Ở QUÁN CÀ PHÊ CỦA TUỔI TRẺ LẠC LỐI

Lượt đọc: 527 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hai

Cậu cảm thấy thế nào? Khá hơn chưa?” Jeannette hỏi tôi. Khuôn mặt cô đã ở gần mặt tôi hơn cả lúc trước.

“Cậu có muốn ta ra ngoài đi dạo cho thoáng khí không?”

Chưa từng bao giờ với tôi phố lại hoang vắng và im lìm đến như vậy. Nó được chiếu sáng bởi những ngọn đèn của một thời nào khác. Thế nhưng cũng chỉ cần leo hết dốc là thấy lại được ở cách đó vài trăm mét đám đông các buổi tối thứ Bảy, những biển hiệu sáng đèn thông báo “Những bức tranh khỏa thân đẹp nhất thế giới” và những xe chở khách du lịch đỗ trước Moulin-Rouge... Tôi sợ toàn bộ sự náo nhiệt ấy. Tôi nói với Jeannette:

“Ta có thể dừng lại ở lưng dốc...”

Chúng tôi bước đi đến nơi bắt đầu các quầng sáng, giao lộ đầu phố Notre-Dame-de-Lorette. Nhưng chúng tôi quay trở ngược con dốc. Tôi cảm thấy dần dà nhẹ nhõm hơn khi đi xuôi xuống cái dốc ấy, ở bên phía bóng tối. Chỉ cần cứ thế mà đi thôi. Jeannette siết chặt lấy cánh tay tôi. Chúng tôi xuống gần hết dốc, điểm giao Tour-des-Dames. Cô bảo tôi:

“Cậu có muốn ta dùng ít tuyết không?”

Tôi không hiểu được nghĩa chính xác của câu nói này, nhưng từ “tuyết” đã làm tôi choáng váng. Tôi có cảm giác bất cứ lúc nào cô cũng chực ngã xuống và làm cho sự im lặng quanh chúng tôi còn trở nên sâu thẳm hơn. Sẽ chỉ còn nghe thấy tiếng bước chân chúng tôi nghiến trên tuyết. Một cái đồng hồ đổ chuông đâu đó và, cũng chẳng biết tại sao nữa, tôi nghĩ nó báo lễ mixa nửa đêm. Jeannette dẫn đường cho tôi. Tôi để mặc cô dẫn dắt. Chúng tôi theo phố Aumale, ở đó mọi tòa nhà đều u tối. Cứ như thể chúng cùng nhau tạo thành một mặt tiền tối đen duy nhất ở mỗi bên và từ đầu phố kéo đến tận cuối phố.

“Về phòng tớ đi... ta sẽ dùng ít tuyết...”

Ngay khi tới nơi, tôi sẽ hỏi cô: dùng một ít tuyết nghĩa là sao. Trời lạnh thêm bởi những mặt tiền màu đen ấy. Liệu có phải là tôi đang ở trong một giấc mơ vì tôi nghe rõ đến vậy tiếng vọng những bước chân của chúng tôi?

Sau này, tôi thường xuyên đi theo cùng con đường đó, một mình hoặc với cô. Tôi đến tìm cô trong phòng vào ban ngày hoặc qua đêm ở đó những hôm chúng tôi nán lại quán Le Canter quá muộn. Đó là một khách sạn nằm trên phố La Ferrière, con phố có một khúc ngoặt và là nơi ta cảm thấy mình tách biệt với mọi thứ, trong địa phận những đoạn dốc đầu tiên. Một thang máy với cánh cửa lưới sắt. Nó leo lên chậm chạp. Cô sống ở tầng trên cùng, hoặc còn cao hơn thế. Như thể thang máy sẽ không dừng lại. Cô thì thầm vào tai tôi:

“Cậu sẽ thấy... sẽ rất tuyệt... ta sẽ dùng ít tuyết...”

Hai bàn tay cô run rẩy. Trong nhập nhoạng hành lang, cô bồn chồn đến mức không sao nhét được chìa khóa vào ổ.

“Nào... thử đi... Tớ không làm nổi...”

Giọng cô mỗi lúc một hào hển hơn. Cô để rơi chìa khóa. Tôi cúi xuống mò mẫm nhặt. Tôi nhét được nó vào trong ổ. Đèn bật, một thứ ánh sáng màu vàng tỏa xuống từ cái bóng đèn gắn trên trần nhà. Giường chưa dọn, các ri đô đều buông. Cô ngồi ở thành giường lục tìm trong ngăn kéo bàn ngủ. Cô rút từ đó ra một cái hộp kim loại nhỏ. Cô bảo tôi ngửi thứ bột màu trắng mà cô gọi là “tuyết” ấy. Sau một lúc, cái đó khiến tôi có cảm giác thật tươi trẻ và nhẹ nhõm. Tôi chắc chắn rằng nỗi hoang mang và cảm giác trống rỗng ụp xuống tôi ở trên phố sẽ không bao giờ còn quay trở lại. Kể từ khi người chủ hiệu thuốc ở quảng trường Blanche nói với tôi về chuyện tụt huyết áp, tôi cứ nghĩ mình sẽ phải cứng rắn lên, phải chiến đấu chống lại chính mình, cố sức tự kiểm soát. Ta không thể làm được gì trong chuyện này, ta được nuôi dạy thật khắc nghiệt. Bước đi hoặc chết. Nếu tôi ngã, những người khác sẽ vẫn tiếp tục bước đi trên đại lộ Clichy. Tôi không được phép tự gây ảo tưởng. Nhưng, kể từ nay, chuyện ấy sẽ thay đổi. Vả lại, các phố và những ranh giới của khu với tôi đột nhiên có vẻ quá sức chật chội.

Một cửa hàng bán sách và các loại giấy vở trên đại lộ Clichy vẫn còn mở cửa cho tới một giờ sáng. Mattei. Mộc cái tên đơn giản ghi phía trước. Có phải tên của người chủ? Tôi chưa bao giờ dám đem điều đó hỏi người đàn ông tóc nâu có ria mép và mặc áo vest vải ca rô, lúc nào cũng ngồi đằng sau bàn của mình đọc sách. Lần nào khách vào mua bưu thiếp hay một xấp giấy viết thư họ cũng cắt ngang mạch đọc của ông ta. Vào cái giờ tôi đến, gần như không có người khách nào, trừ thảng hoặc vài người đi ra từ quán Le Minuit Chansons ở bên cạnh. Thường thường, chỉ có chúng tôi trong hiệu sách, ông ta và tôi. Ở mặt tiền vẫn luôn bày cùng những quyển sách mà tôi rất nhanh chóng biết là tiểu thuyết khoa học giả tưởng. Ông ta khuyên tôi đọc chúng. Tôi còn nhớ nhan đề vài cuốn trong số đó: Một viên sỏi trên bầu trời. Nữ hành khách bí mật. Những con tàu của hư vô. Tôi chỉ còn giữ lại một quyển duy nhất: Pha lê mơ mộng.

Bên tay phải, trên các ngăn gần cửa kính, là những quyển sách cũ về chủ đề thiên văn học. Tôi từng để ý tới một quyển có bìa màu cam rách mất một nửa: Du hành vào chốn vô định. Cả quyển này tôi vẫn còn giữ. Vào buổi tối thứ Bảy tôi muốn mua nó, tôi là người khách duy nhất trong hiệu sách và chỉ còn mơ hồ nghe thấy tiếng ồn ngoài đại lộ. Đằng sau cửa kính, có thể nhìn rõ vài biển hiệu sáng đèn và thậm chí cái biển hiệu hai màu trắng xanh ghi “Những bức tranh khỏa thân đẹp nhất thế giới”, nhưng chúng có vẻ thật xa xôi... Tôi không dám làm phiền người đàn ông đang đọc sách kia, ngồi đó, đầu cúi xuống. Qua chừng chục phút tôi im lặng đứng đó ông ta mới quay đầu về phía tôi. Tôi chìa quyển sách cho ông. Ông mỉm cười: “Hay lắm đấy, quyển này. Hay lắm đấy... Du hành vào chốn vô định...” Tôi chực lấy tiền trả cho ông thì ông giơ tay lên: “Không... không... Tôi tặng cô đấy... Và tôi chúc cô lên đường may mắn...”

Phải, cái hiệu sách ấy không chỉ đơn thuần là một nơi trú ẩn mà còn là một quãng đời tôi. Tôi thường ở đó cho đến tận giờ đóng cửa. Một cái ghế được đặt gần các ngăn giá hay đúng hơn là một cái thang rộng bản. Tôi ngồi đó lật giở các cuốn sách và những tập tranh. Tôi tự hỏi liệu ông ta có để ý thấy sự hiện diện của tôi hay không. Sau vài ngày, vẫn không ngừng đọc, ông ta nói với tôi một câu, luôn luôn vẫn là câu ấy: “Sao, cô đã tìm được hạnh phúc cho mình chưa?” Sau này, ai đó từng tuyên bố với tôi với vẻ hết sức tự tin rằng điều duy nhất mà người ta không thể nhớ nổi là âm sắc các giọng nói. Thế nhưng, đến tận bây giờ, trong những đêm trằn trọc, tôi vẫn thường xuyên nghe thấy giọng nói kiểu Paris - giọng của những phố dốc - bảo tôi: “Sao, cô đã tìm được hạnh phúc cho mình chưa?” Và câu nói ấy chưa hề mất đi chút gì từ sự dịu êm và vẻ bí ẩn của nó.

Tối đến, lúc ra khỏi hiệu sách, tôi ngạc nhiên thấy mình lại ở trên đại lộ Clichy. Tôi không muốn đi xuôi xuống đến quán Le Canter cho lắm. Những bước chân tôi lôi kéo tôi về phía trên cao. Giờ đây tôi thấy khoái cảm vì được trèo lên những dốc hoặc những cầu thang. Tôi đếm từng bước chân. Đến con số 30, tôi biết rằng mình đã thoát. Rất lâu sau này, Guy de Vere bảo tôi đọc Những chân trời đã mất, câu chuyện kể về những người leo lên các ngọn núi Tây Tạng hướng đến thiền viện Shangri-La để học những bí mật của cuộc sống và sự minh triết. Nhưng chẳng việc gì phải đi xa đến thế. Tôi nhớ lại những cuộc dạo chơi ban đêm của mình. Với tôi, Montmartre chính là Tây Tạng. Tôi chỉ cần con dốc phố Caulaincourt là đủ. Trên đó, trước lâu đài Sương Mù, lần đầu tiên trong đời tôi được hít thở. Một hôm, lúc rạng sáng, tôi thoát ra khỏi Le Canter nơi tôi đã ở cùng Jeannette hồi trước. Chúng tôi đợi Accad và Mario Bay, họ muốn dẫn chúng tôi tới Cabassud, cùng đi có cả Godinger và một cô gái khác. Tôi ngộp thở. Tôi bịa ra một cái cớ để đi ra ngoài hít thở không khí. Tôi cắm đầu cắm cổ chạy. Trên quảng trường, mọi biển hiệu nhấp nháy đều đã tắt, ngay cả biển hiệu của Moulin-Rouge. Tôi để mặc cho mình bị xâm chiếm bởi một cơn say mà rượu hay tuyết hẳn sẽ không bao giờ tạo ra được cho tôi. Tôi trèo dốc lên tới lâu đài Sương Mù. Tôi đã rất cả quyết mình sẽ không bao giờ gặp lại cái băng ở quán Le Canter nữa. Sau này, tôi cảm thấy cùng cơn say ấy mỗi lần cắt cầu với ai đó. Tôi chỉ thực sự là mình kể từ lúc khởi sự trốn chạy. Tôi chỉ có những kỷ niệm tốt đẹp là những kỷ niệm về trốn chạy hoặc bỏ nhà ra đi. Nhưng cuộc sống vẫn luôn luôn giành phần thắng. Khi đến được lối đi của Sương Mù, tôi chắc chắn có ai đó đã hẹn gặp tôi tại nơi đây và với tôi đó sẽ là một khởi hành mới. Có một phố, cao hơn một chút nữa, nơi tôi rất muốn quay trở lại một ngày nào đó. Tôi đi theo nó vào buổi sáng hôm ấy. Chính tại đó lẽ ra đã phải có cuộc hẹn. Nhưng tôi không biết số nhà. Mà quan trọng gì đâu. Tôi đợi một dấu hiệu sẽ chỉ lối cho tôi. Nơi ấy, phố dẫn thẳng tới bầu trời, như thể dẫn tới rìa một vách đá. Tôi đi tiếp với cảm giác nhẹ bỗng ấy, thứ đôi khi vẫn chiếm lấy bạn trong các giấc mơ. Bạn không e ngại gì nữa, mọi mối nguy đều thật nực cười. Nếu chuyện thực sự xoay sang chiều hướng xấu, thì chỉ cần bạn thức dậy là xong. Bạn bất khả chiến bại. Tôi bước đi, sốt ruột đến được đích, nơi sẽ chỉ còn lại bầu trời xanh và khoảng không. Từ nào có thể diễn đạt nổi trạng thái tinh thần của tôi đây? Tôi chỉ có được trong tay một vốn từ vựng rất nghèo nàn. Cơn say? Xuất thần? Rạng rỡ? Dù có là thế nào, phố này thật thân thuộc với tôi. Tôi thấy như thể mình đã đi trên nó trước đây. Rồi tôi sẽ sớm tới được rìa vách đá và tôi sẽ gieo mình vào khoảng không. Hạnh phúc sao khi được bồng bềnh trong không trung và rốt cuộc cũng biết được cảm giác phi trọng lực mà tôi vẫn tìm kiếm bấy lâu nay. Tôi còn nhớ vô cùng rõ cái buổi sáng hôm ấy, con phố ấy và bầu trời ngay ở cuối đường kia...

