Mình sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm. Mơ ơi nếu đọc được hãy liên lạc với tôi nhé.
Khó tả được tấm lòng người dân nơi bộ đội đi qua. Quảng Bình, tôi bị ốm rồi. Để tránh bom chúng tôi ngày nghỉ đêm đi. Màn đêm đã giấu cho tôi hình ảnh đáng xấu hổ ấy, suốt đêm tôi lê bước trong mộng mị. Trên người chẳng súng ống gì… Mờ sáng là tới nhà dân, nhà Mơ đấy, tôi không biết gì nữa… Và thế là tôi có Bọ Mạ và một em gái nhỏ. Hai anh Tam tam của tôi cũng sướng lây, mặc kệ cái thằng tôi luôn.
Tôi chỉ còn việc tuân lệnh, những mệnh lệnh ngọt ngào: anh uống chút nước, thay đồ nào, cố ăn chút cháo đi, em bón cho anh nghe?… bàn tay mềm mát lạnh trên trán. Và nồi lá xông chờ sẵn. Mang suốt đời là cái dí đầu xuống nồi lá xông của Mạ: “Nọng cụng cộ chịu mới nhẹ”.
Anh Xê trưởng sang thăm: “Tối mai đơn vị đi tiếp, em yên tâm ở lại trạm Thu dung cho khỏi, ngày anh ra gặp sẽ đưa ra Bắc”. Không!
Trong giấc ngủ mê mệt thoáng thấy bàn tay nhẹ nhàng đặt trên trán, tay Mơ? run run tôi cố giả ngủ say.
“Tiếng Hà Nội chua loen loét, tiếng Khu Ba toét toè loe, tiếng choa chọ trẹ dễ nghe chú hầy”? Tụi nó lén tếu rồi cười. Tôi chỉ muốn đấm vào mặt chúng nó. Vì tôi thấy tiếng bọ mạ và em sao dễ nghe đến thế. Đến trưa tôi tỉnh hẳn. Một bát cơm không độn chờ sẵn, cá kho nữa. Trong ánh mắt yêu thương, tôi ăn quên cả ngượng.
Nồi nước lá em bưng ra giếng: “Anh tắm nhanh không cảm lại. Để em giặt kịp khô”. Ôi ngại, cả cái quần đùi Mao Trạch Đông em cũng giành giặt. Chắc nó hôi hám lắm, năm ngày không tắm rồi.
Năm ngày trước. Sau khi hòa tiếng hô “Quyết tâm”! tôi cùng bảy trăm anh em quê Yên Bái rời doanh trại huấn luyện. Bốn giờ sáng tới Núi Căng, kho quân trang của f304b ở đây. Nhận tư trang tăng võng mới toanh, lương thực, thực phẩm lương khô đường sữa ruốc thịt, thuốc cá nhân… mỗi chú khoảng bốn mươi kilogam. Ba trăm viên đạn là tổ trưởng Tam tam tôi mới vinh dự được mang. Đã có ba lô trĩu vai chao ôi là phấn chấn… cứ tưởng tay không như lúc rời doanh trại huấn luyện thì chán chết! Chín giờ sáng tàu chuyển bánh, nhìn qua cửa sổ toa tạm biệt nhé đất cùng người Bắc Thái.
Qua mọi miền đất Bắc người dân đổ ra đường vẫy chào đoàn quân Nam tiến chúng tôi.
Tàu dừng ở ga Vinh, xe ô tô Hồng Hà đưa chúng tôi đi một đêm nữa. Trên xe tôi lấy cây sáo cho các anh hòa nhịp “Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận”… náo nức tự hào. Bất ngờ cú xóc lộn nhào, ngã dúi dụi. Bắt đầu cảm nhận được sự khốc liệt, hố bom dày đặc, pháo phòng không luôn sẵn sàng nhả đạn. Xe liên tục phải dừng lại để chúng tôi xuống xe tản ra mỗi khi có máy bay quần đảo. Và rồi dừng hẳn lại Hà Tĩnh. Lính gọi là Kilomet số 0.
Làng nhỏ đón chúng tôi ấm áp tình quân dân. Sau một ngày nghỉ lại, chuẩn bị đêm ấy hành quân. Nghe kể mới năm trước thôi, các anh đều đi bộ vào Nam từ nơi huấn luyện mà thấy mình may mắn. Đoàn quân hàng một nối nhau, chẳng lá ngụy trang như trong tưởng tượng.
