không nổ, tức là đã thất bại. Một quả bom thông thường sẽ phát nổ khi nó chạm đất sau khi rơi khỏi máy bay, còn quả này chỉ đào một cái hố nhỏ cho riêng nó vốn được ông lấp ngay trong ngày hôm sau, khi ông vẫn buồn vì con trai bị thương và không để ý đến quả bom dưới hố

Tại sao nó không nằm luôn dưới đất 2m nơi nó thuộc về? Ông tự hỏi. Nhưng cuộc sống của ông đã bao giờ bình yên đâu, phải không? Không, bất cứ thứ gì có thể tổn thương hay gây hại cho ông đều xảy ra rồi nhỉ? Người nông dân già không hiểu tại sao ông trời lại tàn nhẫn với mình như vậy. Chẳng phải ông vẫn cầu nguyện, tuân theo những quy tắc sống nghiêm ngặt của Druse sao? Ông có yêu cầu gì đâu? Ông đang phải trả giá cho tội lỗi của ai đây?

Chà. Thật vô ích khi đặt những câu hỏi thế này vào lúc trời bắt đầu nóng. Lúc này đây, ông còn có việc phải làm. Ông tiêp tục dọn cỏ, tuốt một vài que củi từ đầu đạn nhô ra của quả bom, và sau đó làm việc dọc theo sườn ruộng. Một hai ngày nữa, con trai sẽ đến gặp ông, ông già sẽ được nhìn thấy cháu mình vui vẻ, đó là thú vui mà ông có thể hưởng trong đời mà không cần bất cứ điều kiện nào. Ông nên hỏi ý kiến ​​của con trai mình. Con trai ông là một người lính, và nó biết cách giải quyết.

Đây là tuần mà mọi nhân viên chính phủ đều ghét. Có điều gì đó quan trọng đang xảy ra ở một đất nước có múi giờ khác. Khác biệt 6 giờ và có vẻ thật lạ khi Jack vẫn cảm thấy bị ảnh hưởng bởi jetlag ngay cả khi anh chẳng đi đâu

“Vậy, bên đó thế nào rồi?” Clark hỏi từ ghế tài xế

“cmn tốt” Jack lật nhanh các tập tài liệu “Hôm qua Saudi và Israel thực tế đã đồng ý vài điều. Cả hai bên đều muốn thay đổi gì đó và thực tế đề xuất thay đổi giống nhau” Jack ngoác miệng cười. Đây chắc chắn chỉ là tình cờ, chứ bên này biết bên kia đê xuất thì chắc chắn sẽ thay đổi lập trường của mình liền

“Điều này chắc chắn sẽ có vài người xấu hổ chết mất!” Clark cưởi to, cũng nghĩ y như Sếp mình. Trời vẫn còn tối và một trong những lợi ích khi ra ngoài đường lúc sáng sớm là đường vắng “Cậu thích Saudi, phải không?”

“Anh từng ở đó chưa?”

“Ý cậu là ngoài thời gian chiên tranh? Nhiều lần rồi, Jack. Tôi xâm nhập vào Iran từ đó vào năm 79 và 80, ở Saudi trong thời gian dài, còn học cả tiếng địa phương luôn”

“Anh nghĩ sao về nơi đó?” Jack hỏi

“Tôi thích ở đó. Có chơi thân với một gá, một thiếu tá quân đội – thực ra cũng là một điệp viên như tôi. Không có quá nhiều kinh nghiệm hoạt động hiện trường nhưng có rất nhiều kiến thức. Anh ấy đủ thông minh để biết rằng mình phải học nhiều và luôn lắng nghe khi tôi kể chuyện. Có mời tôi đến nhà anh ấy- 3 lần. Anh có 2 cậu con trai, mấy đứa rất dễ thương. Giờ thì một đứa đang là phi công chiến đấu. Dù vậy thì cũng thấy cách họ đối xử với phụ nữ rất lạ. Sandy sẽ không bao giờ ủng hộ điều đó đâu” Clark tạm dừng nói chuyện khi chuyển làn xe để vượt qua một chiếc xe tải “Nói một cách chuyên nghiệp, họ rất có tinh thần hợp tác. Dù sao thì từ những gì tôi thấy thì đó cũng là kiểu tôi thích. Họ khác biệt với chúng ta, nhưng biết sao được? Thế giới này không chỉ có mỗi người Mỹ”

“Israel thì sao?” Jack hỏi khi đóng tập hồ sơ

“Tôi có làm việc với họ một hoặc hai lần – chà, có thể nữa, tiến sỹ, chủ yếu là ở Lebanon. Mấy gã điệp viên thực sự là dân chuyên nghiệp đấy, mấy tên khốn kiêu ngạo nhưng cái gã tôi gặp còn tự phụ hơn thế nữa. Tâm lý rất vững, giống như – dạng tâm lý chỉ có chúng ta và họ, cậu hiểu không? Cũng dễ hiểu thôi” Clark quay sang “Đúng là khá mệt đấy nhỉ?”

“Ý anh là gì?”

“Không dễ khiến họ cắt đứt tâm lý đó”

“Đúng thế. Tôi ước họ tỉnh dậy với thế giới hiện tại” Ryan rên rỉ

“Tiến sỹ, cậu phải hiểu. Tất cả người Do Thái đều có suy nghĩ giống người lính trên tuyến đầu. Cậu hy vọng gì chứ?  Chúa ơi, người an hem, cả đất nước họ giống như khu vực săn bắn tự do của mấy nước khác. Họ có suy nghĩ giống với chúng ta khi giết người đến đỏ cả mắt ở VN. Có hai loại người – người của chúng ta hoặc kẻ khác” John Clark lắc đầu “Cậu biết đã bao lần tôi cố gắng giải thích cho đám trẻ ở Trang Trại chứ? Tư duy sinh tồn cơ bản. Người Israel nghĩ theo cách này vì họ không thể nghĩ theo cách khác được. Nazis (Đức Quốc Xã) đã giết hàng triệu người Do Thái và chúng ta không giúp gì cả – chà, được rồi, có lẽ chúng ta đã không thể làm gì vì hoàn cảnh không cho phép lúc đó. Nếu xảy ra chuyện đó lần nữa, tôi tự hỏi liệu chúng ta có nên nghiêm túc đá đít Hitler để tất cả chuyện này không xảy ra không”

“Dù sao, tôi đồng ý với cậu rằng họ phải mở mắt ra nhìn toàn cảnh, nhưng cậu cũng cần nhớ rằng chúng ta đang đòi hỏi cmn quá nhiều”

“Đáng lẽ anh nên cùng tôi đến đó khi gặp Avi” Jack ngáp dài

“Tướng Ben Jakob? Đó hẳn là một tên khốn nghiêm túc và cứng rắn. Quân đội rất kính trọng ông ta. Điều này nói lên rất nhiều điều. Rất tiếc đã không ở đó, Sếp, nhưng tôi cần 2 tuần câu cá đó” Ngay cả khỏe như trâu cũng cần phải có kỳ nghỉ

“Tôi chấp thuận, Mr. Clark”

“Này, tôi sẽ xuống Quantico chiều nay để đánh giá cuộc kiểm tra súng. Nếu cậu không phiền tôi nói nhiều thì tôi nghĩ cậu nên được giải tỏa một chút, người an hem. Sao không xuống đó 1 chút đi? Tôi có một khẩu Beretta nhỏ xinh rất hợp với cậu đấy”

Jack nghĩ về chuyện đó một lúc. Nghe hay đấy. Thực tế, nghe thật hấp dẫn. Nhưng..Nhưng anh có quá nhiều việc cần phải làm

“Không có thời gian, John”

“Vâng vâng, sir. Cậu không tập thể dục, cậu uống cmn quá nhiều và cậu trông như ma ấy, tiến sỹ Ryan. Đó là ý kiến chuyên môn của tôi”

Về những gì Cathy đã nói với mình đêm qua, nhưng Clark không biết là nó tệ đến thế. Jack chăm chăm nhìn ra những ánh đèn ngoài cửa sổ phát ra từ những ngôi nhà nơi các nhân viên chính phủ vừa thức dậy

“anh nói đúng. Tôi phải làm gì đó để cải thiện, nhưng hôm nay tôi lại không có thời gian”

“Thế bữa trưa ngày mai chúng ta có thể chạy 1 chút không?”

“Phải ăn trưa với các trưởng phòng” Jack lảng tránh. Clark câm mồm và tập trung lái xe. Khi nào thì cái gã khốn đáng thương tội nghiệp này mới học được bài học đây? Cậu ta thông minh nhưng đã hoàn toàn bị công việc nuốt chửng

Tổng thống thức dậy, thấy một đám tóc vàng rải rác trên ngực, và một cánh tay phụ nữ gầy guộc gác qua người. Ông ta từng thức dậy trong một tình huống tồi tệ hơn bây giờ. Rồi ông ta tự hỏi bản thân tại sao phải đợi lâu như vậy, khi rõ ràng đã có người phụ nữ này trong tầm tay- Chúa ơi, đã nhiều năm rồi. Cô ta 40 tuổi nhưng vẫn còn duyên dáng và xinh đẹp, khiến bất kỳ người đàn ông nào thèm thuồng và tổng thống có tất cả những gì mà đàn ông cần. Vợ ông ta, Marian, đã trải qua nhiều năm chiến đấu với căn bệnh dai dẳng, căn bệnh đa xơ cứng, nhưng cuối cùng nó cũng đã cướp đi sinh mạng của bà. Trong trí nhớ của Fowler, bà là người tràn đầy năng lượng, quyến rũ, thông minh, giàu trí tưởng tượng đến mức đã trở thành điểm sáng trong cuộc đời của ông ta, và trước khi bà qua đời, tất cả những thứ xinh đẹp này đã hoàn toàn tan vỡ. Những tính cách đặc biệt của Fowler phần lớn là do bà  tạo ra và cái chết của bà đã kéo theo sự lụi tàn của chúng. Ông ta biết, đó là cơ chế tự bảo vệ. Tất cả những tháng dài vô tận đó. Ông ta đã phải mạnh mẽ vì bà, mạnh mẽ để bổ sung năng lượng bền bỉ cho bà, và nếu không có sự hỗ trợ đó, bà có thể sẽ còn chết sớm hơn. Tuy nhiên, kết quả của việc đó đã biến Bob Fowler thành một người máy. Chỉ còn lại bản lĩnh đàn ông, sức mạnh và lòng dũng cảm trong ông ta, và lòng tốt của ông ta giảm dần khi cuộc đời của Marian cạn kiệt. Thâm chí Fowler còn thầm công nhận rằng, hậu quả có lẽ còn hơn thế nữa.

Nghịch lý thay, nó lại khiến ông ta trở thành một chính trị gia giỏi hơn. Trong nhiệm kỳ thống đốc và trong chiến dịch tranh cử tổng thống của mình, ông ta đã thể hiện sự điềm tĩnh, công bằng và hợp lý, những phẩm chất mà các công dân bỏ phiếu mong đợi, vượt xa sự mong đợi của các chuyên gia và những người được gọi là nhà bình luận chính trị vốn tự cho mình là biết rất nhiều nhưng chẳng mấy khi tìm hiểu. Sự ngu ngốc trong chiến dịch tranh cử của tổng thống tiền nhiệm cũng giúp ích rất nhiều, nhưng Fowler nghĩ rằng dù thế nào đi chăng nữa ông ta cũng sẽ thắng thôi.

Chiến thắng, vào tháng 11 cách 2 tháng trước, đã khiến ông ta trở thành Tổng thống đầu tiên từ – Cleveland, phải không nhỉ? –mà không có vợ. Và cũng không có quá nhiều đời tư để khai thác. Các cây bút bình luận ông ta là Tổng Thống Kỹ Trị, rằng sự nghiệp luật sư ban đầu của ông ta không đóng vai trò quá nhiều với truyền thông. Một khi bọn họ đã có nhận định đơn giản đó và tất cả đều đồng ý thì nó chính là sự thật, bất kể thực tế có đúng thế hay không. Nhận dạng của ông ta là Người Băng

Nếu Marian có thể sống để nhìn thấy thành quả ngày hôm nay, bà sẽ biết ông ta không phải Người Băng. Một số người vẫn còn nhớ Bob Fowler đã từng là luật sư bào chữa trong các phiên tòa nảy lửa, một nhà bảo vệ nhân quyền, một người đấu tranh chống lại tội phạm có tổ chức. Ông ta là người đã dọn sạch Cleveland. Tất nhiên nó không kéo dài, và tất cả những chiến thắng này cũng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn như những thành công chính trị. Ông ta nhớ ngày sinh của mỗi đứa con, nhớ niềm tự hào khi được làm cho, tình yêu của vợ dành cho mình và những đứa trẻ, những bữa tối yên tĩnh trong những nhà hàng thắp nến. Ông ta nhớ đã gặp Marian tại một trận bóng đá ở trường trung học, một trò chơi mà bà luôn yêu thích như Fowler. Cuộc hôn nhân 30 năm của họ bắt đầu từ khi cả hai còn học đại học và 3 năm cuối như cơn ác mộng không hồi kết. Khi bà ngoài ba mươi tuổi, các triệu chứng đã xuất hiện, đến bốn mươi tuổi, tình trạng xấu đi rõ rệt, cuối cùng, cái chết muộn màng cuối cùng đã cướp đi sinh mạng của bà, còn Fowler thì kiệt sức đến mức khóc không ra nước mắt. Và rồi những năm tháng sau đó không gì khác ngoài sự cô đơn. Chà, có lẽ giai đoạn đó đã qua

Cảm ơn Chúa về Sở mật vụ, Fowler nghĩ. Trong dinh thự của thống đốc ở Columbus thì chuyện tình này có lẽ đã được lan truyền từ lâu. Nhưng không phải ở đây. Bên ngoài cửa là 2 đặc vụ có vũ trang canh gác, dưới sảnh là một sỹ quan quân đội với chiếc cặp da có tên Football, một cái tên là tổng thống không quá hài lòng nhưng đây là thứ mà ngay cả ông ta cũng không có quyền thay đổi. Dù sao thì viên cố vấn an ninh quốc gia của ông ta có thể ngủ chung giường với ông ta mà các nhân viên  Nhà trắng vẫn giữ bí mật. Ông ta nghĩ, đó thật là điều tuyệt vời

Fowler nhìn xuống người tình. Elizabeth có vẻ đẹp không thể phủ nhận. Do thói quen làm việc, ít tiếp xúc với ánh nắng nên làn da của cô ta có chút tái nhợt, nhưng ông ta lại thích phụ nữ xanh xao, nhợt nhạt. Chăn ở một bên bởi vì tối hôm qua lật tới lật lui, ông ta có thể nhìn thấy tấm lưng trần lộ ra của cô ta, làn da vô cùng mỏng manh và mịn màng. Fowler cảm thấy cô ta đang thở trên lồng ngực, và cảm giác cánh tay trái của cô ta đang quấn quanh mình. Ông ta dùng một tay vuốt ve lưng, đổi lại là một tiếng ngâm nga âu yếm, và cái ôm trong giấc mơ của cô ta như tiếp thêm một chút sức mạnh.

Có tiếng gõ cửa thận trọng. Tổng thống đẩy chăn ra và ho hắng. 5 giây sau, cửa mở ra, một đặc vụ tiến vào với khay cà phê và vài bản in tài liệu, rồi ra ngoài. Fowler biết rằng ông ta không thể tin ai trong bất kỳ nhân viên nhà trắng theo cách này, nhưng Sở Mật Vụ thực sự là Đội Cận Vệ phiên bản Mỹ. Đặc vụ không bao giờ thể hiện cảm xúc cá nhân trên mặt, ngoại trừ việc gật đầu chào buổi sáng với Ông Chủ/Boss. Sự tận tâm họ phục vụ ông ta gần như là một đặc quyền. Dù đều là những người đàn ông và phụ nữ được hưởng nền giáo dục tốt nhưng quan điểm của họ về tất cả mọi thứ đều đơn giản và thẳng thắn và Fowler biết đây là khoảng không trong thế giới của những người này. . Một người nào đó — thường là một người có kỹ năng — phải thực hiện các quyết định và mệnh lệnh của những người ở trên. Những đặc vụ mang súng này đã thề phải bảo vệ ông ta, thậm chí sẵn sàng lấy thân mình che chắn cho Tổng Thống khỏi nguy hiểm- một hành động gọi là “chặn đạn”- và Fowler ngạc nhiên thấy những người thông minh đã rèn luyện bản thân để sẵn sàng làm điều ngu ngốc đến thế. Nhưng đó lại là quyền lợi của ông ta. Và là lựa chọn của họ. Chà, thật buồn cười là không dễ gì có được dịch vụ hoàn hảo như vậy. Đó là sự thật, bởi vì để có được loại người hầu như vậy, trước tiên bạn phải là một tổng thống.

Fowler lấy cà phê bằng một tay và rót ra một cốc. Ông ta uống mà không cần đường với sữa. Sau khi uống ngụm đầu tiên, ông ta lấy điều khiển từ xa bật TV, phát trên CNN, và các tiêu đề — tin tức buổi chiều lúc hai giờ chiều — tất nhiên, là Rome.

“Mmmmm” Đầu Elizabeth cử động, tóc cô ta lướt trên người ông ta. Cô ta luôn thức dậy chậm hơn tổng thống. Fowler rà dọc sống lưng bằng một ngón tay, giành được cái ôm cuối cùng trước khi Elizabeth mở mắt. Đầu cô ta ngẩng mạnh lên

“Bob!”

“Sao?”

“Có ai đó vừa vào đây!” Cô ta chỉ vào khay với những tách cà phê trên đó, biết rằng Fowler vẫn chưa tự mình lấy cà phê.

“Muốn uống cà phê?”

“Bob!”

