Nhìn ánh sáng phản chiếu trên sông băng, mình nghĩ tới cậu.
100 đêm trắng.
Ánh sáng này làm người ta say, và đồng thời cũng làm người ta tỉnh. Nơi đây, mình nằm mộng ngay cả khi mở mắt. Cậu như đang đứng trước dòng sông băng kia. Dưới ánh mặt trời, thân thể cậu tỏa ra ánh sáng xanh thẫm.
Trong sự cô lập chỉ toàn là ánh sáng, mình đã khoan lớp băng dưới đáy sâu của Nam cực và cố tìm hiểu ký ức của quãng thời gian suốt 650 ngàn năm in dấu trên lớp băng đó. Mình biết, mình không có dũng khí hay sức mạnh để làm một việc như thế này.
Mặc dù vậy, mình đã đến nơi đây.
Trong lúc nghe chuyện về Nam cực và sông băng, đêm trắng và đêm đen, mình đã nghĩ có lẽ biết đâu đấy cậu lại đang ở một miền đất băng giá chứ không phải là Nairobi. Cậu đang đứng thẫn thờ trước dòng sông băng sáng rực. Ảo ảnh đó về cậu đã kéo mình đến với lục địa phủ đầy băng giá này.
Mình muốn gửi tới cậu cuốn sổ này.
***
Khi vị tu sĩ trẻ mới hai mươi lăm tuổi lập ra tu viện đó, châu Âu đang trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới lần II. Mong muốn lập tu viện, tu sĩ đó đã chu du qua các chốn làng quê ở Pháp để tìm địa điểm. Nơi đó là một ngôi làng nhỏ và hoang phế gần Lyon. Những người trẻ tuổi đã bỏ làng mà đi, chỉ còn những người già đang cố cầm cự với nỗi cô độc trong chiến tranh. Khi vị tu sĩ ghé thăm ngôi làng, một bà lão đã đón tiếp tu sĩ và nói:
“Cảm ơn cậu đã đến chốn cô quạnh này.”
Người tu sĩ không thể quên được câu nói này và sau đó đã quay trở lại ngôi làng, mua một ngôi nhà bỏ hoang và lập tu viện. Tiếng thì là tu viện vậy thôi, chứ chỉ có một mình tu sĩ đó cùng hai con dê mà vị tu sĩ nuôi để duy trì sự sống của mình.
Vị tu sĩ đó là một chàng trai dịu dàng và hay ngượng ngùng, theo đuổi một cuộc sống giản đơn chỉ bao gồm cầu nguyện, lao động, nghỉ ngơi. Theo chàng, không có Chúa nào lại trả thù, đố kị hay giận dữ, và chàng tin thứ Chúa có thể cho con người, duy nhất chỉ có tình yêu mà thôi. Dù cho biết rõ con người đã gây ra những gì với đồng loại của mình trong cuộc chiến tranh, chàng vẫn tin vào tình yêu của Chúa. Trong Thế chiến II, vị tu sĩ đã bao che cho những người Do Thái chạy tới tu viện để tránh quân phát xít, sau khi kết thúc chiến tranh, vị tu sĩ lại bao che cho các tù nhân chiến tranh người Đức trên đường chạy trốn.
Những người muốn sống cùng với vị tu sĩ này đã tìm đến ngôi nhà cũ kĩ đó và thỉnh cầu ông. Ông là tu sĩ xuất thân từ đạo Tin lành, nhưng trong số những người xin được làm tu sĩ, lại có cả các tín đồ Thiên chúa giáo bao gồm cả linh mục, cùng tín đồ Chính thống giáo Nga, tín đồ Chính thống giáo Hy Lạp và tín đồ Anh giáo. Một ngày ba lần, các tu sĩ xuất thân từ những tông phái khác nhau cầu nguyện theo một bài hát ngắn và lặp đi lặp lại vẫn được hát tại nhà thờ Chính thống giáo Nga, và một tu sĩ học ngành nhạc mỗi năm lại sáng tác một bài hát theo hình thức như thế. Có bài được sáng tác bằng tiếng Latinh, có bài bằng tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Ba Lan. Việc cầu nguyện chung ba lần một ngày được thực hiện với những bài hát này cùng với 10 phút im lặng. Buổi sáng, họ đọc một đoạn Phúc âm và ngồi mặc tưởng, sau đó chia nhau bánh thánh. Họ không nhận bất cứ quyên góp hay quà tặng nào, họ làm đồ gốm và viết sách để kiếm tiền sung vào quỹ của tu viện.
Tu viện có nguyên tắc không từ chối bất cứ ai trong số những người tìm đến, do đó, những người muốn cầu nguyện và lao động đều có thể thoải mái ở lại nơi này. Đặc biệt, vào mùa hè, khách từ khắp nơi ở châu Âu tìm đến, có tuần tập trung lên tới hơn bốn nghìn người. Chỉ có hơn một trăm tu sĩ đón tiếp khách thập phương như vậy là một việc không dễ dàng gì. Số khách viếng thăm tăng lên, những người lưu lại thời gian dài giúp các tu sĩ tiếp đón khách thập phương. Tại tu viện được khởi dựng nơi ngôi nhà bỏ hoang tại ngôi làng cô tịch đó, mỗi năm có hơn một trăm ngàn khách thập phương tìm đến.
Những người tình nguyện ban đầu phần lớn là người châu Âu, họ ở lại tu viện ít thì một tháng, nhiều thì lên tới cả năm. Về sau, với những người ở độ tuổi hai mươi tại những nước Thế giới thứ ba vốn khó mà đến Pháp được vì vấn đề khoảng cách địa lý hay chi phí, tu viện bắt đầu trả chi phí vé máy bay khứ hồi cho họ và mời họ đến làm công tác tình nguyện. Châu Phi, châu Á, Trung Nam Mỹ... mỗi nước ở đây có hai người được mời đến, trong ba tháng mùa hè – thời gian tu viện đông khách thập phương nhất, họ sẽ ở đây làm việc và cầu nguyện.
Tôi vẫn không hiểu sao mình lưu lại chốn đó lâu đến như vậy.
Tôi đã dành bảy tháng lưu lại tu viện mà ban đầu tôi chỉ định ở một tuần. Lần đầu tiên tham gia cầu nguyện chung, tôi đã biết mình không thể rời khỏi nơi này chỉ sau một tuần. Chuyện đó xảy ra khi tôi đang đi du lịch nước Pháp hai tuần. Tôi đã phải xin nghỉ ở viện đại học và xin visa với sự giúp đỡ của tu viện.
Hồi đó, tôi hai mươi bảy tuổi.
Tôi nhiều tuổi nhất trong số những cô gái đang ở tu viện. Tu viện chỉ chọn những người từ mười chín tuổi đến dưới ba mươi tuổi vào vị trí tình nguyện viên dài hạn. Trong số đó, đông nhất là những người hai mươi ba, hai mươi tư tuổi, vừa tốt nghiệp đại học ra, đang tìm kiếm con đường cho riêng mình. Tôi mà nói “Mình hai mươi bảy tuổi” là mọi người lại lặng im một thoáng. Cả bố mẹ tôi, cả người chị vừa sinh em bé ngay trước khi tôi lên đường đi du lịch, cả giáo sư hướng dẫn và những người ở phòng nghiên cứu cũng vậy. Độ tuổi hai mươi phải là thời kỳ khốc liệt hơn bất cứ thời kỳ nào, và sự khốc liệt ở đây có nghĩa là cố sống cố chết nhanh chóng tích lũy kinh nghiệm một cách an toàn.
“Bây giờ em không biết mình đang làm cái trò gì đâu.” Chị tôi nói. “Em đang lãng phí đấy. Đó chính là sự lãng phí ngu ngốc nhất trên đời. Độ tuổi hai mươi này, nếu em mà cứ sống với làm theo những gì mình muốn thì kết cục, em cũng sẽ như bố mẹ thôi, cả đời không có nổi một căn nhà. Em sẽ thành ra người cả đời sống dưới trướng người khác, nai lưng ra mà làm những gì người ta sai bảo, vậy mà đến lúc con cái kết hôn cũng không thêm thắt cho nó được một đồng. Hồi em bảo sẽ học cao học, chị đã tưởng em có mục tiêu trở thành giảng viên đại học đấy. Nếu không phải như vậy thì sao em còn đầu tư thời gian tiền bạc vào cái chỗ như thế làm gì? Giáo sư với mấy người đồng liêu sẽ nhìn em ra thế nào đây? Em ấy, dù cho không hiểu gì về cuộc đời thì cũng phải có mức độ thôi chứ. Không có tiền dành dụm thì ít ra phải có cái học vị chứ. Em cứ thử lơ ngơ vào đời theo cái kiểu như thế xem. Em sẽ thành con người vô giá trị. Em sẽ phải sống cái cuộc đời mà đến con em rứt ruột đẻ ra, em cũng chẳng thể nào ôm được nó trong lòng một lần đâu.”
Tôi đồng ý với những gì chị nói. Bởi nỗi sợ hãi gần như là tức giận chất chứa trong giọng nói của chị, từ lâu đã là chủ nhân của tôi rồi. Nỗi sợ hãi đó đã bền bỉ thúc đẩy tôi từ hồi tôi còn nhỏ, và đã nuôi dạy tôi thành một người trưởng thành nhìn bề ngoài không có gì là liều lĩnh cho lắm. Nỗi sợ hãi đó vẫn luôn nói với tôi rằng, tôi không được sống có sao hay vậy, rằng tôi phải không ngừng thay đổi thành một con người tốt đẹp hơn. Nếu như không thay đổi, nếu như không tốt đẹp hơn, tôi sẽ bị loại trừ khỏi thế giới này.
Mặc dù vậy đi nữa, tôi vẫn lựa chọn việc ở lại chốn đó.
Bạn trai tôi đã im lặng.
Trong cuộc điện thoại cuối cùng, khi tôi nói mình sẽ tiếp tục ở lại tu viện, và cũng không biết sẽ ở lại bao lâu, bạn trai tôi thở dài một lúc rồi bảo “Anh biết rồi”. Tất cả chỉ có thế. Tôi chưa kịp nói lời xin lỗi, anh ấy đã cúp máy.
Chúng tôi đã huy động tất cả mọi cách để chịu đựng nhau, ngoại trừ việc cãi vã. Chúng tôi cũng chẳng có ý muốn xem phản ứng của nhau thế nào khi hai bên bộc phát cảm xúc và chửi mắng nhau. Ngay cả cãi vã thì cũng phải còn lại một chút tình yêu thì mới cãi vã được. Tôi không ghét anh ấy, và anh ấy cũng không ghét tôi. Tôi không bị tổn thương vì lời nói và hành động của anh ấy. Anh ấy hẳn cũng sẽ như vậy. Chúng tôi cũng không biết cách xử tệ với nhau. Vậy nhưng nghĩ lại thì thấy, điều tệ nhất lại nằm ở chính sự ngu ngốc không thể nào đối xử tệ với nhau đó.
Chúng tôi đã che mắt nhau một cách thật lịch sự. Kết cục, phải đến tận phút cuối cùng, tôi mới buông tay khỏi mắt anh ấy trước, và chúng tôi mới chia tay một cách dứt điểm. Kết thúc của những người yêu nhau thường không thể nào dứt khoát được như thế, chính vì vậy, cuộc chia tay đó đã chứng minh rằng, giữa chúng tôi không còn lại chút tình yêu nào nữa. Chỉ là chúng tôi đang di chuyển từ điểm này sang điểm khác mà thôi.
Bốn tuần trôi qua sau cuộc điện thoại cuối cùng, anh ấy gửi tin nhắn cho tôi.
“Cảm ơn em đã chịu hẹn hò với anh ba năm qua. Xin lỗi em, nhưng bây giờ chúng ta dừng lại ở đây đi.”
Anh ấy lúc nào cũng nói tôi đã “chịu hẹn hò” với anh ấy. Cụm từ đó làm tôi bối rối, làm tôi thấy hơi coi thường anh, và hơn hết, nó cũng khiến tôi cảm thấy thoải mái yên tâm về anh ấy. Dù hẹn hò với người khác chứ không phải tôi, anh ấy hẳn cũng sẽ nói như vậy. Anh ấy lúc nào cũng đánh giá thấp bản thân, khiêm tốn quá mức và hà tiện với bản thân tới tàn nhẫn.
Khi anh ấy hai mươi bảy tuổi, tôi là người con gái đầu tiên anh hẹn hò.
“Cho tới tận bây giờ, anh chưa bao giờ được con gái quan tâm để ý cả. Hẹn hò với con gái là việc chắc chỉ có trong mơ.” Anh nói.
Dù không điển trai cho lắm, nhưng anh là người mới nhìn đã thấy có thiện cảm, lại học rộng hiểu nhiều, chơi piano hay mà hôn cũng giỏi. Mặc dù vậy, tận sâu trong lòng, anh ấy lại tin rằng mình không thể nào có được tình yêu. Dù anh ấy chưa bao giờ trực tiếp diễn đạt ý nghĩ đó bằng lời, nhưng trong quãng thời gian ba năm tôi hẹn hò với anh ấy, trong lời nói và hành động của anh đều chứa đựng những thông điệp như vậy, cuối cùng, đến ngay cả tôi cũng bị niềm tin của anh tẩy não. Sao một việc như thế lại có thể xảy ra được nhỉ?
Một thời, tôi cũng đã từng cảm thấy tình cảm dành cho anh lớn hơn so với cảm xúc mà tôi đã có với Han Ji. Vậy nhưng không biết từ lúc nào, tình cảm ấy đã biến mất, trước mắt tôi, anh ấy trông như một hình nhân khổng lồ bằng giấy. Và đó là nỗi buồn thuộc một loại khác so với một tình yêu tan vỡ.
Làm sao mà mọi chuyện lại có thể như thế nhỉ?
Dù có nhiều điều muốn nói với anh ấy, nhưng tôi đã không nói. Tôi chỉ gửi tin nhắn nói xin lỗi vì đã tự ý rời Hàn Quốc như thế, và tôi cũng cảm ơn anh về quãng thời gian qua. Tôi vẫn nhớ đó là một cuộc chia tay lạnh lẽo vô cảm, nhưng thật lạ lùng là khi ấy, tôi đã rơi nước mắt.
Sau bốn tháng ở tu viện, tôi đi đón Han Ji và Caro từ Kenya bay sang. Hầu như chẳng có tình nguyện viên nào biết lái xe hay thạo đường nên tôi được giao việc cùng Théo đi đón những tình nguyện viên mới được mời sang. Hồi đó là tháng Sáu, giai đoạn cao điểm có nhiều tình nguyện viên hạ cánh xuống sân bay Lyon. Tôi đã từng đi đón các tình nguyện viên từ Mexico, Madagascar, Việt Nam. Công việc này khá là oai. Khi lái chiếc xe cũ và ngắm phong cảnh bên ngoài, cảm giác lồng ngực mình chợt nhẹ nhõm hẳn đi.
Khi Han Ji xuất hiện ở cổng đến, tôi dễ dàng nhận ra cậu ấy ngay. Trước đó và cả sau này nữa, tôi chưa từng thấy một người da đen nào đen hơn Han Ji. Da cậu ấy tỏa ánh đen thuần khiết, tựa như người được vẽ bằng sơn dầu màu đen trên vải bố. Chỉ nhìn qua cũng thấy chiều cao của Han Ji phải hơn một mét chín mươi. Trời nóng nhưng cậu ấy mặc quần vải dài, đi giày da. Cậu ấy bước tới, cười rạng rỡ như thể chúng tôi là bạn bè lâu ngày không gặp. Cô gái đi bên cạnh Han Ji là Caro. Bốn người chúng tôi ôm nhau chào và bắt đầu trò chuyện. Han Ji cùng Théo và Caro nói chuyện bằng tiếng Pháp với tốc độ khá nhanh. Tôi xách chiếc ba lô nhỏ của Caro và bước ra ngoài trước.
