Ở QUÁN CÀ PHÊ CỦA TUỔI TRẺ LẠC LỐI

Lượt đọc: 526 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một

Hai cửa vào quán, nàng luôn luôn chọn cửa hẹp hơn, được mệnh danh là cánh cửa của bóng tối. Lúc nào nàng cũng chọn cái bàn ở cuối căn phòng nhỏ. Hồi đầu, nàng không nói chuyện với ai, rồi nàng làm quen với đám khách hay lai vãng quán cà phê Le Condé, phần lớn ở vào khoảng từ mười chín đến hai mươi lăm tuổi, cùng độ tuổi chúng tôi. Thỉnh thoảng nàng ngồi ở bàn họ nhưng, đa phần nàng trung thành với chỗ của mình, tận trong góc.

Nàng không đến đều đặn vào một giờ nhất định. Bạn thấy nàng ngồi đó rất sớm vào buổi sáng. Hoặc giả, nàng xuất hiện quãng nửa đêm và ở lại cho tới giờ đóng cửa. Đó là quán cà phê đóng cửa muộn nhất trong khu phố, cùng Le Bouquet và La Pergola, cũng là quán có khách khứa kỳ cục nhất. Sau này khi nhiều thời gian đã trôi qua, tôi tự hỏi chẳng biết có phải chỉ sự hiện diện của nàng thôi đã khiến nơi này và những con người này trở nên kỳ lạ như thế, cứ như thể nàng tẩm mùi hương của mình lên hết thảy mọi người nơi đây.

Giả sử bạn bị bịt mắt dẫn tới đó, bạn được đặt ngồi ở một cái bàn, rồi băng bịt mắt được gỡ ra và trong vài phút bạn phải trả lời câu hỏi: Anh đang ở khu nào của Paris? Hẳn bạn chỉ cần nhìn những người xung quanh, nghe họ nói chuyện là có thể đoán ra ngay: quanh giao lộ Odéon, nơi tôi mường tượng cứ trời mưa là luôn luôn ảm đạm như thế này.

Từng có hôm một tay nhiếp ảnh gia bước vào quán Le Condé. Dáng dấp gã không có gì chỏi lên so với khách khứa trong quán. Cùng độ tuổi, cùng lối ăn vận hững hờ. Gã mang một cái áo vest quá dài so với thân hình, quần vải thô và đôi giày nhà binh to tướng. Gã chụp rất nhiều ảnh những người năng lui tới quán Le Condé. Cả gã cũng trở thành khách quen ở đây và, với những người khác, cứ như thể gã đang chụp những bức ảnh gia đình vậy. Rất lâu sau này, chúng xuất hiện trong một quyển sách ảnh chụp Paris, ở dòng ghi chú chỉ có tên riêng hoặc biệt hiệu của từng người khách. Và nàng xuất hiện trên nhiều bức ảnh. Nàng nhạy sáng hơn những người khác, như người ta hay nói trong điện ảnh. Trong số mọi người, nàng được để ý trước hết. Phía dưới trang sách, ở các ghi chú ảnh, nàng được định danh dưới cái tên “Louki’’. “Từ trái qua phải: Zacharias, Louki, Tarzan, Jean-Michel, Fred và Ali Cherif...” “Phía trước, ngồi ở quầy bar: Louki. Phía sau cô, Annet, Don Carlos, Mireille, Adamov và bác sĩ Vala”. Nàng ngồi rất thẳng, trong khi những người khác mang đủ dáng điệu buông thả, chẳng hạn anh chàng mang tên Fred ngủ áp đầu vào thanh gá tường bọc vải giả da và, trông rất rõ, anh ta đã không cạo râu từ nhiều ngày. Phải nói cho rõ điều này: nàng được đặt cái tên Louki kể từ khi bắt đầu hay tới Le Condé. Tôi có ở đó, vào cái buổi tối nàng bước vào quán quãng nửa đêm, lúc ấy chỉ còn lại Tarzan, Fred, Zacharias và Mireille, ngồi cùng bàn với nhau. Tarzan là người hét lên: “Này, Louki kìa...” Thoạt tiên nàng có vẻ hoảng hốt, rồi nàng mỉm cười. Zacharias đứng dậy và, bằng một cái giọng trịnh trọng vờ vĩnh: “Đêm nay, tôi đặt tên cho cô. Kể từ nay, tên cô là Louki”. Giờ giấc trôi đi, khi mỗi người trong số họ đều đã gọi nàng là Louki, tôi nghĩ nàng cảm thấy nhẹ nhõm vì được mang cái tên mới này. Đúng, nhẹ nhõm. Quả vậy, càng suy nghĩ, tôi càng thấy rõ lại ấn tượng ban đầu của mình: nàng tới ẩn náu ở đây, tại quán Le Condé này, như thể muốn chạy trốn điều gì đó, đào thoát khỏi một mối nguy. Ý nghĩ ấy đã vụt đến với tôi lúc thấy nàng một mình, tận trong góc phòng, ở cái nơi chẳng một ai buồn để ý đến nàng. Và khi hòa vào với những người khác, nàng cũng không thu hút sự chú ý. Nàng im lìm và e dè, chỉ để tâm lắng nghe. Và thậm chí tôi còn từng tự nhủ rằng để được an toàn hơn nàng thích các nhóm ầm ĩ, “những kẻ lắm mồm”, nếu không như vậy thì hẳn nàng đã không gần như lúc nào cũng ngồi ở bàn của Zacharias, bàn của Jean-Michel, bàn của Fred, bàn của Tarzan và bàn của La Houpa... Bên họ, nàng tan lẫn vào trong khung cảnh, nàng chỉ còn là một nhân vật vặt vãnh vô danh tính, thuộc hạng những người mà trong các ghi chú ảnh người ta vẫn để là: “Không rõ tên” hoặc, đơn giản hơn, “X”. Phải, hồi đầu, tại Le Condé, tôi không bao giờ thấy nàng ngồi riêng với một ai. Và rồi, chẳng có gì bất tiện khi một trong những kẻ lắm mồm bâng quơ gọi nàng là Louki bởi đó không phải tên thật của nàng.

Thế nhưng, nếu quan sát nàng thật kỹ, người ta sẽ thấy một số chi tiết khiến nàng khác những người còn lại. Nàng rất chăm chút sự ăn vận của mình, theo một lối không hề quen thuộc với khách khứa của Le Condé. Một tối, ở bàn của Tarzan, Ali Cherif và La Houpa, nàng châm một điếu thuốc và tôi sửng sốt trước vẻ thanh tú của hai bàn tay nàng. Và nhất là, những móng tay của nàng óng ánh. Chúng phủ một lớp sơn bóng không màu. Chi tiết này rất dễ có vẻ quá mức nhỏ nhặt. Thế nên ta hãy nghiêm trang hơn. Để làm được như vậy thì cần miêu tả các khách quen của quán Le Condé cụ thể một chút. Họ ở độ tuổi từ mười chín đến hai mươi lăm, trừ một số người như Babilée, Adamov hay bác sĩ Vala đã xấp xỉ tuổi năm mươi, nhưng người ta quên bẵng mất tuổi của họ. Babilée, Adamov và bác sĩ Vala chung thủy với tuổi trẻ của họ, chung thủy với cái mà ta có thể gọi bằng cái tên đẹp thật du dương và cũ kỹ, “bohème”. Tôi tìm từ “bohème” trong từ điển: Người sống một cuộc đời lưu đãng, không phép tắc và cũng không đoái hoài tới ngày mai. Đó là một định nghĩa rất thích hợp với những người năng lui tới Le Condé. Một số người như Tarzan, Jean-Michel và Fred nói rằng từ nhỏ họ từng nhiều lần gặp chuyện lôi thôi với cảnh sát còn La Houpa đã trốn khỏi nhà trừng giới Bon-Pasteur năm mười sáu tuổi. Nhưng ta đang ở tả ngạn sông Seine và phần lớn những người kia sống dưới bóng văn chương nghệ thuật. Cả tôi, hồi ấy tôi cũng đang đi học. Tôi không dám nói cho họ điều đó và cũng không thực sự hòa mình vào nhóm của họ.

Tôi từng cảm thấy rất rõ rằng nàng khác những người còn lại. Nàng từ đâu đến trước khi được đặt cho cái tên ấy? Thường thì, khách quen của quán Le Condé cầm một quyển sách trên tay, quyển sách đó họ hờ hững đặc lên mặt bàn, bìa sách ố vết rượu vang. Les Chants de Maldoror, Les Illuminations, Les Barricades mystérieuses [*] . Nhưng hồi đầu, chẳng bao giờ nàng cầm theo gì. Và rồi, hẳn nàng muốn làm như những người khác và thế là một hôm, ở Le Condé, tôi bắt gặp nàng một mình, đang đọc sách. Kể từ đó, quyển sách không rời khỏi nàng nữa. Nàng đặt nó sao cho thật dễ thấy trên mặt bàn khi ngồi cùng Adamov và những người khác, như thể quyển sách ấy là cuốn hộ chiếu hay thẻ cư trú hợp thức hóa cho sự hiện diện của nàng bên cạnh họ. Nhưng chẳng ai để ý đến nó, cả Adamov, Babilée, Tarzan lẫn La Houpa. Đó là một quyển sách khổ bỏ túi, bìa đã cũ bẩn, thuộc loại sách cũ người ta vẫn mua trên các bờ kè ngoài sông và có nhan để in cỡ lớn màu đỏ: Những chân trời đã mất. Thời ấy, nó không gợi cho tôi điều gì. Lẽ ra tôi phải hỏi nàng về chủ đề cuốn sách, nhưng tôi lại ngu ngốc mà tự nhủ rằng Những chân trời đã mất với nàng chỉ là một thứ phụ liệu và nàng làm ra vẻ đọc nó đặng hòa nhịp với đám khách ở Le Condé. Đám khách này, một người qua đường từ bên ngoài liếc nhìn vào - thậm chí gí trán vào cửa kính một lúc mà nhìn - hẳn sẽ coi chỉ đơn giản là một đám khách sinh viên. Nhưng người đó sẽ mau chóng thay đổi ý kiến khi thấy lượng rượu mà bọn họ nốc ở bàn của Tarzan, Mireille, Fred và La Houpa. Tại các quán cà phê êm ả của khu Latin, hẳn chẳng bao giờ người ta uống tợn như vậy. Dĩ nhiên, vào những giờ hoang vu của buổi chiều, quán Le Condé có thể khiến người ta lầm tưởng. Nhưng trời càng trở sang tối, nó càng trở thành điểm hẹn của thứ mà một triết gia nhiều xúc cảm từng gọi là “tuổi trẻ lạc lối” [*] . Tại sao lại là quán cà phê này chứ không phải một quán khác? Là do bà chủ, một Bà Chadly, người như thể không ngạc nhiên vì bất kỳ điều gì và thậm chí còn thể hiện chút khoan dung với khách của mình. Nhiều năm sau này, khi mà các phố trong khu chỉ còn giăng giăng nối hàng những ô kính cửa hiệu bán đồ xa xỉ và một tiệm đồ da đã chiếm chỗ của quán Le Condé, tôi gặp Bà Chadly bên kia bờ sông Seine, trên dốc phố Blanche. Bà không nhận ra tôi ngay. Chúng tôi bước đi cạnh nhau một lúc lâu mà tán chuyện về Le Condé. Chồng bà, một người Algérie, đã mua lại cơ ngơi hồi sau chiến tranh. Bà còn nhớ tên tất cả chúng tôi. Bà thường tự hỏi chúng tôi ra sao rồi, nhưng bà không mấy khi tự tạo ảo tưởng cho mình. Bà đã biết, ngay từ đầu, rằng mọi chuyện rồi sẽ xoay chuyển tệ hại với chúng tôi. Những con chó lạc [*] , bà bảo tôi thế. Và lúc chia tay nhau trước hiệu bán thuốc trên quảng trường Blanche, bà dõi thẳng vào mắt tôi mà nói: “Tôi ấy mà, người tôi thích nhất là Louki.”

Khi ở bàn của Tarzan, Fred và La Houpa, nàng có uống nhiều như họ không, hay nàng chỉ làm ra vẻ mình có uống, cốt để họ không phật ý? Dù có thế nào thì nàng cũng kiên cường trụ vững trước rượu, với dáng người thật thẳng, những cử chỉ chậm rãi và duyên dáng, nụ cười lãng đãng mơ hồ. Ở quầy thì dễ uống bịp hơn. Bạn chỉ cần tận dụng giây lát thiếu chú ý của đám bạn bè say khướt mà đổ cốc rượu của mình xuống bồn rửa. Nhưng ở đó, tại một cái bàn trong quán Le Condé, thì khó hơn nhiều. Họ bắt bạn theo họ trong những chầu uống. Trong chuyện này, họ tỏ ra nhạy cảm cực độ và sẽ coi bạn là không xứng đáng với nhóm nếu bạn không theo được cho tới cùng cái mà họ gọi là những “chuyến lãng du” của họ. Về phần những thứ chất độc hại khác, tôi từng nghĩ mình hiểu mặc dù không chắc lắm rằng Louki có sử dụng, cùng một số thành viên trong nhóm. Tuy nhiên, không gì trong cái nhìn và thái độ của nàng để người ta đoán được rằng nàng đang đến thăm các thiên đường nhân tạo [*] .

Tôi thường tự hỏi có phải một chỗ quen biết của nàng từng nói cho nàng về Le Condé trước khi nàng đặt chân tới đây lần đầu tiên. Hay ai đó hẹn gặp nàng ở đây rồi không đến. Vậy là, chắc hẳn nàng ngồi lì nơi đây, ngày này qua ngày khác, tối này qua tối khác, tại bàn của mình, mà hy vọng gặp lại người đó tại cái nơi vốn dĩ là điểm mốc duy nhất giữa nàng và người lạ kia. Không còn cách nào khác để gặp người ấy. Không có địa chỉ. Cũng không có số điện thoại. Chỉ một cái tên. Nhưng cũng có thể nàng đã tình cờ mà tới đây, giống như tôi. Nàng đang ở trong khu phố và nàng muốn tránh mưa. Tôi vẫn luôn luôn tin rằng một số địa điểm là những thỏi nam châm và bạn bị hút về phía chúng nếu đang bước đi ở quanh đó. Và chuyện ấy xảy ra theo cách thức không thể nhận biết, thậm chí bạn còn chẳng ngờ tới. Chỉ cần một đường phố thoải dốc, một vỉa hè nắng lùa hoặc một vỉa hè ẩn trong râm mát. Hoặc giả một trận mưa rào. Và điều đó dẫn bạn tới đây, đúng cái điểm bạn phải đến. Tôi thấy như thể Le Condé, bởi địa điểm của nó, sở hữu cái lực từ trường ấy và nếu thực hiện một phép tính xác suất thì kết quả hẳn sẽ xác nhận cho điều này: trong vòng một chu vi nhất định, ta không thể tránh khỏi việc trôi dạt [*] về phía nó. Về chuyện đó thì tôi cũng có đôi chút hiểu biết.

Một thành viên của nhóm, Bowing, chúng tôi hay gọi là “Thuyền Trưởng”, đã bắt tay vào một công việc được những người khác tán thưởng. Từ gần ba năm anh ghi lại tên những người khách của quán Le Condé, theo những lần họ đến, lần nào cũng đi kèm ngày giờ chính xác. Anh giao cho hai người bạn của mình làm cùng công việc ấy tại quán Le Bouquet và quán La Pergola, những nơi mở cửa suốt đêm. Thật không may, ở hai quán cà phê kia, không phải lúc nào khách cũng chịu nói tên. Trong thâm tâm, Bowing tìm cách cứu khỏi quên lãng những con bướm bay thoáng chốc quanh một ngọn đèn. Anh mơ, anh nói vậy, đến một hệ thống sổ sách thật lớn ghi rõ tên khách mọi quán cà phê của Paris từ trăm năm nay, với ghi chú về lúc họ đến và lúc họ đi. Anh bị ám ảnh bởi cái mà anh gọi là “những điểm cố định”.

Trong dòng chảy miên viễn những phụ nữ, đàn ông, trẻ con, và chó, tất tật diễu qua rồi rốt cuộc tan biến dọc các phố, ta những muốn lưu giữ một khuôn mặt, đôi khi. Phải rồi, theo Bowing, giữa chốn phồn hoa đô hội cần phải tìm ra vài điểm cố định. Trước khi ra nước ngoài, anh đã đưa cho tôi quyển vở ghi chép cặn kẽ về khách khứa của quán Le Condé, từng ngày một, trong vòng ba năm. Nàng chỉ xuất hiện trong đó dưới cái tên đi mượn, Louki, và nàng được nêu tên lần đầu vào một ngày 23 tháng Giêng. Mùa đông năm ấy đặc biệt khắc nghiệt, khiến cho một số trong chúng tôi cả ngày không rời Le Condé để tránh lạnh. Thuyền Trưởng cũng chép lại địa chỉ của chúng tôi thế nên ta có thể hình dung được chặng đường quen thuộc dẫn mỗi người chúng tôi tới quán Le Condé. Đó cũng là một cách, với Bowing, thiết lập những điểm cố định. Anh không ghi ngay địa chỉ của nàng. Mãi tới một ngày 18 tháng Ba ta mới đọc được dòng này: “14 giờ. Louki, 16, phố Fermat, quận XIV”. Nhưng ngày 5 tháng Chín cùng năm, nàng đã đổi địa chỉ: “23h40. Louki, 8, phố Cels, quận XIV”. Tôi cho rằng Bowing vạch ra trên những tấm bản đồ Paris cỡ lớn chặng đường tới Le Condé của chúng tôi và Thuyền Trưởng đã dùng bút bi nhiều màu mực để làm việc này. Có thể anh muốn biết chúng tôi có cơ may giáp mặt nhau trước cả khi đến đích hay không.

