Tròn bảy ngày sau khi bắt Chu Lập Bình, Sở Cảnh sát thành phố mở cuộc họp “giữa thời hạn”.
Theo quy định trong Bộ luật Hình sự, dù đối tượng là nghi phạm quan trọng của vụ án đặc biệt nghiêm trọng, thời hạn tạm giam cũng chỉ tối đa 14 ngày, sau đó đối tượng sẽ được thả hoặc bị bắt giữ chính thức. Hoặc nếu cơ quan cảnh sát đưa ra được chứng cứ xác thực, có thể đề nghị viện kiểm sát gia hạn thời hạn tạm giam đối tượng lên 37 ngày. Phía cảnh sát ai cũng hi vọng “giải quyết xong xuôi” vụ án trong vòng 14 ngày, do đó họ coi ngày thứ bảy sau khi bắt được nghi phạm là “giữa thời hạn”. Nếu đến lúc này công tác điều tra vẫn chưa đạt được bước đột phá lớn, chưa có chứng cứ vững chắc đủ để “đóng đinh” hung thủ, cơ quan cảnh sát buộc phải mở cuộc họp nội bộ để tổng kết tình hình, điều chỉnh phương hướng, tư duy và cách thức điều tra. Đây chính là cuộc họp giữa thời hạn.
Vì lẽ đó, số người tham dự và cấp bậc của người tham dự họp giữa thời hạn vụ núi Chuột Quét thuộc hàng cao nhất mấy năm trở lại đây. Trừ những cảnh sát trực tiếp tham gia điều tra như Đỗ Kiến Bình, Lôi Dung, Lâm Phượng Xung, Sở Thiên Anh, Sài Vĩnh Tiến và Tôn Khang, giám đốc Sở Cảnh sát thành phố Hứa Thụy Long cũng có mặt. Điều này vô hình trung tạo ra áp lực cực lớn, khiến Đỗ Kiến Bình chưa tới giờ họp đã uống cạn trà trong cốc tráng men.
Hứa Thụy Long mở màn bằng câu nói súc tích, “Trong cuộc họp hôm nay, mời các đồng chí thoải mái phát biểu quan điểm của mình, nhưng phải đưa ra chứng cứ xác thực cho điều mình nói. Bất đầu đi!”
Các cảnh sát tham gia điều tra mau chóng chia thành hai phe: một phe do Sài Vĩnh Tiến đứng đầu, chủ trương Chu Lập Bình có tội; phe còn lại do Lâm Phượng Xung đứng đâu, cho rằng chứng cứ hiện có chưa đủ để xác định Chu Lập Bình là hung thủ. Phe thứ nhất đưa hình ảnh chụp được tại cột đèn giao thông Thanh Thạch Khẩu Đông lên màn chiếu, lặp đi lặp lại luận điểm Chu Lập Bình có tiền án ngồi tù do giết người hàng loạt mười năm trước, cứ như sợ người trong phòng họp quên mất việc này. Phe thứ hai chẳng những cho thấy khẩu cung của Chu Lập Bình vô cùng chặt chẽ, còn bám lấy luận điểm “Chu Lập Bình không thể nào vứt xác, đốt xác rồi đến đường Hạnh Vũ trong vòng nửa tiếng” để nhiều lần nhấn mạnh hắn không đủ thời gian gây án.
Hai bên tranh cãi hăng say. Mấy chục người nghiện thuốc lá cùng phì phèo nhả khói trong phòng, như thể muốn biến làn khói mù mịt thành giáp bảo vệ. Khói thuốc khiến Lôi Dung ho sặc sụa.
Hứa Thụy Long cau mày, gõ ngón tay lên bàn, “Này, ở đây có đồng nghiệp nữ đấy, các anh dập hết thuốc đi được không?”
Như mọi chốn công sở khác, Sở Cảnh sát thành phố cấm hút thuốc trong phòng. Nhưng cảnh sát hình sự phải làm việc thâu đêm suốt sáng hết sức mệt mỏi, ngồi họp án mà không được hút thuốc chắc nằm vật ra bàn ngủ gật mất, thành thử lãnh đạo toàn mắt nhắm mắt mở cho qua. Giờ sếp lớn ra lệnh, mọi người đành lục tục dập thuốc.
“Lôi Dung này!” Hứa Thụy Long gọi, “Cô có ý kiến gì không?”
Lôi Dung vén tóc mai, mở tập tài liệu trước mặt xem một hồi mới thong thả nói, “Kết quả khám nghiệm tử thi đã được gửi tới anh Đỗ Kiến Bình và các đồng chí, hiện chưa có phát hiện gì mới.”
Hứa Thụy Long tiếp lời, “Chúng tôi biết cả rồi. Ý tôi muốn hỏi cô có cho rằng Chu Lập Bình là hung thủ không?”
Các cảnh sát cùng dán mắt vào Lôi Dung. Thứ nhất, Lôi Dung rất có tiếng tăm trong đội ngũ cảnh sát. Tuy mới ngoài ba mươi nhưng cô sở hữu năng lực chuyên môn xuất sắc, khiến những cảnh sát đã bốn, năm mươi tuổi cũng phải tâm phục khẩu phục. Thứ hai, cô nổi tiếng là người có EQ cao, nói năng làm việc chưa từng mếch lòng ai, bởi vậy mọi người đều muốn xem cô sẽ trả lời thế nào để thoát khỏi cảnh chọn phe.
Lôi Dung đáp không chần chừ, “Trong loạt án giết người mười năm trước, ta nhận định Chu Lập Bình chỉ phải chịu trách nhiệm cho một vụ, vụ này không hề liên quan đến vụ núi Chuột Quét. Thêm vào đó, chưa ai tìm ra cách để vứt, đốt xác rồi đến đường Hạnh Vũ trong vỏn vẹn nửa giờ, nhưng cũng không thể coi đây là chứng cứ ngoại phạm của Chu Lập Bình. Hai bên tranh cãi cả buổi, bên nào cũng có quan điểm riêng, nhưng chưa bên nào đưa ra được chứng cứ xác thực cho điều mình nói như anh yêu cầu.”
Hứa Thụy Long gật gù, những người khác ngẩn ra. Sở Thiên Anh huých Lâm Phượng Xung bên cạnh, “Người anh em, nhớ theo chị Lôi Dung cho sát vào, có khi sau này chị ấy lên đến chức bộ trưởng cũng nên.” Anh ta nói rất khẽ nhưng vẫn bị Hứa Thụy Long bắt được.
“Sở Thiên Anh, cậu nói gì với Lâm Phượng Xung đấy? Đang họp cấm nói chuyện riêng, có gì thì chia sẻ mọi người cùng nghe.”
Sở Thiên Anh vội đứng bật dậy, “Báo cáo giám đốc, tôi bảo Lâm Phượng Xung rằng tuy không tìm thấy bằng chứng có giá trị trong xe Spica, nhưng ta đã phát hiện ra một điều rất đáng chú ý.”
Sau khi bị Sài Vĩnh Tiến truy hỏi, đội cảnh sát giao thông khu vực núi Chuột Quét quả nhiên tìm thấy chiếc Spica màu đen trong bãi tạm giữ xe vi phạm. Thông thường khi giữ xe vi phạm, cảnh sát giao thông sẽ nhập biển số xe vào máy tính, tìm thông tin chủ xe và gửi thông báo cho họ đến nhận. Nhưng gần đây đội giao thông bận phối hợp điều tra vụ núi Chuột Quét nên quên luôn quy trình, dẫn đến việc chiếc xe rơi vào “khoảng tối dưới chân đèn”.
Cả đội điều tra xôn xao trước phát hiện này vì chẳng khác nào đào được vàng trong mỏ quặng bỏ hoang. Đặc biệt, camera giám sát cho thấy từ lúc được kéo về bãi tạm giữ, chiếc xe hoàn toàn không bị ai tiếp cận, cũng có nghĩa xe vẫn ở “trạng thái ban đầu” kể từ khi vụ án xảy ra. Tổ chuyên án hết sức phấn khích, tuy nhiên, kết quả giám định của Phòng Kĩ thuật Hình sự lại chỉ ra, trừ vết tích còn sót lại từ xác của ba đứa trẻ nằm trong cốp xe và mùi rượu nồng nặc được máy đo nồng độ cồn đo được trong khoang xe, thì trên xe không còn bằng chứng nào có giá trị. Quan trọng nhất, vô lăng và tay nắm cửa đã được lau sạch bằng khăn ướt khử trùng nên không có dấu vân tay. Điều này càng giúp Chu Lập Bình bớt bị hoài nghi, bởi hắn là tài xế thường xuyên sử dụng xe, có để lại dấu vân tay cũng rất bình thường, chẳng việc gì mất công lau chùi sạch sẽ, nhất là khi đêm đó đang nước sôi lửa bỏng.
Cảnh sát vô cùng thất vọng. Vì thế khi nghe Sở Thiên Anh nói có phát hiện mới, họ đồng loạt quay sang nhìn anh.
Sở Thiên Anh lấy ra một túi trong suốt đựng vật chứng, đưa cho Hứa Thụy Long, “Đây là hóa đơn thanh toán của Hình Khải Thánh tại quầy bar đại sảnh khách sạn Hà Phong đêm đó. Theo hóa đơn, lão đã ăn salad bò Úc, gan ngỗng chiên, cá hồi xông khói và cơm chiên nấm cục, còn ăn thêm một bát xúp kem nấm.”
Hứa Thụy Long nhìn hóa đơn trong túi vật chứng, “Thì sao? Giống hệt báo cáo khám nghiệm tử thi Lôi Dung đưa ra còn gì?”
“Vấn đề nằm ở chỗ, trên hóa đơn không có thứ nên có.”
“Thứ gì?”
“Theo khẩu cung của Chu Lập Bình, tầm 9 giờ tối đó, Hình Khải Thánh lấy cớ uống say không tự lái xe được, gọi điện bảo hắn lập tức đến viện bảo trợ đón mình đi công chuyện. Vấn đề ở chỗ, cả hóa đơn lẫn băng ghi hình khách sạn đều chứng minh tối đó Hình Khải Thánh không uống giọt rượu nào!”
Cả phòng họp chết sững.
“Đáng chú ý hơn, từ lúc án mạng xảy ra cho đến lúc chiếc Spica được tìm thấy trong bãi tạm giữ, cửa xe vẫn luôn đóng chặt. Khi mở cửa, mùi rượu xộc ra ngoài nồng nặc. Máy đo nồng độ cồn trong không khí cho thấy đó là mùi của một loại Vodka cực mạnh.”
“Có khi nào Hình Khải Thánh rời khách sạn Hà Phong về đến viện bảo trợ rồi mới uống không?” Một cảnh sát hỏi.
“Điểm thú vị nằm ở đây.” Sở Thiên Anh đáp. “Khi phát hiện vấn đề trên hóa đơn, chúng tôi lập tức báo cáo chị Lôi Dung. Chị ấy bảo, theo kết quả khám nghiệm tử thi, trong máu Hình Khải Thánh không có cồn.”
“Vậy…” Cảnh sát kia ngớ ra, “Chẳng lẽ là Chu Lập Bình uống?”
“Từ camera ở cửa hàng tiện lợi dưới khu nhà Chu Lập Bình, có thể thấy tối hôm xảy ra án mạng, hắn chỉ mua hai lon bia Yến Kinh chứ không mua Vodka. Vả lại loại Vodka mạnh này cực kì đắt tiền, gần như không thể tìm mua trong nước, người như Chu Lập Bình làm sao mua nổi. Về sau chúng tôi tìm ra chai rượu này trong tủ trang trí ở văn phòng giám đốc viện bảo trợ, vậy rượu là của Hình Khải Thánh, không sai vào đâu được.”
Cả phòng họp im phăng phắc. Hứa Thụy Long trầm ngâm, “Sở Thiên Anh, theo cậu điều này có nghĩa gì?”
Vẫn được ca ngợi là thông minh tài giỏi, Sở Thiên Anh trả lời súc tích và mạch lạc, “Có ba khả năng. Thứ nhất, Chu Lập Bình nói dối, đêm đó Hình Khải Thánh gọi hắn đến viện bảo trợ vì lý do khác chứ không phải vì lão uống rượu không lái xe được. Lúc lên xe, lão có mang theo Vodka, Chu Lập Bình giết lão trên núi Chuột Quét rồi về xe vẩy rượu lên quần áo để trong xe bốc mùi rượu nhằm ngụy tạo chứng cứ. Thứ hai, vẫn là Chu Lập Bình nói dối, trên xe còn người thứ ba, người này uống rượu ở văn phòng giám đốc viện bảo trợ rồi lên xe cùng Hình Khải Thánh. Tuy nhiên chưa rõ người này là ai, xuống xe ở đâu, còn sống hay đã chết. Thứ ba, Hình Khải Thánh nói dối, lão vẩy rượu Vodka lên người mình, giả vờ say để dụ Chu Lập Bình đến viện bảo trợ đưa lão đến núi Chuột Quét…”
Hứa Thụy Long xen ngang, “Vì sao Hình Khải Thánh làm vậy?”
Sở Thiên Anh lắc đầu. “Tôi không biết.”
Phòng họp lại chìm vào yên lặng.
Đỗ Kiến Bình chưa hề lên tiếng suốt từ đầu buổi họp đến giờ. Là tổ trưởng tổ chuyên án, ông biết mình chịu trách nhiệm lớn nhất khi vụ án vẫn rối như mớ bòng bong, nhưng ông chẳng biết làm thế nào khác. Bao nhiêu năm lăn lộn điều tra ở tuyến đầu, ông đã sở hữu giác quan thứ sáu thần kì, hầu như chỉ cần dựa vào trực giác đã phán đoán chính xác nghi phạm có phải hung thủ thật sự không. Song Chu Lập Bình quá khác biệt! Đỗ Kiến Bình có cảm giác muốn bắt hắn chẳng khác gì nửa đêm đi “bắt” sương bằng vợt côn trùng, vừa không thể nhìn thấu đối thủ vừa phải chạy đua với thời gian, vợt vẫn nằm trong tay nhưng làn sương càng lúc càng mỏng, chẳng rõ lúc nào sẽ tan sạch…
Giờ không phải lúc suy nghĩ vẩn vơ. Đỗ Kiến Bình là người chủ trì cuộc họp nên không thể để khoảng lặng kéo dài quá lâu. “Lâm Phượng Xung, cậu báo cáo cho giám đốc biết tình hình truy ngược hành trình chiếc Spica đi.”
Truy ngược hành trình là quá trình cơ quan giao thông sử dụng hệ thống Thiên Nhãn lần ngược lại hành trình của chiếc xe tình nghi trong khoảng thời gian nhất định, từ đó vẽ lại bản đồ lộ trình của xe. Nhận được báo cáo giám định tâm lý mà chuyên gia khoa học hành vi đưa ra sau khi phân tích video thẩm vấn Chu Lập Bình, cảnh sát quyết định truy ngược về hẳn buổi sáng hôm xảy ra án mạng.
Lâm Phượng Xung báo cáo, theo hình ảnh từ camera giám sát tại bãi đỗ xe chung cư Hình Khải Thánh ở, khách sạn Hà Phong, đèn giao thông gần viện bảo trợ, đèn giao thông ở Thanh Thạch Khẩu Đông và tất cả nút giao thông chủ chốt, có thể rút ra lộ trình chiếc Spica vào một số thời điểm trong ngày xảy ra án mạng như sau:
Đúng 9 giờ sáng, Hình Khải Thánh lái xe từ bãi đỗ xe chung cư đến viện bảo trợ.
2 giờ 20 phút chiều, Hình Khải Thánh lái xe ngang qua đèn giao thông tại đầu Nam con đường trước viện bảo trợ, đi một mạch về hướng Nam, đến cổng chính khách sạn Hà Phong lúc 2 giờ 28 phút. Xe dừng tại bãi đỗ sau nhà E.
8 giờ 45 phút tối, chiếc Spica rời khỏi khách sạn Hà Phong. Camera giám sát cho thấy người lái xe vẫn là Hình Khải Thánh.
8 giờ 50 phút tối, chiếc Spica đi vào con đường dẫn vào cổng Tây Nam bệnh viện Ái Tâm, đến 9 giờ đúng mới lái ra khỏi đầu kia đường. Cổng Tây Nam bệnh viện dẫn đến nhà xác, do tập tục nên nhà xác không lắp máy quay, bởi vậy không ai biết vì sao Hình Khải Thánh dừng ở đó tận 10 phút.
9 giờ 5 phút tối, chiếc Spica chạy qua đèn giao thông tại đầu Nam con đường viện bảo trợ, đi về phía Bắc nhưng không ra khỏi đầu Bắc, có lẽ dừng lại trong sân viện bảo trợ.
9 giờ 40 phút, chiếc Spica đi ngang qua đèn giao thông tại đầu Bắc con đường viện bảo trợ, lái tới Thanh Thạch Khấu Đông.
“Xe dừng trong viện bảo trợ gần bốn mươi phút, Hình Khải Thánh đã làm gì trong khoảng thời gian này? Chu Lập Bình nhận được cuộc gọi của Hình Khải Thánh lúc 9 giờ đúng, vậy mấy giờ hắn đến viện bảo trợ?” Hứa Thụy Long đưa ra một loạt câu hỏi.
“Chúng tôi liên hệ với công ty taxi và được một tài xế cho hay, khoảng 9 giờ tối đó, anh ta nhận chở một người đàn ông ở phường Hạ Hà tới cổng viện bảo trợ, lịch sử hành trình của xe cho thấy chuyến đi mất hai mươi phút. Anh ta cũng nhanh chóng nhận ra Chu Lập Bình giữa một đống ảnh chụp. Chu Lập Bình khai khi đến nơi, hắn tới văn phòng tìm Hình Khải Thánh, lão nói đang bận việc, bảo hắn ra xe chờ. Hắn ngồi chơi điện thoại trong xe khoảng hai mươi phút, Hình Khải Thánh lên xe rồi nằm ra ghế sau, yêu cầu hắn lái xe lên núi Chuột Quét.”
“Tôi muốn hỏi một câu về mặt kĩ thuật.” Một cảnh sát lên tiếng, “Hệ thống giám sát không bắt được hình ảnh ghế sau xe à? Nếu được sẽ biết ngay trong xe còn người khác không.”