“Cậu không nói được tiếng Pháp à?”, Caro hỏi và tôi đáp lại bằng tiếng Anh rằng đúng là như vậy. “Cũng không nghe được à?” Tôi gật đầu. Caro quay lại đằng sau và bắt đầu nói chuyện với Han Ji và Théo bằng tiếng Anh. “Tụi mình nói tiếng Anh đi. Cậu ấy bảo không biết tiếng Pháp.” Théo xin lỗi vì bọn họ đã cứ thế vô thức nói chuyện bằng tiếng Pháp mà không nghĩ đến tôi.
Trời trong, chiếc xe phát ra âm thanh cũ kĩ, trừ tôi ra, ba người kia ngay từ đầu đã có gì đó thật hợp nhau, họ vui vẻ trò chuyện sôi nổi bằng tiếng Pháp, sau đó chợt nhớ ra tôi nên họ chuyển sang nói chuyện bằng tiếng Anh và rồi kết cục lại quay trở lại bằng tiếng Pháp. Ngay cả việc yêu cầu họ nói bằng tiếng Anh, tôi cũng thấy thật thảm hại, vì vậy tôi chỉ im lặng lái xe. Tôi cảm thấy thật lạc lõng, và vì không muốn phải thừa nhận điều đó, tôi bật radio và chỉ nhìn thẳng phía trước mà lái xe.
Tại tu viện, tu sĩ người Kenya đang đợi chúng tôi. Giống như lần đầu thấy chúng tôi, Han Ji và Caro cũng cười rạng rỡ và chạy đến ôm chào vị tu sĩ. Ba người đi tới bàn ăn đã chuẩn bị trước. Tôi chào và đang định rời đi thì Han Ji nói “Young Joo, cảm ơn cậu”, sau đó đứng im nhìn tôi. “Gặp lại cậu sau.” Tôi chào Han Ji rồi bước ra ngoài, vừa lúc đó, cơn mưa rào ập xuống.
Khi tôi mới đến, có hai mươi tình nguyện viên dài hạn, khi Han Ji đến, số lượng này đã tăng lên bốn mươi. Nữ có ba mươi người và nam có mười người. Đám con gái ở chung trong ngôi nhà hai tầng nằm trong khuôn viên tu viện. Một phòng có bốn người ngủ, trên tầng hai có phòng ăn và phòng khách. Con trai ở ngôi nhà cũ bên ngoài cổng chính tu viện, trước ngôi nhà đó có một cây bồ đề rất to, đêm đến hương hoa ngào ngạt khắp nơi. Do đám con trai đó sống bên cây bồ đề như vậy nên bọn tôi gọi họ là “Tilleu Boys” [9] . Mỗi khi chúng tôi thỉnh thoảng đi qua trước ngôi nhà đó, bọn con trai lại chào hỏi ầm ĩ từ trên ban công.
Sáng thứ Bảy hằng tuần, chúng tôi nhận công việc được phân công cho cả tuần tiếp theo. Công việc được chia riêng thành việc buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, nếu tính theo giờ thì một ngày lao động khoảng 6 tiếng. Công việc bao gồm những việc như nấu ăn trong bếp chính, dựng lều cho khách thập phương, lau dọn, rửa chén bát, đón tiếp khách, dọn dẹp nhà nguyện... những tình nguyện viên có bằng lái thì sẽ phụ trách lái xe hơi, hoặc xe tải đã cũ đến mức nổ được máy cũng là một chuyện thần kỳ.
Một ngày có ba lần cầu nguyện chung. Khi các tu sĩ ngồi vào chỗ ở giữa nhà nguyện thì buổi cầu nguyện bắt đầu. Căn nhà nguyện tồi tàn đến ghế cũng không có. Tất cả chúng tôi ngồi xuống sàn nhà trải tấm thảm cũ và cầu nguyện. Các tình nguyện viên dài hạn tập trung ngồi vào chỗ cố định phía sau các tu sĩ. Hôm Han Ji đến tu viện, lần đầu tiên cậu ấy xuất hiện ở đó là vào giờ cầu nguyện buổi tối. Cậu ấy ngồi xuống phía cuối bên phải hàng tôi ngồi. Mặc áo phông cổ tròn xanh lam, quần ngắn, trông Han Ji thật thoải mái. Tôi vừa mới rửa bát đĩa xong và cởi ủng ra, chân trần ngồi trên sàn mà ngủ gà gật. Ngay cả sau khi tất cả các tu sĩ đã đi khỏi, những người muốn hát thì ở lại cùng nhau hát, cho đến tận lúc đó, tôi vẫn ngồi ngoẹo đầu sang một bên mà ngủ gật.
“Young Joo.”
Nãy giờ vẫn ngồi ở đằng xa, vậy mà Han Ji đã đến bên cạnh tôi tự lúc nào. Các tình nguyện viên khác ngồi cùng chỗ với tôi cũng đã đi hết. Han Ji vừa nhấc đôi ủng để bên cạnh tôi lên rồi lại đặt xuống, vừa đưa mắt nhìn tôi.
Khi đó là lần đầu tiên tôi nhìn khuôn mặt của Han Ji gần như vậy. Nước da đen bóng không một nếp nhăn, đôi mắt to trong trẻo như trẻ con. Hàm răng trắng có một chiếc răng cửa bị gãy một nửa. Cái cổ dài vươn lên phía trên chiếc áo phông cổ tròn. Từ người cậu ấy tỏa ra mùi cỏ mùa hè.
“Cậu mệt hả?” Han Ji hỏi.
“Cậu thì sao, không mệt hả? Đi từ tận châu Phi đến đây mà.”
“Mình chẳng mệt chút nào. Này, cậu biết căng tin ở đâu không? Mình không mang bàn chải đến đây.”
Tôi xỏ chân vào ủng và đi ra ngoài nhà nguyện. Phía bức tường đối diện nhà nguyện, các tình nguyện viên dài hạn đến từ Trung Nam Mỹ đang tụ tập chuyện trò huyên náo. Han Ji cười rạng rỡ và bắt chuyện với họ bằng tiếng Tây Ban Nha. Như thể đã quen biết họ từ lâu vậy.
“Young Joo. Hồi nãy trên xe, cậu giận hả?”
“Đâu có.”
“Mình thấy có vẻ như vậy mà. Tại bọn mình cứ toàn nói chuyện bằng tiếng Pháp.”
“Không có đâu. Chỉ là dạo này việc nhiều nên mình mệt thôi. Mà thấy không. Ngay cả tiếng Anh mình cũng có nói thạo đâu nào.”
Han Ji lắc lư cái đầu mà nói:
“Không đâu. Mình hiểu cậu mà.”
Câu “Mình hiểu những gì cậu nói (what you say) mà.” , Han Ji lại nói bằng tiếng Anh với nghĩa là “Mình hiểu cậu (you) mà.”
“Young Joo, cậu biết không? Đây là lần đầu tiên mình ra nước ngoài. Và cũng là lần đầu tiên mình gặp người Hàn Quốc. Cậu là người bạn Hàn Quốc đầu tiên của mình đấy, Young Joo.”
“Cậu chưa gặp người châu Á bao giờ sao?”
“Ừm. Ở Nairobi, mình nhìn thấy người Trung Quốc, nhưng nói chuyện thì đây là lần đầu tiên đấy. Thật là kỳ diệu, vui thật đấy, Young Joo.”
Trước căng tin có mấy chiếc bàn đứng. Đám thanh niên đứng bên bàn ăn khoai tây chiên và uống cola. Dưới ánh đèn nơi bãi đất trống trước căng tin, khuôn mặt Han Ji trông xa lạ hơn. Đây là lần đầu tiên tôi gặp một người trông như thế này. Chắc Han Ji cũng cảm thấy khuôn mặt tôi xa lạ như vậy.
“Cậu làm công việc gì vậy?” Han Ji hỏi.
“Mình học cao học về địa chất.”
“Địa chất ấy hả?”
“Là nghiên cứu về cơ thể của trái đất đó. Đo tuổi của trái đất, tìm hiểu những sinh vật hồi xưa đã sống trên trái đất, rồi dự đoán động đất hoặc núi lửa phun. Còn nghiên cứu cả nham thạch hay băng hà nữa.”
“Trong những thứ đó thì cậu nghiên cứu cái gì?”
“Mình nghiên cứu khí hậu trong quá khứ. Gần đây, mình nghiên cứu về khí hậu Đông Á vào hai ngàn năm trước.”
“Như thế nào cơ?”
“Mình phân tích thạch nhũ trong các hang động.”
“Thạch nhũ là gì vậy?”
“Là mấy cái sừng đá trơn tuột trong hang động ấy.” Tôi chỉ vào cái kem ốc quế và nói.
“A, mình biết đó là gì rồi.” Han Ji vừa cười vừa nói. “Nhưng này, cậu cũng được mời nên mới đến đây hả?”
“Không. Ban đầu mình chỉ định ở đây một tuần thôi. Thế rồi một tuần thành ra hai tuần, hai tuần thành ba tuần, mình cũng không biết mình định ở đây đến bao giờ nữa. Mình cũng đã bảo lưu việc học ở viện rồi, và cũng chẳng có kế hoạch gì khác. Mình hai mươi bảy tuổi rồi. Mình biết không thể cứ ở đây được.”
“Tại sao?” Han Ji hỏi.
“Vì chạy trốn như vậy là không đúng mà. Mình phải có trách nhiệm với cuộc đời mình chứ.”
“Không sao đâu, Young Joo à.” Han Ji nói. “Cả việc cậu quyết định ở lại đây một cách bột phát, cả việc cậu từ bỏ những việc cần phải làm, cả việc sống ở tu viện. Tất cả đều không sao đâu.”
Trong lúc nói những lời đó, khuôn mặt của Han Ji sáng bừng lên. Đây là vẻ mặt mà tôi cũng chưa từng nhìn thấy bao giờ. Đó không phải khuôn mặt đang cố an ủi tôi, hay khuôn mặt khi nói những lời sáo rỗng mà bất cứ ai cũng có thể nói được. Cũng không phải là khuôn mặt của những người lớn mà ngay cả khi cười cũng phải để ý thái độ của người đối diện. Khuôn mặt của Han Ji chỉ đang thả lỏng một cách thật tự nhiên.
Khi bước vào cái xã hội thu nhỏ mang tên viện cao học, tôi đã được nghe nhiều lời khuyên rằng phải cẩn thận với con người. Những người ở viện cao học bảo “thái độ không đề phòng với con người” của tôi thật là cực kỳ non dại. Đặc biệt với con gái thì việc giữ gìn hình ảnh là rất quan trọng, một lần để xảy ra tin đồn sau lưng thôi là coi như không có tương lai rồi – những chuyện như thế này, tôi nghe như cơm bữa.
Và tôi cũng đã khá là tin tưởng và ngoan ngoãn tuân theo luật lệ đó. Trong các giờ học và các buổi đi thực địa, tôi đều tỏ ra tích cực, tôi tham gia cả các bữa tiệc tổng kết, ở lại trò chuyện cười đùa tới tận khuya, nhưng trên đường về nhà, chẳng có lý do gì mà tự dưng tôi lại khóc.
Trên mặt tôi, giữa hai lông mày hẳn một nét cau có. Trong bức ảnh chụp lúc đang cười, một bên khóe miệng tôi nhếch cao hơn bên còn lại nên toàn thể khuôn mặt tôi trông thiếu cân xứng. Chỉ là cười thôi mà cũng cảm giác như đang nhăn mặt, chứ đừng nói đến chuyện cười có tự nhiên hay không. Kể từ khi ý thức được điều đó, khi nói chuyện với mọi người, tôi thường không sao nhìn thẳng vào mắt họ được.
Nhưng hôm đó, tôi nói chuyện mà không tránh ánh mắt của Han Ji. Và mặc dù vậy, tôi đã không ý thức được điều đó.
Han Ji kể ở Nairobi, cậu ấy làm bác sĩ thú y. Phần lớn công việc là chữa trị cho lũ bò hay dê ở nông trường. Cậu ấy kể chuyện hồi còn học khoa Thú y, cậu ấy đã tham gia một dự án nuôi dưỡng hai con tê giác hoang dã bị mồ côi trong thời gian chín tháng rồi sau đó thả chúng trở lại tự nhiên.
“Tên tụi nó là Howie với Gloria. Mỗi lần bọn mình pha hai lít sữa bột cho tụi nó uống, rồi đào một cái hố trên nền đất, đổ nước vào làm thành một vũng bùn. Chẳng cần được huấn luyện, tụi nó cũng biết cách phải tắm trong vũng bùn như thế nào. Mà tụi nó quấn mình lắm. Đi đâu cũng lẽo đẽo theo sau như cái bóng, nhìn mình rất tình cảm, và còn phát ra những tín hiệu cho thấy hoàn toàn tin tưởng mình. Việc huấn luyện thích nghi đã xong, ngày thả tụi nó về với tự nhiên đang đến gần, mình không sao nhìn thẳng vào mặt tụi nó được. Tụi nó đã tin tưởng và theo mình như thế, mình cảm thấy như phản bội tụi nó vậy. Liệu tụi nó có buồn vì cảm giác bị bỏ rơi không? Mặt khác, mình sợ tụi nó sẽ chết mất. Bởi vì mặc dù đã được huấn luyện thích nghi với đời sống hoang dã, nhưng so với những con lớn lên trong tự nhiên, rõ ràng là tụi nó sẽ kém hơn. Vào ngày cuối cùng của đợt huấn luyện, tụi mình đã mở một bữa tiệc nhỏ để động viên lẫn nhau. Tụi mình bảo nhau rằng thời gian qua tụi mình đã nuôi dạy tụi nó rất tốt. Nói vậy nhưng mà tụi mình vẫn chảy nước mắt.”
Khóe mắt Han Ji đỏ lên.
“Việc chia tay với tụi nó ấy, cảm giác cứ như không phải sự thật, và thấy giống như đang làm một việc xấu xa vậy. Thậm chí tụi mình còn bảo nhau không biết làm thế này có phải việc đúng đắn không nữa. Thế là một giáo viên khác đã nói. Rằng đó chỉ là suy nghĩ của chúng ta thôi, chúng ta không được lấy suy nghĩ của con người để ngăn cản hạnh phúc của tụi nó. Giáo viên đó còn nói, phải phân biệt giữa tình yêu và sự gắn bó quyến luyến, ý nghĩ giữ động vật hoang dã lại bên cạnh chỉ vì bản thân mình ấy, nó đâu phải là tình yêu thật sự. Vào hôm chia tay, bọn mình đưa tụi nó vào lồng, lái xe chở tới một nơi tương đối xa rồi thả đi. Tụi nó đã định quay đi, nhưng rồi cứ nhìn mãi về phía mình. Mình bảo đừng nhìn nữa, mau quay nhìn đằng trước mà đi đi. Vậy mà tụi nó cứ liên tục vừa ngoái lại nhìn vừa bước đi như vậy. Rồi tụi nó từ từ quay lưng lại phía bọn mình và cứ thế tiến vào trong thảo nguyên.
Trong lúc chúng tôi trò chuyện, căng tin đóng cửa, chỉ còn vài người ngồi lại trong bóng tối.
“Mình vẫn còn nghĩ tới Howie và Gloria. Mình là người nên không có cách nào hiểu được tâm trạng của tê giác cả, nhưng mình cố tưởng tượng hết mức về cái thảo nguyên mà tụi nó sẽ cảm nhận. Xem liệu ngoài đó có tốt hơn so với cái khu huấn luyện chật hẹp đó không.”