“Coi này, Elizabeth, những người ngoài cửa biết em đang ở đây. Em nghĩ chúng ta đang che dấu điều gì và che dấu khỏi ai? Chúa ơi, có lẽ họ còn có cả máy ghi âm trong này nữa” Ông ta chưa bao giờ nói chuyện này trước đây vì không chắc và cũng không hỏi về nó, nhưng đây cũng là suy luận logic thôi. Những kẻ cố chấp trong Sở Mật vụ sẽ không bao giờ cho phép các đặc vụ tin tưởng Elizabeth hay bất kỳ ai khác, chỉ tin tưởng một mình tổng thống. Vì vậy, nếu cô ta cố gắng ám sát tổng thống, họ phải biết về điều đó để các đặc vụ ngoài cửa có thể xông vào bằng súng và cứu con đại bàng khỏi người tình của ông ta. Có lẽ có máy ghi âm, có khi cả camera? Không, có lẽ không có camera, nhưng chắc chắn phải có máy ghi âm. Fowler thực sự thấy ý tưởng này rất thú vị, điều mà các phóng viên sẽ không bao giờ tin được. Cả Người Băng cũng thế

“Lạy chúa tôi!” Liz Elliot chưa bao giờ nghĩ đến điều đó. Cô ta ngồi dậy, bộ ngực đung đưa trước mặt quyến rũ ông ta, nhưng Fowler không phải là kiểu người thích làm tình vào sáng sớm. Buổi sáng là để làm việc

“Elizabeth, tôi là Tổng Thống” Fowler nói thẳng khi cô ta bò ra khỏi giường. Ý tưởng về một chiếc camera cũng đang nảy sinh trong đầu cô ta và cô ta nhanh chóng mặc bộ đồ ngủ vào. Fowler cảm thấy thích thú trước hành động ngớ ngẩn này “Cà phê nhé?” ông ta hỏi lại

Elizabeth Elliot gần như cười khúc khích. Cô ta ở đây, nằm trên giường của Tổng Thống, trần truồng khỏa thuân, với đám đặc vụ trang bị súng ống ngoài cửa. Nhưng Bob lại để ai đó vào phòng! Người đàn ông này thật không thể tin được. Ông ta thậm chí có quan tâm đến việc che người cho cô ta không? Cô ta có thể hỏi, nhưng rồi quyết định thôi, sợ rằng ông ta có thể thể hiện ra khiếu hài hước biến thái của mình mà khi ở mức tốt nhất cũng trở nên tàn nhẫn đáng sợ. Hơn nữa, làm sao cô ta có được người tình tốt như ông ta được? Lần đầu tiên- hẳn sau nhiều năm, nhưng ông ta rất kiên nhẫn, quá…thành kính. Quá dễ điều khiển. Elliot nhếch mép cười trong lòng. Cô ta có thể tác động ông ta làm những điều mình muốn, khi cô ta muốn thì cũng có thể làm điều ông ta thích và ông ta thích làm cho một người phụ nữ vui. Cô ta tự hỏi, tại sao? Có lẽ ông ta muốn được nhớ. Xét cho cùng, ông ta là một chính trị gia, và điều mà các chính trị gia muốn nhất là để lại một vài nét vẽ trong sử sách. Ồ, ông ta đã ghi được dấu ấn của mình trong lịch sử. Mọi tổng thống đều thế, thậm chí là Grant và Harding cũng được nhớ, và với những gì đang xảy ra…ngay cả trong phòng ngủ ông ta cũng không bỏ lỡ cơ hội đó, và vì vậy ông ta sẽ làm những người người đàn muốn và nếu người đàn bà đủ trí tuệ để đưa ra yêu cầu

“Bật to âm thanh lên” Liz nói. Fowler làm theo ngay lập tức và cô ta hài lòng thì thấy ông ta ngoan ngoãn như vậy. Thật háo hức để làm hài lòng một người phụ nữ, dù chỉ là một điều nhỏ nhặt. Vậy thế quái nào ông ta lại để người hầu đưa cà phê vào! Có gì đó ở người đàn ông này mà cô ta vẫn không hiểu. Giờ ông ta đang đọc qua các bức điện gửi từ Rome

“Em yêu, đã đến lúc làm việc. Anh hy vọng em đã thu dọn đồ đạc, Elizabeth”

“Ồ?”

“Đêm qua Ả Rập Xê-út và Israel đã đạt được đồng thuận về một vấn đề lớn…theo báo cáo của Brent- Chúa ơi, thật kỳ diệu! Ông ấy đã tách ra nói chuyện với từng bên và cả hai bên đều đưa ra điều kiện giống nhau….và trong vòng đàm phán tiếp theo, ông ta chỉ việc đơn giản nói rằng bên kia đã đồng ý điều kiện của nước ông…rồi xác nhận vào vòng đàm phán tiếp theo! Ha!” Fowler dùng mu bàn tay hất bức điện tín “Brent thực sự đã xong việc và cả anh chàng Ryan nữa. Anh ta thật khó chịu và kiêu kỳ nhưng ý tưởng của anh ta…”

“Coi nào, Bob! Đó hoàn toàn không phải ý tưởng của ta. Anh ta chỉ lặp lại những điều người khác nói trong suốt nhiều năm qua. Ý tưởng này mới với Arnie nhưng mối quan tâm của Arnie chỉ dừng lại ở cửa sổ Nhà Trắng. Vinh dự của Ryan chỉ là anh ta đã sắp xếp một buổi chiều hoàng hôn tuyệt đẹp cho anh thôi”

“Có thể” Tổng Thống vuốt đuôi. Ông ta nghĩ đề xuất ban đầu của vị DDCI con vượt xa hơn thế, nhưng điều đó không đáng để Elezabeth phải thất vọng bây giờ “Ryan đã hoàn thành rất tốt công việc ở Saudi, nhớ không?”

“Nếu anh ta giữ miệng thì nó còn hiệu quả hơn. Được thôi, anh ta đã đưa cho Saudi một báo cáo tốt. Đó không phải là thời điểm tuyệt vời cho chính sách đối ngoại của mỹ, phải không? Báo cáo là công việc của anh ta. Brent và Dennis mới là những người thực sự kiểm soát, chứ không phải Ryan”

“Tôi cũng không nghĩ thế. Có lẽ em nói đúng. Brent và Dennis mới là những người cuối cùng chịu trách nhiệm về hội nghị lần này…Brent nói còn 3 ngày nữa, có lẽ 4 ngày” Tổng thống đẩy các bức fax ra. Đã đến lúc đứng dậy và chuẩn bị cho ngày làm việc, nhưng trước đó ông ta đưa tay ra và vuốt ve thân hình trước mặt

“Dừng lại!” Liz cười khúc khích, cố làm ra vẻ nghịch ngợm. Tất nhiên, ông ta làm như đã nói. Để giảm nhẹ cảm giác bi từ chối, cô ta vươn người ra đón nhận 1 nụ hôn và được hôn, dù  cũng không ngon lắm  vì hơi thở vào buổi sáng mới thức dậy

“Có chuyện gì vậy?” 1 tài xế xe tải hỏi trước tòa nhà văn phòng bãi gỗ. Bốn chiếc xe kéo khổng lồ xếp hàng dài bên cạnh những thân cây bị đốn hạ chuẩn bị chuyển đến Nhật Bản “Lần trước cũng ở đây”

“Sẽ chuyển đến Nhật Bản” người điều phối nói, xem lại manifest của viên tài xế

“Vậy cái gì ở dây không chuyển đến Nhật à?”

“Có thứ đặc biệt. Họ đã trả tiền cho chúng ta để giữ những khúc gỗ nguyên vẹn, thuê xe kéo và mọi thứ. Tôi nghe bên vận chuyển nói rằng những khúc gỗ này sẽ được sử dụng để xây dựng nhà thờ hoặc đền cho những người sùng đạo, hay đại loại thế-  chúng được ghép lại với nhau. Anh thấy đấy, các khúc gỗ đều được buộc lại với nhau bằng dây xích. Cũng được buộc bằng dây lụa, nhưng dây xích ở đó để đảm bảo gỗ không bị bung ra. Đây là truyền thống xây dựng chùa chiền và những thứ tương tự. Thật khó để đưa nó lên tàu như thế này”

“Thuê một chiếc xe kéo chỉ để giữ các khúc gỗ ở một vị trí chuyên dụng? Và buộc các khúc gỗ lại với nhau. Chúa ơi! Họ phải có nhiều tiền hơn não, phải không?”