Những bước chân đầu đầy cảm xúc. Tổ Tam tam dính như sam, tôi đi sau hai anh với nhiệm vụ của tổ trưởng. Qua ngã Ba Đồng Lộc, đến Quảng Bình. Đêm đi ngày nghỉ và có một ngày nữa ở nhờ nhà dân trước khi vào Đường 9 anh hùng.
Mới hôm trước khi chúng tôi ở nhà một bọ, được bọ cho củi nấu ăn. Lính còn tếu giọng bọ: “Cạc chụ đi răng cụng cọ chụ chệt, cọ giày cao cộ cho bọ một đôi, lôi thôi bọ đòi gập đôi tiền cụi” làm tôi cười lăn lóc. Vậy mà ngày hôm sau ở nhờ nhà bọ mạ, chất giọng nặng nặng ấy thành quê tôi rồi.
Buổi chiều tôi tranh thủ viết thư nhờ Mơ gửi cho bố mẹ: “Con khỏe lắm bố mẹ à, toàn đi xe chưa phải hành quân đâu”. Đó là lá thư duy nhất của tôi về trước ngày Giải phóng.
Và mới biết tôi và em cùng ngày sinh. “Không tin anh hỏi mạ”. Nghi lắm, biết thừa tôi đâu dám hỏi. Đêm nay chúng tôi đi rồi.
“Anh còn mệt chưa đi được mô”. “Không, tôi nhất định phải theo đơn vị”… Mơ tặng tôi cái nguýt dài dễ sợ.
Mười tám giờ đơn vị lên đường. Bọ mạ ra tận đầu ngõ tiễn tôi với ánh mắt lo âu làm tôi cảm giác như ngày trả phép, Mơ nắm tay tôi chặt quá làm tôi phải nhìn em ngại ngần. Trời, giờ mới thấy ân nhân của tôi thật xinh đẹp, nước mắt em chảy dài. Tôi quay đi như chạy.
Đường 9 đây rồi, con đường huyết mạch cửa ngõ chiến trường Miền Nam. Như còn phảng phất khói đạn trong cuộc giao tranh cách đây gần một năm: Chiến dịch Đường 9 Nam Lào, ta dã bẻ gãy trận càn Lam Sơn 719 với quy mô cực lớn của địch.
Tôi đang hãnh diện thấy mình may mắn là con trai mới có cơ hội đi trên con đường này tiếp bước cha anh, thì đoàn xe tải vụt qua thật hùng dũng. “Đồng hương quê đâu đấy”! Tiếng con gái vọng xuống từ ca bin xe. Ôi các cô gái lái xe. Tiếng chào râm ran xua tan mệt mỏi.
Bỗng có tiếng máy bay. Đoàn quân chúng tôi tản ra hai bên vệ đường, còn đoàn xe sao tránh được. Mấy quả pháo sáng làm cảnh vật sáng như ban ngày rồi đạn 20ly đổ xuống, hướng vào đoàn xe nữ ấy… Hai chiếc xe nằm lại. Xót xa những tiếng cười mãi vọng vào hư không.
Đường Trường Sơn không phải vạch cây rừng mà đi như tôi tưởng tượng. Con đường ấy dẫu cheo leo, nhưng đã mòn lối bước chân qua. Bí mật để người lính được an toàn nhất. Không xa là đường ô tô chạy mà bom đánh suốt đêm ngày. Những người lính lái xe quả cảm vẫn đi, vận tốc tối đa hai mươi kilomet trên giờ, chở lương thực vũ khí vào chiến trường. Cùng là bao Thanh niên Xung phong đội bom sửa đường xe đi.
Mất mát đau thương diễn ra ngay trước mắt càng làm chúng tôi quyết tâm hơn. Yêu thương nơi quê nhà cũng thôi thúc người lính đi đến cùng.
Em gái Quảng Bình ấy liệu có sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm với tôi không nhỉ. Hỏi thằng Bình, nó cứ tủm tỉm.
Tiếng em nằng nặng bên tai “Anh hỏi mạ mà xem”!… Tiếc là tôi không dám hỏi.
