Quê Nhà

Lượt đọc: 1531 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương XIV

Kể từ mất tỉnh sơn tây

Bao nhiêu các tướng nổi ngay đùng đùng

Kìa như quận Vách, quận Vùng

Nào là Đốc Ngữ, lại cùng Tự So

Kìa như Đội Cốc, Chánh Đồ

Vẫy vùng một cuộc, mưu cơ thế nào

(Vè chống Pháp thời kỳ 1883 vùng Sơn Tây)

BỌN NGHĨA ĐÃ VỀ ĐẾN LÀNG NHA.

Đứng trông vào, chỉ thấy như một đống rạ cháy nham nhở. Bờ tre đỏ hắt, trống hốc. Nhưng những khoanh tre phía trong vẫn xanh đen.

Cánh đồng tan hoang như vừa có mưa đá. Những đám ruộng rau cần xâm xấp nước, còn vết tro rắc, vừa trổ lá xanh mướt đã bị xéo nát. Trên những đống cao, mấy luống cải củ còn lởm chởm như đất cày. Khắp nơi, vết móng ngựa, phân ngựa, vỏ đạn cháy đỏ tía như những đốt mía. Những cái giẻ cạnh vũng máu đọng đã khô đen từng đám rải rác trên khoảng ruộng trống không.

Không một bóng người. Không một ngọn khói. Nhưng không đắn đo, những người trai làng xồng xộc chạy vào. Trông thấy ở mé ruộng, có mả mới đắp, có anh đã bưng mặt khóc.

Đứng xa, tưởng lũy đã bị phá hỏng. Nhưng đến gần mới biết những cây tre chết dóc vàng xọm rấp lại cẩn thận, lại dầy đặc.

Trước cổng rong kín mít.

- Có ai trong điếm không?

Mấy người cùng gọi vọng vào.

- Ai đấy?

- Nghĩa đây.

Ba lần cổng tán lần lượt mở ra thành con đường tre hun hút, như hôm đi. Nắng đã lên thế mà vòm cổng vẫn tối xanh.

Cả bọn nhao nhao hỏi người vừa bước ra, lưng đeo cái đại đao, mũi cong hoắt, lại buộc sợi dây tơ, - đao này nhặt được của quân Cờ Đen.

Người ấy không nói, cứ lùi lũi, lần lượt hạ cánh cổng tán đóng chốt rồi tất tả đi vào.

Đến đầu xóm, không thấy điếm canh mọi khi. Không ai hỏi nữa. Nhưng trên nền tro đã thấy cái điếm mới dựng lên bằng mấy chiếc cọc tre cháy dở. Những mo nang, mo cau nhặt được trong vườn chắp lại thành mớ gài tạm lên làm một mái hếch trú mưa. Nền đất lổn nhổn, không có bậc cửa xó luồn nhưng vẫn một ổ lá chuối khô trải trên vỉ tre, hàng chục người canh đêm nằm được.

Trên giá treo tay thước, lủng lẳng cái tù và vỏ ốc trắng toát, vẫn thế. Một loạt mã tấu, thùng lùng, tay thước, dao bảy, quắm, đinh ba... Nhưng nhiều cái chuôi gỗ được hun mới còn đen sẫm và tất cả các lưỡi dao, ngọn đinh ba đã mài lại, sáng loáng.

- Hãy vào điếm làm điếu thuốc cho ấm cái đã.

Bây giờ người trai tuần mới nói. Rồi kéo Nghĩa ngồi xuống ổ lá chuối.

Thế ra các xóm đã bị đốt trụi. Chúng nó chạy đàn rắn rồi nổi điên lên, đốt hết. Sư thày chết rồi. Chùa cháy cả đến cây đa lông ngoài vườn. Chúng nó khuân đi cái chuông chưa dỡ khuôn. Lão Vạn đã thả mấy con mai gầm ra đuổi lính, mà lão vẫn găm được một con. Thằng Tây râu xồm mới thoạt thấy, đã ngã ngất đi. Nhưng có thằng lính đạo đi theo, thằng này người đồng chiêm không sợ rắn, nó bắn đuổi con mai gầm xuống ao.

Thằng Tây tỉnh dậy, bắn chết cả bố con lão Vạn. Nấm mả mới chôn ngoài đầu làng ấy.

