Tháng 1 năm 1995, chúng tôi quay lại Đức. Chúng tôi sống ở Berlin từ năm 92 tới năm 93, sau đó quay về Hàn Quốc cũng được gần một năm rồi. Nơi chúng tôi tới lần này tên là Plauen, một thành phố nhỏ mà tới tận năm năm trước vẫn còn thuộc Đông Đức. Những tòa nhà bỏ hoang, công viên vắng lặng, những người đàn ông nồng nặc mùi rượu ngồi ở trạm xe điện... nơi đó thật khác xa với hình ảnh về nước Đức mà tôi biết.
Hôm nhận được lời mời ăn tối của chú Hồ, mẹ vận bộ váy áo thường ngày không mặc sau khi đã là ủi phẳng phiu, và trang điểm thật lộng lẫy. Mái tóc lúc nào cũng buộc vổng đuôi ngựa của tôi được mẹ xõa ra bện lại thành kiểu Pháp cứng đơ, và mẹ bắt tôi mặc bộ váy đầm nhung màu đen mà tôi đã mặc hồi đi đám cưới. Đứa em hai tuổi cũng được mẹ mặc cho đồ mới. Lâu rồi mới trang điểm, hình ảnh mẹ trông khá xinh đẹp trong đôi mắt trẻ dại của tôi. Mẹ mấy lần nhìn vào cửa kính tòa nhà bên đường để kiểm tra lại dáng vẻ của mình. Đến Plauen ba tháng rồi mới nhận được lời mời từ gia đình khác nên có vẻ như mẹ đang thấy hồi hộp một cách đầy phấn khởi.
“Xin chào.”
Mẹ chào cô Nguyễn ra đón trước cửa bằng câu chào tiếng Việt đã học thuộc sẵn. Tôi cũng nói theo “Xin chào”, cô Nguyễn cười đầy vui vẻ. Cô chào đón chúng tôi như thể được hội ngộ với những người bạn đã lâu không gặp. Chú Hồ đang ở trong bếp. Chú có hai gò má đỏ bừng, lại nghịch ngợm như trẻ con nên tôi vừa nhìn thấy đã thích ngay. Chú là đồng nghiệp làm việc cùng công ty với bố, biết tôi học cùng lớp với Thùy con trai chú, chú bèn mời gia đình chúng tôi đến nhà.
Món ăn chú Hồ nấu thật thanh đạm và bình yên. Không biết có thể nói đồ ăn là “bình yên” được hay không, nhưng đồ ăn chú nấu, tôi chỉ có thể dùng từ đó để miêu tả. Canh thịt bỏ cà chua vào ninh kĩ, cơm gạo thơm, tôm nướng, rau xào cùng với sủi cảo chiên đậm đà khi ăn vắt vào nửa quả chanh... mùi vị của những món này đúng là như vậy.
Sau khi ăn cơm xong, người lớn bắt đầu uống rượu, tôi theo Thùy ra chỗ giá sách. “Chỗ này mình sưu tập từ hồi năm tuổi đấy.” Thùy chọn truyện tranh cho tôi, tất cả đều thuộc bộ Snoopy.
“Ra kia đọc không?” Thùy chỉ chiếc ghế sofa kiểu giường nằm. Chiếc sofa bọc da lộn thật mềm mại và êm ái. Tôi lấy lưng cọ cọ vào sofa và bắt đầu đọc truyện tranh. Snoopy trong truyện ngồi bên Woodstock [8] trên nóc chuồng chó mà nói chuyện phiếm, trông nó giống y như Thùy. Bởi lúc gặp ở trường, Thùy đúng là đứa trẻ như vậy. Cậu ấy hòa đồng với tất cả bọn bạn và lúc nào cũng vui vẻ. Dù là đứa cao hay đứa thấp, dù là đứa hoạt bát hay đứa hướng nội có vẻ như tất cả đều thích Thùy.
“Cậu giống con này này.” Thùy vừa cười chỉ vào Woodstock vừa bảo. “Hồi mới gặp cậu lần đầu, mình cứ tưởng cậu là Woodstock đấy.”
Tôi định bảo có phải tại mình nhỏ con với xấu xí nên cậu nói vậy hả, nhưng lúc đó, cậu ấy cười một cách thật ngây thơ, vẻ mặt không có gì ác ý nên tôi không thể nổi giận với cậu ấy được.
“Hồi mùa đông mình nhìn thấy cậu đấy. Ở chợ phiên cuối tuần ấy.” Thùy nói.
“Sao cậu biết đấy là mình?”
“Mình thấy cả ở chỗ đối diện công viên nữa. Chỗ đó chẳng phải nhà cậu là gì?”
“Thế thì sao nào?”
Tôi quay đi tiếp tục nhìn vào quyển truyện tranh. Tôi thấy xấu hổ vì đã nhìn trộm cậu ấy qua cửa sổ nhà tôi. Như thể Thùy biết được cả sự thật là tôi đã mừng thầm khi biết mình học cùng lớp với cậu ấy.
Chuyện xảy ra ở Đức giờ đây đã nhạt nhòa tựa như phong cảnh bên ngoài nhìn qua ô cửa sổ mờ mịt. Vậy nhưng cứ mỗi khi nhớ tới lần đầu tiên đến thăm nhà Thùy, những cảm xúc khi ấy lại hiện lên sống động trong tôi. Tôi nhớ tất cả mọi người trong gia đình Thùy đã mừng rỡ đón chào chúng tôi, tôi nhớ hình ảnh mẹ hân hoan trước sự đón tiếp nồng nhiệt đó, nhớ cảm giác ấm cúng chấp nhận vô điều kiện và bầu không khí khi hai gia đình chúng tôi quây quần cùng nhau ăn uống. Tôi không biết làm thế nào mà tâm ý của nhiều người lại có thể kết nối với nhau như vậy. Sau khi lớn lên, tôi trở thành người không thể kết nối được với ai khác, vì vậy tôi cảm thấy những việc xảy ra khi đó thật lạ thường.
Mùa hè đầu tiên ở Plauen, mẹ tôi đã khổ sở vì thời tiết hanh khô. Da chân da tay mẹ bong tróc trắng phớ như vảy rắn, mẹ bảo đang ngủ cũng tỉnh giấc mấy lần vì gãi ngứa.
“Hồi tôi mới đến Đức cũng vậy đấy. Mùa hè Hàn Quốc độ ẩm cao phải không ạ? Còn ở đây thì ngược lại mà. Bôi gì đi nữa thì cũng vẫn cứ khô.”
Cô Nguyễn cho mẹ hộp kem cô tự tay làm. Là thứ kem mà sau khi tắm, chịu khó bôi thì sẽ bớt ngứa. Nhờ hộp kem của cô mà mẹ vượt qua được thời gian còn lại của mùa hè một cách dễ dàng. Dù chúng tôi không nói ra, cô cũng biết chúng tôi đang gặp khó khăn ở vấn đề gì, những lúc phải gọi thợ ống nước hay nói chuyện với chủ nhà, cô cũng đứng ra giải quyết giúp. Và hơn hết, cô trở thành người bạn tâm sự với mẹ tôi – người vốn phải dính chặt lấy đứa con hai tuổi và cả ngày quanh quẩn ở nhà một mình. Cô bảo nhìn mẹ như vậy, cô lại nhớ về quãng thời gian phải một mình nuôi Thùy, cô đơn lâu như vậy tự nhiên sẽ đâm ra nghĩ quẩn, mẹ có muốn nói chuyện thì cứ gọi điện cho cô bất cứ lúc nào cũng được.