29/8/2021
C Y SÁO Ở LẠI
Cây sáo tôi giữ gìn như báu vật, giờ đã vỡ nát. Tôi cầm nó nghẹn ngào, nhẹ đặt vào hẻm cây săng lẻ, vĩnh biệt mày Sáo trúc ơi.
Mấy tháng trước còn nhập hội tụi trẻ với câu hát “Máy bay phản lực, nó chực thả bom”…
Phản lực Mỹ ra Bắc chỉ thả hai quả bom rồi về. Còn trong chiến trường mà gặp thằng T28, hay AD6 thì thôi rồi, nó giã cho cả tiếng ấy. Loại này bay chậm cánh ngang, thường có thằng OV10 hoặc L19 đi trước tìm mục tiêu, bắn xuống quả pháo khói chỉ điểm rồi hai thằng kia bay đến đánh bom dai như đỉa đói.
Nhưng sự huỷ diệt của B52 thì không “thằng” nào bằng được.
Đã hai mươi ngày trên đường mòn Hồ Chí Minh, lính chúng tôi không còn trêu chọc vui cười nữa, thấm mệt. Đoàn “ngựa thồ” (gọi thế vì có lúc nào đi thẳng đâu) cắt rừng để rút ngắn đường đi. Chẳng biết có từ bao giờ mà những cây mọc lưng chừng núi đã nhẵn bóng bởi những bàn tay bám vào kéo đu người lên. Trong ánh sáng mờ ảo của núi rừng đoàn quân gù lưng như đứa sau đội mông đứa trước. Thỉnh thoảng mới ra đường xe chạy, bụi đất ngập mắt cá chân, để nhìn tận mắt nụ cười của “Tiểu đội xe không kính”, chẳng còn chút kính nào. Đường đi phần lớn trên đất Lào, đoạn cuối trên đất Campuchia.
Đường Trường Sơn còn gọi là đường 559. Thuộc bộ Tư lệnh 559 do Tướng Đồng Sĩ Nguyên quản lý: lái xe Trường Sơn, bộ đội đường ống xăng dầu, Thanh niên Xung phong… Dọc theo đường mòn là các trạm Giao liên (trạm nghỉ). Khoảng cách giữa các trạm là một đêm hành quân của bộ đội.
Đã qua cái bỡ ngỡ lần đầu đến trạm nghỉ. Thuộc tỉnh Paxalakhet (Lào). Trạm là mấy cái lán bán âm dương chứa lương thực vũ khí nơi bạt ngàn cây rừng. Đón bộ đội vào, đưa thương binh ra. Cảm phục biết bao thân gái trong rừng là các o Giao liên, niềm nở tiếp đón xếp nơi ăn nghỉ cho từng đơn vị, phổ biến quy định đi đường, rồi giữ vệ sinh trạm nghỉ… Tiếng xứ Nghệ ngọt lịm. Lính hành quân kiêm luôn vận tải, nộp gạo cho trạm là có cơm ăn, rồi lại lấy gạo trạm này mang đến trạm sau. Đoàn quân cả ngàn người võng mắc trải dài trong rừng, í ới hỏi thăm vui như ngày hội.
Đang ốm lại vừa qua tám tiếng đồng hồ hành quân đêm, không vui cùng mọi người, tôi nhanh chóng mắc võng cạnh hầm cá nhân. Nhận hầm có thằng còn phải đào lại vì bom làm sập rồi. Hầm của tôi còn tốt, may quá. Có cả hai cây cọc phụ để nước mưa chảy ra ngoài võng. Mưa phùn, lũ vắt ngóc đầu lên cả loạt không còn đáng sợ nữa khi leo lên võng. Muỗi táp vào mặt, mắc màn, xoa thuốc chống muỗi vắt, tôi thiếp đi.
Thật xấu hổ lại phải để một o đánh thức bằng cách lắc võng thật mạnh cùng nụ cười: “Anh kiểm tra hầm xem có bọ cạp không nghe, độc lắm đó” làm tôi tỉnh hẳn. Bữa ăn đầu trong rừng là chút thịt hộp, canh đậu xanh thật ngon miệng. Các o hóm hỉnh nói trêu: “Hôm nay máy bay nó quên không mò tới”. Chập tối, chia tay với cái vẫy lưu luyến, chúng tôi lên đường.