Nghe tiếng nói ngoài đường, thêm mấy người nữa ra. Lại chuyện người chết, chuyện làng đánh nhau. Nhưng hình như không ai muốn là người trước nhất nói đến nhà Nghĩa. “Nhà tôi thế nào?” - Nghĩa hỏi. Mấy người cũng ngơ ngác nhìn lại.

Nghĩa lại hỏi, mặt Nghĩa cũng ngơ ngác.

- Mẹ tôi, em tôi ở đâu?

Một người nói nhỏ:

- Cái Ngát phải đạn chết rồi.

Nghĩa hớt hải về xóm. Ra khỏi điếm, đi một mình mới dám khóc. Nước mắt ròng ròng trên mặt. Mới như hôm qua, Ngát theo ra tận ngoài đường cái. Sao đời tôi chỉ chồng chất những éo le, buồn thảm. Cái Gái hay cái Ngát, chị em chúng tôi khác nào cùng cha mẹ sinh ra, mà mỗi người một niềm thương đau, sống để dạ chết mang đi. Bây giờ còn có mình tôi trên thế gian này.

Cái tường đất cắm mảnh chĩnh trong bờ rào xương rồng vẫn đứng sừng sững. Nhưng mà chỉ thấy còn mấy hòn đá kê chân cột vạ vật cạnh cuốn cửi thành khúc gỗ đen sì. Những cột tre giữa nhà cháy dở, đầu đỏ hoe như còn ngọn lửa. Cây cau lùn đầu sân, không biết đến những tai biến của con người, giữa vòm lá xanh dày trên ngọn, buồng hoa cau vàng hây vừa nứt khỏi bẹ, to bằng cái chổi lúa nếp. Mùi hoa cau thơm dịu từ đầu ngõ vào.

Bờ chuôm có tiếng người loác choác, tiếng té nước. Hai anh em con nhà thím đương be bờ, lúi húi lấy tay tát nước. Mấy con rô, con săn sắt đuôi cờ quãy trên mặt bùn. Mọi năm cũng vậy, vào khi nước cạn lại be bờ bắt nốt mấy con cá rô, con trê, con chạch rồi mua cần giống về cấy. Cái chuôm qua mùa đông đã hóa ao rau cần ăn đến sang giêng mới tàn mùa.

Bà Xuất ngồi trên bờ. Nghĩa trông đằng lưng thấy hai vai người nhô lên lòng khòng mà mọi khi hình như không thấy như vậy. Nghĩa xót xa như nhìn mẹ đẻ mình đương bơ vơ buồn khổ thế kia.

Nghĩa khẽ gọi:

- Mẹ!

Bà Xuất nghe tiếng Nghĩa rõ ràng. Nhưng không quay lại. Bà ngồi nguyên thế, từ từ cúi mặt xuống đầu gối. Nghĩa chạy lại, ngồi thụp xuống, đỡ vai mẹ.

Nhưng bà Xuất đã ngẩng nhìn Nghĩa. Hai con mắt nhăn nheo đỏ hoe.

Tự dưng, bà Xuất cười mỉm, như cười gượng.

- Con đã về đấy a?

Bà Xuất không khóc mà Nghĩa khóc. Nghĩa khóc rưng rức. Cơn khóc không gượng được nữa. Nghĩa nức nở úp mặt vào gối bà Xuất. Hai bàn tay bà đặt lên lưng Nghĩa.

- Mẹ ơi!

Hai bàn tay trên lưng Nghĩa, bà Xuất thong thả nói:

- Con gái mẹ nín đi, con gái mẹ...

Nghĩa bàng hoàng, vuốt làn tóc ướt nước mắt xõa bết trên mặt. Nghĩa tưởng như nghe lời nói trong chiêm bao. Nghĩa tưởng bà Xuất nói mê. Nhưng không. Bà Xuất mếu máo:

- Giời thương Phật độ, thế là con gái mẹ đã về được đến nhà.

Bà Xuất vuốt áo Nghĩa, thầm thì:

- Ừ, con là con gái mẹ, mẹ trông mẹ biết từ hôm bố con đưa con trên Ba Trại xuống. Mẹ mừng. Con ơi! Mẹ không mang nặng đẻ đau mà Giời Phật run rủi con về làm con mẹ.

Mