Chính-thể chuyên-chế tầng tầng đè nén nhau, nên trong quan-trường đặt ra vô số giai-cấp. Kinh-đô Huế chính một nơi thế lực to lớn trong đám quan-trường, nên bọn cầu danh cầu lợi, thường phải sa chưn tại đó. Cái mục đích có một không hai của bọn đó là : Khéo chìu quan trên cho đặng danh dự, chực ngày thăng trật đặng làm quan to. Vì thế nên những người ngày nay vếch đốc ngồi cao, an nhiên chịu người ta dùa hót mình mà không lấy làm lạ đó, đó tức là những người ngày trước đã từng lòn gối cúi đầu dùa hót người ta mà không biết xấu vậy. Một thói giả dối tập lâu thành quen, trừ ra chuyện làm quan và lo làm quan, không còn có việc gì nữa. Thỉnh thoảng cũng có một đôi người đang lúc ban đầu, còn biết quý sỉ, mà vào trong ít lâu, lòng hoạn đắc hoạn thất, nước sữa hòa lẫn nhau, những tính khí gốc ngày trước hóa ra tròn cả ! Cho nên Kinh-đô chính là một cái lò lớn, đúc ra tính-chất thứ hai người ta đó, thế mà không lấy điều đó mà luật Phan tiên-sinh được.
Lệ thường, đỗ đại khoa ra Kinh, bắt đầu đã bổ Viện Hàm (Hàn-Lâm, Biên-Tu, Kiềm Thảo, Trước-Tác, v.v…) làm thuộc viên trong các bộ đặng học tập chính-sự, hoặc một năm, hoặc hai năm chẳng hạn, rồi bổ ra làm Tri-phủ, Tri-huyện, v.v… Một anh học trò nhà quê được một thanh chức như thế, thanh giá biết chừng nào !
« Việc quan đã thong thả, không chức trách gì, mà lợi bỗng đến tháng thì cấp, trật đủ năm thăng, cái hạnh phúc cao xa tứ mã, vinh thân phì gia ngày sau đã thấy rõ tới trước mặt. Ai được cái địa vị như thế, mà không lo hai tay ôm chặt, sợ rủi ro mà sẩy đi lom khom nhòm nhém cho qua ngày, khăn áo cho đẹp, da mặt cho trơn, ngực đeo thẻ bài ngà, chưn mang đôi giày hạ, vác mặt tự đắc mà khoe với người ta rằng : « Cụ lớn yêu tôi ! Cụ lớn yêu tôi ! » Thứ Hàn-lâm chúng ta thuở nay chỉ trà cho ngon là đủ việc nước quách thây, can chi mình mà nói cho mệt ! »
Ấy, thói thường liêu-thuộc ở Kinh như thế. Song tiên-sinh thì khác hẳn :
Đầu hết phải sang trường Quốc-học, học chữ tây với bạn đồng bảng, tiên-sinh lấy cớ lớn tuổi, không chịu học, quan Đốc trả về bên Bộ, mới bổ chức Thừa-Biện Bộ Lễ. Lúc đầu tiên-sinh cũng vào ra với bọn liêu thuộc, nghĩ rằng chắc có công việc hằng ngày phải làm ; ít lâu biết rằng không có việc gì, chẳng qua là đường tắt núi Chung-Nam 2 ở giữa chốn Kinh-đô, không lấy gì làm điều nữa : câu cá đánh chim, thích đâu đi đó, không khác gì lúc ở nhà thường ; có khi vài tháng không tới Bộ. Ông Thượng Bộ Lễ (Cụ Lê-Trinh) cười mà bảo người ta rằng : « Bộ tôi có một anh Thừa-biện mà cả năm tôi không thấy mặt », là lời nói thật đó !
Một người thích thảng như tiên-sinh, mà lọt vào trong một đám bó buộc như vậy, những điều tiếp xúc đã không chịu được, gia dĩ mắt thấy cuộc đời lòng lo việc nước, thường sinh lòng bực tức, thỉnh thoảng lại thổ lộ ra bề ngoài, người ta cười rằng : « Việc Triều-đình thì đã có Công-hầu Khanh-tướng, một tên Thừa-biện nhỏ mọn mà dám cả gan nói đến việc nước, không phải là người điên hay sao ? » Tiên-sinh nghe thế, chỉ cười ngầm mà thôi, lại càng ham bàn việc đời ; đương khi giữa đám đông người, nói to la lớn, không kiêng kỵ gì, như trước mắt không có ai cả ! Những người nghe nói, nhắm mắt le lưỡi, có kẻ sợ mà lén trở đi, không dám ngồi nghe cho hết lời.
