Tôi đau đớn khôn xiết trước thảm họa kinh hoàng. Trong lúc dong ruổi, tôi không có điều kiện ngẫm nghĩ nhiều về bất hạnh lớn lao vừa ụp xuống. Ý nghĩ sắp được trả thù dường như lấn át nỗi đau tê tái, bản thân nhịp ngựa cũng làm dịu bớt tâm tư rối loạn trong tôi. Nhưng giờ đây, khi cuộc truy kích tạm dừng, tôi hồi nhớ những hình ảnh sáng nay và nỗi đau trỗi dậy, xói tới tâm can. Tôi lại thấy thi hài của mẹ, hai tay dang ra như kêu gọi trả thù. Tôi hình dung ra đứa em khốn khổ, mặt mũi tái xanh, nước mắt chan hòa, mái tóc rối tung và ánh mắt u uất não nề thất vọng.
Tôi vô cùng sốt ruột chờ tới hoàng hôn. Tôi có cảm giác như chưa bao giờ vầng lửa trên không biếng nhác và trì trệ thế. Ngồi bó tay trong tâm trạng đau khổ và hừng hực căm thù, tôi muốn phát điên. Quầng lửa tròn đỏ như máu sau lớp sương mù đặc quánh vẫn cố treo mấp mé ngọn cây rừng. Bầu trời sà thấp, giận dữ, tuồng như sao lại tâm trạng của tôi.
Rút cục hoàng hôn, cũng buông. Phút nhập nhoạng kéo dài không lâu, đúng theo qui luật ở vĩ tuyến nam, tuy cá nhân tôi vẫn thấy nó lâu lăng lắc và chậm chạp như sên. Sau phút hoàng hôn bóng tối trùm lên mọi vật. Chúng tôi lên ngựa ra đồng cỏ.
Hai người thợ săn dẫn chúng tôi đi thẳng. Dấu chân bọn cướp tỏa khắp mọi phía, chọn theo dấu này hay dấu khác quả thật không thành vấn đề. Ông lão Hicmen cho rằng “ty tỷ ngả” ấy rốt cục cũng sẽ gom về một chỗ đã định trước. Vì thế theo dấu nào, ngã nào cũng được, dứt khoát chúng tôi sẽ lần tới trại da đỏ. Điều quan trọng nhất lúc này là không để lộ mình. Bóng đêm đã che chở chúng tôi. Chúng tôi qua đồng cỏ mênh mông, âm thầm như những bóng ma, người không nói, ngựa phi nước nhỏ. Dưới chân ngựa cỏ rất mềm, vó ngựa không khua thành tiếng. Chỉ có một điều đáng ngại, đó là sợ khi ngựa bắt mùi bọn cướp, lũ ngựa của chúng tôi bỗng hứng chí hí vang chào đồng loại.
May thay, mối lo ngại của chúng tôi đã không xảy ra. Nửa tiếng sau chúng tôi đã ngậm tăm tiến vào vòm cây tối như bưng của khu rừng bên kia đồng cỏ. Có lẽ đối phương không phát hiện được chúng tôi. Ngay cả khi bọn cướp cắt cử người canh gác ở bìa rừng, chúng cũng không thể nhìn thấy gì trong đêm tối, trừ phi chúng tôi đâm đúng vào chỗ chúng gác. Nhưng cũng rất may, chúng tôi không đụng phải ma nào và tin chắc không bị bọn cướp theo dõi.
Mọi người khẽ thì thầm chúc mừng nhau vượt xavanna an toàn, rồi bàn kế hoạch tiếp theo. Chúng tôi quyết định tiếp tục truy tìm bọn cướp. Cần phải tìm dấu vết của chúng, nhưng trước khi trời sáng thì không có cách gì tìm được. Có lẽ chúng tôi đã ngồi chờ đến sáng, nếu không có một việc cấp thiết phải làm ngay. Số là cả ngựa lẫn người đều khát như cháy cổ. Suốt từ trưa chúng tôi không được một ngụm nước, nhịn khát suốt ngần ấy tiếng đồng hồ trong tiết trời oi nồng Florida quả là khốn khổ không chịu nổi.
Người và ngựa đều khổ sở vì khát. Khát không ngủ được, thậm chí ngồi nghỉ cũng không xong. Dứt khoát phải tìm ra nước uống rồi mới nghỉ. Phải nói thêm là chúng tôi còn đói nữa, vì không mang theo đồ ăn, nhưng đói còn chịu được, chỉ cần có nước là qua được đêm nay. Vì thế chúng tôi quyết định đi tìm nước uống bằng mọi giá.
Trong tình huống khó khăn này kinh nghiệm của hai người thợ săn cá sấu đã giúp chúng tôi nhiều vô kể. Họ đã từng đi săn ở xavanna, từ cái hồi giữa các bộ lạc da đỏ và dân da trắng còn yên bình và thợ săn da trắng còn có thể săn bắn trên đất da đỏ. Ông lão Hicmen và Wezerford nhớ mang máng đâu đó khá gần đây có một cái ao mà đã có lần họ ngồi nghỉ trên bờ. Trời tối đen song họ hi vọng sẽ tìm ra ao đó.
Chúng tôi rồng rắn hàng một, dắt ngựa theo họ. Đêm tối trong rừng chỉ có thể đi như vậy. Hàng quân dài lê thê như một con rắn kỳ dị, uốn éo giữa các thân cây.