Thì đấy, tôi còn nhớ một hôm đã gặp Louki tại một khu phố mà tôi không quen thuộc, tôi đến đó để chăm một người anh em họ xa của bố mẹ tôi. Khi ra khỏi nhà ông, tôi đi về phía bến tàu điện ngầm Porte-Maillot, và chúng tôi đã giáp mặt ngay ở đoạn đầu đại lộ Grande-Armée. Tôi nhìn vào mặt nàng và nàng cũng nhìn tôi chằm chằm bằng ánh mắt lo lắng, như thể tôi đã bắt chợt nàng trong một tình huống khó xử. Tôi chìa tay cho nàng: “Chúng ta đã gặp nhau ở quán Le Condé”, tôi nói với nàng, và đột nhiên tôi thấy dường như quán cà phê ấy nằm ở tận cùng thế giới. Nàng nở một nụ cười gượng gạo: “À vâng... ở quán Le Condé...” Lúc ấy là không lâu sau khi nàng xuất hiện lần đầu tiên ở đó. Nàng vẫn còn chưa hòa mình vào với những người khác và Zacharias còn chưa đặt cho nàng cái tên Louki. “Quán cà phê lạ lùng, nhỉ, Le Condé ấy...” Nàng gật đầu đồng ý với tôi. Chúng tôi đi cùng nhau vài bước rồi nàng bảo nàng sống ở gần đây, nhưng nàng không hề thích khu phố này. Thật là ngốc, ngày hôm ấy lẽ ra tôi đã có thể biết tên thật của nàng. Rồi chúng tôi chia tay nhau ở cửa ô Maillot, trước lối xuống bến tàu điện ngầm, và tôi nhìn nàng đi xa dần về phía Neuilly và rừng Boulogne, bước chân mỗi lúc một chậm, như để cho ai đó cơ hội níu giữ nàng. Tôi nghĩ nàng sẽ không quay trở lại quán Le Condé nữa và hẳn sẽ không bao giờ tôi có tin tức về nàng. Hẳn nàng sẽ biến đi vào trong cái mà Bowing gọi là “sự vô danh của thành phố lớn”, anh tự nhận mình chiến đấu chống lại nó, bằng cách ghi đầy những cái tên vào quyển vở của mình. Một quyển vở Clairefontaine bìa đỏ láng nhựa dày một trăm chín mươi hai trang. Nói cho ngay, điều ấy chẳng giúp ích được nhiều. Giở quyển vở ra, ngoài những tên tuổi và địa chỉ thoáng qua, ta không biết được gì về tất cả những người ấy, cũng như về tôi. Chắc hẳn Thuyền Trưởng cho rằng nêu tên và “cố định hóa” chúng tôi ở đâu đó đã là một việc lớn lao rồi. Phần còn lại... Ở quán Le Condé, chúng tôi không bao giờ hỏi nhau về nguồn gốc xuất thân. Chúng tôi còn quá trẻ, chúng tôi không có quá khứ để hé lộ, chúng tôi sống ở thì hiện tại. Ngay những người khách già hơn, Adamov, Babilée hay bác sĩ Vala cũng không bao giờ nói gì ám chỉ tới quá khứ của họ. Họ chỉ ở đó, giữa chúng tôi, mà thôi. Mãi đến giờ, sau ngần ấy thời gian, tôi mới cảm thấy một nỗi tiếc nuối: tôi những muốn Bowing cụ thể hơn trong quyển vở của anh, muốn anh dành cho mỗi người một đoạn tiểu sử ngắn. Anh có thật lòng tin rằng một cái tên và một địa chỉ là đủ, sau này, để lần lại một sợi dây đời? Và nhất là vỏn vẹn một cái tên không phải tên thật? “Louki. Thứ Hai 12 tháng Hai, 23 giờ.” “Louki. 28 tháng Tư, 14 giờ.” Anh cũng chép rõ chỗ mà những người khách ngồi ở quanh bàn, mỗi ngày. Thỉnh thoảng, thậm chí còn không có cả họ lẫn tên. Ba lần liền, trong tháng Sáu năm ấy, anh viết: “Louki cùng người đàn ông tóc nâu vận áo vest da hoẵng.” Anh đã không hỏi tên người đó, hoặc giả người đó từ chối trả lời. Có vẻ như người này không phải khách quen của quán. Người đàn ông tóc nâu vận áo vest da hoẵng đã biến mất vĩnh viễn vào những phố phường Paris, và Bowing đã chỉ cố định được cái bóng của người đó trong vòng vài giây. Và rồi cũng có những điểm không chính xác trong quyển vở của anh. Rốt cuộc tôi đã thiết lập được các điểm quy chiếu giúp tôi xác nhận việc nàng đã không đến quán Le Condé lần đầu tiên vào tháng Giêng như Bowing làm người khác tưởng đâu là thế. Trước ngày hôm ấy một thời gian tôi đã có một kỷ niệm về nàng. Chỉ từ khi những người khác đặc cho nàng cái tên Louki thì Thuyền Trưởng mới bắt đầu nêu tên nàng, và tôi cho rằng cho đến lúc ấy anh đã không hề để ý tới sự hiện diện của nàng. Thậm chí nàng còn không có được một ghi chú mơ hồ theo kiểu “14 giờ. Một cô gái tóc nâu mắt xanh lục,” giống như người đàn ông tóc nâu mặc áo vest da hoẵng.

Nàng xuất hiện vào tháng Mười năm trước đó. Tôi phát hiện được trong quyển vở của Thuyền Trưởng một điểm mốc: “15 tháng Mười. 21 giờ. Sinh nhật Zacharias. Ở bàn của anh ta: Annet, Don Carlos, Mireille, La Houpa, Fred, Adamov”. Tôi còn nhớ rất rõ bữa ấy. Nàng ngồi cùng bàn với họ. Tại sao Bowing lại không nảy sinh tò mò mà hỏi tên nàng? Những lời chứng thật mong manh và mâu thuẫn với nhau, nhưng tôi chắc rằng nàng có mặt tối hôm ấy. Mọi điều khiến nàng trở nên vô hình trong mắt Bowing đều tác động mạnh lên tôi. Sự rụt rè của nàng, những cử chỉ chậm rãi của nàng, nụ cười của nàng, và nhất là sự im lặng của nàng. Nàng ngồi cạnh Adamov. Có lẽ chính vì ông mà nàng đã đến quán Le Condé. Tôi vẫn thường xuyên gặp Adamov quanh quẩn Odéon, và xa hơn, trong khu phố Saint-Julien-le-Pauvre. Lần nào cũng thấy ông bước đi, bàn tay đặt lên vai một cô gái trẻ. Một người mù nhờ cậy người khác dẫn đường. Thế nhưng ông lại có vẻ thấy mọi thứ, bằng cái nhìn kiểu con chó bi thảm của mình. Và hình như mỗi lần lại là một cô gái khác dẫn đường cho ông. Hoặc nữ y tá. Tại sao lại không thể là nàng? Và đúng thế, đêm hôm đó, nàng ra khỏi Le Condé cùng Adamov. Tôi thấy họ xuôi phố vắng về phía Odéon, Adamov đặt tay trên vai nàng và máy móc bước đi. Trông như thể nàng sợ đi quá nhanh, và đôi khi nàng dừng lại một thoáng, như để ông lấy hơi. Tại giao lộ Odéon, Adamov bắt tay nàng vẻ hơi trịnh trọng, rồi nàng trôi tuột xuống miệng bến tàu điện ngầm. Ông lấy lại bước đi người mộng du trực chỉ hướng Saint-André-des-Arts. Còn nàng? Phải, nàng bắt đầu năng tới quán Le Condé vào mùa thu. Và hẳn đó không phải là vì tình cờ. Với tôi, mùa thu chưa bao giờ là một mùa buồn. Những lá rụng và những ngày mỗi lúc một ngắn thêm với tôi chưa bao giờ gợi lên kết cục của một điều gì đó mà đúng hơn là một sự chờ đợi ở tương lai. Trong không khí có luồng điện, ở Paris này, vào các buổi chiều tháng Mười khi bóng tối bắt đầu buông. Ngay cả khi trời mưa. Tôi không bị chán chường vào giờ ấy, cũng không có cảm giác về sự đào thoát của thời gian. Tôi thấy như mọi điều đều là khả dĩ. Năm bắt đầu vào tháng Mười. Đó là mùa tựu trường và tôi tin đó chính là mùa của những dự đồ. Thế nên, nếu quả thật nàng tới quán Le Condé vào tháng Mười, thì đó là bởi nàng đã đoạn tuyệt với cả một phần đời và nàng muốn làm cái việc người ta vẫn gọi tên trong những cuốn tiểu thuyết: LỘT XÁC. Vả lại, có một dấu hiệu chứng tỏ cho tôi thấy rằng hẳn mình đã không nhầm. Ở quán Le Condé, người ta cho nàng một cái tên mới. Và Zacharias, ngày hôm ấy, thậm chí còn nói đến lễ rửa tội. Một sự sinh ra lần thứ hai, theo cách nào đó.

Về phần người đàn ông tóc nâu vận áo vest da hoẵng, thật không may, ông ta không bao giờ xuất hiện trên các bức ảnh chụp ở Le Condé. Thật tiếc. Thường thì rốt cuộc người ta xác định được ai đó nhờ một bức ảnh. Người ta đăng nó trên một tờ báo đồng thời kêu gọi nhân chứng. Liệu đó có phải một thành viên của nhóm mà Bowing không quen biết và anh đã lười hỏi tên?

Tối qua, tôi chăm chú lật giở tất cả các trang của quyển vở. “Louki cùng người đàn ông tóc nâu vận áo vest da hoẵng.” Và tôi nhận ra, kinh ngạc vô chừng, rằng không phải mãi đến tháng Sáu Thuyền Trưởng mới nêu tên người lạ mặt này. Ở phía dưới một trang, anh vội vã nguệch ngoạc: “24 tháng Năm. Louki cùng người đàn ông tóc nâu vận áo vest da hoẵng”. Và ta lại thấy cùng ghi chú này hai lần vào tháng Tư. Tôi đã hỏi Bowing tại sao, mỗi lần có gì liên quan đến nàng, là anh lại dùng bút chì màu xanh gạch dưới tên, như thể để phân biệt nàng với những người khác. Không, không phải anh làm việc ấy. Một hôm anh đang ngồi ở quầy bar ghi chép khách khứa có mặt trong phòng vào quyển vở thì một người đàn ông đứng cạnh bắt chợt anh trong lúc anh làm việc ấy: một người trạc tứ tuần có quen biết bác sĩ Vala. Ông ta có giọng nói rất êm ái và hút những điếu thuốc lá loại nhẹ. Bowing cảm thấy tin cậy ông ta và nói vài lời về cái mà anh gọi là Quyển Sách vàng. Người kia tỏ vẻ quan tâm. Ông ta là “nhà xuất bản sách nghệ thuật”. À có, ông ta có biết người trước đó một quãng thời gian đã chụp những bức ảnh tại quán Le Condé. Ông ta tự nhận mình sắp xuất bản một quyển sách ảnh về chủ đề này, nhan đề có thể sẽ là: Một quán cà phê ở Paris. Liệu anh có thể tốt bụng cho ông ta mượn quyển vở của anh cho đến ngày hôm sau không, hẳn nó có thể giúp ông ta chọn lựa những lời chú thích ảnh? Ngày hôm sau, ông ta mang trả quyển vở cho Bowing và không bao giờ xuất hiện ở Le Condé nữa. Thuyền Trưởng thấy rất kinh ngạc vì tên của Louki lần nào cũng được gạch dưới bằng bút chì màu xanh. Anh đã muốn biết thêm về chuyện này bằng cách đặt cho bác sĩ Vala vài câu hỏi liên quan tới tay nhà xuất bản sách nghệ thuật đó. Vala rất ngạc nhiên. “A, tay ấy bảo hắn xuất bản sách nghệ thuật à?” Ông biết ông ta theo kiểu hời hợt, vì vẫn thường xuyên gặp trên phố Saint-Benoît chỗ quán La Malène và tại quầy bar quán Le Montana nơi thậm chí ông còn từng nhiều lần chơi trò 421 [*] với ông ta. Ông ta hay lui tới khu phố này từ lâu rồi. Tên ông ta à? Caisley. Cơ hồ Vala có chút bực bội khi nói tới ông ta. Và khi Bowing ám chỉ tới quyển vở của mình và những nét bút chì màu xanh gạch bên dưới tên Louki, một thoáng lo lắng hiện ra trong cái nhìn của bác sĩ. Chỉ trong chốc lát. Rồi ông mỉm cười. “Hẳn là tay ấy quan tâm tới con bé... Con bé xinh xẻo thế cơ mà... Nhưng cái ý tưởng viết hết những cái tên đó vào quyển vở của anh thì kỳ cục quá thể... Anh làm tôi thấy thích đấy, anh và nhóm của anh và các trải nghiệm đặc lý [*] của các anh...” Ông trộn lẫn tất cả vào với nhau, đặc lý, duy tự [*] , viết tự động, các siêu ký hiệu [*] và mọi trải nghiệm mà những khách nhiều chất văn chương nhất của quán Le Condé, như Bowing, Jean-Michel, Fred, Babilée, Larronde hay Adamov, vẫn hay làm. “Và rồi thật nguy hiểm khi làm thế”, bác sĩ Vala nói thêm, giọng trầm xuống. “Có thể gọi quyển vở của anh là sổ cái của cảnh sát hay bản kê khai của một sở cẩm. Cứ như thể tất cả chúng ta bị tóm trong một cuộc càn quét ấy...”

Bowing phản đối, thử trình bày với ông lý thuyết về các điểm cố định của anh, nhưng kể từ ngày hôm ấy Thuyền Trưởng bắt đầu có cảm giác Vala nghi ngại anh và thậm chí còn muốn tránh mặt anh.

Cái tay Caisley đó đã không chỉ làm một việc là gạch dưới tên Louki. Lần nào mà có thêm “người đàn ông tóc nâu vận áo vest da hoẵng” thì sẽ có hai nét gạch bút chì xanh. Toàn bộ chuyện này đã làm rối trí Bowing dữ dội và những ngày tiếp theo đó anh đã lang thang trên phố Saint-Benoît với hy vọng gặp trúng được cái kẻ tự xưng là nhà xuất bản sách nghệ thuật ấy, ở quán La Malène hoặc quán Le Montana, đặng đòi ông ta giải thích. Anh đã không bao giờ tìm lại được ông ta. Bản thân anh một thời gian sau phải rời nước Pháp và để lại cho tôi quyển vở, như thể anh muốn tôi tiếp tục cuộc tìm kiếm của anh. Nhưng giờ thì đã quá muộn. Và rồi nếu cả giai đoạn ấy có đôi khi trở nên sống động trong ký ức tôi, thì cũng chính bởi những câu hỏi không có lời đáp.

Vào những giờ trống trải của ngày, lúc từ chỗ làm về, và thường là trong nỗi cô đơn những tối Chủ nhật, một chi tiết quay trở lại với tôi. Vận lấy toàn bộ sự chú tâm, tôi tìm cách tập hợp những chi tiết khác rồi viết chúng vào cuối quyển vở của Bowing, trên các trang vẫn còn để trắng. Cả tôi nữa, tôi khởi sự tìm kiếm những điểm cố định. Đó là một việc làm cho qua thời gian, giống những người khác chơi ô chữ hoặc chơi trò réussite [*] . Những tên và ngày tháng trong quyển vở của Bowing giúp tôi rất nhiều, thỉnh thoảng chúng gợi lại một sự kiện cụ thể, một buổi chiều mưa hoặc một buổi chiều nắng, tôi vẫn luôn luôn rất nhạy cảm với các mùa. Một tối nọ, Louki bước vào quán Le Condé, tóc ướt lướt thướt vì một trận mưa rào hay đúng hơn là vì những cơn mưa không dứt của tháng Mười một hoặc đầu mùa xuân. Bà Chadly đang đứng sau quầy bar ngày hôm ấy. Bà đã lên tầng trên, về căn hộ nhỏ xíu của bà, để tìm một cái khăn tắm. Như quyển vở chỉ ra, tối đó ngồi cùng bàn có Zacharias, Annet, Don Carlos, Mireille, La Houpa, Fred và Maurice Raphaël. Zacharias cầm lấy cái khăn lau tóc cho Louki rồi buộc túm nó lại theo kiểu turban quanh đầu nàng. Nàng ngồi xuống bàn họ, họ rót cho nàng một cốc grog, và nàng ở lại rất khuya với họ, cái turban buộc trên đầu. Ra khỏi Le Condé, quãng hai giờ sáng, trời vẫn mưa. Chúng tôi đứng ở chỗ tường hõm lối vào và Louki vẫn mang cái turban. Bà Chadly đã tắt đèn phòng và đi ngủ. Bà mở cửa sổ ở lưng chừng tầng trệt và tầng trên, bảo chúng tôi lên nhà bà mà trú mưa. Nhưng Maurice Raphaël nói với bà, vẻ rất hào hoa: “Không phải nghĩ đến chuyện ấy đâu, thưa bà... Chúng tôi phải để cho bà ngủ chứ...” Đó là một anh chàng đẹp trai tóc nâu, hơn tuổi chúng tôi, một khách quen nhẵn mặt của Le Condé được Zacharias đặt cho biệt hiệu “Báo Gấm” căn cứ vào cách đi đứng của anh và những động tác của loài miêu ở anh. Như Adamov và Larronde, anh đã cho in nhiều cuốn sách, nhưng chúng tôi không bao giờ nói chuyện về chúng. Một tấm màn bí ẩn bay lơ lửng quanh người đàn ông này và thậm chí chúng tôi còn nghĩ anh có nhiều dây mơ rễ má với Giới Tội Phạm. Mưa đã nặng hạt hơn hẳn, một trận mưa đổi mùa, nhưng không có gì nghiêm trọng với những người khác, vì họ sống ngay trong khu phố. Chẳng mấy chốc, chỉ còn lại Louki, Maurice Raphaël và tôi dưới cổng. “Tôi chở các bạn về nhé?” Maurice Raphaël đề nghị. Chúng tôi chạy dưới mưa, xuống đến cuối đường, nơi anh đỗ xe, một chiếc Ford cũ màu đen. Louki ngồi cạnh anh, còn tôi, ở băng ghế sau. “Tôi thả ai xuống trước đây?” Maurice Raphaël hỏi. Louki nói tên phố nhà nàng, nói rõ thêm rằng nó nằm quá nghĩa trang Montparnasse. “Thế thì cô sống ở vùng rìa”, anh nói. Và tôi tin cả hai chúng tôi đều không hiểu “ở vùng rìa” nghĩa là sao. Tôi bảo anh thả tôi xuống sau khi hết hàng rào vườn Luxembourg, ở góc phố Val-de-Grâce. Tôi không muốn anh biết chính xác tôi sống ở đâu vì sợ anh sẽ đặt cho tôi những câu hỏi.

Tôi bắt tay Louki và Maurice Raphaël, bụng bảo dạ rằng cả hai đều không biết tên tôi. Tôi là một người khách rất kín đáo của quán Le Condé và tôi hơi tách biệt một chút, chỉ làm một việc là lắng nghe mọi người khác. Với tôi như thế là đủ. Tôi cảm thấy thoải mái khi ở cùng họ. Với tôi quán Le Condé là một chốn trú ẩn khỏi mọi thứ gì mà tôi mường tượng là u ám của cuộc đời. Hẳn rồi sẽ có một phần con người tôi - cái phần tốt đẹp nhất - tới một ngày tôi buộc phải để lại nơi đó.

“Cậu thật khôn ngoan khi chọn sống ở khu Val-de-Grâce”, Maurice Raphaël bảo tôi.

Anh mỉm cười với tôi và tôi thấy như thể nụ cười ấy biểu lộ vừa sự quý mến vừa sự mỉa mai.

“Hẹn sớm gặp lại nhé”, Louki nói.

Tôi ra khỏi xe, đợi cho nó biến mất về phía Port-Royal, để rồi đi ngược lại con đường. Trên thực tế, tôi không hoàn toàn sống trong khu Val-de-Grâce, mà lui xuống dưới một chút, trong tòa nhà số 85 trên đại lộ Saint-Michel, nơi, nhờ phép màu, tôi đã tìm được một căn phòng ngay khi tới Paris. Cửa sổ nhìn thẳng sang mặt tiền đen sẫm của trường tôi. Đêm hôm đó, tôi không thể rời mắt khỏi cái mặt tiền kỳ vĩ ấy cùng cầu thang đá lớn của lối vào. Họ sẽ nghĩ gì nếu biết gần như ngày nào tôi cũng đi qua cái cầu thang đó, nếu biết tôi là sinh viên Trường Mỏ? Zacharias, La Houpa, Ali Cherif hay Don Carlos có biết chính xác Trường Mỏ nghĩa là gì không? Tôi phải giữ cho kín bí mật của mình nếu không rất có thể họ sẽ chế nhạo hoặc nghi ngại tôi. Với Adamov, Larronde hay Maurice Raphaël, Trường Mỏ nói lên điều gì? Không gì hết, hẳn vậy. Hẳn họ sẽ khuyên tôi đừng lui tới cái chốn đó nữa. Tôi bỏ thật nhiều thời gian đến quán Le Condé chính là bởi tôi muốn người ta cho tôi cái lời khuyên ấy, một lần cho tất cả. Hẳn Louki và Maurice Raphaël đã đến được phía bên kia nghĩa trang Montpamasse, cái vùng mà anh gọi là “vùng rìa”. Còn tôi, tôi trì mình trong bóng tối, đứng đó trước cửa sổ mà chiêm ngưỡng cái mặt tiền đen sẫm của tòa nhà. Có thể so sánh nó với nhà ga hoang phế của một thành phố hàng tỉnh. Trên các bức tường của tòa nhà kế bên, tôi từng trông thấy dấu những vết đạn, như thể người ta từng xử bắn ai đó ở đây. Tôi trầm giọng nhắc đi nhắc lại hai cái từ với tôi mỗi lúc một trở nên kỳ quái hơn này: TRƯỜNG MỎ.

༺༒༻

Tôi đã gặp may vì chàng thanh niên đó ngồi cạnh bàn tôi ở quán Le Condé và chúng tôi khởi sự trò chuyện với nhau một cách hết sức tự nhiên. Đó là lần đầu tiên tôi tới quán và tôi đáng tuổi bố anh ta. Quyển vở anh ta dùng để chép tên những người khách của quán Le Condé, hết ngày này qua ngày khác, hết đêm này qua đêm khác, từ ba năm, làm công việc của tôi dễ dàng hơn hẳn. Tôi thấy tiếc vì đã giấu anh ta lý do chính xác khiến tôi muốn xem cái tài liệu mà anh ta vui lòng cho tôi mượn. Nhưng tôi có nói dối anh ta không khi bảo mình là nhà xuất bản sách nghệ thuật?

Tôi nhận thấy rằng anh ta tin lời tôi. Đó chính là lợi thế của việc hơn người khác những hai mươi tuổi: họ không biết gì về quá khứ của bạn. Và ngay cả khi họ đặt cho bạn vài câu hỏi lơ đãng về đời bạn cho đến thời điểm ấy, thì bạn vẫn có thể ngụy tạo ra toàn bộ. Một cuộc đời mới. Họ sẽ chẳng đi kiểm tra đâu. Bạn càng kể về nó, cái cuộc đời trong tưởng tượng đó, thì những bụm lớn không khí tươi mát càng lướt ngang qua cái chốn kín bưng khiến bạn ngạt thở suốt bấy lâu nay. Một cửa sổ chợt bật mở, những chớp cửa va đập vì gió lộng của không trung. Lại một lần nữa bạn thấy ở trước mặt mình có tương lai.

Nhà xuất bản sách nghệ thuật. Điều ấy vụt hiện ra trong óc tôi mà không cần suy nghĩ. Cách đây hơn hai mươi năm người ta có hỏi tôi định làm gì, hẳn tôi cũng đã ấp úng mà rằng: nhà xuất bản sách nghệ thuật. Và thế là, ngày hôm nay tôi đã nói điều đó. Chưa gì thay đổi hết cả. Tất cả những năm đã trôi qua kia đã bị tiêu hủy.

Trừ mỗi việc tôi đã không hoàn toàn gạt phăng đi quá khứ. Vẫn còn lại một số chứng nhân, một số người còn sống sót trong số những người từng là đương thời với ta. Một tối, tại quán Le Montana, tôi hỏi tuổi của bác sĩ Vala. Chúng tôi sinh cùng năm. Và rồi tôi nhắc cho ông rằng xưa kia chúng tôi đã gặp nhau, ở cùng quán bar này, lúc khu phố vẫn còn lấp lánh toàn bộ ánh sáng rực rỡ của nó. Vả lại, tôi thấy dường như mình đã gặp ông rất lâu từ trước, ở những khu phố khác của Paris, bên hữu ngạn. Thậm chí tôi còn chắc chắn về điều đó. Vala, giọng khô khốc, gọi một cốc Vittel, chặn ngang lời tôi vào đúng khi tôi thiếu điều đã gợi lại những kỷ niệm tệ hại. Tôi bèn im bặt. Chúng tôi sống nhờ một số khoảng thinh lặng. Chúng tôi biết nhiều điều về nhau. Vậy nên chúng tôi tìm cách tránh mặt nhau. Tốt nhất, lẽ dĩ nhiên, là hoàn toàn khuất mắt nhau.

Sự trùng hợp thật kỳ cục... Chiều nay tôi lại gặp trúng Vala, khi lần đầu tiên bước qua ngưỡng cửa quán Le Condé. Ông ngồi ở một cái bàn trong góc cùng hai hay ba thanh niên. Ông ném về phía tôi một cái nhìn lo ngại của người đang sống yên lành bỗng thấy một bóng ma. Tôi mỉm cười với ông. Tôi bắt tay ông mà không nói năng gì. Tôi cảm nhận được rằng bất kỳ lời nào mình thốt ra cũng có khả năng khiến ông thấy bất tiện đối với những người bạn mới. Ông có vẻ nhẹ nhõm vì sự im lặng và sự kín đáo của tôi, khi tôi ngồi xuống cái ghế băng bọc vải giả da ở đầu kia phòng. Từ đó, tôi có thể quan sát ông mà ông không nhìn thấy. Ông thấp giọng nói chuyện với họ, nghiêng người về phía họ. Có phải ông ngại tôi nghe thấy lời ông? Thế là, để giết thời gian, tôi tưởng tượng ra mọi câu mình có thể nói bằng cái giọng vờ vịt xã giao hẳn sẽ làm những giọt mồ hôi rịn ra trên trán ông. “Ông vẫn làm bác sĩ quân y đấy chứ?” Và sau một quãng im lặng: “Nói xem nào, ông vẫn làm ở ke Louis-Blériot đấy chứ? Trừ khi ông vẫn giữ phòng khám trên phố Moscou... Và cái lần ở Fresnes hồi lâu rồi ấy, tôi hy vọng nó không để lại những hậu quả nặng nề...” Thiếu điều thì tôi đã phá lên cười, một mình, trong góc của tôi. Người ta không già đi. Với những năm tháng trôi qua, nhiều người và nhiều thứ rốt cuộc trở nên hài hước và nực cười đến mức bạn ném vào họ và vào chúng một cái nhìn trẻ con.

༺༒༻

Cái lần đầu tiên ấy, tôi nán lại lâu ở quán Le Condé để đợi. Cô ta không tới. Phải kiên nhẫn thôi. Hẳn sẽ là một ngày khác. Tôi quan sát khách khứa. Phần lớn chưa quá tuổi hai mươi lăm và một tiểu thuyết gia thế kỷ XIX hẳn sẽ dùng cụm từ “bohème sinh viên” nếu muốn miêu tả họ. Nhưng rất ít người trong số họ, theo tôi, ghi tên theo học ở Sorbonne hay Trường Mỏ. Tôi phải thú nhận rằng quan sát từ thật gần như thế này tôi cảm thấy lo lắng cho tương lai của họ.

Hai người đàn ông bước vào, cách nhau một quãng rất ngắn. Adamov và cái tay tóc nâu có lối bước đi uyển chuyển từng in vài quyển sách, ký tên Maurice Raphaël. Tôi có biết mặt Adamov. Xưa kia, gần như ngày nào ông cũng ở quán Old Navy và người ta không sao quên nổi ánh nhìn của ông. Tôi tin mình từng giúp ông một việc nhằm hợp thức hóa tình trạng của ông, thời tôi vẫn còn vài liên hệ với bên an ninh. Về phần mình, Maurice Raphaël cũng là một khách quen của các quán trong khu. Người ta bảo anh ta gặp nhiều rắc rối dạo sau chiến tranh dưới một cái tên khác. Thời ấy, tôi làm việc cho Blémant. Cả hai người bọn họ đến chống cùi chỏ lên mặt quầy. Maurice Raphaël đứng, rất thẳng, còn Adamov thì đu người ngồi lên một cái ghế cao, mặt nhăn nhúm vẻ đau đớn. Ông không để ý tôi có ở đó. Vả lại, liệu khuôn mặt tôi có gợi lên một điều gì đó cho ông hay không? Ba thanh niên, trong đó có một cô gái tóc vàng mặc một cái áo gió đã bạc phếch và quàng khăn, đến chỗ họ bên quầy. Maurice Raphaël chìa cho họ một bao thuốc lá và nhìn họ với một nụ cười thích thú. Adamov thì tỏ ra ít thân thiết hơn. Căn cứ vào cái nhìn căng thẳng của ông thì có thể nói rằng ông có phần khiếp sợ trước họ.

Tôi có hai bức ảnh chụp bằng máy tự động cái cô nàng Jacqueline Delanque ấy ở trong túi áo... Thời tôi còn làm việc cho Blémant, ông ta vẫn luôn luôn kinh ngạc trước việc tôi dễ dàng nhận ra bất kỳ ai. Tôi chỉ cần gặp thoáng qua một lần duy nhất khuôn mặt nào đó là nó in khắc trong ký ức tôi, và Blémant cứ trêu tôi suốt về cái tài nhận ra ngay tắp lự một ai đó từ xa, cho dù chỉ nhìn nghiêng một góc ba phần tư hoặc thậm chí là nhìn từ sau lưng. Vậy nên tôi không thấy có chút lo lắng nào. Khi cô ta bước chân vào quán Le Condé, tôi sẽ biết ngay rằng đó là cô ta.

Bác sĩ Vala quay đầu về hướng quầy, và ánh mắt chúng tôi giao nhau. Bàn tay ông phác một cử chỉ thân ái. Đột nhiên tôi những muốn đi tới bàn ông mà nói với ông rằng tôi có một câu hỏi rất riêng tư muốn đặt cho ông. Tôi sẽ kéo ông ra xa rồi chìa cho ông xem hai bức ảnh chụp bằng máy tự động: “Anh có biết cô ca không?” Thực sự, với tôi sẽ là rất hữu ích nếu biết được thêm một chút về cô gái này nhờ vào một trong những người khách của quán Le Condé.

༺༒༻

Ngay khi biết được địa chỉ khách sạn của cô ta, tôi liền đến tận nơi. Tôi chọn quãng thời gian trống trải của buổi chiều. Sẽ có nhiều cơ may cô ta không có ở đó hơn. Ít nhất thì tôi hy vọng là vậy. Nhờ thế tôi sẽ có thể đặt vài câu hỏi về cô ta ở chỗ tiếp tân. Đó là một ngày thu đầy nắng và tôi quyết định đi bộ. Tôi xuất phát từ phía các ke sông và chậm rãi tiến sâu vào vùng đất liền. Phố Cherche-Midi, mặt trời chiếu vào mắt tôi. Tôi bước vào quán Le Chien qui fume, gọi một ly cognac. Tôi lo lắng. Tôi nhìn đại lộ Maine đằng sau ô kính. Tôi sẽ phải đi trên vỉa hè bên trái để đến được đích. Không có lý do nào để phải lo lắng. Càng đi trên đại lộ, tôi càng trở nên bình tĩnh hơn. Tôi gần như chắc chắn rằng cô ta không có ở đó, vả lại lần này tôi cũng sẽ không vào trong khách sạn để đặt các câu hỏi. Tôi sẽ lượn lờ xung quanh, như khi người ta muốn định vị một cái gì đó. Tôi còn đầy thời gian. Tôi đã được trả tiền để làm vậy.

Tới phố Cels, tôi quyết định phải làm sao biết cho thật rõ. Đó là một phố yên tĩnh và xám xịt, gợi lên trong tâm trí tôi không phải một ngôi làng hay một khu ngoại ô, mà là những vùng bí ẩn mà người ta gọi là “vùng sâu vùng xa”. Tôi tiến thẳng về phía bàn tiếp tân khách sạn. Không có ai. Tôi đợi chừng mười phút, nuôi hy vọng cô ta không xuất hiện. Một cánh cửa mở ra, một phụ nữ tóc nâu cắt ngắn, vận đồ đen, đi đến bàn tiếp tân. Tôi cất giọng cố sao thật dễ chịu:

“Tôi muốn hỏi về Jacqueline Delanque.”

Tôi nghĩ ở đây cô ta đăng ký phòng bằng tên hồi con gái.

Bà ta mỉm cười với tôi và nhấc cái phong bì từ một ngăn để đồ đằng sau lưng.

“Ông là ông Roland phải không?”

Tay ấy là ai? Tôi mơ hồ gật đầu phứa. Bà ta chìa cho tôi cái phong bì ở trên ghi dòng chữ bằng mực xanh: Gửi Roland. Phong bì không dán. Trên một tờ giấy rộng bản, tôi đọc được:

Rolandy, đến tìm em sau 5 giờ ở chỗ quán Le Condé nhé. Nếu không thì gọi điện cho em ở số AUTEUIL 15-28 và để lại tin nhắn.

Ký tên Louki. Có phải tên gọi tắt của Jacqueline không?

Tôi gập tờ giấy lại, nhét vào phong bì rồi trả cho người phụ nữ tóc nâu.

“Xin lỗi... Nhầm mất rồi... Không phải gửi cho tôi đâu.”

Bà ta không hề thảng thốt, chỉ để lại bức thư vào trong ngăn bằng một động tác máy móc.

“Jacqueline Delanque ở đây lâu chưa?”

Bà ta ngần ngừ mộc lúc rồi trả lời bằng giọng êm ái:

“Từ khoảng một tháng nay.”

“Một mình à?”

“Vâng.”

Tôi cảm thấy bà ta thờ ơ và sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của tôi. Cái nhìn của bà ta lên tôi trông vô cùng mệt mỏi.

“Xin cám ơn bà”, tôi nói với bà ta.

“Không có gì.”

Tôi không muốn nán lại lâu hơn. Cái tay Roland kia có thể đến bất cứ lúc nào. Tôi quay ra đại lộ Maine và đi ngược lại hướng lúc nãy. Ở quán Le Chien qui fume tôi lại gọi một ly cognac. Trong danh bạ, tôi tìm địa chỉ quán Le Condé. Nó nằm ở khu Odéon. Mới bốn giờ, tôi còn chút thời gian trước mặt. Vậy nên, tôi gọi điện tới số AUTEUIL 15-28. Một giọng khô khốc khiến tôi nghĩ đến cái đồng hồ biết nói: “Đây là xưởng ô tô La Fontaine... Tôi có thể giúp gì cho quý khách?” Tôi hỏi Jacqueline Delanque. “Cô ấy đi vắng một lúc... Có nhắn lại gì không?” Tôi đã chực bỏ máy, nhưng rồi cố trả lời: “Không, không nhắn gì cả. Cám ơn.”

Muốn hiểu người khác hơn thì trước hết cần phải xác định càng chính xác càng tốt các lộ trình của họ. Tôi nhỏ giọng tự nhắc đi nhắc lại: “Khách sạn phố Cels. Xưởng sửa chữa ô tô La Fontaine. Quán cà phê Le Condé. Louki”. Và rồi, cái phần của Neuilly nằm giữa rừng Boulogne và sông Seine, nơi cái tay kia đã hẹn gặp tôi để nói chuyện về người vợ của hắn, cái cô Jacqueline Choureau, nhũ danh Delanque.

༺༒༻

Tôi đã quên ai khuyên hắn liên hệ với tôi. Có quan trọng gì đâu. Hẳn là hắn đã tìm được địa chỉ của tôi trong danh bạ. Tôi lên tàu điện ngầm sớm hơn hẳn so với giờ hẹn. Không phải đổi tàu. Tôi xuống bến Sablons và đi bộ gần nửa tiếng quanh đó. Tôi vẫn giữ thói quen trinh sát địa điểm trước chứ không ngay lập tức xông tới tiếp cận đối tượng. Xưa kia, Blémant hay trách tôi vì điều đó và nêu nhận xét là tôi làm mất nhiều thời gian. Hãy nhảy xuống nước, ông ta bảo tôi, thay vì cứ lượn vòng vòng trên bờ bể bơi. Còn tôi thì nghĩ ngược hẳn lại. Không được có cử chỉ quá đột ngột, mà phải thụ động và chậm rãi, thì dần dần bạn mới để cho tinh thần nơi chốn thấm vào trong người mình được.

Trong không khí, bồng bềnh mùi vị mùa thu và nông thôn. Tôi đi theo đại lộ chạy dọc Jardin d’Acclimatation, nhưng là ở mé bên trái, mé có rừng và lối cưỡi ngựa, và tôi những muốn đây chỉ đơn thuần là một cuộc đi dạo.

Cái cay Jean-Pierre Choureau đã gọi điện thoại cho tôi để hẹn gặp bằng một giọng đều đều không ngữ điệu. Hắn chỉ để cho tôi hiểu rằng chuyện là về vợ hắn. Trên đường đi về phía nhà hắn, tôi thấy hắn cũng đang đi bộ giống như tôi trên lối cưỡi ngựa, ngang qua khu vui chơi của Jardin d’Acclimatation. Hắn bao tuổi? Âm sắc giọng nói của hắn tôi thấy thật trẻ trung, nhưng giọng nói vẫn hay lừa mị người ta.

Hắn đang lôi kéo tôi vào tấn thảm kịch hay địa ngục hôn nhân nào đây? Tôi thấy nỗi nản lòng dâng lên, và không còn thật chắc chắn là mình muốn đến chỗ hẹn nữa. Tôi đi xuyên qua Rừng về hướng đầm Saint-James và cái hồ nhỏ nơi tụ tập những người ưa trượt pa tanh vào mùa đông. Tôi là người dạo chơi duy nhất và có cảm giác mình đang ở rất xa Paris, đâu đó trong vùng Sologne. Thêm một lần, tôi lại vượt qua được nỗi nản lòng. Một sự tò mò mơ hồ mang tính chất nghề nghiệp làm tôi bỏ dở cuộc dạo chơi ngang rừng quay trở về ven rìa khu Neuilly. Vùng Sologne. Neuilly. Tôi hình dung những buổi chiều mưa đằng đẵng mà cặp vợ chồng Choureau ấy từng có ở Neuilly. Và ở đó tại Sologne, ta nghe tiếng tù và đi săn, vào lúc hoàng hôn. Vợ hắn có cưỡi ngựa như nữ chiến binh Amazon hay không? Tôi phá lên cười lúc nhớ tới lời nhận xét của Blémant: “Anh ấy mà, Caisley, anh dấn tới quá nhanh. Lẽ ra anh phải đi viết tiểu thuyết thì mới phải”.