Lâm Phượng Xung cười chán ngán, “Độ phân giải của hệ thống giám sát có giới hạn. Máy quay bắt được hình chính diện người lái nhưng không lấy được hình ảnh ghế sau nếu trong xe quá tối hoặc không bật đèn. Giả sử Hình Khải Thánh nằm ở ghế sau, thậm chí ngồi ghế phía sau ghế lái và cúi thấp đầu, máy quay cũng không thể bắt được hình do góc độ. Thật ra các cơ quan liên quan đã dùng kĩ thuật tăng độ phân giải và cải thiện chất lượng hình ảnh từ băng ghi hình, song chỉ lờ mờ thấy phía sau Chu Lập Bình đúng là có gì đó, nhưng chẳng rõ có phải người không…”
“Phải chăng ta đã phức tạp hóa một sự việc đơn giản?” Sài Vĩnh Tiến chợt lên tiếng. “Thật ra vụ án này không hề rắc rối. Tổng hợp thông tin được các bên cung cấp, ta dễ dàng nhận thấy trước đây Chu Lập Bình từng quấy rối thậm chí xâm hại tình dục trẻ ở viện bảo trợ và bị Hình Khải Thánh ngăn cản. Vào đêm xảy ra án mạng, Hình Khải Thánh gọi hắn đến để tính sổ, trong lúc nóng nảy đã đe dọa lôi hắn đến đồn cảnh sát. Chu Lập Bình sợ hãi, lừa Hình Khải Thánh lên xe rồi đánh ngất. Tiếp theo, hắn đưa ba đứa trẻ từng bị mình chơi đùa đến và nhốt vào cốp xe, sau đó lái xe lên núi Chuột Quét, giết hại cả bốn rồi ném và đốt xác họ dưới giếng. Như vậy chẳng phải giải thích được mọi việc sao?”
Những lời này có thể chối tai nhưng lại là suy nghĩ của rất nhiều cảnh sát đang có mặt. Với họ, đây chính là sự thật của án mạng trên núi Chuột Quét.
“Tôi vẫn cho rằng không nên kết luận võ đoán như thế.” Lâm Phượng Xung nghiêm nghị đáp. “Anh giải thích nghe thì rất hợp lý, nhưng không có bằng chứng trực tiếp để củng cố lời mình. Vả lại, anh vẫn chưa lý giải được hai việc. Thứ nhất, Chu Lập Bình dùng cách nào để đi từ núi Chuột Quét đến đường Hạnh Vũ trong nửa giờ sau khi gây án. Thứ hai, với kinh nghiệm phạm tội của mình, hắn chắc chắn phải biết mình sẽ bị hệ thống Thiên Nhãn ghi lại hình ảnh đi từ viện bảo trợ lên núi Chuột Quét. Dù xác chết bị đốt cháy nghiêm trọng đến mấy, cảnh sát vẫn sẽ mau chóng xác định được thân phận nạn nhân và dò ra hắn. Mà Chu Lập Bình không bỏ chạy cũng chẳng thèm xóa dấu vết, tất cả những điều này đều rất bất thường. Tôi không bảo loại hắn khỏi vòng nghi vấn, tôi muốn nói đừng buộc tội khi chưa đủ chứng cứ, cũng đừng chắc chắn bản thân mình không sai.”
“Bà Xung” nổi tiếng là người hiền lành, nên những lời nặng nề anh vừa nói làm cả phòng họp xì xào.
Hứa Thụy Long cầm cốc trà lên uống ực một ngụm, nuốt luôn tiếng bàn luận xung quanh, phòng họp thoắt cái nín bặt. Hứa Thụy Long từ tốn nói, “Gần đây các đồng chí đều đã vất vả và cố gắng hết mình. Có thể nói đây là vụ án lớn, việc đạt được nhiều bước đột phá trong thời gian ngắn như vậy là rất đáng ghi nhận. Tranh luận về những điểm nghi vấn của vụ án là điều tốt. Tôi luôn chủ trương khuyến khích các điều tra viên thảo luận chứ đừng thống nhất ý kiến quá sớm, bằng không sẽ phạm phải sai lầm và gây ra án oan… Giờ tôi có hai ý kiến thế này, mời mọi người suy xét.
“Thứ nhất, xét cho cùng đây là vụ án đót xác xóa dấu vết. Xóa dấu vết gì? Chắc chắn không phải dấu vết giết người vì nó rõ mười mươi không thể chối bỏ hay hủy hoại. Vậy cái hung thủ muốn xóa có thể là dấu vết bọn trẻ bị xâm hại tình dục hoặc bị tổn thương. Một vài đồng chí cho rằng dấu vết này nhất định do Chu Lập Bình để lại. Đây là kết luận chủ quan và chưa thỏa đáng. Do đó ta cần tăng cường điều tra các nhân viên viện bảo trợ để tìm ra sự thật.
“Thứ hai, ta đã ‘phá án’ quá nhanh, quá chóng vánh. Các đồng chí đừng tưởng tôi nói đùa, ý tôi là chúng ta chẳng mất bao nhiêu thời gian đã phát hiện Chu Lập Bình dính líu đến vụ án, sau đó vì hẳn là nhân vật đặc biệt nên ngay từ đầu ta quá tập trung vào một mình hắn, từ đó vô tình hành động với mục đích chứng minh hắn là hung thủ. Giờ nhìn lại, tuy thu được một số kết quả, song vẫn tồn tại nhiều bất cập, điển hình là ta dồn bao sức người sức của vẫn chưa tìm ra bằng chứng thép kết luận hắn là hung thủ. Bản thân điều này đã là khúc mắc to lớn. Vậy ta thử đổi hướng tư duy nhé. Giả sử Chu Lập Bình không phải hung thủ, người đáng nghi nhất vụ án này là ai?”
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, không ai dám trả lời bừa.
“Tôi cho là Hình Khải Thánh.” Một giọng nói vang lên. Mấy chục đôi mắt cùng dồn về Sở Thiên Anh.
Hứa Thụy Long không muốn tỏ ra “ưu ái” vị tướng tài này trước mặt mọi người, chỉ bình thản hỏi, “Lý do?”
“Thứ nhất, tình hình điều tra hiện tại cho thấy, không tính thư kí của Hình Khải Thánh là Trì Phượng Lệ thì các nhân viên viện bảo trợ đều không nghi ngờ Chu Lập Bình có hành vi đồi bại với trẻ em. Lời khai của Trì Phượng Lệ cũng chỉ cho biết Hình Khải Thánh và Chu Lập Bình từng xô xát vì chuyện bọn trẻ, song, cụ thể nguyên nhân xô xát là gì vẫn chưa rõ. Nếu chỉ xét điều kiện để thực hiện hành vi xâm hại trẻ em, Hình Khải Thánh chiếm nhiều ‘ưu thế’ hơn Chu Lập Bình cả về thời gian, địa điểm lẫn sự thuận tiện…”
Tôn Khang ngồi chếch trước mặt Sở Thiên Anh chợt lên tiếng, “Cho phép tôi xen ngang. Lúc tôi thẩm vấn, Trì Phượng Lệ nhấn mạnh Hình Khải Thánh có một đặc điểm là ‘háo sắc’, nhưng cô ta cũng nói lão không hứng thú với mình. Điều này khiến tôi rất ngạc nhiên, vì ngoại hình Trì Phượng Lệ khá hấp dẫn. Nếu Hình Khải Thánh không để ý cô ta, cũng không phải người đồng tính, có khả năng lão là kẻ ái nhi.”
Sở Thiên Anh gật đầu, đưa mắt nhìn Hứa Thụy Long, “Vì vậy, tôi đề nghị Sở Cảnh sát thành phố yêu cầu Sở Cảnh sát tỉnh A hỗ trợ điều tra xem Hình Khải Thánh có từng phạm tội xâm hại tình dục trẻ em không. Tôi chỉ lo vì nhiều nguyên nhân, dù lão có tiền án ở địa phương cũng được che giấu nhờ các mối quan hệ của gia đình.”
“Chấp thuận.” Hứa Thụy Long bảo Lâm Phượng Xung, “Họp xong, cậu làm ngay cho tôi.”
“Thứ hai là vấn đề rượu Vodka.” Sở Thiên Anh nói tiếp, “Tuy đưa ra ba giả thuyết, nhưng cá nhân tôi cho rằng giả thuyết thứ ba có khả năng cao nhất, nghĩa là Hình Khải Thánh nói dối. Bởi giả thuyết thứ nhất quá ấu trĩ, còn giả thuyết thứ hai có sơ hở.
“Đầu tiên ta xét giả thuyết thứ nhất. Dù hung thủ đốt xác nạn nhân, bộ phận pháp y vẫn có thể kiểm tra nồng độ cồn trong máu thi thể. Điều này chắc ít người biết, nhưng Chu Lập Bình chắc chắn biết. Hồi ngồi tù hắn đã đọc nhiều sách về pháp y, có khi còn đọc nhiều hơn đa số người có mặt trong phòng này. Nếu cho rằng chỉ vẩy rượu trong xe là đủ khiến cảnh sát tin Hình Khải Thánh đã uống rượu, thà ngay từ đầu đừng nói dối còn hơn.
“Giả thuyết thứ hai là trong xe có người thứ ba. Mùi rượu vương lại khá nồng chứng tỏ người này ngồi trong xe rất lâu. Ta đều biết người say rượu không thể tự kiểm soát ý thức. Nếu không ngủ say, họ sẽ quờ quạng loạn xạ, để lại vết tích kì lạ ở những vị trí đặc biệt. Khoa học khám nghiệm hiện trường gọi đó là ‘dấu vết khi say’: dấu vân tay ở góc chết chẳng ai sờ đến, dấu giày trên chỗ tựa đầu của ghế ngồi, hoặc vệt vân tay trên bề mặt đồ vật do người say bám vào khi bị lôi kéo. Tuy nhiên trong chiếc Spica không có những dấu vết này. Xin hãy nhớ rằng hung thủ lau chùi vô lăng và tay nắm cửa xe, nhưng không lau các vị trí khác.”
Bài phân tích dài khiến các cảnh sát dự họp hào hứng lắng nghe và xuýt xoa khâm phục.
“Giả sử Chu Lập Bình bị vu oan, e rằng Hình Khải Thánh không thoát khỏi vòng nghi vấn, bởi riêng việc lão không uống rượu nhưng vẫn gọi Chu Lập Bình đến lái xe hộ đã rất đáng nghi.” Sở Thiên Anh tiếp tục trình bày, “Từ đây nảy sinh một vấn đề: Hình Khải Thánh bị sát hại, vậy ai là người giết lão? Chắc chắn lão có đồng bọn, không thì là có chim sẻ đứng sau lưng, vậy đồng bọn hoặc chim sẻ này là ai? Đầu tiên có thể loại trừ Chu Lập Bình, bởi lẽ hai người luôn bất hòa với nhau nên chẳng đời nào lão chọn hắn làm đồng đảng. Hơn nữa, Chu Lập Bình có mặt tại đường Hạnh Vũ nửa tiếng sau cuộc gọi đến 110, do đó hắn không đủ thời gian gây án. Trong số đám bạn của Hình Khải Thánh, kẻ đáng nghi nhất là Trương Xuân Dương.”
Trương Xuân Dương chưa từng bị liệt vào danh sách tình nghi nên rất nhiều cảnh sát đang có mặt đều bất ngờ.
Sở Thiên Anh giới thiệu sơ qua về Trương Xuân Dương, sau đó trình bày tiếp, “Theo thông tin chúng tôi nắm được, Trương Xuân Dương là kẻ mưu mô và tàn nhẫn, thể lực rất tốt, trước kia từng làm huấn luyện viên thể hình. Hắn thích leo núi, rảnh rỗi thường đi men đường núi Chuột Quét lên dãy Tây Sơn nên cực kì quen thuộc đường sá, do đó hắn có thể dễ dàng lên kế hoạch và thực hiện hành vi giết người. Người xung quanh nhận xét Trương Xuân Dương nổi tiếng ‘to gan làm càn, tự cho là mình thông minh’. Hắn lợi dụng quan hệ với Đào Chước Yêu để giúp Hình Khải Thánh kiếm tiền, còn Hình Khải Thánh giúp hắn lén lút lăng nhăng sau lưng Đào Chước Yêu. Hai kẻ này câu kết với nhau làm bao chuyện xấu. Vì chênh lệch địa vị xã hội nên Hình Khải Thánh luôn đóng vai ‘chủ’, Trương Xuân Dương đóng vai ‘tớ’, nhưng thực tế Trương Xuân Dương mới là kẻ giữ vai trò ‘bộ não’. Từ khi án mạng xảy ra, Trương Xuân Dương cũng bặt vô âm tín, điều này vô cùng bất thường.”
Hứa Thụy Long cắt ngang lời anh, “Lần cuối Trương Xuân Dương xuất hiện là khi nào?”
“Chúng tôi đã tiến hành truy vết điện thoại hắn. Điện thoại đang tắt máy, lần cuối liên lạc là hơn 4 giờ chiều ngày xảy ra án mạng.”
Đây là mốc thời điểm cực kì nhạy cảm. Hứa Thụy Long hỏi tiếp, “Hắn liên lạc với ai?”
“Đào Chước Yêu.” Sở Thiên Anh đáp. “Theo nhân viên quét dọn phòng nhớ lại, sáng sớm ngay sau buổi tối xảy ra án mạng, phòng ngủ của Đào Chước Yêu tại tầng bốn nhà E có dấu hiệu nam nữ qua đêm. Đào Chước Yêu từng dẫn hai người đàn ông về đây, một người là vị hôn phu Khương Lỗi, người còn lại là Trương Xuân Dương. Nhưng chúng tôi phát hiện đêm đó Khương Lỗi đi công tác Hồng Kông, không ở đây, nên nhiều khả năng Trương Xuân Dương là người ta cần tìm.
“Đáng chú ý, hơn 7 giờ tối đó, Hình Khải Thánh đến quầy bar đại sảnh để dùng bữa, vừa ăn vừa liên tục nhìn điện thoại, đến khi nhận cuộc gọi vào lúc 8 giờ 10 phút mới vội vàng rời đi. Lịch sử cuộc gọi cho thấy người gọi là Đào Chước Yêu. Chuyện xảy ra sau thời điểm này có thể xem như hai chuyến tàu cao tốc trong đêm, xuất phát từ cùng một ga nhưng đi hai hướng khác nhau, một là Hình Khải Thánh lái chiếc Spica lên núi Chuột Quét, một đi không trở lại; hai là Đào Chước Yêu đặt vé lúc 9 giờ 30 phút để đi Paris…”
“Còn Trương Xuân Dương từ lúc này cũng biệt tăm…” Hứa Thụy Long trầm tư. “Tìm đi! Đào ba tấc đất cũng phải tìm ra người này!”
⚝ ⚝ ⚝
Sau cuộc họp, Hứa Thụy Long gọi nhóm Đỗ Kiến Bình đến văn phòng mình họp riêng, nhắc lại trọng tâm các nhiệm vụ tiếp theo. Đột nhiên ông hỏi Sở Thiên Anh, “Dạo gần đây Lưu Tư Miễu đang làm gì?”
Sở Thiên Anh ngây ra, “Lưu Tư Miễu ạ? Hình như dạo này cô ấy toàn ở Trung tâm Bảo quản vật chứng.”
“Cô ấy bảo Mã Tiếu Trung và Quách Tiểu Phần điều tra vụ núi Chuột Quét phải không?”
“Đâu ạ? Làm gì có chuyện đó.” Sở Thiên Anh cãi vội. “Lưu Tư Miễu biết quy định mà, đã rời ban điều tra sẽ không xen vào vụ án.”
“Cậu đừng có bao che cho cô ấy!” Hứa Thụy Long nói, “Sáng nay Trại giam Số 1 gọi cho tôi, bảo chiều qua Mã Tiếu Trung và Quách Tiểu Phần đến chỗ họ hỏi về hồi Chu Lập Bình ở trong tù. Nếu không có Lưu Tư Miễu làm chỗ dựa, Mã Tiếu Trung dám làm thế sao?”
“Chắc Quách Tiểu Phần muốn nhân vụ án này viết bài chuyên đề về nhân vật, nhờ Mã Tiếu Trung mở đường.” Sở Thiên Anh trả lời. “Anh biết mà, cứ có chuyện là phóng viên lại đi bới móc quá khứ.”
“Vấn đề là Quách Tiểu Phần đã nghỉ việc tại tòa soạn, cậu không biết à?” Hứa Thụy Long trừng mắt với Sở Thiên Anh, “Họp xong cậu gọi cho Mã Tiếu Trung, bảo phải biết chừng biết mực.” Ông quay sang hỏi Đỗ Kiến Bình, “Sao Đào Chước Yêu chưa về nước?”
Đỗ Kiến Bình đáp, “Chúng tôi đã nhờ Sở Cảnh sát Paris và Đại sứ quán tại Pháp nhanh chóng tìm và giục cô ta về nước…”
Thấy Đỗ Kiến Bình ngập ngừng, Hứa Thụy Long sốt ruột, “Có khó khăn gì anh cứ nói.”
Đỗ Kiến Bình dè dặt, “Tôi nghe nói Quỹ từ thiện Ái Tâm đánh tiếng với bên trên…”
“Bậy bạ!” Hứa Thụy Long nổi cáu, “Bên trên gì? Bên trên nào? Bây giờ ‘làm theo pháp luật’ chính là bên trên! Không có luật ngầm, không có giao dịch riêng, tất cả đều phải chính đáng, rõ ràng. Anh làm đúng pháp luật thì quốc gia bảo vệ anh, anh vi phạm pháp luật thì ông trời cũng không bao che được cho anh, đơn giản thế thôi!”
Đỗ Kiến Bình gật đầu vâng dạ.
“Đỗ Kiến Bình này.” Hứa Thụy Long định cho thêm một bài, cuối cùng lại thôi. “Đừng để càng làm lâu năm càng nhát gan. Anh cũng thuộc hàng lão làng trong ngành, không thể hơi tí lại sợ sệt. Phải khắc sâu trong lòng rằng lợi ích của nhân dân là trên hết.”
Rời văn phòng giám đốc, Sở Thiên Anh gọi điện truyền đạt lời cảnh cáo của Hứa Thụy Long cho Mã Tiếu Trung, đồng thời nhờ anh ta chuyển lời cảm ơn đến Hô Diên Vân, ngoài ra nói rõ Quỹ từ thiện Ái Tâm dẫu có “đánh tiếng” cũng vô nghĩa.
Cúp điện thoại, Mã Tiếu Trung chớp đôi mắt híp, nói với những người đang ngồi trong phòng, “Cuộc gọi vừa rồi của Sở Thiên Anh có nội dung phong phú lắm đấy!”
