Tôi chưa bao giờ kể về “chuyến tàu bão táp” này với ai. Nó làm tôi xấu hổ, xấu cả hình ảnh anh bộ đội nữa. Nhưng qua bốn nhăm năm rồi tôi cũng thấy đỡ ngại và còn lý do nữa, kể ra biết đâu lại gặp lại ân nhân. Xin nhấn mạnh chút hình ảnh cô ấy trong tôi là bóng chị, bóng mẹ, bóng Thiên thần…
Sau Giải phóng hình ảnh quen thuộc là từng đoàn quân từ Nam ra Bắc. Balo giắt búp bê, khăn mặt lau mồ hôi và khung xe đạp. Nhiều lắm quen lắm, nhưng đó là con số rất nhỏ. Phần lớn chúng tôi cả năm sau mới đến lượt, bộn bề công việc sau Giải phóng và không có phương tiện để ra Bắc nữa.
Tết Hòa bình đầu tiên nơi căn cứ Đồng Dù. “Em chỉ muốn về với mẹ”… anh bộ đội tôi hiện nguyên hình là thằng em hai mươi tuổi, vùng vằng như vậy với người anh Chính trị viên đã cùng ra sống vào chết và nhận được cái vằn mắt dữ tợn: “Mày có tin tao tát chết mày không”… im thít.
Một năm nữa trôi qua.
Đón Xuân 1977, lúc này đơn vị đóng ở Nha Trang. Không chút không khí Tết nào trong tôi, trong tôi như chưa có Hòa bình, nắng nóng và mùi bom đạn vẫn còn chắc làm ông Táo cưỡi cá chép đi sớm, ngày 23 Tết buồn hiu hắt. Gần bốn năm trong Tây Nguyên không lá thư cho mẹ, lá thư vừa gửi là Tết này con chẳng về đâu. Không dám tưởng tượng mẹ đọc sẽ thế nào nữa.
“Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm”… sân bóng vắng tanh một mình tôi lén rên rỉ, cán bộ chính trị mà hát nhạc vàng, tôi thật có lỗi, nhưng tôi nhịn không nổi nữa rồi. Giật mình cậu liên lạc chạy ra: “Báo cáo Thủ trưởng có điện của Trung đoàn”. Cầm ống nghe tôi không tin vào tai mình nữa, Chính uỷ gọi lên lấy giấy nghỉ phép, ân cần dặn đi sớm cho kịp tàu.
Như một cơn gió, bàn giao công việc cho Chính trị viên phó, cậu liên lạc lên Tài vụ ứng hai tháng lương được tròn một trăm năm mươi đồng. Đút vội cả bao súng ngắn (súng bất ly thân) vào balo, ra cổng căn cứ nhảy lên xe ôm xuống chợ. Mua bộ quần áo cho bố cho mẹ, cái khung xe đạp inox cho anh trai rồi thẳng tiến ga Nha Trang. Không kịp cả thở nữa… lao vào phòng bán vé. Hết vé.
Thoáng trong đầu chút hy vọng, giở balo lấy súng ra đeo, vuốt quần áo gọn gàng, tôi vào phòng trưởng ga. Trong chiến trường chúng tôi toàn là Binh nhì, cấp trên hy sinh là lên thay ngay trên trận địa, hòa bình mới biết đến hàm Sĩ quan. Và đây là lần đầu tiên tôi dùng “hình thức”. Đưa giấy phép cộng hết vốn liếng của một Chính trị viên Đại đội, câu trả lời tôi nhận được là… “nguyên tắc, đồng chí thông cảm”. Bước chân loạng choạng, ngồi trên chiếc ghế nhà ga tôi úp mặt vào balo… khóc thật.
Cái vỗ vai thật nhẹ làm tôi giật thót tim: “Tàu sắp chạy sao anh chưa ra ga”? Giọng con gái, đang bực mặc kệ chả thèm nhìn, “hết vé” tôi trả lời gọn lỏn, chả buồn lau nước mắt ngước lên, một ánh nhìn ái ngại: “Anh đi với em, nhận là người nhà nhé”. Tỉnh như sáo tôi bước theo mong manh hy vọng, qua cậu soát vé lằng nhằng chút tôi đã được lên tàu. Cô gái đưa tôi ra đầu toa: “Anh chịu khó ngồi đây, ai hỏi anh nói người nhà của Giang nhé”!
Ôi mắt tôi đã sáng hẳn, tôi như thấy mình ngồi trong Thiên đường. Giang là cái tên đẹp vô cùng và Thiên thần ấy là đẹp nhất với chiếc mũ capi, thon thả duyên dáng với chiếc vali nhỏ, cô vào phòng trưởng toa.
Cất súng vào balo, tháo quân hàm (Trung uý gì mà ngồi đầu toa chứ). Bóng mẹ già và mái nhà tranh hiện lên mờ ảo… nhưng tôi chẳng mơ được lâu.
Tàu chạy hai mươi phút thì anh trưởng tàu đi qua. Thấy tôi anh lịch sự xin kiểm tra vé. Trình bày… và lại nguyên tắc: “Đến ga Tuy Hòa mời đồng chí xuống”. Thất vọng thật nhiều tôi thoáng nghĩ: “Sao ở cửa mở trận Đồng Dù, nơi rất nhiều đồng đội tôi nằm xuống không bán vé nhỉ”? Chuyên làm công tác chính trị, tinh thần cho bộ đội mà tôi không làm chính trị cho tôi được rồi.
