Tiên-sinh họ Phan, tên Châu-Trinh, tự Tử-Cán, hiệu Tây-Hồ, biệt hiệu Hy-Mã, quê ở làng Tây-Lộc, huyện Tiên-Phước, phủ Tam-Kỳ (trước là huyện Hà-Đông, phủ Thăng-Bình), thuộc tỉnh Quảng-Nam (nay xã Phước-Long, Quận Tiên-Phước). Gia thế là một nhà vọng-tộc trong huyện.
Ông bà tổ (người ta gọi là ông Điền, bà Điền), nhà giàu mà tánh hào, thường hay giúp kẻ nghèo khó, có tiếng nhân đức, xa gần đều biết. Ông thân-sinh tên là Bình, học trò thi, quyền Bá-hộ, làm Quản-Cơ Sơn-phòng, tán tài kiết khách, thanh gươm yên ngựa, có chí muốn lập công danh. Mẹ họ Lê, con nhà danh tộc làng Phú-Lâm, có đức hiền lành, sinh ba người con trai, lớn Phan-Văn-Cư, thứ Phan-Văn Uyển, tiên-sinh là con thứ ba, sinh năm 1872 (Tự-Đức Nhâm-Thân).
Tiên-sinh buổi nhỏ mất mẹ, đang thời-kỳ ấu-học, gặp khoảng nhà nước nhiều việc ; Nam-kỳ đã cắt làm nhượng-địa, Bắc-kỳ cũng mở làm phụ-đầu, mà trong xứ, vùng Hàn-Hải, Trà-Sơn, hàng ngày thường nghe tiếng súng (dân gian có câu ca dao rằng : « Tai nghe tiếng nổ cái đùng, tàu Tây đã đến vũng thùng anh ơi ! ») Trên Triều-đình thì nội chánh lôi thôi, ngoại-giao rắc rối, đánh đã không xong, hòa cũng không được, kế đã cùng rồi ; tiếp đến nạn năm Ất-Dậu (1885). Kinh-thành Huế thất thủ, Vua Hàm-Nghi phải chạy trốn, mà việc nước hỏng cả, không còn chuyện gì nói được nữa. Tiên-sinh nhỏ mà thông-minh, ông Cụ đi đâu thường hay đem theo. Lúc đó hội Cần-vương khắp cả trong nước, mà ông Cụ cũng người trong hội ấy, thường ở Đồn kim-khoáng A-Bá (ở miền nguồn huyện Tiên-Phước), tiên-sinh mới 14 tuổi, bỏ học đi theo, thường đi săn bắn trong núi, tập việc cung mã.
Năm 1887 (Đồng-Khánh Đinh-Hợi), ông Cụ bị nạn, hội Cần vương trong tỉnh cũng tan, tiên-sinh mới về nhà thì đã 16 tuổi rồi. Huyết-thống di-truyền cùng gia-đình giáo-dục, đã nắn sẵn một cái đặc tính vì nước quên nhà từ lúc nhỏ.
Cái học khoa-cử ở nước ta, đã thành ra không khí cha dạy con, thầy bảo trò, anh em bạn khuyên nhau, gần như trong đời không có việc thứ hai nữa ; cho đến nỗi nhà nước suy mòn, giống nòi tan tác, mà sĩ-phu trong nước cứ say mê trong vực ấy mà không tỉnh dậy. Tập tục xoay người, dầu cho người hiền-hào cũng không tránh khỏi. Ở trong không khí như vậy, ít nhiều sao cũng có lụy, tiên-sinh chất đã thông minh, chí lại sâu sắc, hạ xuống mà làm nghề ấy, tuy tuổi lớn mới học, mà học ít hiểu nhiều, đọc sách có con mắt riêng, làm văn tạo xuất cách mới, không làm những lối tìm câu lặt chữ, vẽ bóng pha màu như bọn văn-sĩ xằng.
(Tiên-sinh thích học sách Luận-ngữ, Mạnh-tử, cùng các món Sử, Kinh-Thi, Thơ, Xuân-Thu có xem đến, còn kinh khác thì không thèm để mắt vào). Bất kỳ đề-mục gì, vào đến tay tiên-sinh thì sao cũng mở ra một lối mới để tỏ ý bi-ca khẳng-khái của mình, cử-nghiệp là một nghề thừa đó thôi, song cũng cách xa bọn « học con sáo » nọ xa lắm.
Từ khi ở núi về, nhà cửa cháy nát, chẳng còn chút gì. Người anh cả sửa sang chỉnh đốn, rước thầy về nhà cho tiên-sinh bắt đầu học lại. Học trong nhà hơn bốn năm (thầy dạy đầu tiên là Bùi-Giám, một người túc-nho trong làng) mới ra du học các nơi (Trường ông Cử An-Tráng, ông Huấn Lộc-Sơn, ông Giáo Lương-Sơn, ông Nghè Xuân-Đài, xem ở niên-biểu). Tới đâu nổi tiếng đó, những kẻ thức-giả ai cũng cho là một tay hào-kiệt. Năm 1899 Kỷ-Hợi, cụ Đốc Trần Mã-Sơn bổ vào Học sinh ở trong tỉnh ; năm 1900 (Canh-Tý) đỗ Cử-nhân thứ ba ; năm 1901 Tân-Sửu đỗ Phó-bảng, lúc đó tiên-sinh đúng 30 tuổi.