Nụ Cười Của Shoko

Nụ Cười Của Shoko

Lượt đọc: 290 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nụ cười của Shoko

Tôi vùi hai bàn tay vào trong cát lạnh và nhìn mặt biển lấp lánh tối đen.

Cảm giác như tôi đang ở bên rìa vũ trụ.

Shoko nói, khi ngồi bên bờ biển sẽ cảm thấy như đang ở ngoài rìa của thế giới này. Cảm giác như đã tới đường ranh giới của biển – nơi bị đẩy ra khỏi trung tâm, đẩy ra khỏi mọi người, và cũng bị đẩy xa khỏi mặt trời. Shoko bảo, những kẻ cô đơn thường gặp nhau rồi bước xuống biển cho ướt chân – cái cảm giác đó cũng chẳng thích thú cho lắm đâu.

“Một ngày nào đó, mình sẽ đi khỏi biển, mình sẽ lên thành phố sống, nơi mà nhìn khắp nơi chỉ toàn thấy nhà cao tầng.”

Shoko đã nói “Một ngày nào đó”. Cả khi mười bảy tuổi cũng vậy, cả lúc hai mươi ba tuổi cũng thế. Shoko nói với tôi rằng một ngày nào đó có lẽ sẽ lên thành phố, một ngày nào đó sẽ đi du lịch Hàn Quốc hẳn một tuần, một ngày nào đó sẽ thử sống chung với cả đàn ông, một ngày nào đó sẽ bỏ việc ở bệnh viện, một ngày nào đó sẽ nuôi mèo, và sẽ thử làm bất cứ điều gì...

Cách nói tiếng Anh của Shoko thật dễ hiểu. Ai nghe cũng có thể nhận ra ngay ngữ điệu của người Nhật, nhưng phát âm chính xác và sử dụng trôi chảy những âm nối đầy trau chuốt. Dưới gốc cây đậu tía nơi học sinh người Hàn và người Nhật ngồi tụ tập, Shoko nói lưu loát bằng tiếng Anh.

“Một ngày nào đó, mình sẽ xăm hình con sâu lên đầu ngực.”

Nghe cô ấy nói vậy, trong lúc đám con gái đỏ bừng mặt thì tôi lại cười một mình.

Shoko cùng với ba học sinh nữ đến kiến tập ở lớp tôi. Hoạt động đó được tổ chức với chủ đề “Giao lưu văn hóa giữa học sinh Hàn Quốc và học sinh Nhật Bản”. Năm đó là năm mở rộng văn hóa Nhật tại Hàn. Trường mà Shoko theo học là một trường nữ sinh nhỏ tại thành phố A ở Nhật, và là trường kết nghĩa với trường cấp III của tôi. Shoko thuộc nhóm bốn người giỏi tiếng Anh nhất khối lớp 10 của trường đó nên được cử đi thăm trường chúng tôi.

Phấn khởi vì sự kiện nho nhỏ này, hiệu trưởng dẫn bốn học sinh đó đi thăm một lượt các phòng học từ lớp 10 tới lớp 12. Mấy học sinh đó cũng không biết mệt hay sao mà ngay cả khi tới điểm đến cuối cùng là lớp tôi, họ vẫn chào hỏi một cách hớn hở. Shoko trông có vẻ ngượng ngùng, nhưng thực ra không phải cô ấy xấu hổ, mà dường như cô ấy có thói quen nói chuyện giống đang mắc cỡ vậy.

Trước khi Shoko tới Hàn Quốc, mỗi khi có thời gian, mẹ, tôi và ông lại dọn dẹp nhà cửa. Shoko học bằng lớp với tôi, và tôi là một trong số ít những học sinh khối 10 nói được tiếng Anh dù chỉ bập bẹ. Lấy lý do đó, giáo viên chủ nhiệm nhờ mẹ tôi cho Shoko ở nhờ nhà chúng tôi trong thời gian một tuần cô ấy ở Hàn. Vậy là cô ấy và tôi, hai đứa đi cách nhau một khoảng bằng gang tay, ngượng nghịu cất bước về nhà tôi.

Tôi vẫn còn nhớ khuôn mặt của mẹ và ông nhìn chúng tôi và cười khi chúng tôi mở cửa bước vào nhà. Tôi nhớ hình ảnh hai người tươi cười rạng rỡ đón chào chỉ vì có khách từ nơi xa đến, mặc dù họ chẳng biết Shoko là ai. Gia đình tôi vốn vụng về trong việc thể hiện tình cảm, ngay cả việc cười với nhau cũng đã thấy gượng gạo rồi, vậy nên trông khuôn mặt hoan hỉ chào đón Shoko của mẹ và ông chỉ thấy thật xa lạ và tức cười.

“Cháu là Shoko hả? Rất vui được gặp cháu. Nhà cửa chật chội quá, không biết cháu có thấy bất tiện không nữa.”

Mẹ tôi nói đủ thứ chuyện nọ chuyện kia như thể Shoko nghe hiểu được tiếng Hàn, còn ông thì vừa dịch những câu mẹ nói sang tiếng Nhật vừa liên tục mỉm cười.

Ông tôi vốn chỉ biết ngồi ở ghế sofa vừa xem ti vi vừa ra lệnh, mang cái gạt tàn lại đây, rót nước lại đây, mang nước nóng ngâm chân lại đây... Mỗi khi tôi đi học về là thấy ông ngồi ở chỗ vẫn thường ngồi, đưa mắt liếc tôi một cái rồi lại xem ti vi tiếp. Vậy mà hôm đó, ông tắt ti vi và ngồi hỏi Shoko chuyện nọ chuyện kia. Ông nói tiếng Nhật với giọng đầy tự tin. Dù đó là thứ tiếng học được từ những giáo viên Nhật Bản nóng tính, nhưng với ông, tiếng Nhật là tiếng nước ngoài duy nhất mà ông nói được.

Ngay cả khi ăn cơm, gia đình tôi vốn cũng chẳng chuyện trò gì nhiều. Thường thì chỉ bật ti vi lên để đó rồi vừa xem thời sự hoặc phim truyền hình vừa ăn càng nhanh càng tốt. Vậy mà Shoko vừa xuất hiện, ông đã liên tục nói tiếng Nhật tới mức không có chỗ cho tôi chen vào, thỉnh thoảng lại còn cười ha hả. Đó là lần đầu tiên tôi thấy hình ảnh ông cười và nói chuyện nhiều như vậy.

Shoko ngồi quỳ gối kiểu Nhật, lắng nghe ông nói và mỉm cười rất dịu dàng. Cũng giống như lần đầu tiên nhìn thấy vẻ mặt bẽn lẽn của Shoko ở lớp, tôi cảm thấy trong nụ cười của cô ấy có gì đó gượng gạo một cách khó hiểu. Không phải Shoko cười vì thấy thật sự buồn cười, không phải cô ấy gật đầu vì thấy đồng cảm, mà dường như Shoko chỉ tỏ ra như vậy để người đối diện cảm thấy dễ chịu mà thôi.

Đôi khi, trước mặt Shoko, ông lại chỉ vào tôi mà cười nói gì đó. Tôi hỏi Shoko xem ông nói gì, cô ấy bảo ông đang kể mấy chuyện buồn cười liên quan đến tôi. Ví dụ những chuyện ngớ ngẩn như tôi đến trường quên cặp rồi lại phải quay về nhà, hay chuyện tôi nghe kể truyện ma rồi tè ra quần. Mỗi lần tôi mắc lỗi như vậy, ông lại nổi giận đùng đùng, vậy mà giờ ông lại coi những chuyện đó như những kỷ niệm thú vị mà đem ra kể – điều này tôi thật không thể nào hiểu nổi.

Có vẻ như Shoko hợp nói chuyện với ông hơn là với tôi. Nói chuyện với tôi phải dùng tiếng Anh nên còn nhiều chỗ không hiểu ý nhau, nhưng lại nói với ông bằng tiếng Nhật nên cả hai đều hiểu hết. Ông bảo Shoko hãy gọi mình là “Mister Kim”. Và ông nói muốn trở thành bạn của Shoko, chứ không muốn là một người như thầy hiệu trưởng già lão.

Đó là một đêm tháng Bảy trước kỳ nghỉ hè.

Shoko và tôi vừa đi dạo vừa nói chuyện ở bờ sông gần nhà. Shoko bảo mọi người trong gia đình tôi thật tình cảm và thú vị. Tôi không trả lời. Vốn câu chữ tiếng Anh tôi có thể diễn đạt quá ít ỏi, nhưng tôi muốn thể hiện thiện cảm của mình với Shoko. Thế là tôi đưa tay khoác lấy tay Shoko.

Shoko dừng bước, nhìn tôi với vẻ mặt đanh lại và nói bằng giọng tiếng Anh khô khốc:

“Mình là người dị tính đấy. Mình không để ý đến cậu về mặt tính dục đâu. Với những người cùng giới khác cũng vậy. Mình thích con trai cơ.”

Tôi hơi ngạc nhiên và bảo mình cũng đâu có để ý đến cậu theo kiểu đó, bạn bè khoác tay nhau là kiểu skinship thân mật, vậy nên đừng có mà hiểu lầm. Shoko tỏ ra ngờ vực, nhưng ngày hôm sau, thấy ở trường rất nhiều đứa con gái khoác tay nhau, Shoko cũng hiểu ra lời tôi nói.

Shoko kể cô ấy sống cùng với ông và một người cô. Vì vậy, khi tới nhà tôi, thay vì cảm giác xa lạ, cô ấy lại thấy thật thoải mái. Người cô của Shoko trên thực tế là trụ cột trong nhà, nhưng hay đi qua đêm, thường xuyên không về. Và ông của Shoko đối xử với cô ấy như công chúa, ông tin tưởng một cách chắc chắn rằng Shoko là cô bé thông minh, xinh đẹp nhất trên thế gian này.

“Đối với ông, mình là tôn giáo, là thế giới duy nhất trên đời này. Mỗi lần nghĩ như vậy, mình chỉ muốn chết quách cho xong.”

Shoko kể, có hôm trời mưa, để không phải chạm mặt ông đang cầm ô đi đón, cô ấy thậm chí đã trèo qua tường rào để vào trong nhà. Tiền bạc chẳng có mấy đồng, vậy mà ông còn trích ra mua quần áo cho Shoko, có lần Shoko đã vứt đồ ông mua còn nguyên giấy gói vào thùng rác. Shoko bảo ông coi cô như bạn gái vậy, việc này khiến cô thấy rùng mình ớn lạnh, chỉ cần tốt nghiệp xong cấp III thôi, Shoko sẽ lên Tokyo và không về quê nữa.

“Vậy mình cho cậu ông của mình đấy. Ông coi mình là đứa đần độn nhất trên thế gian này, cứ thấy mặt mình là quát mắng bảo giảm cân đi. Đừng nói gì tới quần áo nhá, đến một gói kẹo cao su ông còn chưa bao giờ mua cho mình nữa là..”

Shoko nhìn tôi và lặng im mỉm cười. Nụ cười ân cần nhưng lạnh lẽo. Nụ cười như thể của một người đã hoàn toàn trưởng thành cười với một đứa trẻ còn non nớt dại khờ vậy.

Trong khoảng thời gian một tuần khi Shoko ở lại, một không khí lạ thường đã lan tỏa khắp ngôi nhà của chúng tôi. Đó là khoảng thời gian mà ông thì đi siêu thị mua món dưa hấu Shoko thích ăn, còn mẹ thì đặt mục tiêu sẽ phải học ngoại ngữ dù là tiếng Anh hay tiếng Nhật đi nữa, là những lần cả nhà ăn cơm nắm do Shoko làm và trò chuyện bằng cả ba thứ tiếng.

“Cháu chụp ảnh đây ạ.”

Shoko lắp phim vào chiếc máy ảnh Pentax và chụp khuôn mặt ba người chúng tôi đang ăn dưa hấu. Không chỉ có thế, ảnh mẹ đang nấu bữa tối, ảnh ông đang dọn dẹp phòng khách... Shoko đều chụp lia lịa như một paparazzi. Mẹ và ông ngượng nghịu nhưng cũng cười cho qua, như thể họ cũng không thấy khó chịu với sự quan tâm như vậy.

Mẹ tươi cười với ánh mắt rạng ngời, còn ông trò chuyện nhiều hơn, cả hai như người mà tôi không quen vậy. Tôi nghĩ, nếu gặp họ ngoài đường, có khi tôi sẽ không chần chừ mà nói ngay rằng đó là những người lớn đáng mến cũng nên. Mẹ và ông vốn chậm chạp và vụng về trong việc giao thiệp với người khác. Tôi thấy họ giống như chiếc đồng hồ treo tường không còn chạy nữa, mỗi năm trôi qua lại thêm phủ bụi và phai màu. Là những con người chẳng có ý chí thay đổi, cũng chẳng có mục tiêu gì, cứ thế giậm chân tại chỗ mà thôi.

Gia đình lúc nào cũng như những người xa lạ nhất với tôi. Có lẽ Shoko còn biết rõ về ông tôi hơn cả bản thân tôi.

Trên đường đi học về, Shoko và tôi thường thuê băng video rồi mới về nhà. Phần lớn là những phim cấm thanh thiếu niên, nhưng nếu tôi đi cùng Shoko tới cửa hàng băng video thì vẫn thuê được băng mà không hề bị nghi ngờ gì. Chúng tôi thuê những bộ phim như Great Expectation có Ethan Hawke đóng vai chàng họa sĩ, Shakepears in Love với những cảnh chăn gối nóng bỏng, bộ phim kinh dị của Nhật Ring, hay Notting Hill của Julia Roberts. Chúng tôi ngồi trong phòng khách, tắt đèn, vừa uống trà xanh vừa xem phim. Khi có cảnh nóng, một sự im lặng bao trùm cả ba người, ông, tôi và Shoko.

“Lần đầu tiên mình thấy có người thích phim ảnh như cậu đấy. Có khi sau này cậu sẽ trở thành nhà làm phim cũng nên.”

Khi đi trả băng, Shoko nói với tôi như vậy.

“Ví dụ như biên kịch hay đạo diễn ấy.”

Tôi chỉ lắc đầu cười, nhưng thật lạ là những lời nói đó của Shoko đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng tôi. Có sức mạnh trong lời nói của Shoko.

Shoko tặng tôi tấm bản đồ thế giới được gấp vuông vắn. Shoko nói thế giới thật rộng lớn, chúng ta có thể đi tới bất cứ nơi nào. Shoko bảo không phải chỉ lên tới cái thành phố gần thị trấn chúng tôi đâu, mà đã đi thì hãy đi tới tận Seoul, Bắc Kinh, Paris, New York... Tôi thấy điều đó thật hài hước nên cũng chỉ cười. Bởi trong gia đình tôi, ngay cả ở Seoul cũng chẳng có một ai cư trú, và tôi vẫn nghĩ mình sẽ cứ thế sống tiếp ở gần nơi mình đã sinh ra mà thôi.

Tấm bản đồ Shoko tặng, tôi dán lên tường trong phòng mình và lấy bút đánh dấu chấm đỏ tại thành phố A nơi Shoko đang sống và tại huyện nơi tôi sống. Hai chấm đỏ đó gần nhau tới mức chưa đầy một gang tay. Tôi cũng đánh dấu cả những thành phố trên thế giới mà Shoko muốn đi. Bắc Kinh, Hà Nội, Seattle, Christchurch, Dublin. Ngay trong những chấm nhỏ như vậy cũng có những con người đang sống – nghĩ vậy, tôi càng cảm thấy thêm xa xôi diệu vợi.

Lá thư đầu tiên của Shoko được gửi tới sau khi cô ấy đi được một tuần. Shoko nói sẽ không thể quên được quãng thời gian ở Hàn Quốc. Cô ấy nói khi nào vào đại học, cô ấy sẽ quay lại Hàn và cùng tôi đi du lịch. Shoko kêu ca rằng quay lại Nhật thời tiết ẩm thấp quá, bước vào nhà mà cảm giác như chui vào hầm mộ. Và cô ấy viết rằng, lần sau gặp lại, nhất định tụi mình phải khoác tay nhau nhé.

Thư không phải chỉ gửi cho mình tôi. Sau đó Shoko còn gửi một phong thư khác cho ông, bên trong là thư viết bằng tiếng Nhật. Ông và tôi cùng ngồi cạnh nhau trên ghế sofa và đọc những bức thư bằng tiếng Nhật và tiếng Anh. Ông để bức thư của Shoko trên chỗ tay dựa ghế sofa, một ngày thể nào ông cũng cầm bức thư viết theo hàng dọc đó của Shoko lên và đọc tới mấy lần.

Những bức thư của Shoko bao giờ cũng công bằng như nhau. Thư gửi đến cho tôi và ông vào cùng một ngày, cùng một độ dài, có hôm là tôi, có hôm thì là ông thấy thư của Shoko trong thùng thư. Chúng tôi như thể tranh nhau việc mở thùng kiểm tra thư, rồi ngồi trên ghế sofa mà nói về cuộc sống thường ngày của Shoko.

Có vẻ như Shoko luôn viết cho ông những lá thư với nội dung tươi sáng. Như chuyện được giải Nhất trong cuộc thi chạy, chuyện Shoko cùng người cô ruột đến một quán cà ri rất ngon, chuyện đi chơi thuyền cùng bạn bè vào ngày nghỉ. Chuyện Shoko viết gửi ông là những câu chuyện tươi đẹp mà người ta vẫn thường đọc thấy trên bưu thiếp.

Ngược lại, trong thư gửi tôi chỉ toàn là những chuyện u ám. Chuyện cô ấy lấy trộm tiền của ông mình nhưng ông làm ngơ, chuyện cô ấy ném chỗ tiền đó xuống lỗ cống, chuyện Shoko biết cô của mình phung phí hết chỗ tiền cấp dưỡng mà bố Shoko gửi nên đã lôi đồ lót của bà ra, xé từng chiếc từng chiếc một và quăng hết ra đường, chuyện thỉnh thoảng Shoko lại lấy dao đã sát trùng tự đâm vào hông mình.

Khi đó, tôi cảm thấy hoang mang trước những câu chuyện đầy mâu thuẫn của Shoko. Thật khó để xác định xem những chuyện kể với ông, hay những chuyện kể với tôi, là thật. Vậy nhưng thời gian trôi qua, tôi đoán có lẽ cả hai loại chuyện đó đều là thật. Tôi ngờ rằng, tất cả – dù cho không phải từng chi tiết cụ thể – đều là những câu chuyện có thật. Mà không, dù tất cả đều là hư cấu đi nữa thì cũng chẳng có gì khác cả. Hẳn là Shoko muốn được người khác công nhận và yêu quý giống như những gì thể hiện trong thư viết cho ông tôi, và muốn trả thù những người gần gũi nhất – trong đó bao gồm cả bản thân Shoko – giống như đã viết trong thư gửi cho tôi.

Cứ khoảng mười bữa là Shoko lại gửi thư cho hai ông cháu tôi. Chúng tôi có viết trả lời hay không, cô ấy cũng không bận tâm. Cứ như vậy, Shoko gửi thư cho tới tận khi tốt nghiệp cấp III.

Shoko kể cô ấy không có người bạn thân nào cả. Nhìn bề ngoài thì có lẽ cũng có những người chơi hợp, nhưng dường như Shoko thuộc kiểu người không biết cách làm thế nào để xây đắp tình bạn mà người khác dành cho mình. Vì vậy mà với những người gần gũi bên cạnh, cô ấy tuyệt nhiên không thể nào mở lòng được, thay vào đó, cô ấy chọn cách viết thư bằng tiếng nước ngoài gửi cho những người nước ngoài không cần thiết phải gặp gỡ giáp mặt. Giả sử tôi mà là người Nhật, là người sống gần bên Shoko thì chắc hẳn cô ấy thậm chí còn chẳng tỏ ra quan tâm đến tôi nữa.

Người ta vẫn thường nói xa mặt thì cách lòng, dù yêu dù ghét gì thì cũng phải thường xuyên gặp mặt mới bồi đắp được tình cảm, nhưng trong trường hợp của Shoko thì lại khác. Phải là người tuyệt đối không thể nào bước được vào cuộc sống của bản thân, phải là người ở một chốn xa xôi không nhìn thấy cũng không nghe thấy... phải là người như vậy, Shoko mới có thể gọi là bạn được.

Shoko học giỏi. Cô ấy nói dù thế nào đi nữa, chắc cô ấy cũng sẽ lên được Tokyo.

Ba tháng sau khi tốt nghiệp cấp III, không thấy Shoko gửi thư đến nữa.

Trong bức thư cuối cùng, Shoko đã viết như thế này.

“Mình không lên Tokyo được nữa rồi. Shoko.”

Và trong bức thư gửi cho ông, Shoko viết như sau.

“Cháu muốn sang Hàn Quốc thăm Mister Kim, nhưng không thể giữ đúng lời hứa được. Cháu xin lỗi. Shoko.”

Cầm bức thư chỉ có một dòng đó, ông im lặng thở dài. Đối với ông cũng vậy, Shoko là người bạn tâm sự đầy quý giá. Ông đã lên sẵn cả kế hoạch tất cả cùng đi chơi đảo Jeju khi Shoko trở thành sinh viên và sang Hàn Quốc chơi. Vốn là một người cứ nghe nói đến Nhật Bản là nghiến răng ken két, vậy mà giờ ông tôi lại nói vấn đề là ở đám chính khách Nhật ngu muội, chứ không được căm ghét người dân Nhật lương thiện.

Tôi vẫn không sao hiểu rõ tình bạn giữa Shoko và ông tôi.

Ngay cả từ sau dạo đó, khi ra ngoài đi dạo, ông vẫn luôn mở thùng thư xem thư của Shoko đã đến chưa. Mỗi khi nói chuyện điện thoại với tôi, nhất định thế nào ông cũng phải thêm vào mấy câu như điệp khúc theo kiểu “Chắc Shoko bận lắm nhỉ, con bé không liên lạc gì với mày à?”, sau đó mới cúp máy. Shoko không gửi thư nữa, tôi cũng thấy đáng tiếc, nhưng dạo đó lại đúng vào lúc tôi vừa mới bắt đầu cuộc sống thần kỳ và cũng có chút bỡ ngỡ của sinh viên năm nhất, vì quá sức bận rộn nên tôi không thể nào để tâm đến chuyện thư từ của Shoko nữa. Khi ấy, tôi đang học tại một trường dân lập ở Seoul.

Đó là những ngày tháng mà tôi hầu như không hề nhớ tới Shoko. Lần đầu tiên tôi biết yêu đương hẹn hò, và rồi tôi chuẩn bị làm du học sinh trao đổi. Phải đến khi ngồi học thuộc mấy từ tiếng Anh TOEFL, tôi mới nhớ lại việc mình đã cùng Shoko đi quanh khu nhà tôi và trò chuyện bằng thứ tiếng Anh chưa thạo. Tôi cũng nhớ ra cái cảm giác cánh tay cô ấy chạm vào cánh tay tôi, nhớ ra khuôn mặt mỉm cười nhã nhặn nhưng lạnh lùng và nhìn tôi như nhìn một đứa trẻ con, nhớ cả cách cô ấy phát âm các âm nối thật xuất sắc nữa.

Tôi chỉ biết địa chỉ nhà Shoko. Còn địa chỉ email, cả số điện thoại nhà cô ấy, tôi đều không biết. Tôi viết thư gửi đến địa chỉ nhà Shoko mấy bận, nhưng không có hồi âm nên tôi cũng nhanh chóng nản lòng. Hai năm cứ thế trôi qua, tôi sang Canada theo diện sinh viên trao đổi. Đôi lúc tôi cũng nghĩ tới Shoko, nhưng cũng chẳng thấy đau lòng hay buồn rầu gì cho lắm. Cô ấy là người mạnh mẽ nên chắc hẳn bây giờ cũng đang mạnh mẽ mà sống tốt thôi. Tôi nghĩ biết đâu lúc này, cô ấy cũng giống như tôi, đang học ở một đất nước xa xôi nào đó.

Khi đợt du học sắp kết thúc, tôi bắt xe buýt đêm qua biên giới sang New York du lịch ba ngày hai đêm. Đó là chuyến du lịch đói khát mà tôi đã phải lén lấy bánh mì bữa sáng ở quán trọ sinh viên gói vào trong khăn ăn và mang theo để ăn thay cho bữa trưa và bữa tối.

Hôm đó, tôi ngồi ăn bữa tối trên cầu thang trước Thư viện thành phố New York. Và tôi cảm giác có ai đó đang nhìn mình chằm chằm. Một cô gái Á Đông tóc ngắn đang nhìn tôi một cách không giấu giếm. Với ý nghĩ không được để thua trong cuộc đấu mắt này, tôi cũng nhìn lại cô ấy. Cô ấy từ từ tiến lại phía tôi và lên tiếng:

“Cậu từ Hàn đến phải không? Còn nhớ mình chứ? Là mình này, Hanah đây. Học sinh người Nhật đã qua kiến tập ở Hàn Quốc ấy.”

Tôi chầm chậm gật đầu. Hanah – một trong số những học sinh người Nhật sang kiến tập. Tuy không nhớ mặt nhưng tôi nhớ ra giọng nói trầm trầm dịu dàng ấy. Hanah vô cùng vui sướng, cô ấy đưa tôi đến căn hộ riêng.

“Ba năm trước, mình sang định cư ở Mỹ. Và trước khi sang Mỹ, thật may là mình cũng qua Hàn được một chuyến. Mình vẫn còn nhớ như in chuyện hồi ấy. Mọi người đối xử với tụi mình thật là tốt phải không. Mình nhớ mình thường cùng gia đình mà mình ở nhờ đi ra ngoài ăn tiệm. Khi mình ăn mấy món như bì lợn nướng hay lòng lợn, mọi người đều cùng nhau vỗ tay, vui thật đấy.”

“Ra là vậy.”

“Hồi đó cậu cũng là chủ nhà còn gì. Của Shoko ấy.”

Tôi không đáp, chỉ gật đầu và nhìn xuống mép bàn.

“Cậu vẫn còn liên lạc với cậu ấy chứ? Hình như cậu ấy kể là có trao đổi thư từ qua lại với cậu mà.”

Tôi kể lại chuyện lá thư cuối cùng mà Shoko gửi. Rằng sau khi gửi lá thư vỏn vẹn chỉ có một dòng nội dung nói không lên Tokyo được nữa, Shoko đã hoàn toàn cắt đứt liên lạc với tôi. Tôi bảo có lẽ tôi đã trót làm gì có lỗi với Shoko chăng. Tôi cũng nói sao lúc đó mình lại không nghĩ tới việc trao đổi địa chỉ email hay số điện thoại với Shoko chứ – chuyện này khiến tôi thấy bản thân mình thật là thảm hại. Nghe thế, Hanah khẽ cười và bảo Shoko vẫn sống tốt, vậy nên đừng lo lắng gì cả.

“Shoko học tại một trường đại học ở thành phố tụi mình. Cậu ấy đỗ khoa Luật, Đại học Waseda [1] nhưng không đi học ở đó.”

Vấn đề là ở ông của Shoko. Ông bị chứng suy thận, ít nhất ba ngày một lần phải đến bệnh viện lọc máu. Người cô đã gần năm chục tuổi đầu rất sao nhãng trách nhiệm đối với vị thân sinh ra mình, đã thế lại còn nghiện mua sắm nữa.

Ông như vậy, Shoko không thể bỏ ông lại mà lên Tokyo được. Hanah nói chắc hẳn cũng có cả lý do kinh tế nữa. Shoko theo học tại trường đại học của thành phố theo diện học bổng, đi lại bằng xe buýt nên việc đi học cũng không gặp gánh nặng gì. Hanah nói thêm rằng Shoko đã lựa chọn con đường an toàn, theo học khoa Vật lý trị liệu, chỉ cần ra trường là đi đâu cũng có thể tìm được việc.

Tôi chưa bao giờ thử tưởng tượng xem Shoko sẽ làm một công việc gì đó cụ thể. Chỉ là tôi đã có cảm giác mơ hồ rằng cô ấy không phải kiểu người sẽ ở mãi một chỗ. Bởi Shoko đã từng nói một cách nhẹ như không rằng, chỉ cần quyết tâm thì có thể sống ở bất cứ nơi nào. Do vậy, chuyện Shoko hiện vẫn không thể nào rời khỏi nơi mình sinh ra như thế cứ đọng lại trong lòng tôi.

Tôi nghĩ tới hình ảnh Shoko cứ ba ngày một lần đưa ông đến bệnh viện, hình ảnh cô ấy từ bỏ giấy gọi nhập học của Đại học Waseda, nghĩ đến chuyện Shoko mà đi du lịch có lẽ cũng không thể đi quá hai ngày. Tại căn hộ của Hanah, sự bất mãn và cảm giác tội lỗi kỳ lạ của tôi đối với Shoko, tất cả đều biến mất.

Hanah không ngừng kể về trường đại học và cuộc sống ở Mỹ. Tôi đã cố tập trung nghe cô ấy nói chuyện nhưng cứ liên tục nghĩ tới những chuyện về Shoko nên không sao nghe được câu nào cho ra đầu ra đuôi.

Dù có chuyện gì đi nữa, tại sao Shoko lại đột nhiên cắt đứt liên lạc như vậy, tại sao lại chăm sóc cho người ông bị bệnh tại ngôi nhà mà cô ấy vốn muốn thoát khỏi đến như vậy – khi đó, tôi không sao hiểu nổi chuyện này. Tôi cho Hanah địa chỉ email của tôi và bảo nếu như có ai biết địa chỉ mail của Shoko, Hanah hãy gửi giúp tới địa chỉ mail của tôi.

Tôi không nhận được mail trả lời từ Hanah. Tôi cảm giác như Shoko đã nhờ cô ấy đừng cho ai biết cách liên lạc với mình.

Mùa hè năm thứ tư đại học, tôi tự mình tìm đến nhà của Shoko. Bắt xe buýt đêm từ Tokyo, tôi lần mò dò hỏi địa chỉ và tìm tới ngôi làng nơi Shoko đang sống. Tôi định sẽ lưu lại một nhà trọ nhỏ tại ngôi làng đó và sẽ ở lại ít nhất một tuần. Tôi đã tính rằng dù cho Shoko không có ở nhà đi nữa thì cũng không thể vắng mặt quá hai ngày. “Hãy gặp mặt Shoko một lần nào!” – khi ấy tôi đã định bụng như vậy.

Phải đến khi tới Nhật Bản rồi, tôi mới thấm thía thế nào là cái thời tiết ẩm thấp của Nhật mà Shoko từng nói là ghét tới mức đó. Hơi ẩm lẫn trong không khí tự nó đã giống như mồ hôi rồi. Không phải mồ hôi từ lỗ chân lông toát ra, mà giống như mồ hôi tan chảy từ trong không khí, đọng lại và chảy trên da tôi vậy.

Nhà Shoko nằm tại một con hẻm mà chỉ cần băng qua đường là sẽ dẫn thẳng ra bờ biển. Đó là một khu yên tĩnh gồm những ngôi nhà nhỏ nằm sát cạnh nhau. Có hai người đàn ông trung tuổi đang ngồi câu cá ở bến tàu. Không chỉ trẻ nhỏ, mà ngay cả thanh niên cũng chẳng mấy khi thấy bóng dáng. Thỉnh thoảng chỉ thấy vọng tới tiếng ô tô hay xe máy chạy qua.

