Tiên-sinh ở nước Pháp cùng những người trong xã-hội nhân quyền có quan-hệ mật thiết, có chí muốn liên lạc thành một đảng lớn để giúp việc cải cách trong nước nhà ; rủi đâu có cuộc Âu-chiến, nước Pháp lại chính phải đương đầu, trong nước nhiều điều rắc rối, việc gì cũng đình đốn cả, còn ai nói đến chánh sách thuộc địa nữa. Thiên diên đến mấy năm trời, rút cuộc vẫn chiếm được thắng lợi mà người hao của tốn, làm ngăn trở đến cuộc tiền-đồ cũng nhiều. Trong mấy năm đó tiên-sinh ôm bụng mà rầu, không biết ngỏ cùng ai được.
Cuộc Âu chiến yên, tiên-sinh đã có lòng về nước, nghĩ rằng chất chứa lấy lòng nhiệt huyết, đổ nơi đất người cũng vô ích, mà đem về rưới giữa non sông đất nước, họa có ảnh hưởng đến quốc-dân, có người khởi lên mà nối theo chí mình, thì mình có nhắm mắt cũng yên được. Bèn tới Bộ Thuộc-địa tỏ ý muốn về nước. Ông quan nọ can rằng : « Quan đảng bên Đông-Dương lâu nay xem anh như gai trước mắt, muốn ăn thịt anh, anh về không phải là đem thịt đút miệng cọp sao ? »
Tiên-sinh trả lời rằng : « Miễn ngài không ra tay là được, tôi có cần gì… »
Bộ Thuộc-địa mới gởi thư về bên Đông-Dương nói ý tiên-sinh muốn về nước. Quan trường bên ta nghe tin ấy, như sét đánh ngang đầu, phần nghi phần sợ, cho là một cái vấn-đề to lớn nhất, ngày nào cũng mở hội mật nghị làm phương đối phó, muốn cậy quyền thế bảo hộ, kiếm cách ngăn trở không cho về (có thanh-ngôn rằng tiên-sinh về sẽ truyền-bá chủ-nghĩa cộng-sản ! v.v…)
Năm 1925, tháng… tiên-sinh về Sài-gòn, có ý muốn tịnh dưỡng ít lối, đi khắp nam bắc rồi mới bày bố công việc làm. (đã định dựng nhà in, nhà báo, hội nông, v.v…) song người nước tới thăm đông lắm, mà hoan nghênh nhất là đảng thanh-niên. Tiên sinh biết trong mình chưa được khỏe, và có ý yên lặng để quan sát ít lâu, mà anh em đồng bào tỏ tình ngưỡng mộ vẫn nóng nảy lắm, không thể không đáp cái thạnh tình đó, cũng tỏ cho anh em biết tâm-sự mình, mới tổ chức một cuộc diễn-thuyết, nhân sĩ tới nghe đông lắm, người được nghe lấy làm hân hạnh như được một của báu, mà người được đọc bài diễn-thuyết đó cũng lấy làm hả lòng ; những đám mây mù che đậy bịt bùng mấy mươi năm, được hai trận mát mẻ thoáng qua, gần chừng xua đẩy vỡ tan, bóng sáng vừng đông rọi lại một góc trời, mà không khí một mai đổi khác hẳn. Than ôi ! Nay đọc hai bài diễn-văn của tiên-sinh, diễn tại hội Thanh-niên Sài-gòn, (bài trước nói luân-lý và đạo đức Đông-Tây ; bài sau nói Quân-trị Dân-trị…) mà bộ máy thần kinh không động đậy, sức điểm trong gan óc không phát mạnh ra, có phải dân Việt-Nam đâu ? có phải là dân thanh-niên Việt-Nam đâu ? Nào ai biết hai bài diễn văn đó là hai bài tuyệt bút của tiên-sinh, cũng là bài di chúc của tiên-sinh dặn cho anh em ta lần cuối cùng ! Đau đớn biết chừng nào ! Đáng thương tiếc biết chừng nào !
Tiên-sinh về được vài tháng, ông Sào-Nam cũng bị bắt, được tha về ở Huế, tiên-sinh có ý muốn gặp nhau bàn chuyện, nhưng mà chưa gặp.
Tiên-sinh về Sài-gòn, tai mắt ai cũng châu vào, bọn cừu thù cũng theo dòm ngó, anh em cũng có bụng ngại, thế mà tiên-sinh ứng tiếp hằng ngày, đi chơi khắp chốn, không có chút ngại gì.
Lúc ở bên Pháp được thư nhà, tiên-sinh có nói rằng : « Ta không biết nhà là gì ». Nay về nước, con gái và rể tới ở hầu hạ được ít tháng tiên-sinh cũng bảo về.
Tiên-sinh trước có bệnh đau phổi, nằm nhà thương uống thuốc tây không lành, về đi hứng mát ở Ô-Cấp tiếp bị bệnh đơn nhiệt rồi phát ra cả lợi cả thủng, anh em trong Nam-kỳ hết lòng điều hộ mà cũng không hiệu. Bệnh đã liệt giường, mình như cây củi mà tinh-thần vẫn thanh sáng, không có chút nào là than van yểu lướt như người ta. Trước ngày tắt hơi, anh em tới thăm còn nghe bàn việc nước !
Tiên-sinh sanh năm 1872 (Nhâm-Thân) đến năm 1926, ngày 24 tháng 3 Dương-lịch, hồi 9 giờ tối thì mất ở khách-quán số 54 đường Pellerin Sài-Gòn.
Tin buồn truyền khắp nơi, cả nước sa nước mắt, anh em (nhất là trong Nam-Kỳ) đặt ban hội-đồng trị-sự để coi sóc việc tang, hòm liệm theo một cách trọng thể, phó cáo cả các nơi, trên từ hội học hãng buôn, dưới đến phu xe bồi bếp đều đến phúng điếu, để tang, hoặc gởi thư đánh dây thép chia buồn. Người Tây, người Miên, người Chàm cũng có tới điếu ; còn các nơi đô hội cũng nhiều chỗ làm lễ truy-điệu nữa. Ngày 4 tháng 4, táng tại nghĩa-địa Gò-Công ở làng Tân-sơn-Nhứt, tỉnh Gia-Định.
Phu-nhân họ Lê, người làng An-Sơn, con nhà vọng-tộc, có đức hiền lành. Lúc tiên-sinh ở Côn-Lôn về Mỹ-Tho có vào thăm, ở năm mươi ngày rồi về, bị bệnh mất. Con trai là Dật, đi với tiên-sinh sang Tây-học, rủi có bệnh, tiên-sinh cho về trước, đặng mấy tháng, mất tại nhà thương Huế. Hiện hai người con gái, lớn Á-Liên, gả cho ông Lê-Ấm người huyện Quế-Sơn, làng Gia-Cát, đang làm Đốc-học trường Quốc-tử-Giám ; thứ Á-Lan, gả cho Nguyễn-đồng-Hợi, người Phủ Điện-bàn, làng La-Kham, đang làm Tham-tá (Agent-technique), anh em định lập nhà tự mua tự-điền cấp cho cháu (kêu bằng chú) phụng tự. 10