Và rồi cuộc sống đã tiếp diễn, với đủ thăng rồi trầm. Một ngày buồn nản, trên bìa quyển sách mà Guy de Vere cho tôi mượn ghi dòng nhan đề: Louise của Hư Vô, tôi đã dùng bút bi sửa tên thành tên tôi. Jacqueline của Hư Vô.

༺༒༻

Tối hôm ấy, cứ như thể chúng tôi xoay tròn những cái bàn. Chúng tôi tụ tập trong phòng làm việc của Guy de Vere và ông đã tắt đèn đi. Hoặc giả, chỉ đơn giản là bị mất điện. Chúng tôi nghe giọng ông nói trong bóng tối. Ông đọc thuộc lòng cho chúng tôi nghe một văn bản mà lẽ ra ông sẽ cầm sách đọc nếu có ánh sáng. Nhưng không, tôi thật bất công, Guy de Vere hẳn sẽ rất choáng nếu nghe tôi nói về “những cái bàn xoay” khi nhắc đến ông. Ông đáng giá hơn thế. Hẳn ông sẽ nhẹ nhàng trách cứ tôi: “Xem nào, Roland...”

Ông thắp các ngọn nến cắm vào một cái giá nằm trên lò sưởi, rồi ông lại ngồi xuống đằng sau bàn làm việc của mình. Chúng tôi ngồi ở những cái ghế đặt đối diện với ông, cô gái ấy, tôi và một cặp trạc tứ tuần, cả hai đều ăn vận rất chỉn chu và có dáng vẻ tư sản, mà tôi gặp ở đây lần đầu tiên.

Tôi ngoái đầu về phía cô và cái nhìn của chúng tôi giao nhau. Guy de Vere vẫn đang nói, nửa thân người trên hơi nghiêng xuống nhưng vẻ thật tự nhiên, gần như là với giọng trò chuyện thông thường. Ở mỗi cuộc họp, ông lại đọc một văn bản mà sau này ông sẽ phát cho chúng tôi bản sao. Tôi có giữ lại bản sao văn bản của tối hôm đó. Tôi có một điểm mốc. Cô cho tôi số điện thoại và tôi đã viết nó ở phía dưới tờ giấy, bằng bút bi màu đỏ.

“Sự tập trung cao độ nhất đạt được trong khi nằm, hai mắt nhắm. Lãng trí và lơ đãng sẽ xuất hiện khi có bất kỳ biểu hiện nào ở bên ngoài. Lúc đứng, hai chân phải chịu lực. Hai mắt mở làm giảm mức độ tập trung...”

Phải gắng lắm tôi mới kìm được một trận cười điên đảo và tôi nhớ rất rõ chuyện đó bởi cho tới khi ấy chưa bao giờ tôi cảm thấy như vậy. Nhưng ánh sáng những ngọn nến khiến cho buổi đọc này trở nên quá sức trang trọng. Tôi liên tục bắt gặp ánh mắt của cô. Cơ hồ cô không muốn cười. Ngược lại, cô có vẻ hết sức thành kính, thậm chí lo lắng vì không hiểu được nghĩa các từ. Sự nghiêm túc này, rốt cuộc cô cũng truyền được sang cho tôi. Tôi gần như thấy xấu hổ vì phản ứng ban đầu của mình. Tôi còn chẳng dám nghĩ đến sự náo loạn hẳn mình sẽ gây ra nếu phá lên cười. Và trong ánh mắt cô, tôi tin mình thấy được một dạng lời kêu cứu, một tra vấn. Tôi có xứng đáng ở đây với các anh không? Guy de Vere đã đan những ngón tay lại. Giọng ông trầm xuống hơn và ông nhìn chăm chăm vào cô như thể chỉ đang nói với một mình cô. Cô cứng đờ người vì thế. Có lẽ cô sợ bị ông đặt một câu hỏi ngẫu hứng, kiểu như: “Thế còn cô thì sao, tôi rất muốn biết ý kiến của cô về vấn đề này.”

Có điện trở lại. Chúng tôi còn ngồi thêm một lúc trong phòng làm việc, một điều không thường thấy. Các cuộc họp vẫn luôn luôn diễn ra trong phòng khách và tập hợp chừng chục người. Tối hôm ấy, chúng tôi chỉ có bốn người và hẳn de Vere thích tiếp đón chúng tôi trong phòng làm việc chính bởi số lượng nhỏ bé đó. Và lần này chỉ với một lời hẹn đơn giản, chứ không phải qua tờ giấy mời quen thuộc mà bạn nhận được ở nhà mình hoặc được người ta đưa cho ở hiệu sách Véga, nếu như bạn là khách quen ở đó. Cùng một số văn bản sao chụp, tôi còn giữ được vài tờ giấy mời ấy, và hôm qua chợt tìm lại được một trong số chúng:

Roland thân mến của tôi,

Guy de Vere

rất lấy làm hân hạnh được đón tiếp bạn

vào thứ Năm 16 tháng Giêng, lúc 20 giờ 5,

quảng trường Lowendal (quận XV)

tòa nhà thứ 2 bên trái

tầng 4 bên trái

Giấy briscol màu trắng, lúc nào cũng cùng kích cỡ, và những ký tự in chìm cũng có thể dùng để thông báo về một cuộc họp xã giao, tiệc cocktail hoặc sinh nhật.

Tối hôm ấy ông tiễn chúng tôi ra tận cửa căn hộ. Guy de Vere và cặp lần đầu tiên tới đây hơn chúng tôi chừng hai mươi tuổi. Vì thang máy quá nhỏ cho cả bốn người, cô và tôi đi xuống bằng đường cầu thang.

Có một lối đi riêng men theo các tòa nhà giống hệt nhau với mặt tiền màu be và phớt đỏ. Những cánh cửa sắt rèn y đúc bên dưới một ngọn đèn. Những hàng cửa sổ y đúc. Đi qua cửa sắt, chúng tôi đứng trước quảng trường nhỏ trên phố Alexandre-Cabanel. Tôi muốn nhất thiết viết cái tên này ra, bởi chính tại đó con đường của chúng tôi đã giao nhau. Chúng tôi đứng im một lúc ngay giữa quảng trường ấy, tìm lời để nói. Tôi là người phá vỡ sự im lặng.

“Cô sống ở khu phố này à?”

“Không, bên Étoile cơ.”

Tôi tìm một cái cớ để không phải rời khỏi cô ngay lập tức. “Ta có thể đi cùng nhau một đoạn.”

Chúng tôi bước đi dưới cây cầu cạn chạy suốt đại lộ Grenelle. Cô đề nghị tôi đi bộ theo đường tàu điện ngầm trên không dẫn tới Étoile này. Nếu thấy mệt, lúc nào cô cũng có thể dùng tàu điện ngầm đi nốt chặng đường còn lại. Đó hẳn phải là một tối Chủ nhật hoặc một ngày lễ. Không có người đi lại, mọi quán cà phê đều đóng cửa. Dẫu có thế nào, trong trí nhớ tôi, đêm hôm ấy chúng tôi đã ở trong một thành phố hoang vắng. Cuộc gặp của chúng tôi, giờ đây khi tôi nghĩ lại, như thể là cuộc gặp của hai con người không có nổi một chỗ neo đậu trong đời. Tôi tin cả hai chúng tôi đều cô độc trong thế giới.

“Cô quen Guy de Vere từ lâu chưa?” tôi hỏi cô.

“Chưa, tôi quen ông ấy hồi đầu năm qua một người bạn. Còn anh?”

“Tôi thì biết qua hiệu sách Véga.”

Cô không hề biết gì về hiệu sách trên đại lộ Saint-Germain này, nơi ấy có cửa kính bên trên ghi dòng chữ màu xanh: Đông phương học và các tôn giáo đối chiếu. Chính tại đó tôi đã lần đầu nghe nói tới Guy de Vere. Một tối, người chủ hiệu sách đưa cho tôi một tờ giấy mời bằng giấy bristol và bảo rằng tôi có thể dự cuộc họp. “Hoàn toàn là để cho những người như anh đấy.” Tôi những muốn hỏi ý ông là gì khi nói “những người như anh”. Ông nhìn tôi thoáng chút thân tình và hẳn không có ý xấu. Thậm chí ông còn tự đề nghị “tiến cử” tôi cho cái người mang tên Guy de Vere đó.

“Nó có ra gì không, hiệu sách Véga ấy?”

Cô hỏi tôi bằng giọng châm chọc. Nhưng cũng có thể âm sắc Paris của cô khiến tôi có cảm giác đó.

“Ở đó có hàng đống sách thú vị. Tôi sẽ dẫn cô tới đó.”

Tôi muốn biết cô đọc gì và điều gì đã lôi cuốn cô đến các cuộc họp của Guy de Vere. Cuốn sách đầu tiên mà de Vere khuyên cô đọc là Những chân trời đã mất. Cô đã đọc nó hết sức chăm chú. Ở cuộc họp lần trước, cô đến sớm hơn những người khác, và de Vere đã mời cô vào phòng làm việc. Ông tìm kiếm trên các giá cái tủ sách chiếm toàn bộ hai bức tường một quyển sách khác cho cô mượn. Sau một lúc, như thể có một ý nghĩ đột nhiên hiện ra trong óc, ông tiến về phía bàn làm việc và cầm lên một quyển sách nằm đó giữa hàng chồng tài liệu và thư từ lộn xộn. Ông bảo cô: “Cô có thể đọc quyển này. Tôi rất tò mò biết xem cô sẽ nghĩ gì về nó.” Cô đã rất hoảng hốt. De Vere luôn luôn nói với những người khác như thể họ cũng thông minh và giàu hiểu biết như ông vậy. Cho tới chừng nào? Hẳn rốt cuộc rồi ông cũng sẽ nhận ra người ta không ngang tầm với mình. Quyển sách mà ông cho cô mượn tối hôm ấy có nhan đề: Louise của Hư Vô. Không, tôi không biết nó. Đó là câu chuyện đời Louise của Hư Vô, một nữ tu, với tất cả những bức thư mà bà đã viết. Cô không đọc nó theo đúng trình tự, mà mở ngẫu nhiên các trang. Một số trang đã gây ấn tượng rất mạnh lên cô. Còn hơn cả Những chân trời đã mất. Trước khi quen de Vere, cô đã đọc những cuốn tiểu thuyết khoa học giả tưởng như Pha lê mơ mộng. Và những tác phẩm thiên văn học. Trùng hợp làm sao... Tôi cũng rất thích thiên văn học.

Tại bến Bir-Hakeim, tôi tự hỏi không biết cô sẽ lấy tàu điện ngầm hay muốn đi bộ tiếp, ngang qua sông Seine. Bên trên chúng tôi, cách từng quãng đều đặn, là tiếng khua ồn ã của các toa tàu. Chúng tôi đã lên đến trên cầu.

“Tôi cũng thế,” tôi nói với cô, “tôi cũng sống phía Étoile. Có lẽ là không xa nhà cô lắm.”

Cô ngần ngừ. Hẳn cô muốn nói với tôi điều gì đó đang làm cô thấy phiền lòng.

“Thật ra thì tôi đã lấy chồng... Tôi sống cùng chồng ở Neuilly...”

Nghe như thể cô vừa thú nhận với tôi một tội ác.

“Cô lấy chồng từ lâu chưa?”

“Chưa. Chưa lâu lắm... từ tháng Tư hồi năm vừa rồi...”

Chúng tôi lại bước đi. Chúng tôi đến giữa cầu, ngang đoạn cầu thang dẫn xuống lối đi Thiên Nga. Cô đi vào cầu thang và tôi đi theo sau cô. Cô bước xuống bằng những bước chân đầy tự tin, như thể đang tới một cuộc hẹn. Và cô nói với tôi mỗi lúc một nhanh hơn.

“Đến một lúc, tôi đi tìm việc... Tôi bắt gặp một thông báo tuyển người... Đó là một công việc thư ký tạm thời...”

Bên dưới, chúng tôi đi theo lối đi Thiên Nga. Cả hai bên đều là sông Seine và những ngọn đèn trên ke sông. Tôi có cảm giác mình đang ở trên boong dạo chơi của một con tàu đắm giữa đêm khuya.

“Ở chỗ làm, một người phụ trách giao việc cho tôi... Anh ta tỏ ra dễ mến với tôi... Anh ta nhiều tuổi hơn... Sau một thời gian, anh ta muốn cưới tôi...”

Nghe như cô đang tìm cách tự biện minh trước một người bạn thời thơ ấu đã từ lâu cô không biết tin tức và cô vừa tình cờ gặp trên phố.

“Nhưng còn cô, lấy chồng cô có thích không?”

Cô nhún vai, như thể tôi vừa nói ra một điều gì thật phi lý. Lúc nào tôi cũng trông chờ cô nói: “Nhưng xem kìa, anh biết rõ tôi đến thế...”

Sau rốt, hẳn tôi đã quen biết cô trong một cuộc đời trước.

“Anh ta vẫn luôn luôn nói với tôi rằng anh ta muốn điều tốt cho tôi... Đúng thế thật... Anh ta muốn điều tốt cho tôi... Anh ta có chút tự coi mình là bố tôi...”