Tôi cất bước tới địa chỉ nhà Shoko. Cánh cổng màu xanh cô ban. Không có bảng tên nhà [2] .

Vừa đứng trước cánh cổng đó, tôi đã lấy được dũng khí mà trước đó không hề có. Tôi tin chắc rằng ít nhất thì Shoko cũng sẽ không làm ra vẻ không quen biết tôi. Tôi nghĩ dù cho phải quay về mà không gặp được Shoko thì cũng chẳng sao cả. Lúc đó, tôi đã liệt kê tất cả các khả năng có thể làm tiêu tan nỗ lực đi đến tận đó của mình, và có lẽ tôi đã cố gắng mở lòng mình đối với những khả năng đó.

Cánh cổng mở ra nhanh hơn tôi nghĩ. Một ông lão cao lớn tóc bạc nhìn tôi và cười. Nước da sẫm màu ửng đỏ. Tôi cố nhớ lại vốn tiếng Nhật đại cương được học hồi năm nhất đại học nhưng miệng chỉ lắp bắp bật ra được mấy từ như Shoko, bạn của Shoko, Hàn Quốc, viết thư...

Thấy tôi như vậy, ông lão cười và nói mấy câu tiếng Nhật tôi nghe không hiểu, sau đó đưa tay ra hiệu mời tôi vào trong nhà. Ngôi nhà có một mảnh sân nhỏ trồng hoa yên chi, với sàn gỗ nhẵn bóng. Ông lão ra hiệu mời tôi ngồi lên sàn. Tôi cởi giày leo lên sàn.

Ông lão ngồi giữ khoảng cách với tôi và nói liên hồi như thể đang ngượng ngập. Dù nghe không hiểu ông đang nói gì, nhưng trong những lời ông nói, phần lớn đều có danh từ riêng Shoko. Tôi nhớ tới những gì Shoko nói: ông mình cứ làm như mình là xinh đẹp và thông minh nhất trên thế gian này, và vì thế mà mình thấy nghẹt cả thở.

Ông lão mang cho tôi một cốc nước đá.

“Shoko, Shoko.”

Tiếng ông lão gọi thật thận trọng.

Sau đó hình như ông nói So Yoo đến này, So Yoo từ Hàn Quốc sang. Từ trong phòng, không hề nghe thấy một động tĩnh gì. Ông lão thử xoay tay nắm cửa phòng rồi ra hiệu rằng cửa bị khóa bên trong rồi. Trời hôm đó nóng nực và ẩm thấp, vậy mà tôi thấy lạnh. Shoko không muốn gặp tôi nữa. Tôi chỉ là một người bạn giả tưởng của Shoko, hoặc chỉ ở mức độ một cuốn nhật ký, và bây giờ đơn giản là Shoko đã muốn dừng viết cuốn nhật ký đó, vậy mà cái đồ nhật ký như tôi lại định bước vào cuộc sống của Shoko cơ đấy.

Ông lão nhắc đi nhắc lại là không sao đâu và đội mũ lên, sau đó ra hiệu rằng ông sẽ ra ngoài một lát. Ông lão đẩy cánh cổng bước ra ngoài, cùng lúc đó, cửa phòng Shoko mở ra.

Mái tóc dài của Shoko được buộc cao, cô mặc một chiếc váy liền không tay màu vàng in họa tiết.

Shoko đứng lặng nhìn tôi đang uống cốc nước đá. Và rồi cô ấy chậm chạp bước tới, ngồi cách tôi một khoảng. Từ Shoko tỏa ra mùi nước xả vải. Chúng tôi không ai nói gì, cứ thế ngồi im đối diện nhau. Vẫn nhìn thẳng như thế, Shoko từ từ lên tiếng:

“Mình tưởng là mình sẽ sang Hàn gặp cậu cơ mà.”

Tôi quay nhìn nét mặt nghiêng nghiêng của Shoko và nói:

“Mình hóa ra lại đến trước nên cậu thất vọng lắm nhỉ.”

Shoko im lặng một lúc, sau đó nói thật khẽ khàng như một tiếng thở dài:

“Mình nhớ cậu lắm.”

Lúc đó, tôi thấy hơi ghét Shoko nên không nói với cô ấy rằng mình cũng nhớ cậu. Mặc dù vậy, nghe cô ấy nói nhớ tôi, nước mắt tôi đã ứa ra.

Có những tình yêu giống như tình bạn, và có những tình bạn tựa như tình yêu. Nghĩ tới Shoko, tôi lại sợ rằng cô ấy sẽ không còn thích mình nữa.

Thực ra, Shoko chẳng là gì cả. Dù cho có lập tức mất đi Shoko, cuộc sống thường ngày của tôi cũng chẳng thể nào khác đi được. Shoko không phải là người tuyển dụng trả lương cho tôi, cũng chẳng phải là bạn đại học chia sẻ cuộc sống thường nhật với tôi, và cũng đâu phải là bạn bè thân thiết gần nhà. Không có chỗ cho Shoko chen vào giữa những bánh răng đơn giản đang vận hành chiếc đồng hồ mang tên cuộc sống thường nhật của tôi. Thật lòng mà nói...

Shoko chẳng là gì cả.

Mặc dù vậy, tôi vẫn mong mình sẽ có một ý nghĩa gì đó đối với Shoko. Trong tôi có cảm giác trống rỗng lạ thường trực từ khi cô ấy không còn viết thư cho tôi nữa. Và cả tâm trạng phù phiếm khi mong rằng sẽ không bị Shoko lãng quên.

Da Shoko trắng và mỏng tới mức nhìn thấy rõ cả mạch máu. Tôi hỏi cô ấy không ra ngoài hay sao, Shoko trả lời rằng ngoài việc cùng ông đến bệnh viện ra thì cô ấy không ra ngoài. Và ngay cả lúc ra ngoài, cô ấy cũng đội mũ rộng vành và tránh ánh nắng mặt trời.

Tôi hỏi tại sao không lên Tokyo, Shoko nhìn thẳng vào mắt tôi mỉm cười và lắc đầu. Sau đó, cô ấy vào phòng mang ra một cuốn sổ ký họa. Mở cuốn sổ ra thì thấy những bức vẽ đơn giản bằng chì màu. Có bức chỉ toàn vạch màu chi chít, có bức thì vẽ bé xíu ở góc tờ giấy. Phía dưới mỗi bức tranh có dòng chữ viết nguệch ngoạc bằng bút chì màu. Shoko đưa tay chỉ những dòng chữ đó và dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh:

“Lòng bàn chân cháy dở.”

“Ngọn đèn đường đã tắt trên đường cao tốc.”

“Hạt giống đã thối, và tất cả chỉ có thế.”

“Người lính không đi đúng nhịp.”

“Kẻ độc tài ủ dột.”

“Từ trái nghĩa với “Hình mẫu”.”

“Vậy nhưng... Hình mẫu.”

“Tiếng vọng lạ thường của câu nói “Biết ngay mà”.”

“Chim bồ câu mổ mặt đất đến khi chết cóng.”

Sau khi giới thiệu hết các bức tranh và tiêu đề, Shoko đưa tay chỉ vào mình và nói:

“Mình. Shoko.”

Shoko như thể đã bị đứt cầu chì. Cố nén tâm trạng nặng nề, tôi bảo “Cậu vẽ tranh đẹp thật đấy” một cách chẳng thật lòng cho lắm. Sợ Shoko lại vẽ tranh tiếp, tôi nói “À không, hay là cậu viết chữ đi”, Shoko liền mỉm cười, vẫn cái nụ cười nhã nhặn đó.

Nụ cười vẫn giống hệt với nụ cười của Shoko hồi còn học sinh. Vậy nhưng trong nụ cười mà hồi đó tôi thấy lạnh lùng và thật người lớn, giờ đây tôi lại đọc thấy vẻ yếu nhược và đề phòng của Shoko. Tôi đã từng nghĩ Shoko là người mạnh mẽ hơn tôi. Nhưng thực ra Shoko thật yếu đuối.

Rõ ràng là lúc đó, chắc hẳn cả Shoko cũng đang cảm thấy như vậy. Rằng tôi đã trở thành một người mạnh mẽ vững vàng hơn về mặt tinh thần so với cô ấy. Nhìn con người mà một góc tinh thần đã suy sụp đó, không hiểu sao tôi lại chìm trong cảm giác tự tôn thật dị thường.

Tôi kể cho Shoko nghe về đời sinh viên của tôi. Về chuyện tôi sang Canada với tư cách sinh viên trao đổi, về những chuyến thỉnh thoảng lại xách ba lô lên đi du lịch và về những người nước ngoài mà tôi mới kết bạn được. Tôi cũng kể cả chuyện gặp Hanah ở New York. “Mình có nghe Hanah kể lại. Cậu đậu vào Đại học Waseda mà lại không đi học được phải không? Nghe nói là tại vì ông cậu phải điều trị lọc máu.” những chuyện như vậy, tôi cứ nói tuột ra chẳng nghĩ ngợi gì. Ngay cả trong lúc nói những câu đó, tôi cũng có cảm giác mình đang đi quá một giới hạn không được vượt qua, và say trong tâm trạng vừa sợ hãi vừa hưng phấn đó, tôi lại vượt qua càng nhiều giới hạn hơn nữa.

“Mình không biết là cậu chỉ toàn sống ở quê thôi đấy. Đã thế lại còn vì phải chăm ông bị bệnh nữa, thật chẳng giống cậu chút nào. Cứ ba ngày một lần, cậu cùng ông đến bệnh viện phải không? Nghe nói lọc máu vất vả lắm. Cả với người bệnh, cả với người nhà bệnh nhân nữa. Mình không biết là cậu thương ông đến mức ấy đấy.”

Khi ấy, nghe tôi nói vậy, nếu như Shoko cứ nổi giận hay ít ra là lên tiếng thanh minh cho bản thân thì chắc hẳn tôi đã không bị tổn thương tới mức này vì những lời mình đã nói.

Shoko chỉ mỉm cười và bảo:

“Phải đấy. Mình đúng là đồ nhát gan.”

Shoko cầm quyển sổ ký họa và đi vào phòng. Sau đó, cô ấy không cho tôi xem những thứ như thế nữa. Ra khỏi phòng, Shoko ngồi xuống và lên tiếng:

“Nhưng mà càng chán ghét thì lại càng chẳng thể nào thoát ra được.”

Lúc đó, tôi đang ngồi ngượng nghịu ở phía hiên cuối thềm nhà. Và tôi hồi tưởng lại xem tại sao mình nhất định phải đến tận nơi này để gặp Shoko. Shoko không hẳn là người quen, mà cũng không phải là người không quen, và để gọi là bạn thì vẫn còn xa lạ quá. Ngay từ đầu, Shoko đã không phải thế này mà cũng chẳng phải thế kia, nhưng cũng không phải là kiểu người hời hợt tới mức chỉ vì gặp gỡ đã lâu mà sẽ dông dài những chuyện chẳng có ý nghĩa gì.

“Nhưng thật vui vì có cậu ở đây.”

Shoko chống hai tay trên sàn tiến tới gần bên cạnh tôi. Tôi không nhìn Shoko mà cứ thế chỉ đưa mắt nhìn những bông hoa yên chi đang nở ngoài sân. Nghe tiếng vạt váy của Shoko quét trên sàn nhà, tôi cảm thấy từ Shoko toát ra nỗi cô đơn lạ thường đặc trưng của người già. Không cần nhìn mặt Shoko, tôi cũng có thể biết điều đó.

Shoko là người già.

Shoko khoác lấy cánh tay tôi. Cánh tay lạnh lẽo và mềm mại của Shoko chạm vào cánh tay nóng hổi và ẩm ướt của tôi. Tôi rùng mình sởn gai ốc. Shoko dựa đầu vào vai tôi. Tôi cảm thấy những sợi tóc thanh mảnh và mềm mại chạm vào mình. Shoko đan bàn tay vào những ngón tay của tôi, chân đu đưa trong không khí như thể đang đạp nước.

“Ở đây với mình đi. Đừng về Hàn Quốc nữa, sống ở đây với mình đi.”

Shoko nói một cách hào hứng như thể đó là một điều khả thi vậy. Tôi thì nghĩ có lẽ mình sẽ không gặp lại Shoko nữa. Chỉ là tôi còn nhớ Shoko của tuổi mười bảy, tôi nghĩ cắt đứt liên lạc như vậy thì thật đáng tiếc, và tôi thấy cứ từ từ dần quên đi như thế sẽ tốt hơn.

Nếu như tôi không tình cờ gặp Hanah trước Thư viện thành phố ở New York, do đó sẽ không ôm mối cảm thương và lòng hiếu kỳ đối với Shoko, thì như vậy hẳn là tôi đã có thể xóa bỏ được Shoko trong ký ức của mình. Một người chẳng thể đi đâu được, nhưng cũng chẳng yêu thích gì cuộc sống phải ở lì một chỗ như thế – phải nhìn thẳng vào khuôn mặt mộc của một người như vậy quả là một việc chẳng dễ chịu chút nào.

Vừa lúc đó, cổng chính mở ra, ông lão bước vào trong sân. Khuôn mặt của ông bừng lên đỏ hơn so với khi tôi vừa nhìn thấy lúc nãy. Thấy chúng tôi đang tay khoác tay ngồi sát bên nhau, ông lão bối rối đứng yên tại chỗ và quay mặt đi. Dù có thể giả bộ như không nhìn thấy và cứ thế đi vào trong nhà, nhưng ông vẫn đứng yên như vậy. Tựa như có ý bảo ta cho hai đứa thời gian đấy, buông tay nhau ra đi.

Tôi cố gỡ cánh tay Shoko ra nhưng Shoko dùng hết sức bám chặt lấy cánh tay tôi. Tôi đứng dậy và gạt tay Shoko ra như thể hất một con chuột đang bám vào tay mình. Trong mảnh sân nhỏ, tôi và ông lão đứng đối mặt nhau. Một nụ cười hiện lên trên khuôn mặt sắt lại đang quay đi của ông lão. Nhưng ngay cả nụ cười đó của ông cũng không che giấu nổi các cơ mặt đang khẽ giần giật. Cả ông lão, cả tôi đều đứng bất động như thế một lúc.

“Người đàn ông này bị ám ảnh vì mình.”

Shoko đưa tay chỉ ông lão và khẽ nói bằng tiếng Anh.

“Gã khốn.”

Nghe Shoko nói, tôi kinh ngạc đưa mắt nhìn khuôn mặt ông lão. Ông lão quay mặt đi như thể cố ngăn nước mắt đang dâng lên và làm ra vẻ đang nhìn ngắm mấy bông hoa yên chi. Tôi lại quay sang nhìn Shoko. Nhìn hình ảnh ông lão yếu nhược như vậy, Shoko thậm chí còn cười như thể thú vị lắm. Tôi nghĩ tới ông tôi ở nhà. Tôi cảm giác như thể chính ông mình đang bị sỉ nhục vậy.

“Cậu nói gì cơ?”

“Mình bảo là gã khốn. Mong sao lão đi đâu rồi chết quách cho rồi.”

Tôi không sao nói nên lời. Toàn thân tôi nóng bừng lên, nhưng càng như vậy, đầu óc tôi lại càng trở nên minh mẫn hơn.

“Sẽ không có chuyện mình gặp lại cậu nữa đâu. Đừng có làm trò như trẻ con thế.”

Shoko cười rồi nói:

“Mình còn chẳng biết cậu là ai. Cậu là ai vậy?”

