NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ LỚN XẢY RA TRONG NƯỚC VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGHĨA QUÂN VÙNG HÀ NỘI TỪ 1873 TỚI 1898
1873
- Ngày 20 tháng Mười một, đại úy thủy quân Phơ-răng-xi Gác-ni-ê (Francis Garnier) chỉ huy quân Pháp đánh thành Hà Nội. Lái buôn Giăng Đuy-puy (Jean Dupuis) thuê quân Cờ Vàng của thổ phỉ Tàu Hoàng Sùng Anh đem từ Lào Cai về chiếm phố Mới - phố Hàng Chiếu bây giờ. Thuyền Cờ Vàng qua bến Chèm, bị nghĩa quân phục đánh. Hai nghĩa quân tên là Tuyên và Hợp, người làng Chèm, tử trận.
Thành Hà Nội thất thủ. Kinh lược Nguyễn Tri Phương bị bắt rồi ông nhịn ăn, đến ngày 22 tháng Mười hai thì mất.
- Ngày 21 tháng Mười hai, Phơ-răng-xi Gác-ni-ê ra Cầu Giấy đánh nhau với quân ta do Dương Doãn Hài, Bắc Kỳ tán lý quân vụ đại thần phối hợp với Đề đốc Tam Tuyên Lưu Vĩnh Phúc cùng nghĩa quân các làng tây bắc Hà Nội. Đại úy Phơ-răng-xi Gác-ni-ê, trung úy thủy quân Ban-ni Đa-ri-cua (Balny D’Arricourt) và hơn một trăm lính Pháp bị giết.
1874
- Ngày 15 tháng Ba, hòa ước Giáp Tuất của nhà Nguyễn và nước Pháp do chánh sứ Lê Tuấn ký với phó đề đốc Đuy-prê (Dupré) ở Sài Gòn, gồm 12 điều. Có những khoản bán nước, như sau: (Nguyên văn): Điều 2 - Tổng thống Pháp giúp hoàng đế nước Nam bảo vệ an ninh trong và ngoài nước. Điều 3 - Để đáp lại sự bảo hộ ấy, vua nước Nam từ nay chịu theo chính sách ngoại giao của nước Pháp... Điều 5 - Vua nước Nam công nhận chủ quyền hoàn toàn của nước Pháp ở 6 tỉnh Nam Kỳ và tỉnh Bình Thuận.
Ký xong hòa ước, Lê Tuấn tự vẫn chết.
1875
- Đồn Thủy, tên tắt gọi Đồn Thủy quân của ta ở bờ sông Hồng, đông nam Hà Nội, khu đất đầu tiên nhà Nguyễn bán cho Pháp khi Pháp mới đặt chân lên Hà Nội. Nhượng địa Đồn Thủy đối chiếu với bây giờ là khu vực từ quảng trường Nhà hát thành phố, Viện Bảo tàng lịch sử, Bệnh viện Hữu nghị, Bệnh viện 108.
Tình hình việc bán Đồn Thủy cho Pháp như sau: 1873, viện cớ lái buôn Giăng Đuy-puy mâu thuẫn với các quan ta ở Hà Nội, Pháp phái đại úy Phơ-răng-xi Gác-ni-ê đem quân từ Sài Gòn ra. Đến Hà Nội, Gác-ni-ê được đóng tạm ở Trường Thi. Gác-ni-ê đánh thành Hà Nội rồi bị chết trận ở Cầu Giấy.
Pháp cử tướng Phi-lat (Philatre) ra Bắc dàn xếp và ký một số hiệp ước, thương ước quanh hòa ước 15 tháng Ba 1874. Theo điều 18 của hòa ước, Pháp được đặt lãnh sự ở Hà Nội. Rồi hiệp định 11 tháng Giêng 1875 quy định khu nhượng địa gồm: “vùng Đồn Thủy ven sông Hồng, sau này có thể mở rộng về xuôi, nếu cần thiết...”.
Tháng bảy 1875, lãnh sự đầu tiên của Pháp ở Hà Nội là đại úy thủy quân Đờ Kec-ga-ra-đec (De Kergaradec) tạm đóng ở Trường Thi, đợi làm xong nhà. Một tháng sau, ra đời hiệp ước ký với các quan ta ở Hà Nội “Nhượng toàn bộ khu Đồn Thủy cho chính phủ Pháp, rộng 18 mẫu rưỡi”. Lãnh sự Pháp ở Trường Thi dời về đóng trong Đồn Thủy, chỗ Viện bảo tàng lịch sử bây giờ.
Nhà lãnh sự này, về sau bọn công sứ Trung, Bắc kỳ là Pôn Be (Paul Bert), Vi-an (Vial), và các toàn quyền Đông Dương Công-săng (Constant), Ri-sô (Richaud) còn ở cho tới 1926 mới phá bỏ.