Han Ji cũng kể về công việc chữa trị cho những con vật bị đau bệnh. Cậu ấy cũng đã cứu sống được những con vật tưởng như chẳng còn một chút hy vọng nào, và cũng có những con vật mà cậu ấy tin là có thể dễ dàng chữa khỏi nhưng tình trạng lại đột nhiên xấu đi rồi chết. Mỗi lần như vậy, cậu ấy lại cảm thấy dằn vặt rằng phải chăng mình đã giết con vật đáng ra có thể cứu sống đó, và cậu ấy học được rằng, dù đúng là có chút như thế thật đi nữa thì cậu ấy cũng đã cố gắng hết sức mình, và sự cố gắng đó không phải lúc nào cũng đảm bảo mang lại kết quả tốt.
“Mình cũng thích động vật lắm, nhưng sợ sẽ đau khổ khi nhìn những con vật đau bệnh nên mình thậm chí còn không dám mơ làm bác sĩ thú y. Mình không đủ tự tin nhìn những con vật đau bệnh cứ chết dần như vậy.” Tôi nói.
“Mình hiểu.” Han Ji nói.
Trên bãi đất trống trước căng tin, chẳng còn lại ai ngoài hai chúng tôi.
Sau đó suốt một thời gian, tôi không nói chuyện riêng với Han Ji được. Ngày ba lần nhìn thấy Han Ji ở nhà nguyện, nhưng chỉ ở mức độ ngồi cách khá xa và gật đầu chào nhau. Han Ji dần thân thiết với những tình nguyện viên nam và lúc nào cũng đi cùng với bọn họ. “Chào Han Ji.” Tôi cứ vừa chào như vậy là những người khác lúc nào cũng bên cạnh Han Ji lại bắt chuyện với tôi.
Tôi lái xe chuyển lều trại hoặc khăn trải giường, dọn dẹp ngôi nhà mà gia đình các tu sĩ ở, còn Han Ji chủ yếu làm việc dưới bếp chính. Trong bếp, cậu ấy làm món khoai tây nghiền, nấu đầy một nồi to đùng nước ca cao hoặc bột trà đen, sau đó dùng xe đẩy thức ăn chuyển đi. Tôi đứng từ xa và nhìn Han Ji đẩy xe thức ăn. Trước giờ cầu nguyện buổi sáng, có thể gặp cậu ấy ở trước nhà kho, biết được điều này, tôi lang thang qua gần chỗ đó coi như là đi dạo.
Cậu ấy làm việc rất chuyên tâm. Chuyển các bao tải, phun nước xuống sàn rồi dùng bàn chải cọ, thu dọn xe đẩy thức ăn. Trông như thể khi làm việc gì, cậu ấy chỉ tập trung vào một công việc đó. Tôi thích nhìn hình ảnh Han Ji đang làm việc, phải đến tận bây giờ, khi đang viết những dòng này, tôi mới nghĩ ra, nhưng hình như khi ấy, Han Ji đã biết tôi hay luẩn quẩn xuất hiện quanh cậu ấy. Tôi giơ tay che nắng, nheo mắt lại cố gắng nhìn mặt của cậu ấy. Dưới ánh mặt trời, nước da đen của cậu ấy tỏa ra ánh xanh kỳ ảo như kim loại.
Một tuần hai lần có giờ học Kinh thánh. Địa điểm là một ngôi nhà nhỏ nằm bên cạnh nhà nguyện chính, ngôi nhà đó nằm trong khu vực chỉ có các tu sĩ mới có thể ra vào được. Trước nhà, hoa thược dược và oải hương nở um tùm.
Việc học Kinh thánh được tiến hành qua phân tích nội tại bản thân cuốn Kinh thánh, và phân tích về tình hình của thời đại mà cuốn sách được viết nên. Thời đại mà những người viết Kinh thánh đã sống sẽ có những quan niệm và nét văn hóa riêng tạo ảnh hưởng lên cách viết của cuốn sách, các tình nguyện viên phải trình bày về những điều này, sau đó đặt câu hỏi với các tu sĩ và đọc cuốn Kinh thánh với tư duy phản biện.
“Điểm thú vị là Kinh thánh không miêu tả cụ thể về cuộc sống sau khi chết. Nhưng điều chắc chắn là linh hồn không chết đi, mà vẫn tồn tại ở một trạng thái khác với bây giờ. Sau khi chết, linh hồn không còn chịu ảnh hưởng của điều kiện hạn chế là thân xác nữa, do đó, cũng không hề quá lời khi nói rằng, những người vẫn sống như chúng ta đây hoàn toàn không biết gì về cuộc sống sau khi chết cả.” Một tu sĩ nói.
“Nhưng Kinh thánh không đề cập đến thiên đường và địa ngục ạ?” Caro hỏi.
“Kinh thánh có đề cập đến thiên đường, nhưng không miêu tả cụ thể. Thành thực mà nói, với chúng ta bây giờ, đó là một nơi không thể nào nhận thức, cũng không thể nào tưởng tượng được.” Vị tu sĩ đáp.
“Em cũng đồng tình về việc nhận thức của con người còn có giới hạn. Nhưng em không rõ lắm về việc không thể nào tưởng tượng được. Trên đời này có thứ con người không thể tưởng tượng ra được sao? Trí tưởng tượng mà cũng có giới hạn ạ?” Caro hỏi lại.
“Không rõ nữa. Nhưng dù cho có tưởng tượng thế nào đi nữa, thiên đường vẫn là trạng thái vượt trên sự tưởng tượng đó. Nơi thiên đường không tồn tại thời gian hay không gian, do đó cũng có thể nói thiên đường là trạng thái của linh hồn.” Vị tu sĩ nói.
Tiếng chuông báo hiệu bắt đầu giờ cầu nguyện buổi tối vang lên, buổi học kết thúc ở đó. Trong giờ cầu nguyện buổi tối, tôi nhận ra mình chưa bao giờ mảy may nghĩ tới kiếp sau. Chỉ là tôi bị choáng ngợp trước khái niệm vĩnh hằng mà thôi. Dù đó là địa ngục hay thiên đường, khái niệm vĩnh hằng đó cũng đã khiến tôi nghẹt thở.
Khái niệm đó nghĩa là không có kết thúc.
Kết thúc giờ cầu nguyện buổi tối, trên đường về ký túc xá, tôi hỏi Caro:
“Cậu nghĩ sao về kết luận rằng thiên đường là trạng thái của linh hồn vượt trên sự tưởng tượng của chúng ta?”
Caro im lặng một chút rồi lên tiếng:
“Mình không biết nữa.”
“Theo cậu, thiên đường là một nơi như thế nào?”
“Không biết nữa, nhưng mình nghĩ đó là một nơi khác với thế giới này. Một trạng thái chỉ có yêu thương và được đón nhận tình yêu thương. Cậu có cười bảo đó suy nghĩ thật ngây thơ thì cũng không sao.” Caro nói.
“Nếu như cuộc sống sau khi chết là vĩnh hằng, vậy thì tại sao lại tồn tại cuộc sống hiện tại chỉ như một chớp mắt so với sự vĩnh hằng này? Thiên đường có phải là phần thưởng bù đắp cho một cuộc sống thế này không?”
“Cuộc sống thế này là sao?” Caro ngơ ngác nhìn tôi.
Tôi không nói nốt với Caro. Rằng tôi vẫn luôn mong rằng, sau khi chết, sự tồn tại là bản thân tôi đây sẽ biến mất. Mà không, thà rằng ngay từ đầu đã không có cái gọi là tôi đây. Bởi như thế còn tốt hơn là phải trải qua cả cuộc đời này rồi sau đó mới được lên thiên đường.
“Young Joo.” Caro gọi tên tôi rồi đưa tay vỗ lưng tôi.
Gần tu viện có mấy ngôi làng lớn nhỏ. Trong số khách thập phương có vài người đến những ngôi làng đó, uống rượu cười nói ầm ĩ, gây ô nhiễm tiếng ồn làm người dân trong làng không thể chịu đựng được. Đặc biệt ban đêm có nhiều vụ gây rối nên một vài tình nguyện viên đã phải đứng ở đầu con đường dẫn tới những ngôi làng đó, ngăn chặn những vị khách thập phương định vào làng chơi đêm. Công việc đó được gọi là “night guard” – gác đêm.
Đó là lần đầu tiên tôi cùng làm một công việc với Han Ji.
Việc gác đêm được phân công cho tổng cộng mười người phụ trách năm khu vực, mỗi khu vực hai người. Làm từ 9 giờ đến 11 giờ, Han Ji và tôi thành một cặp và được giao khu vực A trong thời gian hai tuần. Chỗ đó là đầu con đường dẫn tới ngôi làng lớn nhất gần tu viện. 7 giờ tối mà mặt trời vẫn chưa lặn hẳn, bầu trời trông như một hồ nước hòa trộn sắc cam, sắc hồng lẫn lộn với sắc đen. Trong làn gió nhè nhẹ thổi có mùi hương hoa bồ đề. Hôm đó, Han Ji và tôi ngồi trên ghế băng, nhìn những người đang đi về phía ký túc xá gia đình.
Ký túc xá dành cho khách đi theo nhóm gia đình được đặt bên ngoài tu viện. Những người sống ở đó đạp xe đi về giữa tu viện và ký túc. Họ phải di chuyển về ký túc trước khi mặt trời lặn, nhưng có vài người cầu nguyện đến tận khuya, họ dựa vào ánh đèn đường lờ mờ cách quãng từng đoạn để quay về ký túc.
“Nếu đi về phía kia thì sẽ có gì nhỉ?” Tôi chỉ về phía bóng tối đen như mực và hỏi.
“Nhà cửa, cánh đồng hoa hướng dương, cánh đồng hoa oải hương, nông trại, cửa hàng rượu, quán ăn... Nghe nói đi thêm nữa thì sẽ thấy một con suối nhỏ, và còn có cả hồ nước. Thỉnh thoảng lại có một nhà nguyện nhỏ nữa.” Han Ji nói.
“Mình nghe nói còn có cả những thứ khác nữa đấy.” Tôi nói.
“Thứ gì vậy?”
“Bọn choai choai sex ở trong nông trại.”
Han Ji gật đầu cười và bảo:
“Nữ tu như cậu mà cũng ăn nói như vậy sao?”
Chúng tôi cùng cười.
“Tụi mình cùng đi xem ở đó có gì đi. Khi nào làm việc xong thì tụi mình thử xem sao.” Với vẻ mặt hồn nhiên rất riêng, Han Ji nói.
Tôi im lặng lắc đầu. Tôi bảo không muốn bất chấp nguy hiểm mà đi dạo ban đêm ở nơi xứ lạ chưa biết rõ này.
Sau 9 giờ là không thể đi dạo bên ngoài tu viện được, do vậy, một vài vị khách đã nói dối rằng mình là cặp đôi sống ở ký túc xá gia đình. Chúng tôi nhắm mắt cho qua và cứ để họ đi ra khỏi tu viện.
Ngồi ở chiếc ghế băng đó, Han Ji và tôi nói với nhau khá nhiều chuyện. Mải mê nói chuyện nên phải đến khi mấy vị khách đã đi xa được một lúc lâu, chúng tôi mới nhận ra tình hình. Tôi đã có niềm tin chắc chắn rằng, dù tôi có kể chuyện gì đi nữa thì những chuyện tôi kể cũng sẽ không lan truyền khắp nơi, và hơn hết, Han Ji không đánh giá con người tôi qua chúng. Cả những ký ức đáng xấu hổ, cả những việc mà tôi không thể nào tha thứ cho bản thân, tôi cũng có thể nói ra hết không mấy khó khăn trước mặt Han Ji. Những chuyện không thể kể ra ngay cả trong những dòng tôi đang viết lúc này đây, tôi cũng đã kể với Han Ji, câu chuyện đó chỉ thuộc về một mình cậu ấy mà thôi.
Mặc dù vậy, có những giây phút tôi đã không sao nói nên lời.
Như lúc Han Ji hỏi nơi tôi sống là nơi như thế nào, hay tại sao một nước giàu như thế lại có nhiều người tự sát như vậy. Tôi tự thấy xấu hổ vì mình đã không sao trả lời được câu hỏi đó cho đàng hoàng và nói một cách rõ ràng về thế giới mình đang sống. Thay cho câu trả lời, tôi kể chuyện về cuộc sống của bà tôi, mẹ tôi, của cô hàng xóm bên cạnh. Bởi vì thà như thế còn có vẻ thích hợp làm câu trả lời cho câu hỏi của Han Ji hơn.
Han Ji cũng kể chuyện của mình. Cậu ấy nói trong số ba triệu người đang sống ở Nairobi, có hai triệu rưỡi người sống trong khu nhà ổ chuột, và Han Ji đã lớn lên mà không thể hiểu nổi bố mẹ mình – những người coi sự phi lý cực điểm đó như chẳng hề có vấn đề gì. Nhìn bố mẹ đi nhà thờ và chỉ cầu nguyện cho sự bình yên của riêng gia đình mình, Han Ji nghĩ tới những đứa trẻ đang chết dần trên đường phố chỉ cách nhà thờ đó vài cây số. Mặc dù vậy, Han Ji cũng thừa nhận thực tế rằng mình được ăn học đàng hoàng nhờ vào tiền của bố, được sống một cuộc đời yên ổn nhờ vào tình yêu của người mẹ hết lòng vì gia đình. Cuộc sống mà bản thân cậu ấy được tận hưởng bấy lâu là nhờ vào sự giàu có của bố mẹ, và sự giàu có ấy liệu có phải là kết quả của việc bóc lột ai đó không? Mỗi khi nghĩ vậy, cậu ấy lại nhắm mắt cho qua. Cậu ấy thổ lộ rằng, mặc dù vậy, thứ mà bản thân cậu ấy thực sự tin tưởng và dựa vào, rút cuộc vẫn chỉ là tiền mà thôi.
Những cặp đôi ra khỏi tu viện giờ cũng đã quay trở về hết, không còn nghe thấy tiếng mọi người cười đùa nữa, phải đến khi ấy, chúng tôi mới nhìn đồng hồ. Đã 1 giờ sáng. Vậy mà đến lúc đó chúng tôi mới nhớ ra và bảo nhau không biết đến 11 giờ chưa nhỉ rồi xem giờ.
Hết giờ cầu nguyện buổi tối, Han Ji và tôi đi ra chỗ băng ghế hôm trước.
“Mình có cái này cho cậu xem.”
Từ trong chiếc túi đeo chéo lúc nào cũng mang bên mình, Han Ji lấy ra một quyển album nhỏ bằng lòng bàn tay. Chúng tôi giơ những bức ảnh trong cuốn album đó ra xem dưới ánh đèn đường.
Đầu tiên là bức ảnh chụp khoảng hai người đang đứng rải rác trong nhà bếp. Ở chính giữa bức ảnh, một cô gái mặc chiếc váy màu xanh lá in họa tiết hoa màu vàng đang ôm một đứa bé quấn trong chiếc chăn mỏng màu trắng. Trên đầu cô gái quấn chiếc khăn turban cùng họa tiết với chiếc váy. Han Ji chỉ đứa bé quấn trong chiếc chăn màu trắng và nói:
“Đây là mình. Những người này là gia đình họ hàng thân thiết nhất.”
Gia đình của Han Ji bất kể gái trai, tất cả đều có bờ vai rộng, tay chân to. Mẹ của Han Ji có vóc dáng trông to khỏe ngang với những người đàn ông cường tráng. Được ôm trong lòng người mẹ như vậy, trong mắt tôi, Han Ji trông giống như một con cún con bé nhỏ.
“Nhóc này là ai vậy?”