Tôi nghĩ cô đợi từ tôi một lời khuyên. Hẳn cô không có thói quen tâm sự.

“Thế anh ấy không bao giờ đi cùng cô đến chỗ những cuộc họp à?”

“Không. Anh ấy nhiều việc quá.”

Cô đã gặp de Vere qua một người bạn thời trẻ của chồng cô. Anh ta đã dẫn de Vere tới ăn tối cùng họ ở Neuilly. Cô nói cho tôi mọi chi tiết đó, mày nhíu lại, như thể sợ quên đi mất một điều gì, ngay cả chi tiết nhỏ nhặt nhất.

Chúng tôi đang ở cuối lối đi, trước bức tượng Nữ thần Tự do. Một cái ghế băng bên tay phải. Tôi khồông biết cô hay tôi ngồi xuống đó trước, hoặc giả hai chúng tôi nảy ra ý nghĩ ấy cùng một lúc. Tôi hỏi cô không phải về nhà à. Đây là lần thứ ba hoặc thứ tư cô dự những cuộc họp của Guy de Vere, và quãng mười một giờ tối cô sẽ ở trước cầu thang của bến tàu điện ngầm Cambronne. Và lần nào cũng vậy, trước viễn cảnh phải quay về Neuilly, cô lại mơ hồ cảm thấy nản lòng. Thế là kể từ nay cô đã bị kết án phải luôn luôn đi tuyến tàu điện ngầm đó. Đổi đường ở Étoile. Xuống ở Sablons...

Tôi cảm thấy bờ vai cô chạm vào vai tôi. Cô nói với tôi rằng sau cái bữa tối gặp gỡ với Guy de Vere lần đầu tiên ấy ông đã mời cô đến nghe ông giảng bài tại một gian phòng nhỏ gần Odéon. Hôm đó, chủ đề là “Buổi trưa tối tăm” và “Ánh sáng xanh lục”. Ra khỏi phòng, cô bước đi vô định trong khu phố. Cô trôi nổi trong làn ánh sáng xanh lục và trong vắt mà Guy de Vere nói đến. Năm giờ chiều. Trên đại lộ rất nhộn nhịp và, ở giao lộ Odéon, người ta xô đẩy cô vì cô đi ngược chiều và không muốn cùng họ bước xuống các bậc cầu thang của bến tàu điện ngầm. Một phố vắng hoe thoai thoải dẫn lên phía vườn Luxembourg. Và ở đó, ngay giữa dốc, cô bước vào một quán cà phê nằm tại góc một tòa nhà: Le Condé. “Anh có biết quán Le Condé không?” Đột nhiên cô chuyển qua xưnghô thân mật với tôi. Không, tôi không biết quán Le Condé. Nói thật lòng, tôi không thích cái khu Écoles ấy. Nó gợi tôi nhớ đến tuổi thơ tôi, ký túc xá một trường trung học từng đuổi cổ tôi và một quán ăn sinh viên đại học bên phố Dauphine, nơi tôi buộc phải đến với một tấm thẻ sinh viên giả. Tôi chết mất vì đói. Kể từ đó, cô thường xuyên trú mình ở quán Le Condé. Cô nhanh chóng làm quen với phần lớn khách quen, đặc biệt là hai nhà văn: một người tên Maurice Raphaël, và Arthur Adamov. Tôi từng nghe nói đến họ chưa? Rồi. Tôi biết Adamov là ai. Thậm chí tôi từng nhìn thấy ông, nhiều lần, ở gần Saint-Julien-le-Pauvre. Một cái nhìn lo lắng. Thậm chí tôi còn có thể nói: hoảng sợ. Ông đi xăng đan, chân không tất. Cô chưa từng đọc cuốn sách nào của Adamov. Tại quán Le Condé, thỉnh thoảng ông nhờ cô đưa ông về khách sạn của mình, vì ông sợ phải đi bộ một mình vào ban đêm. Kể từ khi cô hay đến Le Condé, người ta đã đặt cho cô một biệt danh. Cô tên Jacqueline, nhưng họ gọi cô là Louki. Nếu tôi muốn, cô sẽ giới thiệu Adamov và những người khác cho tôi. Và cả Jimmy Campbell, một ca sĩ người Anh. Và một người bạn Tunisia, Ali Cherif. Chúng tôi có thể gặp lại nhau ở quán Le Condé vào ban ngày. Cô cũng tới đó vào buổi tối, những khi chồng cô đi vắng. Thường thì anh ta đi làm về rất muộn. Cô ngẩng đầu về phía tôi và, sau một lúc do dự, cô bảo tôi rằng mỗi lần quay về nhà chồng mình ở Neuilly cô lại thấy khó khăn hơn một chút. Cô có vẻ lo sợ và không nói thêm một lời nào nữa.

Đã đến giờ chuyến tàu điện ngầm cuối cùng. Chỉ có chúng tôi trong toa. Trước khi chuyển tàu ở Étoile, cô cho tôi số điện thoại.

༺༒༻

Cả đến giờ, tôi vẫn còn nghe thấy, vào buổi tối, một giọng nói gọi tôi bằng tên, trên phố. Một giọng khàn. Hơi kéo dài một chút ở các nguyên âm và tôi nhận ra nó ngay lập tức: giọng của Louki. Tôi ngoảnh đầu lại, nhưng không có ai. Không chỉ là buổi tối, mà cả vào quãng hoang vu những chiều hè lúc bạn không còn biết rõ mình đang sống ở năm nào. Mọi thứ sẽ bắt đầu trở lại giống như trước. Cùng những ngày ấy, cùng những đêm ấy, cùng những địa điểm ấy, cùng những cuộc gặp ấy. Quy hồi Vĩnh cửu.

Thường xuyên tôi nghe thấy giọng nói trong những giấc mơ. Mọi thứ thật cụ thể - đến tận từng chi tiết nhỏ nhất - đến nỗi tôi tự hỏi, khi tỉnh dậy, làm sao mà lại có thể như vậy được. Đêm hôm trước, tôi mơ mình ra khỏi tòa nhà của Guy de Vere, vào đúng cái giờ chúng tôi ra khỏi đó, Louki và tôi, lần đầu tiên ấy. Tôi nhìn đồng hồ đeo tay. Mười một giờ. Có dây thường xuân ở một trong những cửa sổ tầng trệt. Tôi đi qua cửa sắt và đang bước ngang quảng trường nhỏ Cambronne theo hướng đường tàu điện ngầm trên không thì nghe thấy giọng Louki. Cô gọi tôi: “Roland...” Hai lần. Tôi cảm thấy sự châm chọc trong giọng nói của cô. Cô chế giễu cái tên tôi, lúc đầu, một cái tên không phải là tên tôi. Tôi đã chọn nó để đơn giản hóa mọi chuyện, một cái tên ở đâu cũng phù hợp, mà cũng có thể dùng làm họ luôn được. Rất tiện, Roland. Và rất Pháp, nhất là vậy. Tên thật của tôi mang quá nhiều hương vị nước ngoài. Vào thời ấy, tôi tránh lôi kéo sự chú ý về phía mình. “Roland...” Tôi ngoảnh đầu lại. Không có ai. Tôi đang ở giữa quảng trường, cũng như lần đầu tiên khi chúng tôi không biết phải nói gì. Lúc tỉnh dậy, tôi quyết định đi đến địa chỉ cũ của Guy de Vere để kiểm tra xem quả thật có dây thường xuân ở cửa sổ tầng trệt hay không. Tôi đi tàu điện ngầm tới Cambronne. Đó là tuyến tàu của Louki khi cô còn quay trở về nhà chồng ở Neuilly. Tôi đi cùng cô và chúng tôi thường xuống bến Argentine, gần khách sạn nơi tôi sống. Lần nào cô cũng sẵn sàng ở lại suốt đêm trong phòng tôi, nhưng cô gắng nỗ lực hết mình để quay về Neuilly... Và rồi, một đêm, cô đã ở lại với tôi, ở Argentine.

Tôi thấy mình có một cảm giác thật kỳ cục khi bước đi trên quảng trường Cambronne vào buổi sáng, vì chúng tôi luôn luôn đến nhà Guy de Vere buổi tối. Tôi đẩy cánh cửa và tự nhủ mình chẳng có cơ may nào gặp ông sau chừng ấy thời gian. Không còn hiệu sách Véga trên đại lộ Saint-Germain và không còn Guy de Vere ở Paris nữa. Và cũng không còn Louki. Nhưng ở cửa sổ tầng trệt thì dây thường xuân vẫn đó, đúng như trong giấc mơ của tôi. Điều này khiến tôi thấy bối rối thậm tệ. Đêm hôm trước có thực là một giấc mơ hay không? Tôi đứng im lìm mất một lúc trước ô cửa sổ. Tôi hy vọng nghe thấy giọng của Louki. Cô sẽ gọi tôi thêm một lần nữa. Không. Không có gì. Im lìm. Nhưng tôi hoàn toàn không có cảm giác gì về chuyện thời gian trôi đi kể từ thời kỳ Guy de Vere. Ngược lại, nó đã dừng sững trong một dạng thức của vĩnh cửu. Tôi còn nhớ văn bản mà mình thử viết khi quen Louki. Tôi đã đặt tên nó là Các vùng trung tính, các no man’s land nơi người ta ở bên rìa tất thảy, ở chế độ trung chuyển, hoặc thậm chí ở trạng thái treo lơ lửng. Ở đó người ta được hưởng một thứ quyền miễn trừ nào đấy. Tôi cũng có thể gọi chúng là các vùng hoang, nhưng các vùng trung tính thì chính xác hơn. Một tối, ở quán Le Condé, tôi hỏi ý kiến Maurice Raphaël bởi ông là nhà văn. Ông đã nhún vai và lẳng cho tôi một nụ cười ranh mãnh: “Anh phải tự biết thôi, anh bạn... Tôi không hiểu rõ lắm anh muốn đi tới đâu... Cứ nói là ‘trung tính’ đi và thôi đừng nhắc đến nữa...” Quảng rrường Cambronne và khu phố nằm giữa Ségur và Dupleix, mọi đường phố dẫn ra các cây cầu nhỏ nối với đường tàu điện ngầm trên không đều thuộc một vùng trung tính, và không hề tình cờ nếu ở đó tôi đã gặp Louki.

Văn bản đó, tôi đã đánh mất. Năm trang tôi gõ bằng cái máy chữ mà Zacharias, một người khách của quán Le Condé, cho mượn. Tôi đã viết ở chỗ để tặng: Cho Louki của những vùng trung tính. Tôi không biết cô đã nghĩ gì về tác phẩm này. Tôi không nghĩ cô đọc hết nó. Đó là một văn bản hơi khó đọc, một dạng liệt kê theo từng quận với tên các phố định ra ranh giới những vùng trung tính đó. Đôi khi, một khối nhà, hoặc một diện tích rộng hơn nhiều. Một buổi chiều hai chúng tôi cùng ở Le Condé, cô vừa đọc xong lời đề tặng và bảo tôi: “Anh biết không, Roland, ta có thể đến sống một tuần ở mỗi khu phố mà anh nhắc đến...”

༺༒༻

Phố Argentine nơi tôi thuê một căn phòng khách sạn quả đúng nằm trong một vùng trung tính. Có ai đến đó tìm tôi được chăng? Những người hiếm hoi mà tôi bắt gặp ở đó hẳn đều đã chết đối với sổ sách hành chính. Một hôm, trong lúc lật giở một tờ nhật báo, tôi đọc được ở mục “thông tin tư pháp” một mẩu tin ngắn với tiêu đề “Tuyên bố vắng mặt”. Một người tên là Tarride không trở về nhà mà cũng không có tin tức gì suốt từ ba mươi năm, và tòa đại hình đã tuyên bố ông ta “vắng mặt”. Tôi chìa cho Louki xem thông báo này. Chúng tôi đang ở phòng tôi, trên phố Argentine. Tôi bảo cô rằng chắc chắn ông ta sống trên phố này, cùng hàng chục người nữa cũng đã bị tuyên bố “vắng mặt”. Vả lại, các tòa nhà lân cận khách sạn của tôi đều mang dòng chữ “căn hộ có đồ đạc”. Những nơi trú chân không yêu cầu khai báo nhân thân và là nơi có thể ẩn trốn. Hôm ấy, chúng tôi cùng những người khác, ở quán Le Condé, ăn mừng sinh nhật La Houpa. Họ mời chúng tôi uống rượu. Về đến phòng, chúng tôi đã hơi say. Tôi mở cửa sổ. Tôi gào tướng lên: “Tarride! Tarride!..” Phố vắng tanh và cái tên vang vọng thật kỳ cục. Thậm chí tôi còn có cảm giác tiếng vọng dội vào người ông ta. Louki đến bên tôi, và cô cũng hét: “Tarride!... Tarride!...” Một trò đùa trẻ con làm chúng tôi cười phá. Nhưng sau rốt tôi tin người đàn ông ấy sẽ hiện ra và chúng tôi sẽ làm phục sinh tất cả những người vắng mặt lẩn quất trên phố này. Sau một lúc, người gác đêm của khách sạn tới gõ cửa phòng chúng côi. Anh ta nói bằng giọng âm u mồ mả: “Làm ơn giữ trật tự.” Chúng tôi nghe tiếng anh ta nặng nhọc bước xuống cầu thang. Thế là, tôi căn cứ vào đó để kết luận rằng bản thân anh ta cũng là một người vắng mặt giống như cái người tên là Tarride kia và tất cả những ai trốn trong các căn hộ có sẵn đồ đạc của phố Argentine.

Tôi nghĩ đến điều đó mỗi lần xuôi phố về căn phòng của mình. Louki từng bảo tôi rằng cả cô, trước khi lấy chồng, cũng từng sống ở hai khách sạn khu này, ngay chếch lên phía Bắc một chút, phố Armaillé, rồi phố Étoile. Vào thời kỳ ấy, hẳn chúng tôi đã đi ngang qua mà không nhìn thấy nhau.

༺༒༻

Tôi còn nhớ cái buổi tối cô quyết định không trở về nhà chồng nữa. Ở quán Le Condé, hôm đó, cô giới thiệu Adamov và Ali Cherif với tôi. Tôi mang về cái máy chữ mà Zacharias cho mượn. Tôi những muốn bắt tay vào viết Các vùng trung tính.

Tôi đặt máy chữ xuống cái bàn nhỏ bằng gỗ thông nhiều vân của căn phòng. Trong đầu tôi đã có sẵn câu đầu tiên: “Các vùng trung tính sở hữu ít nhất cái lợi thế này: chúng chỉ là điểm xuất phát và rồi đến một ngày ta sẽ rời khỏi đó.” Tôi biết rằng khi ngồi trước máy chữ, mọi thứ sẽ không còn đơn giản như thế. Hẳn là phải gạch câu mở đầu này đi. Và câu tiếp theo. Thế nhưng, tôi cảm thấy lòng can đảm tràn ngập trong mình.

Cô phải về nhà để ăn tối ở Neuilly, nhưng đến tám giờ cô vẫn nằm dài trên giường. Cô không bật đèn đầu giường lên. Rốt cuộc tôi phải nhắc cô rằng đã đến giờ rồi.

“Đến giờ làm gì?”

Nghe giọng cô, tôi hiểu ra rằng cô sẽ không còn bao giờ đi tàu điện ngầm để xuống bến Sablons nữa. Một quãng im lặng kéo dài giữa chúng tôi. Tôi ngồi trước máy chữ gõ lên các phím.

“Ta có thể đi xem phim,” cô nói với tôi. “Sẽ giết được thời gian.”

Chỉ cần đi ngang qua đại lộ Grande-Armée là đến được Studio Obligado. Tối hôm ấy, cả hai chúng tôi đều không hề chú ý tới bộ phim. Tôi nghĩ trong phòng có rất ít người. Vài người đã bị một tòa án tuyên là “vắng mặt” từ lâu? Và cả chúng tôi nữa, chúng tôi là ai? Chốc chốc tôi lại ngoảnh sang cô. Cô không nhìn lên màn ảnh, đầu cô nghiêng sang một bên và có vẻ chìm đắm trong suy nghĩ. Tôi e cô sẽ đứng dậy quay trở về Neuilly. Nhưng không. Cô ở lại đến tận khi hết phim.

Ra khỏi Studio Obligado, cô có vẻ nhẹ nhõm. Cô nói với tôi rằng, kể từ giờ, với cô đã là quá muộn để quay về nhà chồng. Hôm ấy anh ta mời mấy người bạn của mình tới ăn tối. Thế đấy, hết rồi. Sẽ chẳng bao giờ còn có bữa tối nào ở Neuilly nữa.

Chúng tôi không về phòng ngay, chúng tôi đi dạo rất lâu trong cái vùng trung tính ấy, nơi cả hai chúng tôi từng trú ẩn vào những thời kỳ khác nhau. Cô những muốn chỉ cho tôi thấy các khách sạn cô từng ở, trên phố Armaillé và trên phố Étoile. Tôi cố nhớ đêm hôm đó cô đã nói gì với tôi. Thật mù mờ. Chỉ là những mẩu những đoạn. Giờ đã quá muộn để tìm lại những chi tiết bị thiếu hoặc những chi tiết mà có lẽ tôi đã quên. Khi còn rất trẻ, cô rời khỏi nhà mẹ và khu phố nơi cô sống cùng mẹ. Mẹ cô đã mất. Cô còn lại một người bạn gái từ thời ấy, mà thỉnh thoảng cô gặp lại, một cô gái tên là Jeannette Gaul. Hai hay ba lần, chúng tôi ăn tối cùng Jeannette Gaul ở phố Argentine, tại quán ăn xập xệ cạnh khách sạn của tôi. Một cô gái tóc vàng mắt xanh lục. Louki từng bảo tôi người ta gọi cô ấy là Đầu Lâu vì khuôn mặt cô ấy xương xương tương phản hẳn với một cơ thể có các đường cong đẫy đà. Sau này, Jeannette Gaul đến thăm cô ở khách sạn phố Cels và lẽ ra tôi phải tự đặt cho mình những câu hỏi vào cái ngày tôi bắt gặp họ trong căn phòng bồng bềnh mùi ether. Và rồi một buổi chiều gió nhẹ trời tỏa nắng trên các ke sông, đối diện nhà thờ Đức Bà... tôi săm soi sách trong những cái hòm sách cũ đợi họ. Jeannette Gaul đã nói cô có hẹn ở phố Grands-Degrés với ai đó mang đến cho cô ấy “một ít tuyết”... Từ “tuyết” làm cô mỉm cười, trong khi lúc đó đang là tháng Bảy... Trong một cái hòm màu xanh lục đựng sách cũ, tôi nhìn thấy một quyển sách khổ nhỏ mang nhan đề Mùa hè tươi đẹp. Phải, đó là một mùa hè tươi đẹp bởi tôi thấy nó như thể là vĩnh cửu. Rồi đột nhiên tôi trông thấy họ ở vỉa hè bên kia ke sông. Họ từ phố Grands-Degrés đi tới. Louki giơ tay ra hiệu với tôi. Họ bước về phía tôi trong nắng và sự im lặng, chính bằng cách này mà họ thường xuyên hiện ra trong những giấc mơ của tôi, cả hai về phía Saint-Julien-le-Pauvre... Tôi tin mình đã hạnh phúc, cái buổi chiều hôm đó.

Tôi không hiểu tại sao người ta lại đặt cho Jeannette Gaul biệt danh Đầu Lâu. Có phải vì hai gò má cô cao và hai mắt cô xếch? Thế nhưng, không gì trên khuôn mặt cô gợi đến cái chết. Cô vẫn còn ở vào thời điểm khi tuổi trẻ mạnh hơn tất thảy. Không gì - cả những đêm mất ngủ, cả tuyết, như cô vẫn gọi - hằn lên cô bất kỳ dấu vết nào. Trong bao lâu? Lẽ ra tôi phải ngờ vực cô ấy. Louki không dẫn cô ấy đến quán Le Condé cũng như những cuộc họp của Guy de Vere, cứ như thể cô gái ấy là phần tối tăm của cô vậy. Tôi chỉ nghe thấy họ nói chuyện một lần, khi có mặt tôi, về quá khứ chung của họ, nhưng theo lối ám chỉ. Tôi có cảm giác họ chia sẻ các bí mật với nhau. Một hôm khi tôi cùng Louki từ bến tàu điện ngầm Mabillon đi ra - một ngày tháng Mười một vào quãng sáu giờ chiều, bóng tối đã buông - cô nhận ra ai đó ngồi ở một cái bàn đằng sau ô cửa kính lớn của quán La Pergola. Cô thoáng giật mình bước lui lại. Một người đàn ông chừng năm mươi tuổi, khuôn mặt nghiêm khắc và tóc nâu láng mượt. Ông ta gần như ở ngay đối diện chúng tôi và hẳn cả ông ta cũng có thể nhìn thấy chúng tôi. Nhưng tôi tin ông ta đang nói chuyện với ai đó ngồi bên cạnh. Cô đã bíu lấy cánh tay tôi và kéo tôi đi sang vỉa hè bên kia của phố Four. Cô bảo cô từng quen gã đó hai năm trước với Jeannette Gaul và rằng gã trông coi một quán ăn ở quận IX. Cô hoàn toàn không trông đợi gặp lại gã ở đây, bên tả ngạn. Cô có vẻ lo lắng. Cô đã dùng từ “tả ngạn” như thể sông Seine là đường ranh giới chia cắt hai thành phố xa lạ khỏi nhau, giống như một bức màn sắt. Và gã đàn ông ở quán La Pergola đã vượt qua được biên giới ấy. Sự hiện diện của gã tại nơi này, giao lộ Mabillon, thực sự khiến cô phải bận tâm. Tôi hỏi cô gã tên là gì. Mocellini. Và tại sao cô lại muốn tránh mặt gã. Cô không trả lời tôi thật rõ ràng. Chỉ đơn giản, gã ấy nhắc cô nhớ tới những kỷ niệm tồi tệ. Khi cô tuyệt giao với người khác, thì điều đó là chung quyết, với cô họ đã chết. Nếu gã đàn ông này vẫn còn sống và cô có nguy cơ gặp phải gã, thì tốt hơn hết là nên đổi sang khu phố khác.

Tôi trấn an cô. La Pergola không phải một quán cà phê như những quán khác, đám khách khứa hơi có chút mờ ám của nó hoàn toàn không ăn nhập với khu phố chuyên cần và lưu đãng nơi chúng tôi đang bước đi đây. Có phải cô đã bảo tôi rằng gã Mocellini này, cô đã quen biết ở quận IX? Thì đúng thế mà, La Pergola chính là một dạng khu phụ của Pigalle nhưng nằm bên Saint-Germain-des-Prés [*] , ta cũng không biết rõ lắm tại sao lại vậy nữa. Chỉ cần chọn vỉa hè phía bên kia và tránh La Pergola ra thôi. Chẳng việc gì phải đổi sang khu phố khác.

Lẽ ra tôi phải cố nài cô kể thêm cho tôi, nhưng tôi gần như đã biết trước cô sẽ trả lời ra sao, đấy là giả dụ trong trường hợp cô muốn trả lời... trong suốt tuổi thơ và tuổi niên thiếu tôi đã kề cận với quá nhiều Mocellini, những kẻ sau này ta sẽ tự hỏi không biết bọn họ làm những trò buôn lậu nào... Không phải là tôi đã thường xuyên thấy bố tôi giao hảo với những kẻ ấy ư? Sau chừng đó năm tháng, tôi hoàn toàn có thể điều tra về cái kẻ mang tên Mocellini. Nhưng để làm gì đây? Tôi sẽ chẳng biết thêm được gì hơn nữa về Louki ngoài những điều tôi đã biết hoặc đã đoán ra. Liệu chúng ta có thực sự phải chịu trách nhiệm về các vai phụ mà ta không hề lựa chọn nhưng lại gặp phải ở chặng đầu đời? Liệu tôi có phải chịu trách nhiệm về bố tôi và tất cả những cái bóng thì thụt chuyện trò với ông trong các sảnh khách sạn hoặc phòng hậu quán cà phê, những người mang đống va li mà tôi sẽ mãi không biết được bên trong đựng gì? Tối hôm ấy, sau cuộc gặp đen đủi đó, chúng tôi đi dọc theo đại lộ Saint-Germain. Khi chúng tôi bước vào hiệu sách Véga, cô có vẻ đã nhẹ nhõm trở lại. Cô có một danh mục vài cuốn sách được Guy de Vere khuyên đọc. Danh mục ấy, tôi vẫn còn giữ. Ông đưa nó cho bất kỳ ai đến dự các cuộc họp. “Các bạn không bắt buộc phải đọc toàn bộ trong một lúc, ông thường có thói quen nói vậy. Tốt hơn hết là hãy chọn một cuốn duy nhất và đọc trong đó một trang mỗi tối, trước khi ngủ.”

Thế thân thần thánh

Bạn của Chúa ở Oberland

Tiếng ca của ngọc

Cột chống rạng đông

Mười hai vị cứu tinh của kho báu ánh sáng

Các bộ phận hay trung tâm vi tế

Vườn hồng bí ẩn

Thung lũng thứ bảy

Những tập sách mỏng, bìa xanh lợt. Thoạt tiên, trong phòng tôi ở phố Argentine, có những lúc chúng tôi, Louki và tôi, đọc to chúng lên. Đó là một kiểu nề nếp, được thực hiện khi tinh thần chúng tôi chùng xuống, tôi tin chúng tôi không đọc các tác phẩm ấy theo cùng một cách. Cô hy vọng khám phá ở đó một ý nghĩa cho cuộc đời, trong khi tôi bị thu hút bởi âm vang các từ và nhạc tính các câu. Tối hôm đó, ở hiệu sách Véga, tôi thấy như thể cô đã quên đi cái gã tên Mocellini kia và tất cả những kỷ niệm tồi tệ mà gã gợi về. Giờ đây tôi mới nhận ra rằng cô không chỉ tìm kiếm một lối hành xử khi đọc những tập sách mỏng màu xanh lợt ấy, cũng như tiểu sử Louise của Hư Vô. Mà cô muốn đào thoát, trốn đi mỗi lúc một xa hơn, đoạn tuyệt thật phũ phàng với đời thường, để được hít thở không khí tự do. Và rồi cũng có nỗi sợ bồn chồn đó, thỉnh thoảng, trước viễn cảnh các vai phụ mà ta để lại sau lưng có thể tìm thấy ta mà đòi tính sổ. Cần phải ẩn trốn để thoát khỏi những kẻ tống tình đó, hy vọng rồi một ngày bạn sẽ ra được hẳn ngoài tầm với của bọn họ. Trên kia, trong làn không khí của những đỉnh cao. Hay không khí ngoài khơi xa. Tôi hiểu rất rõ điều này. Cả tôi nữa, tôi vẫn còn kéo lê những kỷ niệm tồi tệ và những bóng ma trong ác mộng tuổi thơ, những gì tôi tính sẽ rũ bỏ một lần cho xong.