“Chúng ta quan tâm làm gì?” điều phối viên hỏi, mệt mỏi khi phải trả lời những câu hỏi giống nhau của mọi tài xế xe tải mỗi khi qua văn phòng anh

 Và họ vẫn đang ngồi ở đó. Điều phối viên nghĩ, ý tưởng để cho các khúc gỗ khô đi. Nhưng bất kỳ ai nghĩ ra ý tưởng này hẳn lúc đó không được suy nghĩ minh mẫn. Đây là mùa hè ẩm ướt nhất trogn lịch sử vùng này vì lượng mưa nhiều và khi những cây này bị đốn hạ, do lượng nước trong thân cây quá lớn, trọng lượng khúc gỗ không hề nhẹ, giờ nằm đây chỉ đơn thuần là hứng thêm mưa khi đổ xuống sân. Những thân cành bị cắt tỉa cũng không giúp được gì nhiều. Mưa vẫn thấm qua những cành lộ ra ngoài và vào thân cây. Các khúc gỗ bây giờ chắc chắn nặng hơn so với khi chúng bị đốn hạ. Người điều phối nghĩ rằng có thể anh ta nên đặt một tấm bạt lên trên đống gỗ, nhưng điều đó sẽ giữ hơi ẩm trong tấm bạt và không cho nó thoát ra ngoài, và bên cạnh đó, lệnh của họ là phải đưa những thanh gỗ lên xe kéo. Bây giờ trời đang mưa, và sân sẽ ngay lập tức biến thành một đầm lầy, với mọi xe tải, mọi giàn khoan chạy qua, khuấy lên một mảng bùn. Chà, có lẽ người Nhật có cách làm khô và xử lý gỗ của riêng họ. Các hướng dẫn đưa ra cho họ không bao gồm nhiệm vụ làm khô cục bộ, và đó không phải là tiền của họ. Ngay cả khi chúng được chất lên tàu, chúng vẫn phải được chở ở phía trên, vì vậy những khúc gỗ này sẽ phải chờ cho đến khi mọi hàng hóa khác được chất lên tàu MV George McReady chở hàng qua Thái Bình Dương, rồi mới đến lượt. Nếu các khúc gỗ ẩm ướt hơn, người điều phối nghĩ ai đó sẽ phải trông chừng chúng. Nếu bị rơi xuống nước, những khúc gỗ này chắc chắn sẽ khó nổi lên trên mặt nước...

Người nông dân hiểu cháu mình cũng xấu hổ vì cảnh nghèo khó khi từ chối những cái ôm và hôn của ông nội, có lẽ đã phàn nàn ít nhiều khi cha chúng đưa chúng đến đây, nhưng ông không ngại. Con cái ngày nay ít tôn trọng thế hệ ông cha. Có lẽ đó là cái giá của việc mang đến cho trẻ nhiều cơ hội tận hưởng cuộc sống hơn. Chu kỳ kế thừa của các thế hệ đã bị phá vỡ, và cuộc đời của ông gần giống như tổ tiên mình mười thế hệ trước nhưng con trai ông đang làm tốt hơn dù có bị thương về thể xác, và đám con của nó do vậy có cuộc sống tốt hơn. Mấy thằn con trai sẽ tự hào về cha chúng. Nếu đám bạn ở trường có nhận xét bất lợi về tôn giáo Druse của chúng thì mấy thằng con trai cũng có thể nói ra rằng cha chúng đã chiến đấu và đổ máu chống lại người Israel đáng ghét, thậm chí từng giết vài tên Zionist. Chính phủ Syria không phải là không có lòng biết ơn đối với những cựu binh bị thương này. Đứa con trai của người nông dân đã tự mình tạo lập việc kinh doanh và các quan chức chính phủ không làm khó gì anh, nếu không phải là cựu chiến binh thì việc kinh doanh chưa hẳn đã dễ dàng thế. Anh lập gia đình muộn, vốn bất thường trong khu vực này. Vợ anh khá tốt và nhã nhặn- cô ấy đối xử tốt với ông lão nông dân, có lẽ vì ông không bao giờ tỏ ý muốn dọn đến ngôi nhà nhỏ của cô ấy. Lão nông tỏ rõ niềm tự hào về những đứa cháu to khỏe, ngoan ngoãn như mọi đứa con trai. Người con trai của lão nông già cũng tự hào không kém, và công việc kinh doanh của anh rất phát đạt. Ăn trưa xong, hai bố con bước ra khỏi nhà, người con trai nhìn vườn rau đã làm cỏ, nghĩ đến cảnh bố vẫn hàng ngày làm ruộng, trong lòng trào dâng cảm giác tội lỗi. Nhưng không phải anh đã đề nghị cha đến sống cùng hay sao? Không phải anh từng đề nghị đưa cha một số tiền ư? Nhưng tất cả đề nghị đó đều bị từ chối. cha anh không giàu có nhưng là người có lòng kiêu hãnh

“Có vẻ như vườn rau năm nay làm ăn tốt.”

“Năm nay mưa tốt” lão nông đồng ý “có nhiều cừu con. Năm nay không tệ đâu. Còn con thì sao?”

“Năm tốt nhất của con. Bố, con ước bố đừng làm việc vất vả thế này”

“À” Lão nông xua tay “Bố còn biết cuộc sống nào khác đâu? Đây là nơi của bố”

Đó là sự dũng cảm của người đàn ông, anh con trai nghĩ. Và ông già quả có dũng khí. Ông đã chịu đựng bất kể mọi thứ không theo ý mình. Ông không có nhiều thứ để lại cho con trai, nhưng đã truyền cho con mình lòng dũng cảm đến bướng bỉnh. Khi anh thấy mình bất tỉnh trên Cao Nguyên Golan, cách chiếc xe bọc thép chở quân đang bốc khói có 20m, anh biết nếu chỉ nằm đó thì sẽ chết vì mắt bị chột, tay trái chảy nhiều máu đến nỗi các bác sĩ sau đó phải cắt cụt tay, nhưng anh ta biết việc từ bỏ không phải là công việc của cha mình. Thế là anh đứng dậy đi bộ sáu cây số để tìm đến trạm cứu thương của quân đội, khi đến nơi, trên tay anh vẫn còn một khẩu súng, không chịu chữa trị cho đến khi báo cáo tình hình. Anh được thưởng huân chương về việc này, và người chỉ huy quân đội đã cho anh một ít tiền để làm cho cuộc sống của anh dễ dàng hơn, để anh mở một cửa hàng nhỏ, và dặn dò các quan chức địa phương phải nhã nhặn. Viên đại tá cho anh tiền, nhưng cha thì cho anh lòng dũng cảm. Giá như ông già nhận ít tiền trợ giúp của anh

“Con trai, bố cần lời khyên của con” đây đúng là điều mới

“Chắc chắn rồi bố”

“Để bố chỉ cho con” Ông dẫn con trai ra vườn, tới những luống cà rốt. Chân ông chọc chọc dưới đất…

“Dừng lại!” đứa con trai gần như hét lên, nắm lấy cánh tay bố gần như kéo giật lại “Chúa ơi…thứ đó ở đây bao lâu rồi?”

“từ ngày con bị thương” người nông dân trả lời. Anh đưa tay phải ra chạm vào chiếc khăn bịt mắt, cảnh tượng hãi ​​hùng ngày đó dường như hiện lên trước mặt. Ánh sáng chói lọi, ném lên trời, đồng đội chết trong lửa, những tiếng hét chết cháy. Chính người Israel đã làm điều đó. Một trong những khẩu đại bác của Israel đã giết mẹ anh và giờ…cái này?

Nó là gì vậy? Anh yêu cầu bố lùi lại và bước tới xem xét. Anh di chuyển rất cẩn thận, như thể đi qua một bãi mìn. Anh đã làm việc với các kỹ sư trong quân đội; mặc dù tiểu đoàn của anh đã chiến đấu với bộ binh, nhưng công việc của họ cũng dính tới bãi mìn. Thứ này rất lớn, có khi là quả bom nặng cả ngàn kilo. Chắc chắn thuộc về người Israel; anh biết điều đó dựa trên màu sắc, quay lại nhìn bố “Thứ này đã ở đây kể từ đó à?”

“Ừ, nó tự tạo thành cái hố và bố lấy đất vùi vào. Chắc hẳn sương giá làm cho nó nổi lên. Có nguy hiểm gì không? Nó bị hỏng chưa? Chưa à?”

“bố, mấy thứ này chưa bao giờ thực sự hỏng hết. Nó rất nguy hiểm. Lớn thế này thì đủ sức phá hủy cả ngôi và và bố trong đó đấy!”

Lão nông tỏ vẻ coi thường “Nếu nó muốn nổ thì đã nổ từ lúc rơi xuống đây rồi”

“Không đúng! Bố phải nghe con chuyện này. Bố sẽ không đến gần mấy cái thứ chết tiệt này!”

“Thế còn vườn của bố thì sao?” Lão nông đơn giản hỏi lại

“Con sẽ tìm cách chuyển cái thứ này đi. Rồi bố sẽ lại có vườn”

Người con trai cân nhắc, đây thực sự là một vấn đề, mà còn không phải là vấn đề nhỏ nữa. Quân đội Syria không có nhiều người thành thạo gỡ bom mìn chưa nổ. Phương pháp của họ thường là kích nổ tại chỗ, cũng hợp lý thôi, nhưng cha anh sẽ không sống được lâu sau khi ngôi nhà bị phá hủy. Vợ anh không dễ đồng ý đưa ông đến sống chung nhà mình và anh cũng không thể giúp cha xây lại nhà được, chỉ với 1 tay còn lành lặn thế này. Quả bom cần phải chuyển đi, nhưng ai sẽ làm được đây?

“Bố phải hứa với con là không bước vào vườn nữa!” người con trai nghiêm nghị

“Sẽ nghe lời con” lão nông trả lời. Ông không hề có ý định tuân theo “Khi nào thì con định chuyển nó đi?”

“Con không biết. Con cần vài ngày xem có thể làm gì”

Lão nông gật đầu. Có lẽ ông sẽ làm theo lời con, ít nhất là không tiến gần đến quả bom chết chóc này. Tất nhiên, dù con ông có nói gì thì bom nổ cũng chết thôi. Lão nông biết rõ số mệnh mà. Nếu quả bom muốn giết ông thì nó đã giết rồi. Đời ông còn bất hạnh nào chưa trải qua đâu?

Giới báo chí cuối cùng đã tìm ra thứ gì đó để nhét vào răng của họ cho ngày mai. Tổng giám mục của Nhà thờ Chính thống Constantinople, Dimitrios Stavarkos, đến bằng ô tô vào một ngày trời quang – ông từ chối đến bằng trực thăng.

“Một nữ tu để râu à?” một nhiếp ảnh gia hỏi vào cái micro khi vẫn phóng to ống kính chụp ảnh. Các cận vệ Thụy Sỹ canh cửa chào và Giám mục O’Toole dẫn vị khách mới đến vào trong, dần đi khuất tầm mắt mọi người

“Người Hy Lạp” người dẫn chương trình nhận xét tức thì “Nhà thờ chính thống Hy Lạp, phải là một giám mục hoặc chức gì đó. Ông ta đang làm gì ở đây vậy?” người dẫn chương trình lẩm bẩm

“Chúng ta biết gì về Nhà thờ Chính Thống Hy Lạp?” nhân viên sản xuất chương trình hỏi

“Họ không phục vụ Giáo Hoàng, cho phép các linh mục kết hôn. Người Israel từng tống một nhà tu chính thống giáo vào tù vì cung cấp vũ khí cho người Ả Rập, tôi nghĩ thế” có ai đó đưa ra bình luận

“Vậy, người Hy Lạp cùng bên với người Ả Rập, nhưng không thân thiện với Giáo Hoàng? Còn người Israel thì sao?”

“Không biết” nhân viên sản xuất công nhận “có thể cần phải tìm hiểu thêm”   

 “Vậy giờ là có 4 nhóm tôn giáo liên quan”

“Vatican thực sự tham gia hay chỉ cung cấp một địa điểm trung lập?” người dẫn chương trình hỏi. Giống như hầu hết người dẫn chương trình khác, anh ta chỉ giỏi nhắc lại những bài viết sẵn trên máy nhắc chữ TelePrompTer

“Đã bao giờ xảy ra chuyện này trước đây chưa? Nếu anh muốn ‘trung lập’ anh cần đến Geneva” người quay camera nhận xét. Anh ta thích Geneva

“Có chuyện gì thế?” nhà nghiên cứu hỏi khi bước vào phòng thu. Nhà sản xuất chương trình trả lời

“Cái tên cố vấn chết tiệt kia đâu rồi?” người dẫn chương trình gầm gừ

“Anh có thể chạy lại đoạn băng không?” nhà nghiên cứu hỏi. Đội nhân viên trong phòng điều khiển làm theo và cô ta nhìm chăm chăm vào màn hình

“Dimitrios Stavarkos, ông ấy là Tổng giám mục của nhà thờ chính thống giáo Constantinople- Rick, các cậu hay gọi là Istabul đó. Ông ấy là người đứng đầu tất cả các nhà thờ chính thống giáo, vai trò tương tự như Giáo Hoàng. Các nhà thờ của người Hy Lạp, người Nga và Bulgaria đều có người đứng đầu của riêng mình, nhưng tất cả đều thuộc quyền Tổng giám mục. Kiểu như vậy”

“Họ cho phép linh mục dưới quyền kết hôn, phải không?”

“Linh mục, phải…nhưng theo tôi biết, nếu anh muốn trở thành giám mục hoặc cấp cao hơn thì anh vẫn phải sống độc thân…”

“Chà chà, hơi thất vọng” Rick nhận xét “Stavarkos dẫn đầu cuộc chiến với giáo hội công giáo để dành Nhà Thờ Giáng Sinh (the Church of the Nativity) vào năm ngoái – mà theo tôi nhớ thì ông ấy là người dành chiến thắng. Ông ta đã đẩy vài giám mục công giáo ra đi. Ông ta đang làm quái gì ở đây thế?” (Nhà thờ Giáng Sinh là một vương cung thánh đường ở Bethlehem, thuộc vùng lãnh thổ của Nhà nước Palestine. Nhà thờ này nguyên thủy do Constantinus Đại đế và hoàng thái hậu Helena xây dựng từ năm 327 sau Công nguyên trên vị trí mà theo truyền thống Thánh được coi là ở bên trên hang nơi hạ sinh của chúa Giê-su)

“Cô mới là người nên nói cho chúng tôi biết chứ, Angie!” vị dẫn chương trình cố tình gây khó dễ

“Rick, cứ làm tốt việc của anh đi” Angie Miriles mệt mỏi khi phải đối đầu với một thằng não rỗng thế này. Cô nhấp 1 ngụm cà phê, yên lặng trong 1 hoặc 2 phút rồi thông báo “Tôi nghĩ đã hiểu được chuyện gì xảy ra”

“Giải thích cho chúng tôi nghe xem?”

“Chào mừng!” Hồng Y D’Antonio hôn cả hai má Stavarkos. Ông thấy bộ râu của người đàn ông này có mùi rất khó chịu nhưng cũng chẳng làm gì được hơn. Vị hồng y dẫn vị Tổng giám mục vào phòng họp. Hiện có 16 người đang ngồi quanh bàn, với một chiếc ghế trống ở cuối. Stavarkos ngồi xuống chiếc ghế đó

“Cảm ơn ngài đã tham gia cùng chúng tôi” Ngoại trưởng Talbot nói

“Không ai có thể từ chối một lời mời như vậy” vị Tổng giám mục trả lời

“Ngài đã đọc qua tài liệu rồi chứ?” tài liệu này đã được chuyển qua thư tín

“Rất tham vọng” Stavarkos thận trọng thừa nhận

“Ngài có thể chấp nhận vai trò của mình trong Hiệp ước này không?” vị Tổng giám mục nghĩ, cái này còn quá sớm, nhưng….

“Có” ông trả lời đơn giản “Tôi yêu cầu toàn quyền quản lý tất cả các đền thờ Cơ đốc giáo ở Đất Thánh. Nếu được đồng ý, thì tôi rất sẵn lòng tham gia thỏa thuận này”

D’Antonio cố giữ vẻ mặt thản nhiên. Ông kiểm soát hơi thở và âm thầm cầu nguyện Chúa can thiệp. Ông không dám chắc Người có chấp nhận yêu cầu của mình hay không

“Đã quá muộn để thảo luận về một yêu cầu sâu rộng như vậy” Mọi người quay đầu nhìn lại. Người phát biểu là Dmitriy Popov, Thứ trưởng bộ ngoại giao Liên Xô “Khi tất cả mọi người ở đây đã nhượng bộ rất nhiều, sẽ là quá viển vông khi đề xuất các điều khoản đơn phương có lợi. Ông có muốn tự mình chặn quá trình hòa giải không?”

Stavarkos không quen với kiểu quở trách thẳng thừng như vậy

“Vấn đề nhà thờ Cơ Đốc Giáo không liên quan trực tiếp đến thỏa thuận hòa bình này, thưa Đức Ngài” Ngoại trưởng Talbot phát biểu “Chúng tôi nhận thấy sự sẵn sàng tham gia có điều kiện của ngài quả đáng thất vọng”

“Có lẽ tôi đã hiểu nhầm tài liệu tóm tắt” Stavarkos nhanh chóng giải thích, bảo vệ gót chân asin của mình “Có lẽ ông có thể giải thích vị trí chính xác của tôi trong cuộc họp hòa bình này không?”.

“Không thể nào” người dẫn chương trình khịt mũi

“Tại sao không?” Angela Miriles trả lời “Còn lý do nào hợp lý nữa đâu?”

“Thật là thái quá”

“Đúng là thái quá” Miriles đồng ý “Nhưng còn có nguyên nhân nào phù hợp hơn không?”

“Tôi sẽ tin nếu nhìn tận mắt”

“Anh sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy nó đâu. Starvakos không thích Nhà Thờ Công Giáo La Mã chút nào. Cuộc đối đầu vào giáng sinh năm ngoái khá nguy hiểm đấy”

“Sao chúng ta không có bài báo nào về nó?”