Tôi hỏi, tay chỉ vào đứa bé trông khoảng tầm ba tuổi đang đứng bám vạt váy của người mẹ và nhìn thẳng vào ống kính camera.
“Anh trai mình đấy.”
“Cậu chỉ có mỗi anh thôi à?”
“Không. Mình có một em gái nữa.”
Han Ji lục tìm trong album và cho tôi xem một bức ảnh. Đó là bức ảnh chụp một đứa bé trông chưa tròn một trăm ngày tuổi đang nằm ngủ trên giường. Han Ji lại lật album cho tôi xem một bức ảnh khác. Là ảnh một đứa bé khoảng chừng năm, sáu tuổi – trông rõ ràng là đứa bé vừa nãy – đang nằm ngủ. Tiếp theo, tôi lại thấy một bức ảnh đứa bé đó đã ở độ tuổi thiếu niên và đang nằm trên giường. Ở độ tuổi đó, mặt và cổ đứa bé đã to hơn, tóc để ngắn. Đứa bé nằm gối đầu trên chiếc gối trải khăn xô, miệng hơi hé ra, trông bình yên như thể đang mơ một giấc mơ đẹp.
“Không có ảnh nào khác ngoài ảnh đang ngủ sao?”
Han Ji cho tôi xem bức ảnh chụp em gái đang nằm cười. Em gái Han Ji đang cười nhăn hết cả mặt.
“Từ khi sinh ra đến giờ Leah chỉ nằm như thế này thôi.”
Han Ji lật giở album cho tôi xem một bức ảnh khác. Trong hình, đứng trước đứa bé đã mập hơn so với bức ảnh vừa nãy, Han Ji cùng với bố và mẹ đang cười.
“Đây là ảnh chụp hôm sinh nhật Leah đấy.”
Han Ji nói vậy và nhìn khuôn mặt đứa bé trong hình một lúc lâu. Khuôn mặt Han Ji tỏa ra ánh sáng ấm áp.
“Thật đẹp. Đúng không?”
Nghe Han Ji nói, tôi gật đầu.
“Ngay từ hồi nhỏ, mỗi khi trong lòng hỗn loạn, mình lại tìm đến Leah. Cả khi anh lén bố mẹ đánh mình, bắt nạt mình, mình cũng đến phòng Leah ngủ và lặng lẽ khóc ở đó. Ngồi im nhìn khuôn mặt Leah đang ngủ trên giường, lòng mình từ từ dịu lại. Mình cũng tưởng tượng nếu như Leah giống như những đứa trẻ khác, mình sẽ chơi những trò gì với Leah. Trí não của Leah đã ngừng phát triển ở tuổi lên hai.”
Tôi nghĩ đến Han Ji hồi nhỏ ngồi nhìn Leah trong căn phòng đó. Cả đời sẽ phải chăm sóc cho một người thân – tôi không biết cuộc sống đó là như thế nào.
Han Ji kể bố mẹ cùng với anh trai, bà, các cô của Han Ji thay phiên nhau trông nom Leah. Vậy nhưng một lúc nào đó, kết cục cũng sẽ đến lượt bản thân cậu ấy phải chăm sóc cho Leah là chính, vì vậy ngay từ khi còn nhỏ, cậu ấy đã biết rằng cuộc sống của mình không phải chỉ là của riêng mình.
“Mình chưa bao giờ nghĩ đến chuyện kết hôn hay sinh con. Mình phải có trách nhiệm với Leah. Mình phải kiếm tiền, phải thuê người đáng tin cậy để chăm sóc cho Leah khi mình không ở nhà.”
Để tránh cho cơ thể Leah bị lở loét do nằm nhiều, người nhà Han Ji cứ hai tiếng một lần xoay người Leah nằm nghiêng sang phía bên kia, khi tắm cho Leah, ít nhất phải có hai người cùng làm. Vốn thường du lịch đó đây mỗi khi có thời gian, kể từ sau khi Leah ra đời, cả những nơi gần, bố mẹ Han Ji cũng không đi được. Han Ji bảo đó là một việc vô cùng đau khổ, nhưng không phải chỉ có mỗi đau khổ. Mọi người trong gia đình, tất cả đều thật lòng yêu thương quý mến Leah.
Leah đã tặng cho gia đình Han Ji món quà là sự im lặng. Một ngày ít nhất hai, ba lần im lặng ngồi nhìn Leah ngủ, quãng thời gian chẳng có gì đặc biệt đó khiến cho tâm trí Han Ji vững vàng mạnh mẽ hơn.
“Cũng có lúc con bé khóc rồi hờn dỗi. Vì nó còn bé mà, cũng có thể như thế chứ. Có những hôm nó khóc liền mấy tiếng không nghỉ. Những lúc như vậy, mình thực sự rất ghét Leah, cảnh tượng lúc đó làm mình rất bực bội, mình muốn làm sao cho Leah im lặng, dù là phải đánh con bé đi nữa. Mình đúng là người xấu nhỉ.”
“Han Ji, cậu là người tốt hơn bất cứ ai.”
“Young Joo... Cậu đơn giản thật đấy.”
Để thay đổi bầu không khí đang trở nên gượng gạo, tôi chuyển đề tài:
“Đây là chuyến đi đầu tiên của cậu hả?”
“Lần đầu tiên đấy. Ngay cả ngoại ô Nairobi mình cũng chẳng mấy khi đến. Hồi đi học, mình đi dã ngoại ở công viên quốc gia Serengeti, tất cả chỉ có thế thôi.”
“Serengeti?”
“Là ngồi xe jeep vừa đi vừa ngắm động vật hoang dã đó.”
“Tuyệt thật.”
“Với mình, vườn quốc gia Serengeti khi đó là tận cùng của thế giới. Thảo nguyên của công viên Serengeti rộng tới mức tưởng như bất tận, hồi học tiểu học, mình đã tưởng là nó thật sự không có điểm dừng. Đi dã ngoại về, mình hào hứng kể với bố mẹ về Serengeti, nhưng như vậy vẫn chưa đã nên mình lại chạy vào phòng của Leah, khoe khoang với con bé về phong cảnh mình đã được nhìn thấy. Kể xong, không hiểu sao mình lại thấy có lỗi với Leah. Vì cả đời Leah không thể nào nhúc nhích nổi một bước, cứ thế nằm đó, chỉ có mỗi mình là được ngắm cảnh đẹp mà thôi.”
Han Ji bảo, ngay cả lúc ra ngoài ăn đồ ngon, lúc hẹn hò với con gái, lúc nhảy ở club hay lúc ca hát... cậu ấy cũng đều nghĩ đến Leah. Những lúc như vậy, cậu ấy lại thấy trong lòng trở nên yếu đuối, và cậu ấy đã trấn an mình bằng ý nghĩ rằng: bản thân nỗi xót xa đó cũng chính là sự ngạo mạn của cậu ấy đối với Leah.
“Leah không phải là cá thể tách rời đối với mình. Lúc này, mình đang ngồi đây nói chuyện với cậu, nhưng một phần cơ thể mình đang nằm ở nhà tại Nairobi. Dù mình có đi đâu, làm gì đi nữa, một phần của mình lúc nào cũng ở lại Nairobi.”
Ngay cả trong lúc nói những lời này, ánh mắt Han Ji vẫn nhìn Leah trong bức ảnh. Ánh sáng ấm áp ngập tràn trên khuôn mặt Han Ji chiếu rọi lên cõi lòng nhợt nhạt của tôi.
Tôi đan những ngón tay mình vào tay Han Ji.
Tôi hôn lên cổ Han Ji.
Dưới bóng cây, trên băng ghế, tôi và Han Ji ngủ bên nhau.
Tôi thấy mình bắt máy bay cùng Han Ji đi Nairobi, gặp gỡ những người thân trong gia đình của Han Ji với vóc dáng to lớn mà tôi đã thấy trong ảnh. Gia đình Han Ji tiếp đãi tôi nồng nhiệt và đón nhận tôi. Tôi cùng Han Ji tới phòng để chào Leah. Han Ji nhìn tôi bằng ánh mắt ấm áp mà cậu ấy vẫn nhìn Leah. Chúng tôi băng bừa qua những con đường không có vạch kẻ đường cho người đi bộ ở Nairobi, bắt xe buýt tới thảo nguyên Serengeti. Ở đó, chúng tôi tình cờ gặp những con tê giác của Han Ji. Tụi nó trông thật khỏe mạnh và hạnh phúc. Chúng tôi cùng tụi tê giác đó ngắm mặt trời lặn trên thảo nguyên.
Tôi có con với Han Ji và ở lại Nairobi – nơi không có mùa đông lạnh lẽo. Ở đó, Han Ji và tôi nói chuyện về tu viện nơi đây. Mặc dù chúng tôi bảo nhau đã quá lâu nên cũng không nhớ cho rõ lắm. Chúng tôi nói, cái thời xưa kia khi chúng tôi chưa có nhau ấy, cái thời đó thật là không trọn vẹn.
Tôi không thể thoát khỏi Nairobi.
Tôi thay tã cho Leah, nâng đầu con bé dậy để cho con bé ăn súp. Đứa con xinh đẹp của tôi ngồi trên sàn và khóc, Han Ji không về nhà. Tôi thấy nhớ thời điểm này, khi tôi lần đầu tiên gặp Han Ji.
Hai tuần đó trôi qua, nhiệm vụ gác đêm của chúng tôi kết thúc. Vậy nhưng như thể đã có hẹn trước, cứ hết giờ cầu nguyện ban đêm là Han Ji và tôi lại gặp nhau tại nơi đầu đường đó. Dù không thể trò chuyện lâu như hồi trước, nhưng chúng tôi cũng nói ngắn gọn với nhau về những gì đã làm trong ngày.
Khi đi tới những nơi không có ánh đèn đường, thật khó để nhận ra Han Ji. Thân hình Han Ji chìm lẫn vào trong bóng tối. Chỉ thấy rõ đôi mắt, nhưng chỉ cần nhìn đôi mắt ấy thôi, tôi cũng có thể nhận ra được Han Ji đang nghĩ gì, đang có tâm trạng như thế nào.
Khuôn mặt Han Ji thỉnh thoảng đanh lại.
Đó không phải là khuôn mặt thả lỏng tự nhiên mà tôi nhìn thấy ban đầu. Dù chỉ trong một khoảnh khắc rất ngắn, nhưng trông Han Ji như người đã chết. Đó là khuôn mặt của người không tồn tại ở đây. Mỗi lúc như vậy, tôi nghĩ cậu ấy đang ở bên Leah ở Nairobi.
Chúng tôi không trò chuyện tíu tít nhiều như trước nữa. Chúng tôi chỉ im lặng cứ thế bước đi, nhanh thì vài giây, lâu thì vài phút, và nhặt những con sên trần bò ra ngoài vệ đường ném trở lại vào bụi cỏ. Trong sự im lặng đó, tôi nhận ra mình đã bị ám ảnh về quãng thời gian qua đến mức nào. Quãng thời gian đó phải là vĩnh cửu. Không được để nó giống như những quãng thời gian khác, cứ thế mặc sức trôi qua và trở thành phế liệu trong quá khứ.
Thỉnh thoảng chúng tôi lại đi dạo bên ngoài tu viện.
Gần cổng chính tu viện có khu nghĩa trang của các vị tu sĩ đã rời bỏ thế giới này. Do hoa được trồng khắp nơi nên khu nghĩa trang trông như một vườn hoa nhỏ. Trên cây thánh giá gỗ hình dạng đơn giản có viết tên, và trên bia mộ có ghi lại năm sinh năm mất. Ở đó cũng có ngôi mộ của vị tu sĩ đã lập nên tu viện này. Ông là con người với tâm hồn yếu đuối, chỉ vì một câu nói “Cảm ơn cậu đã đến chốn cô tịch này” của bà lão mà ông đã chuyển đến sống ở ngôi làng nhỏ chẳng chút liên quan này. Như thể đã hẹn trước, chúng tôi cùng lặng lẽ đứng trước ngôi mộ của ông, im lặng nhìn chiếc thánh giá bằng gỗ.
Nơi ngọn đồi phía dưới khu nghĩa trang, có một gốc bồ đề rất to. Mỗi khi gió thổi, những cành bồ đề dài và mềm mại lại chạm vào mặt chúng tôi đang đi bên dưới tán cây, trong hương hoa bồ đề có lẫn cả mùi cỏ mới cắt ngoài đồng, làm mũi chúng tôi nhột nhột. Dưới đồi có một con ngựa, chúng tôi đặt tên cho con ngựa đó là Peter, giờ ăn, chúng tôi đem táo và bánh quy được phát ra cho nó. Tôi dùng con dao bỏ túi bổ quả táo làm tư, để lên lòng bàn tay chìa ra, Peter đưa cái lưỡi dày liếm lòng bàn tay tôi rồi cuốn lấy miếng táo vào miệng. Dù đứng ở xa, chỉ cần gọi “Peter” là nó lại chậm chậm bước về phía chúng tôi, tiếng bước chân vang lên nặng nề. Peter lại gần, trên đôi mắt đỏ ngầu của nó lúc nhúc cả đàn ruồi đang bu kín.
Đi qua chỗ Peter, về phía nam có một thảo nguyên rộng lớn trải dài. Chúng tôi đi bộ theo con đường vòng bên thảo nguyên, nhìn ngắm đàn dê lông ngắn đang nằm ngủ trưa dưới bóng cây. Từ thảo nguyên, đi về phía đông sẽ thấy có một thánh đường nhỏ được xây bằng đá. Trên mái thánh đường, những con chim màu đen đang xếp cánh đậu thành bầy. Thông thường, chúng tôi sẽ từ điểm đó quay trở về tu viện, nhưng khi thư thả thời gian, chúng tôi cũng sẽ đi tiếp xa hơn. Từ điểm đó đi tới là làng mạc nối tiếp. Phần lớn là những ngôi nhà hai tầng đã lâu đời, nhưng trên các bờ tường đá và ban công, những bông hoa đủ màu đua nở làm tôi thấy thật tươi đẹp và ấm áp.
Đi qua ngôi làng thì có một cây cầu bê tông bắc ngang qua một con suối nhỏ bên dưới. Chúng tôi thích được cởi giày, ngồi yên ngâm chân dưới dòng suối ấy. Nhưng ở đó không phải chỉ có toàn những việc mà chúng tôi thích.
Có những người đứng trên cầu gọi tôi là “Chinese” (Đồ Trung Quốc), và cũng có người quá khích hét lên “Fuck off colored!” (Cút đi, lũ da màu!) rồi làm động tác như dọa ném rượu đang uống dở. Những lúc như vậy, chúng tôi ngồi nhìn trân trân lên phía cầu. Bởi vì chúng tôi chẳng sợ một chút nào. Có người chửi bằng tiếng Pháp, khi tôi hỏi họ chửi thế nghĩa là gì, Han Ji chỉ cười và bảo chẳng có gì đâu.
Ngồi yên lặng ở đó, tôi nghĩ tới những người đã tuôn ra những lời phân biệt chủng tộc như vậy đối với chúng tôi xong rồi chạy trốn. Họ là những người như thế nào nhỉ? Xuống khỏi cầu rồi, họ sẽ đi đâu nhỉ? Chắc là họ sẽ đi chợ, về nhà, hoặc đi ra quán rượu gặp gỡ bạn bè. Những con người đó cũng là người bạn quý, là người thân quan trọng của ai đó, trước khách hàng hay cấp trên, hẳn cũng có lúc họ cảm thấy bị coi thường. Hẳn là họ cũng có những ký ức về việc từng bị phân biệt đối xử vì ngoại hình, tuổi tác, môi trường, hoặc vì thành kiến của ai đó, và hẳn là họ cũng đã bị người họ yêu cự tuyệt.