Gia đình Thùy và gia đình tôi cùng nhau ăn tối ít nhất một tuần một lần. Theo kiểu lần này thì ăn ở nhà Thùy, lần sau thì ở nhà chúng tôi, đến đầu hè, ngày dài hơn, chúng tôi ở bên nhau từ chiều tối ngày thứ Bảy cho tới sáng sớm ngày Chủ nhật. Chúng tôi cùng ăn cơm, sau đó người lớn thì chơi đánh bài với nhau, trẻ con chúng tôi thì chơi ghép hình hoặc đọc truyện tranh. Lúc đó tôi không nhận ra, nhưng bây giờ nghĩ lại thì thấy chẳng có mối quan hệ nào thân thiết với gia đình Thùy và gia đình tôi hơn mối thân thiết mà chúng tôi dành cho nhau.
Hôm nào uống nhiều rượu, người lớn sẽ quay ra hát hò. Mẹ hát nhạc Hàn, vợ chồng cô Nguyễn hát nhạc Việt. Dù chẳng hiểu nghĩa nhưng mẹ cũng cố vụng về hát theo đoạn điệp khúc của bài hát, tôi vẫn còn nhớ hình ảnh mấy người lớn nhìn mẹ như vậy và phá lên cười.
“Mẹ không nói chuyện được với bố con.”
Thỉnh thoảng mẹ lại nói với tôi như vậy. Hai người đối xử với nhau như người vô hình. Cả lúc ăn cơm, cả khi xem ti vi, cả lúc lái xe cũng vậy. Những hành động đó đã gây tổn thương như thế nào cho đứa trẻ non nớt là tôi khi đó, chắc hẳn rút cuộc họ cũng không thể hiểu được.
Nghe kể mẹ và bố gặp nhau ở khoa Đức văn trong trường đại học, sau đó yêu nhau một thời gian dài. Hai con người giờ đây đang thi gan làm ngơ sự tồn tại của người kia, vậy mà lại có một thời yêu nhau say đắm – thực tế này, khi đó tôi không sao hiểu nổi. Ngày ngày, tôi cầu nguyện một lúc nào đó, mẹ sẽ có thể nhìn thẳng vào mặt bố mà nói chuyện, mẹ sẽ có thể nói một cách bình thường không hề có chút ác cảm nào trong đó, và cầu mong cuối cùng hai người đừng chia tay nhau.
Việc tôi thích quãng thời gian ăn tối cùng với gia đình Thùy cũng là vì lý do đó. Khi ở cùng gia đình Thùy, bố mẹ tôi thỉnh thoảng cũng nhìn nhau mà cười, và họ cũng nói chuyện về nhau một cách tự nhiên với gia đình Thùy. Cũng có lần tôi thấy bố đi ra ban công để hút thuốc và khẽ vỗ vào vai mẹ. Tôi nhớ ánh mắt mẹ vui vẻ nhìn bố – khi đó bố đang say và cười cười nói nói. Đó là chuyện không thể tưởng tượng nổi khi chỉ có mấy người trong nhà tôi với nhau. Hình ảnh mẹ tươi cười như thế, cả trước đó và sau này, tôi đều không được thấy.
Hồi đó mẹ thật đẹp, sau này, mỗi khi tôi nói như vậy, mẹ lại bảo mẹ chẳng còn nhớ rõ hồi ấy cho lắm, nhưng dù sao con đã nói vậy thì mẹ cảm ơn.
Khi mùa hè thực sự đến, quá mười giờ đêm mà bầu trời vẫn còn ánh sáng lờ mờ như mới chiều tối. Tôi thích hình ảnh phong cảnh trước mắt chìm dần vào trong sắc xanh thẫm khi ánh sáng từ từ yếu đi. Khi gió đêm thổi vào qua cửa sổ phòng khách, và từ trong bếp vọng tới tiếng cười nói của người lớn, khi nhìn khuôn mặt Thùy giờ đó chắc chắn đã đang há miệng ra mà ngủ, khi sắc độ của màu xanh thẫm ngoài kia dần dần tối đi và đèn đường lần lượt tắt, tôi đã nghĩ một lúc nào đó, có lẽ tôi sẽ thấy hoài nhớ phút giây này.
Thùy và tôi thường cùng nhau làm mấy việc vặt mẹ giao, như đi mua bánh mì hay sữa. Trên đường, cậu ấy chạy trước thật xa tới mức không còn nhìn thấy đâu, sau đó lại chạy quay lại chỗ tôi. Ban đầu, tôi còn cố chạy đuổi theo Thùy, nhưng sau đó, biết cậu ấy sẽ quay lại chỗ mình nên tôi cứ đi với tốc độ bình thường. Cứ chạy mất dạng rồi lại quay lại, mỗi lần nhìn mặt cậu ấy lúc đấy là tôi lại bật cười. Khi ánh mắt chúng tôi chạm nhau, Thùy liền vênh mặt lên và làm điệu bộ còn tức cười hơn nữa.
Trên đường về, chúng tôi mỗi đứa đi một bên vỉa hè hai bên đường. Tại chúng tôi sợ lỡ bọn bạn cùng lớp mà thấy đi cùng nhau sẽ lại trêu chọc chúng tôi. “Woodstock!” – khi chỉ có hai đứa tôi, cậu ấy nhất quyết gọi tôi là Woodstock. Thời gian càng trôi qua, cách gọi đó lại càng khiến tôi thấy háo hức. Bởi vì chẳng có ai khác đặt biệt danh cho tôi – một học sinh chỉ đến rồi đi thoáng qua do thường xuyên phải chuyển trường.
Phải đến khi về tới con hẻm khu Thùy sống, chúng tôi mới lại sóng bước bên nhau. Những lúc đó, từ Thùy tỏa ra mùi mồ hôi giống như đồng xu nóng lên dưới ánh mặt trời, lại vừa giống như mùi hành tây. Dù chẳng nói chuyện gì nhiều, nhưng chỉ riêng việc bước đi bên nhau như vậy, cảm giác trong lòng thật là êm dịu.
Ở Thùy không có kiểu ngỗ nghịch đặc trưng của những đứa trẻ cùng độ tuổi đó. Mọi chuyện ở trường, cậu ấy đều tíu tít kể hết cho cô Nguyễn nghe, và cậu ấy thường hát hò vô tư chẳng bận tâm người khác nhìn mình, hoặc cậu ấy còn ngẫu hứng diễn kịch khiến cho tất cả phải bật cười. Tôi thường nói chuyện với cậu ấy như nói với em mình, nhưng đôi khi, một cách tự nhiên như thể chẳng có gì quan trọng, tôi cũng nói ra những điều sâu kín trong lòng. Bởi tôi nghĩ dù mình có nói gì đi nữa thì Thùy cũng như một đứa trẻ con vậy, chắc cậu ấy không hiểu được đâu. Trông Thùy như thể chẳng mấy bận tâm đến những gì tôi nói. Vậy hả, ra là vậy. Nghe câu trả lời vô tâm như thế, những cảm xúc vốn đè nén trong tôi trước khi nói với cậu ấy dường như cũng được giải tỏa đôi chút.
“Bố mẹ mình ghét nhau nhất trên đời đấy.”
Hôm đó cũng vậy, tôi vừa cười vừa nói một cách tỉnh bơ như thế. Đang đi, Thùy dừng bước đứng lại và nhìn tôi. Trông cậu ấy như sắp nổi giận. Phản ứng của cậu ấy thật bất ngờ nên tôi không biết phải nói gì.
“Sao nói chuyện đó mà cậu lại cười chứ?”
Nói câu đó xong, Thùy rảo bước đi tiếp thật nhanh. Tôi tưởng sau đó cậu ấy sẽ lại chạy quay lại chỗ tôi như mọi khi, nhưng cậu ấy không quay lại. Khi đó, tôi chỉ hơi ngơ ngác một chút nhưng cũng không nghĩ nhiều về chuyện này. Vậy nhưng hồi học cấp III, cứ mỗi khi băng ngang qua sân thể dục sau giờ tự học buổi tối, tôi lại thường nghĩ tới khuôn mặt hồi nhỏ của Thùy khi nói “Sao nói chuyện đó mà cậu lại cười chứ?”. Tôi đã chẳng hiểu một chút gì về cậu ấy cả. Phải đến khi thời thơ ấu đã trôi qua hẳn, tôi mới bắt đầu hiểu khác đi về cậu ấy.
