Quá mệt mỏi sau một cuộc hành quân vất vả, đồng đội tôi ngủ thiếp đi. Số canh gác tất nhiên không ngủ. Tôi không sao ngủ được, lòng dạ bồn chồn, hầu như suốt phần đêm còn lại tôi đi đi lại lại quanh ao nước sáng nhờ nhờ giữa bãi trống. Đi lại thế tôi thấy có vẻ vợi đau và bớt bị ám ảnh bởi những ý nghĩ sầu thảm. Tôi tiếc là mình đã không bắn tên cầm đầu bọn cướp, hạ sát nó tại chỗ. Bây giờ con quái vật đã vuột khỏi tay tôi. Hỡi ôi, rất có thể tôi không còn cơ hội cứu em gái nữa…
Nghĩ mà giận hai người thợ săn đã cản tôi lúc đó. Giá biết trước cơ sự thế này có lẽ họ đã không cản tôi. Nhưng hỡi ôi, ai mà ngờ được!
Hai tên tình nguyện vừa nổ súng ban nãy đã trở lại. Hành vi bí ẩn của chúng khiến mọi người nghi ngờ chúng có động cơ mờ ám. Bill và Ned trở lại, bị mọi người tới tấp la ó, chửi rủa. Đội quân phẫn nộ định cho hai phát đạn hất cổ chúng xuống ngựa, và có lẽ họ đã bắn thật nếu hai tên lưu manh không hết lời năn nỉ xin được thanh minh. Chúng giải thích là bị lạc từ trước lúc đơn vị dừng chân nghỉ. Chúng không biết có bọn da đỏ ở ngay đây. Loanh quanh mãi không tìm được đồng đội, chúng đành bắn chỉ thiên báo hiệu, hy vọng chúng tôi sẽ bắn trả lời. Chúng thừa nhận có gặp ba bóng người trong rừng tối, nhưng tưởng bọn cướp da đỏ nên phải cố chạy để tránh đụng độ.
Phần đông anh em trong đội thỏa mãn với lời giải thích đó. Theo họ, không có lý do gì để hai tên vô lại kia cố tình đánh động bọn cướp. Quả thật, có ai ngờ chúng phản bội hèn hạ đến vậy. Tuy nhiên, không phải toàn bộ quân tình nguyện đều thỏa mãn. Ông lão Hicmen thì thầm gì đó với Wezerford, mắt liếc về phía hai tên vô lại:
- Cậu hãy để mắt đến cả hai đứa, Jim! - Đừng có lơ là, chúng nó mưu mô gì đó…
Vì không có chứng cớ rõ ràng để xử tội, mọi người lại nhận chúng vào đội ngũ. Mọi người đi ngủ, Williams và Spens cũng đi nằm cùng họ.
Hai tên khốn kiếp nằm bên bờ ao. Trong lúc đi đi lại lại quanh đó, đôi ba lần tôi qua chỗ chúng. Trong đêm tối tôi vẫn nhìn rõ chúng, hai tên nằm duỗi thẳng chân tay. Tôi nhìn chúng với một cảm giác kỳ lạ, bởi lẽ tôi cũng nghi ngờ như ông lão Hicmen và Wezerford. Dẫu vậy, tôi vẫn không thể nào tin là chúng làm việc đó có chủ đích. Thật khó tưởng tượng được là vì những động cơ hèn hạ nhất, hai tên vô lại kia đã cố ý nổ súng báo cho bọn cướp da đỏ biết có chúng tôi truy đuổi.
Gần nửa đêm trăng mới lên. Trời trong, không một gợn mây. Vầng trăng trườn lên trên những ngọn cây, ánh trăng vằng vặc tràn xuống xối xả.
Ánh trăng bất ngờ làm mọi người tỉnh giấc. Nhiều người tưởng sáng, vội vã lên ngựa, phóng đi. Nhưng nhìn lên trời, họ mới biết bị lầm.
Tiếng động làm những người còn ngủ tỉnh theo. Một số đề nghị lên đường ngay, lợi dụng ánh trăng. Nhiều người ủng hộ ý kiến đó. Riêng ông lão Hicmen cương quyết phản đối. Ông giải thích rằng trong rừng vẫn rất tối, không thể sáng như ngoài bãi trống, làm sao nhận được dấu chân bọn cướp. Tất nhiên, có thể đốt đuốc tìm kiếm, song như thế rất dễ rơi vào ổ phục kích của đối phương. Ngay bản thân việc đi trong đêm trăng cũng đã rất nguy hiểm. Thêm nữa, tình hình không còn an toàn như trước - kẻ thù đã biết có người đuổi theo. Ban đêm, lợi thế nghiêng về kẻ bị truy đuổi hơn so với người truy đuổi, cho dù bọn chúng ít người hơn đi nữa. Bóng tối che chở và tạo điều kiện cho chúng bất ngờ tấn công người đuổi chúng, đồng thời cũng dễ dàng lẩn trốn hơn. Hicmen và Wezerford lập luận rất có lý, không ai bắt bẻ lại được. Chúng tôi quyết định tiếp tục “án binh bất động” cho tới sáng.