༺༒༻

Hắn sống ở cuối đường, cửa ô Madrid, một tòa nhà hiện đại với cửa vào to lớn gắn kính. Hắn đã bảo tôi đi đến hết sảnh, về bên tay trái. Tôi sẽ thấy tên hắn trên cửa. “Đó là một căn hộ nằm ở tầng trệt.” Tôi đã thấy rất ngạc nhiên trước nỗi buồn bã lúc hắn nói ra từ “tầng trệt”. Sau đó là một quãng dài im lặng, như thể hắn thấy tiếc vì đã thú nhận như vậy.

“Còn địa chỉ chính xác thì sao?” tôi hỏi hắn.

“Số 11 đại lộ Bretteville. Ông ghi được chưa? Số 11... Bốn giờ có được không?”

Giọng hắn đanh lại, gần như có âm điệu kiêu kỳ.

Một tấm biển nhỏ mạ vàng gắn trên cửa: Jean-Pierre Choureau, bên dưới có một con mắt thần. Tôi bấm chuông. Tôi đợi. Ở đó, trong cái sảnh hoang vắng và im lìm ấy, tôi tự nhủ mình đã tới quá muộn. Hắn đã tự sát. Tôi thấy xấu hổ vì trong óc đã nảy ra một ý nghĩ như thế và, lại lần nữa, thấy muốn để mặc mọi chuyện, rời khỏi cái sảnh này, tiếp tục cuộc đi dạo giữa thoáng đãng, ở vùng Sologne... Tôi lại bấm chuông, lần này là ba tiếng ngắn. Cửa mở ngay ra, như thể hắn đã đứng rình sẵn ở đằng sau mà quan sát tôi qua mắt thần.

Mộc tay tóc nâu trạc tứ tuần, tóc cắt ngắn, cao hơn mức trung bình rất nhiều. Hắn vận một bộ com lê màu xanh lính thủy và một chiếc sơ mi xanh da trời phanh cổ. Không nói một lời, hắn dẫn tôi về phía cái người ta có thể gọi là phòng khách. Hắn chỉ cho tôi một cái trường kỷ, đằng sau một bàn thấp, và chúng tôi ngồi xuống đó, cạnh nhau. Mãi mà hắn vẫn chưa mở lời được. Để làm hắn thoải mái, tôi dùng giọng êm ái hết mức có thể: “Nào, chuyện là về vợ anh có phải không?”

Hắn cố lấy giọng thật ơ hờ. Hắn nở một nụ cười chưa rạng đã tắt ngấm. Phải, vợ hắn đã biến mất từ hai tháng nay sau một trận cãi cọ vớ vẩn. Tôi có phải người đầu tiên hắn nói chuyện kể từ khi vợ hắn biến mất không? Chớp sắt của một ô kính được hạ xuống từ trước, và tôi tự hỏi có phải gã đàn ông này tự nhốt kín mình trong căn hộ của hắn suốt hai tháng nay. Nhưng ngoài chớp cửa, không có dẫu vết lộn xộn hay bừa bãi nào trong phòng khách. Bản thân hắn, sau một lúc lơ lửng, đã lấy lại được chút tự tin.

“Tôi mong tình hình được làm sáng tỏ thật nhanh chóng”, rốt cuộc hắn bảo tôi.

Tôi nhìn hắn từ khoảng cách gần hơn. Cặp mắt rất sáng dưới hàng lông mày đen, đôi lưỡng quyền nhô cao, nhìn nghiêng trông rất cân đối. Và dáng vóc cũng như các cử chỉ chứa đựng một sự mạnh mẽ kiểu thể thao được nhấn mạnh thêm bởi mái tóc ngắn. Người ta có thể dễ dàng hình dung ra hắn trên thuyền buồm, mình trần, đơn độc lèo lái con thuyền. Thế nhưng mặc cho ngần ấy vẻ mạnh mẽ và quyến rũ bên ngoài, vợ hắn đã rời bỏ hắn.

Tôi muốn biết trong suốt quãng thời gian đó hắn đã có những toan tính gì để tìm lại cô ta. Chưa có gì. Cô ta đã gọi điện thoại cho hắn ba hay bốn lần, khẳng định sẽ không quay trở về nữa. Cô ta nhiệt thành khuyên hắn đừng tìm cách nối lại liên lạc với cô ta và không cho hắn lời giải thích nào. Cô ta đã đổi giọng. Đó không còn là con người cũ nữa. Một giọng nói rất bình thản, rất tự tin khiến hắn vô cùng bối rối. Hắn và vợ cách nhau chừng mười lăm tuổi. Cô ta hai mươi hai còn hắn ba mươi sáu. Trong lúc hắn cung cấp cho tôi những chi tiết ấy, tôi cảm nhận được ở hắn sự dè chừng, thậm chí vẻ lạnh lẽo, hẳn là thành quả của cái mà người ta gọi là học vấn cao. Giờ đây, tôi phải đặt cho hắn các câu hỏi mỗi lúc một cụ thể hơn nhưng tôi chẳng biết liệu làm vậy có đáng hay không. Chính xác thì hắn muốn gì? Muốn vợ hắn trở về ư? Hay hắn chỉ cố công tìm hiểu tại sao cô ta bỏ hắn? Có thể chỉ cần vậy thôi là hắn đã thấy đủ rồi? Ngoài ghế trường kỷ và cái bàn thấp, trong phòng khách không có đồ đạc gì khác. Những ô cửa kính nhìn ra đại lộ, hiếm hoi lắm mới có một chiếc ô tô chạy qua, thành thử tuy ở tầng trệt nhưng căn hộ không hề gây cảm giác bực bội. Bóng tối buông. Hắn bật cái đèn ba chân và chụp màu đỏ đặt cạnh trường kỷ, bên tay phải tôi. Ánh sáng làm tôi nhíu mắt, một ánh sáng trắng khiến sự im lặng còn trở nên sâu thẳm hơn. Tôi nghĩ hắn đang chờ các câu hỏi của tôi. Hắn vắt tréo hai chân. Để câu chút thời gian, tôi rút từ túi trong cái áo vest quyển sổ gáy xoắn và chiếc bút bi rồi ghi vào vài chi tiết. “Anh ta, 36 tuổi. Cô ta, 22. Neuilly. Căn hộ tầng trệt. Không đồ đạc. Các ô kính trông ra đại lộ Bretteville. Vắng vẻ. Vài quyển tạp chí trên cái bàn thấp.” Hắn chờ đợi, không nói năng gì như thể tôi là một bác sĩ đang ghi đơn thuốc.

“Nhũ danh của vợ anh?”

“Delanque. Jacqueline Delanque.”

Tôi hỏi ngày sinh và nơi sinh của cái cô Jacqueline Delanque đó. Cả ngày cưới của họ nữa. Cô ta có bằng lái xe không? Một công việc thường xuyên? Không. Cô ta còn gia đình không? Ở Paris? Dưới tỉnh? Một quyển sổ séc? Hắn trả lời tôi bằng một cái giọng buồn bã, còn tôi ghi lại tất cả những chi tiết thường xuyên chỉ có vậy để chứng nhận rằng một con người từng ghé qua trái đất. Với điều kiện một ngày nào đó người ta tìm thấy quyển sổ gáy xoắn nơi ai đó đã ghi lại những chi tiết ấy bằng một chữ viết nhỏ li ti khó đọc như chữ viết của tôi đây.

Giờ, tôi phải chuyển qua những câu hỏi tế nhị hơn, những câu khiến bạn bước vào đời tư sâu kín của một con người mà không hề xin phép anh ta. Quyền gì nào?

“Hai người có bạn không?”

Có, vài người mà hắn gặp khá thường xuyên. Hắn đã quen biết họ tại một trường thương mại. Lại còn một số là bạn cùng lớp từ mãi hồi trung học Jean-Baptiste Say.

Thậm chí hắn còn từng thử lập một công ty cùng ba người trong số đó trước khi vào làm việc cho hãng bất động sản Zannetacci với tư cách liên danh-quản lý.

“Anh vẫn làm việc ở đó chứ?”

“Vâng. Ở số 20, phố Paix.”

Hắn đi làm bằng phương tiện giao thông gì? Mỗi chi tiết, cho dù là nhỏ nhặt nhất ở vẻ bề ngoài, đều nói lên nhiều điều. Bằng ô tô. Thỉnh thoảng hắn đi công các cho Zannetacci. Lyon. Bordeaux. Côte d’Azur. Genève. Còn Jacqueline Choureau, nhũ danh Delanque, ở một mình tại Neuilly? Vài lần hắn dẫn cô ta theo, những dịp đi công tác ấy, tới Côte d’Azur. Và khi ở một mình, các thú vui của cô ta là gì ? Thực sự là không có ai có thể cung cấp cho hắn thông tin liên quan đến sự biến mất của Jacqueline, bà Choureau, nhũ danh Delanque, cho hắn một chỉ dẫn nhỏ nhặt nhất? “Tôi cũng không biết nữa, một lời tâm sự mà cô ấy nói ra vào một ngày chán chường...” Không. Hẳn cô ta chẳng bao giờ tâm sự với một ai hết. Thường thì cô ta trách hắn về sự thiếu độc đáo ở bạn bè hắn. Cũng cần phải nói rằng cô ta kém tất cả bọn họ đến mười lăm tuổi.

Giờ thì tôi chuyển tới một câu hỏi đã làm tôi nghẹt thở từ trước, nhưng vẫn buộc phải đặt ra cho hắn:

“Anh có nghĩ cô ấy có tình nhân không?”

Âm điệu giọng nói của tôi dường như hơi tàn nhẫn và hơi ngu ngốc. Nhưng chuyện là vậy đấy. Hắn nhíu mày.

“Không.”

Hắn do dự, hắn nhìn chăm chăm thẳng vào mắt tôi như thể đang chờ đợi một sự khuyến khích từ phía tôi hoặc giả hắn đang lựa lời. Một tối, một người bạn cũ của hắn ở trường thương mại đã đến đây ăn tối, dẫn cheo một kẻ tên là Guy de Vere, nhiều tuổi hơn họ. Tay Guy de Vere này rất chuyên chú vào các món khoa học thần bí và đề nghị mang tới cho họ vài tác phẩm về chủ đề này. Vợ hắn đã dự nhiều cuộc họp và thậm chí đến nghe các bài giảng mà tay Guy de Vere này đều đặn thực hiện. Hắn đã không thể đi cùng cô ta bởi ở văn phòng Zannetacci có thêm việc phải làm. Vợ hắn biểu lộ mối quan tâm đối với những cuộc họp và bài giảng này và thường xuyên nói với hắn về chúng, mà hắn không hiểu rõ lắm đó là gì. Trong số những cuốn sách mà Guy de Vere khuyên cô ta đọc, cô ta đã mượn một cuốn, cuốn mà cô ta nghĩ là dễ đọc hơn cả. Nó có tên Những chân trời đã mất. Hắn có liên lạc với Guy de Vere sau khi vợ hắn biến mất không? Có, hắn đã gọi điện thoại cho ông ta nhiều lần, nhưng ông ta không biết gì cả. “Anh có chắc chắn về điều đó không?” Hắn nhún vai, chăm chăm nhìn tôi vẻ mệt mỏi. Tay Guy de Vere này rất khó nắm bắt và hắn đã hiểu ra rằng mình sẽ không có được thông tin nào từ ông ta. Tên chính xác và địa chĩỉ của gã đó? Hắn không biết địa chỉ. Không có trong danh bạ.

Tôi tìm những câu hỏi khác để đặt cho hắn. Một quãng im lặng xuất hiện, giữa chúng tôi, nhưng có vẻ không làm hắn cảm thấy khó chịu. Ngồi cạnh nhau trên cái trường kỷ, chúng tôi như đang ở trong phòng chờ của một nha sĩ hoặc một bác sĩ. Những bức tường màu trắng và trống trơn. Một bức tranh chân dung phụ nữ treo phía trên cái trường kỷ. Thiếu điều thì tôi đã vớ lấy một tờ tạp chí đặt trên cái bàn thấp. Một cảm giác trống rỗng xâm chiếm tôi. Tôi phải nói rằng kể từ khoảnh khắc ấy tôi cảm nhận được sự vắng mặt của Jacqueline Choureau nhũ danh Delanque rõ đến nỗi tôi thấy nó là chung quyết rồi. Nhưng không được phép bi quan ngay từ lúc khởi đầu. Và rồi, cái phòng khách này chẳng biết có tạo cùng cảm giác trống rỗng như thế khi người phụ nữ ấy hiện diện hay không? Họ ăn tối ở đây? Thế thì, hẳn là phải ăn trên một cái bàn chơi bài bridge, xong rồi thì gập lại và cất đi. Tôi muốn biết có phải là cô ta đùng đùng bỏ đi, để lại vài thứ đồ đạc. Không. Cô ta đã mang theo quần áo và vài quyển sách mà Guy de Vere cho cô ta mượn, tất tật đựng trong một cái va li da màu đỏ sẫm. Ở nơi đây không còn lại dấu vết nào của cô ta hết. Ngay cả những bức ảnh có cô ta - những bức ảnh chụp lúc đi nghỉ hiếm hoi - cũng đã biến mất. Tối đến, một mình trong căn hộ, hắn tự hỏi mình có từng bao giờ cưới cái cô Jacqueline Delanque đó hay không. Bằng chứng duy nhất cho thấy toàn bộ chuyện ấy không phải một giấc mơ là quyển sổ hộ tịch [*] mà người ta trao cho họ sau đám cưới. Sổ hộ tịch. Hắn nhắc đi nhắc lại mấy từ đó, như thể không còn hiểu nổi nghĩa của chúng nữa.

Đi xem các phòng khác của căn hộ chẳng giúp ích gì cho tôi. Những căn phòng trống. Những tủ tường trống. Và sự im lặng, chỉ thoáng chốc bị khuấy động bởi một chiếc ô tô chạy ngang qua trên đại lộ Bretteville. Hẳn các buổi tối phải dài lắm.

“Cô ấy có mang theo chìa khóa nhà không?”

Hắn lắc đầu tỏ ý là không. Thậm chí không cả niềm hy vọng một đêm nào đó nghe thấy tiếng chìa khóa quay trong ổ thông báo cô ta trở vê. Và rồi hắn nghĩ cô ta sẽ không bao giờ gọi điện thoại nữa.

“Anh quen cô ấy như thế nào?”

Cô ta từng được tuyển vào Zannetacci để thế chỗ một nhân viên. Công việc thư ký tạm thời. Hắn đọc cho cô ta chép vài bức thư gửi khách hàng và nhờ vậy mà họ quen nhau. Họ gặp nhau bên ngoài văn phòng. Cô ta bảo mình là sinh viên ở trường Ngôn ngữ phương Đông, mỗi tuần cô ta theo hai cua ở đó, nhưng hắn chưa bao giờ biết chính xác cô ta học thứ ngôn ngữ nào. Các thứ tiếng châu Á, cô ta nói. Và, sau hai tháng, họ cưới nhau một sáng thứ Bảy ở tòa thị chính Neuilly, nhân chứng là hai đồng nghiệp tại văn phòng Zannetacci. Không có ai khác dự vào cái với hắn chỉ thuần túy là một việc cho đúng thủ tục. Họ đi ăn trưa cùng các nhân chứng ngay gần nhà hắn, ở rìa rừng Boulogne, tại một quán ăn hay lai vãng khách của các khu vui chơi lân cận.

Hắn nhìn tôi vẻ phiền muộn. Có vẻ như là hắn muốn cung cấp cho tôi những lời giải thích cặn kẽ hơn về cuộc hôn nhân này. Tôi mỉm cười với hắn. Tôi không cần những lời giải thích. Hắn vận sức để cố gắng và, như thể quyết định liều một cú:

“Chúng tôi đang cố tạo ra những mối liên hệ, anh cũng hiểu rồi đấy...”

À vâng, tôi hiểu chứ. Trong cái cuộc đời đôi khi với ta thật giống một vùng đất rộng lớn hoang vu không biển chỉ đường này, ở giữa tất tật những đường hội tụ ảo và những chân trời đã mất, ta những muốn tìm các điểm mốc, dựng ra một dạng sơ đồ để không còn cảm giác mình phải lèo lái vô hướng nữa. Thế nên, ta dệt những kết nối, ta cố biến những gặp gỡ chẳng may trở nên vững chắc hơn. Tôi nín lặng, nhìn chăm chăm vào chồng tạp chí. Giữa cái bàn thấp là một gạt tàn màu vàng mang dòng chữ: Cinzano. Và một cuốn sách bìa cứng nhan đề: Tạm biệt Focolara. Zannetacci Jean-Pierre Choureau. Cinzano. Jacqueline Delanque. Tòa thị chính Neuilly. Focolara. Phải tìm cho ra tất cả những thứ đó muốn nói gì...

“Và rồi đó là một người rất quyến rũ... Tôi đã có tình yêu sét đánh với cô ấy...”

Vừa nhỏ giọng thốt ra lời tâm sự ấy hắn đã như thể nuối tiếc. Trong những ngày ngay trước khi cô ta biến mất, hắn có cảm thấy điều gì đặc biệt ở cô ta không? À có đấy, càng lúc cô ta càng hay trách cứ hắn về cuộc sống thường nhật của họ. Đây không phải, cô ta bảo, cuộc sống thực. Và khi hắn hỏi cô ta chính xác thì CUỘC SỐNG THỰC là gì, cô ta chỉ nhún vai không đáp, cứ như thể cô ta biết hắn sẽ chẳng hiểu gì ở những lời giải thích của mình. Thế rồi cô ta tìm lại được nụ cười và vẻ yêu kiều và cô ta gần như xin lỗi vì tâm trạng Tôi tệ đã có. Cô ta lấy dáng vẻ nhẫn nhục mà nói với hắn rằng xét cho cùng toàn bộ chuyện này đâu có gì nghiêm trọng. Một ngày nào đó, có lẽ, hắn sẽ hiểu CUỘC SỐNG THỰC nghĩa là gì.

“Anh thực sự không có bức ảnh nào của cô ấy à?”

Một chiều, họ đi dạo bên bờ sông Seine. Hắn tính lấy tàu điện ngầm ở bến Châtelet để tới chỗ làm. Trên đại lộ Palais, họ đi qua trước phòng chụp ảnh tự động nhỏ. Cô ta cần ảnh cho một quyển hộ chiếu mới. Hắn đợi cô ta trên vỉa hè. Lúc đi ra, cô ta đưa cho hắn cầm những bức ảnh, bảo cô ta sợ sẽ đánh mất chúng. Tới văn phòng, hắn cho những bức ảnh này vào trong một cái phong bì rồi quên mang về Neuilly. Sau khi vợ hắn biến mất, hắn nhận ra cái phong bì vẫn ở nguyên chỗ đó, trên mặt bàn làm việc của hắn, giữa các thứ tài liệu hành chính khác.