Lúc xem hóa đơn bữa tối của Hình Khải Thánh tại quầy bar khách sạn Hà Phong và phát hiện tối đó lão không uống rượu, Hô Diên Vân đã báo lại ngay cho Lưu Tư Miễu cả chuyện này lẫn kết quả “khám xét” tầng bốn nhà E cùng Lý Chí Dũng. Tuy căm ghét Hô Diên Vân, nhưng Lưu Tư Miễu buộc phải thừa nhận người này rất giỏi suy luận. Ngoài ra cô cũng cho rằng hành vi của Đào Chước Yêu và Trương Xuân Dương vào đêm xảy ra án mạng rất đáng nghi, bèn chỉ đạo Sở Thiên Anh khi tham gia họp phải đưa tờ hóa đơn ra làm bằng chứng, đồng thời khéo léo chuyển hướng điều tra sang Đào Chước Yêu và Trương Xuân Dương.
Lúc này, Quách Tiểu Phần, Mã Tiếu Trung và Lý Chí Dũng đang ở nhà Hô Diên Vân, trao đổi với nhau tình hình điều tra mấy ngày nay. Khi Mã Tiếu Trung thuật lại những điều Sở Thiên Anh vừa nói, Quách Tiểu Phần không khỏi bật cười. “Hứa Thụy Long đang giơ cao đánh khẽ đấy, ‘biết chừng biết mực’ tức là bật đèn xanh cho chúng ta rồi.”
“Và ông ấy cũng muốn ám chỉ cho Đỗ Kiến Bình biết vụ án này không chỉ có mình anh ta điều tra, từ đó đốc thúc anh ta tăng tốc.” Hô Diên Vân nhìn sang Lý Chí Dũng, “Tôi không hiểu lắm, hôm chúng ta đến khách sạn Hà Phong, Đậu nói Hình Khải Hiền đã ‘đánh tiếng với bên trên’, Liêu cũng bảo bọn họ ‘có chỗ dựa vững chắc’, nghe như thể Quỹ từ thiện Ái Tâm đang núp bóng cái ô to lắm, sao Hứa Thụy Long lại cho rằng không hề có chuyện này?”
Lý Chí Dũng cười. “Hô Diên Vân này, cậu vào sở thú chắc từng xem núi khỉ rồi nhỉ. Một cái lồng lớn nhốt cả trăm cả ngàn con khỉ nhảy nhót qua lại, già trẻ lớn bé đực cái có hết. Chúng ăn uống, chơi đùa, thưởng phạt và đặt ra cấp bậc theo quy tắc của mình…
“Quỹ từ thiện Ái Tâm chẳng khác nào bầy khỉ tự nhốt mình trong núi khỉ. Bọn họ tạo ra hệ thống rồi tự mua vui trong đó, mặc kệ và bài xích người ngoài, thậm chí cả thế giới bên ngoài. Bản thân hệ thống này được xây dựng và duy trì nhờ nhiều mối quan hệ, nên họ tưởng mọi việc trên đời đều có thể giải quyết bằng quan hệ. Hễ xảy ra vấn đề, họ không tự mình xử lý mà sẽ nhờ vả người quen, tìm được mối quen hay không, giải quyết được hay không cũng vậy, tóm lại cuối cùng họ luôn nói như thể chuyện đã thu xếp đâu vào đấy. Họ lừa gạt lẫn nhau nhưng lại tin sái cổ lời người khác nói, ngày ngày sống trong vô số lời dối trá nhưng vẫn vui vẻ hạnh phúc. Không ai được dỡ cái lồng của họ ra dù muốn tốt cho họ đi chăng nữa. Kẻ nào dám dỡ ra, họ sẽ liều mạng với kẻ đó. Tất nhiên do bị nuôi nhốt lâu ngày nên họ không có sức chiến đấu, chỉ biết gào thét khóc lóc suông…”
“Người như họ làm sao tồn tại lâu dài trong xã hội được?”
“Vấn đề là ở chỗ đó. Một quần thể như vậy chẳng những sống được mà còn sống tốt, có thể dễ dàng loại bỏ những đối thủ cạnh tranh tuy ưu tú nhưng ô dù không đủ to.” Lý Chí Dũng cười nhạt, “Lấy ví dụ ngành quan hệ công chúng nhé, nhân viên các công ty như Blue Focus hay Ogilvy thường làm việc như điên 24/7, không ngủ không nghỉ, giành đơn giật khách như cướp đồ ăn trong nạn đói. Công ty Minh Di thì sao, hôm đến đó cậu cũng thấy rồi đấy, giờ làm việc chẳng có mấy người, đa số nhân viên đi làm toàn chơi điện tử, tan làm đi hát karaoke, hết ăn lại chơi. Nhưng chỉ cần Minh Di chúng tôi lấy danh nghĩa Quỹ từ thiện Ái Tâm ra, cả đống công ty đều tranh nhau tìm đến, tới nỗi bọn tôi còn phải chọn lựa…”
“Tại sao?” Mã Tiếu Trung tò mò.
“Vì chúng tôi là đơn vị trực thuộc Quỹ từ thiện Ái Tâm, mà quỹ này có ‘quyền được giảm thuế’…”
“Đáng lẽ các đơn vị từ thiện phải được nhà nước miễn hẳn thuế chứ? Sao lại có ‘quyền được giảm thuế ở đây?” Quách Tiểu Phần ngạc nhiên.
“Đa số các doanh nghiệp quyên góp cho tổ chức từ thiện chỉ đơn giản vì muốn làm việc công ích, nhưng một vài doanh nghiệp làm vậy để giảm thuế. Chính sách của nhà nước nêu rõ, nếu doanh nghiệp quyên góp số tiền nhất định cho tổ chức từ thiện sẽ được giảm thuế theo tỉ lệ tương ứng. Tuy nhiên, không phải quyên góp cho bất cứ ai cũng được giảm thuế, vì các tổ chức từ thiện tư nhân không có quyền này. Quỹ từ thiện Ái Tâm lại khác, dù là tư nhân nhưng sau lưng có cây cao bóng cả, nên mới có ‘quyền được giảm thuế…”
“Nói trắng ra là lũ hèn mạt!” Mã Tiếu Trung chửi, “Làm ăn đàng hoàng cần quái gì giảm thuế kiểu đấy?!”
“Chuyện này anh không hiểu rồi.” Lý Chí Dũng đáp. “Trong Quỹ từ thiện Ái Tâm và đơn vị trực thuộc, mấy ai không có gia thế? Anh quyên tiền tức là nuôi sống bọn chúng. Đôi khi cho thú cưng ăn ngon còn dễ lấy lòng người chủ hơn trực tiếp nịnh nọt họ, vậy nên các doanh nghiệp mới tranh nhau bợ đỡ chúng tôi, dựa vào chúng tôi để bắc quan hệ với bên trên.”
Nghe đến đây, Hô Diên Vân không khỏi thở dài.
“Mấy năm gần đây nước ta ngày càng đẩy mạnh chống tham nhũng, tuy bị dồn vào đường cùng nhưng bọn chúng vẫn ôm nhau sống ngày nào hay ngày đó.” Lý Chí Dũng lại nói, “Hôm chúng ta đến nhà khách Yến Triệu tìm Tôn Tĩnh Hoa, cậu Hô Diên Vân còn thắc mắc thời nào rồi vẫn ghi chép danh sách đăng kí ra sổ, nhớ không? Vì bộ phận phụ trách hội trường của nhà khách kiểu này cũng là ‘núi khỉ’ mà tôi nói đấy. Với họ, việc đáng sợ nhất là phải tiến hóa, chỉ cần hiện trạng được duy trì và không ảnh hưởng việc ăn chơi nhảy múa, họ có vắt vẻo trên cây thêm vạn năm nữa cũng được.”
Quách Tiểu Phần nói khẽ, “Không tưởng tượng nổi thế kì 21 rồi vẫn còn tồn tại loại người này…”
Lý Chí Dũng nặng nề đáp, “Trước kia tôi làm cảnh sát chỉ toàn thấy cái ác hiển hiện bên ngoài, đến khi cởi cảnh phục rồi mới phát hiện cái ác tiềm ẩn bên trong. Cái lộ ra thì ăn thịt người, cái ẩn giấu nuốt đến tận xương, chẳng biết cái nào tồi tệ hơn…”
“Sau đó anh và Hô Diên Vân không đến Yến Triệu nữa à?”
“Có đến, nhưng nhân viên ở đó kiên quyết không cho gặp nếu không hẹn trước, chúng tôi đành đặt hẹn ngày kia.” Lý Chí Dũng bất lực. “À phải rồi, cô và Mã Tiếu Trung đi tìm Phòng Mai chưa?”
“Sáng hôm qua đi rồi, tiếc là không gặp được vì cô ấy đi công tác Thượng Hải, tuần sau mới về. Chúng tôi đổi sang đến Trại giam Số 1 thành phố tìm hiểu về Chu Lập Bình hồi ngồi tù.”
Người tiếp đón Quách Tiểu Phần và Mã Tiếu Trung là ông Phùng, quản giáo khu 16 Trại giam Số 1 thành phố. Ông Phùng có gương mặt dài khó tả, nói đã chậm còn thích ngâm nga, được mỗi cái trình bày mạch lạc. Ông ta kể, Chu Lập Bình chưa đủ 18 ở thời điểm gây án nên bị tạm giam ở trại cải tạo trẻ vị thành niên. Đến khi kết án hắn đã qua 18 tuổi nên được chuyển sang Trại giam Số 1 và ở đó suốt tám năm.
Trong trại giam cũng phân chia cấp bậc. Tội phạm cưỡng hiếp là bọn le ve, tội phạm giết người mới là kẻ nằm ở đỉnh tháp. Tù nhân nghe phong thanh Chu Lập Bình là sát nhân hàng loạt nên chẳng ai dám chọc đến. Tuy hắn còn trẻ, nhưng theo quy định xưng hô, các phạm nhân khác phải gọi hắn là “ông Bình”.
Khi “ông Bình” mới đến, quản giáo trại giam phải họp riêng để bàn xem nên sắp xếp cho hắn làm việc gì. Không thể để phạm nhân có “mức độ bạo lực cực cao” tiếp xúc với các loại dụng cụ. Nấu cơm trong bếp cần dùng dao, loại. Cắt cây tỉa cành cần kéo làm vườn, loại. Đào đường xới đất cần dùng cuốc xẻng, loại ngay và luôn… Nhưng cũng không thể để hắn ngồi không, rảnh rỗi sinh nông nổi. Sau cùng họ quyết định cho hắn quản lý thư viện. Ai ngờ chưa đầy một tháng, thư viện đã có diện mạo hoàn toàn mới. Ông Phùng kể:
“Hằng ngày, Chu Lập Bình lau chùi bàn ghế và kệ sách sạch bóng, quyển sách nào cũ nát đều được sửa lại và bọc bìa kĩ càng. Hắn còn xin cài phần mềm quản lý thư viện để quản lý việc cho mượn sách. Nhìn hắn ngày ngày vùi đầu dán mã vạch từng quyển sách, rồi quét mã nhập vào máy tính, chẳng ai ngờ hắn giết nhiều người thế.”
Theo ông Phùng, Chu Lập Bình thuộc loại phạm nhân dễ trông coi nhất: không lười biếng, không gây chuyện, thuộc lòng và thi hành tốt kỉ luật trại giam, thậm chí còn làm tốt hơn yêu cầu của quản giáo. Nhưng hắn có một điểm đặc biệt. Nói thẳng ra, trại giam như cái hũ kín nhốt đủ loại côn trùng độc, tuy có người trông coi, nhưng không cẩn thận vẫn xảy ra xô xát, sứt đầu mẻ trán chết người như chơi. Vậy nên các phạm nhân luôn âm thầm chia bè kết phái để tự bảo vệ mình. Chỉ có Chu Lập Bình là ngoại lệ. Hắn cực kì độc lập, như lời ông Phùng thì hắn “hơi kiêu ngạo và coi thường những phạm nhân khác”. Suốt tám năm trong tù, hắn không kết bạn với ai, kẻ nào nhận hắn làm đại ca, hắn mặc kệ, tên trùm nào muốn lôi kéo, hắn chẳng đếm xỉa. Phạm nhân khác dám xử sự như hắn chắc chắn đã bị “dạy dỗ” từ lâu, nhưng hắn là “tội phạm giết người hàng loạt”, chẳng kẻ nào sống trong trại dám nhận mình tàn bạo hơn hắn, đại ca trong tù hung hăng đến mấy cũng phải tránh xa hắn.
“Bình thường Chu Lập Bình rất ít nói, cứ trầm ngâm suốt, rảnh rỗi lại đọc sách và tập luyện. Hắn thường hít đất, chạy tại chỗ, hít xà bằng thanh ngang giường tầng trong phòng giam nên cơ thể săn chắc rắn rỏi.” Ông Phùng kể tiếp. “Cuộc sống trong trại giam đâu chỉ có ăn, ngủ và lao động cải tạo như người ta tưởng tượng. Với mong muốn giúp phạm nhân hòa nhập xã hội sau khi ra tù, chúng tôi sắp xếp rất nhiều nội dung học tập và rèn luyện, phần lớn giáo viên cũng là tù nhân. Hắn đăng kí nhiều môn, học hành rất chăm chỉ. Đặc biệt ở môn sửa chữa xe hơi và bảo trì đồ điện, hắn tiến bộ cực nhanh và còn giỏi hơn thầy, về sau cán bộ quản giáo chúng tôi toàn nhờ hắn sửa xe và đồ điện trong nhà, cái gì hắn cũng sửa được. Lâu dần mọi người không còn cảnh giác với hắn như trước. Ai ngờ đến năm thứ năm thì hắn gây chuyện lớn.”
Có một phạm nhân là “anh Hắc”, vào tù vì tội cướp giật và cưỡng hiếp. Với loại ác ôn phạm hai tội cùng lúc, các phạm nhân khác thường không dám hành hạ như vẫn làm với tội phạm cưỡng hiếp. Tên này đã không biết hối lỗi lại còn suốt ngày khoe khoang mình đã cưỡng hiếp bao nhiêu bé gái, còn miêu tả sinh động những cô bé đó chảy máu và kêu khóc ra sao… Một vài phạm nhân báo cáo với cán bộ quản giáo nên Hắc bị giam riêng vài ngày, đến khi được thả, gã lại tiếp tục ba hoa. Một ngày nọ ở sân tập, khi gã đang kể lại chiến tích huy hoàng của mình cho đám khán giả trung thành, Chu Lập Bình vốn đang sửa hàng rào thì tự nhiên đi tới. Theo các phạm nhân khác nhớ lại, dáng đi và vẻ mặt của hắn rất bình thường, giống như vô tình đi ngang qua, nhưng đúng vào lúc hắn đến trước mặt Hắc, một thứ gì đó thình lình lộ ra khỏi tay hắn. Nhanh như chớp, hắn đâm mạnh mấy nhát vào tinh hoàn của Hắc, rồi bình thản bỏ đi.
Thấy Hắc vừa ôm vùng kín chảy máu đâm đìa vừa lăn lộn kêu gào trên mặt đất, vài phạm nhân đứng quanh đó nôn thốc nôn tháo, một số người còn trẻ thì sợ đến nỗi sụp xuống òa khóc…
Tuy cán bộ quản giáo không tận mắt chứng kiến, nhưng sau khi biết chuyện, họ sực nhận ra Chu Lập Bình vẫn là Chu Lập Bình. Hắn ra tay nhanh chóng, thủ đoạn hiểm độc, cách thức tàn bạo. Hắn vẫn là tên sát nhân biến thái vô nhân đạo của ngày xưa.
Kết quả điều tra cho thấy hung khí trong tay Chu Lập Bình là một cây đinh dài được nhổ từ hàng rào. Hắn bị còng chân giam vào buồng riêng. Vài ngày sau hắn bắt đầu tuyệt thực, nhưng trong trại giam, làm vậy chỉ dẫn đến hình phạt nghiêm khắc hơn…
“Sau đó thì sao?” Hô Diên Vân sốt sắng hỏi.
“Cậu không đoán được ai cứu hắn đâu.” Quách Tiểu Phần nói.
“Ai?”
“Lâm Hương Minh.”
“Lâm Hương Minh?!” Hô Diên Vân sửng sốt.
“Ừ, Lâm Hương Minh.” Quách Tiểu Phần đáp. “Hồi ấy cậu ta vừa về nước và bắt đầu ‘Kế hoạch phỏng vấn người có nhân cách biến thái’ đầu tiên trên toàn quốc. Theo đó, cậu ta sẽ phỏng vấn những trọng phạm giết người hiện bị bắt giữ, nhằm hiểu rõ đặc điểm của loại tội phạm này trong nước. Trước kia cậu ta từng tham gia điều tra vụ án của Chu Lập Bình, có thể xem là nhân tố trực tiếp giúp hắn được giảm nhẹ hình phạt, nhưng từ khi hắn bị bắt, cậu ta chưa từng gặp riêng hắn. Nghe nói sau sự việc trên, cậu ta đã đến nói chuyện với hắn.”
Hô Diên Vân trợn tròn mắt, thở gấp, “Phía trại giam có lưu lại ghi chép cuộc trò chuyện không?”
“Không.” Quách Tiểu Phần lắc đầu. “Kế hoạch của Lâm Hương Minh được đăng kí dưới dạng công trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia và được tài trợ nên có tính bảo mật. Cuộc gặp giữa cậu ta và Chu Lập Bình được tiến hành riêng, không lưu lại bất cứ văn bản, hình ảnh hay video nào.”
Hô Diên Vân thất vọng tràn trề.
“Theo ông Phùng, cuộc phỏng vấn kéo dài hơn hai tiếng. Sau đó không lâu, Lâm Hương Minh đưa ra báo cáo giám định tâm thần của Chu Lập Bình, nêu rõ việc hấn tấn công Hắc chỉ là hành vi bộc phát do rối loạn tâm thần gián đoạn, được miễn trừ trách nhiệm trước pháp luật. Lâm Hương Minh rất có uy tín trong lĩnh vực này, lại là người được Hứa Thụy Long xem trọng và mời về từ nước ngoài, bởi vậy phía trại giam rất nể mặt cậu ta, lập tức thả Chu Lập Bình ra khỏi buồng giam riêng.” Quách Tiểu Phần kể. “Sau khi được thả, Chu Lập Bình đã có thay đổi rất lớn về mặt tinh thần.”
Bất mãn khi biết Lâm Hương Minh lại cứu Chu Lập Bình, Lý Chí Dũng càu nhàu, “Có phải hắn đắc ý lắm không?”
“Không hề.” Quách Tiểu Phần đáp. “Ông Phùng nói kể từ ngày đó cho đến khi ra tù, Chu Lập Bình vẫn chăm chỉ lao động, tích cực cải tạo, nói chung hành động không có gì thay đổi. Tuy nhiên, trước kia hắn luôn toát ra vẻ tuyệt vọng, lạnh lùng và hoang mang, sau buổi gặp với Lâm Hương Minh, đôi mắt hắn đã ánh lên tia sáng, thỉnh thoảng còn lộ nét cười. Đây là điều chưa từng xảy ra suốt năm năm trước đó.”