“Hồi chúng tôi mới tới Đức ấy,” – cô Nguyễn cười to và kể – “trời lạnh quá chừng. Dù có mặc bao nhiêu lớp quần áo đi nữa cũng vẫn cứ run cầm cập. Tưởng Thùy sinh ra ở đây sẽ không bị như thế, vậy nhưng thật lạ là thằng bé vẫn không quen được với mùa đông ở đây. Lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy tuyết thật là kinh ngạc lắm. Tuyết đẹp quá nên dù miệng kêu lạnh quá lạnh quá mà vẫn nghịch tuyết đến mức cóng cả tay.”
Cô Nguyễn vừa cười vừa nói, mẹ im lặng nhìn cô. Đáng lẽ phải cùng cười với cô ấy nhưng lại không cười nổi nên mẹ thấy bối rối – tôi vẫn còn nhớ khuôn mặt mẹ khi ấy. Mỗi khi kể chuyện thời còn khó khăn, cô thường vừa nói vừa cười một cách hơi quá mức, những lúc đó, mẹ thường cố gắng cùng cười với cô.
Cô bảo mẹ là người bẩm sinh đã tràn đầy tình yêu, có khả năng đồng cảm với tâm trạng của người khác. Cô nói thế gian này cần phải có thêm nhiều người tinh tế như mẹ, và còn bảo mẹ là người đau thay cho những người không biết đau.
Ngay cả khi có mặt mẹ ở đó, cô cũng hay khen mẹ. Cô bảo mẹ cười thật xinh nên khi ở bên mẹ, cả căn phòng như sáng bừng lên, đầu mẹ tròn trịa thật đẹp, bước đi lại nhẹ nhàng, có gu ăn mặc, răng cửa đáng yêu, giọng nói thật dễ nghe... những chuyện như vậy, cô thường nói không chút đắn đo, mỗi lúc như vậy, mẹ lại đỏ mặt. Nhờ cô tôi mới để ý thấy những khía cạnh tốt đẹp mà trước đó tôi không biết về mẹ, và thấy thật tự hào vì mẹ là mẹ của tôi. Cô và mẹ ngày nào cũng sang nhà nhau. Cô thích ăn lá rong biển nướng, mẹ nướng lá rong mang từ Hàn Quốc sang rồi đem sang nhà cho cô, mẹ thích đồ ngọt, cô làm món rice pudding cho mẹ.
Mùa đông thứ hai ở Plauen, hầu như ngày nào tôi cũng ghé nhà Thùy. Bởi nhà tôi lúc nào cũng lạnh lẽo vì chiếc máy sưởi đã lâu đời, nhưng nhà Thùy thì ấm áp dễ chịu tới mức toàn thân thấy uể oải buồn ngủ, và ở bên những người trong gia đình Thùy thấy thoải mái hơn ở nhà.
Cô Nguyễn hỏi nhiều chuyện về tôi. Ở Hàn Quốc tôi học trường nào, có hài lòng với cuộc sống ở Berlin không, đã đi biển bao giờ chưa, biển ở Hàn Quốc có màu gì, món ăn Đức tôi thích nhất là món nào. Câu hỏi của cô không giống với những người lớn khác, họ toàn hỏi tôi có học giỏi không, sao lại còi thế, lớn lên rồi định làm gì. Trong niềm vui được đón nhận sự quan tâm đầy chân thành đó, tôi huyên thuyên với cô Nguyễn cho tới khi hai má đỏ ửng cả lên.
“Cháu viết tên bằng chữ Hán nhé?” Tôi nói.
Tôi viết tên mình bằng chữ Hán xong, cô cười bảo:
“Biết ngay mà. Ra là cô cùng họ với cháu nhỉ.”
Cô viết “Nguyễn 阮 – quốc hiệu nhà Nguyễn” và đọc thành tiếng “Nguyễn.” Cô viết “Hồ 胡, nghĩa là cái đấu” trong tên của chú Hồ, và “Thùy 翠, nghĩa là xanh tươi.”
“Cháu thật giống bạn hồi nhỏ của cô. Cô ấy cũng họ Nguyễn. Là bạn sống cùng làng với cô.”
Cô Nguyễn cười trông thật buồn. Khi nói về những thứ mà mình vô cùng yêu thích, cô ấy thường có vẻ mặt như thế. Khi cô nhìn Da Yeon – đứa em lên ba của tôi cũng vậy. Thời gian càng trôi qua, vẻ mặt đó càng khiến tôi thấy đau lòng, bởi ranh giới giữa cái gọi là niềm hạnh phúc của cô như thể quá gần với nỗi buồn.
Có lần, tôi đòi cô cho xem ảnh hồi cô còn bé. Cô lắc đầu:
“Mất hết rồi còn đâu. Giá mà còn lại được dù chỉ một bức thôi thì tốt biết bao.”
Tôi hỏi lý do, cô chỉ im lặng xoa đầu tôi.
“Không phải chỉ mất mỗi ảnh thôi đâu.”
Cô nói với tôi bằng một giọng rất khẽ. Tuy không hiểu ý nghĩa của câu nói đó, nhưng nó đã truyền nguyên vẹn xúc cảm run rẩy của cô sang cả tôi, và làm tôi thấy sợ.
Nơi duy nhất khó tiếp cận trong nhà Thùy – đó là phòng đọc sách. Không phải là vì có người bảo đừng vào đó, mà có lẽ do cửa phòng thường xuyên đóng nên tôi không dám nghĩ tới chuyện vào đó. Vào cái ngày mà cửa phòng mở toang, tôi đã bước vào đó như bị ai kéo đi. Ngay bên cạnh cửa, tôi thấy có một bàn thờ nhỏ.
Bàn thờ được bày biện trên nóc một chiếc tủ đứng bằng gỗ. Phía dưới một khung chạm trổ theo hình ngôi nhà có cột và mái, tôi thấy có năm khung ảnh và một bát hương đựng đầy tro cát. Trong mỗi khung ảnh có bức hình đen trắng của một người, và trong bát hương có cắm vài nén hương màu tím đã cháy hết đến tận chân hoặc tắt giữa chừng. Bên cạnh bát hương thấy có bó hương bọc trong gói giấy và một hộp diêm nhỏ. Bát hương như vậy, trước đây tôi cũng đã từng thấy rồi, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy để ảnh người đã khuất phía sau bát hương như thế. Tôi thấy sợ nên không dám nhìn thẳng vào mấy bức ảnh và cứ thế quay ra.
Năm người trong ảnh có vẻ như là một gia đình. Nếu như tôi nhớ không nhầm thì chỉ có một bức ảnh người già, ngoài ra còn có ảnh của một cô bé tầm tuổi tôi, và một em bé tầm tuổi Da Yeon. Dù chỉ thoáng nhìn lướt qua, nhưng tôi cứ thấy bận tâm như thể khuôn mặt của những người đó bám chặt sau lưng tôi vậy.
Tôi muốn biết những người đó là ai, vì nguyên nhân gì mà lại được bày trên bàn thờ nhà Thùy. Tôi thắc mắc tại sao cô Nguyễn hay Thùy không cho tôi xem bàn thờ, nhưng vì một nỗi sợ hãi mơ hồ mà tôi đã không dám nói chuyện này với ai cả.
Hồi học về Chiến tranh Thế giới lần II, tôi được nghe từ Thùy một chuyện thật bất ngờ. Đó là vào lúc bắt đầu học kỳ mùa thu.
“Thật may là kể từ sau Thế chiến II, không xảy ra cuộc chiến tranh nào có số người thương vong quy mô lớn như thế nữa.”
Giáo viên đang nói thì Thùy giơ tay ngắt lời:
“Không phải như thế ạ.”
Đó là câu đầu tiên của Thùy.