Tới giờ đổi gác. Những người đã ngủ dậy trực thay kíp gác mệt rã rời. Số gác trước lăn ra ngủ ngay, hy vọng chợp mắt một hai tiếng lấy lại sức.
Williams và Spens cũng dậy canh gác. Hai tên cùng gác một phía của bãi trống!
Hicmen, Wezerford đã gác trong kíp trước, bây giờ cũng đi ngủ. Tôi nhận thấy họ nằm cách chỗ hai anh bạn quí hóa vừa đổi phiên không xa lắm. Dưới ánh trăng, họ có thể thấy rõ Williams và Spens. Tôi đoán chắc hai người thợ săn không định ngủ, chốc chốc lại liếc nhìn họ. Đôi bạn săn vong niên nằm kề sát đầu nhau, đầu hơi ngóc cao trên mặt cỏ. Dường như họ thì thầm trao đổi gì đó.
Tôi không ngủ, vẫn đi đi lại lại như trước quanh bãi trống. Có chăng, tôi bước lẹ, và trong lòng cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Không biết tôi đã đi được bao nhiêu vòng quanh bờ ao, đi như cái máy. Lúc lâu sau, mệt mỏi cơ bắp đã dần dần lấn át đau khổ tinh thần. Tôi thấy lòng mình dịu lại, những ý nghĩ đau đớn lắng dần.
Tôi biết đó là những giây phút nhẹ nhõm nhất thời, là phút lặng gió giữa hai cơn bão khủng khiếp. Nhưng dầu sao trong những phút giây tạm lắng đó, tôi không bị câm điếc với thế giới chung quanh như lúc nỗi đau đang hành hạ. Tôi bắt đầu chú ý đến xung quanh, trước hết là quan sát địa hình dưới ánh trăng vằng vặc.
Chúng tôi dừng chân giữa rừng trên một bãi trống mà tiếng địa phương vẫn gọi lóng là “ghd”. Bãi đất khá nhỏ, gần như không có một bụi cây, hình tròn, đường kính khoảng chục yard đổ lại. Giữa bãi trống có một ao nhỏ, cũng tròn vo như vậy, và có lẽ là ao đào. Ao sâu chừng ba foot, nước sạch và mát. Dưới trăng, mặt ao lấp lánh như dát bạc.
Bãi trống cỏ mọc xanh rì, mùi hoa dại thơm ngát. Bị lũ ngựa quần xéo, cỏ và hoa càng đưa hương đậm đà hơn.
Bãi trống quả là một bồn cỏ tuyệt vời, vào lúc khác có lẽ tôi đã mặc lòng chiêm ngưỡng. Nhưng lúc này tôi không chú ý đến tranh, mà như người ta thường nói, chỉ quan tâm đến khung viền.
Xung quanh bãi cỏ cây cối viền vừa đúng một hình bán nguyệt, tựa hồ do người trồng chứ không mọc tự nhiên. Phía sau viền cây, trong tầm nhìn thấy rõ, tôi nhận ra rừng thông đuôi ngựa trải dài. Cây mọc đồng cỡ, trừ một vài cây đường kính gốc trội hẳn tới hai foot. Nhưng cây nào cây nấy đều trơ trụi, không lá, không cành. Ban ngày chắc có thể nhìn xuyên qua rừng rất xa, và tuyệt nhiên không có một bụi cây cản mắt.
Thân cây thẳng tắp, tròn trịa như thân cọ. Và có thể lầm là cọ thật, nếu những vòm lá rộng của chúng cuốn thành ngọn hình nón. Tuy nhiên, đây không phải rừng cọ, mà là rừng thông đuôi ngựa, còn có tên là “thông chổi”, một loại cây rất phổ biến ở Florida.
Hẳn tôi đã chẳng để ý đến những thân cây trơ trụi ấy làm gì, nếu không có đôi điều khá khác thường. Lá cây còn sót không có màu xanh thẫm của loài lá kim, mà nâu úa. Lúc đầu tôi cứ ngỡ mình hoa mắt hoặc ánh trăng làm lá đổi màu. Nhưng khi đến gần, tôi thấy lá cây nâu úa thật. Những chùm lá tuy vẫn bám trên cành, song héo quắt, cứng khô. Thêm nữa, thân cây hoàn toàn kiệt nhựa, quắt queo, lớp vỏ như bị lột sạch. Tôi sực nhớ tới nhận xét của Hicmen khi nãy. Ông lão tinh thật: quả thực trước mắt tôi là khu rừng chết. Cả khu rừng đã bị sâu thông ăn ruỗng!