Phong Lan Mỉm Cười

Lượt đọc: 977 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vừa đi vừa lớn

“Mười bảy tuổi hành quân dọc Trường Sơn

Dép rộng rút quai, quần dài xắn ống

Những người lính vừa đi vừa lớn…”

Câu thơ của nhà thơ nào đó như riêng viết cho tôi.

Toàn đi đêm. Màn đêm là đồng minh của tôi, muốn khóc thì khóc không phải giấu giếm thằng nào cả. Ba trăm viên đạn chỉ “cán bộ” mới vinh dự được nhận giữ, phải để hai anh Tam tam mang hộ. Ấm ức vì mình không khỏe bằng chúng nó, ấm ức vì ba lần cán bộ đề xuất gửi tôi lại trạm nghỉ.

Nhớ lời anh Đại đội trưởng huấn luyện: “Em chưa đủ sức khỏe cho những ngày sắp tới đâu”. Vừa thấy anh đúng, lại vừa cố chứng minh lựa chọn của mình đúng. Đêm hành quân nào cũng là sự cố gắng đến tận cùng.

Các khẩu lệnh luôn được truyền từ đầu hàng quân xuống: chuẩn bị leo dốc, qua cầu, vực sâu, đường khó đi… để mà đi chậm lại chứ cả hàng quân dài như vô tận ấy mà bất ngờ dồn lại thì có mà nguy hiểm. Và khi lặng ngắt là tôi… ngủ, chân thì bước mà mắt ngủ rồi. Chả thế mà hôm ấy húc mặt vào đầu nòng súng thằng Bình đi trước khi nó dừng lại truyền lệnh: “bên trái có Hổ”. Trời, xoa cục u trên trán mà nghe rụng rời, có Hổ sao? Thì ra là một hố bom to tướng cắt con đường mòn bên triền núi chênh vênh. Chắc ông kễnh nào cũng đang ngủ giật mình nghe thành Hổ. Vừa đau vừa mệt mà vẫn phải cười.

Nếu gọi nhà tù Côn Đảo là trường Đại học của các chiến sĩ Cách mạng thì vượt Trường Sơn là trường Đại học của lính chúng tôi. Giờ tôi chẳng sợ bị gửi lại giữa đường nữa, đã qua hai tháng hành quân rồi.

Lũ Tân binh không còn ngơ ngác. Mà không dày dạn sao được với sự chăm lo chu đáo của quân đội. Sĩ quan huấn luyện đưa chúng tôi đi, Giao liên các trạm dẫn đường. Vào trạm do Thủ trưởng trạm chỉ huy, các chị Thanh niên Xung phong chỉ dẫn chu đáo. Nhìn các anh các chị coi Trường Sơn như nhà mà kính phục.

Cứ khoảng bảy đêm hành quân là nghỉ một ngày đêm. Ở trạm này chúng tôi có một ngày nghỉ. Nghe nói mai là trạm cuối. Tranh thủ giặt quân trang đã tám ngày chưa thay.

Trường Sơn hùng vĩ trong trang sách nay tôi đến, tự hào đi trong đoàn quân trùng trùng điệp điệp. In dấu trong cánh rừng bạt ngàn ấy là những thân cây chằng chịt nét khắc họ tên địa chỉ bao lớp người qua.

Chiều nay mệt lắm tôi vẫn cố cùng các anh đi thăm đường ô tô Trường Sơn huyền thoại. Lần cuối, các anh bảo thế, qua rồi không quay lại nữa đâu. Ngắm đường xe chạy ngoằn ngoèo theo triền núi mới thấy được sức cha anh cống hiến, gian khổ làm đường, sửa đường. Tất cả về đêm. Những gương mặt hốc hác thiếu ngủ, sạm đen khói bom, thâm tái sốt rét. Các anh lái xe, các chị Thanh niên Xung phong, và Thương binh từ mặt trận trở về… chẳng quen biết mà như một nhà, rộn rã những cánh võng trải khắp rừng.

Gặp đoàn xe ô tô đi sớm đang chờ qua ngầm. Lạ là trên barxoc xe nào cũng có hai cây gỗ nhỏ được gia cố vững chắc đỡ những bó nứa, trông rất cồng kềnh. Tay bắt mặt mừng các anh hỏi thăm đổi thay trên đất Bắc quê hương, tôi đem thắc mắc việc những bó nứa trên nóc ca bin ra hỏi, đôi mắt anh lái xe sáng ánh tự hào: “Lá chắn mảnh bom, cả đạn 20ly của xe đấy”! Đó là sáng kiến của Anh Hùng Quân Đội lái xe Nguyễn Quang Hạnh. Bất ngờ sau này tôi mới biết người Anh hùng ấy là con chú ruột mình.