“Em nói cái gì không phải?”
“Ở Việt Nam, có nhiều người đã chết vì chiến tranh. Ông em, bà em, cô, dì, chú, tất cả đều chết hết. Em nghe kể là lính kéo đến và cứ thế bắn giết. Cả trẻ em cũng giết hết. Cả làng không còn một bóng người. Em nghe mẹ em kể lại như vậy.” Thùy nói.
“Đúng vậy, bạn Thùy nói đúng. Chắc các em chưa hề nghe nói đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Thùy có muốn nói tiếp không?”
Giáo viên hài lòng về việc Thùy đã đưa ra ý kiến của mình, nhưng có vẻ như cậu ấy chỉ nói ra như một phản xạ. Bởi mặt Thùy đã đỏ bừng lên như thể sắp khóc đến nơi. Cậu ấy định nói gì đó nhưng rồi lại nín lặng cúi đầu.
“Thùy, em nói tiếp đi. Tất cả mọi người cũng cần phải biết mà.”
Thùy lắc đầu. Tôi cảm thấy tất cả tình huống này có gì đó thật bất nhẫn, nhưng khi ấy, tôi không biết lý do của cảm giác ấy là gì. Lúc đó, lớp trưởng giơ tay.
“Việt Nam là đất nước duy nhất chiến thắng Mỹ trong chiến tranh. Riêng lính Mỹ có sáu mươi ngàn người thiệt mạng, dân thường ở Việt Nam cũng thiệt mạng hai triệu người. Em xem ở trên ti vi đấy ạ. Quân Mỹ dùng máy bay ném bom và phun cả thuốc diệt cỏ nữa.”
Trên mặt lớp trưởng hiện lên nụ cười đầy tự hào. Tôi nhìn đôi tai nhỏ đang đỏ bừng lên của Thùy.
Giáo viên khen lớp trưởng nói chính xác và giải thích thêm về hoàn cảnh tham chiến của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, cũng như diễn biến cuộc chiến. Và đưa ra kết luận rằng đó là sai lầm của chính phủ Mỹ, và đó là cuộc chiến mà nước Mỹ không hề đạt được bất cứ lợi ích gì. Tôi nhớ khi ấy, tôi đã muốn nói rằng điều mà Thùy muốn nói không phải là như vậy, rằng giảng giải theo kiểu như thế trước mặt cậu ấy là một việc làm thật tàn nhẫn... nhưng không hiểu sao, tôi không thể nào mở miệng được. Rõ ràng là Thùy đang ở trong lớp học, nhưng giây phút đó, cậu ấy bị đối xử như một người vô hình. Tôi nhìn dáng lưng cậu ấy đang ngồi co ro. Tôi cũng nhớ mình đã mơ hồ cảm thấy tức giận với lũ bạn người Đức – các người chắc không hề đoán được cảm nhận của Thùy lúc này phải không?
Tối hôm đó, chúng tôi tập trung tại bàn ăn nhà Thùy, cùng ăn món mì và sủi cảo chú Hồ làm. Tôi cũng không nhớ làm thế nào mà cuộc trò chuyện lại diễn ra theo hướng đó.
Tôi là một cô bé mười ba tuổi, không xinh đẹp, cũng không có gì đặc biệt giỏi. Kể từ sau khi em tôi ra đời lúc tôi lên mười tuổi, làm việc gì tôi cũng phải nghe câu “Đừng có như trẻ con thế”. Giống những đứa trẻ thiếu cảm giác hiện hữu của bản thân vẫn thường như thế, tôi mang một niềm mong muốn lớn lao là được người lớn công nhận.
Khi nói chuyện đến sự thống trị của thực dân Nhật, tôi nhấp nhổm trước những lời người lớn nói cũng là vì lý do như vậy. Tôi nghĩ cuối cùng thì mình cũng đã có cơ hội nói một câu rồi. Bởi nếu là về lịch sử Hàn Quốc thì tôi phải biết rõ hơn mọi người trong nhà Thùy rồi, nếu như tôi tỏ ra hiểu biết, chắc hẳn bố mẹ sẽ cảm thấy tự hào về tôi.
“Hàn Quốc chưa từng xâm lược một đất nước nào.”
Tôi nói như vậy và nhìn bố mẹ chờ đợi sự đồng tình. Bố tránh ánh mắt không nhìn về phía tôi như thể không nghe thấy gì, còn mẹ đưa mắt ra hiệu bảo tôi im lặng đi.
“Không biết nước mì có bị mặn không nhỉ.”
Chú Hồ đổi đề tài. Tôi thấy phật ý vì có vẻ như mọi người đều chẳng để ý đến câu nói của tôi.
“Thật mà. Người Hàn không làm hại bất cứ ai cả.”
Tôi nói. Tôi muốn tạo ấn tượng rằng Hàn Quốc là một đất nước lương thiện, tôi muốn tham gia vào cuộc trò chuyện của người lớn một cách tự nhiên và được khen ngợi. Bố đang ngồi đối diện tôi, tôi đưa mắt nhìn bố mong chờ sự tán thưởng.
“Con đừng có nói leo khi người lớn đang nói chuyện. Rút cuộc con biết cái gì mà cứ huyên thuyên thế hả?”
Bố quát lên bằng tiếng Hàn. Tất cả dừng đũa nhìn tôi. Xấu hổ và ấm ức vì bị bố mắng theo kiểu như vậy ngay trước mặt gia đình Thùy, hai tai tôi lùng bùng và nước mắt tôi lưng tròng. Mặt tôi nóng bừng lên. Lấy hết chút dũng khí cuối cùng, tôi nói bằng tiếng Đức:
“Ở Hàn thầy cô dạy như vậy mà. Người Hàn chúng ta không làm gì có lỗi với ai cả. Chúng ta chỉ là nạn nhân của nước khác thôi. Giáo viên tụi con bảo vậy mà...”
“Mình nghe kể là lính Hàn đã giết người đấy.”
Thùy nói. Giọng Thùy khẽ khàng nhưng cũng đủ làm không khí ở bàn ăn đông cứng lại.
“Họ đã giết tất cả mọi người trong gia đình của mẹ. Cả bà, cả dì có em bé họ cũng cứ thế bắn giết hết. Nghe kể ở quê mẹ có tấm bia tưởng niệm ghi nhớ tội ác của lính Hàn.”
Cách nói của cậu ấy như thể đang trách tôi “Sao cậu có thể nói những lời như vậy chứ?”, nhưng khi ấy, tôi hoàn toàn không hiểu nổi cậu ấy đang nói gì.
“Thùy, con đừng có nói bừa.”
Cô Nguyễn nói và nhìn tôi.
“Cháu không phải nghĩ ngợi gì hết. Việc này không liên quan gì đến cháu cả.”
Cô Nguyễn nói vậy chỉ càng xác nhận lời Thùy nói là sự thật mà thôi.
“Thật sự không có gì phải nghĩ ngợi cả.”
Đôi mắt cô đang lo lắng liệu tâm hồn non nớt của tôi có bị tổn thương không, vẻ mặt cô khi ấy thật khiến tôi không thể nào quên được. Những gì Thùy nói là sự thật – nhìn vẻ mặt của cô Nguyễn là tôi đã hiểu ra điều đó. Khi đó, nếu như tôi bị tổn thương thì đó hẳn là vì sự giày vò trước những tổn thương của cô Nguyễn.
“Chuyện đó xảy ra từ khi cháu còn chưa ra đời mà.” Cô thì thầm.
“Tôi thật sự không biết đấy ạ.” Mẹ nói. “Chuyện chị Nguyễn đã phải trải qua, tôi không hề biết chút gì, nhưng dù vậy, chúng tôi vẫn muốn nói lời tạ lỗi. Xin lỗi anh chị.”
Mẹ cúi đầu trước chú Hồ và cô Nguyễn.