“Vì chúng ta quá cmn bận rộn nói về sụt giảm doanh số bán hàng trong dịp lễ Giáng Sinh” mấy thằng khốn các anh ấy, cô không nói thêm vào

“Vậy là có một ủy ban độc lập?” Stavarkos không thích chuyện đó

“Tổng Giám Mục/ Metropolitan muốn cử đại diện của riêng mình” Popov nói. Dmitriy Popov vẫn tin vào Chủ nghĩ Marx hơn Chúa, nhưng Giáo hội Chính thống Nga đều là người Nga và chuyện người Nga tham gia vào hội nghị hòa bình này phải là thật, dù có vài vấn đề không quan trọng xuất hiện “Tôi phải nói rằng tôi thấy vấn đề này thật kỳ lạ. Chúng ta sẽ để hòa bình này đi vào bế tắc vì bên nào của nhà thờ Thiên chúa giáo mạnh hơn? Mục đích chúng ta ở đây là để tháo bỏ ngòi nổ tiềm tàng cuộc chiến Do Thái-Hồi giáo và sao Cơ Đốc Giáo lại đứng ra cản đường?” Popov hỏi trần nhà – 1 chút kịch nghệ, cha D’Antonio nghĩ.

“Vấn đề thứ yếu này tốt nhất nên để cho Hội Đồng các linh mục Cơ Đốc Giáo” Hồng y D’Antonio cuối cùng cũng cho phép mình cất tiếng “Tôi thề trước Chúa rằng chủ nghĩa bè phái đã chấm dứt!

Mình đã nghe điều đó trước đây, Stavarkos tự nhắc – và chưa hề chấm dứt. Nhưng làm sao ông có thể cho phép mình thiển cận như vậy? Ông  tự nhắc nhở mình về những gì Kinh thánh đã dạy và ông tin mọi lời trong Kinh thánh. Mình đã hành động như một tên ngốc trước mặt người La Mã và người Nga! Một cân nhắc bổ sung là người Thổ Nhĩ Kỳ chỉ chấp nhận sự hiện diện của ông ở Istanbul – Constantinople! —Và Điều này đã cho ông cơ hội để có được uy tín rộng rãi đối với Giáo hội và phụng vụ bí tích của ông.

“Xin thứ lỗi cho tôi vì đã để một số sự kiện đáng tiếc làm sai lệch nhận định. Vâng, tôi sẽ ủng hộ thỏa thuận này, và tôi tin chắc rằng các giáo dân của tôi sẽ giữ lời”

Brent Talbot dựa lưng vào ghế, nhỏ giọng cầu nguyện và cảm ơn Chúa. Cầu nguyện không phải là thói quen của vị Ngoại trưởng nhưng ở đây, xung quanh đây, còn có ai tránh được đâu?

“Như vậy thì tôi tin chúng ta đã đạt được sự đồng thuận” Talbot nhìn quanh bàn, người gật đầu một cái, một số hào hứng, vài người khác cúi đầu. Nhưng tất cả đều không ai phản đối. Họ đều đạt được một thỏa thuận

“Mr. Adler, khi nào thì các tài liệu sẵn sàng ký tắt?” D’Antonio hỏi

“Hai giờ nữa, thưa đức cha”

“thưa Hoàng thân” Talbot nói khi đứng dậy “Đức ngài, quý ông, chúng ta đã hoàn thành một điều tuyệt vời”

Thật ngạc nhiên, không ai nhận ra rằng tất cả mọi người đã thành công. Cuộc họp hòa bình này, cũng giống như các cuộc đàm phán tương tự, trải qua một quá trình dài, mọi người đều rất coi trọng tiến trình cuộc họp, nhưng dường như thờ ơ với mục tiêu của nó. Giờ đây, mọi người đột nhiên nhận ra rằng mục tiêu đã đạt được, và bất chấp mọi người đều nỗ lực xây dựng và đạt được mục tiêu ngoại giao này, những nghi ngờ trong lòng họ tạo cho mọi người một cảm giác không thực và làm mờ đi nhận thức của họ. Từng người một, mọi người đều nhận ra những gì họ đã hoàn thành. Quan trọng hơn, họ nhận ra rằng họ thực sự đã hoàn thành một điều gì đó, một nhiệm vụ bất khả thi nhưng đã thực hiện được.

David Askenazi đi vòng quanh bàn tới Hoàng tử Ali, người chịu trách nhiệm đại diện cho đất nước mình trong cuộc đàm phán này, và chìa tay ra. Hành động đó không đủ. Vị Hoàng tử ôm Bộ trưởng Israel như người anh em

“Hãy thề trước Chúa rằng sẽ có hòa bình giữa chúng ta, David”

“Sau tất cả những năm tháng đó, Ali” người cưu chiến binh lính xe tăng Israel trả lời. Khi còn là một trung úy, Askenazi đã tham chiến ở Suez năm 1956, rồi năm 1967 với chức vụ đại úy và tái tham chiến trong lực lượng dự bị trên cao nguyên Golan năm 1973. Cả hai người đều ngạc nhiên khi tiếng vỗ tay bất ngờ nổ ra. Vị ngoại trưởng Israel rơm rớm nước mắt, xấu hổ và không thể tin rằng mình đang khóc

“Đừng xấu hổ. Sự dũng cảm cá nhân ông được rất nhiều người biết đến, thưa bộ trưởng” Ali ân cần “Một chiến binh có nhiệm vụ tạo hòa bình, David”

“Nhưng rất nhiều người đã chết, những thằng bé tốt bụng, chúng…ở cả hai phía, Ali. Tất cả những chàng trai trẻ đó”

“Nhưng sẽ không còn ai bị chết thế nữa”

“Dmitriy, sự giúp đỡ của ông thật phi thường” Talbot nói với đồng nghiệp người Nga ở phía bên kia bàn

“Khi chúng ta hợp tác cùng nhau, kết quả thật phi thường, phải không?”

Những gì vừa xảy ra với Talbot cũng xảy ra với Askenazi: “2 thế hệ đã bị lãng phí, Dmitriy. Tất cả thời gian đó”

“chúng ta không thể bù đắp cho thời gian đã mất” Popov trả lời “nhưng chúng ta cần khôn ngoan để không lãng phí nữa” Người Nga ranh mãnh cười “Để kỷ niệm những khoảnh khắc này, nên có vài ly vodka”

Talbot quay về phía hoàng tử Ali “Không phải tất cả chúng ta đều uống”

“Sao họ có thể sống thiếu vodka nhỉ?” Popov toe toét cười

“Một trong những bí ẩn trong đời, Dmitriy. Cả hai chúng ta đều phải gửi điện thôi”

“Chắc chắn rồi, bạn của tôi”

Không có gì ngạc nhiên khi các phóng viên ở Rome đã rất tức giận khi người đầu tiên đưa tin này là một phóng viên của tờ Bưu điện Washington ở Washington. Cô ta có được nguồn tin từ một trung sỹ không quân chịu trách nhiệm bảo dưỡng phần điện cho chiếc máy bay VC-25A, phiên bản quân sự của chiếc Boeing 747 dành cho Tổng Thống. Viên trung sỹ đã bán tin này cho phóng viên. Mọi người đều biết Tổng Thống sẽ đến Rome, câu hỏi chỉ là khi nào. Ngay khi viên trung sỹ biết tin rời đi, cô đã chả vờ gọi về nhà để kiểm tra bộ quân phục được giặt sạch hay chưa. Cô cố tình gọi nhầm số, và phóng viên nhận được tin nhắn trên máy trả lời tự động. Đó là câu chuyện cô ấy sẽ sử dụng nếu cô ấy bị bắt, nhưng thực tế là trong trường hợp này cô sẽ không bị bắt và cũng không hy vọng bị bắt

Một giờ sau, trong cuộc họp thường lệ vào buổi sáng giữa thư ký báo chí của Tổng thống và các phóng viên của Nhà Trắng, một phóng viên của Bưu điện đã công bố một “báo cáo chưa được kiểm chứng” rằng Fowler sẽ đi Rome – và điều này có nghĩa là cuộc đàm phán bị ngừng trệ hay thành công? Thư ký báo chí ngớ người trong giây lát. Anh ta vừa mới biết 10 phút trước rằng Tổng thống sẽ bay đi Rome và thề sẽ giữ bí mật như thường lệ – Một lời hứa có sức nặng tương đương với ánh sáng mặt trời vào một ngày nhiều mây. Nhưng anh vẫn giả vờ ngạc nhiên, dù thật lòng cũng ngạc nhiên thật. Lẽ ra tin tức này đã được anh ta tiết lộ, nhưng phải đợi đến buổi giao ban buổi chiều sau bữa trưa. Câu “không bình luận” của anh ta chẳng đủ nặng sức thuyết phục và các phóng viên Nhà Trắng như những con cá mập ngửi thấy mùi máu trong nước. Tất cả họ đều có trong tay một hành trình tổng thống đã được biên soạn, và tất nhiên, họ đều biết ai đó có thể kiểm tra nó.