Chuyện phong Anh Hùng cho Nguyễn Quang Hạnh cũng khiến người ta tâm phục. Trên chiến trường xe chạy đêm chỉ dùng đèn gầm với quầng sáng mờ… Đêm ấy đoàn xe anh bị hai chiếc C130 đuổi bắn. Trong rừng khộp cây rất thưa. Anh bật đèn pha sáng trưng thu hút, liều lĩnh chạy lắt léo trong rừng. Máy bay địch đuổi theo, xa đoàn xe chừng một kilomet anh tắt đèn chui xuống gầm xe. Lạ là xe và người đều không sao, trở về anh là Anh Hùng. Câu chuyện nơi sống chết cận kề mà nhẹ như hơi thở.

“Lính Tây Nguyên không dùng giầy đâu, chăn thì chiến lợi phẩm có đầy”, các anh thương binh đang trên đường ra Bắc nói thế. Và thế là chăn và giầy được “sang tay” cho những cô gái Lào, trang phục mềm mại như người Thái, cô nào cũng trắng và xinh. Đổi về là gà, là rau… Cuộc trao đổi thật thú vị mà giá cả là ngọt ngào câu nói, thích thì đổi thôi.

Cảm động khi anh An y tá hì hục bắc bếp, khéo léo để không lộ khói, nấu nồi cháo gà cho tôi. Đang nấu thì có tiếng máy bay, thằng OV10 vòng qua rình mò phá đám, anh vội vàng tắt lửa và nồi cháo nấu dở ấy là thứ ngon nhất trên đời, làm tôi chảy nước mắt.

Ngày nghỉ qua thật nhanh. Sáng mai là đích rồi. Chắc là nhiều bất ngờ chờ đón. Thú thực sau trận ốm bắt đầu vào rừng, giờ đây tôi mới thấy mình khỏe hẳn. Đem cái kèn Acmonica ra thổi, trên đường tôi đã bỏ lại tất cả những gì có thể trừ cây kèn này, bâng khuâng nỗi nhớ, tôi ngủ thật ngon.

06/9/2021

BÀ ĐẺ

Không nhịn nổi cười nhớ lại chặng cuối hành quân đến Tây Nguyên. Đi đêm nhưng lúc này trời đã sáng để nhìn rõ những bước đi lò dò như bà đẻ, tất xỏ trong dép cao su, cứ thằng đi sau nhìn thằng đi trước mà cười. Đất bazan trơn thôi rồi.

Đấy là may có Voi ké là tôi đấy, được một anh Thương binh trên đường ra Bắc truyền cho kinh nghiệm đi tất chống trơn trượt. Chứ không tưởng phải bò mà đi.

Đoàn Tân binh chúng tôi, tự hào chi viện cho chiến trường Miền Nam đã đi hai tháng mười một ngày. Tại trạm phía nam KonTum, được nghỉ hai ngày. Thế mới có cả một ngày gặp gỡ các anh lái xe, các chị Thanh niên Xung phong sửa đường, các anh Thương binh nặng trên đường ra Bắc… Câu chuyện luôn là câu hỏi sự đổi thay của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, và bao kinh nghiệm chiến trường các anh chị truyền lại cho chúng tôi. Đêm mai là đích đến Đắc Lắc.

Hôm sau Trạm giao liên vui nhộn hẳn lên khi một Trung đội Thanh niên Xung phong, các chị ra tăng cường cho tuyến ngoài dạo này bom Mỹ ác liệt quá. Sau mới biết Mỹ đánh quyết liệt để giành lợi thế trước Hiệp định sắp ký kết. Nhìn các chị đã mấy năm trên Trường Sơn mắc tăng võng “nhà nghề” mà thán phục. Tuổi hai mươi mắt môi xám ngắt, tóc ngắn cũn vàng hoe mà hồn nhiên rộn rã góc rừng.

Qua ngày nghỉ nên chúng tôi đều tươm tất sạch sẽ, may thế. Đang nằm khoèo trong võng ngáy o o mà các anh bật dậy hết. Nằm gọn lỏn trong võng ôm cái kèn Acmonica tôi nhìn thằng Bình đổ chút nước trong bi đông ra vuốt tóc mà phát ghét. Nó lôi tôi dậy đệm kèn cho nó hát “Cô gái mở đường”. Cả Đại đội dậy hết vây quanh buổi văn nghệ bất ngờ này. Chị Bê trưởng cất giọng đáp lại bằng bài “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân”, giọng xứ Nghệ sao mà xao xuyến thế. Anh Thủ trưởng trạm sau khi há cả mồm nghe thì như sực tỉnh, xin lỗi dừng lại buổi văn nghệ vì lý do bí mật, nuối tiếc.