1882
- Ngày 3 tháng tư, trung tá thủy quân Hăng-ri Ri-vi-e (Henri Rivière) từ Sài Gòn đem quân ra Hà Nội đóng ở Đồn Thủy. Ngày 25 tháng tư đánh thành Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu cưỡi voi đốc trận đánh nhau đến khi lính Pháp trèo được vào thành, Hoàng Diệu thắt cổ chết.
- Ngày 19 tháng năm, Hăng-ri Ri-vi-e ra Cầu Giấy đánh nhau với quân của Thống đốc Hoàng Tá Viêm, Đô đốc Tam Tuyên Lưu Vĩnh Phúc và nghĩa quân các làng ven nội. Hăng-ri Ri-vi-e chết trận phía trên Cầu Giấy, quãng giữa làng Dịch Vọng Trung và Dịch Vọng Tiền. Cùng chết trận với Hăng-ri Ri-vi-e còn hơn một trăm lính Pháp và 5 sĩ quan, trong đó có thiếu tá lính thủy đánh bộ Bec-tơ Đờ Vi-le (Berther de Villers), đại úy lính thủy đánh bộ Giăc-canh (Jacquin), trung úy Gơ-ra-vô (Gravaud).
- Đầu tháng năm, trước khi chết trận ở Cầu Giấy, thiếu tá Bec-tơ Đờ Vi-le còn đem quân sang Dốc Gạch (Gia Lâm) đánh nhau với nghĩa quân ta tập trung định sang đánh Đồn Thủy.
- Nghĩa quân các làng vào Hà Nội phá nhà cố đạo Lan-đe (Landais) và cố đạo Bec-tô (Bertaud). Quân ta bắn pháo thuyền Pháp đậu trên sông Hồng, bắn tòa lãnh sự Pháp và khu Đồn Thủy.
- Ngày 27 tháng năm, Pháp đánh Nam Định, Trung tá Ca-rô (Carreau) chết. Phía Việt Nam, đề đốc Lê Văn Điếm tử trận.
1883
- Ngày 25 tháng tám, tướng Hác-măng (Harmand) tấn công Huế. Vua nhà Nguyễn sai Chánh sứ Trần Đình Trúc điều đình với Hác-măng ký một thỏa ước. Trong thỏa ước có những điều cụ thể hơn về việc bán nước. Một số điều như sau (nguyên văn):
Điều 1 - Nước Nam nhận và chịu sự bảo hộ của nước Pháp. Nước Pháp chủ trương mọi sự giao thiệp của nước Nam với nước ngoài, nước Nam có giao thiệp ngoại giao với nước nào đều chỉ do nước Pháp môi giới...
Điều 12 - Ở Bắc Kỳ, có một quan thống sứ Pháp đóng ở Hà Nội. Ở Hải Phòng và tất cả các tỉnh đều đặt các quan chức Pháp dưới quyền quan công sứ...
Điều 25 - Nước Pháp sẽ coi người Nam ở khắp nơi là người được nước Pháp bảo hộ...
Chín giờ tối 12 tháng năm, hội nghĩa các làng huyện Thọ Xương tấn công tiêu diệt trạm lính gác tòa nhà thờ dựng tạm bằng gỗ ở phố Nhà Chung. Bọn lính sống sót phải chạy trốn sang vườn chùa Bà Đá.
- Ngày 15 tháng tám, đại tá Bi-sô (Bichaud) đem lính ra vùng sông Nhuệ đánh nhau với nghĩa quân từ phủ Hoài Đức đến Chèm, tấn công làng Phú Xá, nhưng không vào được.
- Ngày 1 tháng Chín, trung tướng Bu-ê (Bouet) đem quân ra vùng huyện Đan Phượng đánh nhau với nghĩa quân từ Phùng ra cửa sông Hát.
- Từ ngày 11 tới 16 tháng Mười hai, thủy sư đô đốc Cuôc-bê (Courbet) với 6000 quân, đánh Sơn Tây. Ngày 13, tấn công Phùng. Ngày 15, đánh chiếm lũy Phù Sa. Ngày 16 chiếm thành Sơn.
Bên ta, hầu hết nghĩa quân các làng đã ra chặn đánh địch. Sau 5 ngày đánh nhau, quân Pháp chết hơn ba trăm lính, 30 sĩ quan bị thương và 4 đại úy tử trận, đại úy Gô-đi-nê (Gaudinet), Du-xê (Doucet), Men (Mehl), Cu-ny (Couny).
- Ngày 27 tháng Mười hai, nghĩa quân đột nhập Đồn Thủy, đốt cháy toàn bộ kho đạn trong khu.
- Nghĩa quân Mễ Trì (Kẻ Mảy) tiêu diệt toán quân hộ tống voi của tuần phủ Ninh Bình biếu công sứ Hà Nội. Đề đốc Đặng Văn Tại về dẹp, bị nghĩa quân đánh chết.