Họ muốn trả thù đời sao?
Hay là họ đơn giản chỉ muốn công kích ai đó rồi xem phản ứng thế nào? Những con người chỉ có thể thấy an tâm về bản thân theo cách đó, tôi cảm thấy họ thật tội nghiệp. Cảm thấy niềm vui trong việc nhạo báng và kỳ thị người khác – một cuộc sống như vậy sẽ trống rỗng tới mức nào?
Ở đó, thời gian trôi qua thật nhanh, mỗi giây mỗi phút trôi qua, tôi đều thấy tiếc và liên tục nhìn đồng hồ. Như thể còn chưa nói chuyện được mấy câu mà đã ba mươi phút trôi qua và chẳng mấy chốc đã sắp tới giờ quay về. Chúng tôi lấy khăn mang theo lau khô nước ở chân, sau đó thường rảo bước hơi nhanh một chút để quay trở về tu viện. Tôi phải đi gần như chạy để đuổi kịp Han Ji.
Cứ thứ Hai hằng tuần sẽ có một buổi họp mặt tạm biệt các tình nguyện viên rời khỏi tu viện. Buổi họp mặt được diễn ra trong một phòng nghỉ nhỏ chừng hơn mười mét vuông. Trước mặt những tình nguyện viên sắp đi có đặt một cái bàn nhỏ, trên cắm vài cây nến và mọi người sẽ nghe họ chia sẻ cảm tưởng. Những bạn thân thiết với họ sẽ cùng hồi tưởng lại quãng thời gian đã qua, những người biết chơi nhạc cụ hoặc hát hay cũng sẽ tổ chức một buổi biểu diễn nhỏ. Cindya người Mexico biểu diễn kịch một vai, Gustago người Colombo biểu diễn kịch câm. Nếu còn thời gian thì tất cả cùng chơi trò chơi.
Trong căn phòng nhỏ đó, tập trung ba mươi tình nguyện viên mang những quốc tịch khác nhau. Trong số các tình nguyện viên, không một ai có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh. Khi nói tiếng Anh, họ thường thêm vào cái câu “Nhưng mình nói thế cậu có hiểu không đấy?” như một điệp khúc. Những người nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh mà thấy chúng tôi, có lẽ họ sẽ nghĩ chúng tôi đang nói ở trình độ của đứa trẻ mười tuổi cũng nên. Mặc dù vậy, chúng tôi cố gắng bằng mọi cách để hiểu được ý nhau. Bằng thứ tiếng Anh trình độ thấp, hoặc thông qua việc phiên dịch một cách thành thạo thứ tiếng Anh ở trình độ thấp đó. Nhìn các tình nguyện viên bập bẹ nói chuyện bằng tiếng Anh như vậy, tôi không tưởng tượng được hình ảnh của họ khi nói bằng tiếng mẹ đẻ thì sẽ như thế nào.
Không khí của buổi họp mặt đó chỉ thuộc về riêng nó mà thôi.
Chẳng có văn hóa nước nào đóng vai trò chủ đạo trong cuộc họp mặt đó, và cũng không thể làm như thế được. Các tình nguyện viên ngẫu hứng hát hò hoặc chơi guitar, và còn diễn kịch với kịch câm, nhưng không phải ở trình độ xuất sắc lắm. Nói chuyện về các chủ đề chung cũng khá mơ hồ. Ngoại trừ một vài người, chúng tôi hoàn toàn mù tịt về nhau. Tuổi tác bao nhiêu, được học hành thế nào, sống ở đâu, khuynh hướng chính trị ra sao, tại sao lại đến đây... những điều này, chúng tôi không hề biết. Mặc dù vậy, chúng tôi đều cố gắng hiểu từng câu từng chữ mà người kia trọ trẹ thốt ra, và trong khoảng không gian chật hẹp, chúng tôi vẽ hai đường tròn và ngồi đó. Như thể việc vẽ vòng tròn và ngồi đó là toàn bộ lý do của buổi gặp mặt này.
Những bạn trẻ Trung Nam Mỹ hoàn toàn không biết tiếng Anh sẽ tham dự buổi gặp mặt và nghe những bạn Trung Nam Mỹ biết cả tiếng Tây Ban Nha lẫn tiếng Anh phiên dịch lại, những bạn trẻ châu Phi chỉ biết mỗi tiếng Pháp cũng sẽ nghe những bạn biết cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh dịch lại. Cứ ai đó nói một câu là khắp chỗ này chỗ kia trong phòng sẽ tiến hành dịch lại cùng lúc. Khi một câu tiếng Anh rất ngắn được nối tiếp bằng một câu phiên dịch thật dài, ở phía những người không hiểu ngôn ngữ đó, những tiếng cười bật vang lên.
Những bạn trẻ đến từ châu Phi, xét theo một nghĩa nào đó, tất cả đều giống với Han Ji. Hay cười, thân hình chuyển động một cách thoải mái. Dường như họ còn có cả kiểu không bỏ lỡ một dịp nào để cười, dù là rất nhỏ. Nhìn Han Ji cười đùa với những người đó, tôi cảm thấy biết đâu Han Ji lại thấy tôi nhàm chán và phiền toái cũng nên.
Han Ji ngồi trước cửa sổ, phiên dịch sang tiếng Pháp cho mấy bạn người châu Phi. Hẳn là chỉ truyền đạt một thông tin đơn giản, nhưng nét mặt cậu ấy biểu cảm đa dạng, thỉnh thoảng giữa chừng lại cười lớn như thể đang nói chuyện gì thú vị. Những người đang nói chuyện với Han Ji, tất cả đều trông thật vui vẻ. Ngay cả những bạn trẻ thường ngày ít khi cười thì cũng cười rạng rỡ trước Han Ji. Han Ji khi ở giữa những người khác với Han Ji khi chỉ có riêng hai chúng tôi với nhau như thể không phải cùng một người.
Những lúc như vậy, Han Ji lại xa cách với tôi hơn bất cứ lúc nào. Tôi chẳng hiểu gì về Han Ji cả. Tôi không biết gì về thế giới của Han Ji, cái thế giới mà mỗi khi cậu ấy chạm tay vào thì lại ấm áp và rạng rỡ hơn một chút ấy.
Tôi đang nằm đọc tạp chí trên sofa phòng khách ký túc thì Caro tới ngồi bên cạnh. Nước da màu sôcôla lấp lánh, khuôn mặt nhỏ nhắn thật đẹp như thể bà mụ đã hết lòng nặn ra vậy. Đôi mắt to đen sáng long lanh. Caro chăm chú nhìn tôi bằng đôi mắt đó và lên tiếng:
“Hôm qua mình thấy cậu nói chuyện với Han Ji. Lúc xong buổi tập trung chia tay, hai cậu nói chuyện trên con đường dẫn về làng phải không?”
“Đúng vậy.”
“Hình như các cậu nhặt gì dưới đất ném đi. Đấy là cái gì vậy?”
“Là mấy con sên trần.”
Caro bật cười, lông mày cau lại.
“Young Joo. Han Ji là người lập dị. Cậu ấy thật sự đặc biệt đấy.”
Liệu Caro biết rõ về Han Ji tới mức nào nhỉ? Liệu Han Ji có nói chuyện với tất cả những người quen biết cậu ấy như đã nói với tôi từ trước tới nay không? Tôi thấy tò mò.
“Cậu có vẻ rất khác với ấn tượng ban đầu.” Caro nói.
“Ấn tượng ban đầu về mình là thế nào?”
“Mình cứ tưởng cậu là nữ tu đấy. Đã thế lại còn là một nữ tu thật cứng nhắc nữa cơ. Không phải nói đùa đâu.”
Caro vội nói thêm như thể sợ tôi biết đâu sẽ bị tổn thương vì những gì cô ấy nói.
“Chắc là ý kiến chủ quan của mình thôi. Cậu cũng lập dị không kém gì Han Ji. Mình nghe Han Ji kể nhiều về cậu. Cậu ấy bảo ở đây cậu là bạn thân nhất của cậu ấy. Biết Han Ji hơn ba năm rồi, nhưng đây là lần đầu tiên mình thấy Han Ji chơi thân với người khác như thế này đấy.”
“Han Ji ấy à?”
“Đúng thế.”
“Hình như Han Ji hòa đồng với tất cả mọi người mà.”
“Hòa đồng với tất cả nhưng hoàn toàn không thể biết được cậu ấy nghĩ gì. Mình chưa bao giờ thấy Han Ji tỏ ra không thích người khác. Chắc vì không muốn gây tổn thương cho người khác nên cậu ấy như thế. Dù vậy, tất cả mọi người dần dần có ác cảm với cậu ấy. Cậu ấy vô cùng tử tế, nhưng tất cả chỉ có thế. Mà thực ra so với ác cảm thì phải nói “mếch lòng” mới đúng hơn chăng? Thỉnh thoảng lại thấy hình như cậu ấy giao tiếp với động vật còn tốt hơn là với con người.”
Tôi im lặng nhìn khuôn mặt xinh đẹp của Caro khi nói câu ấy. Các đường nét trên khuôn mặt thật hài hòa, cái đầu tròn trịa, làn da lấp lánh chỉ muốn chạm vào. Tôi vừa nhìn Caro vừa nghĩ, một người xinh đẹp như cậu ấy hẳn sẽ không cùng với Han Ji ném lũ sên vào trong bụi cỏ.
“Thực ra mình cũng không hiểu rõ Han Ji. Mình không biết tại sao cậu ấy lại nói là thân với mình nhất. Cậu biết mà, công việc ở đây nhiều đến mức còn chẳng đủ thời gian để nói chuyện với nhau nữa.”
Nếu như tôi thích Han Ji ít hơn một chút thì có lẽ khi ấy, tôi đã có thể nói một cách thành thật như dưới đây rồi.
Thực ra là tụi mình có thời gian đấy, Caro. Han Ji với mình ngày nào cũng nói chuyện. Khi cả hai cùng có thời gian rảnh, tụi mình đi dạo quanh tu viện, buổi tối, bọn mình mua cola ở máy bán hàng tự động bên căng tin và cùng uống với nhau. Chúng mình còn ngồi im lặng dưới tán cây bên cạnh vòi nước khi đã quá nửa đêm. Phải nói thế nào nhỉ? Nếu như có thể nói thế này thì... Han Ji hiểu mình. Và cũng giống như Han Ji đã tưởng tượng ra tâm trạng của tụi tê giác, mình hình dung ra tâm trạng của Han Ji. Đôi khi, mình còn như đang ngồi trên ban công ngôi nhà của Han Ji – nơi mình chưa từng tới bao giờ.
Dù cho Han Ji và mình có thể nói chuyện với nhau một cách gần gũi và thoải mái, mình cũng không thể nói như thế về cậu ấy. Bởi chỉ cần mình nói một câu về Han Ji thôi, dường như tất cả mọi người sẽ nhìn thấu cả tưởng tượng của mình về Han Ji mất. Xét về mặt đó thì mình hơi giống như người điên vậy.
“Nhưng mà này Young Joo, cậu bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?”
Tôi ngập ngừng trước câu hỏi của Caro.
Mỗi khi tình cờ chạm mặt Han Ji, da bụng và da lưng tôi lại râm ran, và tôi nghe thấy cả tiếng máu dồn lên đầu. Tim tôi bắt đầu đập mạnh, và tôi cứ liên tục nói ấp a ấp úng. Mỗi khi nghĩ Han Ji đang nhìn tôi từ xa, tôi lại cảm thấy như có lửa lan từ bắp chân lên đến tận sau gáy.
Mỗi lúc như thế, tôi lại nghĩ tới bảng phân chia niên đại địa chất.
Hồi học lớp 7, khi được tặng một bảng phân chia niên đại địa chất, tôi đã dán nó lên tường và thích thú đọc hết từ đầu đến cuối. Về sau, tôi học thuộc tên các sinh vật đã từng sống theo niên đại và theo thứ tự, khi lên cấp III, tôi đã thuộc lòng được tất cả từ đầu đến cuối. Bởi dù cho bây giờ những thứ rõ ràng đã từng tồn tại đó không còn tồn tại nữa, nhưng tôi luôn cảm thấy trân trọng tên của chúng.
Trái đất nguyên thủy.
Trên trái đất nguyên thủy không hề có sinh vật nào cả. Tôi tưởng tượng ra tấm bảng đen chưa vẽ bất cứ thứ gì trên đó.
Liên đại Thái cổ.
Vi khuẩn, tảo lục lam, vi khuẩn cổ xuất hiện. Những chấm nhỏ viết bằng phấn trắng.
Liên đại Nguyên sinh.
Loài sứa xuất hiện. Những con sứa trong suốt nhìn thấy rõ cả bên trong cơ thể.
Kỷ Cambri.
Sò và san hô, bọ ba thùy.
Kỷ Ordovic.
Những sinh vật được gọi là sao biển và bò cạp biển. Những con conodont [10] đã tuyệt chủng.
Kỷ Silur.
Ốc sên, ngao, trai. Các loại cá không hàm.
Tôi có thể liệt kê tên của những sinh vật đó như thể đang đọc kinh cầu nguyện. Những loài cá có hàm, cá phổi, sên cạn, huệ biển, loài bò sát, thực vật bộ Tuế, chim cổ, thực vật có hoa nguyên thủy. Mỗi khi đọc thuộc lòng những cái tên đó, những mối quan tâm đối với thế giới bên ngoài sẽ biến mất, những suy nghĩ và cảm nhận trong tôi nhạt nhòa đi, và dường như sự tồn tại mang tên tôi cũng trở nên mờ mịt đi đôi chút.
Dù là ở đâu, dù vào lúc nào, điều đó không quan trọng.
Khi buồn, khi bất an, khi giận dữ, khi ai đó túm lấy tâm trí tôi mà lắc, tôi lại khẩn thiết gọi những cái tên ấy, và ở mức độ nào đó, những cái tên ấy giúp tôi thoát ra khỏi nỗi đau khổ của thực tại. Khi tôi bắt đầu bằng “Trái đất nguyên thủy” và lầm bầm tới đoạn “Các loại động vật có móng guốc”, dường như không phải tôi gọi tên những sinh vật đó, mà là bọn chúng đang gọi tên tôi. Khi ấy, tôi không còn một mình nữa.
Liệu Han Ji có biết không nhỉ? Rằng khi ở bên cạnh cậu ấy, tôi đã lặng lẽ gọi tên những sinh vật đã tuyệt chủng ấy. Rằng bằng cách đó, tôi đã cố kìm nén cảm xúc của mình đối với Han Ji. Rằng điều tôi từng sợ hơn tất thảy là biết đâu cậu ấy lại đọc được suy nghĩ của tôi. Rằng tôi đã từng nghĩ rằng nếu như Han Ji biết được tình cảm của tôi, dù chỉ là mơ hồ, có lẽ cậu ấy sẽ chạy trốn.
Tôi – người mà dù ở đâu cũng có cảm giác mình giống như vô hình. Han Ji – người mà dù ở giữa đám đông cũng thật nổi bật.
Tôi – người không tự tin và nói gì cũng ngập ngừng. Han Ji – người luôn nói thật tự nhiên dù là với ai đi nữa.
Tôi – người không sao cười được cho ra hồn nên thường che miệng. Han Ji – người luôn biểu cảm thật rõ ràng.
Có lẽ chẳng phải do Han Ji thích tôi, mà chỉ là vì cậu ấy thấy tôi là người cần phải được quan tâm chăm sóc bởi tôi không hòa nhập được với những người khác – khi ấy, tôi đã nghĩ như vậy.
Chúng tôi không phải là những người có quan hệ ngang bằng. Vì vậy nên mối nhân duyên không thể thành được, và tôi là người còn nhiều thiếu sót nên cũng không thể làm bạn với nhau được. Dù không ai nói như vậy, và chắc hẳn cũng không có ai đánh giá như thế, nhưng tự bản thân tôi vẫn biết điều đó. Mỗi khi nghĩ như vậy, tôi lại nhớ tới người bạn trai cũ vẫn thường nói tôi đã “chịu hẹn hò” với anh ấy. Có lẽ việc tôi tự buộc mình với anh ấy trong suốt khoảng thời gian hơn ba năm như thế cũng là bởi vì điểm tương đồng giữa hai chúng tôi – đó là tin rằng bản thân mình là một người vô giá trị. Chẳng qua chỉ là mặc cảm tự ti ở anh ấy lớn hơn mặc cảm ở tôi, nên tôi mới coi thường anh ấy và bấy lâu nay tránh được sự coi thường đối với bản thân mình.
“Cậu nghĩ gì thế?” Han Ji hỏi.
“Mình đang nghĩ một tháng rưỡi nữa, cậu sẽ quay trở về Nairobi.”
Han Ji im lặng.
“Nếu quay trở lại cuộc sống trước đây thì quãng thời gian ở nơi này, liệu chúng mình sẽ nhớ được bao nhiêu nhỉ?” Tôi hỏi.
“Chắc là hầu như sẽ quên hết thôi.” Han Ji đáp.
“Mình không muốn như vậy đâu.”
“Gì cơ?”
“Quên hết ấy.”
Tôi lấy quyển sổ ghi chép trong túi và mở ra cho Han Ji xem.
“Nhật ký của mình đấy. Từ hồi mới đến đây, ngày nào mình cũng viết. Cậu đọc cũng không sao.”
Han Ji lật từng trang từng trang cuốn sổ của tôi và cười thành tiếng.
“Chữ gì mà giống vẽ tranh quá. Nhìn cái này này.” Han Ji chỉ chữ “옷” (quần áo) tôi viết và nói. “Trông giống như hình người đang nhảy múa còn gì.”
Han Ji sờ lên những nét chữ đó như thể thần kỳ lắm.
“A, cái này mình cũng đọc được này. Ngày 23 tháng 6. Ngày mình tới đây. Hôm đó trời thì nóng, lại lái xe đường xa nên khi tới sân bay Lyon thì thật là mệt. Cái cậu con trai tên Han Ji hay gì gì đó từ Nairobi đến lại cứ luôn miệng nói tiếng Pháp ầm ĩ, thật chỉ muốn nện cho một trận. Ở nhà nguyện, mình đang ngủ gật thì lại đi bắt chuyện với mình là sao? Đi xa nhà những ba tháng mà lại không mang theo bàn chải là thế nào? Chỉ tại chuyện đó mà mình phải đi cùng cậu ta ra tận căng tin.”
Han Ji vừa rê ngón tay trên hàng chữ vừa bịa chuyện, như thể biết đọc tiếng Hàn thật vậy, cả hai chúng tôi cùng cười.
“Trong đây cũng viết cả về mình nữa phải không?” Han Ji hỏi.
Kể từ sau ngày 23 tháng 6, ngày nào cậu cũng xuất hiện trong cuốn sổ này.
“Hầu như chẳng viết về cậu mấy đâu.” Tôi nói đùa.
“Mình tưởng cậu là bạn mình đấy.” Han Ji cười.
Tôi đưa tay chỉ vào từ “Han Ji” trong câu “Han Ji đang làm việc dưới bếp lớn.”
“Đây là tên của cậu đấy.”
Han Ji im lặng nhìn mấy chữ đó. Tôi viết lại vào sổ hai từ “Han Ji” thật to cho cậu ấy xem.
“Đẹp thật đấy.” Han Ji nói. “Vậy tên cậu trông như thế nào?”
Tôi viết vào bên cạnh từ “Han Ji” hai từ “Young Joo.” Hai từ “Han Ji” và “Young Joo” trông thật tình cảm.
“Chắc cậu sẽ không thể quên được quãng thời gian ở đây đâu.” Han Ji nhìn cuốn sổ của tôi và nói. “Mình thấy viết khó lắm. Làm sao mà ngày nào cũng viết được như thế? Sau này, nếu như gặp lại, cậu phải kể cho mình nghe về quãng thời gian bây giờ đấy nhé. Tại mình hay quên lắm.”
“Nhất định mình sẽ kể lại cho cậu nghe.”
Dù biết khó lòng mà gặp lại được, chúng tôi vẫn luôn giả định rằng sẽ gặp lại theo kiểu như vậy. Như thể chúng tôi sống cạnh nhà nhau, chỉ cần bấm chuông cửa là bất cứ lúc nào cũng có thể gặp mặt, như thể chúng tôi sống cách nhau một khoảng mà chỉ cần bảo sang ăn tối là có thể loẹt quẹt dép lê sang chơi... chúng tôi luôn giả định sẽ gặp lại và cố gắng tránh né sự thật rằng, cả hai sẽ sống tiếp cả cuộc đời còn lại của mình chẳng liên quan gì đến nhau.
“Young Joo. Mình biết. Tụi mình sẽ gặp lại nhau.” Han Ji nói.
“Đúng vậy.”
Tôi nhìn hai cái tên “Han Ji” và “Young Joo” viết bên cạnh nhau trên trang sổ của mình.
“Han Ji” và “Young Joo” giờ đây vẫn nằm trên trang sổ của tôi.
Đọc lại những ghi chép hồi đó, có thể cảm nhận được những câu chuyện và tiếng cười, phong cảnh ban đêm và cả hương hoa bồ đề lẫn trong không khí... mà chúng tôi đã cùng chia sẻ. Tôi tưởng tượng ra tất cả mọi thứ, khuôn mặt Han Ji cười với tôi, đôi dép lê đế mỏng mà Han Ji mua ở căng tin, lon cola mà chúng tôi cùng uống, và chiếc ghế băng một chân lung lay nên cứ liên tục ngả về phía sau. Vậy nhưng tất cả những chuyện này đều đã phôi pha như thể chưa từng xảy ra. Dù tôi vẫn nhớ cụ thể từng chi tiết về quãng thời gian ở bên Han Ji, nhưng cảm giác đã dần dần mờ nhạt.
Đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao khi ấy, Han Ji lại quay lưng với tôi.
Tôi không thể nào hiểu nổi sự tuyệt giao ấy.
Cần phải buông bỏ những chuyện mà dù thời gian có trôi qua vẫn không thể nào hiểu nổi – mặc dù đã nghĩ như vậy, nhưng ngay cả những hồi ức nhỏ bé, tôi cũng không thể nào quên hẳn được.
Ban đầu, tôi đã nghĩ là Han Ji không nhìn thấy tôi. Bởi không có lý nào tôi cười chào mà Han Ji lại làm như không quen tôi cả. Vậy nhưng hôm ấy, mấy lần liền Han Ji cứ thế đi ngang qua tôi, và cũng không xuất hiện tại băng ghế mà ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau ở đó. Tôi nghĩ có lẽ Han Ji bị ốm nên như thế cũng nên. Cho đến khi trên đường từ băng ghế đó quay trở về tu viện, tôi thấy Han Ji đang cười nói với mấy người bạn châu Phi khác. Tôi lại giơ tay chào, Han Ji đã quay mặt đi.
Hôm đó là ngày 12 tháng 9, hai tuần trước khi Han Ji về Nairobi.
Tôi viết trong sổ “Han Ji đã quay mặt đi”.
Ngay trước hôm Han Ji quay đi đó, chúng tôi vẫn còn gặp nhau và nói chuyện ở chỗ băng ghế. Chúng tôi không cãi nhau, cũng không có việc gì đáng để gọi là làm nhau tổn thương cả. Như thường lệ, chúng tôi chỉ nói về những việc đã làm trong ngày. Tôi nhớ hai đứa đã nói chuyện về việc dọn dẹp ký túc vì hôm đó là ngày mà những vị khách ở trong một tuần đã rời đi. Chúng tôi bảo thật đúng là vất vả khi phải lột những tấm ga trải đệm, gom lại rồi bê sang phòng giặt. Han Ji nói bây giờ tu viện không còn nhiều khách như hồi mới tới nên cảm giác hơi vắng vẻ. Tất cả chỉ có thế.
Có lẽ cậu ấy đã bị tổn thương vì một chuyện gì đó mà tôi không nhớ chăng? Có lẽ tôi đã đùa quá trớn chăng? Vậy nhưng tôi luôn cẩn thận ngay cả trong những chi tiết rất nhỏ bởi không muốn gây ra tổn thương cho người mình yêu quý. Tôi không phải đứa trẻ con thích gì nói nấy mà chẳng hề biết mình đang nói gì. Mà dù cho có bị tổn thương hay khó chịu vì tôi đến đâu đi nữa, chuyện đó chẳng lẽ không thể giải quyết bằng cách nói chuyện thẳng với nhau được sao? Tôi đã phạm phải lỗi gì nghiêm trọng tới mức không thể nào nhìn thẳng vào mặt nhau mà nói chuyện? Hay là có ai đó đã nói chuyện gì không tốt về tôi, hoặc chen vào chia rẽ chúng tôi? Giả sử có ai đó nói những lời vu oan cho cậu, mình sẽ không tin những lời đó, và ít nhất mình cũng sẽ đi hỏi lại cậu cho rõ, Han Ji ạ.
Hôm đó cũng vậy, Han Ji nói “Mai gặp nhé”. Trong bóng tối, với ánh nhìn tình cảm đó, cậu đã nói với mình như vậy đấy, Han Ji.
Không phải là tôi không có điều thấy băn khoăn trong lòng. Thỉnh thoảng, Han Ji lại bảo tôi là người “đơn giản”. Dù cậu ấy luôn vừa cười vừa nói vậy, nhưng không hiểu sao nhiều lần tôi cảm thấy trong lời nói như có hàm ý gì đó. Có lần Han Ji nói “Cậu thật là đơn giản” và nói thêm một câu như thanh minh “Đơn giản là tốt mà.” Tôi vẫn không hiểu sự đơn giản ở tôi mà Han Ji nói rút cuộc là gì.
“Trí nhớ tốt là một dạng tài năng. Cháu đang có tài năng ấy đấy.”
Bà tôi đã nói với tôi như vậy hồi tôi còn nhỏ.
“Nhưng như vậy cũng khổ lắm. Vậy nên cháu tự mình giảm bớt một chút đi. Nếu là ký ức hạnh phúc thì càng phải cẩn thận hơn nữa. Những ký ức hạnh phúc trông thì lấp lánh như châu báu, nhưng thực ra lại giống như than củi đang cháy vậy. Hai tay nâng niu thì chỉ có mình cháu bị bỏng thôi, vậy nên phải rũ bỏ đi. Cháu à, đó chẳng phải thứ gì tốt đẹp đâu.”
Vậy nhưng tôi vẫn nhớ.
Bà tôi là một phật tử, bà bảo con người ta vì vẫn còn ký ức về kiếp này nên mới có vòng luân hồi. Nếu trong lòng vẫn còn gắn chặt với ký ức thì không có cách nào gỡ bỏ, phải đầu thai lại tới mấy lần. Vì vậy, dù người thân yêu có chết hay chia lìa thì cũng đừng quá đau lòng, chỉ tiếc thương có mức độ, đừng để mắc kẹt trong nỗi buồn đó. Nếu không như thế, con người ta sẽ liên tục phải đầu thai lại và sinh ra trên cõi đời này. Nghe câu cuối mà tôi thấy sợ.
Thời gian trôi qua, mọi người sẽ rời bỏ ta, và chúng ta sẽ lại chỉ có một mình.
Nếu như không chấp nhận sự thật đó, những hồi ức sẽ xói mòn hiện tại và khiến lòng người mệt mỏi, làm cho chúng ta già nua và sinh bệnh.
Bà tôi đã nói như thế.
Lúc nào tôi cũng nhớ những lời đó.
Nói thẳng ra thì Han Ji đã bắt đầu đối xử với tôi như kẻ vô hình.
Không chỉ làm ngơ khi tôi chào, giờ đây khi tình cờ chạm mặt trên đường, cậu ấy thậm chí còn chuyển hướng sang đi đường khác. Trong ánh mắt của cậu ấy không thấy mảy may một chút tức giận nào. Chỉ thấy sự xa xăm, mơ hồ và mỏi mệt. Tôi thậm chí không thể nào đuổi theo hay gọi tên cậu ấy được. Tôi không đủ tự tin làm thế.
Tôi đứng nhìn Han Ji đang dọn rác ở đằng xa. Tay phải cậu ấy đeo găng lên đến tận khuỷu tay, tay trái đang cầm cái kẹp rác. Cậu ấy nhặt từ trong thùng rác ra những chai nhựa hoặc chai thủy tinh, hộp giấy và bỏ vào trong chiếc túi lưới, cứ thế lặp đi lặp lại. Mồ hôi nhỏ giọt dưới cằm, viền cổ, nách áo và lưng chiếc áo phông xanh đậm đã ướt đầm. Han Ji miệng hơi hé mở, lưng cúi xuống, im lặng tập trung vào công việc đó.
Tôi đã nghĩ rằng một lúc nào đó, tôi sẽ mất Han Ji, nhưng tôi không nghĩ lại là lúc này.
Khi Han Ji cười với tôi, khi cậu ấy vì tôi mà dành thời gian cùng tôi đi dạo, khi cậu ấy nói cậu ấy nghĩ tôi là bạn thân nhất, tôi chỉ thấy tất cả những điều đó thật vượt quá mong đợi mà thôi. Vậy nhưng chấm dứt tất cả những điều đó mà không hề có một lời giải thích nào như vậy cũng thật là quá đáng.
Tôi tiến lại chỗ Han Ji đang dọn rác. Tôi thấy chóng mặt.
“Han Ji.”
Han Ji lẳng lặng nhìn tôi. Khuôn mặt nghiêm lại, chẳng hề có lấy một nụ cười. Giây phút nhìn thấy khuôn mặt đó, tôi quên luôn mất mình định nói chuyện gì và không sao nói nên lời. Ánh mắt Han Ji dừng lại một thoáng trên mặt tôi rồi lại nhìn đi chỗ khác.
Chiếc túi lưới một tay Han Ji đang cầm đã đầy những chai nhựa. Nhìn thoáng qua cũng thấy mấy con ruồi đang đậu trên mấy chiếc vỏ chai cola trông nhớp nháp, và từ đâu vẳng tới tiếng cười giòn giã của mấy tình nguyện viên. Trong lúc tôi còn đang ngập ngừng, Han Ji đã một tay túm lấy miệng chiếc túi lưới và bỏ đi. Han Ji bước đi cứng đơ như một hình nhân bằng gỗ.
Tôi đứng im trước thùng rác, nhìn đăm đăm vào chỗ mà Han Ji vừa đứng. Han Ji không nói gì với tôi, nhưng tôi hiểu. Dù lý do Han Ji tránh tôi là gì đi nữa thì đó cũng không phải là điều quan trọng. Bây giờ Han Ji đang tránh tôi, nếu như tôi không chấp nhận điều đó thì chuyện này sẽ thành ra làm khổ Han Ji.
Tôi không muốn làm khổ cậu ấy.
Dù tôi có xin lỗi thế nào đi nữa, dù tôi có vặn hỏi tại sao lại như vậy đi nữa thì tất cả những điều đó đều là không đúng.
Mọi người rồi sẽ bỏ ta đi. Bà tôi đã nói như thế.
Chỉ cần chấp nhận sự thật đó như nó vốn có là được.
Tôi thì thầm với mình như vậy.
Đôi khi tôi nằm mơ. Tôi mơ thấy mình đi dạo vào ban đêm.