Lý Chí Dũng nhăn nhó khó hiểu.
Hô Diên Vân lững thững đến bên bàn sách, lật tấm kính trên mặt bàn lấy ra tấm hình đã ố vàng. Đó là ảnh lưu niệm cậu ta chụp cùng nhóm bạn thân khi đi du lịch Thanh Đảo thời cấp ba. Bên bờ biển mây mù giăng kín, một nhóm học sinh liều lĩnh ngồi trên vách đá cheo leo, ai cũng cười rạng rỡ. Chỉ có cậu trai tuấn tú ngồi cạnh Hô Diên Vân là khác. Cậu ta cũng mỉm cười, nhưng nụ cười toát lên vẻ sầu muộn…
“Hô Diên Vân, sao vậy?” Quách Tiểu Phần khẽ hỏi.
Đứng lặng hồi lâu, Hô Diên Vân thở dài, “Cô không để ý sao? Cứ mỗi lần Lâm Hương Minh xuất hiện dù chỉ thoáng qua, vụ án nào cũng có kết cục ngoài dự liệu.”
Thấy Chu Lập Bình cải tạo tốt nên đến năm thứ tám, trại giam nhiều lần xin giảm án cho hắn và được tòa án nhân dân trung cấp của thành phố thông qua, vậy là hắn được thả trước thời hạn. Điều này đã dấy lên những luồng ý kiến trái chiều, bởi loạt án giết người ở Tây Giao còn trong thời hạn truy tố, cảnh sát khu vực vẫn đang tiếp tục cố gắng điều tra. Nhưng tám năm trôi qua, họ chưa phát hiện ra bằng chứng Chu Lập Bình giết ai khác ngoài Phòng Chí Phong, nên đành thả hắn.
Lúc ra tù, Chu Lập Bình không xúc động như người ta tưởng, cũng chẳng có khung cảnh lâm li bi đát nào. Hắn hết sức bình thản làm thủ tục và thay bộ quần áo mới ông Phùng mua cho, rồi rời khỏi nơi đã giam giữ mình tám năm. Ngày bị bắt, hắn tay không vào tù. Ngày được thả, hắn có trong túi quần tờ giấy mãn hạn tù và tấm thẻ ngân hàng. Trại giam đã chuyển vào thẻ số tiền hắn kiếm được nhờ lao động cải tạo.
“Chẳng ai đến đón. Tôi đưa hắn ra cổng, hắn cứ thế mà đi.” Ông Phùng nói.
Quách Tiểu Phần kể xong, cả căn phòng không một tiếng động. Hô Diên Vân vẫn đau đáu nhìn tấm ảnh cũ như thể đang đắm mình trong kí ức xưa.
Ngoài cửa sổ, gió thu rít gào. Mấy cây dương cao lớn trong sân lắc lư chao đảo làm làm lá vàng rụng lả tả, tạo cảm giác giữa không trung có vô số dòng nước xiết chảy cuồn cuộn…
“Này, Hô Diên Vân…” Quách Tiểu Phần gọi, “Tiếp theo chúng ta phải làm gì?”
Hô Diên Vân không đáp.
“Theo kế hoạch đã bàn, tôi và Hô Diên Vân cần tìm cô gái tóc dài quen biết Chu Lập Bình.” Lý Chí Dũng nhìn sang Mã Tiếu Trung. Trước đó, chính Mã Tiếu Trung đã vỗ ngực đảm bảo mình có thể lấy được thông tin liên hệ của cô gái kia thông qua La.
Mã Tiếu Trung chửi rủa, “Cái cậu La này, chẳng biết chết giẫm ở xó nào mà tìm mãi không thấy. Thôi thế này đi, để tôi và Quách Tiểu Phần lo chuyện này, lát nữa tôi đến chi nhánh công ty Viên Mãn ép quản lý giao cậu La ra!”
“Không cần gấp đâu.” Hô Diên Vân thong thả cất tiếng. “Việc cấp thiết lúc này là tiếp cận nhóm quản lý cấp cao của Quỹ từ thiện Ái Tâm để tìm hiểu thêm thông tin… Đến tận bây giờ, tôi vẫn cảm thấy cả chúng ta và cảnh sát đều mới luẩn quẩn ở bề nổi vụ án chứ chưa mò được tới đáy. Ta nên thay đổi phương hướng điều tra, tập trung vào Quỹ từ thiện Ái Tâm, vào Đào Chước Yêu, Trương Xuân Dương và Hình Khải Thánh. Vì rất có khả năng Chu Lập Bình chỉ là người lên xe giữa đường, không hề liên quan đến nơi chiếc xe khởi hành…”
Lý Chí Dũng thở dài, “Thế thì khó đấy, văn phòng ở khách sạn Hà Phong đã như một vương quốc riêng bất khả xâm phạm, huống chi là tầng lớp lãnh đạo cấp cao của Quỹ từ thiện Ái Tâm. Trong công ty Minh Di, chắc chỉ có mình Trịnh Quý tiếp xúc với họ, nhưng đừng mơ nhờ anh ta thăm dò, vì làm thế chẳng khác nào bảo anh ta tự đập bát cơm của mình.”
Đúng lúc này, điện thoại Lý Chí Dũng đổ chuông. Anh nhấc máy nghe, sắc mặt dần trở nên khó coi. Cúp máy, anh thở dài, “Tôi phải ra ngoài một chuyến.”
“Sao thế?” Hô Diên Vân hỏi.
“Trung tâm Bảo hiểm xã hội gọi, nói là đơn đăng kí của mẹ tôi cần phải nộp kèm bản sao hai mặt căn cước công dân. Bây giờ tôi phải về nhà lấy căn cước của mẹ để đi photo rồi nộp.”
“Sao lần trước bọn họ không nói luôn?” Hô Diên Vân hơi cáu.
“Ai biết, họ chẳng nói lý do, chỉ bảo tôi nộp ngay.” Lý Chí Dũng cười mệt mỏi, quay gót bỏ đi.
Bàn bạc suốt buổi sáng, lúc này ai nấy đều đói meo. Hô Diên Vân vào bếp nấu mì ăn liền rồi bưng nồi ra cho cả bọn cùng ăn. Có lẽ tại nhắc đến Lâm Hương Minh nên ai cũng thấy nặng nề, chỉ lặng lẽ ngồi ăn. Mã Tiếu Trung rất sợ yên tĩnh, cố tình gợi chuyện để nói.
“Hô Diên Vân này, cậu với Lưu Tư Miễu thế nào rồi?”
Hô Diên Vân giật mình, “Tôi và cô ấy… thế nào là sao?”
“Còn giả vờ giả vịt!” Mã Tiếu Trung cười hì hì, “Cậu tưởng bọn tôi không biết cậu thật lòng thích ai suốt bao năm qua à?”
“Vớ vẩn.” Hô Diên Vân đỏ mặt.
“Vớ vẩn cái gì, hễ Lưu Tư Miễu gặp chuyện là cậu lại vọt tới dù xa xôi cách trở đến mấy. Tâm tư ấy cậu giấu nổi ai?” Anh ta huých cùi chỏ vào Quách Tiểu Phần, “Cô thấy anh nói đúng không?”
Quách Tiểu Phần liếc Hô Diên Vân, cúi đầu ăn tiếp.
Hô Diên Vân ấp úng, “Tôi chỉ sợ ngộ nhỡ Lưu Tư Miễu gặp chuyện, Lâm Hương Minh mà về thì tôi không biết ăn nói sao thôi.”
Mã Tiếu Trung đập đũa lên bàn, giơ ngón tay cái lên, “Có nghĩa khí! Ngàn dặm đưa chị dâu, Quan Vân Trường đương đại, nhưng nhớ đừng đưa người ta lên giường mình là được!”
Hô Diên Vân lặng thinh.
Thấy Hô Diên Vân chịu thua, Mã Tiếu Trung cười toe toét, vỗ vai cậu ta, “Đừng để bụng nhé, chú em làm gì chẳng giỏi hơn tôi, chỉ thua mỗi hai điều. Thứ nhất là không đẹp trai bằng, thứ hai là không thẳng thắn bằng. Ví dụ tôi thích Quách Tiểu Phần nhé, tôi sẽ bày tỏ thẳng với cô ấy rồi cố hết sức theo đuổi, thành công thì cô ấy thuộc về tôi, thất bại thì do cô ấy không may mắn có được tôi. Từ ngày Lâm Hương Minh biến mất, chớp mắt đã qua ba năm, góa phụ cũng tái hôn được rồi. Chú em định để Lưu Tư Miễu làm hòn vọng phu mãi à?”
“Ôi chà, đúng thế còn gì, chớp mắt đã ba năm…” Quách Tiểu Phần rầu rĩ. “Nhóm mình càng ngày càng khó tụ họp đông đủ.”
“Phải đấy!” Mã Tiếu Trung cũng không khỏi cảm khái, “Nhớ cái thời chúng ta cùng tổ chuyên án quá.”
Quách Tiểu Phần nhìn ra cửa sổ, thủ thỉ, “Tôi còn nhớ tổ chuyên án được lập ngay bên ngoài quán mì bò nằm gần cửa Bắc của Đại học Cảnh sát. Ngày hôm đó, sau khi kết thúc buổi tọa đàm với sinh viên về phác họa đặc điểm tội phạm, Lâm Hương Minh vừa ra khỏi cửa đã bị ông Long và ông Đa ngồi dự thính túm ngay đi… Cậu ta gọi thêm cả tôi, chị Lôi Dung và Lưu Tư Miễu tới quán mì đó, vừa ăn vừa phân công, sau đó lái xe đưa chúng tôi đi đón Hô Diên Vân. Hô Diên Vân uống say khướt, còn nôn thốc nôn tháo ra đất…”
Hô Diên Vân ngượng ngùng, chợt nhận thấy vẻ mặt và giọng điệu của Quách Tiểu Phần hơi kì lạ, “Cô làm sao vậy?”
Quách Tiểu Phần đứng lên, “Không sao… Mọi người ăn xong rồi nhỉ, để tôi rửa bát.” Cô để bát đũa vào nồi rồi mang vào bếp. Nghe tiếng nước chảy ào ào, Hô Diên Vân và Mã Tiếu Trung nhìn nhau.
“Có phải bị ai bắt nạt không?” Hô Diên Vân hỏi Mã Tiếu Trung.
“Cậu đi hỏi khắp đất Bắc Kinh xem kẻ nào ăn gan hùm mật gấu mà dám bắt nạt người tôi thích?” Mã Tiếu Trung làm mặt dữ tợn. “Có điều gần đây cô ấy hơi bất thường. Trước kia lúc nào cũng tươi cười rạng rỡ, đi phỏng vấn toàn chen thật lực lên trước, tay trái cầm máy ảnh tay phải cầm bút ghi âm, cực kì hăng hái. Giờ lại thành Lâm Đại Ngọc đa sầu đa cảm…”
“Hay là do mất việc làm?”
“Cũng có thể… Mà tôi nghe nói hơn nửa năm nay cô ấy chuyển nhà xoành xoạch, đến con mèo hay nuôi cũng đem cho, hình như còn ngủ qua đêm trên ghế đá công viên. Tôi hỏi có chuyện gì, cô ấy không nói.”
Hô Diên Vân ngây cả người. Đúng lúc này chuông điện thoại reo, cậu ta bắt máy, nghe thấy giọng Lý Chí Dũng, “Tôi xong việc bên Trung tâm Bảo hiểm xã hội rồi, có điều không sang chỗ cậu được.”
“Sao thế?”
“Trịnh Quý vừa gọi điện bảo tôi về công ty ngay, nghe giọng gấp lắm, chẳng biết có chuyện gì.”
“Được rồi, có tin gì anh báo ngay cho tôi!”
Lý Chí Dũng cúp máy rồi lái xe tới Nhuận Đường. Vào tòa D, đến văn phòng tổng giám đốc, anh thấy Trịnh Quý chọc ngón trỏ lên màn hình điện thoại như đang chơi game, nhưng mặt mũi còn cau có hơn người bị phá sản.
“Sếp, anh tìm tôi à?” Lý Chí Dũng hỏi.
“Lý Chí Dũng, từ khi anh đến công ty, tôi không đối xử tệ bạc với anh đúng không?” Cặp mắt to và hơi sưng của Trịnh Quý trợn lên. “Sao anh lại chơi tôi một vố vậy?”
Lý Chí Dũng ngơ ngác, “Anh nói gì thế?”
“Có phải anh dẫn Hô Diên Vân đến nhà E khách sạn Hà Phong không?” Hai má và bọng mắt của Trịnh Quý run bần bật, trông như con chó sa bì lúc tức giận. Anh ta gào lên, “Tay Đậu báo cho Hình Khải Hiền và Thôi Văn Đào biết, thế là bọn họ tức tốc tìm Liêu hỏi chuyện. Anh cũng biết Liêu chỉ là cái khiên giấy, nhìn thì giống khiên trong tay Captain America nhưng chọc phát rách ngay. Anh ta khai sạch chuyện của anh và Hô Diên Vân, làm Hình Khải Hiền và Thôi Văn Đào gọi tôi sang mắng như tát nước. May tôi phản ứng nhanh lại giỏi cãi, thề thốt khẳng định Hô Diên Vân là nhân viên mới trong công ty nên mới thoát. Nếu mấy người họ biết sự thật, chắc chắn họ sẽ cho rằng tôi ăn cây táo rào cây sung, thông đồng với cảnh sát để điều tra quỹ. Rủi như họ thẳng thừng cắt đứt quan hệ giữa quỹ và công ty, tôi mất đi cây cao để dựa là sẽ lăn quay ra cháy nắng giữa mùa đông đấy, anh tin không?!”
Lý Chí Dũng trân trân nhìn Trịnh Quý rất lâu, cuối cùng thở dài, “Anh Quý, đúng là tôi có lỗi với anh trong chuyện này, để tôi từ chức… Cảm ơn anh đã giúp đỡ bấy lâu nay.”
Dứt lời, Lý Chí Dũng quay người bỏ ra ngoài, về bàn làm việc của mình để thu dọn đồ. Sau đó anh tới phòng nhân sự, nhưng mới đến trước cửa thì bị cản lại.
“Nào nào, vào phòng tôi!” Trịnh Quý lôi xềnh xệch Lý Chí Dũng về văn phòng, đóng cửa lại, ấn anh ngồi xuống ghế đôn gỗ bên bàn trà. Trịnh Quý đun nước pha trà, miệng không ngớt oán trách, “Anh nghỉ làm cảnh sát hình sự bao lâu rồi, sao vẫn nóng tính thế. Tôi làm sếp, mới nói anh mấy câu, anh đã đùng đùng bỏ gánh giữa đường, còn ra thể thống gì nữa? Nhìn tôi làm gì? Uống trà đi!”
Xác nhận Lý Chí Dũng không có ý định đứng lên bỏ đi, Trịnh Quý xòe tay đếm, “Anh cũng biết thừa quỹ này nhìn như một gia đình, nhưng thực tế có bao nhiêu người là bấy nhiêu bè phái! Đám lắt nhắt ta không tính, riêng mấy ông to bà lớn đã chia hai phe: Hình Khải Hiền, Thôi Văn Đào và Đậu một phe; Đào Bỉnh, Đào Chước Yêu và Địch Khánh một phe. Nhóm Hình Khải Hiền muốn xử lý nhóm Đào Bỉnh để nắm quyền quản lý quỹ. Liêu thuộc dạng gió chiều nào theo chiều ấy. Trương Xuân Dương là tình nhân còn Hình Khải Thánh là bác sĩ riêng của Đào Chước Yêu, chẳng có mưu đồ lớn, chỉ muốn bám lấy cô ta kiếm lợi, chẳng may cô ta ngã ngựa cùng lắm bọn họ hết mỏ để đào… Nhưng địa vị hai người đó khác nhau: Hình Khải Thánh là anh trai Hình Khải Hiền, một khi Hình Khải Hiền lên chức sẽ không trơ mắt nhìn anh mình chết đói, nên kiểu gì Hình Khải Thánh vẫn là giám đốc viện bảo trợ. Trương Xuân Dương lại khác, nói thế này hơi tục chứ ổ cắm không còn thì giắc cắm cũng vứt! Vậy nên khi Đào Chước Yêu chuẩn bị kết hôn với Khương Lỗi, Trương Xuân Dương buồn phiền muốn chết.”
Trịnh Quý uống vài hớp trà, nói tiếp, “Còn tôi, tôi vào được quỹ là nhờ ngày trước từng là giảng viên đại học của Đào Chước Yêu, chỉ có mỗi quan hệ thầy trò chứ không thân thiết. Bởi thế tôi cúc cung tận tụy phục vụ nhà họ Đào, không dám gây chuyện, gặp ai cũng xun xoe, có vậy tôi mới xin được chút cơm thừa canh cặn sau khi tiệc tàn… Tôi cũng khổ lắm chứ! Tôi không muốn chọn phe phái, nhưng trong mắt phe Hình Khải Hiền, tôi thuộc phe nhà họ Đào, là cánh tay của Đào Chước Yêu, là đối tượng phải bị tiêu diệt…
“Giờ trên núi Chuột Quét xảy ra chuyện lớn, người chết là anh trai Hình Khải Hiền, hung thủ lại là nhân viên của tôi, Hình Khải Hiền chắc chắn sẽ tranh thủ cơ hội này để đá cha con Đào Bỉnh ra khỏi quỹ, hoặc phân chia lại quyền lực. Anh xem phim xã hội đen Hồng Kông chưa, hai bang phái đánh nhau mãi cũng phải dừng lại, nhưng dừng thế nào? Tất nhiên là đưa một tên đàn em rởm nhất ra gánh tội, biết đâu tôi chính là vật hi sinh đó? Tôi không thể để người ta bắt thóp được!
“Vừa rồi tôi nổi đóa với anh là tôi sai, nhưng trước khi dẫn Hô Diên Vân đi điều tra, anh nên nói trước với tôi một tiếng. Thế mà tôi mới mắng vài câu, anh đã khó chịu bỏ đi. Nhưng anh phải biết, nhân viên trong công ty toàn người có quan hệ dây mơ rễ má, có mỗi anh vào đây là nhờ quen biết tôi, anh bỏ đi thì sau này tôi biết tâm sự với ai?” Trịnh Quý nuốt khan.