Tôi bảo cô rằng thật ngốc khi chuyển vỉa hè. Cuối cùng tôi cũng thuyết phục được cô. Kể từ đó, ở lối ra của bến tàu điện ngầm Mabillon, chúng tôi không còn vòng tránh quán La Pergola nữa. Một tối, thậm chí tôi còn kéo cô vào trong quán. Chúng tôi đứng trước quầy kiên định chờ Mocellini. Và tất cả những bóng ma khác của quá khứ. Với tôi, cô không phải e ngại điều gì. Không còn cách nào tốt hơn là nhìn thẳng vào mắt lũ ma để làm chúng tan biến. Tôi tin cô đã lấy lại được lòng tin và thậm chí cô hẳn sẽ chẳng xao động mảy may nếu Mocellini có xuất hiện. Tôi đã khuyên cô nói bằng giọng thật đanh thép cái câu vốn rất thân thuộc với tôi trong dạng tình huống này: Không mà, thưa ông... Không phải tôi đâu... Tôi rất tiếc... Ông nhầm rồi...”

Tối đó chúng tôi đã đợi Mocellini mà không thấy gã đến. Và không bao giờ chúng tôi còn nhìn thấy gã đằng sau ô cửa kính nữa.

༺༒༻

Cái tháng Hai mà cô thôi về nhà chồng ấy, tuyết rơi rất nhiều và chúng tôi có cảm giác, ở phố Argentine, bị lạc vào mộc khách sạn trên núi cao. Tôi nhận ra thật khó sống ở một vùng trung tính. Thực sự, tốt hơn hết là xích lại gần trung tâm. Điều kỳ khôi nhất ở cái phố Argentine này - nhưng tôi cũng đã kiểm kê được vài phố khác của Paris giống nó - là nó không ăn nhập với cái quận mà nó thuộc về. Nó không ăn nhập với gì hết, nó tách biệt khỏi mọi thứ. Với lớp tuyết đó, ở cả hai phía nó đều dẫn tới hư vô. Tôi sẽ phải tìm lại danh sách các phố không chỉ là những vùng trung tính mà còn là các hố đen ở Paris. Hay nói đúng hơn là những ánh lóe của thứ vật chất tối được bàn đến trong thiên văn học đó, một chất làm cho mọi thứ trở nên vô hình và kháng cự lại được cả các tia cực tím, hồng ngoại và tia X. Phải, xét về lâu về dài, chúng tôi có nguy cơ bị chất tối nuốt trọn.

Cô không muốn ở lâu trong một khu phố quá gần nhà chồng. Chỉ cách có hai bến tàu điện ngầm. Cô tìm kiếm bên tả ngạn một khách sạn quanh quán Le Condé hoặc quanh căn hộ của Guy de Vere. Như thế, cô có thể đi bộ. Còn tôi thì sợ phải qua sông Seine quay lại bên kia, về quận VI của tuổi thơ tôi. Ngần ấy kỷ niệm đau thương... Nhưng ích gì khi nói chuyện đó bởi quận này giờ đây chỉ còn tồn tại với những người mở các cửa hiệu bán đồ xa xỉ và người nước ngoài giàu có mua căn hộ ở đó... Thời ấy, tôi vẫn còn thấy tại đây những tàn tích từ tuổi thơ tôi: các khách sạn xập xệ phố Dauphine, ngôi trường dạy giáo lý đơn sơ, quán cà phê ở giao lộ Odéon nơi vài kẻ đào ngũ từ các căn cứ quân sự Mỹ lẻn ra buôn lậu hàng cấm, cầu thang tối bên quảng trường Vert-Galant, và dòng chữ trên bức tường nhớp nhúa của phố Mazarine, mà tôi đọc mỗi lần đi học: ĐỪNG BAO GIỜ LÀM VIỆC.

Khi cô thuê một căn phòng xa hơn một chút về phía Nam, quãng Montparnasse, tôi vẫn ở lại quanh khu Étoile. Bên tả ngạn, tôi muốn tránh gặp phải những bóng ma. Trừ ở quán Le Condé và hiệu sách Véga, còn thì tôi không muốn nấn ná làm gì tại khu phố cũ của mình.

༺༒༻

Và rồi còn phải kiếm tiền nữa. Cô đã bán một chiếc áo khoác lông thú hẳn là quà tặng của chồng. Cô chỉ còn lại một cái áo gió quá mỏng để chống chọi lại mùa đông. Cô đọc các thông báo tìm người giống như cô từng làm ngay trước khi lấy chồng. Và thỉnh thoảng, cô đến Auteuil gặp chủ một xưởng ô tô, một người bạn cũ của mẹ cô, người vẫn giúp đỡ cô. Tôi gần như chẳng dám thú nhận về phần mình tôi đang làm loại công việc gì. Nhưng tại sao lại phải che giấu sự thật nhỉ?

Một gã tên là Béraud-Bedoin sống cùng khối nhà có khách sạn của tôi. Chính xác là ở số 8 phố Saïgon. Một căn hộ có sẵn đồ đạc. Tôi thường xuyên giáp mặt gã và không còn nhớ được lần đầu tiên chúng tôi bắt chuyện với nhau là khi nào. Một tay thuộc dạng xảo trá với mái tóc bồng bềnh, ăn vận lúc nào cũng chăm chút đáng kể và vờ vịt một dáng vẻ thư thái thượng lưu. Tôi ngồi đối diện với gã, ở một cái bàn trong quán cà phê kiêm quán ăn trên phố Argentine, một buổi chiều của mùa đông năm ấy, khi ở Paris tuyết đang rơi. Tôi bảo gã rằng tôi muốn “viết” lúc gã đặt cho tôi câu hỏi chường lệ: “Còn anh, anh làm công việc gì?” Về phần gã, Béraud-Bedoin, thì tôi không hiểu được thật rõ việc làm của gã. Tôi đã đi theo gã, cái buổi chiều ấy, tới “văn phòng” của gã - “ngay gần đây thôi”, gã bảo tôi thế. Bước chân chúng tôi để lại vệt trên tuyết. Chỉ cần đi thẳng một mạch đến phố Chalgrin. Tôi đã tra một cuốn danh bạ cũ của năm đó để biết chính xác xem cái gã Béraud-Bedoin ấy “làm việc” ở đâu. Đôi khi, chúng ta nhớ lại được vài đoạn đời mình và ta cần bằng chứng để chắc chắn mình đã không nằm mơ. 14, phố Chalgrin, “Nhà xuất bản thương mại Pháp”. Chắc hẳn là đó. Giờ đây, tôi thấy mình không có đủ can đảm đến tân nơi để nhận mặt tòa nhà. Tôi già quá mất rồi. Hôm ấy, gã không dẫn tôi lên văn phòng của gã, nhưng hôm sau chúng tôi gặp lại nhau cùng giờ đó, ở cùng quán cà phê đó. Gã đề nghị với tôi một việc. Đó là viết những quyển sách nhỏ giới thiệu các công ty hoặc tổ chức nơi gã làm công việc tương tự người chào hàng hay nhân viên quảng cáo, và sẽ do nhà xuất bản của gã ấn hành. Gã sẽ trả cho tôi năm nghìn franc của thời ấy. Gã sẽ ký tên những gì tôi viết ra. Tôi làm ne cho gã. Gã sẽ cung cấp mọi tài liệu cho tôi. Chính bằng cách đó mà tôi đã viết ra khoảng một chục cuốn sách nhỏ, Nước khoáng La Bourboule, Du lịch ở Côte d’Émeraude, Lịch sử các khách sạn và sòng bạc ở Bagnoles-de-l’Orne, cũng như các chuyên luận cho các ngân hàng Jordaan, Seligmann, Mirabaud và Demachy. Mỗi lần ngồi vào bàn làm việc, tôi lại sợ mình sẽ lăn ra ngủ vì buồn chán. Nhưng công việc khá đơn giản, chỉ cần tạo hình dạng cho các ghi chép của Béraud-Bedoin. Tôi đã rất kinh ngạc vào cái lần đầu tiên gã dẫn tôi tới trụ sở Nhà xuất bản thương mại Pháp: đó là một phòng ở tầng trệt không cửa sổ, nhưng vào tuổi tôi lúc ấy, người ta không tự đặt cho mình nhiều câu hỏi. Người ta đặt lòng tin vào cuộc đời. Hai hay ba tháng sau đó, tôi không hề nhận được tin tức gì từ nhà xuất bản của tôi. Gã mới đưa cho tôi một nửa số tiền đã hứa và với tôi như thế là quá đủ rồi. Đến một ngày - tại sao lại không phải ngay ngày mai nếu tôi đủ sức - có lẽ tôi sẽ phải hành hương tới phố Saïgon và Chalgrin, một vùng trung tính nơi Béraud-Bedoin và Nhà xuất bản thương mại Pháp đã bốc hơi cùng tuyết mùa đông năm ấy. Nhưng không, sau khi nghĩ kỹ, tôi thực sự không đủ can đảm làm việc đó. Thậm chí tôi còn tự hỏi không biết những phố ấy có còn tồn tại hay không và chẳng biết chừng chúng đã bị chất tối nuốt chửng một lần cho mãi mãi.

༺༒༻

Tôi thích dạo bộ ngược Champs-Élysées vào một buổi tối mùa xuân. Giờ đây đại lộ ấy không còn thực sự tồn tại, nhưng, đêm đến, nó vẫn còn tạo ảo giác. Có lẽ trên Champs-Élysées anh sẽ nghe tiếng em gọi tên anh... Ngày em bán cái áo khoác lông thú và viên ngọc lục bảo tròn trịa, anh còn chừng hai nghìn franc từ số tiền Béraud-Bedoin trả cho anh. Ta thật giàu. Tương lai thuộc về ta. Tối ấy, em đã lòng lành đến với anh ở khu Étoile. Đó là mùa hè, đúng cái mùa hè ta ở trên các ke sông cùng Đầu Lâu và anh thấy hai người tiến về phía anh. Ta tới quán ăn ở góc phố François Đệ Nhất giao với phố Marbeuf. Người ta đã bày những cái bàn ra ngoài vỉa hè. Trời vẫn còn sáng. Không có người qua lại và ta nghe thầm thì những giọng nói và tiếng ồn những bước chân. Quãng mười giờ, khi chúng ta đi xuôi Champs-Élysées, anh tự hỏi không biết có bao giờ trời chịu tối không hay đó lại chẳng phải là một đêm trắng như ở Nga và các nước phương Bắc. Ta bước đi vô định, ta có cả đêm ở trước mặt. Vẫn còn lại những ráng mặt trời trên các vòm tường phố Rivoli. Đây là đầu hè, ta sẽ sớm đi khỏi. Đi đâu? Ta còn chưa biết được. Có lẽ là Majorque hoặc Mexico. Có lẽ là London hay Rome. Những nơi chốn không còn chút quan trọng nào nữa, chúng lẫn lộn hết vào với nhau. Đích duy nhất chuyến đi của chúng ta, đó là đi VÀO TÂM MÙA HÈ, nơi thời gian dừng lại và nơi những cây kim đồng hồ lúc nào cũng chỉ cùng một giờ: giữa trưa.

Ở Palais-Royai, bóng tối đã buông. Chúng tôi dừng lại một lúc ở hiên quán Ruc-Univers trước khi tiếp tục bước đi. Một con chó đi theo chúng tôi dọc phố Rivoli cho tới Saint-Paul. Rồi nó vào trong nhà thờ. Chúng tôi không cảm thấy mệt chút nào, và Louki bảo tôi rằng cô có thể bước đi thế này cả đêm. Chúng tôi đi qua một vùng trung tính ngay trước khi đến Arsenal, vài phố vắng hoe đến mức người ta phải tự hỏi liệu có người sống ở đó hay không. Ở tầng hai một tòa nhà, chúng tôi thấy có hai cửa sổ mở rộng sáng đèn. Chúng tôi ngồi xuống một cái ghế băng, đối diện đó, và chúng tôi không sao tự ngăn mình nhìn những cửa sổ ấy. Ngọn đèn cổ chụp màu đỏ, ở tận trong góc, tỏa ra thứ ánh sáng sượng đục đó. Ta nhìn thấy một tấm gương khung mạ vàng treo trên bức tường bên trái. Những bức tường khác thì trống trơn. Tôi rình một bóng hình hẳn sẽ lướt qua đằng sau cửa sổ, nhưng không, không có ai cả, có vẻ như vậy, trong cái căn phòng mà ta không biết được nó là phòng khách hay một phòng ngủ.

“Chắc ta phải bấm chuông cửa thôi,” Louki nói với tôi. “Em chắc có ai đó đang đợi chúng ta.”