“Tôi đã tận mắt mình nhìn thấy tất cả. Hồi đó tôi tầm tuổi Thùy bây giờ.”
Chú Hồ nói như vậy và cố gượng cười, mắt chú đỏ hoe.
“Nhưng tôi thật cảm ơn vì chị đã nói như vậy.”
Chú Hồ nói đến đó và gắng hết sức mỉm cười. Cô Nguyễn nói như thì thầm với chú Hồ bằng tiếng Việt. Dù tôi nghe không hiểu nhưng rõ ràng là những lời vỗ về an ủi chú ấy. Bởi dường như sự lan tỏa của những lời ấy còn an ủi được cả tâm trạng của tôi nữa.
Bố nãy giờ chỉ ngồi uống bia, như thể không nghe thấy cuộc nói chuyện giữa mẹ và chú Hồ.
“Anh cũng nói gì đi chứ.” Mẹ nói với bố bằng tiếng Hàn.
“Tôi nói gì bây giờ? Phải nói là chúng ta đã sai rồi à? Sao cô tự dưng lại đứng ra mà nói xin lỗi như thế hả? Cô là cái thá gì hả?” Bố vặc lại.
“Anh lúc nào cũng cái kiểu như này. Dù chết cũng không nói nổi lời xin lỗi, không chịu nói lời xin lỗi. Chuyện đó khó khăn lắm hay sao? Tôi mà là chị Nguyễn thì hẳn ngay từ đầu đã không thèm gặp gỡ gia đình chúng ta rồi.”
Bố xỏ tay vào chiếc cardigan vắt trên ghế ở bàn ăn.
“Cảm ơn về bữa tối.” Bố hơi ngần ngừ một chút rồi nói tiếp. “Anh trai tôi cũng đã chết trong cuộc chiến tranh đó. Hồi ấy, anh tôi hai mươi tuổi. Anh ấy chỉ là lính đánh thuê.”
Bố nói, mắt nhìn xuống sàn như cố để không phải nhìn vào mắt ai.
“Họ đã giết cả em bé và người già đấy ạ.” Cô Nguyễn nói.
“Chắc hẳn hoàn cảnh lúc đó không thể biết được ai là Việt cộng, ai là dân thường.” Bố nói, mắt vẫn tránh ánh nhìn của cô Nguyễn.
“Đứa bé mới đẻ được một tuần mà cũng coi là Việt cộng sao? Người già đi không vững mà cũng coi là Việt cộng sao?”
“Hồi đó là chiến tranh mà.”
“Chiến tranh sao? Đó chỉ là một cuộc tàn sát đáng ghê tởm.”
Cô Nguyễn nói. Giọng khô khốc đều đều không hề mang một chút cảm xúc nào.
“Vậy chị muốn tôi phải nói sao đây? Tôi cũng đã mất anh trai mình. Chẳng phải đây là chuyện đã qua rồi sao? Chị thấy chuyện này cứ phải van xin nhận lỗi đi nhận lỗi lại mới được hay sao?”
“Anh có còn tỉnh táo không đấy?” Mẹ nói.
Cô Nguyễn đứng dậy khỏi chỗ ngồi và từ từ bước vào phòng đọc sách. Có tiếng cửa khẽ khàng đóng lại. Tôi sợ hãi nhưng không sao đi theo cô vào phòng được. Mẹ bế em tôi đứng dậy khỏi ghế.
“Tôi thành thật xin lỗi.” Mẹ cúi đầu trước chú Hồ. “Thùy à, xin lỗi cháu.”
Nói xong, mẹ đi ra ngoài. Tôi cầm túi bỉm sữa của em cùng chiếc cardigan đi theo mẹ.
“Đó chỉ là một cuộc tàn sát đáng ghê tởm.”
Khi lên giường chuẩn bị ngủ, trước mắt tôi lại hiện lên hình ảnh khuôn mặt không hề có nụ cười của cô Nguyễn khi nói câu đó. Khi ấy, tâm trí cô đang ở một nơi chốn khác. Cô đã bị đẩy tới một nơi chốn và thời điểm nào đó mà dù cố gắng đến đâu đi nữa, tôi cũng không sao tưởng tượng ra được. Câu nói của cô không phải là để thuyết phục bố tôi, và cũng không phải là để bảo vệ bản thân. Câu nói đó không phải là nói với bố tôi, mà giống như một tiếng cười chua chát đối với chính bản thân cô – người đã cố gắng gượng mà sống tiếp sau khi gánh chịu chuyện đó. Cô thậm chí còn không thất vọng trước thái độ của bố tôi. “Bởi vì dẫu sao thì các người cũng không thể nào hiểu nổi đâu” – tâm trạng đó đã hoàn toàn chia cắt mối quan hệ giữa cô và chúng tôi vào buổi tối hôm đó. Đó là lựa chọn thông thường của người lớn khi họ không muốn căm ghét nhau, và cũng không muốn bị tổn thương vì nhau thêm nữa.
Mẹ cố gắng phục hồi mối quan hệ với gia đình Thùy. Ngay cả bản thân tôi khi ấy mới mười ba tuổi đầu cũng đã có linh cảm rằng, mối quan hệ với gia đình Thùy giờ đã thành ra không thể nào cứu vãn được rồi, nhưng mẹ lại nghĩ khác. Mấy lần mẹ đưa tôi và em tôi đến nhà cô Nguyễn. Bề ngoài không có gì thay đổi cả. Cô vẫn dọn trà và bánh trái tiếp chúng tôi, và vẫn chuyện trò đủ thứ với chúng tôi như trước. Mặc dù vậy, không hiểu sao tôi có cảm giác cô Nguyễn chỉ là đang cố chịu đựng khoảng thời gian ở cùng chúng tôi. Như để vượt qua nỗi ngượng nghịu, mẹ nói nhiều hơn thường ngày. Những lúc như vậy, thứ tiếng Đức chưa sõi của mẹ liên tục vấp váp lủng củng, câu cú mẹ nói khi luống cuống chẳng có nghĩa gì cả. Những câu cú ngập tràn các từ ngữ chẳng liên quan gì đến nhau, chia thì, chia giống, chia số lượng không thống nhất… nghe như thể đang pha trò. Tôi nhìn cô Nguyễn khi cô ngồi nghe mẹ nói. Dù cô đã cố gắng che giấu tâm trạng của mình đến đâu đi nữa, nhưng chỉ cần nhìn nét mặt cô là có thể cảm nhận được ngay.
Từ dạo bắt đầu phải mặc áo khoác mùa đông, mẹ không còn đến nhà cô, và cũng không nói chuyện liên quan đến cô nữa. Khoảng thời gian buổi tối thứ Bảy mà trước đây thường ở cùng gia đình Thùy, giờ đây biến thành khoảng thời gian gia đình chúng tôi gượng gạo ngồi bên nhau xem ti vi. Dạo đó, ngày cũng ngắn dần, mới 6 giờ chiều mà khắp nơi đã tối om, đến 8 giờ là tôi đã phải về phòng mình. Đêm thật khó ngủ. Tôi nằm yên, nghe tiếng mẹ kéo ghế ở bàn ăn, rồi tiếng mẹ gọi điện thoại nói như thì thầm với ai đó ở Hàn Quốc. Sáng sớm, khi ra khỏi phòng để đi vệ sinh, có lần tôi còn thấy mẹ đang ngồi bên bàn ăn, thẫn thờ nhìn vào bức tường. Mẹ đang mải mê suy nghĩ gì đó mà tôi đi ra cũng không biết, thấy tôi, mẹ giật nảy mình, sau đó như để trấn an tôi, mẹ cố mỉm cười, mi mắt run run.