Qua hai mươi đêm hành quân, cái ngày thứ hai mốt trong rừng thì không được may mắn như vậy. Vừa nhảy lên võng nằm dài khoan khoái thì có tiếng máy bay. Trong sống chết có khoảnh khắc bản thân người lính cũng không lặp lại được… tôi lao vút xuống hầm.
Lần này là hai chiếc B52. Trong rừng không có pháo phòng không nên nó rà thấp thoải mái lắm. Mà càng thấp độ bom càng dày đặc. Hầm chỉ tránh được mảnh bom thôi, khoảng mười lăm mét một hố bom rộng ngang chừng năm mét. Dưới hầm tôi nghe tiếng đất rung chuyển, tiếng cây gãy răng rắc… vài phút.
Yên tĩnh, lồm cồm bò lên mà không tin vào mắt mình. Cánh rừng rộng lớn chứa cả ngàn quân không còn nữa, chỉ một từ: “hoang tàn”. Thân cây cổ thụ mấy người ôm giờ xơ xác, chi chít mảnh bom, ròng ròng nhựa chảy. Và đồng đội…
Chúng tôi nhanh chóng dùng tăng võng đưa các anh về đất mà thấy không thể chấp nhận được sự thực này… Khát khao cống hiến và chưa đầy một tháng từ lúc tiếng hô “Quyết tâm” lên đường.
Tập trung kiểm quân. Đại đội tôi thiếu đi con số hai sáu. Cả đoàn quân thiếu hơn một trăm anh.
Chỗ tôi nằm tăng đã võng rách nát cả. Cài trên ba lô chiếc sáo trúc gãy vụn. Tôi không thể cất lời vĩnh biệt đồng đội, phải thành là: “Vĩnh biệt sáo trúc ơi”.
Nhận quân trang mới từ giao liên. Đơn vị lại lên đường. Mấy con sóc bông đã quá quen thuộc với người lính, vẫn nhảy nhót ngó nghiêng như trêu chọc chúng tôi, qua trận bom giờ cũng chẳng thấy đâu nữa làm con đường càng thêm trầm mặc. Lòng quặn đau…
“Phía trước có cầu treo”, lệnh truyền từ đầu hàng quân xuống. Gần đến cầu dừng lại, gậy đỡ đáy ba lô. Cây gậy mà tuổi học trò mơ ước ấy có tên là gậy Trường Sơn, nhớ khi được lệnh vào rừng chặt gậy mà lòng háo hức như mang đồ trang sức, thực ra là chẳng thơ mộng gì đâu. Leo dốc dùng chống thân mình lên, xuống dốc chống cho khỏi trượt, dừng lại nó đỡ cho ba lô bớt nặng, như lúc đang chờ qua cầu đây.
Một chút nao lòng nhớ cầu treo Phú Bình nơi huấn luyện, lính chẳng có thời gian nhớ gì đâu. Nhưng chiếc cầu này có lẽ chỉ Trường Sơn mới có, và đi qua chắc đủ là diễn viên xiếc. Cái đèn pin đã bịt chỉ để lại một tia sáng bằng đồng xu cho tôi thấy cây cầu. Hai cây song to buộc chặt vào bốn cây gỗ hai bên bờ, lát trên là những đoạn gỗ bằng cổ chân, một dây song cao tầm tay vịn, dưới là vực thẳm.
“Chưa có ai rơi xuống đâu”, lính thì thào. Một Tiểu đội Thanh niên Xung phong luôn kiểm tra độ vững chắc của cầu mà. Mà nghĩ gì chứ, có lệnh là bước lên thôi. Tròng trành, đung đưa, tất cả dồn vào từng ngón chân, tôi đã qua được cầu.
Thở phào, tôi thấy mình mạnh mẽ. Người ta bảo nỗi đau phải có thời gian xoa dịu, còn trên đường Trường Sơn tôi đi thời gian hình như cô đặc lại. Qua cây cầu tôi thấy mình từng trải, nỗi đau mất đồng đội giờ chỉ còn là quyết tâm trả thù cho các anh.
Đoàn quân lên đường không còn buồn bã nữa. Con đường còn dài.
03/9/2021