“Anh đợi tôi một lúc được không?”

Hắn để tôi lại một mình trên trường kỷ. Trời đã tối hẳn. Tôi nhìn đồng hồ đeo tay và thấy ngạc nhiên vì mấy cái kim mới chỉ sáu giờ kém mười lăm phút. Tôi có cảm giác đã ở đây lâu hơn thế nhiều.

Hai bức ảnh để trong một cái phong bì màu xám có dòng chữ in bên tay trái: “Hãng bất động sản Zannetacci (Pháp), 20 phố Paix, Paris quận I”. Một bức ảnh chụp thẳng, nhưng bức còn lại chụp nghiêng, đúng như xưa kia ở chỗ sở cảnh sát người ta vẫn yêu cầu người nước ngoài. Tuy nhiên, cái họ Delanque và cái tên Jacqueline của cô ta lại hoàn toàn Pháp. Hai bức ảnh ấy tôi dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ cầm lên và im lặng ngắm nhìn. Mái tóc nâu, cặp mắt trong, và cái dáng nghiêng thuần khiết đến nỗi mang lại vẻ quyến rũ cho ngay cả những bức ảnh vì mục đích nhận dạng. Thế mà hai bức ảnh đó mang toàn bộ sự xám xịt và lạnh lẽo của những bức ảnh dùng để nhận dạng.

“Anh cho tôi mượn chúng một thời gian được không?” tôi hỏi hắn.

“Tất nhiên rồi.”

Tôi nhét cái phong bì vào túi áo vest.

Tiếp đến một khoảnh khắc không cần phải lắng nghe ai nữa. Hắn, Jean-Pierre Choureau, chính xác thì hắn biết gì về Jacqueline Delanque? Chẳng nhiều nhặn. Họ mới sống chung được một năm tại cái tầng trệt khu Neuilly ấy. Họ từng ngồi cạnh nhau trên cái trường kỷ này, từng đối diện nhau ăn tối và đôi khi có thêm những người bạn cũ ở trường thương mại và trường trung học Jean-Baptiste Say. Như thế có đủ để đoán định mọi điều diễn ra trong đầu óc một ai đó? Cô ta có còn gặp người trong gia đình mình không? Nỗ lực cuối cùng của tôi là để đặt cho hắn câu hỏi ấy. “Không. Gia đình cô ấy không còn ai.”

Tôi đứng dậy. Hắn lo lắng nhìn tôi. Hắn vẫn ngồi yên trên trường kỷ.

“Đến lúc tôi phải đi rồi,” tôi bảo hắn. “Muộn rồi.” Tôi mỉm cười với hắn, nhưng hắn có vẻ thực sự kinh ngạc vì tôi muốn rời bỏ hắn.

“Tôi sẽ sớm gọi điện cho anh thôi,” tôi bảo hắn. “Hy vọng sớm có tin tức cho anh.”

Đến lượt hắn cũng đứng dậy, với động tác của người mộng du cũng giống lúc vừa rồi khi dẫn tôi vào phòng khách. Một câu hỏi sau chót chạy qua óc tôi:

“Cô ấy có mang theo tiền không?”

“Không.”

“Và khi cô ấy gọi điện cho anh, sau khi bỏ đi, cô ấy không hề nói xem mình sống như thế nào à?”

“Không.”

Hắn bước về phía cửa ra vào bằng bước đi cứng đờ. Hắn còn có thể trả lời các câu hỏi của tôi hay không? Tôi mở cửa. Hắn đứng đằng sau tôi, im sững. Tôi không biết cơn chóng mặt nào, bụm đắng cay nào xâm chiếm lấy mình, nhưng tôi đã nói với hắn bằng giọng gây hấn:

“Hẳn anh từng hy vọng già đi cùng cô ấy?”

Có phải là để đánh thức hắn khỏi cơn đờ đẫn và thắt lòng? Hắn trợn trừng hai mắt nhìn tôi e dè. Tôi đang đứng trong khuông cửa. Tôi tiến lại gần và đặt tay lên vai hắn:

“Đừng ngại gọi điện thoại cho tôi. Giờ nào cũng được.”

Khuôn mặt hắn giãn ra. Hắn đủ sức nở nụ cười. Trước khi khép cửa lại, hẳn giơ tay chào tạm biệt tôi. Tôi nán lại một lúc lâu trên thềm nhà, và cái đèn tự động tắt phụt đi. Tôi hình dung ra hắn ngồi một mình trên trường kỷ, đúng cái chỗ hắn đã ngồi lúc nãy. Bằng một cử chỉ máy móc, hắn cầm lấy một tờ trong chồng tạp chí xếp trên cái bàn thấp.

༺༒༻

Bên ngoài, trời tối. Tôi không đưa được ý nghĩ của mình rời khỏi người đàn ông tại căn nhà tầng trệt của hắn, dưới ánh sáng tàn hại của ngọn đèn. Hắn có ăn gì đó trước khi đi ngủ không? Tôi tự hỏi chẳng biết ở đó có một cái bếp hay không nữa. Lẽ ra tôi nên mời hắn đi ăn tối. Có thể nếu thế, chẳng cần tôi phải đặt cho hắn câu hỏi nào, hắn cũng sẽ thốt ra một lời, một sự thú nhận hẳn giúp được tôi tìm ra Jacqueline Delanque mau chóng hơn. Blémant vẫn nhắc đi nhắc lại với tôi rằng rồi sẽ tới lúc mỗi con người, ngay kẻ rắn nhất, “phun ra điều đó”: đó là câu nói quen thuộc của ông. Việc của chúng ta là đợi khoảnh khắc ấy với một sự kiện nhẫn tuyệt cùng, dĩ nhiên phải đồng thời tìm cách khích nó bật ra, nhưng bằng cách gần như khó nhận thấy, Blémant bảo: “bằng những cú chích kim thật tinh tế”. Kẻ đó phải có cảm giác mình đang ở trước mặt một linh mục nghe xưng tội. Khó lắm. Nghề nghiệp là như thế. Tôi đi đến cửa ô Maillot và muốn đi bộ thêm một lúc nữa trong bầu không khí ấm áp của buổi tối. Thật không may, đôi giày mới làm cổ chân tôi đau rất dữ. Vậy nên, trên đại lộ, tôi bước vào quán cà phê đầu tiên và chọn một trong những cái bàn gần ô cửa kính. Tôi cởi dây và tháo giày bên chân trái, cái chân bị đau hơn. Khi cậu phục vụ bàn tới, tôi không kháng cự lại cái khoảnh khắc ngắn ngủi của lãng quên và êm ái mà một cốc Izarra xanh hẳn sẽ mang lại.

Tôi rút cái phong bì từ trong túi ra và nhìn thật lâu hai bức ảnh chụp tự động. Giờ đây cô ta đang ở đâu? Trong một quán cà phê, giống như tôi, ngồi một mình bên bàn? Hẳn cái câu ban nãy hắn thốt ra đã khiến tôi có ý nghĩ đó: “Chúng tôi đang cố tạo ra những mối liên hệ...” Những cuộc gặp trên phố, tại một bến tàu điện ngầm vào giờ cao điểm. Khoảnh khắc ấy lẽ ra người ta phải dùng còng tay tự buộc mình vào với nhau. Mối liên hệ nào kháng cự nổi đợt sóng người cuốn ta đi, làm ta trôi dạt? Một văn phòng vô danh nơi người ta đọc cho một thư ký đánh máy tạm thời chép một bức thư, một căn nhà tầng trệt ở Neuilly với những bức tường màu trắng trống trơn gợi lên cái mà người ta gọi là “một căn hộ chứng nhân” và là nơi người ta sẽ không để lại chút dấu vết nào của sự lướt qua... Hai bức ảnh chụp tự động, một chụp thẳng, một chụp nghiêng... Tạo ra những kết nối với mấy thứ đó ư? Có một người có thể giúp tôi trong cuộc tìm kiếm này: Bernolle. Tôi đã không gặp lại gã kể từ thời Blémant, trừ một buổi chiều cách đây ba năm. Tôi đang bước ngang sân trước nhà thờ Đức Bà để đi ra bến tàu điện ngầm. Một gã trông như cầu bơ cầu bất bước ra từ Hôtel-Dieu, ngang qua tôi. Gã mặc một cái áo gió hai bên ống tay rách tướp, một cái quần ngắn trên mắt cá, chân trần nhét trong đôi xăng đan cũ. Gã để râu ria lởm chởm và có mái tóc đen quá dài. Thế nhưng tôi nhận ra gã ngay. Bernolle. Tôi đi theo gã với ý định nói chuyện với gã. Nhưng gã đi rất nhanh. Gã bước qua ngưỡng cánh cửa lớn của sở cảnh sát. Tôi do dự mất một lúc. Đã quá muộn để bắt kịp gã. Thế nên, tôi quyết định đợi gã, tại đó, trên vỉa hè. Dù có thế nào thì chúng tôi cũng từng trẻ trai cùng nhau.

Gã bước ra vẫn từ cánh cửa đó trong chiếc măng tô màu xanh lính thủy, cái quần flanen và đôi giày màu đen buộc dây. Không còn là con người lúc trước nữa. Gã có vẻ khó chịu khi tôi lại gần. Gã đã cạo râu sạch sẽ. Chúng tôi bước đi dọc theo ke sông, không nói năng gì. Khi đã ngồi bên bàn trong quán Le Soleil d’Or cách đó một quãng, gã tâm sự với tôi. Người ta vẫn dùng gã cho các công việc cung cấp thông tin, ôi, chẳng nhiều nhặn gì, một công việc chỉ điểm và rình rập trong đó gã vào vai những tay cầu bơ cầu bất để nhìn và nghe rõ hơn những gì xảy ra xung quanh mình: quanh quẩn trước các tòa nhà, tại các khu chợ đồ cũ, ở Pigalle, quanh các nhà ga và thậm chí ở khu Latin. Gã nở nụ cười buồn bã. Gã sống tại một căn hộ độc phòng ở quận XVI. Gã cho tôi số điện choại. Không lúc nào chúng tôi nhắc tới quá khứ. Gã đã đặt cái túi du lịch của mình lên băng ghế bên cạnh. Hẳn gã sẽ rất ngạc nhiên nếu tôi nói tôi biết nó đựng gì: một cái áo gió cũ, một cái quần quá ngắn, một đôi dép xăng đan.

༺༒༻

Cùng buổi tối cái hôm trở về từ cuộc gặp ở Neuilly ấy, tôi gọi điện thoại cho gã. Kể từ khi chúng tôi gặp lại, tôi có thỉnh thoảng nhờ vả gã tìm các thông tin mà tôi cần. Tôi yêu cầu gã tìm cho một ít chi tiết cụ thể liên quan đến cô gái mang tên Jacqueline Delanque, vợ của Choureau. Tôi không có nhiều điều để nói cho gã về người này, ngoài ngày sinh và ngày cưới với một người tên là Choureau Jean-Pierre, 11 đại lộ Bretteville ở Neuilly, liên danh - quản lý ở hãng Zannetacci. Gã ghi lại. “Chỉ có thế thôi à?” Gã có vẻ thất vọng. “Chắc trong sổ khung cũng chẳng có gì đâu”, gã nói bằng giọng cao ngạo. Khung. Tôi thử hình dung phòng ngủ của vợ chồng Choureau tại Neuilly, cái căn phòng lẽ ra tôi đã phải nhìn qua cho tròn ý thức nghề nghiệp. Một căn phòng trống vắng mãi mãi, một cái giường chỉ còn lại KHUNG [*] .

Những tuần sau đó, Choureau gọi điện cho tôi nhiều lần. Hắn luôn luôn nói bằng giọng vô hồn và luôn luôn vào lúc bảy giờ tối. Có lẽ vào giờ ấy, một mình tại tầng trệt của mình, hắn cần nói chuyện với một ai đó. Tôi bảo hắn hãy kiên nhẫn. Tôi có cảm giác hắn không còn tin vào điều đó nữa và dần dà chấp nhận rằng vợ hắn đã biến mất. Tôi nhận được một bức thư từ Bernolle:

Caisley thân mến,

Chưa tìm thấy gì trong sổ sách. Cả về Choureau lẫn Delanque.

Nhưng sự tình cờ hóa ra lại hữu dụng: một công việc thống kê giấy tờ nhàm chán mà người ta giao cho tôi tại sở cảnh sát quận IX và quận XVIII đã cho phép tôi tìm thấy giúp anh vài thông tin.

Hai lần liền, tôi bắt gặp “Delanque, Jacqueline, 15 tuổi”. Lần đầu tiên, trong giấy tờ của sờ cảnh sát khu Saint-Georges cách đây bảy năm, lần thứ hai thì vài tháng sau đó, khu Grandes-Carrières. Lý do: Trẻ vị thành niên lang thang.

Tôi đã hỏi Leoni xem có gì liên quan đến các khách sạn không. Cách đây hai năm, Delanque Jacqueline đã ở khách sạn San Remo, 8 phố Armaillé (quận XVII) và khách sạn Métropole, 13 phố Étoile (quận XVII). Trong đống giấy tờ của khu Saint-Georges và khu Grandes-Carrières thì có chi tiết cô ta trú ngụ ở nhà mẹ, 10 đại lộ Rachel (quận XVIII).

Hiện giờ cô ta ở khách sạn Savoie, 8 phố Cels, quận XIV. Mẹ cô ta mất đã bốn năm nay. Trên giấy khai sinh do tòa thị chính Fontaines-en-Sologne (Loir-et-Cher) cấp, mà tôi gửi cho anh bản sao ở đây, có ghi cô ta không có bố. Mẹ cô ta từng là nhân viên sắp đặt chỗ ngồi cho khách tại Moulin-Rouge và có một người bạn trai, một người tên Guy Lavigne gì đó, làm việc ở xưởng sửa chữa ô tô La Fontaine, 98 phố La Fontaine (quận XVI) từng giúp đỡ bà ta về mặt vật chất. Có vẻ như Jacqueline Delanque không làm một công việc thường xuyên nào.

Đây, Caisley thân mến ạ, là tất cả những gì tôi thu lượm được cho anh. Tôi hy vọng sắp tới sẽ được gặp anh, nhưng với điều kiện là không phải trong lúc tôi đang ăn vận cho công việc. Hẳn Blémant sẽ cười rất dữ về cái trò đóng giả làm kẻ cầu bơ cầu bất này. Anh thì cười ít hơn một chút, tôi nghĩ thế. Còn tôi thì không cười tẹo nào.

Cố gắng lên nhé,

BERNOLLE

Tôi chỉ còn lại một việc là gọi điện thoại cho Jean-Pierre Choureau để nói với hắn rằng bí ẩn đã được làm sáng tỏ. Tôi cố nhớ xem chính xác là vào thời điểm nào mình đã quyết định không làm việc ấy. Tôi đã bấm những chữ số đầu số điện thoại của hắn nhưng rồi đột nhiên bỏ máy xuống. Tôi thấy lòng mình nặng trĩu trước viễn cảnh phải quay trở lại cái tầng trệt Neuilly đó vào cuối buổi chiều như lần trước, rồi cùng hắn chờ bóng tối buông, dưới ngọn đèn chụp đỏ. Tôi giở tấm bản đồ Taride vẽ Paris cũ kỹ mà tôi vẫn luôn luôn để trên bàn làm việc, trong tầm tay với. Vì giở nó ra xem quá nhiều, tôi thường xuyên làm rách các mép và, lần nào cũng vậy, tôi lấy băng dính dán lên chỗ rách, như băng bó cho một người bị thương. Quán Le Condé. Neuilly. Khu Étoile. Đại lộ Rachel. Lần đầu tiên trong cuộc đời chuyên nghiệp của mình, tôi cảm thấy nhu cầu phản kháng trong khi tiến hành cuộc điều tra. Phải, tôi đi, theo chiều ngược lại, con đường mà Jacqueline Delanque đã theo. Jean-Pierre Choureau thì chẳng tính đến làm gì nữa. Hắn chỉ là một vai phụ và tôi thấy hắn đi xa mãi mãi, xách trên tay một cái cặp màu đen, về phía trụ sở hãng Zannetacci. Xét cho cùng, người duy nhất đáng quan tâm là Jacqueline Delanque. Từng có rất nhiều Jacqueline trong đời tôi... Hẳn cô ta sẽ là người cuối cùng. Tôi lấy tàu điện ngầm, tuyến Bắc-Nam, như người ta hay nói, tuyến nối đại lộ Rachel với quán Le Condé. Các ga cứ trôi qua, còn tôi lội ngược thời gian. Tôi xuống ở Pigalle. Và tại đó, tôi bước đi trên dải đất giữa đại lộ bằng bước chân nhẹ nhõm. Một buổi chiều rải nắng thu, ta những muốn tạo lập các kế hoạch cho tương lai và cuộc đời như thể sẽ bắt đầu lại từ con số không. Dù thế nào đi nữa, chính ở vùng này cuộc đời cô ta đã bắt đầu, cuộc đời của cái cô Jacqueline Delanque ấy... Tôi thấy như thể mình đang có hẹn với cô ta. Đến quảng trường Blanche, tim tôi đập hơi mạnh một chút và tôi thấy cảm động và thậm chí e ngại. Lâu lắm rồi tôi không cảm thấy điều này. Tôi tiếp tục tiến lên trên dải đất bằng bước đi mỗi lúc một gấp gáp hơn. Tôi hoàn toàn có thể vừa nhắm mắt vừa bước đi trong cái khu phố thân thuộc này: Moulin-Rouge, Le Sanglier Bleu... Biết đâu nhỉ? Tôi đã bắt gặp cái cô Jacqueline Delanque ấy cách đây rất lâu, trên vỉa hè bên tay phải khi cô ta đến gặp mẹ ở Moulin-Rouge, hoặc giả trên vỉa hè bên tay trái vào giờ tan lớp của trường trung học Jules-Ferry. Đây rồi, tôi đã tới nơi. Tôi đã quên mất rạp chiếu phim nằm ở góc đại lộ. Nó tên là Mexico và không phải tình cờ khi nó mang cái tên ấy. Cái tên khiến bạn cảm thấy ham muốn đi xa, lang bang hoặc trốn chạy... Tôi cũng đã quên mất sự im lặng và bình thản của đại lộ Rachel dẫn thẳng đến nghĩa trang, ta đâu nghĩ đến nó, tới nghĩa trang ta tự nhủ đi hết đây sẽ ra được vùng nông thôn, và thậm chí với một chút may mắn còn ra được một lối đi dạo bên bờ biển.

Tôi dừng chân trước nhà số 10 và, sau một lúc do dự, bước vào bên trong. Tôi những muốn gõ vào cánh cửa gắn kính của phòng người gác cổng, nhưng rồi tự ngăn mình lại. Ích gì nào? Trên tấm biển nhỏ dán trên một ô vuông cánh cửa là các ký tự màu đen tên những người thuê nhà và tầng ở của mỗi người. Tôi rút từ túi trong áo vest ra quyển sổ và cái bút, rồi chép lại những cái tên:

Deyrlord (Christiane)

Dix (Gisèle)

Dupuy (Marthe)

Esnault (Yvette)

Gravier (Alice)

Manoury (Albine)

Mariska

Van Bosterhaudt (Huguette)

Zazani (Odette)

Cái tên Delanque (Geneviève) bị gạch đi và thay thế là Van Bosterhaudt (Huguette). Mẹ và con gái từng sống trên tầng sáu. Nhưng khi gập quyển sổ lại tôi biết tất cả những chi tiết này sẽ chẳng giúp được gì cho mình hết cả.

Bên ngoài, ở tầng trệt của tòa nhà, một người đàn ông đang đứng trên ngưỡng một cửa hiệu bán vải mang biển La Licorne. Khi ngẩng đầu nhìn lên tầng sáu, tôi nghe thấy ông ta nói bằng giọng the thé:

“Ông tìm gì, thưa ông?”

Lẽ ra tôi phải đặt cho ông ta một câu hỏi về Geneviève và Jacqueline Delanque, nhưng tôi biết những gì ông ta hẳn sẽ đáp lại tôi, không gì khác ngoài những thứ rất vớ vẩn, những chi tiết nhỏ bé của “bề mặt”, như Blémant vẫn nói, mà không bao giờ đi đến tận tầng sâu mọi sự. Chỉ cần nghe cái giọng the thé và nhìn thấy cái mặt chồn cùng sự cứng rắn trong ánh mắt của ông ta: không, chẳng có gì để hy vọng ở ông ta hết, trừ các “thông tin” mà một chỉ điểm viên đơn thuần hẳn sẽ cung cấp. Hoặc giả, ông ta sẽ bảo với tôi rằng ông ta chẳng hề biết cả Geneviève lẫn Jacqueline Delanque. Một cơn điên giận lạnh lẽo xâm chiếm lấy tôi khi đứng trước cái tay có khuôn mặt chồn cáo này. Có lẽ với tôi ông ta đột nhiên trở thành đại diện cho tất cả những kẻ tự nhận là nhân chứng mà tôi đã thẩm vấn trong các cuộc điều tra của mình, bọn họ chẳng bao giờ hiểu gì ở những điều họ đã thấy, vì ngu ngốc, độc ác hoặc thờ ơ. Tôi lê bước nặng nề đến đứng sững trước ông ta. Tôi cao vượt ông ta chừng hai mươi xăng ti mét và nặng gấp đôi trọng lượng ông ta.

“Không được quyền ngắm các mặt tiền nhà sao?”

Ông ta chăm chăm chĩa vào tôi ánh mắt khắc nghiệt và e dè. Tôi những muốn làm ông ta sợ hơn nữa.

Và rồi, để bình tĩnh lại, tôi ngồi xuống một cái ghế băng trên dải đất phân cách ở đầu đại lộ, đối diện với rạp Mexico. Tôi cởi giày bên trái ra.

Nắng. Tôi chìm đắm trong suy nghĩ. Jacqueline Delanque có thể tin cậy vào sự kín đáo của tôi, Choureau sẽ không bao giờ biết gì về khách sạn Savoie, về quán Le Condé, về xưởng ô tô La Fontaine và về cái người tên là Roland, hẳn là tay tóc nâu vận áo vest da hoẵng được nhắc tới trong quyển vở. “Louki. Thứ Hai 12 tháng Hai 23 giờ. Louki 28 tháng Tư 14 giờ. Louki với người đàn ông tóc nâu vận áo vest da hoẵng.” Suốt các trang của quyển vở này, mỗi lần bắt gặp tên cô ta tôi lại gạch dưới bằng bút chì màu xanh, và chép lại, trên mấy tờ giấy rời, mọi ghi chú liên quan đến cô ta. Kèm ngày tháng. Và giờ giấc. Nhưng cô ta không có lý gì để mà phải lo lắng. Tôi sẽ không quay trở lại quán Le Condé nữa. Thực sự, tôi đã gặp may, hai hay ba lần tôi đợi cô ta tại một trong những cái bàn của quán cà phê ấy, và ngày hôm đó cô ta đã không tới. Lẽ ra tôi phải thấy bực bội vì rình rập cô ta mà cô ta không biết, phải, lẽ ra tôi phải thấy xấu hổ vì vai trò của mình. Chúng ta có quyền gì mà bẻ khóa xâm nhập đời người khác và táo gan đến thế nào mà dám đi thăm dò vùng hạ bộ và vùng trái tim họ - rồi lại còn đòi họ thanh toán nữa... Nhân danh cái gì đây? Tôi đã cởi xong tất và giờ thì nắn bóp cổ chân. Đỡ đau hẳn. Bóng tối đã buông. Xưa kia, tôi nghĩ, giờ là lúc Geneviève Delanque đến chỗ làm việc ở Moulin-Rouge. Con gái bà một mình ở lại nhà, trên tầng sáu. Quãng mười ba, mười bốn tuổi, một tối, sau khi mẹ đi khỏi, cô ta ra khỏi tòa nhà, cẩn thận tránh để người gác cổng nhìn thấy. Ra đến bên ngoài, cô ta không đi quá góc đại lộ. Hồi đầu, cô ta chỉ đi xem các suất chiếu phim lúc mười giờ tại rạp Mexico. Rồi quay trở về tòa nhà, trèo lên cầu thang, không bật đèn hành lang, cánh cửa được khép lại nhẹ nhàng hết mức. Một đêm, lúc ra khỏi rạp, cô ta đi bộ xa thêm một chút, tới chỗ quảng trường Blanche. Và mỗi đêm lại xa hơn một chút nữa. Trẻ vị thành niên lang thang, như người ta đã viết trong hồ sơ ở khu Saint-Georges và khu Grandes-Carrières, và hai cái tên vừa rồi gợi lên trong tôi một cánh đồng ngập ánh trăng, qua cầu Caulaincourt ngay kia đằng sau nghĩa trang, một cánh đồng nơi rốt cuộc người ta cũng được hít thở không khí tự do. Mẹ cô ta đã đến tìm cô ta ở chỗ sở cảnh sát. Kể từ đó, đã có đà rồi, không một ai còn có thể giữ cô ta lại nữa. Lang thang buổi đêm về phía Tây, nếu tôi căn cứ vào vài chỉ dẫn mà Bernolle đã tập hợp được. Trước tiên là khu Étoile, rồi thì xa hơn về phía Tây, Neuilly và rừng Boulogne. Nhưng vậy thì tại sao cô ta lại cưới Choureau? Và rồi lại thêm một cuộc trốn chạy, nhưng lần này là về hướng tả ngạn, cứ như thể việc vượt qua sông bảo vệ cho cô ta khỏi một mối nguy hiểm sắp xảy đến. Nhưng cuộc hôn nhân này không phải cũng là một sự bảo vệ hay sao? Nếu cô ta có đủ kiên nhẫn để ở lại Neuilly, hẳn về lâu về dài người ta sẽ quên đi rằng bên dưới Bà Jean-Pierre Choureau còn ẩn giấu một Jacqueline Delanque với cái tên đã hai lần xuất hiện trong các hồ sơ cảnh sát.

Nhất định là tôi vẫn còn bị cầm tù trong những phản ứng nghề nghiệp cũ kỹ, những phản ứng khiến các đồng nghiệp của tôi nói rằng tôi theo đuổi các cuộc điều tra ngay cả trong khi ngủ. Blémant hay so sánh tôi với tên vô lại thời hậu chiến mà người ta gọi là “Kẻ vừa ngủ vừa hút thuốc”. Lúc nào hắn cũng để bên mép bàn ngủ một cái gạt tàn trên đó đặt một điếu thuốc châm sẵn. Hắn ngủ chập chờn và, mỗi lần thoáng tỉnh dậy, lại chìa tay về phía gạt tàn và hít một bụm khói thuốc lá. Hút xong điếu thuốc, hắn liền châm ngay một điếu khác bằng cử chỉ của kẻ mộng du. Nhưng, sáng ra thì hắn chẳng còn nhớ gì nữa và tin rằng mình đã ngủ một giấc rất sâu. Tôi cũng thế, trên cái ghế băng này, giờ đây khi trời đã tối, tôi có cảm giác mình đang ở trong một giấc mơ nơi tôi vẫn tiếp tục theo dấu Jacqueline Delanque.

Hoặc nói đúng hơn thì tôi cảm thấy sự hiện diện của cô ta trên cái đại lộ có những ánh đèn sáng lung linh như các dấu hiệu, mà tôi không biết rõ lắm là phải giải mã ra sao và cũng chẳng biết chúng hướng đến tôi từ sâu thẳm những năm tháng nào. Và với tôi những đèn đóm ấy lại còn sống động hơn nữa vì vẻ nhập nhoạng tối của dải đất giữa đường. Vừa sống động vừa xa vời.

Tôi đi tất lại, nhét lại chân vào cái giày bên trái và rời ghế băng nơi tôi sẵn sàng ngồi qua cả đêm. Và tôi bước đi dọc theo dải đất giống như cô ta, ở tuổi mười lăm, trước khi bị bắt. Nơi nào và vào lúc nào cô ta bắt đầu thu hút sự chú ý của người khác?

Jean-Pierre Choureau hẳn rồi sẽ mệt mỏi. Tôi sẽ còn trả lời hắn vài lần qua điện thoại, cung cấp cho hắn những điều mơ hồ - toàn là dối trá, dĩ nhiên. Paris thì rộng lớn và người ta rất dễ lạc dấu một ai đó ở nơi đây. Chừng nào đã có cảm giác dẫn hắn vào những hướng đi giả xong xuôi, tôi sẽ không trả lời những cú gọi của hắn nữa. Jacqueline có thể trông cậy vào tôi. Tôi sẽ để cô ta có đủ thời gian để hoàn toàn thoát thân.

Vào lúc này, cô ta cũng đang bước đi đâu đó trong thành phố này. Hoặc giả cô ta đang ngồi ở mộc cái bàn, quán Le Condé. Nhưng cô ta chẳng có gì phải e sợ hết. Tôi sẽ không đến chỗ hẹn nữa.

༺༒༻

Mười lăm tuổi, trông tôi như đã mười chín. Thậm chí là hai mươi. Tên tôi không phải Louki, mà là Jacqueline. Tôi còn ít tuổi hơn thế vào cái lần đầu tiên tận dụng sự vắng mặt của mẹ để trốn ra ngoài. Bà tới chỗ làm quãng chín giờ tối và sẽ không về nhà trước hai giờ sáng. Cái lần đầu tiên ấy, tôi đã chuẩn bị một lời nói dối phòng khi người gác cổng bắt chợt tôi ở cầu thang. Tôi sẽ nói mình phải đi mua thuốc ở hiệu thuốc trên quảng trường Blanche.

Tôi đã không quay trở lại khu phố cho đến buổi tối Roland đưa tôi bằng taxi tới nhà người bạn của Guy de Vere ấy. Chúng tôi có hẹn ở đó với tất cả những ai thường tham dự các cuộc họp. Chúng tôi vừa quen biết nhau, Roland và tôi, và tôi đã không dám nói gì với anh khi anh bảo taxi dừng lại ở quảng trường Blanche. Anh muốn chúng tôi đi bộ. Có lẽ anh đã không để ý tôi bấu chặt lấy tay anh như thế nào. Tôi bị chóng mặt. Tôi có cảm giác nếu đi ngang qua quảng trường, mình sẽ ngất xỉu. Tôi sợ. Anh, người vẫn nói suốt với tôi về Quy hồi Vĩnh cửu, hẳn anh sẽ hiểu. Phải, mọi chuyện bắt đầu trở lại với tôi, cứ như thể cuộc hẹn với những người kia chỉ là một cái cớ và người ta đã ngầm giao cho Roland trách nhiệm đưa tôi trở về chốn xưa.

Tôi thấy nhẹ cả người vì chúng tôi không đi qua trước Moulin-Rouge. Thế nhưng, mẹ tôi mất đã được bốn năm rồi và tôi không còn gì phải e ngại hết. Mỗi lần thoát ra khỏi căn hộ vào ban đêm, khi bà đi vắng tôi bước đi trên vỉa hè phía bên kia của đại lộ, vỉa hè bên quận IX. Trên vỉa hè ấy không có lấy một ngọn đèn. Tòa nhà trường trung học Jules-Ferry sẫm tối, rồi những mặt tiền các tòa nhà với cửa sổ tắt hết đèn, một quán ăn, nhưng có thể nói rằng căn phòng chính của nó lúc nào cũng nằm trong bóng tối lờ mờ. Và, lần nào cũng vậy, tôi không thể ngăn mình ném một cái nhìn sang phía bên kia dải đất giữa đường, sang Moulin-Rouge. Khi đến quán cà phê Palmiers và bước vào quảng trường Blanche, tôi không còn được tự tin cho lắm. Lại bắt đầu có những ngọn đèn. Một đêm nọ khi đi ngang qua trước hiệu thuốc, tôi nhìn thấy mẹ cùng những người khách khác, đằng sau cửa kính. Tôi tự nhủ bà xong việc sớm hơn thường lệ và sắp về nhà rồi. Nếu chạy thật nhanh, tôi sẽ về tới nơi trước bà. Tôi đứng như trời trồng ở góc phố Bruxelles để xem bà sẽ đi đường nào. Nhưng bà đã băng qua quảng trường để quay lại Moulin-Rouge.

Thường xuyên, tôi sợ và để tự trấn tĩnh tôi sẵn sàng đi tìm mẹ, nhưng hẳn là tôi sẽ làm phiền bà đang giữa lúc làm việc. Giờ thì tôi chắc rằng bà sẽ không mắng tôi, bởi cái đêm đến tìm tôi ở sở cảnh sát khu Grandes-Carrières, bà đã không buông một lời trách cứ, không hề dọa dẫm, không bài học đạo đức nào. Chúng tôi bước đi trong im lặng. Đến giữa cầu Caulaincourt, tôi nghe tiếng bà nói bằng giọng xa vời: “đứa bé tội nghiệp của mình”, nhưng tôi tự hỏi bà nói với tôi hay với chính bà. Bà đợi tôi cởi quần áo nằm lên giường rồi mới vào phòng tôi. Bà ngồi ở cuối giường, thật yên lặng. Tôi cũng vậy. Cuối cùng bà mỉm cười. Bà bảo tôi: “Chúng ta đều không nói nhiều lắm nhỉ...”, và bà nhìn thẳng vào mắt tôi. Đó là lần đầu tiên cái nhìn của bà dán lên tôi lâu tới vậy và lần đầu tiên tôi nhận ra mắt bà trong, xám hoặc xanh lợt đến như thế. Xám-xanh. Bà cúi xuống hôn lên má tôi, hay nói đúng hơn là tôi cảm thấy cặp môi bà thoáng lướt qua. Và vẫn là cái nhìn dán chặt lên tôi đó, cái nhìn thật trong và xa vắng. Bà tắt đèn rồi trước khi khép cửa nói với tôi: “Cố mà đừng tái phạm đấy nhé.” Tôi nghĩ đó là lần duy nhất một sự tiếp xúc đã được tạo ra giữa chúng tôi, rất ngắn ngủi, rất vụng về thế nhưng lại mạnh mẽ đến mức tôi thấy tiếc bởi đã không, trong những tháng tiếp theo, cố mà hướng tới bà, khi mà bà đã tạo ra mối tiếp xúc như vậy. Nhưng cả hai chúng tôi đều không phải người ưa biểu lộ. Có lẽ bà có cái thái độ bề ngoài rất thờ ơ đối với tôi ấy là bởi bà không hề có chút ảo tưởng nào về tôi. Chắc bà tự nhủ chẳng có gì nhiều để hy vọng vì tôi giống bà quá.

Nhưng hồi ấy tôi chẳng hề suy nghĩ đến chuyện đó. Tôi sống ở thì hiện tại, chẳng bao giờ tự đặt cho mình những câu hỏi. Mọi thứ thay đổi vào cái buổi tối Roland đưa tôi quay trở về khu phố mà tôi vẫn hằng né tránh. Tôi chưa hề đặt chân đến đó kể từ khi mẹ tôi mất. Chiếc taxi đi vào phố Chaussée-d’Antin và tôi nhìn thấy, ở tận phía cuối, hình khối màu đen của nhà thờ La Trinité, giống như một con đại bàng khổng lồ đang phiên canh gác. Tôi cảm thấy u uất. Chúng tôi đang tiến lại gần đường ranh giới. Tôi tự nhủ là có một tia hy vọng. Có lẽ chúng tôi sẽ rẽ sang trái. Nhưng không. Chúng tôi cứ đi thẳng, chúng tôi đi qua quảng trường nhỏ La Trinité, chúng tôi leo lên dốc. Ở chỗ đèn đỏ, trước khi vào quảng trường Clichy, thiếu điều tôi đã mở cửa xe để chạy trốn. Nhưng tôi không tài nào làm nổi điều ấy với anh.