1884
- Ngày 6 tháng sáu, nhà Nguyễn lại ký hòa ước mới với Pháp, Phía Pháp, do Pa-te-nôt (Patenôtre), phía nhà Nguyễn do chánh sứ Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan.
Với hòa ước sau cùng này, nước ta bị chia thành 3 kỳ. Những điều khoản trói buộc và cụ thể trong hòa ước thực dân Pháp đã thi hành cho tới ngày Pháp bị phát xít Nhật đảo chính (19-3-1945), phát xít Nhật lại tiếp tục các chính sách như của thực dân Pháp. Phải cho tới Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nhân dân ta giành lại chính quyền, đất nước mới thực sự được độc lập tự do.
Hòa ước 1884 có 19 khoản. Có những điều chi tiết, như sau, (nguyên văn):
Điều 1 - Nước Nam nhận và chịu nước Pháp bảo hộ. Nước Pháp đại diện cho nước Nam trong các việc giao dịch với nước ngoài và bảo trợ cho người nước Nam ở trong cũng như ở ngoài nước.
Điều 2 - Quân đội Pháp đóng vĩnh viễn ở cửa Thuận An. Nam triều phải triệt bỏ đồn lũy từ Thuận An vào kinh đô.
Điều 3 - Nam triều được cai trị từ các tỉnh giáp giới tỉnh Biên Hòa của Nam Kỳ cho đến phần đất giáp giới tỉnh Ninh Bình của Bắc Kỳ...
Điều 5 - Khâm sứ Pháp tại kinh đô thay mặt Chính phủ Cộng hòa Pháp giữ việc ngoại giao của nước Nam và thi hành việc bảo hộ...
Điều 6 - Ở Bắc Kỳ, Chính phủ Cộng hòa Pháp đặt quan thống sứ ở Hà Nội và quan công sứ ở các tỉnh.
Điều 7 - Các quan khâm sứ, thống sứ, công sứ không dự các chi tiết việc cai trị dân sự của các quan lại An Nam nhưng được quyền kiểm soát và khi xin cách chức quan lại An Nam nào thì triều đình Huế phải chịu theo như điều xin...
Nghĩa quân ở Bãi Sậy nổi lên. Sách Đại Nam Thực lục Chính biên , đệ lục kỷ (Sử của Nam triều) chép đã bớt đi nhiều sự thực, nhưng đã phải viết (nguyên văn): “Bè lũ bọn giặc Sậy (Tục gọi Bãi Sậy, ở giáp giới Hưng Yên, Bắc Ninh) hợp bọn với các tên tội phạm trốn ở Thanh Trì, Thanh Oai, Ứng Hòa, Thường Tín quấy nhiễu. Tổng đốc tỉnh Hà Nội, Ninh Bình là Lê Dĩnh phái lãnh binh Vũ Hữu Tín đem binh dũng đi dẹp, thất cơ phải rút lui. Giặc đốt phá phủ thành Thường Tín và đánh chiếm thành của ba huyện Thanh Trì, Phú Xuyên, Thanh Oai, các huyện viên đều trốn đi cả.”
Từ 1884 tới 1898
Nghĩa quân vùng tây bắc Hà Nội hoạt động, quân Pháp phải đánh dẹp khủng bố tới 1910 mới gọi là tạm yên.
Những vùng hoạt động và những thủ lĩnh chính của nghĩa quân: Ở Hồ Khẩu, có Quận Chữ. Ở Tây Tựu: Đề Kiên. Cổ Nhuế: Lãnh Trứ, Đồ Tịch. Trích Sài: Xuất Nghĩa. Linh Chiểu: Quận Cồ. Xuân Vân: Đốc Ngữ. Nhân Lý: Quản Cụ. Đại Đồng: Quản Nhếch. Sơn Đồng: Chánh Võ. Sơn Lộ: Tự So.
- 1887, quân Pháp ở Hà Nội bắt nguyên bố chính tỉnh Thái Nguyên là Nguyễn Cao.
Năm 1883, Nguyễn Cao làm bố chính ở Thái Nguyên chống nhau với Pháp. Khi Nam triều đã ký hòa ước hàng Pháp, Nguyễn Cao bỏ quan về dạy học ở xã Kim Giang, phủ Ứng Hòa. Bọn Pháp vẫn truy lùng những người chống Pháp và chúng đã bắt ông.
Bị giam ở Hà Nội, Nguyễn Cao đã lấy móng tay tự khoét lòi ruột. Pháp đem đi chữa khỏi. Nguyễn Cao lại cắn lưỡi và tuyệt thực. Pháp kêu án chém. Chúng khiêng Nguyễn Cao ra pháp trường ở bờ hồ Hoàn Kiếm. Nhưng đến nơi thì Nguyễn Cao đã tắt thở.