Hộp phấn nền cùng với thỏi son mới dùng được một nửa, mẹ ném vào thùng rác. Chiếc đầm cùng bộ váy áo ưa thích, mẹ vứt ra thùng thu gom quần áo cũ. Cứ đến Chủ nhật là kiểu gì mọi người cũng gói ghém hành trang đi chơi ở khu rừng gần nhà, hay đi chợ phiên, hoặc tới chợ hoa... vậy mà giờ đây mẹ chỉ nằm trong phòng em tôi nhìn mấy bức tường. Trong những tình huống mà trước đây hẳn mẹ sẽ chỉ trích lời nói và hành động của bố, gây chuyện cãi vã hoặc lời qua tiếng lại với bố, thì bây giờ mẹ chỉ im lặng. Mẹ ăn cơm thật nhanh cho xong bữa, và ngồi đan len tới mức mấy đầu ngón tay đỏ lựng cả lên.
Dạo đó, lúc mẹ ngủ say, tôi đã vào lục thùng rác trong phòng em tôi. Trong đó có vứt mấy bức ảnh đã bị xé. Ảnh mẹ bế tôi hồi tôi còn bé, bên cạnh là bố đang cười, ảnh tôi đang xoa bụng mẹ hồi mẹ sắp sinh em... Những bức ảnh bị xé vụn tới mức dùng băng dính cũng không dán lại được. Tôi im lặng nhìn khuôn mặt mẹ đang nằm ngủ bên Da Yeon. Tôi thấy sợ hãi, bởi dường như mẹ đã xa cách quá rồi, và dường như mẹ sẽ còn xa cách hơn nữa.
Mẹ đưa tôi một hộp quà hình vuông. Đó là quà mẹ chuẩn bị cho gia đình Thùy, mẹ nhờ tôi chuyển cái hộp đó cho Thùy. Tôi đặt chiếc hộp lên bệ cửa sổ nhà bếp. Hộp quà được bọc trong giấy gói kẻ ca rô hai màu vàng và xanh lá, trang trí bằng một chiếc ruy băng đỏ.
Chỗ đồ đạc ít ỏi đã dọn đi, phần lớn đồ được chuyển qua đường bưu điện, vậy nên chúng tôi sống tạm bợ như mấy người lén lút sống trong căn nhà hoang. Chúng tôi trải giấy báo xuống sàn ngồi ăn sandwich, đêm đến, chúng tôi chui vào túi ngủ. Trong khoảng thời gian hai năm, tôi đã cao lên nhiều, tất cả quần áo tôi mặc ở Đức đều đã bị vứt vào thùng thu gom. Tôi không muốn tiếp tục ở Đức, nhưng dù vậy, tôi cũng không muốn quay về Hàn Quốc.
Sau một tháng nữa, tôi sẽ trở thành học sinh cấp II ở Hàn. Tôi sẽ cắt tóc ngắn, mặc đồng phục và xếp hàng đứng trên sân thể dục vào giờ tập trung buổi sáng – hình ảnh này của bản thân, tôi không tưởng tượng ra nổi. Đó rõ ràng là một sự thay đổi đáng sợ, nhưng khi ấy, thay vì sợ hãi, cảm xúc của tôi lại gần với sự buông xuôi phó mặc hơn.
Hôm đó là một ngày tuyết rơi nhiều. Trong công viên, tuyết tích tụ từ đợt trước chưa kịp tan thì tuyết đợt mới lại tiếp tục phủ dày, nhưng người đi đường vẫn qua lại theo con đường vòng tránh công viên đã được dọn sạch tuyết. Tôi ngả cái va li kéo đựng quần áo xuống, ngồi lên trên và nhìn cảnh vật bên ngoài. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy Thùy cũng là qua ô cửa sổ này. Khi đó, cậu ấy đang làm trò nhí nhố chạy theo đường zigzag, nhớ đến hình ảnh đó, mũi tôi cay sè. Đó là lúc mặt trời sắp lặn, lớp tuyết phủ trong công viên trông xanh thẫm.
Khi ấy, tôi thấy ngoài cửa sổ có một cậu bé mặc áo parka màu đen, để tóc mái dài. Cậu ấy đang sải từng bước dài. Tuy không nhìn rõ mặt nhưng tôi có thể thấy rõ là cậu ấy đang cười một cách tinh nghịch. Cậu bé quay người về phía ô cửa sổ, ngước nhìn tôi rồi giơ hẳn tay lên vẫy vẫy. Là Thùy. Tôi cầm hộp quà mẹ đưa và đi xuống tầng một, băng qua đường.
Chỗ Thùy vừa đứng chỉ còn lại dấu chân cậu ấy. Tôi đứng đó nhìn quanh một lúc lâu. Tôi đã đứng như thế bao lâu nhỉ? Thế rồi tôi thấy dáng Thùy từ xa vội vã chạy lại. Cậu ấy đến ngay trước mặt tôi và cười khanh khách.
“Vẻ mặt thế này là sao? Cậu vẫn bị mắc mưu à?” Thùy nói.
“Lần sau đừng có đùa cái kiểu ấy nữa.”
Lẽ ra tôi phải vừa nói như vậy vừa cười, nhưng dù cố gắng thế nào cũng không cười nổi. Bởi vì tôi thực sự cảm thấy rằng, cái từ “lần sau” ấy giờ đây đã trở nên vô nghĩa. Cổ tôi nghẹn lại.
“Này, có phải mới một, hai lần đâu mà cậu lại thế. Được rồi. Lần sau mình không thế nữa.”
Có lẽ vì ngạc nhiên khi thấy tôi cố kìm nước mắt, Thùy nhìn tôi một lúc lâu.
“Cậu là chó kéo xe trượt tuyết à? Cứ chạy loăng quăng trên tuyết thế?”
Phải đến khi nói xong câu đó, tôi mới gắng gượng cười được với cậu ấy. Thùy co hai tay trước ngực giả bộ làm chó, khiến tôi phì cười.
Phải đến sau này, khi thời gian trôi qua, tôi mới hiểu ra rằng, những lời nói và hành động trẻ con của Thùy chính là chiêu thức của những đứa trẻ có nội tâm sâu sắc. Những đứa trẻ như vậy thường trưởng thành sớm hơn hẳn so với những đứa trẻ khác, và chúng thường khoác bên ngoài hình ảnh của một đứa trẻ trông ngốc nghếch và ngây ngô nhất. Chúng tự coi mình là người nông cạn và ngu ngốc, để người khác có thể thông qua chúng mà buông bỏ nỗi thống khổ trong lòng, để người khác có thể tạm quên đi gánh nặng của mình. Hồi đó, tôi vẫn nghĩ những đứa trẻ nghiêm túc và vẻ mặt khinh khỉnh ta đây mới là ra dáng người lớn, vậy nên tôi không tài nào nhận ra được nội tâm sâu sắc của Thùy.
“Mẹ mình sắp tới đây rồi. Dạo này mẹ mình đi học mà. Bây giờ sắp đến giờ mẹ tan học rồi.”
Thùy nói. Lâu lắm mới nói chuyện với nhau nên tôi cũng thấy cậu ấy có chút gì hơi xa lạ. Tôi không còn đến nhà Thùy, và Thùy cũng không còn sang nhà tôi. Ở trường, chúng tôi lạnh nhạt đi qua nhau, trên đường về nhà, dù có tình cờ chạm mặt, chúng tôi cũng chỉ gật đầu chào nhau rồi cứ thế bước đi tiếp như không quen biết. Những lúc như thế, Thùy không còn là đứa trẻ mà tôi vẫn biết nữa. Cậu ấy cao lên nhiều, nhìn từ xa không còn giống trẻ con nữa. Bây giờ, hai bên làm như thể chẳng có gì xảy ra mà nói chuyện với nhau giống ngày trước thế này, tôi lại cảm thấy dường như thời gian đã trôi qua cực kỳ lâu rồi. Chúng tôi cùng ngồi xuống chiếc ghế băng trong công viên.
“Hôm đó, không phải mình định nặng lời với cậu đâu.” Thùy nói. Trong lúc tôi phân vân nên nói gì thì Thùy nói tiếp. “Mình nói thế không phải để chỉ trích cậu đâu.”