Cố gạt ý nghĩ tiêu cực, sắp tới ga Tuy Hòa, tôi lặng lẽ xỏ đôi giầy Côsơgin to tướng để xuống tàu thì Giang nhẹ nhàng mà cương quyết: “Anh cứ ngồi đây, có gì em chịu hết”. Và tôi tuân theo mệnh lệnh ngọt ngào ấy.
Đêm đầu tiên trên tàu không dám ngủ, sợ mất đồ nhất là khẩu súng, và cảm giác chui lủi. Mờ sáng, lại tiếng nói êm dịu: “Anh vào phòng em ngủ đi, ban ngày em không ngủ đâu”. Ôi tôi ngại… “Chấp hành mệnh lệnh đi anh, kỷ luật đấy”, và nụ cười hồn hậu.
Phòng trưởng toa, một mùi thơm lạ, cái giường nhỏ xíu, chiếc gối trắng tinh, tôi ngần ngại nghĩ tới cái đầu mình cả đêm nhuộm khói hơi than từ đầu tàu xả ra bay xuống (ngày đó còn chạy tàu bằng đầu than), thì cơn buồn ngủ ập đến, chỉ kịp cất chiếc gối của em lên gác, gối đầu lên chiếc ba lô, là giấc ngủ ngon lành kéo đến, rồi suốt bốn ngày đêm trên tàu cứ trở thành quy luật.
Tôi đã biết Giang kém tuổi và tự tin xưng là anh chứ chẳng dám nói chuyện gì khi tủi thân ngồi đầu tàu như… “thằng ăn mày”. Tàu vào ga Nam Định, em xuống rồi trở về đưa cho tôi chiếc vé Nam Định - Hà Nội: “Anh cầm lấy ra ga, không lại bị phạt hết tiền cho người yêu đấy”! Trời, đây là nỗi lo của tôi suốt mấy ngày nay, không có vé vừa bị phạt tiền vừa xấu mặt anh bộ đội. Tôi cầm tấm vé mà thấy mình như đứa trẻ được chị cho kẹo, luống cuống rút tiền trả em. “Anh cất tiền đi, đây là lệnh đấy”, lại chấp hành mà nghe khoé mắt cay cay.
Từ ga Nam Định, tôi mới có chỗ ngồi và mới dám chuyện trò với Giang. Mới biết sự khó chịu mà trưởng tàu dành cho tôi có một lý do là anh mến Giang nhưng em không đáp lại.
Phòng trưởng toa bé xíu, cánh cửa khép hờ đung đưa theo nhịp tàu lúc đóng lúc mở, ngồi bên em tin cậy mà tôi bối rối. Tôi thật thà kể về tình yêu với Phương, cô Thanh niên Xung phong trong Trường Sơn mà kế hoạch là Tết này sẽ tìm nhau cùng lời hẹn ước. Ánh nhìn sâu thẳm: “Em chúc anh chị gặp nhau xuân này và hạnh phúc”. Cảm ơn em, mong ước lắm Thiên thần của tôi, Giang sẽ có được người bạn đời tuyệt vời nhất.
Tôi còn biết chuyện buồn của gia đình em, người anh trai nhập ngũ năm 1971 mà tin về duy nhất là giấy báo tử năm 1973. Chỉ biết nghẹn lời: “Chiến tranh em ạ”, tôi nắm chặt tay em, tay em ấm quá.
Xuống tàu, dưới chiếc gối xinh xắn của Giang tôi không dám để tiền trả em, phụ lòng em là kỷ luật quá lớn. Tôi vuốt phẳng và đặt dưới gối chiếc lược khắc hình đôi chim bồ câu. Khát vọng Hòa bình. Tác phẩm mà bàn tay “thợ” của tôi (đồng đội khen thế) mất cả tháng tỉ mỉ mới hoàn thành từ cái vỏ nhôm bom bi quả dứa thằng C130 thả xuống rất nhiều ở Trường Sơn, cầu kỳ lắm Giang biết không? Và chỉ có hai cái, một tặng Phương và một định đem về cho mẹ, nay gửi dưới gối cho Giang đấy.
Trời Hà Nội đón tôi bằng cái lạnh thấu xương. Bồi hồi sắp về với mẹ bồi hồi chia tay em. Tôi và Giang ngồi bên nhau bên chén chè Thái. Ấm áp biết ơn em. Chưa hết, em đưa tôi chiếc vé cứng Sài gòn - Hà nội đã bấm lỗ để tôi về thanh toán. Chẳng biết nói gì, nhìn mãi bóng em khuất vào ga với lời hẹn gặp lại khi trả phép.
Tôi không ngờ đến nay chưa có ngày ấy. Trả phép tôi xuống Hà Nội trước ba ngày mà không mua được vé tàu TN2 của em. Rồi chiến tranh Tây Nam gọi tôi, rồi bộn bề cuộc sống…
Để em mãi trong tôi tuổi mười chín rạng ngời tươi trẻ mà cuộc gặp gỡ như món quà số phận. Mãi là bóng chị, bóng mẹ, bóng Thiên thần bao bọc tôi.
30/9/2021