Shoko dựa đầu vào cây cột bên hiên nhà, miệng hơi hé ra như một con cá chết và nhìn tôi với vẻ mặt không biểu cảm. Tôi quay mặt đi vì không muốn nhìn hình ảnh đó. Trong tư thế lom khom, ông lão nhìn ngắm mấy bông hoa yên chi như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Chiếc túi ni lông màu hồng trong suốt mà ông lão đang xách có đựng mấy quả táo và vài hộp nước ép trái cây có kèm ống hút.

Sau lưng ông lão, tôi cúi đầu nói xin lỗi rồi rời khỏi ngôi nhà ấy. Tôi trả thêm lệ phí đổi vé cho hãng bay, và chiều ngày hôm sau, tôi đáp máy bay trở lại Hàn Quốc.

Máy bay từ từ cất cánh. Đó là một ngày trời trong vắt. Bên ngoài cửa sổ, biển Genkainada phản chiếu ánh sáng lấp lánh. Xa xa, cảnh vật trông đẹp rạng rỡ không tì vết.

Tôi nói dối ông là không gặp được Shoko.

“Cháu đợi suốt mấy ngày liền nhưng cô ấy không có nhà. Xin lỗi ông.”

Ông cố gượng cười.

“Vậy là mày đi một chuyến vô ích rồi nhỉ. Thôi thì cứ coi như là trải nghiệm đời người vậy. Giờ thì quên cái con bé tên Shoko hay gì gì đó đi. Tại con bé đó cũng bận quá nên mới thế. Chúng ta phải thông cảm cho nó chứ.”

Hồi tôi còn nhỏ, ông tôi là người động chuyện gì cũng nổi nóng. Ông là kiểu người mà dù cho đối phương có trình bày sự tình vì hoàn cảnh mà có lỗi với ông đi nữa, ông cũng không cần đoái hoài đến mấy thứ lý do hoàn cảnh đó. Ngay cả những mâu thuẫn có thể nói chuyện với nhau để giải quyết thì kết cục cũng xảy ra ầm ĩ. Ông chẳng biết đến những thứ như thông cảm hay khoan dung, và lại còn hay để bụng, chuyện đã qua rồi mà ông rất hay lôi ra nói rồi nổi cáu.

“Chúng ta hãy thông cảm cho nó, hẳn con bé cũng có lý do riêng, thôi thì cứ quên đi...” Những câu như vậy không phải là kiểu nói của ông. Việc ông nói đến Shoko dường như là để tránh né chính bản thân mình. Như thể ông nghĩ Shoko chắc hẳn phải có lý do riêng, để từ đó bảo vệ cho tâm trạng của chính ông.

Hẳn ông nghĩ rằng chỉ là thư từ qua lại với nhau thì có ý nghĩa gì to tát lắm đâu. Đã thế lại chỉ là bạn viết thư với người nước ngoài chênh nhau tới năm chục tuổi. Kể từ sau tuổi năm mươi đã sống không tiền, không nghề nghiệp gì ra hồn nhưng vẫn không hề biết cách nhún mình – một người như vậy đã phải đầu hàng bỏ cuộc trước sự im lặng của Shoko. Trong phòng khách, chiếc tủ vốn xếp đầy thư của Shoko giờ đây trống trơn. Ông không còn kiểm tra thùng thư. Kể từ sau ngày hôm đó, chúng tôi không nói bất cứ chuyện gì về Shoko nữa.

Hình ảnh Shoko bị giam chặt như một con búp bê tại ngôi nhà nhỏ đó cứ thấp thoáng vụt qua như một bóng ma trước mắt tôi. Chắc bây giờ cô ấy đã trở thành nhà vật lý trị liệu rồi. Và hẳn là đã bắt đầu đi làm kiếm tiền. Hồi đó, tôi đã nghĩ rằng Shoko đã đưa ra quyết định một cách quá dễ dàng. Mới hai mươi ba tuổi đầu mà đã quyết định nghề nghiệp, và không rời được khỏi cái thị trấn nhỏ nơi mình sinh ra – tôi thấy đó quả là một lựa chọn quá tệ hại.

Khi đó, tôi đã nghĩ rằng mình hẳn sẽ có thể sống một cuộc sống khác với những người khác. Và cũng thật xấu tính, trong bụng tôi đã thầm cười nhạo những người chỉ muốn yên phận với thực tại. Mặc dù với thói ngạo mạn lạ thường như thế, giờ đây tôi cũng chẳng làm nên trò trống gì. Hồi đó, có vẻ như tôi đã tin rằng cuộc sống của mình sẽ đầy tự do, mỗi ngày mỗi ngày đều tràn đầy sinh khí, hoàn toàn khác hẳn với cuộc sống tầm thường và ngột ngạt của Shoko.

Tốt nghiệp khoa Anh văn, tôi đăng ký vào viện điện ảnh của một đài truyền hình. Để có tiền đăng ký vào học viện, tôi đi dạy thêm tiếng Anh buổi tối. Tôi cùng các thành viên trong nhóm dựng kịch bản và học quay phim, tôi còn nghe bài giảng của một đạo diễn khá có tiếng và từ đó củng cố quyết tâm của mình. Dù cho sẽ phải trải qua một quá trình vô cùng gian khổ, nhưng một lúc nào đó, tôi sẽ trở thành đạo diễn điện ảnh – giấc mơ này, tôi đã tin tưởng không một chút nghi ngờ.

Bạn đại học mỗi người đều ra đi tìm việc, người thì ở ngân hàng, người thì hãng hàng không, người thì bên nhà xuất bản. Tôi thấy bọn họ đúng là chẳng biết việc mà bản thân mình thực sự muốn làm là gì, chỉ mải chạy theo đồng tiền với sự ổn định mà thôi. Một cuộc đời theo đuổi những thứ như vậy, tôi thấy thật chẳng có chút ý nghĩa gì. Khi đó, “ý nghĩa” là thứ duy nhất quan trọng đối với tôi. Tôi tự an ủi rằng vì theo đuổi giấc mơ của bản thân mà tôi đang sống một cuộc đời đầy ý nghĩa. Vậy nhưng tôi thấy sợ. Trở thành đạo diễn và quay phim do các nhà đầu tư rót tiền – xét về xác suất thì việc này gần như không có khả năng xảy ra.

Học ở viện điện ảnh xong, tôi gửi tác phẩm tới một liên hoan phim ngắn độc lập. Bộ phim bị loại thẳng tay và chẳng có nổi một lời bình luận. Lấy lại tinh thần, tôi dành hẳn một năm viết kịch bản, cái kịch bản viết suốt một năm ròng đó cũng lại bị loại trong một cuộc thi. Những người cùng học điện ảnh với tôi phê bình gay gắt rằng kịch bản tôi viết ra thật cũ kĩ, nhàm chán và chẳng có một nét riêng nào. Những câu thoại mà bản thân tôi thấy khá là sáng tạo, họ đọc và bảo mấy thứ như thế này cũng có phải là lời thoại đâu cơ chứ. Cậu vẫn còn phải học thêm nhiều lắm, phải xem thêm nhiều phim nữa vào... những câu nói như vậy, năm nào tôi cũng được nghe.

“Mình viết kịch bản được bao lâu rồi nhỉ?” – khi bắt đầu ngần ngừ lưỡng lự trước câu hỏi này, tôi cũng đã đứng trước ngưỡng cửa của tuổi ba mươi. Mặc dù trong suốt năm năm, tôi đã viết kịch bản và cũng tham gia vào ê kíp làm phim của vài phim nhỏ, nhưng so với những chuyện đó, tôi lại giỏi hơn trong việc đến chỗ tiệc mừng công mấy bộ phim, nghe ngóng tin đồn thổi rồi đi buôn chuyện khắp nơi.

Tôi đã nghĩ rằng sáng tác sẽ đem lại tự do cho tôi và giải phóng tôi khỏi chính bản thân, nó sẽ phá vỡ những giới hạn của cái thế giới mà tôi đang sống, nhưng hiện thực lại hoàn toàn ngược lại. Lúc nào tôi cũng bị sức ép về chuyện tiền bạc, phải gắng sức để giữ công việc ở trung tâm và chân dạy phụ đạo nên tôi thường nhạy cảm quá mức về chuyện tiền nong.

So với đám bạn giờ đã lên đến chức phó phòng ở chỗ làm, việc chi tiêu tiền bạc của tôi rõ ràng là khác hẳn, tụi nó còn không để tôi trả tiền khi đi ăn. Dù cho đó là sự chu đáo của bạn bè đi nữa, những việc nhỏ nhặt đó sẽ dần dần cào rách lòng tự trọng của tôi. Những đứa bạn có việc làm ổn định ở công ty cứ cuối tuần lại đi xem ca nhạc hoặc xem phim, thỉnh thoảng rảnh rỗi thì mới đọc sách, vậy nhưng lượng sách tôi đọc ngay cả so với tụi nó cũng thật nghèo nàn.

Mặt khác, cứ gặp những đứa bạn cùng làm điện ảnh là tôi lại so sánh tài năng của tụi nó với tài năng của bản thân để sau đó lại chìm trong tự ti. Cảm hứng cạn kiệt, mỗi ngày mỗi ngày, tôi chỉ nuôi dưỡng nỗi mặc cảm tựa như một con quái vật trong tôi. Nhìn những người theo đuổi con đường trở thành đạo diễn nhưng mọi việc không được thuận lợi nên thành ra nghiện rượu, hay những người mơ trở thành tác giả kịch bản phải ngồi làm việc ở tiệm fastfood giữa đám học sinh cấp II cấp III, vậy mà ngay cả thù lao làm ca đêm cũng không được nhận cho ra hồn, tôi lại còn thấy mình vẫn còn khá hơn những người đó.

Bởi vậy nên mơ ước là có tội. Mà không, cái đó cũng đâu phải là ước mơ.

Nếu như việc làm phim là ước mơ của tôi và vì thế mà tôi theo đuổi, thì ít ra ở góc độ nào đó, chắc hẳn tôi cũng đã cảm thấy thỏa lòng và hạnh phúc. Vậy nhưng chỉ vì để giữ lời hứa với bản thân là sẽ trở thành đạo diễn, mà tôi đã viết những kịch bản chẳng có tâm chút nào và đem làm phim. Bộ phim mà ngay cả bản thân tôi còn không thấy thuyết phục đó, tôi lại mong rằng nó sẽ lay động được tâm tư người khác, điều này quả đúng là ảo tưởng.

Trước đây tôi đã từng mong muốn làm được một bộ phim nào đó, nhưng mong muốn ấy đã chết từ lâu. Giờ đây tôi đơn giản chỉ là muốn trở thành người có tầm quan trọng đối với một bộ phim. Kịch bản thì cũng viết đấy, nhưng vì không phải xuất phát từ trong lòng tôi nên mạch truyện thật khiên cưỡng. Không phải tôi viết vì có câu chuyện muốn viết, mà tôi cố ép mình viết chỉ vì buộc phải viết mà thôi.

Ước mơ ư? Đó chẳng qua chỉ là cái vỏ bọc loang lổ ngụy trang che đậy cho những tâm ý tầm thường như thói chuộng hư vinh, sự hám danh, tham vọng được người đời công nhận, ý định trả thù… mà thôi. Từ những con người đang líu cả lưỡi mà nói những câu như “Không có điện ảnh thì tôi không thể nào sống nổi, tôi thực lòng tha thiết với điện ảnh”, tôi ngửi thấy mùi tanh của những tham vọng chưa được thỏa mãn đúng cách. Tham vọng của tôi so với những người đó còn lớn hơn ấy chứ, hoàn toàn không phải tham vọng nhỏ bé chút nào, vậy mà rút cuộc tôi cũng đã trì hoãn nó như thể chẳng thiết tha gì lắm với công việc này đó thôi.

Ước mơ thực sự chỉ có ở những người tài năng có thể tận hưởng niềm vui khi làm công việc đó. Và vinh quang cũng phải thuộc về những con người đó mới là hợp lẽ. Điện ảnh chỉ để lộ khuôn mặt thật của nó qua nỗ lực của những người tài năng thiên bẩm, chứ không phải qua nỗ lực của những kẻ bình thường. Tôi đã hai tay ôm mặt mà rơi nước mắt. Bởi thật khó lòng mà chấp nhận được thực tế đó. Khi một kẻ bất tài bắt đầu túm chặt lấy cái vỏ bọc mang tên giấc mơ, chính cái vỏ bọc đó sẽ từ từ làm mục ruỗng dần cuộc sống của kẻ đó.

Tôi gần như đã mất hết tất cả những người mà cho tới tận trước khi tôi bước vào làm phim, họ vẫn coi tôi là bạn. Cũng có những người bạn đợi tôi, nhưng sự mặc cảm được nuôi sống bằng bóng tối trong tôi thậm chí còn quay ra kết tội ngay cả những người bạn đó. Bạn lấy chồng lương cao, tôi nghĩ đúng là loại trưởng giả hợm mình, bạn tâm sự rằng mình đang dần lạc lối đánh mất cả bản thân trong công việc, tôi làm ra vẻ thông cảm nhưng trong lòng thấy thật là khoái trá. Và tôi cũng đã phải giật mình trước sự đáng sợ của bản thân mình khi có những ý nghĩ như vậy, nhưng ngay cả điều đó cũng chẳng kéo dài được lâu.

Dần dà, thời gian ở nhà một mình của tôi tăng lên. Nhiều lúc tôi không muốn gặp một ai, tôi không về thăm mẹ với ông, cũng không gọi điện hỏi thăm tình hình. Đã thế, tôi lại còn giữ khoảng cách với những người yêu thương tôi, và tin rằng, thông qua điện ảnh, tôi sẽ có thể vẽ nên những góc sâu kín trong nội tâm con người. Hồi ấy, tôi đã không hề hay biết sự ngạo mạn đó đã khiến mọi người buồn lòng đến mức nào.

3 giờ chiều, ông gọi điện đến. Tới tận lúc đó tôi vẫn còn chưa ngủ dậy.

“A lô.”

“Mày vẫn đang ngủ đấy à? Ông đang đứng trước nhà đây này.”

Khi đó đang là tháng Mười một trời mưa nhiều. Cúp máy, nhìn lại điện thoại thì thấy có năm cuộc gọi nhỡ của ông từ lúc 8 giờ sáng. Không biết ông đã đợi tôi từ lúc nào.

Chiếc mũ bê rê màu hoàng thổ của ông ướt sũng. Mũi và tai ông đỏ ửng.

“Một tầng có mấy người ở vậy?”

Đi qua hành lang, ông nhìn dãy cửa phòng hai bên rồi tặc lưỡi hỏi như vậy. Tôi vào phòng, kéo chiếc ghế bên bàn sách ra cho ông.

“Thôi chả cần ghế ghiếc làm gì. Ông ngồi sàn tiện hơn.”

Tôi vừa ngồi xuống sàn thì ông đã kêu ầm lên con gái không được đặt mông xuống sàn nhà lạnh lẽo như vậy và bảo tôi ngồi lên ghế.

“Ông, ở đây phải nói nhỏ thôi. Cách âm không được tốt đâu.”

“Nói vớ nói vẩn.”

Như một người đi thăm người ốm, ông mang theo một lốc chai đồ uống vitamin. Tôi lấy một chai trong lốc ra đưa cho ông.

“Ông không cần cái này. Mày uống đi. Mày cứ suốt ngày kêu bận lắm bận lắm nên ông lên xem mày bận đến mức nào. Ông cũng muốn xem mày sống ra sao. Cũng chẳng có đồ gì mấy nhỉ. Con gái con đứa quần áo cũng chẳng có mấy thế này, mày có định hẹn hò bọn con trai không đấy?”

“Nếu nói chuyện vớ vẩn đó thì ông về đi.”

Đó là lần đầu tiên ông đến căn phòng nơi tôi sống một mình ở Seoul. Chỗ của ông vốn là ở trên ghế sofa ở nhà hoặc trên chiếc đệm trong phòng ông. Vậy mà giờ ông lại đang ngồi gượng gạo trong không gian sống của tôi. Đáp tàu hỏa, lên tàu điện ngầm rồi bắt xe buýt, rồi lại còn đội cả mưa để đến gặp tôi. Chuyện này thật chẳng giống ông chút nào. Bởi vì dù có bảo ông lên đây đi nữa thì ông cũng chẳng phải kiểu người sẽ nhiệt tình lên ngay.

Trong câu chuyện này, đã nhiều lần tôi viết rằng “chẳng giống ông chút nào”. Vậy nhưng lúc này, tôi thấy rằng hình ảnh ông mà tôi vẫn tưởng trước đây có lẽ chỉ là một phần con người của ông. Ngay cả xét về mặt thời gian thực tế thì tôi cũng chỉ biết được ba phần năm cuộc đời ông mà thôi.

Rút cuộc, ông cũng chỉ là một người khách ghé qua phòng tôi trong chốc lát. Một ông già phải lủi thủi một mình đội mưa trên con đường xa lạ, một ông già mà hình ảnh trong tôi vẫn là một kẻ chẳng là gì cả trong mắt những người khác, một kẻ thất bại trong số những kẻ thất bại – ông già xa lạ đó giờ đây đang ngồi trong phòng tôi và cố tỏ vẻ tỉnh bơ như chẳng hề có chuyện gì.

Hồi xưa, mẹ đi làm, ông là người đã thay mẹ bế bồng nuôi nấng tôi. Nhờ sự chăm bẵm của ông mà tôi mới lớn khôn. Dù thuộc vào hàng những người coi đạo hiếu bất quá chỉ là một hệ tư tưởng, tôi vẫn có cảm giác mắc nợ đối với ông. Cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, tôi chẳng làm được gì cho ông cả. Có lẽ chính vì vậy mà tôi càng cố quay lưng lại với ông.

Ông lần tìm trong túi rồi lấy ra cái gì đó nhét vào tay tôi. Là một lá thư vẫn chưa xé phong bì.

“Shoko đấy. Shoko lại gửi thư đến nhà mình đấy.”

Như thể muốn khoe, ông lại lôi trong túi ra một phong thư khác, mở cho tôi xem quyển ấn phẩm, bức ảnh palaroid [3] cùng với lá thư bên trong. Trên trang đầu của quyển ấn phẩm màu da trời được cán màng có hình một người đàn ông và hai người phụ nữ mặc áo choàng trắng đang mỉm cười. Người phụ nữ đứng giữa có vẻ như là giám đốc bệnh viện, đôi trai gái đứng hai bên trông khoảng ngoài hai mươi. Cô gái trẻ chính là Shoko. Hai má trẻ con bầu bĩnh giờ đã gọn hẳn lại, tóc và lông mày đã nhuộm nâu. Gò má đánh phấn hồng quá tay nên trông cả khuôn mặt như thành màu hồng. Cả mắt và miệng của Shoko đều đang cười tươi hết cỡ một cách khoa trương quá mức.

Trong bức ảnh palaroid, Shoko đang ôm một con mèo đen chân trắng. Con mèo đang nằm nhắm mắt, cuộn tròn trong vòng tay của Shoko. Trong bức ảnh này, Shoko cũng cười rất tươi.

“Shoko giờ làm bác sĩ vật lý trị liệu ở quê rồi. Nghe nói là bệnh viện tốt lắm. Con bé bảo ông mà đến bệnh viện đó thì sẽ giảm giá cho hay sao đó.”

“Chỉ vì mỗi chuyện này mà ông lên tận đây sao? Cứ gọi điện là được rồi.”

“Thì là ông cứ lên chơi vậy thôi.”

Sự im lặng lại bao trùm. Ông rút thuốc lá trong túi ra, châm lửa và ngồi nhìn đầu điếu thuốc.

“Giờ ai lại đi hút thuốc trong phòng. Chủ nhà mà biết là bị đuổi ra đường ngay đấy.”

Tôi nói vậy nhưng ông vẫn mặc kệ và hút liên tục tới điếu thứ hai, điếu thứ ba. Tôi định kêu ca nhưng rồi lại thôi và làm bộ như đang nhìn khuôn mặt của Shoko trong quyển ấn phẩm. Tôi không biết phải nói gì, nói như thế nào, tôi cũng không sao hiểu nổi ý nghĩa sự im lặng của ông.

“Mày ấy mà. Đây là lần đầu tiên ông nói với mày mấy lời này...”

“...”

“Ông không ngờ là mày lại thành người lớn như thế này rồi. Lên cả Seoul học hành rồi còn thành cả đạo diễn điện ảnh. Có khó khăn vất vả cũng không chìa tay xin giúp mà chỉ sống bằng sức mình. Dẹp hết những thứ vớ vẩn để sống theo những gì mình muốn làm. Ông thấy như vậy quả là cừ lắm.”

Ông dụi thuốc lá vào cái vỏ lon cà phê và im lặng nhìn tôi. Vẻ mặt ông ẩn chứa niềm xót xa đối với tôi. Ông vốn không phải người chịu khó rèn luyện việc che giấu tâm trạng nên cảm xúc đó hiện rõ trên khuôn mặt ông. Ông biết là tôi đang chìm trong bế tắc. Hẳn là ông biết chẳng có ai công nhận ủng hộ cuộc sống của tôi, có lẽ vì vậy mà ông muốn an ủi tôi, dù là theo cách như thế này đi nữa. Chẳng biết nói gì, tôi nhìn cuốn ấn phẩm và nói:

“Cậu ấy trang điểm kiểu gì mà như kịch Kabuki [4] thế này?”

“Xinh đấy chứ. Dù là Kabuki hay Kinh kịch đi nữa thì con bé cũng đã làm theo ý nó muốn.”

Nói câu này xong, ông đứng dậy.

“Gì vậy. Chưa gì ông đã về sao?”

“Thì ông lên đây chỉ để nói với mày mấy câu đấy. Mày bận rộn nên ông cũng không muốn làm mất thời gian của mày.”

Ông biết là tôi chẳng hề bận chút nào. Chắc hẳn vì vậy nên ông mới có thể đột nhiên cứ thế lên thăm tôi như vậy. Vì ông tin chắc là kể cả lúc 3 giờ chiều thì tôi cũng vẫn đang ở nhà. Ông đi mà tôi cũng không thể nào giữ ông lại cho đàng hoàng, chỉ biết cứ thế đi theo ông ra ngoài.

Chiếc ô gấp duy nhất mà tôi có lại không bung ra được cho tử tế. Trong lúc đó, người ông tính tình nóng vội đã cất bước đi khỏi. Chiếc ô vốn là loại bấm nút thì sẽ tự động bung ra, nhưng giờ bấm nó cũng không nghe mà dùng tay nó cũng không mở. Mưa đang rơi nặng hạt. Thời tiết thế này mà cũng không chịu mang theo một cái ô cho đàng hoàng, tôi thấy thật giận ông. Cuối hẻm có cửa hàng tiện lợi, nhưng tôi không đủ tiền mua ô.

Đang rảo bước đi thật nhanh thì ông tôi quay lại, giơ tay vẫy và tự dưng cười vô cớ. Tôi cầm cái ô hỏng chạy tới chỗ ông. Vừa chạy vừa cố gắng gượng kìm nước mắt, quyết tâm rằng không được để rơi nước mắt trước mặt ông. Tôi đưa chiếc ô cho ông.

“Ông không cần cái thứ này. Mưa cũng có to lắm đâu. Này, sao mày lại khóc vậy hả?”

Tôi giằng lại cái ô từ tay ông rồi vừa cố mở ô vừa gắt ầm lên:

“Tại cái ô này này, nó không chịu mở ra. Lần trước vẫn còn dùng tốt, vậy mà đúng lúc cần đến nó thì nó lại thế này.”

“Lắm nước mắt chưa kìa. Đưa cho ông.”

Ông chỉ vừa sờ vào một chút mà cái ô cứng đầu không chịu nhúc nhích đó đã mở bung ra. Ông cười khà khà rồi che ô cho tôi. Tôi bảo ông cứ cầm ô mà đi đi, nhưng ông vẫn không nghe. Mưa dần dần to hơn. Tôi bảo sẽ cùng ông đi ra trạm xe buýt thì ông bảo không sao, ông cứ thế này đi một mình cũng được. Nói câu đó mà mắt ông đỏ hoe. Ánh mắt như muốn nài tôi cứ để ông đi một mình bởi ông sắp khóc rồi. Tôi buông tay ông ra. Ông quay đi bước thẳng về phía trước, không hề nhìn lại phía sau một lần nào.

Con người kỳ lạ lòng dạ yếu đuối và bốc đồng muốn sao làm vậy kia. Người ông lạ lùng của tôi. Con người rối bời hỗn độn kia. Tôi cầm chiếc ô ông đã bật ra giúp tôi và đứng nhìn theo bóng lưng ông cho tới khi hình dáng của ông khuất hẳn.

Gửi So Yoo,

Cậu khỏe không? Chắc hẳn là cậu đã quên mình rồi, nhưng mình vẫn cứ gửi thư thế này. Mình có nghe nói trước khi đến nhà mình, cậu đã gặp Hanah ở New York. Khi đó, mình biết được địa chỉ email của cậu nhưng cứ viết thư rồi lại xóa tới mấy lần, rút cuộc mình không thể nào gửi mail cho cậu được.

Nói một cách đơn giản nhé. Hồi đó mình bị ốm. Cậu bảo mình kiếm cớ thanh minh cũng được. Nhưng đó là sự thật nên mình sẽ nói thế này. Từ khi gặp cậu lần đầu thì đã có dấu hiệu rồi, và cho đến trước khi thi vào đại học thì mình vẫn bị ốm như vậy. Hồi đó, mình đã viết thư kể cho cậu đủ mọi thứ chuyện phải không? Đúng là cũng có chút nói quá nhưng tất cả đều là sự thật.

Cậu đã hỏi mình tại sao không lên Tokyo đúng không? Mình là người muốn được lên Tokyo hơn bất cứ ai. Mình nghĩ có lẽ lên Tokyo thì có thể chết một cách dễ dàng hơn. Bởi vì ở nhà, ông với cô sẽ thay phiên nhau canh giữ mình. Họ sợ lỡ mình tìm cách tự tử thì sao. Một lần mình suýt chết thì bị ông phát hiện ra nên cuối cùng vẫn sống. Coi như ông cũng là ân nhân cứu mạng mình, nhưng hồi đó, mình chỉ thấy ghét ông.

Ông đã nói với mình thế này. Trên đời có nhiều người muốn sống mà không được sống, tại sao cháu lại có cái ý nghĩ phí phạm cuộc đời như vậy. Cháu phải hạ quyết tâm cho mạnh mẽ chứ. Rồi tinh thần samurai gì đó nữa... vân vân... Có lẽ hồi đó vẫn chẳng ai biết rằng trầm cảm là một căn bệnh cần phải chữa trị. Trong lúc đó, bệnh tình của mình càng trầm trọng hơn.

Không phải tại ông mà mình không lên Tokyo được. Không phải là ông cần mình, mà là mình cần ông. Mình sợ rằng nếu lên Tokyo, có lẽ mình thật sự sẽ tự kết liễu đời mình mất. Ngay cả lúc tìm cách tự tử ở nhà, tận sâu thẳm trong lòng, dường như mình vẫn nghĩ có lẽ sẽ có ai đó cứu mình. Mình sợ. Vì lẽ đó mà mình đã ở lại quê. Dù xét về nghĩa nào đi nữa, lúc đó mình cũng đang sống dựa vào ông và cô.

Phần lớn thời gian mình ủ rũ, thỉnh thoảng những lúc tinh thần trở nên minh mẫn, mình cảm thấy tâm trí mình tựa như ngọn lửa xăng đang bốc cháy. Mình nổi giận với cả thế giới này, trong đó bao gồm cả bản thân mình. Sau khi nổi giận như vậy rồi, cả thể xác lẫn tinh thần của mình vỡ vụn như tro tàn. Quá trình đó cứ lặp đi lặp lại. Người ta thường bảo độ tuổi mười chín, hai mươi, hai mốt là thời kỳ tươi đẹp. Mặc dù vậy, với mình thì mỗi ngày mỗi ngày chỉ toàn những ký ức về việc muốn được chết đi.

Mình còn nhớ lờ mờ cái ngày mà cậu đến nhà mình. Dạo đó mình mới bắt đầu điều trị bằng thuốc. Cả chuyện nhìn thấy cậu mình đã thật vui mừng (nếu là chó chắc mình đã mừng đến mức tè ra rồi), rồi chuyện mình cho cậu xem quyển sổ vẽ ký họa, chuyện ngồi khoác tay cậu, rồi chuyện mình đã nói nặng lời với cậu... mình đều nhớ cả. Khi ấy mình đang trong trạng thái đờ đẫn sau khi uống thuốc, dù cậu có túm lấy mình mà lắc thì mình cũng vẫn cứ thản nhiên như vậy thôi. Lúc đó, cậu đẩy cổng bước ra mà mình cũng không nghĩ nổi đến việc phải chạy ra theo cậu. Mình đã nghĩ chắc hẳn cậu sẽ nói “Thật đúng là...” rồi sau đó sẽ quay vào. Mình nằm trên sàn ngủ như thế một lúc, tỉnh dậy thì mặt trời đã lặn. Phải đến lúc đó, nỗi ân hận mới ập đến, mình đã làm trò gì với cậu thế này. Mình đã mãi mãi mất cậu rồi.

Mình không mong cậu sẽ tha thứ cho mình. Cậu cứ mắng rằng mình viết thư thế này chẳng qua cũng chỉ để mình thấy nhẹ nhõm trong lòng cũng được. Bởi vì sự thực cũng đúng là như vậy. Mình mong giờ đây lòng mình sẽ nhẹ bớt đi một chút. Thỉnh thoảng mình sẽ viết thư cho cậu.

Shoko

Tới tận lúc hừng đông, tôi vẫn không sao ngủ được. Tôi ngồi lì trên ghế ở bàn sách, thẫn thờ nhìn cảnh trí ngoài cửa sổ chuyển từ màu đen sang sắc xanh thẫm, rồi chuyển sang màu vàng rực. Tới khi tôi đang nhìn đám học sinh cấp II cấp III đeo cặp đến trường thì mẹ tôi gọi điện tới. Mẹ gằn giọng nói khẽ:

“Nghe ông bảo hôm qua ông lên thăm mày hả?”

“Ừm.”

“Mày là đứa không biết nghĩ như vậy đấy hả?”

“...”

“Một ông lão tám mươi như thế mà lặn lội lên tận Seoul giữa một ngày mưa gió rét mướt như vậy. Dù không bảo ông ngủ lại nhà mày một đêm đi nữa thì ít ra mày cũng phải dọn cho ông một bữa cơm chứ, cứ để ông bụng đói mà về thế hay sao?”

Nói đến đây, mẹ thở mạnh. Từ phía sau ống nghe vọng tới tiếng ông. “Tại bố cứ muốn lên thôi mà! Lên nhìn mặt nó một cái thôi. Sao lại mắng nó thế?”

“Chuyện đó khó khăn lắm hay sao hả? Mày làm cái trò gì ghê gớm mà phải tống người già ra ngoài đường lạnh lẽo như vậy? Dù có chậm khôn đến mức nào đi nữa thì cũng không được làm thế chứ.”

Tôi không sao nói được câu nào, chỉ im lặng nghe mẹ nói. Trong giọng nói như lạc đi của mẹ, tôi cảm thấy không phải chỉ có mỗi sự tức giận đối với cách cư xử không ra gì của tôi. Mẹ đang nổi cáu với tôi, nhưng đồng thời cũng đang thể hiện thái độ đối với ông.