Giống như trái đất nguyên thủy, khắp nơi không có một sinh vật nào. Cả bọn sên trần, cả cây bồ đề, cả ruồi, cả con ngựa Peter mà lũ ruồi bu vào, cả lũ dê nằm ngủ trưa, cả tụi tê giác của Han Ji, cả người thanh niên, cả bà lão, cả học viên cao học, cả tu sĩ, cả những người phân biệt chủng tộc, và cả rác thải của những người đó thải ra... tất cả đều không có.
Trong bóng tối trống rỗng đó, tôi nghĩ “Hóa ra một thời trái đất đã từng là một nơi lạnh lẽo như thế này đây”.
Hóa ra trái đất chỉ đang nâng lên và hạ xuống, cần mẫn tạo thành những lớp trầm tích.
Thật cần mẫn, và cũng thật cô đơn.
Khắp nơi chỉ một màu xám, và từ xa phát ra tiếng núi lửa ầm ầm. Tôi bước về phía đó. Đi một lúc thì thấy hiện ra nhà nguyện nhỏ gần tu viện, rồi khu ký túc xá gia đình, tiếp đó là ngôi làng mà tôi đã cùng Han Ji đi qua. Tôi thấy Han Ji và tôi đang ngồi ngâm chân bên bờ suối. Cả thế giới chỉ còn hai chúng tôi. Tôi phải mau mau xuống cầu và đi tới chỗ hai người đó, nhưng tôi không sao tìm được con đường nào có thể đi được phía dưới cầu. Dù có vùng vẫy thế nào đi nữa, tôi cũng không thể đi xuống phía dưới cây cầu.
Đột nhiên cảnh vật thay đổi.
Tôi và Han Ji đang ngồi trên chiếc ghế băng bên cạnh khu vòi nước. Trong bóng tối, chúng tôi cứ thế ngồi im.
Han Ji nói thế này:
“Chúng ta sẽ gặp lại nhau. Gặp lại nhau rồi, cậu phải kể cho mình nghe về những ký ức mình đã mất. Bởi vì mình sẽ quên hết đấy. Cả cậu. Cả quãng thời gian này.”
Han Ji vừa nói những lời đó vừa cười buồn bã.
Tôi muốn trả lời nhưng không sao mở miệng ra được. Tôi gắng hết sức nhìn về phía Han Ji thì thấy, thay vì Han Ji, ở đó lại là một cái túi lưới khổng lồ đang để mở. Chiếc túi lưới đựng đầy những chai nhựa mà Han Ji đã nhặt bỏ vào.
Tôi không muốn thể hiện nỗi đau khổ của mình với người khác.
Tôi chỉ làm phần việc của mình, ngày ăn ba bữa và tham gia cầu nguyện. Thời gian trước đây vẫn đi dạo cùng Han Ji thì nay tôi đọc sách ở phòng khách ký túc xá, hoặc uống ca cao và trò chuyện cùng với các tình nguyện viên khác. Buổi tối, tôi chơi đánh bài hoặc cùng mấy bạn người Nam Mỹ làm vòng tay bằng len và chơi đánh bóng bàn giả bộ trên cái bàn ăn trong phòng khách. Tôi cười đến chảy cả nước mắt. Khoảng 12 giờ tôi về phòng thì các bạn cùng phòng đã ngủ hết. Tôi chui vào trong chăn, lặng lẽ khóc rồi ngủ thiếp đi.
Caro đến tìm tôi vào một trong những đêm như thế. Cô ấy mở cửa phòng và khe khẽ gọi tên tôi.
“Young Joo.”
Tôi trùm chăn kín đầu giả bộ ngủ.
“Dậy đi, Young Joo. Một lát thôi.”
Tôi chùi khuôn mặt đẫm nước mắt vào gối và ngồi dậy. Chúng tôi đi ra trước cửa sổ, ngồi ghé lên mấy cái thùng các tông để trên mặt đất.
“Xin lỗi đã đánh thức cậu dậy. Vậy nhưng nếu không làm thế này thì có lẽ mình sẽ không thể nói chuyện với cậu được. Ngoài thời gian làm việc ra, lúc nào cậu cũng ở trong phòng khách cùng với mọi người mà.”
“Đúng vậy.”
“Mình cảm thấy cậu tránh nói chuyện riêng với mình.”
“Mình chưa bao giờ tránh cả.”
“Nếu vậy thì mình xin lỗi. Chắc cậu cũng biết mình định nói gì với cậu phải không?”
“...”
“Chuyện về Han Ji ấy. Có chuyện gì với Han Ji phải không?” Giọng Caro khẽ run lên.
Tôi nhìn khuôn mặt xinh đẹp của Caro. Cậu chẳng biết gì cả, Caro ạ. Đột nhiên tôi nổi giận với Caro – người chẳng có lỗi gì.
“Chuyện đó sao cậu lại hỏi mình?”
“Chỉ là mình thắc mắc thôi. Tại sao hai cậu vốn suốt ngày dính lấy nhau mà giờ lại thành ra thậm chí không buồn chào nhau. Trước mặt bọn cậu thì mọi người không nói gì, nhưng thực ra họ bàn tán nhiều lắm. Trông Han Ji có vẻ mệt mỏi. Nghe nói buổi gặp mặt tình nguyện viên châu Phi hôm thứ Ba vừa rồi cậu ấy cũng không tham gia, ở ký túc cũng không chơi với mọi người.”
“Vậy thì sao?”
“Mình không biết tại sao cậu lại đối xử với Han Ji như vậy. Han Ji là người tốt.”
Tôi không còn biết phải nói gì nữa.
“Mình không biết là cậu đã nghe Han Ji nói những gì đấy.” Tôi nói.
“Han Ji không hề nói gì cả.”
“Vậy tại sao cậu lại tự ý suy đoán mọi việc rồi kết luận mỗi mình là có lỗi chứ, rồi lại còn đánh thức mình dậy vào giờ này mà vặn vẹo?”
Tôi cảm thấy mình đang nói nặng lời. Caro chỉ đang hỏi vì lo lắng cho Han Ji thôi, còn tôi thì lại đang phản ứng một cách đầy kích động. Một cái tôi khác đã tách khỏi chính tôi và thờ ơ nhìn bản thân tôi đang nói một cách đầy kích động như vậy.
“Thì cậu vẫn cười nói vui vẻ đấy thôi. Còn đánh bài và chơi bóng bàn với những người khác nữa. Trong khi Han Ji thì đang đau khổ như vậy.”
Caro nói một cách thận trọng, nhưng trong câu nói ấy, tôi nghe thấy giọng Caro đang buộc tội tôi.
“Đúng thế. Đúng vậy đấy. Nhưng chuyện đó thì liên quan gì đến cậu chứ?”
Tôi nói một cách thẳng thắn bằng thứ tiếng Anh ngắn gọn. Những câu nói sắc nhọn và trẻ con như thể từ một đứa bé thốt ra. Sao Han Ji lại làm như không quen tôi, vì chuyện đó đã khiến tôi đau khổ đến thế nào, vậy nhưng tôi lại không thể đi hỏi thẳng Han Ji tại sao lại làm như thế với tôi... tôi định giải thích về những chuyện đó nhưng không sao nói được. Những từ tiếng Anh cứ trôi nổi trong đầu tôi, không sao sắp xếp được theo trật tự và cứ rối tinh lên không thể thốt thành lời. Caro. Mình không định nói thế đâu. Cho mình một chút thời gian thôi. Thời gian để mình suy nghĩ chọn lựa từ ngữ thích hợp rồi dựng thành câu nữa.
Caro tròn mắt nhìn tôi. Có thể những lời thẳng thắn mà tôi nói đã làm Caro tổn thương. Cảm xúc ẩn chứa trong ánh mắt kia là nỗi thất vọng. Ánh mắt như muốn nói, hóa ra cậu chỉ là con người như thế này thôi sao.
“Mình nói vậy là vì lo cho quan hệ của hai cậu. Hồi trước mình cũng đã nói với cậu rồi đấy. Han Ji chưa bao giờ thân thiết với ai như với cậu. Young Joo, Han Ji là người tốt. Thấy cậu ấy cuối cùng cũng gặp được người có thể gần gũi như cậu, mình đã rất mừng. Bởi vì cậu ấy vốn giống như có bức tường vô hình bao quanh vậy. Mình cứ tưởng đến đây cậu ấy cuối cùng cũng đã phá bỏ được bức tường đó, nhưng xem ra có vẻ như cậu ấy đã bị tổn thương rồi.”
Tôi im lặng một lúc rồi nói:
“Han Ji tránh mặt mình. Thậm chí mình không sao bắt chuyện được với cậu ấy.”
“Hai cậu cãi nhau à?”
“Không. Ngay trước hôm tránh mặt mình, tụi mình vẫn nói chuyện với nhau.”
“Thật ấy hả?”
“Ừ.”
“Young Joo. Mình không thể hiểu nổi cậu. Vậy thì cậu cứ đến gặp Han Ji mà hỏi cho ra lẽ chứ. Xem tại sao lại tránh mặt cậu. Phải nói chuyện để làm rõ mọi việc. Chứ cứ như cậu bây giờ, cứ làm như không có chuyện gì xảy ra như thế thì sẽ không ổn đâu, cả với cậu, cả với Han Ji. Trong lòng vẫn chưa giải tỏa được mà cứ để mặc đấy rồi ngồi cười ở đây, cậu làm thế là đang lừa dối chính mình đấy.”
“Giờ mình đi ngủ đây. Ngày mai phải làm việc sớm.”
Tôi nói như thể không nghe thấy lời cô ấy. Caro. Mình không muốn làm khổ Han Ji.
Tuần đó, tôi làm việc ở bên bếp ăn kiêng. Trong số khách đến tu viện, có những người không tiêu hóa được đường sữa lactose hay gluten, hoặc bị dị ứng với các thực phẩm như đậu, các loại hạt khô, thịt, tôm, cà chua... Bếp ăn kiêng là bếp nấu những món riêng cho những người như vậy. Trong bếp, chúng tôi luộc khoai tây, cà rốt, trứng, nấu cơm, hấp món couscous [11] và rửa rau diếp làm món salad. Trong số khách ăn kiêng cũng có người ăn được pho mát nên chúng tôi cũng bỏ sẵn pho mát vào giỏ.
Hôm đó, pho mát hết, người phụ trách bếp ăn kiêng bảo tôi sang bếp chính. Tôi biết Han Ji làm việc ở khu nấu nướng bên đó, nhưng bếp chính khá rộng, kho đông lạnh lại nằm đằng sau khu nấu nướng nên tôi nghĩ chỉ ghé vào một chút thì Han Ji cũng không thể thấy tôi được. Vừa bật đèn kho lạnh và bước vào bên trong, tôi đã thấy Han Ji đang bê một thùng táo đứng đó.
Tôi nhìn mặt cậu ấy một thoáng, rồi im lặng tránh đường. Vậy nhưng Han Ji vẫn bê thùng táo đứng yên tại chỗ nhìn tôi. Tôi nhặt pho mát kem được gói riêng từng miếng bỏ vào trong giỏ. Sau khi nhặt xong, quay lại thì thấy Han Ji vẫn đứng nguyên ở đó. Ngọn đèn tròn treo trên trần kho lạnh nhấp nháy. Han Ji nhìn tôi như có lời muốn nói, nhưng rồi lại không nói gì cả.
Cậu ấy không tránh tôi nên tôi cũng thấy yên tâm và có đủ dũng khí để bắt chuyện.
Tôi nhìn xuống mấy quả táo trong thùng táo Han Ji đang bê và nói.
“Cảm ơn cậu đã không tránh mặt mình. Chỉ một lát thôi. Ở trong đây lạnh quá, tụi mình cũng đâu thể ở lâu được mà. Vậy nên xin hãy nghe mình. Đừng bỏ đi như thể không có mình ở đây.”
Nói xong câu này, tôi nhìn Han Ji.
Han Ji đang khóc.
“Mình sẽ không hỏi vì sao cậu lại như thế này. Nếu biết, có thể trong lòng mình sẽ nhẹ nhõm hơn, nhưng như vậy thì ích gì chứ? Nếu như mình làm gì có lỗi với cậu thì tha thứ hay không tha thứ đều tùy ở cậu. Còn nếu như không phải lỗi ở mình, cậu như thế này là vì lý do riêng của cậu, thì dù đó là lý do gì đi nữa, mình cũng có thể thông cảm cho cậu. Vậy nhưng nếu như vì nghe ai đó nói gì mà cậu hiểu lầm mình, không thấy được tình cảm của mình thì chuyện đó quả thực là đáng tiếc đấy.”
Tôi vừa nói vừa run lên bần bật vì lạnh và vì sợ.
“Dù cậu có làm gì không phải với mình đi nữa thì mình cũng không bận tâm. Mình chẳng thể nào ghét cậu được. Dù theo kiểu này đi nữa cũng chẳng sao, mình vẫn muốn ở bên cậu. Nghĩ đến chuyện một tuần nữa sẽ không được thấy cậu ở đây nữa, đang bước đi mà mình cũng rơi nước mắt. Giờ đây chắc mình không thể nói với cậu như thế này nữa rồi. Han Ji, làm ơn đừng biến mất khỏi cuộc đời mình như thế này.”
Tôi nén khóc và cố gắng gượng nói một cách bình tĩnh hết mức có thể.
“Han Ji. Mình sẽ không làm phiền cậu nữa. Cậu về Nairobi vui vẻ nhé. Những chuyện vừa qua, cậu hãy quên đi, chỉ giữ lại những kỷ niệm đẹp thôi, còn thì hãy quên hết đi. Mà không, cả kỷ niệm đẹp cũng quên luôn đi. Han Ji, mình mong cậu mạnh khỏe. Cả gia đình cậu, cả Leah cũng vậy.”
“Han Ji! Han Ji ở trong đó phải không?”
Bên ngoài có ai đó đập cửa tìm Han Ji.
Han Ji lấy mu bàn tay lau nước mắt và rời khỏi kho đông lạnh.
Tôi cũng nhanh chóng ra ngoài, nhưng hơi lạnh đã ngấm vào tận trong xương không dễ gì dịu ngay được. Mặc dù vậy, trán tôi vẫn bốc lên hơi nóng bừng bừng.
Tôi đăng ký tuần im lặng để tĩnh tâm.
Tôi thu dọn hết đồ đạc trong ký túc xá và chuyển ra nhà tĩnh tâm nằm bên ngoài tu viện. Nhà tĩnh tâm là một ngôi nhà hai tầng đã lâu đời, có một khu vườn rộng. Nói là vườn nhưng cây cỏ không được chăm sóc, mọc um tùm rậm rạp, trông như thể ban đêm sẽ có rắn bò ra. Ở ngôi nhà tĩnh tâm, có thể ở một mình một phòng, mỗi bữa cũng có đồ ăn bên tu viện đưa sang. Mỗi buổi cầu nguyện chung, chúng tôi lại đi bộ ba mươi phút đến tu viện, và trong tuần tĩnh tâm, chúng tôi được miễn lao động.
Một ngày không làm việc như thế thật dài và khổ sở. Dù có cố tĩnh tâm đọc sách đến đâu đi nữa thì cũng vẫn không sao vào đầu nổi, những nỗi bất an và hoang tưởng lâu nay bị đè nén vì lao động mệt mỏi, giờ đây lại bắt đầu quẫy đạp trong tôi. Ý nghĩ nghiêm trọng nhất, đó là ảo tưởng rằng trong quá khứ, liệu tôi làm gì thì hiện tại sẽ vẫn có thể giữ được mối quan hệ tốt đẹp với Han Ji.