Phải một lúc sau, khi chúng tôi đi bộ dọc theo phố Abbesses về phía tòa nhà nơi có cuộc hẹn thì tôi mới bình tĩnh trở lại. Thật may mắn, Roland đã không nhận thấy điều gì hết. Thế nên, tôi tiếc là chúng tôi đã không đi bộ lâu hơn, hai người với nhau, trong khu phố. Tôi những muốn đưa anh đi thăm thú và chỉ cho anh nơi tôi sống mới cách nay sáu năm thế mà đã xa xôi vậy, trong một cuộc đời khác... Sau khi mẹ tôi mất, chỉ còn mối liên hệ duy nhất nối tôi với cái thời ấy, một người tên là Guy Lavigne, bạn trai của mẹ. Tôi đã hiểu ra rằng chính ông là người trả tiền thuê căn hộ. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp ông. Ông làm việc tại một xưởng sửa chữa ô tô, ở Auteuil. Nhưng chúng tôi gần như không bao giờ nhắc đến quá khứ. Ông cũng ít nói y hệt mẹ. Khi dẫn tôi về sở cảnh sát, họ đặt cho tôi các câu hỏi mà tôi buộc phải trả lời nhưng, thoạt tiên, tôi làm việc đó rụt rè đến mức họ bảo tôi: “Cháu không nói nhiều nhỉ”, giống như hẳn họ sẽ nói với mẹ và với Guy Lavigne nếu có khi nào hai người rơi vào tay họ. Tôi không có thói quen nghe người ta đặt câu hỏi cho mình. Thậm chí tôi còn kinh ngạc vì thấy người ta quan tâm tới trường hợp của tôi. Lần thứ hai, ở chỗ sở cảnh sát Grandes- Carrières, tôi gặp một tay cớm dễ chịu hơn người lần trước và tôi thấy rất thích cái cách ông đặt câu hỏi cho tôi. Và thế là ta được phép tâm sự, nói về mình, ai đó ở trước mặt bạn quan tâm đến những hành động và cử chỉ của bạn. Tôi ít quen thuộc với tình huống này tới mức không tìm ra từ để trả lời. Trừ các câu hỏi thật cụ thể. Chẳng hạn: Cháu đã học ở trường nào? Trường của các bà xơ Saint-Vincent de Paul ở phố Caulaincourt và trường tiểu khu trên phố Antoinette. Tôi ngượng khi phải nói với ông rằng tôi không được nhận vào trường trung học Jules-Ferry, nhưng rồi tôi hít một hơi thật sâu và thú nhận với ông điều đó. Ông bèn cúi xuống tôi và bảo, giọng rất dịu dàng, như thể muốn an ủi tôi: “Kệ cái trường trung học Jules-Ferry chứ...” Và câu nói đã làm tôi ngạc nhiên đến nỗi thoạt tiên tôi suýt bật cười. Ông mỉm cười với tôi và nhìn vào mắt tôi, một cái nhìn trong vắt giống mẹ tôi, nhưng dịu dàng hơn, chăm chú hơn. Ông cũng hỏi tình trạng gia đình của tôi. Tôi cảm thấy tin cậy và đã nói ra được với ông vài mẩu thông tin nghèo nàn: mẹ tôi xuất thân từ một ngôi làng vùng Sologne, nơi một ông tên là Foucret, giám đốc Moulin-Rouge, có đất riêng. Và chính bởi vậy mà khi còn rất trẻ, lúc mới lên Paris, bà đã tìm được một công việc tại chốn ấy. Tôi không biết bố tôi là ai. Tôi sinh ra ở đó, Sologne, nhưng chúng tôi chưa bao giờ quay trở lại. Thế nên mẹ vẫn thường xuyên nhắc đi nhắc lại với tôi: “Chúng ta không còn gốc rễ nữa rồi...” Ông nghe tôi nói và thỉnh thoảng ghi lại vài điều. Còn tôi, tôi có một cảm giác mới: nhờ cung cấp cho ông tất cả những chi tiết nghèo nàn đó, tôi được giải thoát khỏi một gánh nặng. Những điều ấy không còn liên quan đến tôi nữa, tôi đang nói về một ai đó khác và tôi nhẹ nhõm vì thấy ông ghi lại. Nếu mọi thứ được viết ra rõ ràng giấy trắng mực đen, thì nghĩa là chuyện đã xong rồi, giống như trên các nấm mồ người ta khắc tên và ngày tháng vậy. Và mỗi lúc tôi nói một nhanh thêm, các từ cứ xô đẩy vào nhau: Moulin-Rouge, mẹ tôi, Guy Lavigne, trường trung học Jules-Ferry, Sologne... Tôi chưa từng nói chuyện được với một ai. Thật nhẹ bỗng biết bao khi tất cả những từ đó chui ra khỏi miệng... Một phần đời tôi đã chấm dứt, một phần đời mà tôi bị áp đặt phải sống. Kể từ nay, chính tôi sẽ tự quyết đời mình. Mọi thứ sẽ bắt đầu kể từ ngày hôm nay, và để lấy đà cho mạnh mẽ, tôi những muốn ông gạch đi những gì vừa viết ra. Tôi sẵn sàng cho ông thêm các chi tiết khác và những cái tên nữa, nói với ông về một gia đình tưởng tượng, một gia đình đúng như tôi hằng mơ ước.

Quãng hai giờ sáng, mẹ tới tìm tôi. Ông bảo mẹ chuyện không nghiêm trọng lắm đâu. Ông vẫn đặt lên tôi cái ánh mắt chăm chú ấy. Lang thang ở tuổi vị thành niên, đó là điều đã được viết vào trong hồ sơ của họ. Bên ngoài, xe taxi đang chờ. Khi ông hỏi tôi về chuyện học hành, tôi đã quên nói với ông rằng, trong vòng vài tháng, tôi có theo học một trường xa hơn một chút ở trên cùng vỉa hè với sở cảnh sát. Tôi ở lại căng tin và cuối buổi chiều thì mẹ đến đón tôi. Đôi khi, mẹ đến muộn và tôi đợi, ngồi đó trên một cái ghế băng ở dải đất giữa đường. Chính tại đó tôi đã nhận ra rằng mỗi bên phố lại mang một cái tên khác. Và đêm hôm ấy, mẹ cũng đến đón tôi, rất gần trường, nhưng lần này thì ở chỗ sở cảnh sát. Cái phố thật lạ lùng vì mang hai tên và như thể cứ muốn đóng một vai trò trong đời tôi vậy...

Thỉnh thoảng, mẹ tôi lại lo lắng liếc nhìn đồng hồ tính tiền trên xe taxi. Mẹ bảo tài xế dừng lại ở góc phố Caulaincourt, và khi mẹ rút ra từ trong ví mấy đồng tiền, tôi hiểu mẹ chỉ còn đủ ngần ấy để trả. Phần đường còn lại chúng tôi cuốc bộ. Tôi bước đi nhanh hơn mẹ, để bà rớt lại đằng sau lưng. Rồi tôi dừng lại đợi mẹ bắt kịp. Trên cây cầu nhìn thẳng xuống nghĩa trang và là nơi từ đó nhìn được tòa nhà của chúng tôi phía dưới kia, chúng tôi dừng thật lâu và tôi có cảm giác mẹ đang lấy lại hơi. “Con đi nhanh quá”, mẹ bảo tôi. Giờ thì tôi nảy ra một ý. Có lẽ tôi đang thử lôi kéo bà đi xa hơn đôi chút khỏi cái cuộc sống chật chội của bà. Nếu bà không chết, tôi tin hẳn mình có thể giới thiệu với bà những chân trời khác.

Ba hay bốn năm tiếp sau đó, vẫn thường là cùng những lộ trình ấy, cùng những phố ấy, nhưng mỗi lúc tôi một đi xa hơn. Hồi đầu, thậm chí tôi còn không ra tới quảng trường Blanche. Mà chỉ là đi vòng vòng quanh khối nhà... Trước hết là cái rạp chiếu phim nhỏ xíu đó, nằm ở góc đại lộ cách nhà tôi vài mét, nơi buổi chiếu bắt đầu vào lúc mười giờ tối. Phòng trống, ngoại trừ thứ Bảy. Các bộ phim lấy bối cảnh những vùng đất xa xôi, như Mexico và Arizona. Tôi hoàn toàn không để ý tới cốt truyện, mà chỉ quan tâm đến các khung cảnh. Lúc đi ra, trong đầu tôi hình thành một sự pha trộn kỳ quặc giữa Arizona và đại lộ Clichy. Màu sắc của các biển hiệu sáng đèn và những ngọn đèn nê ông giống hệt như trong phim: cam, xanh ngọc bích, xanh thẫm màn đêm, vàng cát, những màu quá rợ làm tôi có cảm giác vẫn còn ở trong bộ phim hoặc trong một giấc mơ. Một giấc mơ hoặc một cơn ác mộng, điều đó thì còn tùy. Thoạt tiên đó là mộc cơn ác mộng vì tôi thấy sợ và không dám đi xa hơn nữa. Và không phải là bởi mẹ tôi. Nếu bắt chợt tôi một mình trên đại lộ, giữa đêm, hẳn cùng lắm bà cũng sẽ chỉ nói một lời trách cứ. Hẳn bà sẽ bảo tôi về nhà, bằng cái giọng bình thản của bà, như thể bà không hề ngạc nhiên khi thấy tôi bên ngoài vào cái giờ khuya khoắt này. Tôi nghĩ lúc ấy tôi bước đi trên vỉa hè phía bên kia, vỉa hè của bóng tối, vì tôi cảm thấy mẹ không còn có thể làm gì cho tôi nữa.

Lần đầu tiên họ bắt được tôi, đó là ở quận IX, đầu phố Douai, trong cái hiệu bánh mở cửa suốt đêm ấy. Khi đó là một giờ sáng. Tôi đứng trước một cái bàn cao ăn bánh croissant. Từ giờ ấy trở đi, người ta luôn luôn thấy những kẻ kỳ quặc trong hiệu bánh, và thường thì họ từ bên quán cà phê đối diện sang, quán Le Sans-Souci. Hai tay cớm vận thường phục bước vào để kiểm tra giấy tờ. Tôi không có giấy tờ và họ hỏi tuổi tôi. Tôi chọn cách nói thật với họ. Họ cho tôi lên một chiếc xe bịt bùng cùng một tay cao lớn tóc vàng mặc áo vest lông cừu lộn. Ông ta có vẻ quen biết các tay cớm. Có lẽ ông ta cũng là cớm. Đến một lúc, ông ta mời tôi hút thuốc lá, nhưng một cảnh sát vận thường phục ngăn ông ta lại: “Nó còn bé quá... không tốt cho sức khỏe”. Hình như họ xưng hô thân mật với nhau.

Tại văn phòng sở cảnh sát, họ hỏi tên họ tôi, ngày sinh và địa chỉ của tôi, và họ ghi hết vào sổ. Tôi giải thích cho họ rằng mẹ tôi làm việc ở Moulin-Rouge. “Thế thì chúng ta sẽ gọi điện thoại cho bà ấy”, một trong hai tay cớm vận thường phục nói. Tay ghi lời khai đưa cho ông ta số điện thoại của Moulin-Rouge. Ông ta vừa quay số vừa nhìn chằm chằm vào mắt tôi. Tôi thấy rất bực bội. Ông ta nói: “Cho tôi nói chuyện với bà Geneviève Delanque.” Ông ta vẫn nhìn chằm chằm vào tôi vẻ rất nghiệt ngã thế nên tôi hạ mắt xuống. Và rồi, tôi nghe thấy: “Thôi... Không cần làm phiền bà ấy...” Ông ta dập máy. Giờ thì ông ta mỉm cười. Ông ta chỉ muốn làm tôi sợ thôi. “Lần này thì không sao,” ông ta bảo tôi, “nhưng lần tới, tôi sẽ buộc phải báo cho mẹ cô đấy.” Ông ta đứng dậy và chúng tôi ra khỏi sở cảnh sát. Tay tóc vàng mặc áo vest lông cừu lộn đang đợi trên vỉa hè. Họ cho tôi lên một cái xe ô tô, ngồi ở băng ghế sau. “Chú đưa cháu về nhà”, tay cớm vận thường phục bảo tôi. Giờ thì ông ta đã xưng hô thân mật với tôi. Tay tóc vàng mặc áo lông cừu lộn xuống khỏi xe ở quảng trường Blanche, trước cửa hiệu thuốc. Thật kỳ khôi khi ngồi một mình trên băng ghế sau một chiếc ô tô cùng cái tay đang lái xe kia. Ông ta dừng lại trước cửa tòa nhà. “Đi ngủ đi. Lần sau đừng có tái phạm nữa nhé, thưa cô.” Ông ta lại xưng hô trịnh trọng với tôi. Tôi nghĩ mình đã ấp úng mấy từ “cám ơn, thưa ông”. Tôi bước về phía cánh cổng và, đúng lúc mở nó ra, tôi quay đầu lại. Ông ta đã tắt máy, không rời mắt khỏi tôi, như thể muốn chắc chắn là tôi vào hẳn trong nhà. Tôi nhìn qua cửa sổ phòng. Cái xe vẫn dừng ở đó. Tôi đợi, trán tì vào kính, tò mò xem nó sẽ ở lại đó cho đến bao giờ. Tôi nghe tiếng máy nổ trước khi nó quay đầu rồi biến mất ở góc phố. Tôi cảm thấy nỗi hoang mang vẫn thường xâm chiếm con người tôi vào ban đêm và còn mạnh hơn cả nỗi sợ - cái cảm giác kể từ nay mình chỉ dựa được vào chính mình, không biết trông đợi vào đâu nữa. Cả mẹ lẫn bất kỳ ai khác. Tôi những muốn ông ta đứng rình cả đêm trước nhà, cả đêm ấy và những đêm tiếp sau nữa, như một người lính gác, hay đúng hơn là một thiên thần hộ mệnh trông chừng cho tôi.

Nhưng, những buổi tối khác, nỗi hoang mang tan biến và tôi sốt ruột chờ cho đến khi mẹ đi khỏi để ra ngoài. Tôi xuống cầu thang, trống ngực đập thình thịch, như thể đang đi tới mộc cuộc hẹn. Không cần phải nói dối người gác cổng nữa, không cần phải tìm ra những cái cớ hoặc xin phép nữa. Với ai đây? Và tại sao nào? Thậm chí tôi còn chẳng chắc mình có quay trở về nhà không nữa. Bên ngoài, tôi không đi theo vỉa hè bóng tối, mà đi trên vỉa hè của Moulin-Rouge. Với tôi những ánh đèn như thể còn rợ hơn trong những bộ phim về Mexico. Một cơn say chiếm lấy tôi, nhẹ đến thế... Tôi đã cảm thấy tương tự vậy vào cái buổi tối uống một ly sâm banh ở quán Le Sans-Souci. Tôi có cả cuộc đời trước mặt. Làm thế nào mà tôi lại có thể co mình lại sát những bức tường để lẩn tránh như vậy? Và tôi sợ gì cơ chứ? Tôi sẽ đi tới những cuộc gặp. Chỉ cần bước vào bất kỳ quán cà phê nào.

Tôi từng biết một cô gái, hơn tuổi tôi một chút tên là Jeannette Gaul. Một đêm bị lên cơn đau nửa đầu, tôi bước vào hiệu thuốc trên quảng trường Blanche để mua Véganine và một chai ether. Lúc thanh toán, tôi nhận ra mình không mang theo tiền. Cô gái mang mái tóc vàng cắt ngắn ấy, mặc áo gió và ánh mắt cô đã giao với ánh mắt tôi - mắt cô xanh lục - tiến về phía quầy thanh toán và trả tiền cho tôi. Tôi thấy rất phiền, không biết phải cảm ơn cô thế nào. Tôi đề nghị cô đi theo về nhà tôi để có thể trả lại tiền cho cô. Tôi vẫn luôn luôn để ít tiền trong ngăn kéo bàn ngủ. Cô nói: “Không... không... để lần sau đi.” Cô cũng sống trong khu phố, nhưng xuôi xuống phía dưới. Cô nhìn tôi, mỉm cười bằng cặp mắt màu xanh lục. Cô đề nghị tôi đi uống gì đó cùng cô, gần nhà cô, và thế là chúng tôi vào một quán cà phê - hay đúng hơn là một quán bar trên phố La Rochefoucauld. Hoàn toàn không giống không khí tại Le Condé. Những bức tường ốp gỗ sáng màu, cũng như quầy và bàn, và một dạng cửa sổ tranh kính trông ra phố. Các ghế băng phủ nhung đỏ sẫm. Ánh sáng lờ nhờ. Đằng sau quầy là một người đàn bà tóc vàng trạc tứ tuần mà cái cô Jeannette Gaul đó biết rất rõ vì cô gọi bà ta là Suzanne và xưng hô thân mật. Bà ta rót cho chúng tôi hai ly sâm banh Pim’s.

“Chúc sức khỏe”, Jeannette Gaul nói với tôi. Cô vẫn tiếp tục mỉm cười với tôi và tôi có cảm giác cặp mắt màu xanh lục của cô săm soi tìm cách đoán biết điều gì đang diễn ra trong óc tôi. Cô hỏi tôi:

“Bạn sống ở gần đây à?”

“Ừ. Phía trên kia một đoạn.”

Trong khu phố có rất nhiều địa giới mà tôi biết rõ mọi đường biên, kể cả những đường biên vô hình. Vì đang rất rụt rè và không biết phải nói sao với cô, tôi thêm vào: “Ừ, mình sống phía trên kia. Chỗ này mới chỉ là những đoạn dốc đầu tiên thôi.” Cô nhíu mày. “Những đoạn dốc đầu tiên?” Mấy từ này làm cô rối trí, nhưng cô vẫn không đánh mất nụ cười. Có phải là hiệu ứng của rượu sâm banh Pim’s hay không? Sự rụt rè trong tôi biến mất. Tôi giải thích cho cô “những đoạn dốc đầu tiên” có nghĩa là gì, cách nói đó tôi đã học được cũng giống như mọi đứa trẻ theo học các trường trong khu. Kể từ quảng trường nhỏ La Trinité trở đi là bắt đầu “những đoạn dốc đầu tiên”. Cứ lên cao mãi không ngừng cho tới lâu đài Sương Mù và nghĩa trang Saint-Vincent, trước khi lại đi xuống về phía hậu cảnh Clignancourt, hẳn lên phía Bắc.

“Bạn biết nhiều thứ thật đấy”, cô bảo tôi. Và nụ cười của cô đã chuyển sang mỉa mai. Đột nhiên cô xưng hô thân mật với tôi, nhưng tôi thấy chuyện đó là tự nhiên. Cô gọi người đàn bà tên Suzanne mang tới cho hai ly nữa. Tôi không quen uống rượu, với tôi một ly đã là quá nhiều. Nhưng tôi không dám từ chối. Để xong cho nhanh, tôi nuốt ực ly rượu. Cô vẫn quan sát tôi, im lặng.

“Bạn có đi học không?”

Tôi ngần ngừ trước khi trả lời. Tôi vẫn luôn luôn mơ trở thành sinh viên, vì thấy cái từ ấy thật thanh lịch. Nhưng giấc mơ này với tôi đã trở thành bất khả vào cái ngày tôi không được nhận vào trường trung học Jules-Ferry. Có phải vì uống sâm banh mà tôi trở nên tự tin không? Tôi cúi về phía cô và, có lẽ nhằm tăng sức thuyết phục, tôi đưa mặt mình vào sát mặt cô:

“Có, mình là sinh viên.”

Cái lần đầu tiên đó, tôi không hề để ý tới những người khách xung quanh chúng tôi. Không có gì chung với Le Condé. Nếu không ngại gặp lại vài bóng ma, một đêm nào đó tôi sẵn sàng quay về nơi ấy để hiểu cho rõ mình từ đâu tới. Nhưng phải thận trọng. Vả lại có nguy cơ tôi sẽ thấy quán đã đóng cửa. Đổi chủ. Tất cả những thứ này đâu có nhiều tương lai.

“Sinh viên ngành gì?”

Cô làm tôi sững lại. Sự chân thành nơi cái nhìn của cô đã khích lệ tôi. Chắc chắn cô không thể nghĩ là tôi đang nói dối.

“Ngôn ngữ phương Đông.”

Cô có vẻ bị ấn tượng mạnh. Sau đó không bao giờ cô hỏi chi tiết về chuyện học các ngôn ngữ phương Đông của tôi, cũng như giờ học, địa điểm trường. Hẳn cô đã nhận ra là tôi không hề đi học ở trường nào hết. Nhưng theo tôi thì với cô - cả với tôi nữa - chính đó là một dạng danh xưng quý tộc mà tôi mang, và là thứ người ta đương nhiên được tập ấm mà không cần phải làm gì. Với những khách quen của quán bar trên phố La Rochefbucauld, cô giới thiệu tôi là “Nữ Sinh Viên” và có thể ở nơi ấy người ta vẫn còn nhớ chuyện này.