Cái ghế băng nằm giữa một dải phân cách tạo thành từ chỗ giao của hai phố. Nhiều năm sau này, tôi ngồi trên một chiếc taxi đi dọc bến Arsenal, về phía các ke sông. Tôi bảo tài xế dừng lại. Tôi muốn tìm lại cái ghế băng và tòa nhà. Tôi hy vọng hai cửa sổ tầng trên vẫn còn sáng, sau chừng ấy thời gian. Nhưng thiếu điều thì tôi đã lạc lối trên mấy phố nhỏ đâm vào các bức tường của doanh trại Célestins. Đêm hôm ấy, tôi đã bảo cô rằng không việc gì phải bấm chuông cửa. Sẽ không có ai. Với lại chúng tôi đang thoải mái ở đây, trên ghế băng. Thậm chí tôi còn nghe tiếng một vòi nước chảy ở đâu đó.

“Anh chắc không?” Louki hỏi. “Em chẳng nghe thấy gì cả...”

Chính hai chúng tôi đang sống trong căn hộ trước mặt kia. Chúng tôi đã quên tắt đèn. Và chúng tôi đã để mất chìa khóa. Con chó lúc nãy hẳn đang đợi chúng tôi. Nó ngủ trong phòng ngủ của chúng tôi và sẽ ở đó chờ chúng tôi cho đến tận cùng thời gian.

Sau đó, chúng tôi bước đi về phía Bắc và, để không bị trôi dạt quá nhiều, chúng tôi tự ấn định một cái đích: quảng trường République, nhưng chúng tôi không chắc là đang theo đúng hướng. Quan trọng gì đâu, chúng tôi vẫn luôn luôn có thể lấy tàu điện ngầm quay trở lại phố Argentine nếu có bị lạc. Louki nói với tôi rằng cô từng thường xuyên ở khu phố này, thời cô còn nhỏ. Người bạn trai của mẹ cô, Guy Lavigne, có một xưởng sửa chữa ô tô quanh đây. Đúng, về phía quảng trường République. Chúng tôi dừng lại trước mỗi xưởng, nhưng không lần nào là đúng cái xưởng ấy. Cô không còn tìm lại được đường nữa. Lần tới khi đến Auteuil thăm cái ông Guy Lavigne đó, cô sẽ phải hỏi địa chỉ chính xác xưởng ô tô cũ của ông trước khi cả ông ta nữa, ông ta cũng biến mất. Nhìn qua thì vẻ như chẳng có gì nhưng việc ấy lại rất quan trọng. Nếu không, rốt cuộc ta sẽ không còn lại nổi một điểm nào để định vị trong đời. Cô nhớ rằng mẹ cô và Guy Lavigne từng dẫn cô đến hội chợ Trône sau lễ Phục sinh, ngày thứ Bảy. Họ đã đi bộ tới đó theo một đại lộ lớn bất tận rất giống đại lộ mà chúng tôi đang đi đây. Hẳn chính là nó. Nhưng thế thì chúng tôi lại rời xa khỏi quảng trường République. Những thứ Bảy ấy cô cùng mẹ và Guy Lavigne đi tới tận rìa rừng Vincennes.

Đã gần nửa đêm, và hẳn sẽ thật kỳ cục nếu hai chúng tôi lại đứng trước hàng rào sắt của vườn bách thú. Hẳn chúng tôi có thể nhìn thấy những con voi trong bóng tối nhờ nhợ. Nhưng đó, trước chúng tôi, mở ra một quãng trống sáng sủa ngay chính giữa là một bức tượng. Quảng trường République. Càng lại gần, tiếng nhạc càng nghe rõ hơn. Một vũ hội chăng? Tôi hỏi Louki hôm nay có phải là ngày 14 tháng Bảy không. Cô không biết gì hơn tôi. Từ lâu nay, với chúng tôi những ngày và những đêm đã lẫn lộn hết vào với nhau. Tiếng nhạc vẳng ra từ một quán cà phê, ngay gần góc đại lộ giao với phố Grand-Prieuré. Vài người khách ngồi ở ngoài hiên.

Đã quá muộn để lấy chuyến tàu điện ngầm cuối cùng. Ngay sau quán cà phê là một khách sạn để cửa mở. Mộc bóng đèn trần chiếu sáng một cầu thang rất dốc với các bậc bằng gỗ màu đen. Thậm chí người gác đêm còn không cả hỏi tên chúng tôi. Anh ta chỉ đơn giản là cho chúng tôi biết số một phòng trên tầng. “Kể từ giờ, có lẽ chúng ta sẽ sống được ở đây”, tôi nói với Louki.

Một cái giường đơn nhưng không quá chật với chúng tôi. Không ri đô lẫn chớp cửa sổ. Chúng tôi để cửa sổ mở hé bởi trời nóng. Bên dưới, tiếng nhạc đã tắt, và chúng tôi nghe thấy những tràng cười. Cô thì thầm vào tai tôi:

“Anh nói đúng. Hẳn ta phải ở lại đây mãi.”

Tôi nghĩ chúng tôi đang ở xa Paris, tại một cảng nhỏ của Địa Trung Hải. Sáng nào vào cùng giờ chúng tôi cũng đi theo con đường qua các bãi biển. Tôi còn nhớ được địa chỉ của khách sạn: 2, phố Grand-Prieuré. Khách sạn Hivernia. Trong suốt tất cả những năm u tối tiếp theo, thỉnh thoảng người ta hỏi địa chỉ hoặc số điện thoại của tôi, tôi đều nói: “Anh chỉ cần gửi đến khách sạn Hivernia, 2, phố Grand-Prieuré. Người ta sẽ chuyển tới cho tôi.” Tôi sẽ phải đi tìm tất cả những bức thư ấy, chúng đợi tôi từ lâu lắm rồi và vẫn chưa được hồi đáp. Em có lý, lẽ ra chúng ta nên ở lại đó mãi mãi.

༺༒༻

Tôi còn gặp lại Guy de Vere một lần cuối cùng nữa, nhiều năm sau này. Trên cái phố dốc xuôi về phía Odéon, một chiếc ô tô dừng lại cạnh tôi và tôi nghe tiếng ai đó gọi mình bằng tên cũ. Tôi nhận ra giọng nói trước khi quay đầu sang. Ông thò đầu ra khỏi cửa xe đã hạ kính. Ông mỉm cười với tôi. Ông không hề thay đổi. Trừ việc tóc ngắn đi một chút.

Đó là tháng Bảy, năm giờ chiều. Trời nóng. Hai chúng tôi ngồi trên ca pô chiếc xe để nói chuyện. Tôi không dám nói với ông rằng chúng tôi đang ở cách quán Le Condé có vài mét, nơi có cánh cửa Louki luôn luôn dùng để đi vào, cửa của bóng tối. Nhưng không còn cánh cửa nữa. Phía bên này, giờ đây có một ô kính bày những túi xách làm bằng da ca sấu, những đôi bốt, và cả một cái yên cương cùng roi ngựa. Cửa hiệu mang tên Au Prince de Gondé. Chuyên bán đồ da.

“Thế nào hả Roland, anh sao rồi?”

Vẫn là cái giọng thật trong ấy, cái giọng dẫn dụ chúng tôi đi vào các văn bản bí hiểm nhất những lúc ông đọc cho chúng tôi nghe. Tôi cảm động thấy ông còn nhớ mình, nhớ tên tôi thời đó. Ngần ấy người từng dự những cuộc họp, ở quảng trường Lowendal... Một số chỉ tới một lần, vì tò mò, những người khác thì rất chuyên cần. Louki thuộc vào nhóm người thứ hai. Và tôi cũng vậy. Thế nhưng, Guy de Vere không hề tìm kiếm đồ đệ. Ông hoàn toàn không tự coi mình là một bậc thầy về tư duy và từ chối tạo ra bất kỳ ảnh hưởng nào lên người khác. Tự họ đến với ông, mà ông không hề mời mọc. Đôi khi, người ta đoán ra được rằng ông thích ở một mình mà mơ mộng hơn, nhưng ông không thể làm gì để từ chối họ, và nhất là từ chối giúp để họ tự nhìn mình rõ hơn.

“Thế còn anh, anh quay lại Paris à?”

De Vere mỉm cười và nhìn tôi vẻ châm chọc.

“Anh vẫn y như thế, Roland ạ... Anh trả lời một câu hỏi bằng một câu hỏi khác...”

Cả điều ấy nữa ông cũng không quên. Ông vẫn thường trêu tôi về chuyện đó. Ông bảo tôi rằng nếu mà là đấu sĩ quyền Anh, hẳn tôi sẽ là bậc thầy về đòn gió.

“Tôi không ở Paris từ lâu lắm rổi, Roland... Giờ tôi sống bên Mexico... Tôi sẽ đưa anh địa chỉ nhé...”

Cái ngày đến tận nơi kiểm tra xem có thực là có dây thường xuân ở tầng trệt tòa nhà cũ của ông hay không, tôi đã hỏi người gác cổng, phòng trường hợp bà biết địa chỉ mới của Guy de Vere. Bà chỉ nói: “Đi không để lại địa chỉ.” Tôi kể cho ông cuộc hành hương tới quảng trường Lowendal ấy.

“Anh đúng là hết thuốc chữa, Roland ạ, với câu chuyện dây thường xuân đó... Tôi đã quen biết anh từ khi anh còn rất trẻ, có phải không? Hồi ấy anh bao nhiêu tuổi?”

“Hai mươi.”

“Thế mà ngay khi anh còn ở cái tuổi đó, với tôi tựa như anh đã lên đường đi tìm nhánh dây thường xuân bị mất ấy rồi. Tôi có nhầm không?”

Ánh mắt ông không rời khỏi tôi và quanh ông bao phủ một cái bóng buồn bã. Có lẽ chúng tôi đã nghĩ đến cùng một điều, nhưng tôi không dám nói ra cái tên Louki.

“Lạ thật đấy,” tôi nói với ông. “Vào cái thời những cuộc họp của chúng ta, tôi vẫn thường xuyên tới quán cà phê này, giờ thì nó không còn là quán cà phê nữa rồi.”

Và tôi chỉ cho ông, cách chỗ chúng tôi vài mét, cửa hiệu đồ da Au Prince de Condé.

“À đúng,” ông bảo tôi. “Paris đã thay đổi rất nhiều trong những năm vừa qua.”

Ông nhíu mày nhìn tôi, như thể muốn nhớ lại một kỷ niệm xưa cũ.

“Anh vẫn nghiên cứu các vùng trung tính chứ?”

Câu hỏi xuất hiện thật đột ngột, đến nỗi tôi không hiểu ngay ông đang muốn ám chỉ điều gì.

“Khá là thú vị đấy, những gì anh viết về các vùng trung tính...”

Chúa ơi, trí nhớ thật xuất chúng... Tôi đã quên mình từng đưa ông đọc văn bản ấy. Một tối nọ, sau một trong những cuộc họp của chúng tôi tại nhà ông, Louki và tôi đã nán lại cuối cùng. Tôi hỏi ông có cuốn sách nào viết về Quy hồi Vĩnh cửu hay không. Chúng tôi đang ở trong phòng làm việc của ông và ông đưa mắt nhìn mấy cái tủ sách của mình. Rốt cuộc ông tìm thấy một tác phẩm có bìa màu trắng đen: Nietzsche: Triết lý Quy hồi Vĩnh cửu của cùng một thứ, mà ông cho tôi mượn và tôi đã hết sức chăm chú đọc những ngày tiếp theo đó. Trong túi áo vest của tôi là mấy tờ giấy đánh máy chữ về các vùng trung tính. Tôi những muốn đưa ông đọc để biết ý kiến của ông, nhưng ngần ngừ. Mãi đến trước khi đi khỏi, ngoài thềm nhà, tôi mới quyết định được, bằng một động tác đột ngột, chìa cho ông cái phong bì trong đó tôi để mấy tờ giấy kia - mà không nói với ông một lời.

“Anh cũng từng rất quan tâm đến thiên văn học,” ông nói. “Đặc biệt là vật chất tối...”

Chưa bao giờ tôi có thể tưởng tượng ông lại nhớ được điều đó. Xét cho cùng, ông vẫn luôn rất chú ý đến người khác, nhưng ngay lúc ấy thì người ta không hề nhận ra.

“Thật là tệ,” tôi nói với ông, “vì tối nay không có một cuộc họp ở quảng trường Lowendal, như trước đây ấy...”

Ông có vẻ kinh ngạc trước những lời của tôi. Ông mỉm cười với tôi.

“Vẫn luôn luôn là nỗi ám ảnh của anh với Quy hồi Vĩnh cửu...”

Giờ đây chúng tôi bước đi loanh quanh trên vỉa hè và, lần nào cũng vậy, bước chân lại đưa chúng tôi trở lại trước cửa hiệu đồ da Au Prince de Condé.

“Anh còn nhớ cái buổi tối bị mất điện ở nhà anh và rồi chúng ta đã nói chuyện trong bóng tối không?” tôi hỏi ông.

“Không.”

“Tôi sẽ thú nhận với anh một điều. Thiếu chút nữa tôi đã phá lên cười như điên, tối hôm ấy.”

“Lẽ ra anh nên tự buông thả,” ông nói với tôi, giọng trách cứ. “Cười là thứ dễ liên thông. Đáng ra tất cả chúng ta đã có thể cười trong bóng tối.”

Ông nhìn đồng hồ đeo tay.

“Tôi sắp phải để anh lại đây. Tôi phải chuẩn bị hành lý. Ngày mai tối đi rồi. Và thậm chí tôi còn chẳng có thời gian để hỏi bây giờ anh đang làm gì nữa.”