Có lẽ ông đã cảm thấy xấu hổ vì mình bị bệnh.

Bởi ngay cả với việc già đi, ông cũng hiếm khi chịu chấp nhận. Có vẻ như ông thấy thật chẳng hay ho đẹp đẽ gì khi phải giống như mấy người già đau ốm. Mấy thứ bệnh tật vớ vẩn mà dám to gan định điều khiển rồi hạ gục ông sao, và thực tế đúng là mọi chuyện đang thành ra như vậy nên dường như ông không thể nào chịu đựng được điều đó. Bệnh của ông không thể chỉ dùng quyết tâm với sự kiên gan mà có thể chống chọi được.

Nghe nói đó là vào đợt mà tôi vẫn hay đến than thở mình chẳng viết lách được gì ở mấy chỗ tiệc rượu tụ họp của những người đã làm được vài bộ phim. Trong lúc tôi ngồi viết kịch bản rồi kích chuột vào mấy bài báo của làng giải trí cho qua thời gian thì ông đã đang thường xuyên lui tới bệnh viện điều trị được cả năm rồi. Ngay cả cái hôm ông đến chỗ tôi, ông cũng đang trong quá trình điều trị.

Thỉnh thoảng, ông gọi điện lên thì tôi thường không nghe, hoặc nghe một cách thờ ơ. Bởi vì ông là người lúc nào cũng ở nguyên một chỗ. Bởi ông là người mà dù có việc gì đi nữa cũng vẫn cứ thản nhiên, vốn dĩ luôn ở nguyên như vậy. Khi ấy, tôi chỉ nghĩ đến việc phải cải thiện tình hình của mình, cố bám trụ để được ngẩng cao đầu. Ông cũng không đả động gì đến sức khỏe, trái lại còn bảo giờ ông có tuổi rồi nên cũng chẳng hay bị cảm nữa.

Hôm ông ra viện, mẹ gọi điện nói cho tôi biết sự thật này. Mẹ bảo tôi gác công việc lại một thời gian, dù đang giữa tuần cũng phải về nhà chăm bệnh cho ông. Mẹ nói, mày phải kiếm tiền đúng không, mẹ sẽ trả cho mày tươm tất. Như thể mẹ tin rằng nếu không trả tiền thì tôi sẽ không chịu về vậy. Vậy nhưng tôi đã đi quá xa trong cách cư xử rồi nên chẳng thể nào trách mẹ đã không tin tôi được.

Ông đang ngồi trên sofa, im lặng xem đấu bóng chày trên ti vi. Thấy tôi vào, ông chỉ khẽ mỉm cười, còn ông vẫn ngồi yên bất động. Người ông chỉ còn da bọc xương. Ông đang đội chiếc mũ bê rê màu hoàng thổ mà ông đã đội hôm lên thăm tôi. Chiếc ghế sofa bọc da tổng hợp màu đỏ, chỗ thành ghế tiếp xúc với phía sau gáy của ông, phần vải giả da đã bong tróc để lộ lớp da màu đen bên trong.

Tôi ngồi xuống bên cạnh ông và xem trận đấu bóng chày mà tôi chẳng hề hiểu luật. Trước khi đánh bóng, tay vận động viên đùi to làm động tác giậm chân rồi lắc mông.

“Chán quá. Xem cái khác đi ông.”

“Sắp hết rồi. Để ông xem kết quả thế nào thôi.”

Tôi giằng lấy cái điều khiển trong tay ông rồi bấm duyệt kênh.

“Loạn nhỉ! Đưa điều khiển đây để ông xem tiếp.”

“Đã bao giờ cháu được cầm điều khiển lần nào chưa? Từ trước tới nay, ông chỉ toàn xem những thứ ông thích xem thôi.”

Ông định giằng lại cái điều khiển nhưng tay ông chẳng còn chút sức lực nào. Vẻ mặt ông đầy gắng sức, nhưng kết cục vẫn không giằng lại được cái điều khiển từ tay tôi. Tôi mở kênh thời trang, xem bài hướng dẫn trang điểm. Chủ đề là “Cách trang điểm mắt để quyến rũ chàng”. Ông từ từ bước về phía cái ti vi và rút phích cắm ra.

“Không xem bóng chày thì tắt cái thứ vớ vẩn này đi cho rồi.”

“Ông định sống cố chấp như thế đến bao giờ vậy? Sao ông chẳng nghĩ gì cho người khác thế? Chỉ cần ông thấy thoải mái trong lòng là xong hả?”

Ông quay trở lại ghế sofa, ngồi cúi đầu xuống.

“Sao ngay từ đầu ông không nói ra?”

“Chết tiệt. Nói ra làm gì.”

“Giờ kết cục thành ra thế này, trong lòng ông thấy thỏa mãn chưa?”

Ông ngẩng lên nhìn thẳng vào tôi.

“Thực tình ông đã tưởng là sẽ không sao.”

Tôi muốn nói gì đó. Nhưng tôi không sao mở miệng được. Bởi dường như chỉ cần mở miệng là nước mắt tôi sẽ tuôn rơi. Phải đến lúc đó, tôi mới nhìn rõ khuôn mặt gầy xọp của ông. Vẫn biết là ông gầy đi, da dẻ ngày càng vàng vọt, nhưng tôi đã tưởng đó chỉ là quá trình lão hóa tự nhiên. Tôi chỉ nghĩ quá trình đó đang diễn ra nhanh hơn một chút thôi. Tôi nhạy cảm với bản thân mình như vậy mà tại sao lại mù tịt chẳng nhận ra tình hình của ông cơ chứ.

Ông bỏ chiếc mũ bê rê đang đội ra và để trên đầu gối. Mái tóc bạc lơ thơ xẹp xuống vì vết mũ. Ông thanh minh tựa như một người đàn ông đang nói lời ly biệt với người yêu:

“Ông nói thật đấy. Nếu biết là sẽ nghiêm trọng thế này thì ông đã sớm nói với mày rồi. Rồi còn bảo mày chịu khó thường xuyên về thăm ông nữa.”

Ông gắng hết sức gượng cười.

“Ông mà nói thì liệu mày có chịu khó về thăm ông không nhỉ?”

Thay cho câu trả lời, tôi ôm lấy đầu ông. Đầu ông tỏa ra mùi dầu xức tóc.

Và như vậy, ông trải qua thêm sáu mươi lăm đêm nữa rồi yên giấc ngàn thu.

Tôi chưa bao giờ từng ngày từng ngày tỉnh giấc và sống được như quãng thời gian sáu mươi lăm ngày đó.

Như một luật bất thành văn, cả ba người nhà tôi cùng ngủ trong một phòng. Ông nằm phía gần tủ áo, mẹ nằm phía cửa phòng, còn tôi ngủ ở giữa hai người. Đèn tắt, chúng tôi nằm nhìn trần nhà và nói chuyện. Những chuyện mà trước đó chưa nói được. Chúng tôi lấy dũng khí trò chuyện về những điều mà trước đây đã nghĩ rằng không nói cũng không sao. Tựa như những người mới lần đầu quen nhau. Tựa như những người đến giờ mới học nói.

Đầu tiên là ông với tôi, và sau đó là tôi với mẹ cùng trò chuyện.

“Chỗ thư của Shoko trong ngăn kéo tủ ấy, ông để đâu rồi?”

“Cái đó hả? Vứt đi rồi.”

“Tại sao?”

“Thì tại thấy đau lòng thôi.”

“Sao ông quý cậu ấy thế?”

“Con bé xinh mà. Lại hay cười.”

“Bố chưa bao giờ bảo con xinh cả. Ghen tị thật đấy.”

Mẹ nói chen vào.

Vài ngày trôi qua, ông với mẹ bắt đầu nói chuyện với nhau ngang qua tôi nằm giữa.

“Bố, bố đã sống một mình bốn chục năm rồi nhỉ.”

“Ừ.”

“Sao vậy bố?”

“... Vậy tại sao con rể Lee không còn mà con vẫn không hẹn hò người đàn ông nào?”

“Tại họ chẳng chu đáo gì cả. Con hẹn hò nhiều rồi. Đàn ông ấy.”

“Giờ thì đừng hẹn hò nữa, cứ thử sống với nhau xem.”

Ông sắp qua đời – sự thực hiển nhiên này dường như đã trở thành chất độc hữu ích đối với ba người chúng tôi. Vậy nhưng chất độc thì vẫn là chất độc. Số lần tiêm thuốc giảm đau dần dần thường xuyên hơn, mỗi lần ăn uống là ông lại nôn ra hết, hầu như chẳng ăn được gì. Cho ông ăn thức ăn lỏng đóng hộp cũng chẳng khá hơn.

Tôi muốn nói chuyện với ông. Tôi muốn khoảng một, hai tiếng thôi cũng được, tắt ti vi đi và nhìn vào nhau. Bởi dù cho cả đời ông vốn khô khan cục tính, chưa một lần nào nói được những lời dễ nghe, nhưng điều đó chỉ là vì ông thấy xấu hổ mà thôi. Tôi nhớ phải đến khi cái chết đang cận kề, ông mới gắng gượng gạt bỏ nỗi xấu hổ mà nói với tôi chuyện nọ chuyện kia. Ông là người được sinh ra vào thời kỳ coi thường việc thể hiện cảm xúc bằng lời nói và cho rằng đó là việc làm không ra dáng đàn ông. Đôi khi, bất chấp sự áp chế về tư tưởng đó, những dấu vết của tình yêu vẫn bộc lộ ra.

Mẹ và tôi đã cùng dõi theo giây phút cuối cùng của ông. Và chỉ với lý do này thôi, tôi cũng đã tha thứ cho mẹ phần nhiều, quan hệ hai mẹ con tốt dần lên, tới mức sau khi tổ chức tang lễ, chúng tôi đã có thể nói với nhau những chuyện thường ngày.

Suốt một thời gian dài, tôi đã không tha thứ được cho mẹ. Vừa sinh tôi ra, mẹ đã lập tức đi làm, và có vẻ như mẹ đã ra sức che đậy cái chết của bố như thể đó là một tin đồn gì gớm ghiếc lắm. Thời gian trôi qua, tôi đã nghĩ rằng chính mẹ đã cướp mất của tôi cơ hội được thương tiếc bố. Những hôm trời mưa, tôi đã phải rẽ đám đông cha mẹ học sinh tay cầm ô đến đón con và một mình đội mưa về nhà, tôi đã phải đeo chìa khóa cửa trên cổ, đi lòng vòng lang thang khắp khu tôi sống rồi mới cất bước về ngôi nhà mà tôi không muốn trở về. Mẹ thì lúc nào ngủ cũng khóa chặt cửa phòng, người mẹ vô tâm mà ngay cả việc thông thường là cằn nhằn con cái cũng chưa một lần làm.

Khoảng hơn ba tiếng trước khi ông lâm chung, mẹ liên lạc với bên tổ chức tang lễ và chuẩn bị sẵn trong túi bộ đồ vệ sinh cá nhân sẽ dùng trong những ngày tang. Tiếng thở của ông dần dần gấp gáp hơn, tôi nắm lấy tay mẹ. Bàn tay mẹ lạnh lẽo và khô cứng, không hề có một chút độ ẩm nào.

Ông trút hơi thở cuối cùng, mẹ gọi điện cho bệnh viện yêu cầu xe cấp cứu. Giọng mẹ hơi run run, nhưng tất cả chỉ có thế. Lúc tôi phủ phục trên tấm thân gầy guộc của ông mà khóc, mẹ đứng bên cạnh và chỉ yên lặng nhìn ông và tôi. Mẹ không khóc, trên mi thậm chí không hề vương nước mắt.

Ở nơi tổ chức tang lễ cũng vậy, mẹ tiếp đãi khách khứa, ngồi bốc lạc rang với mực khô ăn và trò chuyện với họ bình thường, lại còn cười nói vui vẻ nữa. Trong toilet, có tiếng mọi người xì xào với nhau. Nhìn mẹ con bé So Yoo kìa, đúng là ghê gớm. Có mỗi mụn con mà giờ nó lại bạc bẽo thế kia, thật tội nghiệp cho ông lão quá cố. Giá mà ông lão có được một mụn con trai tử tế thì chắc bây giờ đâu đến nỗi khốn khổ như thế này.

Khi trong tôi trào dâng sự căm ghét đối với những con người chẳng hề biết gì về mẹ tôi, chỉ nhìn bề ngoài mà kết tội mẹ như thế, tôi thật xa lạ với hình ảnh chính mình đã từng đứng về phía họ và chẳng buồn nhìn tới mẹ. Mẹ tôi là người cứ kìm nén rồi lại kìm nén nỗi buồn, nên kết cục không biết phải buồn như thế nào. Mẹ tôi là người mà ngay cả trước cái chết của người cha ruột cả đời chung sống cũng không bật ra được một giọt nước mắt, thật đúng là không biết sợ, một người không hề biết cách khóc để rửa trôi mọi nỗi niềm, một người bị bệnh mà chỉ có những triệu chứng không nhìn thấy như đau đầu, tay chân lạnh.

Trên xe buýt ra nghĩa trang, tôi nắm bàn tay lạnh như băng mãi vẫn không ấm lên của mẹ. Mẹ bình thản nhìn bộ mặt đang sưng húp của tôi. Lòng trắng trong mắt mẹ thật trắng và còn hơi có chút ánh xanh.

“Mẹ muốn khóc.”

Nói câu đó rồi mẹ cười một cách mệt nhọc. Những sợi tóc không được buộc gọn đang xõa tung. Tôi lấy trong túi ra chiếc cặp tăm, cặp gọn những sợi tóc bị xổ ra của mẹ.

“Chắc mày cũng thấy mẹ bất bình thường lắm phải không?”

Tôi lắc đầu, rồi lại gật đầu.

“Ừm. Mẹ đúng là người lạ lùng thật đấy.”

Đó là những lời mà tôi đã không nói khi còn chưa giải tỏa được những nỗi niềm chất chứa đối với mẹ. Mẹ khẽ cười, sau đó dựa vào vai tôi mà ngủ.

Sau khi thu dọn được khoảng bốn thùng quần áo của ông, chúng tôi đem tặng cho cửa hàng Beautiful Store [5] gần nhà. Còn những chiếc tất đã thủng lỗ, chỗ đồ lót đã sờn mòn hết mức, chiếc lược nhựa cáu đầy ghét, đôi giày thể thao đã bung cả đế, đôi giày tây da đã rộp lên bạc phếch, chai cologne dùng gần hết... tôi đem tất cả bỏ vào trong cái túi đựng rác cỡ 20 lít. Chẳng đắn đo gì nhiều, mẹ đem bỏ luôn vào túi rác cả cuốn scrapbook [6] gồm những bài báo về bóng chày chuyên nghiệp những năm 80-90 mà ông đã sưu tầm. Chiếc kính ông dùng khi đọc báo cùng với hàm răng giả, mẹ giữ lại để đem đặt vào ngăn tủ của ông ở nạp cốt đường [7] . Chiếc mũ bê rê màu hoàng thổ mà thường ngày ông vẫn đội, cùng chiếc mũ phớt ông dùng vào mùa hè và một chiếc mũ phớt màu xanh đậm bằng vải nỉ dày, tôi đem hết vào phòng tôi.

Mẹ bảo tôi chọn ba bức ảnh để đặt ở nạp cốt đường. Tôi chọn bức ảnh ông đang bế tôi hồi tôi còn ẵm ngửa trong căn phòng tràn đầy ánh nắng. Và tôi nhặt ra cả bức ảnh ông đứng bên mẹ vào ngày lễ tốt nghiệp cấp II của mẹ. Trong ảnh, không có bó hoa thường thấy trong lễ tốt nghiệp, cả ông và mẹ đang đứng chắp hai tay trước bụng nghiêm chỉnh trước máy chụp hình.