“Mình xin lỗi.”
Phải đến khi bất giác nói ra câu đó rồi, tôi mới chợt nhận ra bấy lâu nay, tôi đã muốn được nói với cậu ấy như thế này. Thùy khẽ chớp đôi mắt to tròn. Mỗi lúc gió thổi, những đụn tuyết trên cành cây lại rơi xuống và vỡ tung phía trên đầu chúng tôi.
“Mình xin lỗi vì đã chẳng hay biết gì cả.”
Tôi từ từ lên tiếng. Thật thận trọng như thể gió thổi qua công viên sẽ cuốn lời tôi đi mất. Dù biết nói thế cũng chẳng thể nào cứu vãn được gì, nhưng tôi vẫn muốn nói như vậy. Chạm phải ánh mắt tôi, Thùy khẽ cúi đầu, mũi bàn chân đá đá xuống mặt đất. Sau đó cậu ấy ngẩng đầu lên và lại nhìn tôi. Nét mặt có vẻ bối rối. Miệng cậu ấy từ từ hé ra, hơi thở tỏa khói trắng ra ngoài không khí. Thùy lấy từ trong cặp ra một chiếc phong bì.
“Nhận lấy này, Woodstock.”
Bên trong phong bì đựng một cuốn truyện tranh. Ngoài bìa là Woodstock và Snoopy đang ngồi trên nóc chuồng chó nhìn nhau cười. Giờ đây, chắc sẽ không còn cảnh cả hai ngồi bên nhau như thế này nữa, và hẳn tôi cũng sẽ không còn được cậu ấy gọi bằng cái biệt danh tức cười Woodstock nữa.
Chúng tôi ngồi đó huyên thuyên cho đến khi cô Nguyễn tới. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện: tại sao cái công viên này đã dọn rồi dọn nữa dọn mãi mà rút cuộc vẫn cứ có phân chó, ở dưới lớp tuyết trắng kia, không biết có bao nhiêu phân chó đã đông cứng lại nhỉ... Trước đây, chỉ cần nói chuyện phân thôi là chúng tôi đã cùng nhau cười tới mức lăn lộn ra đất rồi, nhưng không hiểu sao giờ đây chúng tôi không còn cười được như trước nữa. Chuyện đó giờ chẳng còn thú vị nữa rồi.
Thấy chúng tôi đang ngồi bên nhau, cô Nguyễn giơ tay vẫy. Cô ngồi xuống bên tôi.
“Khi nào cháu đi?”
“Đêm mai ạ.”
Cô không phản ứng gì, chỉ im lặng nhìn thùng rác gần đó. Tôi thấy ngượng, buông cánh tay cô ra và đặt lên đầu gối cô hộp quà mẹ đưa.
“Cái này mẹ cháu bảo chuyển cho cô.”
Cô từ từ xé giấy gói và mở hộp quà. Trong hộp đựng khăn quàng cổ, mũ len, găng tay len, mỗi thứ ba bộ mà mẹ đã bắt đầu đan từ mùa thu vừa rồi. Mẹ đan cái này cho ai đấy? Tôi hỏi nhưng mẹ đáp qua loa rằng chỉ là mẹ đan cho đỡ buồn thôi, tôi nhớ lại khuôn mặt mẹ khi ấy. Cô Nguyễn lấy ra chiếc mũ len đỏ và đội lên đầu. Dáng mũ giống với chiếc mũ có lưỡi trai bản hẹp mà cô vẫn thường đội vào mùa hè, chỉ khác là bằng len. Trên mũ có đính một bông hoa cài làm bằng sợi len, có hình hoa hồng. Cô Nguyễn lần lượt lấy trong hộp ra từng chiếc mũ, găng tay, khăn quàng và giơ lên ngắm nghía. Như thể đó là những viên đá quý phải giơ lên soi thật cẩn thận dưới ánh nắng yếu ớt này. Cô cầm chiếc mũ len màu xanh đậm có thêu chữ T màu vàng bằng sợi len và ngắm một lúc, sau đó đội lên đầu Thùy.
“Đầu thằng bé to nên mũ không vừa lắm. Nhưng mà...”
Nói đến đó thì cô dừng lại, im bặt và sụt sịt. Đây là lần đầu tiên tôi thấy cô cố nén khóc thế này. Ngay cả lúc nói chuyện về chiến tranh, cô cũng không hề biến sắc và vẫn nói một cách thật điềm tĩnh, vì thế lúc này, tôi không biết phải có phản ứng thế nào với cô. Cô Nguyễn ơi. Tôi nhìn khuôn mặt cô.
Đôi mắt màu nâu thật to, chiếc mũi nhỏ, khóe miệng trễ xuống vì nén khóc, giữa hai lông mày nhíu lại hằn sâu hai nếp nhăn.
Tôi thổi sạch những vụn tuyết rơi trên chiếc mũ len của cô.
“Xin chào.” Tôi nhìn khuôn mặt nhỏ nhắn của cô và nói.
“Xin chào.” Cô Nguyễn đáp lại cũng cùng một câu như vậy.
“Xin chào, Thùy.”
Tôi cất giọng hơi cao hơn một chút. Tôi nhìn khuôn mặt Thùy, cậu ấy đang đội chiếc mũ len màu xanh đậm, mũi đỏ ửng, tay đút túi và nhìn tôi.
“Xin chào.” Thùy đáp lại bằng một giọng khẽ khàng.
Có lẽ tôi đã mong đợi những cảnh tượng như sau. Tôi đã mong đợi được thấy cảnh tượng cô Nguyễn lên nhà chúng tôi, chào tạm biệt gia đình chúng tôi lần cuối, cảnh cô và Thùy cùng đội cho mẹ xem những chiếc mũ mẹ đã đan cho, và được thấy khuôn mặt mẹ tự hào ngắm hai người họ. Nhưng chẳng có cảnh tượng nào kịch tính như thế cả. Chẳng có màn ôm hôn thông thường, cũng chẳng có những lời dặn dò ly biệt tỉ mỉ từng câu chữ. Chỉ đơn giản một câu tạm biệt mà thôi. Chúng tôi đứng dậy khỏi băng ghế, phủi tuyết bám trên áo khoác và bước ra phía ngoài vỉa hè. Tôi băng qua đường, còn cô Nguyễn và Thùy thì không. Thấy tôi bước tới trước cửa ra vào rồi, cô và Thùy mới cất bước quay đi. Tới khúc rẽ kia thì chắc là sẽ không nhìn thấy nữa rồi. Tôi đứng bất động trước cửa, nhìn theo cô và Thùy đang bước đi chầm chậm. Thùy quay đầu lại nhìn về phía tôi một lần, rồi hai lần, nhưng khi ngoái lại, cậu ấy vẫn không dừng bước. Cô và Thùy rẽ vào khúc quanh, tôi không còn nhìn thấy họ được nữa. Biết đâu họ quay lại thì sao. Tôi ngồi xổm xuống trước cửa đợi họ. Hai người không quay lại, tôi đi sang tới tận cửa nhà Thùy. Ở đó cũng không có ai cả.
Thời gian trôi qua, cứ mỗi khi chấm dứt một mối quan hệ, tôi lại nhìn nhận xem ai là phía ra đi, và ai là người ở lại. Có trường hợp tôi là người ra đi, có trường hợp tôi ở lại, nhưng khi đổ vỡ một mối quan hệ thực sự quý giá, không thể biết được ai là người ra đi hay ai là người ở lại. Có trường hợp cả hai bên tất cả cùng ra đi, cũng lại có trường hợp cả hai bên đều ở lại, và có trường hợp ranh giới giữa đi và ở chẳng mấy rõ ràng.