Lý Chí Dũng nhìn anh ta, muốn nói nhưng không thốt nên lời, sau cùng nhỏ giọng bảo, “Anh Quý, chẳng lẽ anh cam lòng trói mình vào quỹ này cả đời sao? Mình đừng dựa vào họ nữa, bắt đầu lại từ đầu, chăm chỉ làm việc, gắng sức phấn đấu giống các công ty quan hệ công chúng khác. Tôi không tin anh không có khách hàng hay mối làm ăn…”
Trịnh Quý sờ mớ tóc bắt đầu có dấu hiệu lưa thưa, cười như mếu, “Không được đâu. Tôi già rồi, chưa kể làm việc quá lâu với quỹ nên sớm đã hỏng người, thế mới phiền! Người ta là chim hoàng yến trong lồng, mình là con chim nấp sau lồng hót thay hoàng yến. Người ta chỉ việc há miệng không cần hót, đói khát có người chăm lo, còn mình hót xong chỉ được mổ mấy hạt gạo rơi vãi cạnh lồng. Lâu dần, mình tưởng đang ở ngoài lồng, nhưng thực tế chẳng khác gì chim trong lồng, không thể bay đi.”
Lý Chí Dũng thở dài.
“Đừng thở dài nữa. Tôi còn sầu hơn đây.” Trịnh Quý than thở.
“Sao thế? Có chuyện gì?”
“Hình Khải Hiền nói dạo này phóng viên liên tục đến đòi phỏng vấn nhưng ông ta từ chối hết, thế là đám phóng viên chuyển sang tìm cách phỏng vấn nhân viên trong quỹ. Vấn đề là các nhân viên đều không có kinh nghiệm ứng phó với phóng viên, ngộ nhỡ bị moi ra tin nội bộ thì chết. Hình Khải Hiền bảo tôi đánh tiếng với truyền thông là không nhận phỏng vấn. Bên báo giấy tôi còn quen biết, chứ bên truyền thông mới tôi chịu. Ông ta còn bắt tôi tìm xem có phóng viên nào trước kia từng viết bài phê bình nhưng giờ đã nghỉ việc, mời người ta đến khách sạn Hà Phong hướng dẫn nhân viên cách đối đáp, ông ta cùng quản lý cấp trung và cấp cao của quỹ cũng tham gia học… Tôi tìm đâu ra phóng viên như thế!”
Hai mắt Lý Chí Dũng sáng lên.
“Sao thế, anh nghĩ ra cách à?”
Lý Chí Dũng do dự, sợ gây thêm phiền toái cho Trịnh Quý.
“Trời ơi, lửa cháy lan đến nhà tôi rồi, anh còn nhẫn tâm bưng chậu nước đứng nhìn à?”
Do anh ép tôi đấy nhé, Lý Chí Dũng thầm nhủ. Anh nói, “Tôi nhớ vài năm trước có một phóng viên đến phỏng vấn quỹ về vụ vay nợ sinh viên nhưng bị anh cản lại. Về sau cô ấy vẫn đăng bài, nhưng bài viết không gay gắt như những bên khác…”
Trịnh Quý cố nhớ lại, “Đúng là có một phóng viên như thế thật, là nữ, tên Quách… Quách Tiểu Phần, nổi tiếng với mấy bài phê bình. Sao? Cô ta không viết báo nữa à?”
Lý Chí Dũng gật đầu,“Tôi nghe bạn bè kể, cô ấy rời ngành rồi.”
Trịnh Quý vui mừng vỗ đùi, “Trời giúp! Anh mau tìm cô ấy đi!”
⚝ ⚝ ⚝
Quách Tiểu Phần vừa xuống xe taxi, Liêu và Trịnh Quý chầu chực từ lâu trước cổng khách sạn Hà Phong vội vàng ra đón.
Được Trịnh Quý gọi điện mời đến văn phòng đại diện Quỹ từ thiện Ái Tâm để tham dự buổi tập huấn “ứng phó truyền thông trong khủng hoảng quan hệ công chúng”, Quách Tiểu Phần nhận ra đây là cơ hội ngàn năm có một để thâm nhập nội bộ quản lý cấp cao của quỹ, khỏi phải đau đầu nghĩ cách nữa! Cô cố nén sự phấn khích trong lòng, giả vờ từ chối một hồi mới miễn cưỡng đồng ý, hẹn thời gian vào 4 giờ chiều ngày hôm sau. Cô chọn giờ này vì một buổi tọa đàm thường kéo dài từ một tiếng rưỡi đến hai tiếng, nếu kết thúc đúng vào giờ ăn, nhiều khả năng ban tổ chức sẽ mời cô ở lại dùng bữa. Tin tức trên bàn tiệc luôn có giá trị và đáng tin hơn khi phỏng vấn.
Để màn kịch thêm chân thực, Quách Tiểu Phần dành nguyên buổi tối làm PowerPoint, sáng hôm sau còn bàn bạc kĩ lưỡng với Hô Diên Vân, Mã Tiếu Trung và Lý Chí Dũng. Trước khi cô xuất phát, Mã Tiếu Trung bỗng thấy không yên tâm, “Có cần anh ‘hộ tống’ cô không? Cứ có cảm giác cô đi chuyến này như vào hang cọp ấy.”
“Nghe anh kìa! Tôi có đi nằm vùng đâu, tôi được mời đến hẳn hoi nhé.” Quách Tiểu Phần cãi, “Vả lại, dẫn theo anh để người ta nghi ngờ à, còn làm ăn gì nữa?”
Lý Chí Dũng gật đầu. “Mã Tiếu Trung, anh đừng đi theo kẻo phiền phức thêm. Nhưng Quách Tiểu Phần này, cô nhớ chú ý đừng chủ động hỏi. Nhóm quản lý của quỹ, đặc biệt là Hình Khải Hiền đều cực kì ranh ma. Đừng khiến bọn họ ngờ vực, bằng không hậu quả khôn lường.”
Quách Tiểu Phần bật cười, thầm nghĩ chắc Lý Chí Dũng hù dọa mình thôi, quỹ từ thiện thì dám làm gì đê tiện chứ. Nào ngờ vừa theo Liêu và Trịnh Quý đi qua cổng nguyệt môn màu trắng, cô đã nghe thấy tiếng chửi bới gần đó. Liêu và Trịnh Quý nhìn nhau, cả hai đều lộ vẻ kinh ngạc, cuống cuồng lao đến đầu kia hành lang làm Quách Tiểu Phần cũng phải rảo nhanh bước chân.
Trước cửa nhà E, một người đàn ông trung niên với gương mặt gầy gò đang ra sức hò hét, tìm mọi cách xông vào trong. Vài bảo vệ túm chặt quần áo ông ta cố gắng kéo ra ngoài. Đúng lúc đó, một gã đàn ông vạm vỡ chạy ra khỏi nhà E, giáng cho người trung niên cái bạt tai mạnh đến nỗi ông ta phun ra đất một bụm máu cùng hai cái răng! Dường như bị cú bạt tai tạt bay ý chí, người trung niên rũ ra, gục đầu chán chường.
“Lão Nhạc kia, lão mở to mắt lên mà xem đây là đâu?! Lão tưởng đây là ủy ban huyện nhà lão à, gặp chuyện cứ khóc lóc gây gổ sẽ có người hầu hạ xử lý cho à! Ở đây, đến người bán hàng ven đường cũng có thế có quyền đấy, lão là cái thá gì mà giở thói lưu manh?” Gã vạm vỡ mắng.
“Hình Khải Thánh, Thôi Văn Đào, hồi xưa các người mang máy ủi đến san bằng viện bảo trợ của chúng tôi, tôi đã quỳ xuống cầu xin mà các người vẫn mặc kệ. Sau cùng tôi bảo các người có thể dẫn bọn trẻ đi, nhưng nhất định phải tử tế với chúng. Tôi biết nói thế cũng bằng thừa vì các người chỉ xem bọn trẻ là công cụ hái tiền chứ đời nào chịu đối xử tốt. Nhưng tôi lại nghĩ, các người vừa giỏi giang vừa có thế lực lớn, ít nhất sẽ không để chúng chết đói chết rét…” Người trung niên nói, nước mắt rơi lã chã, “Giờ thì sao, bọn trẻ của tôi đâu, một đứa 12 tuổi, một đứa 9 tuổi, đứa nhỏ nhất mới 5 tuổi, chết cả rồi, không còn nữa rồi…”
Gã vạm vỡ nhe hàm răng vàng khè cười khẩy, “Sống chết có số, trẻ con hay người lớn đều thế, chấp nhận đi…”
Thấy gã định nói thêm, Liêu hấp tấp chạy lại nháy mắt ra hiệu. Gã thoáng ngẩn ra, trông thấy Quách Tiểu Phần liền quay sang nói với bảo vệ, “Lôi người này đi, dặn bảo vệ ngoài cổng khách sạn đừng có thấy ai cũng cho vào!” Đoạn, gã tiến lên bắt tay Quách Tiểu Phần, “Chào cô, tôi là Địch Khánh, chủ nhiệm Văn phòng đại diện Quỹ từ thiện Ái Tâm. Chúng ta lên tầng thôi.”
Quách Tiểu Phần gật đầu, theo Địch Khánh vào trong. Tai cô vẫn nghe văng vẳng tiếng chửi rủa của người trung niên bị bảo vệ kéo đi, “Quân khốn nạn, chúng mày chết không yên thân đâu!”
Họ lên phòng họp tầng ba. Trong phòng, hơn hai chục người ngồi quanh bàn gỗ lim hình bầu dục, đa số là nữ, tuổi từ hai mươi đến bốn mươi. Ai nấy đều mang vẻ biếng nhác, người nhắn tin WeChat, người nghịch điện thoại, người thầm thì cười đùa với đồng nghiệp bên cạnh. Ngay cả khi Quách Tiểu Phần xuất hiện, họ vẫn tiếp tục việc đang làm, chẳng đoái hoài tới cô.
Hình Khải Hiền, Thôi Văn Đào và Đậu cùng bước đến bắt tay Quách Tiểu Phần. Trái ngược với phong thái trang nhã lịch thiệp của Hình Khải Hiền, Thôi Văn Đào vừa xấu vừa gian xảo, còn nổi máu háo sắc cọ ngón cái vào lòng bàn tay Quách Tiểu Phần. Đậu thì trông ốm yếu dặt dẹo.
Địch Khánh vào phòng, ghé tai Hình Khải Hiền, “Đã đuổi đi rồi.”
Hình Khải Hiền không tỏ thái độ với gã, chỉ mời Quách Tiểu Phần vào chỗ ngồi. Ông ta hắng giọng, mở đầu bằng bài phát biểu ngắn gọn, đại ý sau khi xảy ra án mạng trên núi Chuột Quét, phóng viên lũ lượt đến xin phỏng vấn ông ta và các lãnh đạo khác. Tuy các phóng viên đều bị từ chối, nhưng theo ông ta được biết, vẫn có người không rõ lai lịch tìm cách tiếp xúc nhân viên quỹ, thậm chí lẻn vào văn phòng đại diện (nói đến đây, ông ta liếc Liêu và Trịnh Quý) để ngấm ngầm điều tra.
“Hôm nay tôi mời cô Quách Tiểu Phần đến đây với hi vọng cô ấy sẽ hướng dẫn chúng ta cách đối phó với truyền thông. Xin mọi người một tràng pháo tay chào đón cô Quách Tiểu Phần.”
Tiếng vỗ tay vang lên lác đác.
Quách Tiểu Phần lấy USB trong túi xách ra, cắm vào máy tính, mở bài thuyết trình PowerPoint đã chuẩn bị sẵn. Khi ngẩng lên, cô mới ngỡ ngàng nhận ra trên bàn không có máy chiếu, bức tường đối diện cũng không có màn chiếu.
Trịnh Quý nhận ra sự bất thường, “Có rắc rối gì sao?”
“Hôm qua tôi gọi báo anh là sẽ trình chiếu PowerPoint rồi mà?”
Trịnh Quý quay phắt lại hỏi một phụ nữ mập ú, “Cô Hà, cô không nhận được tin nhắn WeChat tôi gửi à? Sao không chuẩn bị máy chiếu?”
Cô mập nhăn nhó, “Đọc tin rồi. Chuẩn bị máy tính rồi đây thây?”
“Không phải, PowerPoint là để minh họa cho bài thuyết trình. Cô không chuẩn bị máy chiếu và màn chiếu thì cô Quách Tiểu Phần trình bày kiểu gì?”
“Phức tạp thế, sao tôi biết được…” Cô mập cấm cảu, “Anh chẳng nói rõ gì cả.”
Liêu vội ra giảng hòa rồi bảo Quách Tiểu Phần, “Ngại quá, cô Hà chỉ là nhân viên văn phòng, không hiểu lắm cái ‘pao poi’ mà cô nói. Bình thường chúng tôi họp không dùng máy chiếu và màn chiếu, bây giờ cũng không kịp đi tìm và lắp đặt. Cô có thể nói chay không?”
Nhân viên văn phòng mà không biết trình bày PowerPoint cần máy chiếu và màn chiếu?! Quách Tiểu Phần mắt chữ O mồm chữ A một hồi, ngơ ngác nhìn quanh phòng họp mới nhận ra chẳng ai cảm thấy khó hiểu. Có người còn che miệng cười chế giễu cô, như thể trông thấy nông dân lần đầu lên thành phố lúng túng đứng nhìn cửa sau xe buýt đóng chặt vì không biết phải lên bằng cửa trước.
Hết cách, Quách Tiểu Phần đành click vào PowerPoint, bắt đầu thuyết trình chay.
Đầu tiên, cô nhấn mạnh trong thời đại thông tin, nhiều khi một vụ khủng hoảng còn chưa kết thúc, thông tin về nó đã phát tán khắp nơi. Từ tính bất ngờ, tính tập trung, tính phá hoại và tính cấp bách của tình huống khẩn cấp, cô đưa ra hai nguyên tắc quan trọng trong quản trị khủng hoảng: một là ưu thế phủ đầu, hai là thời gian vàng.
“Nguyên tắc ‘ưu thế phủ đầu’ nghĩa là người đầu tiên nắm rõ về khủng hoảng sẽ là người thắng trong cuộc khủng hoảng đó.
“Nguyên tắc ‘thời gian vàng’ được mượn từ lĩnh vực cấp cứu. Khi một người lên cơn đau tim, nếu được đưa lên xe cấp cứu trong vòng hai mươi phút, vào bệnh viện trong vòng bốn mươi phút thì xác suất cứu được rất cao. Còn nếu quá thời gian này thì cơ hội sống rất thấp.
“Đáng tiếc, nhiều nhà quản lý lại chọn giữ im lặng trong giai đoạn đầu khủng hoảng, đối phó với truyền thông bằng cách áp dụng ‘quy tắc ba không’: không giải thích, không trao đổi, không quan tâm. Như vậy, vô hình trung họ đã tự đánh mất ưu thế phủ đầu, nhường nó cho đối thủ cạnh tranh, giới truyền thông và các nhà phê bình.” Nói đến đây, Quách Tiểu Phần liếc sang Hình Khải Hiền. Ông ta vẫn ngồi nghiêm chỉnh, mặt vô cảm, dường như không nhận ra cô đang ám chỉ việc ông ta xua đuổi phóng viên.
Chính lúc đó xảy ra một chuyện làm Quách Tiểu Phần suýt đứng hình vì sốc: giữa phòng đột ngột vang lên tiếng tách , nhỏ nhưng rõ mồn một. Ban đầu Quách Tiểu Phần không hiểu đó là âm thanh gì, nhưng cô lại nghe được thêm hai tiếng tách nữa. Lúc này cô mới phát hiện cô gái mặc váy đỏ ngồi bên phải đang cắn hạt dưa!!! Còn Địch Khánh ngồi bên cạnh thì nhón ngay nhận hạt dưa cô ta để trong lòng bàn tay, bỏ vào miệng nuốt chửng.
Quách Tiểu Phần giận tái mặt. Cô làm phóng viên bao năm, thường xuyên đi trao đổi nghiệp vụ với các cơ quan truyền thông, từng đến giảng dạy cho các trường học và doanh nghiệp, nhưng chưa bao giờ bị đối xử thế này. Đây không chỉ là bất lịch sự, mà còn là sự khinh thường, sự xúc phạm nghiêm trọng… Cô cảm thấy mình như con hát cuối đời Thanh được triệu đến vương phủ để biểu diễn. Mặc cho cô cố gắng diễn trên sân khấu, đám vương tôn công tử bên dưới vẫn chỉ mải tán dóc, uống trà, ăn điểm tâm. Họ xem cô như vật trang trí, một thứ để tô vẽ, có cũng được mà không cũng chẳng sao.
Quách Tiểu Phần bỗng chốc quên béng mục đích đến đây hôm nay. Cô quyết tâm cho đám người này biết mặt!
“Tuy nhiên, công khai đối đầu giới truyền thông và công chúng còn ngu xuẩn hơn từ chối phỏng vấn.” Quách Tiểu Phần cao giọng. “Ví dụ vừa rồi ở dưới nhà, tôi nhìn thấy anh Địch Khánh ra tay dạy dỗ một người đàn ông trung niên. Anh ta tát một cái làm ông ta gãy mất hai cái răng. Tôi không biết người đàn ông ấy là ai, làm nghề gì, nhưng giả sử đó là phóng viên đến phỏng vấn, thì cách hành xử của anh Địch Khánh chắc chắn là kiểu tệ nhất.”
Quả nhiên, người trong phòng họp đồng loạt đổ dồn ánh mắt vào cô. Địch Khánh ngơ ngác như bị vụt gậy vào sau đầu, cô gái váy đỏ khựng tay lại không dám cắn hạt dưa tiếp.
“Người xưa có câu ‘phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí’, nghĩa là hiểm họa luôn tiềm ẩn ‘hiệu ứng gợn sóng’. Một hòn đá rơi xuống hồ không chỉ làm nước bắn tung tóe, mà chắc chắn còn tạo ra vô số gợn sóng lan tỏa. Khủng hoảng xuất hiện ngẫu nhiên nhưng không đến một mình, đây là hệ quả kết hợp từ rất nhiều nhân tố. Chính vì thế, một khi xảy ra, khủng hoảng không chỉ dừng ở mức ảnh hưởng tới người và việc liên quan đến nó, mà còn tạo thành nhiều cuộc khủng hoảng hơn. Công chúng sẽ tập trung vào nguồn gốc cơn khủng hoảng, bởi lòng hiếu kì làm con người ta thích hóng hớt. Lúc này tuy đã muộn để dàn xếp ổn thỏa, nhưng ta không được khiến mọi việc càng trầm trọng hơn.”
Quách Tiểu Phần nhìn Địch Khánh, giở giọng dạy bảo, “Những năm gần đây, việc phóng viên bị mắng chửi, đánh đập khi phỏng vấn xảy ra rất thường xuyên. Toàn bộ sự việc đều được ghi hình và đăng lên mạng, tạo ra làn sóng dư luận cực kì mạnh mẽ. Hậu quả là bên gây sự phải lên tiếng xin lỗi và bồi thường, những người có trách nhiệm liên quan đều bị xử lý trước pháp luật.”