Các trợ lý của tổng thống đã gọi điện để hủy bỏ các cuộc hẹn và sự tham dự của tổng thống. Ngay cả Tổng Thống cũng không thể phá hẹn mà không báo trước cho mọi người, gây rắc rối cho những người quan trọng. Và ngay cả khi những người đó có thể giữ mồm giữ miệng thì trợ lý và thư ký của họ cũng không thể. Đây là một cảnh kinh điển trong hiện tượng rò rỉ thông tin trong nền thông tin báo chí tự do. Người trong cuộc không thể kín miệng, nhất là những chuyện tối mật. Một giờ sau, các phóng viên đã xác nhận riêng tin tức từ bốn nguồn tin rộng rãi: Tổng thống Fowler đã hủy bỏ các cuộc hẹn trong vài ngày. Tổng thống đang đi đâu đó, nhưng đó không phải là Peoria. Tin tức đủ để khiến tất cả các mạng tin tức truyền hình chạy tin tức chớp nhoáng, loại bỏ tất cả các loại clip giải trí và thay thế chúng bằng những thông báo viết vội vàng và sau đó nhanh chóng cắt thành quảng cáo, không cho hàng triệu người xem biết rằng tổng thống sẽ đi đâu, nhưng điều này cũng đã gợi ý cho công chúng rằng một điều gì đó lớn sẽ xảy ra.

Vào một buổi chiều mùa hè oi ả, ẩm ướt ở La Mã, đám báo chí được thông báo rằng chỉ có ba máy quay được phép vào tòa nhà, nơi đã được giám sát trong nhiều tuần, và tất cả các phóng viên đều bị từ chối vào. Trong “căn phòng xanh” gần bốt tin tức, người dẫn chương trình thời sự trực ca đã có người trang điểm, sau đó vội vàng trở lại chỗ ngồi, đeo ống nghe và chờ lệnh của đạo diễn.

Màn hình studio và màn hình TV trên khắp thế giới hiển thị hình ảnh của phòng họp. Đó là một cái bàn lớn, và có đầy đủ chỗ ngồi. Người ngồi chính giữa là Giáo hoàng, trước mặt ông là tập hồ sơ mỏng, bìa đỏ làm bằng da bê – các phóng viên sẽ không bao giờ biết về sự hoảng sợ nhất thời bùng lên khi ai đó nhận ra mình không biết đó là loại da gì, và phải nhà cung cấu. May mắn là không ai phản đói đó là làm bằng da một con bê

Tất cả đồng ý là không có tuyên bố được đưa ra ở đây. Các thông báo sơ bộ sẽ được đưa ra riêng tại thủ đô của các nước tham gia, trong khi một bài phát biểu hùng biện sẽ được phát tại lễ ký kết chính thức đang được soạn thảo. Một phát ngôn viên của Vatican đã gửi một thông điệp bằng văn bản cho tất cả các phóng viên truyền hình nói rằng một dự thảo thỏa thuận giải quyết tranh chấp cuối cùng ở Trung Đông đã được đàm phán và đại diện của các nước liên quan đã sẵn sàng ký kết thỏa thuận. Trong vài ngày tới, các nguyên thủ quốc gia và / hoặc Bộ trưởng Bộ Ngoại giao sẽ ký văn bản thỏa thuận chính thức. Nội dung thỏa thuận vẫn chưa có sẵn để công bố, các điều khoản của nó cũng vậy. Các phóng viên cũng không cảm thấy khó chịu lắm về phản ứng này – chủ yếu là vì họ nhận ra chi tiết thỏa thuận có thể rò rỉ từ bộ ngoại giao các nước, cho các phóng viên khác

Tập tài liệu màu đỏ đó được chuyển từ nơi này sang nơi khác trên bàn hội nghị. Tuyên bố do Tòa thánh Vatican đưa ra nêu rõ, thứ tự những người viết tắt được xác định bằng cách bốc thăm, bắt đầu là ngoại trưởng Israel, tiếp theo là đại diện của Liên Xô, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, Ả Rập Xê-út và Vatican. Mỗi người đều có một cây bút máy và vị linh mục giao các tài liệu sẽ dùng giấy thấm cong lật từng thỏa thuận ban đầu. Không có nhiều băng đỏ trong buổi lễ, vì vậy nó được thực hiện nhanh chóng. Tiếp theo là một cái bắt tay, sau đó là một tràng pháo tay dài và những lời chúc mừng, rồi xong.

“Chúa ơi” Jack nói, nhìn màn hình TV đang chuyển cảnh. Anh nhìn xuống bản fax của thỏa thuận, và nó không khác nhiều so với khái niệm ban đầu của anh. Saudi đã sửa vài thay đổi, Israel cũng thế, Liên Xô, Thụy Sỹ và tất nhiên là cả bộ ngoại giao Mỹ, nhưng ý tưởng ban đầu của anh – ngoại trừ việc chính anh cũng vay mượn ý tưởng của nhiều người khác. Không có nhiều ý tưởng nguyên bản trên thế giới này. Những gì anh thực sự làm là tổ chức chúng lại và trình bày chúng vào một thời điểm lịch sử thích hợp và xong. Mặc dù vậy, bây giờ là khoảnh khắc đáng tự hào nhất trong cuộc đời anh, và thật đáng tiếc khi không có ai chúc mừng

Tại Nhà Trắng, người viết diễn văn giỏi nhất của Tổng Thống Fowler đã soạn thảo bản nháp bài phát biểu. Tổng thống Mỹ sẽ ngồi ở vị trí quan trọng nhất của buổi lễ ký kết vì xét cho cùng, đó là ý tưởng của ông ấy và bài phát biểu của ông tại Liên Hợp Quốc đã đưa tất cả mọi người đến Rome. Giáo hoàng sẽ có bài phát biểu – chúa ơi, tất cẩ bọn họ đều có phải phát biểu, người viết diễn văn nghĩ, và với cô ấy, đó chính là một vấn đề, vì mỗi bài phát biểu phải đổi mới và không lặp lại. Cô nhận ra mình có lẽ vẫn sẽ bận viết bài phát biểu trên máy tính xách tay trong khi bay qua Đại Tây Dương trên chiếc 25A. Nhưng cô hiểu rằng cô được trả lương vì công việc này, và chiếc Air Force One được trang bị một máy in laser.

Phía trên tầng, tại phòng bầu dục, Tổng thống tham khảo ý kiến ​​về lịch trình sửa đổi gấp rút. Một cuộc họp với ủy ban các Hướng đạo sinh Châu Mỹ mới (Eagle Scouts) sẽ bị hủy, cũng như gặp gỡ với Hội Wisconsin Cheese Queen hoặc bất cứ hội chức danh của mấy cô gái trẻ nào đó, và cũng sẽ hủy cuộc gặp với một nhóm doanh nhân vốn có tầm quan trọng trong cái ao nhỏ của mình nhưng hoàn toàn tái mặt khi bước vào cửa gặp tổng thống. Người thư ký sắp xếp cuộc hẹn cho ông ta đã thông báo cho họ về việc hủy bỏ. Nếu một cuộc hẹn là cực kỳ quan trọng, chỉ có thể hẹn trong ba mươi sáu giờ tới, khiến cho 1 ngày rưỡi sắp tới của ông ta trở nên cực kỳ bận rộn, nhưng đó cũng là một phần công việc

“Thế nào?” Fowler nhìn lên khi thấy Elizabeth Elliott mỉm cười với ông ta ở phía bên kia phòng tiếp tân của thư ký

Chà, đó chính là những gì ông muốn, phải không? ì xung đột ở Trung Đông cuối cùng cũng được giải quyết trong nhiệm kỳ của mình nên ông sẽ đi vào lịch sử. Nếu – Liz thừa nhận với bản thân trong khoảnh khắc khách quan hiếm hoi – mọi thứ thành công, điều vốn không nên đưa ra trong những tranh chấp kiểu này