Dù đã mấy lần đi công tác ở Đức, nhưng tôi không ghé Plauen. Ngay cả trong khoảng thời gian mười ngày lưu lại Leipzig – cách Plauen hai giờ tàu hỏa – tôi cũng cố gắng làm ngơ nơi đó. Ở đó, có đứa trẻ sống với hai bố mẹ luôn khinh miệt lẫn nhau, một đứa trẻ run rẩy tận nơi đáy sâu tâm hồn, ở nơi đó đã diễn ra cuộc chia ly lạnh lẽo không có nổi một cái ôm, có con đường nơi tôi đã khóc một mình. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng, có những người dù đã chia tay nhưng khi gặp lại vẫn có thể mỉm cười, có những mối quan hệ dù kết thúc thế nào đi nữa nhưng chỉ cần nhìn lại kỷ niệm là cũng có thể mỉm cười, ngược lại, có những cuộc chia ly chỉ để lại nỗi đau mà dù cho một quãng thời gian dài đã trôi qua cũng vẫn không muốn nhìn lại chút nào.
Một năm sau khi mẹ mất, tôi đã trở lại Plauen. Hồi đó là vào đầu xuân, ánh mặt trời ấm áp và gió lạnh, khi giỗ đầu mẹ vừa qua được một tuần. Thành phố nhỏ hơn hẳn so với trong ký ức của tôi, thậm chí còn tàn tạ và hoang vắng hơn cả hai mươi năm về trước. Ngôi trường tôi học ngày xưa giờ đã biến thành một nhà máy nhỏ, ở sân sau có mấy ông già ngồi hút thuốc và nhìn tôi một cách thờ ơ. Nơi không có thay đổi gì là ngôi nhà mà tôi đã sống. Tòa nhà vẫn còn nguyên ở đó, nằm nhìn sang công viên. Tôi ngước lên khung cửa sổ tầng ba – nơi hồi nhỏ tôi vẫn đứng dán mũi vào đó. Nhớ lại việc mình đứng sau ô cửa nhìn trộm Thùy chạy nhảy trong công viên, bất giác tôi khẽ bật cười.
Cuốn truyện tranh Snoopy mà Thùy tặng, tôi vẫn để trên giá sách trong phòng tôi. Cuốn truyện tranh toàn bộ đen trắng nhưng chỉ riêng mình Woodstock được tô màu vàng tươi. Woodstock – chú chim hoàng yến không sao bay được cho ra hồn. Mỗi khi mở cuốn sách ra và nhìn chú chim màu vàng đó, tôi lại như được đến gần bên tấm lòng ấm áp của Thùy – người đã lật từng trang từng trang truyện để tô màu cho chú chim nhỏ ấy.
Không khó để tìm ra nhà của Thùy. Tôi ngồi xuống băng ghế đối diện ngôi nhà và nhìn sang cửa sổ nhà Thùy. Ô cửa sổ đó hẳn là cửa sổ nhà bếp. Tôi lờ mờ nhớ ra cảnh tượng công viên nhìn qua ô cửa đó, cũng như dáng lưng của chú Hồ đứng chuẩn bị bữa tối trong gian bếp ấy. Tôi nhớ ra cả mùi cơm sôi, hương thơm ngọt bùi trong miệng khi ăn món canh thịt, mùi vị của món rice pudding mà cô Nguyễn làm cho mẹ, và cả những lúc tôi cùng Thùy ngồi dựa lưng vào tường đọc truyện tranh Snoopy. Quãng thời gian đó, một cách ngọt ngào và cay đắng, vẫn đang chảy dọc theo một mạch nước nhỏ trong lòng tôi. Ở đó, có quãng thời gian mà bố mẹ tôi – hai con người đã gắng sức dù là theo một cách khá nguy hiểm để không từ bỏ nhau – và vợ chồng cô Nguyễn – hai con người vì đã phải chịu tổn thương nên đã gắng sức để không gây tổn thương cho ai khác – những con người này đã hát cho nhau nghe.
Khi mẹ mất, cũng chẳng được mấy người khóc thương cho mẹ. “Con bé đó từ nhỏ tính đã nhạy cảm và u ám rồi.” “Hình như hồi nhỏ nó không được tươi tắn lanh lợi cho lắm đâu.” Ngay cả bác gái và dì cũng chỉ nhớ về mẹ theo kiểu như vậy. Phải đến lúc đó, tôi mới nhớ tới cô Nguyễn – người đã từng nói mẹ là con người tràn đầy tình yêu. Cô là người duy nhất thấu hiểu tính khí nhạy cảm và u uất mà người đời chê trách đó của mẹ chính là sự tinh tế, là năng lực cảm xúc đặc biệt. Trong cách nhìn đầy tình cảm của cô ấy, mẹ hiện lên như một người xứng đáng được yêu thương.
Phải chăng vì đó là cô Nguyễn nên mẹ mới hiện lên đẹp đẽ về mọi mặt như vậy, phải chăng cô không thấy được những điểm yếu của mẹ? Không, cô đã thấy hết tất cả những điểm yếu thuộc về con người ở mẹ, dù vậy, cô vẫn ở bên mẹ với những gì mẹ vốn có. Chút tấm lòng mà cô dành cho mẹ, mẹ đã giữ gìn trân trọng biết bao nhiêu? Khi vì một chuyện thậm chí còn chẳng phải là lỗi của mẹ mà tình cảm đó đổ vỡ, liệu mẹ đã chìm trong nỗi tuyệt vọng sâu sắc đến mức nào? Theo như tôi được biết, kể từ sau dạo đó, cô Nguyễn cũng không dễ chia sẻ nỗi niềm với người bạn nào nữa. Chắc hẳn mẹ đã rất nhớ cô. Dù ngoài miệng nói không còn nhớ những chuyện hồi đó cho lắm, nhưng hẳn là suốt một thời gian dài, mẹ đã thương nhớ cô Nguyễn – người đã yêu mẹ như chính con người của mẹ.
Đó chỉ là một người bạn thỉnh thoảng chịu khó lắng nghe. Là người làm chỗ dựa cho mẹ trong chốc lát. Cô ấy làm vậy không phải vì đó là mẹ tôi, mà vì mẹ tôi là một người cô đơn đã lâu. Giờ đây, tôi nhận ra sự thật rằng, ý chí và nỗ lực của con người không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với hạnh phúc của cuộc đời họ. Tôi nhận ra rằng, việc mẹ không thể nào hạnh phúc khi ở bên chúng tôi không phải là sự vô trách nhiệm với cuộc sống, và cũng không phải là sự buông xuôi bỏ mặc đối với bản thân mẹ.
Khi tôi liên lạc được với cô, cô Nguyễn liên tục nhắc đi nhắc lại câu “Thật không thể nào tin được”.
“Vợ chồng cô bấy lâu chỉ sống ở đây thôi. Thùy làm việc ở Hamburg.”
Cô đang phấn khởi nên tôi không kể hết mọi sự tình với cô. Có điều, khi cô hỏi “Mẹ cháu vẫn khỏe chứ?” thì tôi không thể nào đáp lại bằng một lời nói dối được.
Một phụ nữ nhỏ bé đội chiếc mũ len màu đỏ mở cửa bước ra và đứng ở phía bên kia đường. Tôi đứng dậy khỏi ghế và tới bên lề đường. Đứng hai bên con đường nhỏ, chúng tôi chỉ im lặng nhìn nhau. Đèn tín hiệu chuyển xanh, tôi băng qua đường. Tôi thấy trong mắt cô Nguyễn vẻ choáng váng không thể nào che giấu nổi. Bởi ở tuổi ba mươi ba, tôi giống mẹ như tạc, tới mức có bảo tôi với mẹ hồi đó là cùng một người cũng được. Trong mắt cô, tôi thấy mẹ đang cùng đứng ở đây bên tôi. Tôi thấy hình ảnh mẹ băng qua con đường đằng kia, miệng gọi tên cô đầy vui sướng “Chị Nguyễn.” Xin chào, xin chào. Chúng tôi nhắc đi nhắc lại câu đó tới mấy lần. Giống như đã quên hết tất cả những câu nói khác.