Vậy nhưng ảnh chụp cả ba người – tôi, mẹ và ông – duy nhất chỉ có một bức mà thôi.

Trong bức ảnh đó, ba người chúng tôi đang ngồi ngượng nghịu trước nửa quả dưa hấu. Ông ngồi giữa, miệng mím lại thoáng một nụ cười, tôi một tay cầm miếng dưa hấu, tay kia giơ hai ngón chữ V và cười ngại ngùng. Mẹ một tay cầm con dao bếp, nhìn camera với nét mặt không biểu cảm. Người chụp bức ảnh đó là Shoko.

Mẹ với ông không thích chụp ảnh. Mẹ thì bảo trong ảnh mặt mẹ trông cứng nhắc quá, ông thì bảo người già chụp ảnh làm cái gì hả. Dường như mẹ nghĩ hình ảnh mình đang cười, còn ông thì nghĩ hình ảnh mình trẻ trung mới là cái tôi đích thực của họ. Mặc dù vậy, Shoko vẫn đi theo đòi chụp nên mẹ và ông chẳng còn cách nào khác, đành phải để cô ấy làm vậy.

Shoko đã gửi những bức ảnh đó cùng với thư viết cho ông. Trong số các bức ảnh, có cả bức chụp Shoko và tôi đang đứng cách nhau một khoảng trên bờ sông. Trong ảnh là khuôn mặt tôi hồi trước khi dùng kính áp tròng, vẫn còn đeo cặp kính dày cộp, cùng với Shoko thời niên thiếu đang mỉm cười thật đoan trang. Hồi đó, tôi đã cảm thấy Shoko người lớn hơn hẳn tôi, nhưng trong ảnh, khuôn mặt Shoko đang mỉm cười trông vẫn chỉ như một đứa trẻ.

Những bức ảnh Shoko gửi được buộc lại bằng dây chun màu vàng và cất tận dưới đáy chiếc hộp đựng giày. Ảnh chụp mẹ trải giấy báo ra phòng khách ngồi nhặt hành hoa, ảnh ông và tôi đang phơi quần áo ngoài ban công, ảnh ông và mẹ ngồi trên ghế sofa cười ngượng nghịu. Có cả bức ảnh chụp ông đội mũ bê rê ngồi trên băng ghế bên bờ sông, tư thế giống như đang đuổi ruồi bằng vợt cầu lông.

Tôi hỏi mẹ liệu Shoko có biết bệnh tình của ông không. Mẹ bảo mẹ cũng không biết gì về nội dung thư từ qua lại của ông và Shoko. Trong số di vật của ông cũng không thấy mấy lá thư của Shoko. Ngoài cuốn scrapbook và mấy bức ảnh, có vẻ như ông đã xử lý tất cả những giấy tờ ghi chép. Và theo như tôi được biết, trong giai đoạn cuối cùng ông vật lộn với bệnh tật, Shoko cũng đã không gửi thư sang.

“Ông con suốt ba mươi năm chỉ toàn ở nhà đấy.”

Mẹ nói, tay sờ chỗ thành ghế sofa đã lộ cả lớp da bên trong ở chỗ tiếp xúc với gáy của ông.

“Con có tin được không? Bằng cả quãng thời gian con đã sống đấy.”

Mẹ chỉ cây cao su ở góc ban công.

“Chả khác gì cái chậu cây kia cả. Chuyện đó... Con không biết chuyện đó đã đè nặng trong lòng mẹ tới mức nào đâu.”

Từ khi mới mười tuổi đầu, ông đã bắt đầu làm nhân viên ở cửa hàng. Vào cái tuổi đáng ra còn đang vòi vĩnh bố mẹ thì ông tôi đã ngồi gảy bàn tính, trông coi cửa hàng cho người chú. Người chú vốn không có con trai, tốt nhất là ông tôi cứ giữ vững vị trí của mình ở cửa hàng đó – nghe nói quyết định này là từ ông của ông. Cứ như thế, trừ thời chiến tranh, ông tôi đã làm việc không ngơi nghỉ một ngày nào, cho tới khi ông năm mươi tuổi, cho tới khi cửa hàng phá sản. Và thế là ở tuổi năm mươi, ông tôi phải bán cửa hàng đi. Ông đã giãi bày với mẹ rằng, chuyện đó xảy ra chỉ vì một lỗi lầm nhỏ của bản thân ông.

Mẹ nói lúc đó cảm giác như thể bị chính người thân thiết lừa mình vậy. Suốt mấy chục năm, mẹ đã hỏi lý do nhưng ông không trả lời, và ông chỉ tránh né gặp gỡ mọi người.

“Nhớ lại hồi nhỏ thì mẹ chẳng có ký ức gì về ông cả. Vì ngoài những lúc ngủ ra, ông không về nhà. Tới tận phút cuối, khi đã xong xuôi mọi việc, ông cũng không dành thời gian ở nhà. Lúc thực sự cần thì ông không ở nhà, đến lúc mẹ tự lo liệu được rồi thì đột nhiên ông cứ ở nhà không ra ngoài nữa.”

Mẹ kể phía bên nhà chồng của mẹ đã mắng nhiếc mẹ thậm tệ, họ bảo tại sao con trai quý hóa nhà họ lại phải phụng dưỡng bên thông gia cơ chứ. Họ nổi đóa lên bảo ông bố vợ còn khỏe mạnh thế kia, tại sao không ra ngoài làm việc đi. Vậy nhưng bố tôi vốn là người khi cần được học hành thì lại không được học hành, khi cần phải tận hưởng thì lại không được tận hưởng, bố tôi đã chấp nhận ông. Bố tôi ghét nhất là thuốc lá, vậy mà khi hút thuốc ông cũng chẳng mở cửa sổ cho bay mùi, cả ngày chỉ ngồi ở ghế sofa chẳng hề làm bất cứ việc gì – vậy mà bố tôi vẫn nói rằng chuyện như thế cũng có thể hiểu được mà.

Ông từng kể cho tôi nghe những điều tốt đẹp về người bố đã sớm qua đời của tôi. Chuyện đi đâu với bố tôi ông cũng mát mặt vì cậu con rể hết sức đẹp trai sáng láng, chuyện bố tôi là người hay chuyện nên bữa ăn lúc nào cũng có tiếng cười, chuyện bố tôi vì sống tình cảm nên vào sinh nhật của mẹ hay của ông đều không quên tặng một món quà nhỏ… những chuyện đại loại như vậy.

Mẹ kết hôn được bốn năm thì người chồng tâm lý đó qua đời, và từ dạo ấy cho tới tận bây giờ, mẹ đã sống với ông già cứng đầu cố chấp cùng đứa con gái hay khóc lóc. Tôi mân mê hàm răng giả của ông và nói:

“Cái hôm mà ông lên thăm phòng con ở trên Seoul ấy…”

“Ừ, sao?”

“Mẹ có biết lúc ấy ông đã nói gì với con không?”

“Ông nói gì?”

“Ông bảo con sống như thế này thật là cừ, sống mà làm những việc mình muốn làm như vậy là cừ lắm. Vậy nhưng thật là lạ, kể từ sau hôm đó, trong lòng con thấy dứt khoát hẳn với chuyện làm phim.”

“Dứt khoát là sao?”

“Giờ con sẽ chấm dứt ở đây mẹ ạ.”

Mẹ không hỏi lý do chuyện đó. Chúng tôi chẳng nói thêm gì, cứ thế ngồi dọn dẹp di vật của ông. Mẹ hỏi tôi định tiếp tục ở Seoul hay là sẽ về quê. Tôi bảo dù sống ở Seoul hay ở quê thì tôi cũng sẽ không sống cùng với mẹ đâu. Tôi nói bây giờ mẹ cũng sống tự do đi, rủ bạn bè hay bạn trai đến nhà chơi đi, đừng lo lắng chuyện cơm nước cho ai nữa, cứ thế mà sống thoải mái đi.

“Mẹ là người mong muốn được ở một mình nhiều hơn bất cứ ai mà.”

“... Cảm ơn con.”

Mẹ lấy ra một gói tiền bọc trong giấy báo.

“Đây là toàn bộ gia sản của ông đấy.”

“Cái này sao lại...”

“Đừng ngại, cứ cầm đi. Ông bảo nhất định phải đưa cho con.”

Mẹ bỏ gói tiền vào trong túi của tôi và bảo trên đường đi nhớ ghé ngân hàng gửi tiền. Mẹ nói thực ra cứ gửi tiền vào tài khoản của tôi cũng được, nhưng mẹ muốn cho tôi thấy nguyên vẹn những tờ tiền mà ông đã dành dụm từng đồng từng đồng một. Không biết chỗ tiền đã được dành dụm bao lâu mà ở phía dưới cùng có cả những tờ tiền phát hành đợt cũ.

Rời khỏi nhà mẹ, theo thói quen, tôi thò tay vào trong thùng thư. Ngón tay tôi chạm phải một phong thư. Trên phong bì màu vàng, phần địa chỉ người gửi ghi bằng tiếng Nhật, địa chỉ người nhận ghi bằng tiếng Anh. Phần người nhận có viết “Mister Kim.” Tôi lấy trộm lá thư bỏ vào túi và khi ngồi trên xe buýt, tôi xé phong bì. Hiện lên trước mắt tôi là nét chữ viết tay nhỏ và nhọn của Shoko, nhưng tôi không hiểu gì hết. Đó là một bức thư mới viết, dài một trang. Tôi chụp ảnh bức thư bằng điện thoại và gửi cho R – một biên kịch giỏi tiếng Nhật.

“Thư ông mình nhận được đấy. Mình muốn biết nội dung.” – Tôi nhắn như vậy.

R gửi tin nhắn cho tôi.

Gửi Mister Kim,

Bây giờ, cháu đang đi làm ở bệnh viện dưỡng lão của ông cháu. Ngay cả nơi khuất bóng phía tây bệnh viện, hoa mộc lan cũng nở chói mắt. Hôm nay, bệnh nhân trước đây phải mổ vì đau đốt sống cổ nặng đã gửi tin nhắn cho cháu, nói rằng cuối cùng cũng đã tự mình thay quần áo được rồi. Cô bé mười sáu tuổi bị thoái hóa đốt sống thắt lưng đã kết thúc điều trị bằng điện liệu pháp. Và cô bé nói với cháu: Chị không bị đau ốm gì, thích thật đấy. Cháu chẳng làm gì có lỗi với cô bé đó cả, nhưng tự nhiên lại thấy có lỗi và vì thế cháu đã nói xin lỗi cô bé đó.

Mister Kim. Ông bảo cháu từ giờ đừng gửi thư nữa phải không ạ? Vì như vậy, ông sẽ không cần phải đợi thư cháu nữa nên sẽ thấy nhẹ lòng hơn. Không gửi thư nữa nên cháu cứ luôn nghĩ tới những điều muốn nói với Mister Kim. Và cứ thế là cháu lại thấy có lỗi. Ngay cả lúc cười đùa, làm việc, lúc ăn món gì ngon cũng thấy có lỗi.

Cảm ơn ông về quãng thời gian qua. Mong ông khỏe mạnh.

Shoko.

Tôi viết một bức thư ngắn gửi tới địa chỉ ghi trên phong bì.

Gửi Shoko.

Ông mình mất rồi. Vào khoảng 7 giờ tối ngày 5 tháng Tư. Ông chiến đấu với bệnh tật được hai năm, hai tháng vừa rồi, bệnh tình của ông xấu đi rất nhanh. Ít nhất cậu vẫn là người bạn giữ liên lạc với ông cho tới tận gần đây. Ông đặc biệt quý cậu, và mong cậu một lần đến thăm ông. Cậu bảo sẽ sang Hàn Quốc, bảo nhất định sẽ gặp lại – những lời nói suông ấy của cậu, có vẻ như ông đã coi đó là nghiêm túc. Bây giờ viết thư tay như thế này cũng phiền lắm. Nếu có việc gì cần liên lạc, cậu gửi email hoặc dùng Skype gọi điện cho mình.

So Yoo

Tôi viết địa chỉ email và ID Skype, ngòi bút ấn mạnh trên tờ giấy, sau đó gửi chuyển phát nhanh cho Shoko. Và hình như suốt hai ngày sau đó, tôi chẳng để tâm đến gì khác, chỉ nằm khóc trong căn phòng ở Seoul. Tôi nhớ vài tháng trước, ông còn đứng dưới chỗ móc phơi quần áo ngay đằng kia thôi và hút thuốc liên hồi. Thời gian trôi qua, cái sự thật rằng từ nay tôi không thể gặp ông được nữa càng trở nên rõ ràng hơn. Cái sự thực đó càng trở nên rõ ràng thì tôi lại càng không cảm thấy giống sự thực chút nào.

Tôi ba mươi tuổi. Cái gọi là sự nghiệp của tôi chỉ có tấm bằng tốt nghiệp đại học khoa Nhân văn cùng kinh nghiệm đạo diễn hai bộ phim ngắn. Đọc tiếng Anh không đến nỗi quá khó khăn, nhưng tôi cũng chẳng có bằng cấp hay bảng thành tích gì có thể chứng minh được khả năng tiếng Anh của mình, và ngay cả đến kinh nghiệm thực tập tôi cũng không có. Muốn viết đơn xin vào thực tập thì hình như phải có thành tích về tiếng Anh, vì vậy, tôi đã mở cuốn sách TOEFL đã học hồi đại học ra. Tôi xem lại ngữ pháp và mỗi ngày học thuộc một trăm từ mới. Thế rồi giống như khi làm công việc đan móc, tâm trí tôi dần ổn định lại, và tôi đã có thể tập trung một cách dễ dàng. Do chỉ tập trung vào việc học thuộc đơn giản nên những tạp niệm trong tôi dần dần biến mất.

Hồi viết kịch bản, có khi tôi cười cả ngày, rồi có lúc tôi lại khóc cả ngày. Có ngày tôi thấy mình viết đã tốt hơn, chỉ cần thế này là làm được rồi, rồi ngay hôm sau, tôi lại quăng những gì đã viết hôm trước đi và chìm trong nỗi sợ hãi rằng mình sẽ không thể nào viết được nữa. Tôi tự nhủ mình phải kiên trì mà viết. Ít ra tôi cũng đã bền bỉ viết suốt năm năm, nhưng những gì tôi viết được không tăng lên. Gân cốt tôi cứng lại trong nỗi khiếp sợ rằng dù cho có viết cả đời đi nữa, có lẽ tôi cũng chỉ tạo ra được những phân cảnh chẳng có chút ý nghĩa gì. Tôi không phải là tuýp người sáng tạo, và càng không phải là kiểu người năng động, tôi là kiểu người mà khi được giáo dục theo kiểu học thuộc lòng hóa ra lại thấy thoải mái hơn... những thực tế này, phải mất khá nhiều thời gian, tôi mới chịu chấp nhận. Trong nền giáo dục mang tính áp đặt mà người ta đang chán ghét đến mức đó, có khi tôi lại cảm thấy yên ổn phần nào. Trong lúc học thuộc từ tiếng Anh, hằng ngày, tôi cũng không quên lên trang web tuyển dụng và tìm kiếm thông tin việc làm.

Sáng sớm, mở mắt ra là tôi lại có ý nghĩ con người chẳng là gì cả. Bởi thậm chí ngay cả mặt đất vững chãi mà chúng ta đang giẫm lên đây cũng tựa như một miếng ván lềnh bềnh một cách nửa vời trên lớp phủ địa chất mà kết cục cũng sẽ trôi dạt đi mà thôi. Chân còn đang bước đi trong nỗi ngờ vực, một con người như vậy mà còn tưởng mình có thể hoạch định tương lai sao.