Địch Khánh nhăn nhở, cái lưỡi giữa hai hàm răng vàng khè liến thoắng, “Cô không biết đấy thôi, tên đó không phải phóng viên, mà chúng tôi cũng không sợ…”
“Câm miệng, đồ ngu!” Hình Khải Hiền quát tướng làm mọi người giật bắn mình. Địch Khánh tức méo mặt nhưng không dám cãi, chỉ nghiến răng cúi đầu. Hình Khải Hiền đẩy cặp kính viền vàng, lấy lại dáng vẻ và giọng điệu nho nhã, “Xin lỗi cô, mời cô nói tiếp. Xin hỏi nếu không thể từ chối yêu cầu phỏng vấn của phóng viên, ta nên trả lời thế nào?”
Bấy giờ Quách Tiểu Phần mới vỡ lẽ, kẻ ngồi im như pho tượng thật ra vẫn lắng nghe từng câu mình nói. Xem chừng Lý Chí Dũng nhắc cô phải cẩn thận với người này đúng là không phải hù dọa. Cô mau chóng lấy lại tinh thần, từ tốn giảng giải, “Trước khi nhận lời phỏng vấn, phải tự hỏi bản thân bốn điều:
“Đầu tiên, anh biết gì và biết bao nhiêu? Tránh trả lời phỏng vấn khi biết ít tin nội bộ hơn cả giới truyền thông.
“Thứ hai, phải xem vấn đề xuất hiện riêng lẻ hay có hệ thống? Nếu xuất hiện riêng lẻ, anh có thể phân tích theo từng câu cụ thể. Nếu xuất hiện có hệ thống, anh nên nhanh chóng xin ý kiến cấp trên.
“Thứ ba, anh đã chuẩn bị đầy đủ để trao đổi tử tế với truyền thông chưa? Nếu rồi thì nhận lời, còn không, thà kéo dài thời gian chứ đừng để mình có hành vi không đúng mực.
“Cuối cùng, anh đã hiểu rõ về hình thức phỏng vấn chưa? Mỗi loại hình truyền thông có phương thức và góc độ phỏng vấn khác biệt, thái độ của người tiếp nhận cũng không giống nhau. Cùng là thông cáo báo chí, anh gửi cho phóng viên báo giấy sẽ được coi là trang trọng, anh đọc trên ti vi sẽ khiến người ta bực tức.”
Hình Khải Hiền gật đầu lia lịa, “Đúng! Nói quá đúng!”
“Được rồi, giờ ta làm một bài kiểm tra nhỏ. Tôi thấy trước mặt mọi người đều có máy tính xách tay, mời mọi người cùng mở ra. Tôi cho câu hỏi như sau: sau khi trả lời phỏng vấn, nếu phát hiện phóng viên đăng bài viết có chi tiết không đúng sự thật, ta nên làm thế nào? Mọi người cứ thoải mái nêu ý kiến, sau đó gửi câu trả lời cho tôi qua WeChat hoặc QQ.”
Quách Tiểu Phần cho những người tham dự số WeChat và QQ của mình, sau đó đăng nhập vào tài khoản. Chợt cô cảm thấy hơi bất thường. Sao phòng họp yên tĩnh vậy? Đáng lẽ phải có tiếng lạch cạch gõ bàn phím chứ… Quách Tiểu Phần ngẩng đầu, ngạc nhiên khi thấy mọi người đang ngơ ngác nhìn mình.
Chuyện gì thế này?
Cô nhân viên tên Hà bĩu môi, bất mãn nói, “Này cô, ở đây không có giấy bút, bọn tôi làm bài bằng gì?”
“Dùng Word là được, viết xong gửi cho tôi…”
“Word?” Cô ta nhăn mặt. “Word là cái gì?”
Không chỉ riêng cô ta, tất cả người trong phòng đều nhìn Quách Tiểu Phần bằng ánh mât khó hiểu, tựa như đang đồng thanh hỏi, “Word là gì? Word là gì?”
Quách Tiểu Phần tưởng mình đã bị lôi ngược về thời nhà Thanh, không sao giải thích được Word là gì cho những người để tóc đuôi sam… Đây là đâu? Giờ là thời nào? Mấy người này là ai? Cô không biết mình nên khóc hay nên cười, cứ đứng bần thần tại chỗ…
⚝ ⚝ ⚝
Đúng như Quách Tiểu Phần dự liệu, sau buổi tọa đàm, Hình Khải Hiền một mực mời cô ở lại “ăn bữa cơm đạm bạc”. Chỉ chờ cơ hội này, Quách Tiểu Phần giả vờ từ chối lấy lệ rồi đồng ý. Cô không ngờ nhà ăn nằm ngay tầng ba, ở đầu kia hành lang. Lúc chưa bước vào, cô tưởng nơi này như bao nhà ăn nhân viên khác, cũng có bàn ghế nhựa xanh xếp thẳng hàng và vách kính ngăn cách với khu bếp.
Nhưng khi đẩy cánh cửa màu nâu tầm thường khuất trong góc, Quách Tiểu Phần như lạc vào thế giới khác. Thảm trải sàn dày dặn màu đỏ son mang hoa văn Ba Tư, bước lên êm ái cả người. Bàn ăn kiểu Âu cổ điển bằng gỗ dái ngựa mạ viền vàng đã bày sẵn nhiều món nguội: ngỗng quay chay, nấm hương xào hạt dẻ, cá lạc tẩm mật và ốc nấu rượu. Tường đối diện cửa treo tấm thảm in hình cá koi khổng lồ bơi trong hồ nước xanh thẳm. Phía dưới thảm là ki trà bày vài lư hương đồng đỏ với đủ loại hình dáng, tỏa khói vấn vít. Một cô phục vụ xinh đẹp mặc sườn xám màu hồng, cầm chai rượu vang đứng ở góc tường như món đồ trang trí. Đèn chùm đồng đá ngọc tạo hình hoa sen phát ra ánh sáng dịu nhẹ và ấm áp, làm cả căn phòng chìm trong không khí huyền ảo, che đi nếp nhăn và góc cạnh trên gương mặt mỗi người, khiến họ trông thanh thoát hơn như vừa được chỉnh sửa bằng phần mềm làm đẹp.
“Cô ngồi đi!” Hình Khải Hiền mời Quách Tiểu Phần vào chỗ.
Quách Tiểu Phần ngồi xuống, ngỡ ngàng nhìn nhân viên phục vụ lần lượt mang ra vi cá nấu thịt cua, tôm hùm rang, cá mú hấp xốt đậu đen, gan ngỗng hầm xốt bào ngư… Hình Khải Hiền mỉm cười. “Bây giờ kiểm tra gắt quá không ra nhà hàng được, đành phải ăn bữa cơm đạm bạc ở nhà. Mong cô thông cảm chúng tôi tiếp đãi chưa chu đáo!”
Thôi Văn Đào, Địch Khánh, Đậu, Liêu, Hà mập và Trịnh Quý cùng ngồi xuống quanh bàn ăn. Chẳng bao lâu sau có thêm ba người khác nhập hội. Một là Hình Vận Đạt con trai Hình Khải Thánh. Cậu ta có gương mặt gầy gò và trắng bệch, vừa ngồi xuống đã nốc hết ly này đến ly khác. Hai là người đàn ông trung niên họ Lý thân hình rắn chắc, là giám đốc bệnh viện Ái Tâm. Người còn lại là Thôi Ngọc Thúy phó giám đốc viện bảo trợ, chẳng còn trẻ nhưng vẫn cố ý mặc quần áo bó sát, ngực và mông căng mây mẩy khiến cánh đàn ông chốc chốc lại liếc ánh mắt dê xồm sang, câu chuyện bên bàn ăn cũng lẫn thêm vài câu thiếu đứng đắn.
Có mỗi Hình Khải Hiền để tâm tới Quách Tiểu Phần, vừa gắp thức ăn vừa rót rượu cho cô, thi thoảng lại hỏi về “quy tắc” của giới truyền thông.
“Nói chung cách các anh đối phó với truyền thông quá lạc hậu, hễ gặp chuyện là trốn tránh, chỉ tổ khiến vấn đề càng thêm nghiêm trọng.” Quách Tiểu Phần nói.
Địch Khánh có tí hơi men bắt đầu ăn nói bạt mạng, “Cô Quách Tiểu Phần ạ, giờ hết tọa đàm rồi, tôi huỵch toẹt luôn nhé, bọn tôi đếch sợ dư luận đâu. Từ xưa đến nay, có tiền, có quyền, có thế mới là chân lý, chứ miệng lưỡi thiên hạ là cái đếch gì? Bọn họ làm được gì? Chẳng làm được gì sất!”
“Địch Khánh, không giữ mồm giữ miệng được thì cút ra ngoài!” Hình Khải Hiền tái mặt.
“Trước mặt người ta, anh cũng phải giữ thể diện cho tôi chứ…”
“Anh thì cần gì thể diện? Chính anh còn không cần, tại sao tôi phải giữ cho anh?”
“Tại sao à? Tại vì Địch Khánh tôi làm việc cho Đào Chước Yêu đã nhiều năm, công sức hay khổ cực gì đều có phần tôi cả!” Địch Khánh giật phăng khuy áo sơ mi để lộ túm lông ngực.
Không khí trong phòng ăn càng lúc càng căng thẳng. Đúng lúc đó, cánh cửa nâu bật mở, một ông già đầu hói bước vào. Thật ra ông ta không quá lớn tuổi, da mặt nhẵn bóng được chăm sóc cẩn thận. Có điều ông ta lưng hơi còng, mắt gằm gằm nhìn xuống đất làm người ta có cảm tưởng ông mắc bệnh Alzheimer, không nhớ đường về nhà. Thấy ông, Hình Khải Hiền kêu lên “Cụ Bỉnh đến” rồi đứng dậy, những người còn lại cũng đứng lên theo.
Quách Tiểu Phần biết ông già này chính là Đào Bỉnh, chủ tịch danh dự Quỹ từ thiện Ái Tâm.
“Liên hoan không thèm mời tôi.” Đào Bỉnh bực bội tiến vào đứng cạnh chỗ ngồi của Hình Khải Hiền. Hình Khải Hiền đành dịch sang một bên, những người còn lại đồng loạt dịch theo. Sau một hồi xê dịch chỗ, lấy thêm ghế và bộ đồ ăn, mọi người mới ổn định trở lại.
Lúc Hình Khải Hiền giới thiệu Quách Tiểu Phần, Đào Bỉnh vừa gật đầu vừa gắp thức ăn. Tay ông ta run lẩy bẩy nhưng không ảnh hưởng đến tốc độ ăn. Đào Bỉnh dùng đũa như máy bắn đá, khi đầu đũa chạm vào đồ ăn cũng là lúc ông ta thè lưỡi ra, đũa ném thức ăn vào miệng, lưỡi đỡ lấy rồi cuộn lại. Một loạt động tác chuẩn xác, nhanh chóng, quyết đoán, không làm rơi vãi dù chỉ một chút. Lúc ăn cháo hải sâm, ông ta cơ hồ vùi nửa mặt vào bát, húp sùm sụp vài hơi là hết, khi ngẩng lên chòm râu trên cằm dính mấy hạt gạo… Hồi bé sống ở quê, Quách Tiểu Phần từng chứng kiến cảnh lợn rừng gặm măng, đến nay cũng phải hai mươi năm rồi cô mới lại thấy tướng phàm ăn tục uống tương tự.
“Cụ ăn chậm thôi kẻo nghẹn.” Hình Khải Hiền cười khuyên.
“Chậm? Chậm để người khác ăn mất à?” Đào Bỉnh lấy khăn giấy lau miệng, nhìn Quách Tiểu Phần, “Cô là phóng viên?”
“Trước kia thôi, giờ cháu nghỉ việc rồi ạ.” Quách Tiểu Phần đáp.
“Nghỉ việc thì tốt, nghỉ việc thì tốt…” Đào Bỉnh ung dung nâng ly rượu vang. “Nói chung không có lợi cho đoàn kết.”
Hình Khải Hiền đẩy gọng kính, cười hỏi, “Thưa cụ, vì sự đoàn kết của quỹ, cụ có thấy mình nên bảo con gái chóng chóng trở về không?”
“Tôi cũng ngóng nó lắm rồi.” Đào Bỉnh hớp ực một ngụm rượu, “Nó chẳng thèm nói tiếng nào với tôi đã bay đến Paris, giờ tôi có tìm được nó đâu!”
“Muốn tìm sẽ có cách tìm ra.” Hình Khải Hiền nói.
“Thúc nó về làm gì?” Đào Bỉnh nheo mắt nhìn ông ta, “Mong nó mau nhường chỗ à?”
Quách Tiểu Phần để ý, chỉ trong tích tắc, ánh mắt ông già này thoắt cái trở nên vô cùng sắc lạnh, trông hệt hai con dao.
Song Hình Khải Hiền chẳng mảy may run sợ, “Thưa cụ, tôi làm gì cũng vì quỹ. Đợt này bão tố ập đến, người ngoài nhìn vào tưởng chúng ta vững như bàn thạch, nhưng cụ cứ hỏi các anh chị em ở đây xem có ai không phải chịu áp lực đâu? Xét từ bất cứ góc độ nào, Đào Chước Yêu cũng nên nhanh chóng trở về. Nếu vụ án này liên quan đến cô ấy, sớm muộn gì cô ấy cũng phải giải thích rõ ràng cho cảnh sát. Nếu không liên quan, với tư cách là lãnh đạo quỹ, cô ấy nên đứng ra gánh vác giúp anh chị em…”
“Gánh vác, gánh vác, các anh các chị thử giơ tay đếm xem suốt mấy năm nay tôi đã gánh cho mọi người bao nhiêu việc?!” Quai hàm Đào Bỉnh run lên. “Năm xưa hồi còn ở tỉnh, không có tôi đứng ra lo liệu, chắc anh trai anh bây giờ đang ngồi tù đấy!”
“Người cũng chết rồi, nhắc lại chuyện cũ làm gì!” Ánh mắt Hình Khải Hiền có vẻ né tránh.
“Tất nhiên anh không muốn nhắc rồi, nhưng tôi cứ nhắc đấy. Chẳng nói đâu xa, chỉ riêng cái họa lần này, từ sáng đến tối anh đều lu loa là Trịnh Quý không biết quản lý cấp dưới, nhưng anh trai anh rốt cuộc đã làm gì để ra nông nỗi này, anh còn không biết chắc?” Đào Bỉnh chỉ vào Thôi Ngọc Thúy, “Hỏi cô ta đi, cô ta biết rõ nhất!”
Miếng thịt trên đũa Thôi Ngọc Thúy rơi bộp xuống đĩa. Miệng bà ta há ra, người cứng đờ ở tư thế ăn hụt, đôi mắt láo liên trông hoảng loạn thấy rõ.
Quách Tiểu Phần tưởng Hình Vận Đạt nghe Đào Bỉnh chỉ trích Hình Khải Thánh sẽ nổi trận lôi đình, chưa biết chừng lật cả bàn. Nhưng cô không ngờ cậu ta chỉ cắm cúi nốc rượu, chẳng nói chẳng rằng, mặt nhăn nhó rúm ró.
“Cụ Bỉnh uống thêm đi ạ.” Liêu đứng dậy, lấy chai rượu vang trong tay nhân viên phục vụ mang đến chỗ Đào Bỉnh, vừa rót rượu vào ly thủy tinh cho ông già vừa ra vẻ vô tình liếc sang Quách Tiểu Phần. Đào Bỉnh lập tức tỉnh táo lại, nhận ra vừa rồi mình quá kích động nên quên mất trong phòng vẫn còn “người ngoài”. Ông ta hắng giọng, làm bộ ôn tồn quay sang Hình Khải Hiền, “Cứ phải lo cho người đã khuất trước, khi nào định cử hành tang lễ cho anh trai?”
Hình Khải Hiền đáp, “Hôm nay tôi đã đến gặp cảnh sát. Họ nói, với án hình sự, sau khi có báo cáo khám nghiệm tử thi, nếu người nhà không có ý kiến thì có thể hỏa táng. Tôi đã bàn với Thôi Văn Đào và Địch Khánh, định sẽ hỏa táng ba đứa trẻ trước, còn thi thể anh tôi thì phải xem tình hình.”
Đào Bỉnh thừa hiểu “xem tình hình” nghĩa là Hình Khải Hiền định lợi dụng thi thể anh trai để cò kè trả giá với quỹ. Nếu quỹ không đồng ý điều kiện ông ta đưa ra, dù cái xác thối rữa, ông ta cũng quyết phải vấy bẩn danh tiếng của chủ tịch danh dự. Đào Bỉnh hơi hoảng, phải uống một hớp rượu để bình tĩnh lại, thở dài nói, “Ôi dào, được hỏa táng thì làm sớm đi. Quỹ sẽ chi tiền, anh cứ chọn một mảnh đất đẹp đẹp để Hình Khải Thánh sớm được yên nghỉ. Hồi còn sống, lần nào về tỉnh thăm tôi, anh ta cũng uống nhiều, cứ nhai nhải mãi: ‘Trừ đám cưới và đám ma, thật hiếm còn dịp nào để chúng ta tụ tập!’ Lần này chúng ta khó lắm mới có dịp gặp nhau, mọi người cùng đi tiễn anh ta đi!”
Những lời này khiến cả phòng chìm trong yên lặng. Lát sau, tiếng thở dài khe khẽ vang lên cùng tiếng sụt sịt, hóa ra Thôi Ngọc Thúy đang dùng ngón giữa quệt khóe mắt.
Hình Khải Hiền nhếch mép cười lạnh lùng.
Đào Bỉnh vờ như không thấy, quay sang hỏi giám đốc Lý của bệnh viện Ái Tâm, “Anh Lý, chuyện lần này có ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền về sau của bệnh viện không?”
“Chắc chắn là có, nhưng không nghiêm trọng. Sau khi xảy ra vụ việc, anh Hình Khải Hiền lập tức chỉ đạo chúng tôi cắt đứt quan hệ với viện bảo trợ, chúng tôi đã làm theo. Ngày mai sẽ có mấy đứa trẻ đi tàu hỏa từ tỉnh sang đây… Chỉ tiếc không thể tìm ngay được một đứa giỏi ăn nói như Triệu Vũ.”