Đương khoản mấy năm đó, người nước Tàu đã trải qua một cuộc Trung-Nhật chiến tranh (1894), đã hơi tỉnh dậy, lại tiếp đến cuộc Mậu-Tuất chính biến, Canh-Tý liên binh, sách mới, báo mới xuất hiện đã tràn qua nước ta, mà ảnh hưởng nhất là sách của Khang-hữu-Vi cùng Lương-khải-Siêu, vì sách ấy nói dân-quyền tự-do, phát minh được chân tướng văn minh Âu-Tây nhiều. Tiên-sinh thường qua lại với ông Thân-trọng-Huề 3 , Đào-nguyên-Phổ 4 mượn sách ấy xem, trong lòng ham thích quên ngủ, quên ăn, từ đó trong tư tưởng đổi hẳn ra một cách mới mẻ.
Tiên-sinh đởm thức hơn người, lại giàu đường huyết tánh, từ tuổi nhỏ đi học đã để con mắt xem đời mà chứa sẵn một lòng yêu nước. Song khốn vì ở trong nhà quê, chung quanh rành những xã hội hủ bại, bình sanh được thấy, chỉ toàn một lớp tuồng đảng Cần-vương mà thôi. Nghe thấy đã hẹp hòi, lịch duyệt cũng chưa rộng, nhiều khi cảm xúc mà không bởi đâu mở mang ra, cho việc đời là không làm gì được (Thời sự vô khả vi), trong lòng uất ức thường làm ra thi văn để tỏ ý mình :
« Thôi cũng cùng đường xem cuộc thế.
Có đâu dư bụng chứa tuồng đời ».
(Chỉ hợp đáo đầu quan sự thế,
Diệc ưng mãn đổ trử thời nghi).
« Giông mây cuộc thế xoay sao được.
Đèn sách công phu trả chưa xong ».
(Vân lôi thời tiết tri hà bổ,
Đăng hỏa công phu vị thiếu thù).
« Lẽ giống da vàng đành lấp đất,
Chán phường áo trắng lại lo trời ».
(Vị ưng thử địa mai huỳnh chủng,
Kỳ nại ưu thời tận bạch y).
v.v…
Ở Kinh hai năm, về học thức lịch duyệt, tiên-sinh đã tăng lên bội phần, mà đắc lực nhất có hai điều nầy :
1) Kinh đô là một nơi trung tâm điểm học thuật chính trị nước ta, mà cũng một nơi đô hội, hội hiệp cả sĩ-phu trong nước. Tiên-sinh ở đây để lòng xem xét chính giáo mình hủ bại ra thế nọ, sĩ phu mình liệt nhược ra thế kia ; cái nguồn gốc hư hỏng nước mình là tại đó. Thấy được rõ ràng, biết hẳn rằng công việc cải cách to lớn, không trông mong vào một bọn danh lợi cùng lão hủ đó được. Những điều chiêm bao lăng miếu Triều-đình ngày xưa không còn giấy dính trong óc chút nào, ấy là một.
2) Người Pháp sang ta đã hơn năm mươi năm, mà sĩ phu trong nước không biết Tây học là gì ; cho đến độ nầy người Tàu đem học thuyết Âu-Tây dịch ra làm sách, làm báo để truyền bá mà tỉnh thức người nước. Tiên sinh được học thuyết đó như một trận gió mát thấu vào trong óc, thổi sạch cả những đám mây mù che đậy thuở nay, là hai.
Từ đó học thức tiên-sinh tấn tới một bước dài, mà tấm lòng nhiệt thành ái quốc cũng cao thêm lên mấy độ nữa. Ngày trước cho là « Thời sự vô khả vi », nay trong lòng và trước con mắt thấy rõ ràng có một đàng, mà phương châm hạ-thủ làm thế nào cũng từ đó mà nhất định.
Tiên-sinh thường nói rằng : « Cái độc chuyên-chế cùng cái hủ nhà nho ta, đã thành chứng bệnh bất trị, mà học thuyết tự-do dân quyền Âu-Tây chính là vị thuốc đắng dã chữa bệnh đó. Ngày trước người mình cứ thấy đầu trị đầu, thấy chưn trị chưn, thuốc không nhằm bệnh, nên không hiệu là phải ».
Chí hướng đã định rồi, xảy có cuộc Nga-Nhật chiến tranh (1904), phong triều giục đến tận nơi, tiên sinh không thể ngồi yên được.