Một giờ sáng, Shoko gọi điện đến.

Hôm ấy, đang ngồi học thuộc từ tiếng Anh thì tự nhiên tôi ngủ thiếp đi trên đống chăn. ID Skype gọi đến là Teresa. Tôi ngồi dậy và nghe điện thoại.

“A lô?”

Có tiếng radio vọng tới trong điện thoại. Người gọi điện mất một lúc lâu không nói được nên lời.

“Nói đi. Shoko.”

Shoko bắt đầu nói chầm chậm bằng một giọng khẽ khàng:

“Mình rất tiếc khi nghe tin về Mister Kim.”

Giọng Shoko nghèn nghẹn như bị cảm.

“Mình xin lỗi vì đã không giữ được lời hứa. Nhưng mình không thể sang Hàn được.”

“Tại sao?”

“Vì Mister Kim không muốn để mình thấy hình ảnh ông bị ốm như vậy.”

Ban đầu, tôi không hiểu ngay được ý nghĩa câu nói của Shoko. Tôi chẳng thể nào nghĩ ra Shoko vốn đã biết chuyện ông bị ốm.

“Cậu biết chuyện ông bị ốm hả?”

“Ừ. So Yoo, cậu không biết phải không?”

Ừ. Mình không biết. Hóa ra chỉ trừ mỗi mình ra thôi, còn tất cả đều biết hết. “Shoko, cậu nói gì cơ?” Cổ tôi nghẹn lại.

“Mình xin lỗi vì đã không nói với cậu. Nhưng mình phải giữ lời hứa với Mister Kim.”

Shoko nói tiếp, không để tôi kịp đáp lại. Shoko nói bây giờ cô ấy sẽ sang Hàn gặp tôi và ông. Tôi bảo “Ừ, mình biết rồi” nhưng sau đó lại bảo với tâm trạng hiện tại, tôi không thể gặp Shoko được. Sự ghen tị vì Shoko đã chia sẻ với ông bí mật mà tôi không được biết, cảm giác căm ghét Shoko vì suốt một thời gian dài không hề liên lạc với tôi, sự dị ứng với thái độ của Shoko khi gặp tôi ở Nhật, tâm lý đề phòng trong tình cảnh bấp bênh của bản thân tôi… tất cả những cảm xúc đó dồn nén và đông cứng lại thành thứ tâm trạng thật lạnh giá.

“Mình không gặp cậu đâu.”

Shoko bảo cứ coi như đây là lần gặp cuối cùng cũng được, và cô ấy có món quà muốn trao cho tôi.

“Thư Mister Kim gửi cho mình lên tới hai trăm bức. Mình thấy chắc sẽ có ý nghĩa với cậu và gia đình cậu hơn là với mình. Mình muốn gặp và trao tận tay cho cậu.”

Cổ tôi đã nghẹn lại nên tôi chỉ im lặng gật đầu.

Shoko nói cô ấy ở nhà trọ bên khu Myungdong. Tôi gọi Shoko sang quán café bên khu tôi ở. Tôi ra quán café trước giờ hẹn hai mươi phút thì đã thấy Shoko ngồi ở đó rồi. Khuôn mặt cô ấy trông giống như trong cuốn ấn phẩm, mái tóc dài nhuộm vàng, trang điểm đậm và đeo cả lông mi giả. Shoko mặc áo trench coat kaki lấp lánh, chân đi giày bệt Oxford màu trắng.

Vì những cảm xúc tiêu cực với Shoko mà tôi không thể nào mỉm cười chào cô ấy được, dù chỉ là theo phép lịch sự. Tôi đưa mắt nhìn móng tay đánh nhũ vàng lấp lánh của Shoko. Shoko kể đã ăn mì cắt ở bên Myungdong, sau đó ghé tiệm nail, đi massage, và cô ấy nói Seoul hoàn toàn khác hẳn với huyện K quê hương tôi.

“Trước đây cứ mỗi khi nghĩ tới Hàn Quốc là mình lại nhớ tới bầu không khí vắng lặng của huyện K, nhớ những phụ nữ trung tuổi lái xe máy, nhớ bờ sông mọc um tùm những thân cỏ cao ngổng cùng với những con phù du.”

Tôi hờ hững nghe những chuyện đó và chìa tay ra hiệu bảo Shoko đưa thư của ông cho tôi. Shoko một tay cầm lấy bàn tay đó của tôi và dùng cả hai tay ôm lấy bàn tay tôi. Khuôn mặt thoáng một nụ cười, Shoko nhìn tôi và nói rất buồn vì chuyện của ông. Từ trong cử chỉ và nét mặt đó, tôi cảm thấy được an ủi, và tôi thấy lúng túng vì thực tế rằng sự an ủi đó lại đến từ Shoko.

Tôi vẫn còn nhớ cảm giác uất ức của mình đối với Shoko khi tôi sang Nhật gặp cô ấy, khi mà tôi có được niềm tin sắt đá rằng cuộc đời của tôi khá hơn cuộc đời của cô ấy. Tôi nhớ cái ngày mà tôi thấy Shoko thật thảm hại khi bị giam chặt ở nhà, chẳng thể nào đi đâu được. Tôi còn nhớ mình đã vô cớ rùng mình nổi gai ốc khi Shoko khoác tay và tựa vào tôi như thể mất hồn. Và cả việc khi đó, tôi đã nhìn người ông đau ốm của Shoko mà nghĩ rằng thật may là ông mình vẫn còn khỏe mạnh.

Tôi đã không thấy được hoàn cảnh khi ấy của Shoko.

“Đây này.”

Shoko đưa ra hai chiếc túi shopping bằng ni lông.

“Thư của Mister Kim đấy.”

Tôi đưa tay về phía chiếc túi và rút ra một lá thư. Chữ viết xấu khủng khiếp. Trong bức thư mới viết, lẫn lộn tứ tung cả chữ Hán, hiragana, katakana và chữ số. Và ở góc tờ giấy viết thư có hình vẽ hai con chim sẻ đầu tròn, mỏ nhọn giơ cánh như thể đang vươn vai và cười. Đó chỉ là hình vẽ phác qua vài nét và không chau chuốt, nhưng vẫn chuyển tải được nguyên vẹn niềm vui của lũ chim.

Trên chiếc tủ bên cạnh sofa của ông, lúc nào cũng để chiếc gạt tàn, điện thoại cùng với tập giấy nhớ. Đó là tập giấy nhớ để khi nghe điện thoại thì ghi chú lại, nhưng nó gần giống tập giấy vẽ chơi của ông hơn. Ông thường dành thời gian vẽ hình khối, mặt người, cây cỏ, động vật, và cả những thứ hình thù kỳ quái nữa. Và rồi khi dọn dẹp thì ông vứt hết những thứ mình đã vẽ vào thùng rác.

Thấy tôi xem hình vẽ đó, Shoko lên tiếng:

“Mister Kim nói muốn trở thành họa sĩ đấy.”

Chuyện này tôi chưa bao giờ nghe nói tới.

“Mister Kim bảo muốn trở thành họa sĩ, sau đó sẽ rong ruổi khắp đất nước và vẽ tranh. Vậy nhưng khi lên mười tuổi...”

“...Thì lại đi làm ở cửa hàng của ông chú phải không?”

“Đúng vậy.”

Tôi rút ra một lá thư khác. Thư này có vẽ hình voi con và voi mẹ đang dùng cái vòi dài đùa giỡn với nhau.

“Ông biết rõ về tình hình của mình. Giống như một bác sĩ không cần gặp mà vẫn điều trị được cho bệnh nhân vậy.”

“Thế hả?”

Tôi đưa bức thư đang cầm cho Shoko. Shoko dịch từng câu từng câu sang tiếng Anh cho tôi nghe.

“Hôm nay đang đi ở bờ sông thì ông thấy một cậu trai trẻ nằm ngủ dưới bóng cây. Cậu ấy khoảng ba mươi chăng? Cằm và mặt cậu ấy lởm chởm râu như thể đã khá lâu không cạo. Ông dừng bước, ngồi xổm xuống bên cạnh và nhìn vào khuôn mặt cậu ấy.”

Trước mắt tôi hiện lên hình ảnh ông tản bộ ở bờ sông cho qua thì giờ, cảm giác như thể tôi có thể chạm tay vào. Khi đi đường hay đi xe buýt, lúc nào ông tôi cũng nhìn chằm chằm vào mặt người khác. Tôi thường nổi cáu bảo ông làm ơn đừng có nhìn xoáy vào người khác như vậy nữa.

Shoko đẩy về phía tôi một tập thư đựng trong chiếc túi kia.

“Đây là thư Mister Kim viết khi bị bệnh.”

Tôi rút một lá thư và mở ra. Ở góc lá thư có vẽ một con cún con mõm vừa to vừa dài đang thè lưỡi mà phi về phía trước, hai tai bay phần phật. Shoko cầm lá thư và dịch cho tôi.

“Hôm nay ông ăn cháo bạch tuộc. Đây là món ông vẫn thích, nhưng giờ trông nó giống như thứ ai đó nôn ra, và bốc mùi khó chịu nên ông chật vật mãi mới nuốt được. Con gái ông bảo “Bố, nhất định bố phải ăn đấy” và làm như một bà mẹ khó tính. Cô ấy nổi cáu bảo ông muốn chết đói hay sao, vì con gái nên ông đã cố ăn. Vừa nôn vừa ăn.”

Làm sao mà những chuyện như thế này, ông không bao giờ nói với tôi một câu nhỉ?

“Ông không bao giờ viết về mình sao?”

Shoko khuấy ống hút trong ly Americano đá và cười:

“Cậu giống Mister Kim như tạc nên ông thích lắm. Hồi mình với ông bắt đầu nối lại liên lạc, cậu không biết Mister Kim đã tự hào kể về cậu nhiều tới mức nào đâu. Ông viết thư kể cả chuyện cậu đi tham dự liên hoan phim có chiếu bộ phim cậu làm nữa.”

Tôi đã không mời ông tới liên hoan phim. Bởi tôi đã nghĩ một ông lão tám mươi không nhất thiết phải lên tận Seoul vì chuyện này, và bởi những tấm vé được phát của tôi đã được gửi hết từ lâu cho những người mà tôi muốn gây ấn tượng tốt trong giới điện ảnh rồi. Tôi cũng không hỏi ông xem liệu ông có đến dự được ở buổi chiếu thử hay không. Phải đến khi ông đòi xem mãi, tôi mới mở bộ phim lưu trong laptop ra cho ông xem. Đó là bộ phim ngắn độ dài mười lăm phút, với nội dung kể về một cô gái bị mất nhà, phải sống trong một tòa chung cư đang xây dở thì bỏ hoang, và sau đó cô gái biến thành chuột.

Bộ phim đương nhiên bị chỉ trích gay gắt. Lý do là ranh giới thiện ác quá rõ ràng, phép ẩn dụ mạnh nên không có sự tinh tế. Vậy nhưng ông không đưa ra nhận xét gì, mà chỉ hỏi chuyện tôi. Ông hỏi tôi lấy ý tưởng như thế từ đâu ra, tôi đã thấy người thực sự bị mất nhà bao giờ chưa, thậm chí ông còn hỏi liệu con người có thể biến thành chuột như thế kia thật hay sao, máy quay hướng về cô gái là góc nhìn của ai... Dường như bấy lâu nay, tôi đã bằng mọi cách cố gắng tránh né những chuyện khó nói và khó nghe ấy.

Ông là khán giả duy nhất của tôi.

Shoko nhai nhai chiếc ống hút và lên tiếng.

“Có chuyện mình vẫn chưa kịp nói với Mister Kim.”

“...”

“Mình đã chủ động viết thư lại đúng không. Hôm đó là ngày ông mình đã qua đời được sáu tháng. Dường như phải mất tới sáu tháng để mình xốc lại tinh thần. Mister Kim nhận được thư của mình và đã hồi âm. Ông bảo đang bị bệnh nặng. Và thường xuyên tới bệnh viện để điều trị. Vậy nhưng Mister Kim như vậy, mình không dễ gì nói ông mình đã qua đời được.”

Tôi nhớ tới ông của Shoko. Ông lão với khuôn mặt đỏ ửng, người đã nghe những lời tàn ác của Shoko mà không đáp trả lại một câu, chỉ lặng im nhìn những bông hoa yên chi.

“Vậy nên mình đã nói dối. Mình bảo bệnh tình của ông mình đang dần dần khá hơn, theo kiểu nghe bác sĩ nói là không có hy vọng gì, nhưng chẩn đoán của các bác sĩ hóa ra lại trật lất rồi ấy.”

Trong lúc nói, Shoko thu dọn những bức thư của ông đang để la liệt trên bàn.

“Thật buồn cười đúng không?”

“Buồn cười thật.”

“So Yoo này.”

“Ừm.”

“Chúng ta giờ có một mình nhỉ.”

Shoko lại mỉm cười nhã nhặn như xưa và khẽ nhún vai.

Sau buổi gặp gỡ hôm đó, Shoko đã ở cùng tôi hai ngày tại căn phòng của tôi ở Seoul. Chúng tôi cùng xem hai bộ phim ngắn của tôi mà bây giờ xem lại mới thấy thật vô cùng vụng về. Để tiết kiệm thời gian nấu nướng, Shoko gọi đặt đồ ăn Trung Quốc, và cô ấy ngồi dịch cho tôi nghe hết toàn bộ những bức thư mà ông tôi đã viết. Shoko đọc thư với tông giọng và tốc độ đều đều, thỉnh thoảng có những từ không biết trong tiếng Anh là gì, Shoko lại huy động các từ tiếng Anh thay thế khác để giải thích cho tôi. Chúng tôi cùng tới phòng tắm hơi gần nhà. Ở đó, nơi đầu ngực màu nâu của Shoko, tôi đã nhìn thấy hình xăm một con sâu màu xanh. Shoko đưa tay chỉ vào con sâu và cười.

Chúng tôi cùng nhau tới chỗ nạp cốt đường để tro của ông.

Shoko đội chiếc mũ phớt mùa hè của ông, còn tôi đội chiếc mũ bê rê mà ông thích nhất. Trong nạp cốt đường, có bức ảnh ông đang ngồi trên ghế băng bên bờ sông, cùng với bức ảnh gia đình tôi mà Shoko đã chụp. Ánh mắt Shoko dừng lại ở hai bức ảnh. Shoko áp cả hai bàn tay lên cửa kính ở ngăn tủ nạp cốt đường và gọi:

“Mister Kim.”

Shoko nói câu đó xong, cả hai chúng tôi cùng cười vô cớ.

Shoko không ghé thăm nhà của mẹ tôi. Cô ấy cũng không cùng tôi đi dạo bờ sông, cũng không cùng đến ngôi trường cũ của tôi mà cô ấy vẫn nói là muốn thăm lại.

“Lần sau mình sẽ đi. Phải như vậy mới có lý do để sang đây tiếp chứ.”

Tôi đưa Shoko ra sân bay Kimpo. Tại sân bay, lần đầu tiên chúng tôi ôm lấy nhau. Ôm theo kiểu hai bên vẫn đứng hơi cách nhau một chút, và vòng tay qua lưng nhau.

Tôi vẫn nhớ hình ảnh Shoko khi bước vào khu cửa ra phòng chờ bay. Tôi vẫn nhớ khuôn mặt của Shoko khi đưa thẻ lên máy bay và bước vào phía trong cánh cửa kính tự động. Khi ấy, Shoko đã nhìn tôi với nụ cười nhã nhặn đó. Giống như khi thấy nụ cười đó của Shoko thời niên thiếu, tôi thấy lòng mình se lại.

« Lùi
Tiến »