Ông rút từ túi trong áo vest của mình ra một quyển sổ và xé một trang.

“Tôi cho anh địa chỉ của tôi bên Mexico. Thực sự là anh phải đến gặp tôi đấy.”

Đột nhiên giọng ông trở nên khẩn thiết, như thể ông muốn lôi kéo tôi đi theo ông và cứu tôi thoát khỏi chính tôi. Và khỏi hiện tại.

“Thêm nữa, ở đó tôi vẫn tiếp tục tổ chức các cuộc họp. Đến đi. Tôi trông chờ anh đấy.”

Ông chìa tờ giấy cho tôi.

“Có cả số điện thoại của tôi đây. Lần này, chúng ta không được để mất dấu nhau đâu đấy nhé.”

Ngồi trên xe rồi, ông còn thò đầu một lần nữa ra khỏi ô cửa đã hạ kính xuống.

“Nói cho tôi đi... Tôi vẫn thường nghĩ đến Louki... Tôi vẫn không hiểu được là tại sao...”

Ông cảm động. Ông, người luôn luôn nói năng không chút do dự và với cách thức rõ ràng đến thế, ông đang phải lựa lời.

“Thật là ngốc, điều mà tôi nói với anh đây... Chẳng có gì để hiểu cả... Khi thực sự yêu một người, thì ta cần phải chấp nhận cái phần bí ẩn của người ấy... Và chính vì thế mà ta yêu người ấy... Phải không hả, Roland?...”

Đột nhiên ông nổ máy, hẳn là để cắt ngang cơn xúc cảm của mình. Và cơn xúc cảm của tôi nữa. Ông chỉ kịp nói với tôi:

“Hẹn sớm gặp lại nhé, Roland.”

Tôi còn lại một mình trước cửa hiệu đồ da Au Prince de Condé. Tôi gí trán vào cửa kính để tìm xem liệu có còn tàn tích gì sót lại của quán cà phê hay không: một mảng tường, cánh cửa cuối phòng dẫn tới máy điện thoại treo tường, cầu thang xoáy trôn ốc dẫn lên căn hộ của Bà Chadly. Không gì cả. Mọi thứ đều nhẵn và căng như một mảnh vải màu cam. Và trong khu phố mọi thứ đều như vậy. Ít nhất thì ta cũng không có nguy cơ gặp phải những bóng ma. Bản thân những bóng ma cũng đã chết. Không có gì phải e ngại khi ra khỏi bến tàu điện ngầm Mabillon. Không còn quán La Pergola và cũng không còn Mocellini đằng sau ô cửa kính nữa.

Tôi bước đi bằng bước chân nhẹ nhàng như thể đã tới một thành phố xa lạ một tối tháng Bảy. Tôi khởi sự huýt sáo theo điệu một bài hát Mexico. Nhưng sự vô tư lự giả dối này không kéo dài lâu. Tôi đang đi dọc hàng rào vườn Luxembourg thì điệp khúc bài Ay Jalisco no te rajes tắt ngấm trên môi. Một tấm áp phích dán ở thân một cái cây lớn trong hàng cây phủ tán che cho chúng ta đến tận cổng vào đằng phố Saint-Michel. “Cái cây này nguy hiểm. Nó sẽ sớm bị chặt. Nó sẽ được thay thế ngay mùa đông năm nay.” Suốt một lúc, tôi cứ nghĩ mình đang ở trong một giấc mơ tồi tệ. Tôi đứng đó, tê liệt, mà đọc đi đọc lại bản án tử hình này. Một người bộ hành đi tới nói với tôi: “Ông không được khỏe phải không thưa ông?” rồi anh ta đi khỏi, hẳn là thấy thất vọng trước cái nhìn đăm đăm của tôi. Trong cái thế giới này, nơi mỗi lúc tôi lại càng hay có cảm giác mình là một kẻ sống sót, người ta cũng chặt đầu cả cây cối... Tôi tiếp tục bước đi, cố sức nghĩ đến điều gì khác, nhưng thật khổ. Tôi không sao quên nổi tấm áp phích ấy cùng cái cây bị kết án tử. Tôi tự hỏi chẳng biết bộ mặt các thành viên tòa án và bộ mặt viên đao phủ trông ra sao. Tôi trấn tĩnh lại. Để tự cổ vũ mình, tôi hình dung ra Guy de Vere bước đi bên cạnh và nhắc đi nhắc lại với tôi bằng cái giọng êm ái của ông: “... Nhưng mà không, Roland ạ, đó chỉ là một giấc mơ tồi tệ... người ta không chặt đầu cây cối đâu...”

Tôi đi qua cổng vào của vườn và theo phần đại lộ dẫn sang Port-Royal. Một tối, cùng Louki, chúng tôi đã đưa về đây một anh chàng trạc tuổi chúng tôi mà chúng tôi làm quen ở quán Le Condé. Anh ta đã chỉ cho chúng tôi, bên tay phải, tòa nhà Trường Mỏ, vừa chỉ vừa tuyên bố với chúng tôi bằng giọng rất buồn bã, như thể lời thú nhận ấy đè nặng lên anh ta, rằng anh ta là sinh viên trường đó.

“Các bạn có nghĩ tôi nên ở lại đó không?”

Tôi cảm thấy anh ta rình chờ một sự khích lệ từ chúng tôi để giúp anh ta thực hiện được hành động quyết định. Tôi nói với anh ta: “Không, bạn ơi, đừng ở lại đó... Hãy cao chạy xa bay...”

Anh ta quay sang Louki. Anh ta đợi ý kiến của cả cô nữa. Cô giải thích với anh ta rằng kể từ khi bị trường trung học Jules-Ferry từ chối, cô rất ngờ vực các trường. Tôi nghĩ điều này đã hoàn thành công cuộc thuyết phục anh ta. Hôm sau, ở quán Le Condé, anh ta bảo với chúng tôi rằng đối với anh ta Trường Mỏ đã kết thúc rồi.

Thường xuyên, cô và tôi đi trên con đường này để về khách sạn của cô. Đó là đường vòng, nhưng chúng tôi có thói quen đi bộ. Mà nó có thực sự là một đường vòng? Nhưng mà không, nghĩ cho thật kỹ, đó là một đường thẳng, tôi thấy như thể là vậy, dẫn về phía nội địa. Ban đêm, dọc đại lộ Denfert-Rochereau, chúng tôi ở trong mộc thành phố tỉnh lẻ, bởi sự im lìm và tất cả những chốn tôn giáo với các cánh cổng cứ thế nối tiếp nhau. Hôm mới đây, tôi đi bộ theo phố trồng cây đoạn hai bên cùng những bức tường cao ngăn đôi nghĩa trang Montparnasse. Đó cũng là đường về khách sạn của cô. Tôi nhớ là cô thích tránh nó, chính vì vậy mà chúng tôi đi qua Denfert-Rochereau. Nhưng quãng thời gian cuối, chúng tôi không còn sợ gì nữa và thấy rằng cái phố cắt qua nghĩa trang này không phải không chứa đựng một vẻ duyên dáng nào đó, vào buổi đêm dưới vòm cây lá. Không một chiếc ô tô nào chạy qua vào giờ ấy và chưa bao giờ chúng tôi bắt gặp một ai. Tôi đã quên ghi nó vào danh sách các vùng trung tính. Đúng hơn thì nó là một đường biên giới. Đến cuối phố, chúng tôi bước vào một vùng đất nơi chúng tôi tách biệt được khỏi mọi thứ. Tuần trước, tôi bước đi ở đó không phải ban đêm mà là lúc cuối chiều. Anh đã không quay lại phố ấy kể từ khi chúng ta cùng nhau đi ở đó hoặc khi anh đến chỗ em ở khách sạn. Trong thoáng chốc anh có ảo tưởng là đi quá nghĩa trang anh sẽ gặp lại em. Ở đó, sẽ là Quy hồi Vĩnh cửu. Cùng một động tác như trước đây để lấy chìa khóa phòng em ở chỗ tiếp tân. Cùng cái cầu thang rất dốc. Cùng cánh cửa màu trắng với số phòng: 11. Cùng sự chờ đợi. Và rồi cùng cặp môi, cùng thứ mùi và cùng làn tóc xổ tung.

Tôi còn nghe tiếng de Vere nói với tôi về Louki:

“Tôi vẫn không hiểu được là tại sao... Khi thực sự yêu một người, thì ta cần phải chấp nhận cái phần bí ẩn của người ấy...”

Bí ẩn nào? Tôi vẫn tin chúng tôi giống nhau, bởi chúng tôi thường xuyên có những giao truyền ý nghĩ. Chúng tôi ở trên cùng tần số sóng. Sinh cùng năm và cùng tháng. Thế nhưng, vẫn phải tin là có một khác biệt giữa chúng tôi.

Không, cả tôi nữa tôi cũng không sao hiểu nổi... Nhất là khi tôi nhớ lại những tuần cuối. Tháng Mười một, ngày ngắn lại, những cơn mưa mùa thu, nhưng dường như không gì trong tất tật những thứ ấy làm suy sút tinh thần chúng tôi. Thậm chí chúng tôi còn lên các kế hoạch đi du lịch. Và rồi, ở quán Le Condé ngự trị một bầu không khí vui tươi. Tôi chẳng còn nhớ ai đã giới thiệu vào đám khách quen cái tay Bob Storms tự nhận mình là thi sĩ và đạo diễn người Anvers ấy. Có thể là Adamov chăng? Hay Maurice Raphaël? Anh ta đã làm chúng tôi cười rất nhiều, cái tay Bob Storms đó. Anh ta thích Louki và thích tôi. Anh ta muốn cả hai chúng tôi đến nghỉ hè trong ngôi nhà rộng lớn của anh ta ở đảo Mojorque. Có vẻ như anh ta không hề phải lo lắng chuyện vật chất. Người ta bảo anh ta sưu tầm tranh... Người ta nói bao nhiêu điều... Và rồi tới một ngày mọi người biến mất và ta nhận ra mình chẳng biết chút gì về họ, ngay cả lai lịch thực của họ cũng không.

Tại sao bóng dáng to lớn của Bob Storms lại quay trở lại mạnh mẽ đến thế trong ký ức tôi? Trong những giờ khắc buồn nhất đời, thường xuyên có một nốt nhạc nghịch nhĩ thoáng qua, một hình thù tên hề Flamand, một Bob Storms đi qua, hẳn đó là thứ có thể xua đuổi bất hạnh. Anh ta đứng ở chỗ quầy, cứ như thể những cái ghế gỗ chực sụp xuống dưới sức nặng của anh ta. Anh ta cao lớn đến nỗi không còn trông thấy sự vạm vỡ của anh ta nữa. Lúc nào cũng mặc cái áo nhung dài màu đen tương phản hẳn với bộ râu và mái tóc hung. Và mang áo choàng cùng màu. Cái buổi tối chúng tôi để ý thấy sự có mặt của anh ta lần đầu tiên, anh ta tiến thẳng đến bàn chúng tôi, nhìn thẳng vào Louki và tôi. Rồi anh ta mỉm cười và thì thầm, đầu nghiêng hẳn về phía chúng tôi: “Thưa những người đồng hành của các ngày xấu trời, tôi chúc các bạn một đêm tốt lành.” Khi biết tôi thuộc rất nhiều thơ, anh ta muốn tỉ thí với tôi. Người nào đọc được câu cuối cùng sẽ là người chiến thắng. Anh ta đọc cho tôi nghe một câu, tôi phải đọc cho anh ta một câu khác, và cứ thế tiếp diễn. Cuộc thi diễn ra rất lâu. Tôi chẳng có chút sở đắc nào cho việc này. Tôi là một dạng người mù chữ, không hiểu biết, nhưng lại rất thuộc thơ, giống như những người chơi được mọi bản nhạc bằng piano mà không hề biết ký xướng âm. Bob Storms có lợi thế so với tôi: anh ta còn biết toàn bộ tổng thể thơ ca tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Flamand. Đứng ở quầy, anh ta tung về phía tôi với vẻ đầy thách thức:

I hear the Shadowy Horses, their long manes a-shake

hoặc:

Como todos los muertos que se olvidan

En un montón de perros apagados

hoặc nữa:

De burgemeester heeft ons iets misdaan,

Wij leerden, door zijn schuld, het leven haten.

Anh ta làm tôi thấy hơi mệt nhưng đó là một tay rất vững, hơn chúng tôi rất nhiều tuổi. Tôi những muốn anh ta kể cho tôi nghe về những cuộc đời trước đây của mình. Anh ta luôn luôn trả lời nước đôi cho các câu hỏi của tôi. Khi cảm thấy mình thu hút quá nhiều sự tò mò, đột nhiên sự sôi nổi của anh ta tan biến như thể anh ta có điều gì đó phải che giấu hoặc giả anh ta muốn làm rối tung những đầu mối. Anh ta không trả lời và cuối cùng phá vỡ sự im lặng bằng cách phá lên cười.

