Chốc chốc hai người thợ săn dẫn đường lại phân vân ngẫm nghĩ, không biết đi có đúng đường không. Chúng tôi dừng lại chờ họ tính đường đi tiếp. Đôi ba lúc Hicmen và Wezerford phải mò mẫm khá lâu.
Ban ngày đi rừng nhìn vỏ cây có thể dễ dàng xác định hướng, thợ săn nào cũng biết. Nhưng lúc này đang đêm, rừng như tối bưng, không thể quan sát vỏ cây. Tuy nhiên Hicmen khẳng định ông vẫn có thể xác định đúng hướng nam, hướng bắc, và ông lấy tay rờ rờ các thân cây. Ông lần hết cây này sang cây khác, dường như để đảm bảo chắc ăn, Lát sau ông lão nói nhỏ với Jim Wezerford, đầy vẻ sửng sốt:
- Quái thật, Jim. Cây cối xem khác hẳn hồi tớ với cậu đi săn lần chót. Cây không có vỏ, tựa như bị lột ráo cả rồi.
- Vâng, cháu cũng thấy thế. Nhưng cháu nghĩ là ban đêm cảm giác nó vậy.
- Bậy nào, không phải thế! Đúng là vạt cây này có chuyện gì đó. Tôi nhớ những cây thông này mà. Cây nào cây nấy khô róc như đóm, lạ thật. Để coi lá nó xem sao.
Vừa nói, ông lão Hicmen vừa với tay ngắt một cành dài xòa trên đầu.
- Hóa ra vậy Hicmen rờ cành lá kim, nói. - Bây giờ thì rõ rồi. Tại cái bọn giun đất khốn kiếp đấy. Cây chết ráo rồi còn đâu. Làm thế nào bây giờ nhỉ? Bây giờ thì tài tìm ao của tôi cũng chỉ ngang bất kỳ một chú chàng nào trong đội thôi.
Lời thú nhận bất lực của ông lão đầy kinh nghiệm làm chúng tôi ngán ngẩm. Cơn khát mỗi lúc hành một dữ. Khi mất hết hy vọng tìm ra nước người ta càng cảm thấy khát hơn.
- Khoan - Sau một phút trầm ngâm Hicmen reo lên, thúc mạnh gót giày vào sườn ngựa. - Chưa mất hết hy vọng đâu. Nếu tôi không đưa được các cậu đến chỗ có nước thì con ngựa thông minh của tôi sẽ thay tôi... Ê, bà lão, - Hicmen nói với con ngựa già nua, - đi tìm nước cho chúng tao! Tiến! Cố lên đấy nhé!
Ông lão kẹp đầu gối thúc vào sườn ngựa, nới cương. Chúng tôi lại lục tục đi theo, phập phù hy vọng vào bản năng của một sinh linh không biết nói.
Chỉ lát sau đã có dấu hiệu con ngựa thấy mùi nước. Hicmen tuyên bố ngựa của ông biết “đánh hơi nước” hệt như chó săn biết bắt mùi hươu. Con ngựa vươn mõm, chốc chốc lại hít mạnh, chân vẫn bước xăm xăm, như đã nhìn thấy đích.
Chúng tôi ai nấy nhanh nhẹn hẳn, nhưng bất chợt Hicmen giật ngựa đứng sững lại. Tôi bứt lên, hỏi xem có chuyện gì. Ông lão thợ săn im lặng, có lẽ đang suy tính gì đó lung lắm.
- Sao ông dừng lại thế? - Tôi hỏi.
- Tất cả chúng ta phải chờ đây thôi.
- Để làm gì?- Những người khác trờ tới, hỏi.
- Đi thẳng lối này ra nguy hiểm lắm. Không khéo bọn cướp tụ tập ngay bên giếng. Quanh đây không có ao hồ, mà chúng cũng biết khát chứ. Nếu chúng nghe tiếng, lủi ráo vào các bờ bụi, chĩa súng ra thì chúng ta khác gì bò vào hàm cá sấu! Vậy thì quí vị chờ đây cho, để tôi và Jim lên trước xem sao đã. Bây giờ thì rõ rồi - ao nước không còn xa nữa. Nếu không có bọn da đỏ, chúng tôi quay lại, ta sẽ cùng ra lấy nước.
Mọi người tán thành ngay với kế hoạch hết sức khôn ngoan đó. Hai người thợ săn lại xuống ngựa thận trọng lần đi.
Tôi ngỏ ý muốn đi cùng. Họ không phản đối - tai họa quá lớn cho tôi quyền hiển nhiên được đi tiên phong. Tôi giao ngựa cho một người ở lại, theo sát Hicmen và Wezerford.
Chúng tôi đi trên lá thông dày, không một tiếng động nhỏ. Rừng quãng này thưa, cho phép chúng tôi đi khá nhanh. Mươi phút sau chúng tôi đã đi được một đoạn dài. Thế nhưng cả ba bỗng có giác cảm giác bị lạc hướng, và bất ngờ nhìn thấy ánh lửa le lói. Đó là ánh lửa trại.
Hicmen nhận ngay ra lửa trại của bọn cướp da đỏ nghỉ đêm.
Đầu tiên chúng tôi định quay về gọi đồng đội lên trợ sức. Nhưng suy tính kỹ, cả ba quyết định bò đến thật gần xem có đúng đó là trại bọn cướp không.
Chúng tôi bò đi, cố giấu mình trong bóng tối. Bãi trống lửa cháy rừng rực. Hai người thợ săn nhớ chắc chỗ này có một cái ao. Và quả thật, chúng tôi đã nhìn thấy mặt nước lấp loáng ánh lửa.
Chúng tôi bò sát hết mức an toàn cho phép. Bây giờ đã có thể nhìn rõ toàn bộ bãi trống. Lũ ngựa bị cột vào gốc cây, quanh đống lửa người nằm hỗn độn, im phăng phắc. Bọn cướp ngủ say như chết.
Sát đống lửa còn một tên ngồi yên trên lưng ngựa. Có lẽ hắn không ngủ, tuy đầu gục xuống đầu gối. Ánh lửa soi rõ khuôn mặt ngăm ngăm màu đồng hun. Giá hắn không bôi sơn và dải lông chim không xõa xuống, hẳn tôi đã dễ dàng nhận ra nét mặt hắn. Khuôn mặt hắn bôi màu huyết dụ, ba dẻ lông đà điểu to tướng xõa hai bên thái dương, gần như quệt xuống má. Những dẻ lông đà điểu làm tôi nhói đau: tôi biết, đó là vật trang trí găm trên mũ Oskeola.
Tôi căng mắt nhìn thật kỹ. Phía sau đống lửa còn vài tốp người đang ngủ, nói chung gần như toàn bộ bãi trống la liệt người nằm.
Có một tốp chừng ba bốn người, kẻ nằm người ngồi lẫn lộn, làm tôi chú ý. Lá cây che ánh lửa, tôi không thấy rõ mặt, nhưng nhìn những tà váy trắng tôi nhận ra họ là phụ nữ. Chếch xa một chút có hai cô gái đang ngồi riêng biệt, một cô ngả đầu lên gối cô kia.
Tôi nghẹn thở khi nhìn kỹ họ. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là em gái tôi và Viola.