“Không sao đâu, trẻ con dễ dạy, chẳng mấy chốc lại đào tạo ra được một Triệu Vũ khác thôi.” Đào Bỉnh gật đầu, quay sang Thôi Ngọc Thúy, “Gần đây cô cũng vất vả rồi. Giờ viện bảo trợ đang bị phong tỏa điều tra, sau này sóng gió qua đi cũng khó lòng khôi phục trở lại. Lát nữa cô gặp Địch Khánh, nhận một khoản tiền để sắp xếp cho nhân viên, sau đó về đây làm việc đi!”
Thôi Ngọc Thúy mừng rỡ, cảm ơn rối rít. Địch Khánh ngồi bên cạnh lén lút nhéo đùi bà ta, bị bà ta đánh “chát” lên mu bàn tay.
Trịnh Quý dè dặt hỏi, “Thưa cụ, thế còn Minh Di chúng tôi…”
Đào Bỉnh thong thả đáp, “Chuyện này nói thế nào cũng là do anh không biết quản lý cấp dưới. Suốt bao nhiêu năm thành lập, quỹ chúng ta vẫn luôn thuận buồm xuôi gió là bởi hễ có mâu thuẫn, ta đều xử lý nội bộ, không để người ngoài chê cười. Nhưng một mồi lửa trên núi Chuột Quét có khác nào quân mình tự thiêu quân mình cho thiên hạ xem, quá nhục nhã! Từ quan điểm cá nhân, tất nhiên tôi hi vọng anh và công ty Minh Di tiếp tục phát triển dưới sự lãnh đạo của quỹ. Song, trong vài trường hợp đặc biệt, ta cần chuẩn bị sẵn tâm lý.”
Toàn những lời mập mờ làm Trịnh Quý nửa hiểu nửa không. Anh ta ấp úng, “Cụ nói đúng, cụ nói đúng, nhưng tôi thật sự không ngờ Chu Lập Bình lại là người như thế…”
“Anh không ngờ à, vậy anh phải chịu trách nhiệm cho cái không ngờ đó!” Thôi Văn Đào nhe hàm răng hô chửi bới, “Anh có biết trận hỏa hoạn trên núi Chuột Quét đã thiêu rụi tiền đồ của quỹ không? Chó anh nuôi mà anh cóc rõ nó là chó thuần chủng hay chó lai à?!”
“Mẹ ông!” Hình Vận Đạt thình lình trợn mắt, giận dữ gào lên với Thôi Văn Đào, “Ông chửi ai là chó lai?!”
Thôi Văn Đào chớp mắt hồi lâu, không hiểu vì sao mình bị chửi. Hình Vận Đạt là cháu trai Hình Khải Hiền nên ông ta không dám ho he. Nhưng nghĩ dù sao mình cũng là công chức có địa vị trong xã hội, một thằng ranh con lôi mẹ mình ra xúc phạm mà mình im re không cãi thì còn ra thế thống gì. Thế là ông ta cắn răng vặc lại, “Tôi chửi Chu Lập Bình…”
Ông ta chưa nói hết câu, Hình Vận Đạt đã ném ly rượu sang!
Thôi Văn Đào né đi. Hình Vận Đạt say nên ném trượt, ly rượu trúng vào Quách Tiểu Phần ngồi cạnh Thôi Văn Đào!
Cả phòng nháo nhào lên, Hình Khải Hiền và Thôi Văn Đào cuống quýt đưa khăn giấy cho Quách Tiểu Phần, Địch Khánh nhảy qua định lau cho cô. Quách Tiểu Phần vừa nói “Không sao” vừa chạy ra ngoài hành lang.
Các nhân viên khác đều đã tan làm, hành lang không một bóng người, yên tĩnh đến rợn tóc gáy. Đèn cảm ứng âm thanh sáng lên theo từng bước chân Quách Tiểu Phần, càng làm nổi bật vẻ tăm tối của lối đi.
Tìm được nhà vệ sinh, cô vào trong rồi đóng cửa, đứng trước gương dùng giấy ăn lau vết rượu trên quần áo. Cô lau mãi nhưng vẫn không sạch, trông cứ như bị dính máu… Cũng may giờ là buổi tối nên chẳng ai chú ý, lát nữa về nhà thay đồ là được.
Quách Tiểu Phần mở cửa nhà vệ sinh toan bước ra ngoài. Chợt trông thấy bóng người, cô giật mình kêu “Á”, làm toàn bộ đèn trong hành lang đồng loạt bật sáng!
Thì ra là Hình Vận Đạt. Cậu ta đứng dựa tường, tay đút túi quần, gương mặt trắng bệch còn đôi mắt đỏ quạch. “Xin lỗi, tôi chỉ đến để xin lỗi chị.”
“Không sao.” Tự nhiên Quách Tiểu Phần thấy thương cậu ta, “Cậu sao vậy? Chu Lập Bình là kẻ thù giết bố cậu đấy. Sao cậu còn bênh hắn?”
“Tôi uống hơi nhiều…” Người Hình Vận Đạt nồng nặc mùi rượu, vẻ mặt đau đớn và suy sụp, “Đến tận bây giờ tôi vẫn không dám tin anh Bình giết bố tôi. Anh ấy là người có nghĩa khí, rất ngay thẳng, là người duy nhất tôi khâm phục trong cuộc đời này… Bố tôi đúng là người xấu, đã làm bao nhiêu chuyện không ra gì, thể nào cũng gặp quả báo. Nhưng vì sao lại là anh Bình chứ, vì sao lại là anh Bình…”
⚝ ⚝ ⚝
Ra khỏi khách sạn Hà Phong, Quách Tiểu Phần thấy hơi nặng đầu, có lẽ do rượu bắt đầu ngấm. Dù vậy, cô vẫn lấy cớ có bạn trai đến đón để kiên quyết từ chối khi Địch Khánh và Thôi Văn Đào vồn vã đề nghị chở cô về. Nhìn vẻ chán nản của hai tên đàn ông háo sắc, cô cho rằng mình đã làm đúng.
Men theo đường lớn ngoài khách sạn, Quách Tiểu Phần đi về phía Bắc. Để tránh bị theo dõi, cô cố ý rẽ ngang rẽ dọc vài lần, tới một con phố nhỏ. Dưới ánh đèn đường hiu hắt, gió thu thổi mạnh khiến những vệt sáng rọi trên mặt đất nứt nẻ phải run rẩy từng hồi. Trong màn đêm, hàng cây hai bên đường trơ trụi lá trông như những cô gái đứng đường gầy trơ xương. Cửa hàng quần áo, nhà hàng, tiệm mát xa ven đường đều đã tắt đèn, trên cánh cửa khóa kín còn dán tờ thông báo cũ nát lờ mờ mấy chữ “Dừng kinh doanh”, “Xin lỗi”. Chính vì thế, tiệm mì còn sáng đèn trở nên vô cùng nổi bật.
Vừa đi ngang qua tiệm mì, Quách Tiểu Phần quay ngược trở lại. Vì cô nhác thấy bóng ai quen quen bên trong. Cô mở cửa lùa kính đi vào, quả nhiên người đang từ tốn ăn bát mì xốt trứng cà chua bên bàn dài chính là người đàn ông bị Địch Khánh đánh trước cửa nhà E hôm nay. Dưới ánh đèn xám xịt, gương mặt gầy guộc của ông trông càng ốm yếu, vết bầm trên khóe miệng rõ mồn một. Có lẽ vết thương vẫn rất đau, món mì nghi ngút khói lại quá nóng, ông vừa ăn vừa xuýt xoa, mặt mày cau có.
Thấy Quách Tiểu Phần ngồi xuống đối diện, ông hơi ngạc nhiên, ánh mắt lộ vẻ cảnh giác.
“Ông Nhạc đúng không? Chào ông.” Quách Tiểu Phần vẫn nhớ họ của ông. “Hôm nay tôi đã gặp ông ở khách sạn Hà Phong.”
Ông Nhạc khép chặt chiếc áo khoác cũ mỏng manh trên người, nhìn cô đăm đăm.
“Ông đừng lo, tôi không phải người của Quỹ từ thiện Ái Tâm đâu. Tôi chỉ là phóng viên đến phỏng vấn họ về vụ núi Chuột Quét.” Quách Tiểu Phần trấn an.
Ông Nhạc vẫn bán tín bán nghi.
“Tôi nghe thấy ông trách móc bọn họ, cũng nhìn thấy Địch Khánh đánh ông. Tôi rất tò mò không biết chuyện là do đâu?”
“Người cô có mùi rượu, chắc bọn họ đã mời cô dùng bữa nhỉ? Phải rồi, lúc nào họ chẳng hào phóng với phóng viên.” Ông Nhạc cẩn thận quan sát, thấy Quách Tiểu Phần không xách quà cáp, ông hỏi ẩn ý, “Chuyển thẳng vào thẻ chứ gì?”
Quách Tiểu Phần sững sờ.
“Vậy bọn họ bảo cô viết gì? Viết rằng hung thủ chỉ là nhân viên thời vụ của công ty Minh Di? Hay viết rằng cuối năm ngoái họ đã không còn hợp tác với Minh Di nữa? Rằng viện bảo trợ do tư nhân quản lý, nên án mạng không liên quan đến Quỹ từ thiện Ái Tâm? Sau đó liệt kê mấy năm nay họ đã có hành động thiện nguyện nào, giành được giải thưởng nào, rồi kêu gọi mọi người tiếp tục quyên góp cho họ?”
“Ông hiểu lầm rồi…”
“Khỏi giải thích.” Ông Nhạc cười khẩy, “Chúng ta đi hai con đường khác nhau, cô cứ ăn tiệc của cô, còn tôi ăn mì của tôi. Không tiễn!”
Quách Tiểu Phần thong thả đứng lên, “Xem ra Hình Khải Hiền nói đúng lắm, ‘người cùng ngành là oan gia’, câu này dùng ở đâu cũng phù hợp.”
Ông Nhạc ngẩng phắt lên, “Cô nói gì?”
“Hình Khải Hiền nói chẳng qua tổ chức từ thiện của ông không kiếm được tiền, nên ông ghen tị với Quỹ từ thiện Ái Tâm. Thấy người ta xảy ra chuyện, ông cố tình đến tống tiền bằng cách dọa sẽ tung tin cho báo chí biết. Hóa ra đúng là thật.”
Ông Nhạc giận run, “Cô… cô đừng có ngậm máu phun người! Tổ chức từ thiện của chúng tôi bị bọn họ đánh sập từ mấy năm trước rồi! Tôi kiếm tiền ở đâu ra?!”
Quách Tiểu Phần mở cửa bước ra ngoài, “Mới nãy ông bảo chúng ta đi hai con đường khác nhau mà? Hai ta chẳng có gì để nói hết.”
Ông Nhạc nhảy dựng lên, chạy vòng qua bàn định kéo tay Quách Tiểu Phần, do dự thế nào lại nắm lấy dây túi xách của cô, “Cô, cô quay lại… Ta nói chuyện cho rõ ràng.”
Chỉ đến khi Quách Tiểu Phần ngồi trở về vị trí đối diện, ông Nhạc mới yên tâm. Nghe cô phóng viên thẳng thắn giải thích mình là ai và đến khách sạn Hà Phong hôm nay với mục đích gì, ông mới dịu sắc mặt, nói chuyện cởi mở hơn.
Là một phóng viên đầy kinh nghiệm, Quách Tiểu Phần từng phỏng vấn vô số loại người, trong đó không ít người tỏ thái độ bất hợp tác. Với người như thế, mình càng cố ý lấy lòng thì họ càng khinh thường. Tốt nhất nên chọc tức họ tạo cảm giác đối địch, sau đó tìm cách hòa giải… Tâm lý con người rất kì lạ, một khi kẻ thù cũ trở thành bạn bè, họ lại dễ dàng cảm thông hơn, có thiện cảm và thân thiết hơn… Chiêu này quả nhiên có tác dụng với ông Nhạc.
“Tôi là Nhạc Thiệu, từng là hiệu trưởng một trường làng tiểu học ở tỉnh A. Nơi đó hẻo lánh, lạc hậu, chỉ có vài xí nghiệp nhưng đều là nhà máy sản xuất gây ô nhiễm. Mấy năm nay, tỉ lệ trẻ sinh ra bị dị tật, mắc bệnh bẩm sinh và bệnh hiếm gặp đều rất cao. Trẻ mắc những bệnh này luôn đờ đẫn như bị ngớ ngẩn, mặt mày vàng vọt, người gầy như cây sậy vì suy dinh dưỡng nên bị người ta gọi luôn là ‘cây sậy’. Cứ dạo một vòng ở vùng quê, cô sẽ thấy nhà nào cũng có vài ‘cây sậy’ ngồi trước cửa. Thậm chí người ta còn thường tìm thấy xác chết của bọn trẻ trong núi rừng, khu đất hoang hay ngay dưới sông. Cha mẹ chúng đều nói lũ nhỏ tự chạy ra ngoài, trượt chân ngã hoặc đuối nước. Nguyên nhân thật sự là gì chỉ mình họ biết…
“Vài năm trước, hiệu trưởng mấy trường làng chúng tôi dự họp trên thành phố mới biết trẻ em mắc bệnh đó không đến nỗi vô phương cứu chữa, nhiều em vẫn phát triển trí tuệ bình thường. Nếu bị bỏ mặc, bọn trẻ chỉ biết chờ chết. Thế là chúng tôi chuẩn bị tài liệu, viết báo cáo, xin trợ giúp từ thành phố, nhưng chẳng ai quan tâm. Thấy làm thế không ổn, chúng tôi bắt tay nhau tự thành lập một tổ chức từ thiện mang tên Cây Long Não. Ở mỗi thị trấn, chúng tôi thuê một khu đất bỏ hoang, rào tường, dựng nhà làm viện bảo trợ, khuyên cha mẹ bọn trẻ đưa con đến. Họ chỉ cần nộp ít tiền, còn lại chúng tôi chạy đôn chạy đáo kêu gọi các nhà hảo tâm quyên góp, thuê người chăm sóc và chữa bệnh cho bọn trẻ. Đổng Tâm Lan và Triệu Vũ cũng từ viện bảo trợ của chúng tôi mà ra.
“Từ ngày thành lập, Cây Long Não lúc nào cũng thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc men, nhưng được cái bọn trẻ rất ngoan và hiểu chuyện. Cộng thêm được nhiều tổ chức từ thiện tư nhân trợ giúp nên chúng tôi càng hăng hái, bọn trẻ cũng dần lấp lánh hi vọng trong ánh mắt, mỗi ngày đều rất vui vẻ. Nhất là Triệu Vũ, có lần nghe tin chuyên gia bệnh tim bẩm sinh của bệnh viện Nhi đồng Bắc Kinh đến bệnh viện Nhân dân của tỉnh hội chẩn, chúng tôi liền thuê xe đưa nó đi. Vị chuyên gia kia không những phẫu thuật miễn phí mà còn chữa khỏi cho nó. Triệu Vũ mừng rơn, từ đó một lòng một dạ với Cây Long Não, bị đuổi cũng không chịu đi. Chúng tôi mới để nó ở lại giúp chăm sóc những đứa trẻ khác…”
Nhạc Thiệu nhìn ra ngoài, ngẩn người ngắm màn đêm như đang mê mải hoài niệm những tháng ngày tươi đẹp trước kia. Ông thở dài, “Về sau Quỹ từ thiện Ái Tâm được thành lập. Nghe nói cũng là tư nhân như chúng tôi, nhưng họ có thế lực, có chỗ dựa… Thế rồi, chúng tôi đột ngột nhận được thông báo: để nâng cao quản lý, tất cả tổ chức từ thiện tư nhân phải sáp nhập vào Quỹ từ thiện Ái Tâm, trở thành đơn vị nằm dưới sự chỉ đạo của họ. Chúng tôi tức tối lên thành phố phản ảnh, hỏi xem vì sao cả hai đều là tư nhân nhưng họ lại được quyền chỉ đạo chúng tôi?”
“Kết quả thế nào?” Quách Tiểu Phần hỏi.
“Kết quả? Kết quả là tôi và vài thầy cô giáo bị cách chức. Đuổi thì cứ đuổi, tiền lương ba cọc ba đồng, có hay không cũng thế… Ai ngờ, viện bảo trợ mà chúng tôi vất vả xây đắp từng viên gạch chẳng bao lâu sau đã bị người ta dùng máy ủi san phẳng. Chỉ trong chớp mắt, từng nhành hoa ngọn cỏ chúng tôi vun trồng cùng bọn trẻ đều bị cán nát. Mắt thấy bảng đen, đàn accordion, tranh bọn trẻ vẽ, gậy chống và xe lăn tự chế bị chôn vùi trong đống gạch ngói vỡ vụn, chúng tôi khóc, bọn trẻ cũng ôm nhau khóc. Nhưng khóc có ích gì!” Nói đến đây, Nhạc Thiệu nghẹn ngào.
Quách Tiểu Phần gọi một bình nước lọc, rót nước vào cốc thủy tinh trước mặt ông.
Nhạc Thiệu uống mấy ngụm để bình tĩnh lại, kể tiếp, “Chúng tôi đang buồn rầu không biết phải làm thế nào với bọn trẻ, đâu ngờ Quỹ từ thiện Ái Tâm đã ‘nghĩ giúp’ chúng tôi từ trước. Thôi Văn Đào và lão Hình Khải Thánh vừa chết đã dẫn đoàn tới các viện bảo trợ để ‘chọn trẻ’ đưa đến cơ sở bảo trợ xã hội…”
Quách Tiểu Phần ngạc nhiên, “Chọn trẻ là sao?”
“Thì chọn những đứa mà bọn họ ‘dùng được’ ấy, ví dụ mấy bé gái xinh xắn như Đổng Tâm Lan, hay những đứa lớn lên có khả năng tự khỏi bệnh hoặc thuyên giảm bệnh. Như thế, chúng sẽ thành ‘nhân chứng’ trong tương lai để bọn họ khoe khoang với xã hội. Mấy đứa như Triệu Vũ lại càng được xem trọng, bọn họ chỉ cần sửa bệnh án là thằng bé sẽ trở thành đứa trẻ được bệnh viện Ái Tâm chữa khỏi bệnh tim bẩm sinh. Năm nào họ cũng mang nó ra làm hình mẫu khoe với thiên hạ cốt để lừa thêm tiền quyên góp.”
“Ra thế!” Quách Tiểu Phần vỡ lẽ. “Tôi cứ thắc mắc tại sao năm nào bệnh viện Ái Tâm cũng đưa bọn trẻ từ tỉnh A lên… Vậy số trẻ còn lại thì sao?”