༺༒༻

Từng có một bữa tiệc ở nhà Bob Storms. Anh ta mời Louki và tôi đến, cùng những người khác: Annet, Don Carlos, Bowing, Zacharias, Mireille, La Houpa, Ali Cherif và anh chàng mà chúng tôi đã thuyết phục bỏ Trường Mỏ. Những người khách khác nữa, nhưng tôi không quen. Anh ta sống ở ke Anjou trong một căn hộ mà tầng trên là một cái xưởng rộng mênh mông. Anh ta tiếp đón chúng tôi ở đó để đọc một vở kịch mà anh ta muốn dàn dựng: Hop Signor! Hai chúng tôi tới trước những người khác và tôi thấy choáng trước những giá nến soi sáng căn xưởng, những con rối dây Sicile và Flamand treo trên xà nhà, những tấm gương và những đồ gỗ kiểu Phục hưng. Bob Storms mặc chiếc áo nhung màu đen. Một ô cửa kính lớn nhìn xuống sông Seine. Bằng một cử chỉ đầy bao bọc, anh ta quàng tay quanh vai Louki và vai tôi rồi nói với chúng tôi cái câu nghi lễ của anh ta:

Thưa những người đồng hành của các ngày xấu trời

Tôi chúc các bạn một đêm tốt lành.

Rồi anh ta rút từ trong túi ra một cái phong bì, chìa cho tôi. Anh ta giải thích với chúng tôi rằng đó là chìa khóa nhà anh ta ở Majorque và rằng chúng tôi phải đến đó càng sớm càng tốt. Và ở lại đó cho tới tháng Chín. Anh ta thấy rằng chúng tôi không được khỏe khoắn cho lắm. Một bữa tiệc kỳ cục làm sao... Vở kịch chỉ có một hồi và các diễn viên đọc xong nó khá nhanh. Chúng tôi ngồi xung quanh họ. Thỉnh thoảng, trong thời gian đọc, theo một ra dấu của Bob Storms, tất cả chúng tôi phải hét lên, như thể đang ở trong một dàn đồng ca: “Hop, Signor...!” Rượu chảy tràn trề. Và cả các thứ chất hiểm độc khác nữa. Một khu buffet đã được dựng lên ở ngay giữa phòng lớn tầng dưới. Đích thân Bob Storms phục vụ đồ uống trong cốc lớn và ly tròn bằng pha lê. Càng lúc càng thêm đông người. Tới một lúc, Storms giới thiệu tôi với một người đàn ông cùng tuổi nhưng bé nhỏ hơn anh ta rất nhiều, một nhà văn Mỹ tên là James Jones mà anh ta bảo là “hàng xóm cùng tầng gác” của mình. Rốt cuộc Louki và tôi không còn biết rõ mình đang làm gì giữa tất cả những người lạ này nữa. Ngần ấy người bắt gặp ở đầu cuộc đời chúng ta, những người sẽ không bao giờ biết điều đó và chúng ta sẽ chẳng còn bao giờ gặp lại nữa.

Chúng tôi lách qua đám đông về phía cửa. Chúng tôi chắc chắn rằng trong đám hỗn độn này không ai nhận ra rằng chúng tôi bỏ đi. Nhưng vừa bước qua cánh cửa phòng khách thì Bob Storms đã tới chỗ chúng tôi.

“Thế nào cơ... Các bé định bỏ tôi mà đi đấy à?”

Anh ta vẫn nở nụ cười quen thuộc của mình, một nụ cười rộng ngoác khiến anh ta trông giống một nhân vật nào đó của thời Phục hưng hoặc của Thế kỷ Vĩ đại, với bộ râu và vóc dáng cao lớn, Rubens hoặc Buckingham. Và thế nhưng, một nỗi lo lắng vẫn lộ ra trong cái nhìn của anh ta.

“Các bạn không bị buồn chán quá đấy chứ?”

“Không hề,” tôi nói với anh ta. “Rất vui mà. Hop Signor...”

Anh ta dang rộng cả hai tay ôm lấy vai Louki và tôi, như đã làm lúc trước ở trên xưởng.

“Nào, tôi hy vọng ngày mai sẽ được gặp các bạn...”

Anh ta kéo chúng tôi về phía cửa, vẫn ôm lấy vai chúng tôi.

“Và nhất là, phải sang Majorque thật sớm để hít thở không khí nhé... Các bạn cần điều đó đấy... Tôi đã đưa các bạn chìa khóa nhà rồi...”

Trên thềm, anh ta nhìn hai chúng tôi một lúc lâu. Rồi anh ta đọc cho tôi câu thơ:

Bầu trời giống túp lều rách của một rạp xiếc nghèo.

Louki và tôi bước xuống cầu thang, và anh ta cứ đứng đó nghiêng người xuống qua lan can. Anh ta đợi tôi đọc cho anh ta một câu thơ, để đáp lại câu của anh ta, như chúng tôi vẫn quen làm. Nhưng tôi không tìm ra được câu nào.

Tôi có cảm giác mình lẫn lộn các mùa vào với nhau. Vài hôm sau bữa tiệc ấy, tôi đi cùng Louki tới Auteuil. Tôi thấy như thể đang là mùa hè, hoặc giả mùa đông, một trong những buổi sáng trong vắt lạnh, có nắng và bầu trời xanh. Cô muốn đến thăm Guy Lavigne, người từng là bạn trai của mẹ cô. Tôi thích ở ngoài đợi cô xong việc. Chúng tôi hẹn nhau “trong một tiếng nữa”, ở góc phố có xưởng sửa chữa ô tô. Tôi tin chúng tôi có ý định rời Paris vì chùm chìa khóa mà Bob Storms đã đưa cho chúng tôi. Đôi khi, trái tim thắt lại với ý nghĩ về những thứ hẳn đã có thể nhưng lại không xảy ra, nhưng giờ đây tôi vẫn tự nhủ rằng ngôi nhà vẫn trống, đợi chúng tôi. Buổi sáng ấy tôi thật hạnh phúc. Và nhẹ. Và tôi cảm thấy ngây ngất say. Đường chân trời ở thật xa trước chúng tôi, nơi đó, về phía vô định. Một xưởng ô tô ở cuối một phố vắng. Tôi tiếc vì đã không đi cùng Louki đến chỗ ông Lavigne ấy. Có lẽ ông sẽ cho chúng tôi mượn một chiếc ô tô để chúng tôi xuôi xuống phương Nam.

Tôi nhìn thấy cô bước ra khỏi cánh cửa nhỏ của xưởng. Cô giơ tay vẫy tôi, chính xác giống như lần trước, khi tôi đợi họ, cô và Jeannette Gaul, hồi mùa hè, trên các ke sông. Cô tiến về phía tôi với cùng bước đi uể oải ấy, có thể nói rằng cô bước đi chậm lại, như thể thời gian chẳng còn nghĩa lý gì nữa. Cô khoác tay tôi và chúng tôi đi dạo trong khu phố. Chính đây là nơi một ngày nào đó chúng tôi sẽ sống. Vả lại chúng tôi vẫn luôn luôn sống ở đây đấy chứ. Chúng tôi đi theo những phố nhỏ, chúng tôi đi qua một bùng binh vắng hoe. Làng Auteuil êm ái tách ra khỏi Paris. Những tòa nhà màu nâu đồng hay màu be này hoàn toàn có thể nằm ở Côte d’Azur, và những bức tường kia, ta tự hỏi liệu đằng sau chúng có một khu vườn hoặc rìa một khu rừng hay không. Chúng tôi đi tới quảng trường Église, trước bến tàu điện ngầm. Và ở đó, giờ đây thì tôi có thể nói là mình chẳng còn gì để mất nữa: tôi cảm thấy, lần duy nhất trong đời, Quy hồi Vĩnh cửu có nghĩa là gì. Cho tới tận lúc ấy, tôi vẫn đang gắng sức đọc các tác phẩm về chủ đề này, với nhiệt tâm của một người tự học. Mọi thứ xảy đến đúng trước khi bước xuống các bậc cầu thang của bến tàu điện ngầm Église-d’Aureuil. Tại sao lại là chỗ đó? Làm sao tôi biết được và điều áy chẳng có chút quan trọng nào. Tôi đứng lặng một lúc siết lấy cánh tay cô. Chúng tôi ở đó, cùng nhau, ở cùng một chỗ, vĩnh viễn, và cuộc dạo chơi của chúng tôi ngang qua Auteuil, chúng tôi đã thực hiện trong hàng nghìn hàng nghìn cuộc đời khác. Không cần phải xem đồng hồ đeo tay. Tôi đã biết đang là giữa trưa.

༺༒༻

Chuyện xảy đến vào tháng Mười một. Một thứ Bảy. Cả sáng lẫn chiều, tôi ở phố Argentine để viết về các vùng trung tính. Tôi muốn đắp thêm cho bốn trang giấy, từ đó mà viết ra ít nhất ba mươi trang. Hẳn sẽ giống như một viên tuyết lăn, rồi thì tôi sẽ đến được một trăm trang. Tôi hẹn Louki ở quán Le Condé vào lúc năm giờ. Tôi đã quyết định trong những ngày tới sẽ rời khỏi phố Argentine. Tôi thấy như thể mình đã được chữa lành hoàn toàn khỏi những vết thương thuở nhỏ và hồi niên thiếu và, kể từ nay, chẳng còn lý do nào nữa để trốn chui trốn lủi trong một vùng trung tính.

Tôi bước đi cho đến bến tàu điện ngầm Étoile. Đó là tuyến đường mà chúng tôi vẫn thường đi, Louki và tôi, để tới các cuộc họp của Guy de Vere, tuyến đường mà chúng tôi đã đi bộ lần theo vào buổi đầu tiên. Trong khi đi qua sông Seine, tôi nhận ra là có rất nhiều người dạo chơi trên lối đi Thiên Nga. Đổi tàu ở La Motte- Picquet-Grenelle.

Tôi xuống ở Mabillon, và đưa cái nhìn về phía quán La Pergola, như chúng tôi vẫn luôn luôn làm. Mocellini không ngồi đằng sau ô kính.

Khi tôi bước vào Le Condé, các kim của cái đồng hồ hình tròn trên bức tường trong góc chỉ đúng năm giờ. Thường thì, ở đây, lúc ấy là giờ hoang vắng. Các bàn trống, trừ bàn cạnh cửa, có Zacharias, Annet và Jean-Michel. Cả ba ném về phía tôi những ánh mắt kỳ khôi. Họ không nói gì. Khuôn mặt Zacharias và khuôn mặc Annet bệch ra, hẳn là vì thứ ánh sáng rọi vào từ ô cửa kính. Họ không đáp khi tôi cất lời chào. Họ chăm chăm vào tôi những cái nhìn lạ lùng, như thể tôi đã làm một điều gì đó xấu xa. Môi Jean-Michel mím chặt lại, và tôi cảm thấy anh muốn nói chuyện với tôi. Một con ruồi đậu trên mu bàn tay Zacharias và anh đuổi nó đi bằng một cử chỉ nóng nảy. Rồi anh nhấc cốc lên uống, một hơi cạn luôn. Anh đứng dậy bước về phía tôi. Anh nói với tôi bằng giọng vô hồn: “Louki. Cô ấy đã nhảy qua cửa sổ.”

Tôi sợ mình nhầm đường. Tôi đi theo ngả đại lộ Raspail và phố cắt qua nghĩa trang. Đến cuối đường, tôi không biết nữa mình phải tiếp tục đi thẳng hay theo phố Froidevaux. Tôi theo phố Froidevaux. Kể từ giây phút đó, trong đời tôi đã có một sự vắng mặt, một khoảng trắng, nó không chỉ gây cho tôi cảm giác trống rỗng, mà tôi còn không thể chịu đựng được khi nhìn. Toàn bộ khoảng trắng ấy làm tôi choáng ngợp, một ánh sáng sống, rạng ngời. Và sẽ cứ như chế, cho đến kết cục.

Rất lâu sau, ở Broussais, tôi đang ở trong một phòng chờ. Một người đàn ông trạc ngũ tuần, tóc muối tiêu chải hất ra sau và vận một chiếc măng tô cổ chéo, cũng đang ngồi đợi trên một cái ghế băng, phía bên kia căn phòng. Ngoài ông và tôi, không còn ai khác nữa. Y tá đến bảo với tôi rằng cô đã chết. Ông tiến lại gần chúng tôi như là có liên quan gì. Tôi nghĩ đó là Guy Lavigne, bạn trai của mẹ cô và là người cô đã đến thăm ở Auteuil, tại xưởng ô tô của ông. Tôi hỏi ông:

“Ông là Guy Lavigne?”

Ông lắc đầu.

“Không. Tôi tên là Pierre Caisley.”

Chúng tôi cùng nhau đi ra khỏi Broussais. Trời đã tối. Chúng tôi bước đi cạnh nhau dọc phố Didot.

“Còn anh là Roland, có phải không?”

Tại sao ông lại biết tên tôi? Tôi khó nhọc bước đi. Cái khoảng trắng ấy, cái ánh sáng rạng ngời trước mắt tôi ấy...

“Cô ấy không để lại thư à?” tôi hỏi ông.

“Không. Không gì cả.”

Chính ông là người đã kể cho tôi mọi chuyện. Cô ở trong phòng với một người tên là Jeannette Gaul, biệt danh Đầu Lâu. Nhưng làm thế nào mà ông biết được biệt danh của Jeannette? Cô đi ra ban công. Cô vắt một chân qua lan can. Cô kia cố giữ cô lại bằng cách níu lấy vạt áo ngủ dài của cô. Nhưng đã quá muộn. Cô có đủ thời gian thốt ra vài từ, như thể cô nói với chính mình để tăng lòng can đảm:

“Xong rồi. Để mặc đi.”

༺༒༻

Khu Pigalle nằm ở hữu ngạn còn khu Saint-Germain-des-Prés thì ở tả ngạn sông Seine.

« Lùi
Tiến »