Đêm hôm đó, cô đưa tôi về tận nhà. Đến lượt mình, tôi muốn biết cô làm gì. Cô bảo cô là vũ nữ, nhưng sau một tai nạn thì cô buộc phải thôi công việc đó. Vũ công cổ điển à? Không, không hoàn toàn, tuy thế cô đã học qua múa cổ điển. Giờ thì tôi tự đặt cho mình một câu hỏi chưa từng lướt qua óc tôi hồi ấy: Hay cô là vũ công giống như tôi là sinh viên? Chúng tôi đi trên phố Fontaine về phía quảng trường Blanche. Cô giải thích với tôi rằng “vào lúc này” cô là “liên danh” của người đàn bà tên Suzanne, một người bạn lâu năm của cô và cũng một chút là “chị gái” của cô. Hai người cùng trông coi cái nơi cô đã dẫn tôi tới tối nay và đó cũng là một quán ăn.

Cô hỏi có phải tôi sống một mình không. Phải, một mình cùng mẹ. Cô muốn biết mẹ tôi làm nghề gì. Tôi không thốt ra cái từ “Moulin-Rouge”. Tôi đáp, giọng khô khốc: “Kế toán viên.” Dù thế nào đi nữa, mẹ tôi cũng hoàn toàn có thể là kế toán viên. Mẹ có sự nghiêm túc và kín đáo của cái nghề đó.

Chúng tôi chia tay nhau trước cổng. Không phải đêm nào tôi cũng rộn ràng trong lòng khi quay về căn hộ ấy. Tôi vẫn biết rồi một ngày mình sẽ rời bỏ nó vĩnh viễn. Tôi trông chờ rất nhiều vào những cuộc gặp mà tôi sẽ có, những cuộc gặp sẽ giúp tôi chấm dứt nỗi cô đơn. Cô gái này là cuộc gặp đầu tiên của tôi và có thể cô sẽ giúp tôi cao chạy xa bay.

“Mai ta gặp nhau chứ?” Cô có vẻ ngạc nhiên trước câu hỏi của tôi. Tôi đặt nó cho cô quá đột ngột, không sao che giấu nổi sự lo lắng.

“Tất nhiên rồi. Khi nào mà bạn muốn...”

Cô hướng sang tôi nụ cười dịu dàng và mỉa mai của cô, cùng nụ cười ban nãy, vào đúng lúc tôi giải thích cho cô biết “những đoạn dốc đầu tiên” nghĩa là gì.

Trí nhớ của tôi có những lỗ hổng. Hay nói đúng hơn, một số chi tiết quay trở lại với tôi trong tình trạng lộn xộn. Từ năm năm nay, tôi không còn muốn nghĩ đến tất cả những chuyện đó. Và chỉ cần xe taxi đi ngược phố là tôi đã nhìn thấy lại các biển hiệu sáng đèn - Aux Noctambules, Aux Pierrots... Tôi không còn biết cái nơi trên phố La Rochefoucauld tên là gì nữa. Le Rouge Cloître? Chez Dante? Le Canter? Đúng rồi, Le Canter. Hẳn không người khách nào bên Le Condé từng lui tới Le Canter. Có những đường ranh giới không thể vượt qua trong đời. Thế nhưng tôi từng rất kinh ngạc vào những lần đầu tiên tới Le Conđé khi nhận ra một người khách tôi từng thấy ở Le Canter, một người tên là Maurice Raphaël và được đặt biệt danh Báo Gấm... Tôi đã không thực sự đoán được rằng người đàn ông đó là nhà văn... Không gì phân biệt ông ta với những người chơi bài và các trò chơi khác trong căn phòng nhỏ ở góc, đằng sau tấm lưới sắt rèn... Tôi nhận ra ông ta. Về phần ông ta, tôi cảm thấy khuôn mặt tôi không gợi lên điều gì. Càng tốt. Nhẹ cả người...

Tôi chưa bao giờ hiểu nổi vai trò của Jeannette Gaul ở Le Canter. Thường thì cô nghe khách gọi đồ và phục vụ họ. Cô ngồi cùng bàn với họ. Cô quen biết đa phần trong số họ. Cô giới thiệu tôi với một tay cao lớn tóc nâu vẻ mặt phương Đông, ăn mặc rất đẹp, có vẻ là dân học hành, một tay tên Accad, con trai một bác sĩ trong khu phố. Lúc nào anh ta cũng đi cùng hai người bạn, Godinger và Mario Bay. Thỉnh thoảng, họ chơi bài và những trò chơi khác cùng cánh đàn ông nhiều tuổi hơn, trong căn phòng nhỏ ở góc. Những trò ấy kéo dài đến năm giờ sáng. Một trong các tay chơi có vẻ như là chủ sở hữu thực của Le Canter. Một người đàn ông trạc ngũ tuần tóc muối tiêu cắt ngắn, cũng ăn mặc rất đẹp, vẻ nghiêm trang, mà Jeannette bảo tôi là “cựu luật gia”. Tôi còn nhớ tên ông ta: Mocellini. Đôi khi, ông ta đứng dậy đi tới chỗ Suzanne đằng sau quầy bar. Vài đêm, ông ta thế chỗ bà tự tay pha chế đồ uống, như thể ông ta đang ở trong nhà mình và mọi người đều là khách mời của ông. Ông ta gọi Jeannette là “con trai ta” hoặc “Đầu Lâu” tôi cũng chẳng hiểu tại sao nữa, và những lần đầu tiên tôi đến quán Le Canter ông ta nhìn tôi với một chút nghi ngờ. Một đêm, ông ta hỏi tuổi tôi. Tôi khai tăng tuổi mình lên, tôi nói “hai mươi mốt”. Ông ta vừa nhìn tôi vừa nhíu mày, ông ta không tin lời tôi. “Cô có chắc là cô hai mốt tuổi không?” Càng lúc tôi càng thấy bối rối hơn và đã sẵn sàng nói cho ông ta tuổi thực của mình, nhưng cái nhìn của ông ta đột nhiên mất đi toàn bộ vẻ nghiêm khắc. Ông ta mỉm cười với tôi và nhún vai. “Thế thì ta cứ cho rằng cô hai mốt tuổi đi.”

Jeannette rất thích Mario Bay. Anh đeo kính râm nhưng hoàn toàn không phải vì thích kiểu cách. Mắt anh chịu ánh sáng kém. Hai bàn tay mảnh dẻ. Thoạt đầu, Jeannette nghĩ anh là dương cầm thủ, thuộc vào những người, cô bảo tôi, từng diễn công xe, ở Gaveau hay Pleyel. Anh trạc ba mươi tuổi, cũng như Accad và Godinger. Nhưng nếu không phải dương cầm thủ thì anh làm gì trong đời? Anh và Accad rất thân với Mocellini. Theo lời Jeannette, họ làm việc cùng Mocellini khi ông ta còn là luật gia. Kể từ đó, họ vẫn luôn luôn làm việc cho ông ta. Việc gì? Trong các hội, cô bảo tôi. Nhưng “các hội” nghĩa là gì? Ở quán Le Canter họ mời chúng tôi đến ngồi cùng bàn, và Jeannette cứ nói Accad khoái tôi. Ngay từ đầu, tôi đã cảm thấy cô muốn tôi cặp kè với anh, có lẽ nhằm củng cố những liên hệ của cô với Mario Bay. Tôi thì lại có cảm giác Godinger mới là người thấy tôi hợp nhãn. Anh cũng tóc nâu như Accad nhưng cao hơn. Jeannette biết anh không rõ bằng hai người kia. Có vẻ như anh có rất nhiều tiền và một chiếc ô tô mà lúc nào anh cũng đỗ trước quán Le Canter. Anh sống ở khách sạn và thường xuyên sang Bỉ.

Những lỗ hổng tối đen. Và rồi các chi tiết cứ nhảy xổ vào ký ức tôi, những chi tiết cụ thể nhưng chẳng nghĩa lý gì. Anh sống ở khách sạn và thường xuyên sang Bỉ. Tối hôm trước, tôi nhắc lại cái câu ngu ngốc đó như điệp khúc một điệu hát ru mà người ta lẩm bẩm trong bóng tối để tự trấn an. Thế tại sao Mocellini lại gọi Jeannette là Đầu Lâu? Các chi tiết che giấu các chi tiết khác nặng nề hơn rất nhiều. Tôi nhớ đến cái buổi chiều, vài năm sau đó, khi Jeannette đến gặp tôi ở Neuilly. Đó là quãng mười lăm ngày sau khi tôi cưới Jean-Pierre Choureau. Tôi chưa từng bao giờ gọi được anh ta bằng cái tên nào khác ngoài Jean-Pierre Choureau, hẳn là bởi anh ta hơn tuổi tôi và chính anh ta xưng hô trịnh trọng với tôi. Cô nhấn chuông ba lần, đúng như tôi đã đề nghị. Trong thoáng chốc, tôi đã không muốn đáp lại cô, nhưng làm thế thì thật là ngẫn, cô biết số điện thoại và địa chỉ của tôi. Cô bước vào, luồn mình qua khe cửa mở hé, tưởng chừng như cô đang lén lút lọt vào căn hộ để đánh cắp đồ. Trong phòng khách, cô nhìn quanh, ngắm những bức tường trắng, cái bàn thấp, chồng tạp chí, ngọn đèn có chụp đỏ, bức chân dung mẹ Jean-Pierre Choureau treo phía trên trường kỷ. Cô không nói gì. Cô gật đầu. Cô nằng nặc muốn đi thăm nhà. Cô có vẻ ngạc nhiên vì Jean-Piene Choureau và tôi ngủ riêng. Trong phòng ngủ của tôi, chúng tôi nằm dài ra trên giường.

“Thế nào, anh ta là con nhà phải không?” Jeannette hỏi tôi. Và cô phá lên cười.

Tôi đã không gặp lại cô kể từ hồi ở khách sạn trên phố Armaillé. Tiếng cười của cô làm tôi thấy khó ở. Tôi ngại cô sẽ kéo mình quay ngược thời gian, về cái thời quán Le Canter. Thế nhưng, hồi năm ngoái khi tới phố Armaillé thăm tôi, cô tuyên bố mình đã cắt đứt quan hệ với những người khác.

“Đúng là phòng của thiếu nữ đây...”

Trên mặt tủ com mốt là bức ảnh Jean-Pierre Choureau lồng khung da đỏ sẫm. Cô đứng dậy cúi người về phía khung ảnh.

“Trông anh ta cũng đẹp trai đấy... Nhưng tại sao cậu lại ngủ riêng?”

Cô lại nằm xuống bên cạnh tôi trên giường. Thế là tôi bèn bảo cô tôi muốn gặp cô ở chỗ khác hơn là nơi đây. Tôi ngại cô cảm thấy bực bội khi có mặt Jean-Pierre Choureau. Và rồi chúng tôi sẽ không thể nói chuyện thoải mái với nhau.

“Cậu sợ tớ tới gặp cậu cùng những người khác chứ gì?”

Cô cười nhưng đó là một tiếng cười kém thẳng thắn hơn nhiều so với lúc nãy. Đúng vậy, tôi sợ, ngay cả ở Neuilly, gặp trúng phải Accad. Tôi ngạc nhiên vì anh đã không tìm ra dấu vết của tôi hồi tôi hay sống ở khách sạn, phố Étoile rồi phố Armaillé.

“Bình tĩnh đi nào... Họ không còn ở Paris từ lâu lắm rồi... Họ sang Maroc rồi...”

Cô vuốt ve trán tôi như thể muốn làm tôi dịu lại. “Tớ nghĩ cậu đã không hề kể với chồng cậu về các bữa tiệc ở Cabassud...”

Cô không hề gia giảm chút mỉa mai nào trong câu vừa nói xong. Ngược lại, tôi thấy choáng vì cái giọng buồn bã của cô. Chính bạn trai của cô, Mario Bay, cái anh chàng đeo kính râm với hai bàn tay dương cầm thủ thường hay sử dụng từ “bữa tiệc” này khi họ, Accad và anh, dẫn chúng tôi đến qua đêm ở Cabassud, một quán trọ gần Paris.

“Ở đây yên tĩnh thật... Không hề giống ở Cabassud... Cậu có còn nhớ không?”

Các chi tiết mà tôi những muốn nhắm mắt làm ngơ như người ta muốn nhắm mắt trước một luồng ánh sáng quá chói. Tuy vậy, lần trước, khi cùng Roland rời khỏi chỗ những người bạn của Guy de Vere rồi quay về Montmartre, tôi đã giữ mắt mở thật to. Mọi thứ rõ ràng hơn, sắc nét hơn, một ánh sáng dữ dội làm tôi bị quáng nhưng rốt cuộc cũng quen được với nó. Một đêm tại Le Canter, tôi ngồi bên một cái bàn, gần lối vào, với Jeannette, trong cùng thứ ánh sáng đó. Không còn ai ngoài Mocellini và những người khác đang chơi bài trong căn phòng ở góc, đằng sau tấm lưới sắt. Mẹ tôi hẳn đã về nhà từ lâu rồi. Tôi tự hỏi bà có thấy lo lắng vì sự vắng mặt của tôi hay không. Tôi gần như nuối tiếc cái đêm bà đến đón tôi ở sở cảnh sát Grandes-Carrières. Kể từ giờ, tôi có dự cảm sẽ không bao giờ bà còn có thể đến đón tôi nữa. Tôi ở quá xa. Một nỗi hoang mang xâm chiếm lấy tôi, tôi cố gắng chế ngự nó, nhưng nó vẫn làm tôi thấy khó thở. Jeannette gí sát mặt lại gần mặt tôi.

“Trông cậu xanh quá... Không ổn à?” Tôi những muốn mỉm cười để trấn an cô, nhưng lại có cảm giác mặt mình đang nhăn nhó.

“Không... Không sao đâu...”

Kể từ khi rời khỏi nhà vào ban đêm, tôi vẫn có những đợt sợ hãi ngắn hay đúng hơn là các đợt “tụt huyết áp”, như người chủ hiệu thuốc ở quảng trường Blanche từng nói, một tối nọ khi tôi cố công giải thích cho ông ta hiểu mình cảm thấy gì. Nhưng lần nào thốt ra một lời, tôi cũng thấy như thể nó sai hoặc quá mức ngờ nghệch. Tốt hơn hết là giữ im lặng. Một cảm giác trống rỗng chụp lấy tôi trên phố, đột ngột. Lần đầu tiên là trước hiệu thuốc lá, gần quán Le Cyrano. Ở đó đông người qua lại, nhưng tôi vẫn thấy không yên ổn. Tôi thì sắp ngất xỉu đến nơi mà họ thì cứ tiếp tục bước đi về phía trước chẳng buồn để tâm đến tôi chút nào. Tụt huyết áp. Cắt điện. Tôi phải cố gắng hết sức để tự nối lại các sợi dây. Tối đó, tôi bước vào hiệu thuốc lá hỏi mua tem, bưu thiếp, một cái bút bi và một bao thuốc. Tôi ngồi ngay ở quầy. Tôi lấy ra một cái bưu thiếp và bắt đầu viết. “Kiên nhẫn thêm một chút nữa nhé. Em nghĩ mọi chuyện sẽ khá hơn.” Tôi châm một điếu thuốc và dán một con tem lên tấm bưu ảnh. Nhưng gửi cho ai bây giờ? Tôi những muốn viết lên mỗi tấm bưu ảnh vài từ, những từ giúp ta trấn tĩnh: “Trời đẹp, em đang có kỳ nghỉ tuyệt vời, em hy vọng mọi chuyện của anh cũng ổn. Hẹn sớm gặp nhé. Hôn anh.” Tôi ngồi ở hiên một quán cà phê từ rất sớm vào buổi sáng, bên bờ biển. Và viết bưu thiếp cho bạn bè.

༺༒༻

Tên các tập thơ rất nổi tiếng, của Lautréamont, Rimbaud và Maurice Blanchard.

Nhan đề cuốn sách này, Dans le café de la jeunesse perdue, rút từ một bộ phim khởi chiếu năm 1981 của triết gia Guy Debord (yếu nhân của phong trào “Quốc tế Tinh thế chủ nghĩa” - Internationale Situationniste), khá mơ hồ vì cùng một lúc tính từ “perdu” được hiểu theo hai nghĩa: “đã mất” và “lạc đường”. Tuy nghĩa thứ hai được chọn cho nhan đề tiếng Việt vì đúng với tinh thần cuốn sách hơn, nhưng độc giả cũng cần lưu ý rằng tác phẩm đậm màu tiếc nuối quá vãng.

Ở đây tác giả cũng dùng tính từ “perdu” như ở nhan đề. “Chó” cũng là một chi tiết quan trọng, gợi nhớ đến tác phẩm Un Pedigree của Modiano, xuất bản không lâu trước cuốn sách này; trong đó Modiano viết rất nhiều về cuộc đời mình và tự coi mình như một “con chó”.

Tác giả sử dụng nhan đề một tập sách rất nổi tiếng của Baudelaire.

Đây là một khái niệm quan trọng trong triết lý của Guy Debord.

Trò chơi gieo ba quân xúc xắc, trong đó kết hợp “vua” là khi được một quân 4, một quân 2 và một quân 1.

Dịch từ “pataphysique”, khái niệm và phong trào nghệ thuật với yếu nhân là nhà văn Alfred Jarry (1873-1907) và tập hợp những nhà văn nổi tiếng như Boris Vian hay Eugène lonesco; phong trào này chú trọng vào khái niệm ‘các giải pháp đặc thù'.

Dịch từ “lettrisme”, tên một phong trào nghệ thuật tiền phong do Isidore Isou (1925-2007) lập ra; Isou là người Rumani, năm 1945 ông sang Pháp và lập ra phong trào “duy tự”, đặc biệt chú trọng vào tính nhạc của chữ và quan tâm đến khía cạnh âm, nhất là tượng thanh, của từ.

Dịch từ “métagraphie”, một kỹ thuật của phong trào “duy tự”, chỉ sự khai thác mọi loại ký hiệu như chữ cái, chữ tượng hình... trong giao tiếp và thực hành nghệ thuật. Khái niệm này do Isidore Isou đưa ra nhưng chủ yếu được thực hành ở giai đoạn sau ở nhóm ly khai, trong đó có Guy Debord.

Trò chơi một mình xếp các quân bài theo trật tự quy định, còn có tên gọi khác khá phổ biến ở Việt Nam là “solitaire”.

Đây là một đối tượng được Patrick Modiano đặc biệt quan tâm, trở thành đề tài cho một tác phẩm của ông.

Ở đây tác giả chơi chữ: từ “sommier” được dùng theo cả hai nghĩa: khi Bernolle dùng từ này thì nó ám chỉ sổ sách của cảnh sát, còn trongsuy nghĩ của nhân vật Caisley thì “sommier” mang nghĩa khác: bộ khung của cái giường (chưa có nệm); đoạn trên được gắng gượng dịch như vậy nhằm giữ một chút ý vị của nguyên bản.

« Lùi
Tiến »