“Số trẻ còn lại đều bị bỏ mặc. Chúng tôi bị dừng hoạt động, viện bảo trợ của họ chẳng thèm nhận nuôi, đa số cha mẹ bọn trẻ lại không chịu đón con, nên chúng tôi chỉ biết trơ mắt nhìn những đứa trẻ lang thang ấy mất tích hay bỏ mạng…” Mặt Nhạc Thiệu đầy ảo não, “Sau này, chúng tôi từng lén tổ chức nhận nuôi bọn trẻ theo hình thức viện bảo trợ. Nhưng mới thoáng nghe tin, bọn họ đã cho côn đồ đến đập phá, cướp đi những đứa trẻ họ ưng ý, trong đó có bé Dĩnh…”
Quách Tiểu Phần cau mày, “Tôi chưa hiểu lắm, Quỹ từ thiện Ái Tâm cần gì phải tranh giành mấy đứa trẻ mắc bệnh? Việc phá hoại các viện bảo trợ tư nhân khác giúp gì cho họ?”
“Nói trắng ra là vì lợi ích.”
“Lợi ích?” Quách Tiểu Phần ngơ ngác, “Đã là tổ chức từ thiện thì cần lợi ích gì?”
“Người ta thường cho rằng làm tổ chức từ thiện chẳng có gì béo bở, nhưng họ nhầm to.” Nhạc Thiệu chọc chọc mặt bàn, thì thầm, “Hằng năm, nhà nước đều chu cấp tài chính cho các tổ chức từ thiện và kiểm toán nghiêm ngặt các khoản chi tiêu. Song, trong nước có quá nhiều người yếu thế cần giúp đỡ, riêng trẻ mồ côi và bị bỏ rơi đã là con số khổng lồ, tiền trợ cấp của nhà nước chỉ như muối bỏ biển. Vì thế, nhà nước khuyến khích các tổ chức từ thiện vận động xã hội quyên góp, còn thi hành chính sách giảm thuế cho các cá nhân và doanh nghiệp góp nhiều tiền. Đa số tổ chức thiện nguyện đều tuân thủ pháp luật, cứu giúp người khó khăn, hết lòng hết dạ cống hiến cho sự nghiệp công ích. Song, bên cạnh đó cũng có loại cá biệt tìm đủ cách lách luật để kiếm chác như Quỹ từ thiện Ái Tâm.”
“Kiếm chác kiểu gì?”
“Đây nhé, nếu được chọn lựa giữa các tổ chức từ thiện, chắc chắn doanh nghiệp và đám nhà giàu thèm khát giảm thuế sẽ quyên góp cho tổ chức có danh tiếng và cứu trợ nhiều trẻ em. Thế nếu cả tỉnh chỉ có duy nhất một tổ chức từ thiện thì sao?”
Quách Tiểu Phần bừng tỉnh!
Nhạc Thiệu nói tiếp, “Cứ thế, doanh nghiệp ủng hộ đang từ bên cho lại thành bên nhận. Với các tổ chức từ thiện, cô quyên tiền hay không đều như nhau, bởi cô không đóng góp thì còn đầy người khác, mà cô muốn hưởng chính sách giảm thuế thì phải quyên góp cho bọn họ. Hơn nữa, nếu không cho họ lợi ích, bọn họ hoàn toàn có quyền từ chối nhận tiền! Vậy nên khoản tiền ủng hộ luôn kèm theo rất nhiều tiền hoa hồng và phần trăm lợi nhuận…”
“Tỉ lệ chia hoa hồng và lợi nhuận là bao nhiêu?”
“Chiếu theo ‘quy định’ của quỹ Ái Tâm thì thường từ 3 đến 5…”
“3% đến 5%?” Quách Tiểu Phần sửng sốt, “Tức là nếu doanh nghiệp quyên góp 100 triệu, bọn họ sẽ nhận được 3-5 triệu?”
“Không phải từ 3% đến 5%, mà là từ 30% đến 50%.” Nhạc Thiệu lạnh lùng sửa lại.
Quách Tiểu Phần há hốc mồm.
“Quyên góp 100 triệu, quá nửa số tiền sẽ vào túi Đào Bỉnh và Hình Khải Hiền. Đâu chỉ thế, Quỹ từ thiện Ái Tâm còn có ‘công việc’ mang tên rửa tiền. Với các khoản quyên góp từ xã hội, việc kiểm tra và giám sát dòng tiền luôn gặp khó khăn nhất định, lợi dụng điều đó, vài kẻ lấy danh nghĩa quyên tiền để rửa tiền đen qua quỹ từ thiện. Đào Bỉnh và Hình Khải Hiền đời nào bỏ qua món hời này. Ngữ như Địch Khánh từng là xã hội đen, giờ chuyển sang quản lý việc rửa tiền cho quỹ…” Nhạc Thiệu cho hay. “Ngoài ra, Quỹ từ thiện Ái Tâm còn kiếm tiền qua hình thức vay vốn sinh viên và bất động sản, có điều hai năm trước quỹ cho vay của họ khiến một nữ sinh tự sát, mà bố của nữ sinh đó lại có chức vị trong ngành công an nên họ bị bắt ngừng hoạt động một thời gian, gần đây lại nhen nhóm trở lại. Bên bất động sản, họ vẫn làm ăn như thường.”
Quách Tiểu Phần ngắt lời, “Tôi chưa hiểu lắm, tổ chức từ thiện thì làm bất động sản gì, kiếm tiền thế nào?”
“Lợi nhuận của bất động sản chủ yếu đến từ chênh lệch giữa giá đất và giá nhà. Giá đất chính phủ bán ra càng cao thì giá nhà càng cao. Vậy giả sử đất xây nhà không bị chính phủ thu phí, nhưng nhà xây lên vẫn được bán đắt cắt cổ thì sao?”
Quách Tiểu Phần lắc đầu. “Sao thế được? Đất xây nhà đều là để bán, chính phủ phải thu phí chứ?”
“Có ngoại lệ đấy.” Nhạc Thiệu từ tốn giải thích, “Nhà nước quy định rất rõ, tổ chức từ thiện xây dựng viện dưỡng lão và cơ sở bảo trợ sẽ được hưởng ưu đãi cực lớn về giá đất, thậm chí được miễn phí.”
“Đúng là chính sách tốt… Nhưng tôi không hiểu Quỹ từ thiện Ái Tâm lách luật kiểu gì?”
“Bọn họ xây chung cư cho người già.”
“Chung cư cho người già?”
“Giả sử nhà nước duyệt cho bọn họ mảnh đất xây năm tòa nhà, bọn họ sẽ xây một khu nhà tách biệt có tường rào bên ngoài, một tòa dùng làm viện dưỡng lão hoặc viện bảo trợ, bốn tòa còn lại xây xong sẽ được bán đi theo giá thị trường. Thế chẳng phải bọn họ xây nhà để bán trên đất mà nhà nước cho không sao?”
“Nhưng bọn họ có quyền sử dụng đất và sở hữu những căn nhà đó không?”
“Tất nhiên không thể có ngay lập tức. Nhưng khi bán mấy tòa nhà ấy, bọn họ sẽ soạn thêm một hợp đồng khác, theo đó, người mua được hưởng ‘quyền cư trú khi về già’ trong vòng bảy mươi năm thậm chí lâu hơn, đồng thời được hưởng mọi ưu đãi ở viện dưỡng lão duy nhất trong khu, được miễn từ tiền điện nước đến vật tư, internet… Cô thấy hấp dẫn không?”
Trước hàng loạt bí mật được tiết lộ, Quách Tiểu Phần đã nặng đầu giờ càng thêm buốt óc, “Nên bọn họ mới triệt hạ các tổ chức từ thiện tư nhân khác, gom hết các kênh kiếm tiền về tay mình, ngang ngược lộng hành bằng cách lợi dụng chính sách thuế để lừa quyên tiền, sử dụng tiền quyên góp để thực hiện hành vi phạm tội tài chính, lợi dụng chính sách ưu đãi về đất để đầu cơ trục lợi và rửa tiền… Nhưng mấy năm nay nhà nước mạnh tay chống tham nhũng hơn bao giờ hết, chẳng lẽ bọn họ không sợ?”
“Có chứ, sợ muốn chết, nhưng bọn họ quen rồi. Vả lại, mỗi chuyện xấu bọn họ làm đều liên quan đến vô số cơ quan và cá nhân, những kẻ bật đèn xanh cho bọn họ đều được chia phần, giờ muốn ngừng cũng đã muộn. Chưa kể, càng biết mình sắp toi đời thì bọn họ càng ra sức vơ vét, không ăn được thì đạp đổ. Thật ra chúng tôi biết hết những việc này nhưng bó tay chịu chết. Khi bọn họ cướp đám trẻ đi, tôi buồn lắm, nhưng nghĩ lại, viện bảo trợ bọn họ có điều kiện tốt hơn, đám trẻ dù bị lợi dụng nhưng vẫn đỡ hơn phải ăn uống kham khổ cùng giáo viên nghèo bọn tôi. Nhưng lợi dụng thì lợi dụng, sao phải cướp cả mạng sống của đám trẻ…” Nói đến đây, Nhạc Thiệu trào nước mắt.
Quách Tiểu Phần lấy giấy trong hộp đựng bên cạnh đưa cho Nhạc Thiệu. Ông chùi thật mạnh. Tờ giấy như nỗi căm phẫn trong lòng ông, dẫu vuốt thế nào cũng không phẳng được. “Lúc biết về án mạng trên núi Chuột Quét, tôi luống cuống đến đây tìm Hình Khải Hiền và Thôi Văn Đào hỏi cho ra nhẽ, rốt cuộc lại bị Địch Khánh đánh một trận… Tôi vô dụng thật, nhưng món nợ này tôi không bỏ qua dễ thế đâu!”
“Tiếp theo ông định làm gì?” Quách Tiểu Phần hỏi.
“Đã mất công đến đây, tôi nhất định phải kiện lên trên. Mấy năm nay nhà nước chỉnh đốn đâu ra đấy, mạnh tay càn quét các thế lực tội ác, tôi không tin lũ người Quỹ từ thiện Ái Tâm có thể tiếp tục làm càn!”
Quách Tiểu Phần ngẫm ngợi, “Ông định kiện nhưng thật ra chẳng có mấy bằng chứng, đúng không?”
Nhạc Thiệu cười trừ, gật đầu. “Dân đen như tôi biết đi đâu tìm bằng chứng!”
“Thật ra bây giờ chính là cơ hội ngàn năm có một.” Quách Tiểu Phần trầm ngâm chốc lát rồi nói tiếp, “Bình thường nếu không có bằng chứng, cảnh sát dù muốn cũng không có cớ điều tra Quỹ từ thiện Ái Tâm. Nhưng giờ thì khác, vụ án núi Chuột Quét quá chấn động, theo quy trình điều tra, bất cứ ai cung cấp manh mối nào liên quan đến tình tiết vụ án, cảnh sát đều không bỏ qua. Họ sẽ phải dồn sức người sức của để xác minh kĩ lưỡng manh mối ấy, cho nên nếu giờ ông tố cáo Quỹ từ thiện Ái Tâm, cảnh sát sẽ vin vào đó tiện thể điều tra luôn…”
Nhạc Thiệu gật đầu lia lịa, “Ý hay, ý hay!”
Quách Tiểu Phần lấy điện thoại gọi Mã Tiếu Trung đến đón mình, quay sang bảo Nhạc Thiệu, “Ông phải hết sức chú ý an toàn trong thời gian này. Từ hôm nay, ông hãy đến ở nhà một người bạn làm cảnh sát của tôi, anh ấy sẽ hướng dẫn ông cách tố cáo hành vi phạm pháp của Quỹ từ thiện Ái Tâm theo đúng quy trình.”
Nhạc Thiệu mừng rỡ, không biết nói gì hơn ngoài hai tiếng “Cảm ơn”. Rồi thấy nói thế mãi gượng gạo quá, ông đành vùi đầu ăn sạch mì trong bát…
Nhìn động tác vụng về của người đàn ông, Quách Tiểu Phần vừa buồn cười vừa chua xót.
Thanh toán xong xuôi, họ rời tiệm mì lúc 11 giờ đêm, cả khu phố tối om om. Quách Tiểu Phần hẹn Mã Tiếu Trung đón mình trên con đường chính rộng rãi cách đây vài ngã rẽ. Cô và Nhạc Thiệu vừa sóng vai đi với nhau vừa tán gẫu. Đường phố vắng vẻ và tĩnh mịch, chẳng thấy ai hay chiếc xe nào đi ngang qua.
“Tôi từng làm giáo viên dạy thay ở một điểm trường tiểu học.” Quách Tiểu Phần kể.
Nhạc Thiệu khá bất ngờ, “Cô ư?”
“Thật mà, thời tôi còn là sinh viên, nghỉ hè không có việc gì làm nên liên hệ với tổ chức tình nguyện, đi làm giáo viên cho trường làng ở vùng núi hẻo lánh. Cuộc sống khi đó kham khổ nhưng để lại nhiều kỉ niệm đẹp. Bọn trẻ học cũng bình thường, nhưng cả nam lẫn nữ đều rất giỏi nhảy dây thun, đến tôi còn thua.”
“Ha ha, nghe là biết cô quả thật từng sống trên vùng núi. Nghèo mà, không mua được dụng cụ thể dục, chỉ có nhảy dây thun thôi…”
Quách Tiểu Phần đút tay vào túi áo, ngước nhìn áng mây trôi trên trời đêm, nhớ lại, “Lớp tôi dạy có một bé gái tàn tật. Cô bé mắc căn bệnh lạ tên là u sợi thần kinh nên lưng bị gù, không thể đi lại. Nhưng cô bé ao ước được đi học. Thế là mỗi sớm tôi lại đến nhà cõng cô bé lên lớp, tan trường lại cõng cô bé về nhà. Lúc chào tạm biệt, cô bé còn không quên dặn tôi, ‘Cô ơi, con cảm ơn cô, ngày mai cô nhớ đến đón con nhé…’ Hết hè tôi về lại trường, thế mà cô bé vẫn gửi thư cho tôi đều đặn, viết rằng từ ngày tôi rời đi, cô bé khóc nhiều lắm vì không còn ai đưa đón đi học nữa… Mãi đến bây giờ, thi thoảng tôi lại nhớ đến cô bé đó, không biết bây giờ cô bé ra sao. Những khi mệt mỏi vì công việc hay có chuyện không vui, tôi chỉ muốn mua vé tàu hỏa quay lại ngôi làng năm xưa, thăm những đứa trẻ tôi từng dạy dỗ. Có lẽ chúng vẫn chờ tôi đến thăm, dù tôi hiểu đây chỉ là ảo tưởng viễn vông…”
“Phải đấy, nhà phố lớn đừng nghĩ đến việc về nông thôn nữa.” Nhạc Thiệu khuyên nhủ.
“Nhưng nhà tôi không ở đây.” Quách Tiểu Phần thủng thẳng đáp. “Tôi làm việc ở thành phố này đã nhiều năm nhưng chẳng có hộ khẩu, cũng chẳng mua được nhà…”
“Con gái thì lấy người có hộ khẩu thành phố là được.”
“Tôi muốn lấy người tôi thích, khốn nỗi anh ấy lại thích cô gái khác…” Quách Tiểu Phần ngẩng đầu, buồn rầu nói, “Tôi không muốn lấy bừa một người nên cứ độc thân thôi.”
Không biết phải tiếp lời thế nào, Nhạc Thiệu im lặng.
Đi qua một ngã tư nữa là sẽ đến nơi hẹn Mã Tiếu Trung. Đèn tín hiệu cho người đi bộ chuyển từ đỏ sang xanh. Đang cùng Nhạc Thiệu băng qua đường, Quách Tiểu Phần chợt cất tiếng, “Nếu Quỹ từ thiện Ái Tâm bị điều tra, có lẽ tổ chức Cây Long Não của ông sẽ được mở lại, lúc đó cho tôi đến làm giáo viên nhé?”
Nhạc Thiệu gật đầu lại lắc đầu, cười thiểu não, “Dù Đào Bỉnh và Hình Khải Hiền rớt đài, người lên ‘thế chỗ’ chắc cũng không phải chúng tôi.”
“Phấn chấn lên!” Quách Tiểu Phần nhìn ông, cổ vũ, “Phải tin rằng mọi việc sẽ tốt đẹp hơn, phải tin rằng sẽ có ngày chúng ta đón được bọn trẻ về…”
ẦM!
Hàng loạt tiếng động đinh tai nhức óc thình lình dội đến! Trong bóng tối, một con quái thú khổng lồ phóng như bay từ đầu kia con phố về phía họ! Mặt đất rung lên dưới tốc độ đáng sợ của nó! Quách Tiểu Phần chưa kịp nhìn rõ đã bị Nhạc Thiệu đẩy thật mạnh, ngã ra đất. Giữa lúc chới với, cô chỉ kịp nhìn thấy Nhạc Thiệu bị hất tung lên không trung, lăn vài vòng rồi rơi “bịch” xuống đất!
Con quái thú to lớn biến mất ở góc đường, vọng lại tiếng rít gào như giọng cười độc ác…
Quách Tiểu Phần chống tay gắng gượng đứng lên, lảo đảo đến bên Nhạc Thiệu. Ông nằm úp sấp dưới đất, cơ thể run lên từng hồi như bị điện giật. Mỗi lần run là một lân máu trào ra khỏi miệng, cứ thế cho đến khi chỉ còn bọt máu đỏ tươi, tạo thành vũng máu nhỏ bên khóe miệng.
“Ông Nhạc Thiệu…” Quách Tiểu Phần quỳ rạp bên cạnh, vừa ho vừa gọi yếu ớt.
Nhạc Thiệu cười với cô, môi mấp máy.
Quách Tiểu Phần ghé sát tai ông, “Ông đừng nôn nóng, cứ nói từ từ thôi…”
“Đón về, đón bọn trẻ về…”
“Tôi hứa với ông, tôi sẽ đón chúng về, không thiếu đứa nào. Tôi sẽ đón hết chúng về.”
Quách Tiểu Phần ngồi dậy, mò mẫm tìm di động để gọi cấp cứu, nhưng hình như nó bị văng ra khỏi túi nên tìm mãi không thấy… Đèn tín hiệu cho người đi bộ chuyển từ xanh sang đỏ. Ánh đèn đỏ chảy tràn thành vệt dài trên mặt đường nhựa. Quách Tiểu Phần ngơ ngẩn ngồi dưới đất. Cô biết dẫu tìm thấy thì điện thoại cũng đã hỏng, không thể gọi cấp cứu. Mà dẫu gọi được cấp cứu thì cũng không cứu được Nhạc Thiệu. Cô biết vụ tai nạn này không phải ngẫu nhiên, họ tuân thủ luật giao thông nhưng vẫn khó lòng thoát khỏi cái chết.
Bản chất của bóng tối là nuốt chửng mọi tia sáng, bất kể đèn đỏ hay đèn xanh…