Lúc Han Ji rủ tôi đi dạo ban đêm, nếu như tôi không từ chối mà cứ đi cùng cậu ấy thì sẽ ra sao nhỉ? Lúc Han Ji hỏi trong cuốn sổ của tôi có viết về cậu ấy hay không, nếu tôi cứ nói thật rằng phần lớn những gì mình viết đều là về cậu, như vậy thì sẽ thế nào? Khi cậu ấy kể chuyện về những con vật cậu ấy không thể nào cứu được, thay vì bối rối và im lặng, nếu như tôi an ủi “Đấy không phải lỗi của cậu mà” thì sẽ ra sao? Những lúc tôi huênh hoang về mấy thứ như nguồn gốc của loài sên trần, nếu như tôi cho cậu ấy cơ hội nói những điều muốn nói với tôi, thì mọi chuyện sẽ thế nào? Có lẽ nào sự đơn giản của con người tôi đã khiến cậu ấy thấy ngạt thở? Phải chăng tôi đã tìm cách gặp cậu ấy quá thường xuyên? Thời gian cậu ấy muốn được ở một mình, tôi lại độc chiếm hết nên cậu ấy đã phát ngán với tôi chăng?
Sự im lặng đã khiến tôi nhìn thẳng một cách thành thực vào tâm trạng tơi tả trần trụi của mình.
Nhìn thẳng vào tâm trạng muốn được đón nhận tình yêu, tâm trạng không muốn chia ly khi đã gắn bó sâu nặng với một ai đó, tâm trạng muốn quên đi, tâm trạng không muốn quên, tâm trạng muốn người khác quên mình đi, tâm trạng không muốn bị lãng quên, tâm trạng không muốn bị mổ xẻ phân tích dù cho được thấu hiểu trọn vẹn, tâm trạng không muốn bị tổn thương, tâm trạng vẫn muốn yêu dù đã bị tổn thương, và hơn hết, đó là tâm trạng nhớ nhung đối với Han Ji.
Sau khi gặp Han Ji trong kho đông lạnh, tôi cố để không gặp Han Ji nữa.
Khi đến ngồi vào chỗ của tình nguyện viên trong nhà nguyện, hay khi đi về phía bếp chính thì đều có thể gặp Han Ji, nhưng tôi cố ý tránh cậu ấy. Bây giờ, chỉ còn chưa tới một tuần nữa là Han Ji sẽ quay về Nairobi rồi, tôi thấy thà cứ coi như cậu ấy đã đi rồi còn đỡ đau khổ hơn. So với việc không thể gặp được cậu ấy, thì tôi thấy việc chủ động không gặp cậu ấy nữa còn tốt hơn.
Mỗi khi nghĩ tới Han Ji, tôi lại đi vào đám cây cỏ trong khu vườn và lẩm nhẩm đọc bảng phân chia niên đại địa chất. Vậy nhưng việc đó cũng không thể khiến tôi ngừng suy nghĩ về Han Ji. Trong mỗi thời kỳ của niên đại địa chất đều thấy cậu ấy đang hiện hữu ở đó. Cả khi trái đất hình thành buổi sơ khai, cả khi trên trái đất chưa có lớp bề mặt rắn chắc, cả khi động vật trên cạn chưa xuất hiện, Han Ji cũng đã ở sẵn đấy rồi. Chừng nào tôi còn ghi nhớ, thì cậu ấy sẽ sống trong sự vĩnh hằng. Tôi chấp nhận sự thật đó.
Tôi ngồi xuống cái ghế ở cạnh vườn, mở sổ viết ra những điều muốn nói với Han Ji. Ban đầu tôi viết bằng tiếng Hàn, sau đó là bằng tiếng Anh. Thứ tiếng Anh câu cú lủng củng, giới từ thiếu lung tung cả.
Han Ji,
Giờ mình đang ở bên nhà tĩnh tâm. Lúc này là 5 giờ chiều, trời hơi lạnh một chút.
Tối nay, cậu sẽ có buổi gặp mặt chia tay với những người khác. Ở đó, hẳn sẽ có người chơi guitar và hát, và có ai đó sẽ cùng cậu trò chuyện hồi tưởng lại quãng thời gian vừa qua bên cậu. Cậu và Caro sẽ nói về quãng thời gian ở đây và cảm ơn tất cả mọi người. Mình sẽ không có mặt ở đó, và hẳn cậu sẽ thấy yên tâm vì mình không xuất hiện.
Ngày mai cậu sẽ bay về Nairobi, buổi tối hẳn là cậu sẽ được gặp gia đình mình tại ngôi nhà của cậu. Nhìn thấy cậu, Leah sẽ vui sướng biết bao. Cậu được gặp lại Leah như vậy, hẳn là sẽ hạnh phúc biết nhường nào. Cậu sẽ đi tắm rửa, dọn đồ đạc và cùng cả nhà ăn tối. Cậu sẽ cho mọi người xem ảnh chụp trong điện thoại và nói chuyện như thể ở đây chỉ toàn diễn ra những chuyện tốt đẹp. Mặc dù vậy, ở đâu đó tận sâu trong lòng, hẳn cậu cũng thấy có lỗi với gia đình mình – những người đã không thể nào đi đâu xa khỏi nhà. Vì lẽ đó mà cậu càng hết lòng vì gia đình hơn, và sẽ lại nhanh chóng bắt tay vào công việc ở bệnh viện thú y.
Thời gian trôi qua, cậu sẽ thấy hơi bối rối. Cậu sẽ cảm thấy xa lạ trước sự thật rằng đã từng có thời cậu sống ở tu viện nơi một ngôi làng nhỏ tại Pháp, và ở đó, cậu đã kể hết chuyện của cậu với một cô gái bé nhỏ người Hàn Quốc, ngày ngày gặp gỡ đi dạo với cô ấy. Tới lúc đó thì chắc hẳn ngay cả lý do vì sao cậu tránh né và quay lưng lại với mình cũng đã trở nên phai mờ rồi nhỉ. Lúc ấy, nếu cậu nghĩ đến mình thì chắc hẳn mình cũng đã thành một người mà cậu không nhớ cả khuôn mặt lẫn giọng nói. Mình sẽ trở thành một người xa lạ chỉ để lại một dấu vết rất nhỏ trong cuộc đời cậu, mà có lẽ sẽ chẳng để lại một dấu vết gì, cứ thế sống tiếp mà chẳng hề liên quan gì đến cậu.
Một lúc nào đó, giống như cậu, mình cũng sẽ quay trở về nơi mình đã sống. Mình sẽ lại đi làm ở phòng nghiên cứu, sẽ làm việc với nham thạch, sẽ đi công tác ở hang động tại Nhật Bản và Trung Quốc. Mình sẽ khoác lên người trang phục và vẻ mặt phù hợp với độ tuổi, cố gắng sống không bất hòa với ai cả, và chỉ đôi khi thôi, mình sẽ nhớ đến quãng thời gian bây giờ. Quãng thời gian mà mình đúng là chính mình nhất. Mình sẽ ghi nhớ cậu và mình trong quãng thời gian đó.
Cảm ơn vì đã ở bên mình trong cõi lòng cô quạnh của mình.
Han Ji,
Mong cậu sẽ luôn được ban phước trong suốt con đường đời phía trước.
Mong cậu được ban phước lành của sự lãng quên, mong cậu từng giây từng phút luôn có được sức mạnh để tồn tại.
Young Joo.
Sau khi viết như vậy, tôi dịch từ tiếng Hàn sang tiếng Anh, rồi xé trang tiếng Anh đó vứt đi. Tôi bỏ cuốn sổ vào trong túi và đi sang tu viện. Trong cuốn sổ đó có ghi lại bằng tiếng Hàn không thiếu một ngày nào trong suốt quãng thời gian bảy tháng vừa qua tôi ở đó.
Đã đến giờ cầu nguyện buổi tối. Hát, sau đó trầm mặc, rồi lại bài hát tiếp nối và sau đó các tu sĩ rời khỏi nhà nguyện. Han Ji ngồi im ở chỗ của tình nguyện viên và đang nhìn lên bức tranh thánh treo trên cột của nhà nguyện. Cậu ấy đã ngồi như thế bao lâu rồi nhỉ? Han Ji đứng dậy khỏi chỗ, đi ra đằng trước nhà nguyện, đứng dựa vào tường và nhắm mắt lại. Đó là hình ảnh cuối cùng của Han Ji mà tôi thấy. Tôi không thể lại gần cậu ấy được.
Mọi người rồi sẽ bỏ ta đi.
Tôi đứng dậy khỏi chỗ và đi ra ngoài nhà nguyện. Caro đang đứng đó.
“Tạm biệt nhé, Caro.” Tôi ghé vào tai Caro thì thầm.
“Cậu không cần phải nói mà. Cậu đang trong tuần im lặng tĩnh tâm đấy.” Caro nói.
Tôi đưa Caro tấm bưu thiếp mà tôi đã viết. Tôi viết cảm ơn về thời gian ba tháng qua, và dù chưa kịp nói ra, nhưng Caro là người rất xinh đẹp. Caro cũng trao bưu thiếp cho tôi. Tôi cất bưu thiếp vào túi và chào Caro lần cuối cùng.
Trên đường về ngôi nhà tĩnh tâm, tôi gặp Théo đang đi giao đồ ăn cho bên đó. Tôi ngập ngừng một chút rồi lấy cuốn sổ trong túi ra đưa cho Théo.
“Cậu chuyển cái này cho Han Ji giúp mình. Cuốn sổ này là của Han Ji.”
Théo hơi lưỡng lự một lát rồi nhận lấy cuốn sổ.
“Cậu có biết vì sao Han Ji lại tránh mặt mình không?” Tôi hỏi.
Théo lắc đầu. Cậu ấy nhìn tôi như nhìn một người điên.
“Gặp Han Ji mình sẽ chuyển lại cho. Ngày mai cậu ấy về Nairobi đấy.”
“Mình biết.”
“Một lát nữa cậu không định đến tiệc chia tay sao?”
“Mình không đến đó đâu.”
Théo chần chừ một chút rồi nói:
“Mình không biết nói với cậu chuyện này có được không, nhưng hai cậu đến phút cuối vẫn không chịu làm lành... mình thấy thật là kinh khủng.”
Khi diễn đạt cảm giác tiêu cực, Théo luôn dùng cách nói “thật kinh khủng”. Cậu ấy không thạo tiếng Anh, đặc biệt là không biết nhiều tính từ. Cả đồ ăn dở, cả thời tiết mưa nhiều, cả chỗ mụn hay mái tóc xù của mình... tất cả đối với cậu ấy đều “thật kinh khủng”. Vậy nhưng khi cậu ấy dùng cách diễn đạt “thật kinh khủng” đối với mối quan hệ giữa tôi và Han Ji, cụm từ đó lập tức trở thành mũi tên xuyên thẳng vào tâm trí tôi.
Mối quan hệ kết thúc theo kiểu như thế này thì đâu thể tô vẽ lên cho đẹp đẽ chứ.
Tôi chầm chậm bước về phía ngôi nhà tĩnh tâm.
Đó là đêm cuối cùng của Han Ji ở tu viện. Tôi thức trắng đêm, và trong bóng tối, tôi đi về phía tu viện. Chuyến bay vào lúc 7 giờ rưỡi sáng. Caro bảo có lẽ 5 giờ sáng là lên đường, nhớ lời cô ấy nên tôi đi sang tu viện, nhưng đến nơi thì mấy người đó đã lên xe đi mất rồi. Khi đó tôi đã không nhận ra, nhưng có lẽ đến tận phút cuối, tôi vẫn không có đủ dũng khí. “Chẳng còn cách nào khác, mình lỡ chuyến xe đó mất rồi” – mặc dù nói vậy, nhưng tận sâu trong lòng, tôi hẳn đã biết câu nói đó không phải là sự thật.
Hai ngày sau khi Han Ji rời khỏi tu viện, tôi quay trở lại ký túc xá. Khi đến ngôi nhà tĩnh tâm, tôi vẫn còn mặc quần áo mùa hè, vậy mà chỉ trong một tuần, nhiệt độ đã giảm hẳn, tất cả mọi người đều đã khoác lên người áo hoodie hay cardigan. Các tình nguyện viên được mời từ các nước thế giới thứ ba dần dần đã về nước hết, chẳng còn lại ai ngoài mấy người đến từ Colombia và Paraguay, cùng với các bạn trẻ châu Âu. Chỉ trong vòng ba tuần, số tình nguyện viên vốn lên tới năm mươi lăm người đã giảm xuống chỉ còn mười lăm người. Phòng khách vốn lúc nào cũng huyên náo giờ đây vắng lặng, trên sàn nhà nơi mấy bạn trẻ ngồi đan móc giờ chỉ còn kim đan và cuộn len nằm lăn lóc. Vài bạn trẻ còn lại không quen được với sự thay đổi này, họ ngồi uống trà và còn sụt sịt khóc với nhau.
Trong những giọt nước mắt đó ẩn chứa tình cảm tốt đẹp dành cho những người đã đi. Đó là niềm hạnh phúc khi mà sau khi trở thành người lớn rồi, bạn vẫn có thể yêu quý người khác một cách vô điều kiện và được sống cùng với họ. Đó là niềm hạnh phúc được cùng tồn tại trong một khoảng thời gian không thể kéo dài, không thể lặp lại. Những giọt nước mắt ấy là niềm tiếc nuối đối với quãng thời gian không có sự cô đơn đó.
Và cuốn sổ lại quay trở về với tôi.
“Han Ji không nhận cuốn sổ này. Cậu ấy bảo đây là thứ quan trọng đối với cậu.” Théo nói. “Không phải mình cố ý đọc đâu. Tại tình cờ nhìn thoáng qua thôi, mình thấy cuốn sổ viết toàn những chữ không đọc được. Đấy là chữ cái của Hàn Quốc à?”
“Ừ.”
“Han Ji có đọc được cái này không?”
“Không.”
Với vẻ mặt không rõ là có thái độ gì, Théo đưa tôi cuốn sổ.
Hai ngày sau, Théo cũng rời khỏi tu viện. Tôi vẫn còn nhớ giọng nói mang nặng ngữ điệu tiếng Pháp của cậu ấy. Théo đã nói rằng việc Han Ji và tôi không thể nào làm lành như vậy thật là kinh khủng. Như thể chúng tôi đã làm những việc rất tồi tệ với người kia. Tôi vẫn còn nhớ khi nói câu ấy, mặt Théo đã nhăn nhó như thế nào.
Tôi cuộn tròn quyển sổ, nhét vào trong cái lỗ đào trên mặt băng và đẩy xuống thật sâu. Cuốn sổ rơi trượt thẳng vào trong lòng băng không chút khó khăn. Vật này ít ra mười ngàn năm cũng không phân hủy. Tôi không muốn cứ phải sinh ra trên đời lặp đi lặp lại trong suốt quãng thời gian đó. Tôi mong những ký ức đó sẽ rời bỏ tôi và gắn chặt vào khối băng này.
Khuôn mặt của Leah.
Câu nói “Không sao đâu” ngày ấy.
Thân hình biến mất và đôi mắt thỉnh thoảng lại lấp loáng trong bóng tối.
Đôi mắt và đôi môi im lặng.
Làn da đen ánh xanh.
Cử động thiếu tự nhiên khi quay đầu đi để khỏi phải nhìn thấy tôi.
Sự đơn giản của con người tôi đến phút cuối vẫn không thể hiểu nổi cậu ấy.
Dòng thời gian trôi qua trên tất cả những thứ đó.
Sự đoạn tuyệt.
Tất cả đã rơi vào trong lòng băng.
Giống như nhiều sinh mạng đã từng dừng chân tại đây rồi lại bỏ đi.
Như Robert Scott [12] , như con conodont, như hổ răng kiếm, như những con vượn đất. [13]
Một cách cô quạnh, thật sự cô quạnh.