Không sao, giao lưu trò chuyện. Cánh võng là bàn ghế tiếp khách luôn, chao ôi là “tình cảm” tôi chẳng dám nhìn nữa.

Chị Bê trưởng chắc thấy cái mặt tôi non choẹt buồn thiu nên lại ngồi cùng võng với tôi. Nghe giới thiệu chị hai mươi hai tuổi mà tôi giật mình, bốn năm chiến trường, thương chị quá vẻ già dặn ấy. Biết tôi là út, như hiểu nỗi lòng chị quàng tay vai tôi vỗ vỗ. Một tình cảm ấm áp không tả khiến tôi gục đầu vào vai chị, cứ thế nước mắt rơi. Bao đêm hành quân nặng trĩu vai, chân đi chỉ còn là quán tính, ngực nghẹn nỗi nhớ mẹ… tủi thân, tôi thút thít trên vai chị.

“Khi nào thấy quả bom tròn xoe từ cánh máy bay lao xuống, thì chạy cho nhanh mới thoát khỏi cái lưỡi tử thần của nó. Còn thấy quả bom dài dài thì khinh nó đi, cứ ngồi tại chỗ mà thổi kèn. Nghe tiếng pháo ục uỵch kệ nó, tiếng nổ đầu nòng đấy. Nghe véo véo thì coi khinh, còn xẹt xẹt thì nằm càng thấp càng tốt. Quả pháo nổ xong thì lăn ngay vào chỗ nông choèn của nó, nó khoét hầm cho mình đấy, sẽ không có quả thứ hai rơi vào chỗ đó đâu”…

Đó là những lời dỗ dành mà chắc chỉ có ở chiến trường. Bao nhiêu nỗi niềm tan đi trong vòng tay thân thương như của người chị quê nhà.

Chị còn lấy trong ba lô đưa tôi hai bánh lương khô 702, loại này chỉ dùng cho cán bộ vì ngoài công việc ban ngày ra đêm về còn phải vắt tay lên trán lo cho trận đánh ngày mai, biết vậy mà tôi không thể từ chối. Chia tay các chị sau bữa cơm chiều, cùng lên đường. Hướng chúng tôi đi là tiếng pháo ùng oàng nơi mặt trận mà lòng tôi hướng về nơi chị đến, thằng OV10 chỉ điểm thả bom phá đường, chỉ biết cầu mong những trái bom “mãi dài” khi rơi xuống các chị.

Tây Nguyên đón chúng tôi bằng mùa mưa. Trận mưa đầu mùa trút xuống, những con ngầm dòng suối nhanh chóng sống lại. Nửa đầu đoàn quân vẫn đi qua lòng suối cạn khô, nửa cuối chúng tôi đã phải túm ba lô vào ni lông bơi qua dòng chảy xiết. Qua suối là ngã oành oạch, dép cao su trượt lên tận bắp chân, mới nhớ lời dặn đi tất vào cho dép đỡ trơn và đoàn quân mệt lả vẫn phải nhìn nhau khúc khích cười.

Trời đã sáng rõ, cánh rừng phẳng đến lạ lùng. Phong lan nhiều lắm, treo dưới tán cây săng lẻ, treo trên vách đá khoe sắc. Đàn chim Cao Sơn bé xíu đủ màu sặc sỡ, nhảy nhót cùng hoa thật vui mắt. Tôi thì chả quan tâm, mệt lắm rồi, nhưng chợt thoáng ý nghĩ nếu bọn con gái lớp tôi mà ở đây chắc chúng nó sẽ bắt trèo lên lấy những chùm phong lan cho chúng nó. Tự nhiên nhớ chúng nó vô cùng.

Rừng bạt ngàn những thân cây vút thẳng trơ trụi lá, chúng tôi mắc võng chênh vênh trên sườn một con khe. Nghe Thủ trưởng nói quãng đường vừa đi qua là hơn ngàn cây số mà thương sao khi giao quân xong các anh cán bộ khung lại quay về cho đợt huấn luyện mới.

“Ục, véo véo”… không còn anh nào trên võng. Tôi thì vừa có được bài học của người chị gái nên vẫn nằm dài, và tôi đã đúng. Mội tiếng “oàng” rất xa. Từ nơi Binh trạm chúng tôi nghỉ đã cảm nhận được sự ác liệt của mặt trận rất gần.