- 1888, Pháp tấn công nghĩa quân Quận Cồ tại Tây Đằng. Hai thiếu úy Mang-ganh (Manguin) và Đu-xê (Doucet) chết trận.
- 1890, Quận Chữ (Hồ Khẩu) đánh đồn Cầu Giấy. Lính Pháp thoát chết phải bỏ đồn, chạy về phủ Hoài Đức.
- Đêm ngày 5 rạng ngày 6 tháng Mười hai 1898, có cuộc khởi nghĩa đánh Hà Nội. Cuộc khởi nghĩa đã được chuẩn bị từ 1895, do nhà sư Trần Quốc Chính trụ trì chùa Long Ngọc Động (Chương Mỹ - Hà Đông) thủ xướng. Tới 1897 đã chọn được một số thủ lĩnh chỉ huy 5 cánh quân. Các thủ lĩnh là: Trương Công Xán (phố Hàng Đào), Nguyễn Hanh tức Tú Thuật, Hoa Văn Trứ tức Tư Trứ (Cổ Nhuế), Nguyễn Văn Khuyến (Chèm), Đỗ Đắc Kiên tức Đề Kiên (Tây Tựu), Nguyễn Trang, sư chùa Hạ Mỗ, Lý Điểm (Bồng Lai), Trương Công Bỉnh (Bạch Sam - Hà Nam), Nguyễn Quang Hoan (Thái Bình), Đinh Công Bạch (người Mường ngụ tại Hà Nội), Cử Đức (Mễ Xá - Hưng Yên), Ngô Chấn, sư chùa Cát Trù - Vĩnh Yên, Nguyễn Đăng Quế (Nam Định).
Nghĩa quân định tấn công Sơn Tây và Hà Nội cùng một lúc. Nhưng kế hoạch hội quân không thành, đêm 5 chuyển về tập trung đánh Hà Nội. Một cánh tấn công chiếm được đồn Ngọc Hà và nhà đại tá Ca-xi-ê (Cassier). Nhưng vì không cắt được điện, không thống nhất nhận được lệnh tổng công kích, cuộc tấn công bị thất bại. Thực dân Pháp, sau đó, đã lùng bắt và làm án chém 50 người, xử tử tại bờ hồ Hoàn Kiếm - chỗ công viên Chí Linh bây giờ, và hơn ba trăm người bị đày đi Côn Đảo.
- Tả ngạn sông Hồng, đối điện với Hà Nội, trong địa phận ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, đê Văn Giang vỡ 21 năm liền, biến một vùng đồng ruộng thành bãi lau sậy lầy lội, hoang vu. Vùng Bãi Sậy, hơn mười năm, từ 1882 đã trở thành căn cứ nghĩa quân. Trong khu vực ấy có nhiều thủ lĩnh nghĩa quân nổi tiếng như: Nguyễn Thiện Thuật (Mỹ Hào), Tạ Hiện (Kẻ Sặt), Đề Tính, Lãnh Điển, Đốc Quế (Khoái Châu), Đốc Văn (Bắc Ninh), Đốc Sung (Dịch Trì), Đốc Khoát, Đốc Quí, Ba Giang (Vĩnh Lại). Có những trận đánh đã phối hợp được tới hàng nghìn nghĩa quân có hơn năm trăm tay súng, như trận đánh Pháp ở Liên Trung (Yên Mỹ - Hưng Yên).
Cuối 1886, phía tây bắc Hà Nội, Đốc Ngữ và Quận Kiền tập hợp người Kinh, người Mường lập căn cứ vùng núi Ba Vì. Đánh Pháp nhiều trận ở làng Nai, Tiên Động, Rừng Già. Trận ngày 7 tháng 10-1890, ở Cẩm Đái, giết chết giám binh Mu-lanh (Moulin), trong trận Quảng Nạp (1890) giết chết thiếu úy Ê-rê ở đồn Ngọc Tháp (Bất Bạt) trận phá nhà tù Sơn Tây (1890) giải phóng 174 tù là nghĩa quân đã bị bắt. Và một trận lớn ở Quản Lập diệt nhiều lính và sĩ quan Pháp. 1892, nghĩa quân chiếm đồn Yên Lãng.
Nhiều thủ lĩnh nghĩa quân người Mường như Đinh Công Uy, Bùi Văn Kiệm, Đinh Công Nghiêm lập căn cứ ở núi Viên Nam. Năm 1891, tấn công chiếm tỉnh lị Hòa Bình ở Chợ Bờ, giết chết chánh sứ Pông-Vy (Ponvi) diệt nhiều quân Pháp, thu được hơn một trăm súng.
- 1909, tổng Khiêm, người Mường tấn công Hòa Bình, giết chết giám binh Se-nhô (Chaigneau).
HẾT