“Chúng ta đã đóng góp cho thế giới, Elizabeth”. Khi nói đến ‘chúng ta’ ông ta thực ra ý là ‘tôi” Elliott biết, nhưng cũng công bằng thôi. Bob Fowler đã đảm nhận nhiệm vụ điều hành của mình ở Columbus và sau đó chịu đựng hàng tháng trời của các chiến dịch bầu cử, hôn trẻ em, đặt khuôn mặt nóng bỏng của mình vào mông lạnh của mọi người, và phục vụ cho một đội quân nhà báo với những khuông mặt thay đổi nhanh hơn cái lật bàn tay với những câu hỏi lặp lai lặp lại tàn nhẫn. Quá trình bước vào căn phòng nhỏ này và lên đến ngai vàng của quyền lực thống trị là một cuộc chạy đua sức bền kéo dài. Sau quá trình này, những người đàn ông đến đây an toàn không bị tiêu diệt – thật xấu hổ khi vẫn chỉ có đàn ông, Liz nghĩ. Nhưng chiến tích của tất cả những nỗ lực, những nỗ lực vô tận này, là vinh dự tối cao mà người đàn ông chiếm giữ ngai vàng này có được. Theo thông lệ trong lịch sử, người nắm giữ chức vụ tổng thống nên định hướng thế giới và vạch ra chiến lược. Bởi vì điều này, cả lời khen và lời mỉa mai đều được ném vào tổng thống. Tổng thống phải chịu trách nhiệm về việc mọi thứ có diễn ra tốt đẹp hay không, chịu trách nhiệm về các vấn đề đối nội, dữ liệu thất nghiệp, lãi suất, lạm phát (bán buôn và bán lẻ), và các chỉ số kinh tế chính xung quanh, nhưng trong những trường hợp hiếm hoi, những vấn đề rất nghiêm trọng, những vấn đề sẽ thay đổi thế giới. Bản thân Elliott cũng thừa nhận rằng lịch sử sẽ ghi nhận Reagan là người đến dự cuộc họp khi Nga quyết định rút toàn bộ số tiền cá cược vào chủ nghĩa Marx, và Bush là người trực tiếp hưởng lợi ích chính trị. Nixon là người mở cánh cửa vào Trung Quốc, và Carter là người đã tiến đến rất gần những gì đang khiến Fowler giờ đây được ghi nhớ. Các cử tri Mỹ có thể chọn các nhà lãnh đạo chính trị của họ cho các vấn đề tầm thường, nhưng lịch sử được tạo nên từ những thứ quan trọng hơn. Điều khiến một người đàn ông chiếm một vài đoạn trong sách giáo khoa lịch sử phổ thông, và một vài tập dành riêng cho anh ta trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật, là sự thay đổi cơ bản mà anh ta mang lại cho thế giới chính trị, và đó mới là điều thực sự quan trọng. Hãy ghi nhớ những nhân vật định hình các sự kiện lịch sử – chẳng hạn như Bismarck, không phải Edison – các nhà sử học tin rằng tiến bộ công nghệ trong xã hội là kết quả của các yếu tố chính trị, chứ không phải ngược lại. Nhưng cô ta đánh giá điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Sử học có những quy ước được thiết lập riêng, không liên quan gì đến cuộc sống thực, điều này quá rộng để có thể nắm bắt được ngay cả sau nhiều năm nghiên cứu sau khi các sự kiện đã trôi qua. Các chính trị gia chơi theo các quy tắc này, và nó rất phù hợp với họ, bởi vì tuân theo các quy tắc có nghĩa là bất cứ khi nào có điều gì đó đáng nhớ xảy ra, các nhà sử học sẽ ghi lại tên của họ.

“Đóng góp cho thế giới? Elliot dừng lại một lúc trước khi trả lời “Đóng góp cho thế giới. Tôi thích từ này. Họ gọi Wilson là người đã giúp chúng ta thoát khỏi chiến tranh. Ngài sẽ được nhớ như là người đã kết thúc chiên tranh”

Cả Fowler và Elliott đều biết rằng không vài tháng sau khi Wilson tái đắc cử tổng thống, ông đã dẫn dắt nước Mỹ bước vào cuộc chiến thực sự đầu tiên ở nước ngoài, mà những người lạc quan gọi cuộc chiến là kết thúc mọi cuộc chiến, sau khi phát xít Đức tàn sát hàng loạt người Do Thái, người dân cũng phải đối mặt cơn ác mộng của vũ khí hạt nhân. Nhưng lần này, cả hai đều đồng ý rằng, không chỉ lạc quan đơn thuần, tầm nhìn của Wilson về tương lai về thế giới cùng sẽ nằm trong tay các chính trị gia, những người sẽ định hình thế giới theo cách họ lựa chọn.

Người đàn ông này là người Druse, một người ngoại giáo, nhưng vẫn được tất cả mọi người tôn trọng. Anh mang những vết sẹo trong trận chiến chống lại Zionist, đã từng ra chiến trận và được tặng thưởng huân chương vì lòng dũng cảm. Anh mất mẹ vì vũ khí của người Do Thái và luôn ủng hộ phong trào bất cứ khi nào được yêu cầu. Qati là người chưa bao giờ từ bỏ nguyên tắc. Khi là một cậu bé, hắn đã đọc Những Trích Dẫn của Mao Chủ Tịch (Little Red Book of Chairman Mao). Ông Mao đó tất nhiên là kẻ vô đạo thuộc loại tồi tệ nhất – ông ta thậm chí từ chối thừa nhận ý tưởng của chúa và bắt bớ những người tôn thờ. Nhưng bỏ qua điều đó, ông ta nó đúng. Nhà cách mạng như một con cá bơi trong biển nông dân, và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với nông dân – hoặc trong trường hợp hiện tại, là chủ tiệm- là cơ sở cho mọi chiến công của ông ta. Cái người Druse này đã quyên góp nhiều tiền nhất có thể, đã từng che dấu một chiến sỹ tự do bị thương trong nhà mình. Mấy món nợ này không dễ quên được. Qati đứng dậy từ bàn là chào mừng người đàn ông với cái bắt tay ấm áp và hôn thô bạo lên má

“Chào mừng, bạn của tôi”

“Cảm ơn vì đã gặp tôi, chỉ huy” Viên chủ cửa hàng tỏ vẻ rất lo lắng và Qati tự hỏi có vấn đề gì

“Xin mời ngồi, Abdullah” hắn gọi “mang cà phê cho khách của chúng ta nhé?”

“Anh thật tốt bụng”

“Không có gì. Anh là đồng chí của chúng tôi.  Tình bạn của chúng ta chưa bao giờ dao động…bao năm rồi nhỉ?”

 Viên chủ tiệm nhún vai, trong lòng thầm cười rằng những nỗ lực ban đầu của mình giờ sẽ được đền đáp xứng đáng. Anh ta từng sợ hãi Qati và lính của hắn – đó là lý do vì sao anh ta không bao giờ ngáng đường họ. Anh ta cũng liên tục báo cáo với người Syria những gì anh ta đã làm cho họ, bởi vì anh ta cũng đề phòng người Syria. Sống sót ở nơi này của thế giới là một nghệ thuật và một trò chơi may rủi

“Tôi đến gặp anh để xin vài lời khuyên” anh ta nói, hợp một ngụm cà phê

“Chắc chắn rồi” Qati nghiêng người về phía trước “Rất vinh dự được giúp. Bạn của tôi, có vấn đề gì thế?”

“Đó là về cha tôi”

“Ông ấy giờ bao nhiêu tuổi nhỉ” Qati hỏi. Lão nông cũng thỉnh thoảng đưa quà cho người của hắn, thường là một con cừu. Chỉ là một người nông dân, và một người nông dân vô đạo thôi, nhưng ông cũng với hắn lại có chung kẻ thù

“66. Anh biết vườn rau của ông ấy không?”

“Có, vài năm trước tôi có qua thăm, ngay sau khi mẹ anh bị bọn Zionist giết” Qati nhắc anh ta

“Trong vườn của ông ấy có một quả bom của Israel”

“Bom? Ý anh là vỏ bom?”

“Không, chỉ huy, một quả bom. Nó có đường kính phải nửa mét”

“tôi hiểu và nếu người Syra biết về nó….”

“Phải. anh biết đấy, họ sẽ cho nổ thứ đó tại chỗ. Ngôi nhà của bố tôi sẽ bị phá hủy” vị khách giơ hai cánh tay lên. “Tôi không thể giúp ông ấy xây lại nhà dược và bố tôi thì quá già để tự làm điều đó. Vì vậy tôi đến đây để hỏi xem nên làm gì để thoát khỏi cái thứ chết tiệt này”

“Anh đã đến đúng nơi rồi. Anh có biết quả bom ở đó bao lâu rồi không?”

“Bố tôi nói nó rơi xuống vào đúng ngày tôi xảy ra chuyện” viên chủ tiệm lại chỉ vào cái tay phế của mình

“Chắc chắn Allah đã mỉm cười với gia đình anh ngay hôm đó” viên chủ tiệm nghĩ nghĩ, gật đầu “Anh là người bạn trung thành nhất của chúng tôi. Tất nhiên chúng tôi sẽ giúp. Tôi có mộ người rất thành thạo trong việc tháo dỡ và di chuyển bom của Israel – và rồi anh ta sẽ lấy ruột của chúng về để chế tạo bom cho chúng tôi sử dụng” Qati dừng lại và đưa một ngón tay lên để cảnh cáo anh ta “Anh phải không được nói cho ai khác biết”

Vị khách giật giật trên ghế “Quan điểm của tôi, chỉ huy, anh có thể giết tất cả bọn chúng nếu anh muốn và anh có thể làm điều đó từ quả bom mà mấy con lợn đó đã ném xuống vườn bố tôi thì tôi sẽ cầu nguyện cho anh an toàn và thành công”

“Xin thứ lỗi, bạn của tôi. Tôi không có ý làm anh bẽ mặt. Như anh hiểu đấy, tôi phải nói những lời này” Thông điệp của Qati đã được truyền tải đầy đủ

“Tôi chưa bao giờ phản bội các anh” viên chủ tiệm lớn tiếng thông báo

“tôi biêt điều đó” Giờ là lúc duy trì sự tin tưởng với biển người nông dân “Ngày mai tôi sẽ cử người của mình tới nhà cha anh. Cầu Allah phù hộ ông” hắn nói, theo ý Chúa

“Chỉ huy, tôi nợ anh ân huệ này” anh ta hy vọng có thể đền đáp nó vào cuối năm nay

« Lùi
Tiến »