Quê Nhà

Lượt đọc: 1535 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chú thích

.

[1] Thời nhà Nguyễn, nước ta chia thành 23 trấn. Các trấn Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Hải Dương, Sơn Tây, Kinh Bắc, Thanh Hóa... ở ngoài Bắc thuộc về Bắc thành (Hà Nội).

[2] Đại úy thủy quân Pháp Phơ-răng-xi Gác-ni-ê (Francis Garnier) chết trận ở ô Cầu Giấy ngày 25 tháng Mười hai 1873. Gác-ni-ê tự xưng là An Nghiệp. Nhưng người thời ấy thường gọi là quan ba Ngạc Nhe.

[3] Lái buôn người Pháp tên là Giăng Đuy-puy (Jean Dupuis).

[4] Bắc Kỳ tán ly quân vụ đại thần Dương Doãn Hài.

[5] Khâm sai Nguyễn Tri Phương.

[6] Đề đốc Tam Tuyên Lưu Vĩnh Phúc.

[7] Tên những đạo quân giữ Hà Nội và Sơn Tây thời Nguyễn.

[8] Trung úy hải quân Ban-ny Đa-ri-cua (Balny d’ Arricourt).

[9] Thống đốc Hoàng Tá Viêm.

[10] Thời nhà Nguyễn có 5 thứ quân chiến đấu và 5 đội quân không chiến đấu. 5 thứ quân chiến đấu: bộ binh, kỵ binh, pháo binh, thủy binh, tượng binh. Mỗi loại chia thành từng cơ (hoặc gọi là vệ), mỗi cơ 10 đội (50 người), mỗi đội 5 thập (2 ngũ), mỗi ngũ 5 người. 5 thứ quân không chiến đấu: thư lại (trông coi giấy tờ, lương bổng), đội tuần (canh gác, tuần phòng dinh thự, thành lũy), lính trạm (chạy công văn), lính nuôi ngựa nuôi voi, đội hà thanh (chuyên trồng dâu, nuôi tằm).

[11] Một thước ta dài 0,645m.

[12] Cao Bá Quát, giáo thụ phủ Quốc Oai (Sơn Tây) khởi nghĩa ở Mỹ Lương năm 1854.

[13] Thứ đồ chơi Tết mùng năm này gọi là “bùa túi” (bùa và túi). Người ta gọi nhầm là “bồ túi”, lâu thành tên.

[14] Lính người Ả Rập khoác áo choàng trắng, thực dân Pháp mộ ở các thuộc địa Bắc Phi. Người Hà Nội thời ấy gọi là “Tây mặc váy”

[15] Ở Tràng Tiền, cũng gọi là ô Trường Long, ô Cựu Lâu hay Hậu Lâu - quãng giữa phố Tràng Tiền bây giờ. Năm 1886, Pháp mở rộng đường xây cổng, đổi tên là cửa Đại Pháp. Khi làm Nhà hát thành phố (1911) cửa đó mới bị phá bỏ.

[16] Khoa thi hương Hà Nội năm Bính Tý (1876).

[17] Đại úy Đờ Kéc-ga-ra-đéc (De Kergaradec) lãnh sự Pháp đầu tiên ở Hà Nội thời kỳ ấy.

[18] Hoàng Diệu, Tổng đốc tỉnh Hà Nội.

[19] Án sát Tôn Thất Bá.

[20] Đề đốc Lê Văn Trinh.

[21] Lãnh binh Lê Trực.

[22] Lãnh binh Nguyễn Đình Tường.

[23] Phó lãnh binh Hồ Văn Phong.

[24] Đúng cấp bậc, chỉ là thượng sĩ Giăc Canh (Jacquin) và trung sĩ Gờ-ra-vô (Gravot).

[25] Thống đốc Hoàng Tá Viêm.

[26] Đại úy lính thủy đánh bộ Đuy Boóc (Duybord).

[27] Trích nhật ký “Ở Bắc Kỳ” của Đuy Boóc.

[28] Ngày 7 tháng Ba 1883, quân Pháp đánh thành Nam Định, Trung tá Ca-rô (Carreau) chết trận.

[29] Thượng thư Bùi Đức Kiên.

[30] Đề đốc Tôn Thất Trắc.

[31] Linh mục Lăng-Đe (Landais), linh mục Bec-Tô (Bertaud).

[32] Thiếu tá thủy quân lục chiến Béc tơ-đờ- Vin le (Berthe de Villers).

[33] Pháo hạm Le-o-pa (Léopard) và Ca-ra-bin (Carabine).

[34] Đại tá lục quân Bi-sô (Bichaud).

[35] Lính mộ những người ở ven sông, biển, quen bơi lội.

[36] Đại tá lục quân Bu-ê (Bouet).

[37] Thời nhà Nguyễn, binh lính chia ra 5 người một ngũ. 10 người một thập, 5 thập một đội, 5 đội một cơ, 5 cơ một vệ.

[38] Tên những con voi đi đánh trận có công, được phong tước.

[39] Thanh bên Trung Quốc, bắn xa chừng ba trăm mét.

[40] Một loại súng trường của quân nhà.

[41] Theo cầu viện của triều Nguyễn, vua nhà Thanh phái bọn tướng Đường Cảnh Tùng, Mạc Đông Thanh, Giã Vạn Quý, Điều Phúc Chí đưa quân sang đóng ở một số vùng trung du miền Bắc Việt Nam.

[42] Tháng Mười hai 1882, Pháp đánh Hưng Hóa, thả ba quả khinh khí cầu do thám.

« Lùi
Tiến »