Thủ trưởng Bộ tư lệnh B3 đón chúng tôi. Vẫn là câu hỏi miền Bắc thay đổi ra sao? Các anh trong rừng lâu lắm rồi. Cảm phục những gương mặt cương nghị sạm đen, tái ngắt vì sốt rét.

Chia tay cán bộ huấn luyện Thủ trưởng ôm tôi vào lòng nghẹn ngào dặn đủ điều. Cậu liên lạc mang đổi lại cho tôi khẩu AK CCCP và đem khẩu AK Tiệp về, nó nhẹ để tôi đỡ chút nặng đường dài chứ bắn hay hóc đạn, nhìn mãi đến khi bóng các anh khuất sau cây rừng.

Nghe Thủ trưởng mới dõng dạc đọc danh sách chia quân mà tôi cảm giác chia về trường học mới, sách vở là vũ khí bom đạn và bài học là kỹ năng chiến đấu. Chưa tưởng tượng ra được nhưng trong tôi các anh chính là thần tượng thật gần.

Đại đoàn “Đồng Bằng” không phải ở đồng bằng, đó là tên có từ ngày chống Pháp, qua bao chiến công được Bộ Quốc phòng gọi là “Quả đấm thép”. Truyền thống thật tự hào.

Đoàn Tân binh chúng tôi đông vậy mà như muối bỏ bể trên chiến trường rộng lớn. Tam tam tôi cùng về một Tiểu đoàn là trường hợp rất hiếm. Mỗi thằng một Đại đội.

Doanh trại Đại đội mới là một mái lán thấp lè tè nửa nổi nửa chìm, bậc đất đi xuống phải cúi lom khom, mấy cửa hầm thông ra, một bộ bàn ghế lồ ô đẹp như làm bằng bàn tay thợ. Anh Chính trị viên Đại đội đến nơi nhận quân nhận mỗi một thằng lính mới là tôi, gương mặt vuông vuông khi ấy chẳng ai biết đó là tình anh em theo đến suốt đời.

“Nguyễn Minh Tác quê lụa”, ấm áp cái bắt tay thật chặt, anh tự giới thiệu và động viên tôi làm liên lạc cho anh. Thoáng chút hãnh diện, tôi bối rối kể chuyện mình đã từ chối làm liên lạc ở đơn vị huấn luyện. Hiểu ý, anh quay sang anh Đại đội trưởng: “Cho Trung đội thằng Thanh”… Anh Thanh đến đón tôi, mừng vui thân thiết.

Ven con khe nhỏ, các Trung đội cách nhau vài trăm mét, không tập trung để tránh thiệt hại khi bom rải thảm. Tôi đi theo anh Thanh mà thấy như đi theo anh trai về nhà.

Cả Trung đội ùa ra đón tôi như đón người thân. Tiếng là Trung đội mà cả tôi là mười lăm người, các anh đều mắt trắng, môi thâm như những anh chỉ huy tôi đã gặp. Quần áo thì tôi cứ nghĩ là lính chiến trường được cấp quân trang khác vì màu vàng khè. Chẳng ai “sơ vin” cả, sau mới biết có ai còn dây lưng đâu.

Tuổi mười bảy với nước da trắng trẻo, chỉn chu đứng giữa các anh, màn chào đón là tôi bị trêu đến phát khóc. Anh Thanh gỡ cho tôi bằng cách gọi vào cất balo, cho nằm chung hầm. Anh cười bảo tôi: “Đừng tức các anh ấy”! Vẫn hậm hực bị gọi là “cô gái”, tôi mơ ngày mình dày dạn phong trần.

Hòa vào trung đội yêu quý nỗi ấm ức lính mới còn dài rất dài rồi tan ra trong tiếng nô đùa. Đón cơn mưa đầu mùa các anh đắp khe rồi lắp ống lồ ô tắm rất thú vị.

Bữa cơm đón tôi là chiến lợi phẩm hôm đánh đồn Tầm, biết có Tân binh sắp vào các anh dành tiếp. Cả Đại đội có mình tôi, vậy là các Trung đội khác hôm nay chắc đều hy vọng đón Tân binh và đều ăn “tươi”. Có giò hộp, gà hộp, bò khô. Riêng tôi còn được gô cơm gạo sấy trắng thơm phức (làm tôi cứ tưởng tiêu chuẩn lính chiến)… Còn từ bữa tối là măng lồ ô với mắm kem.

Mười ba anh đón tôi hôm ấy nằm lại trong rừng mãi tuổi hai mươi. Đoàn Tân binh của tôi cũng chẳng nhiều anh về. Tây Nguyên một thời hào hùng tuổi trẻ chúng tôi… Rừng vọng tiếng cười “bà đẻ”.

10/9/2022

« Lùi
Tiến »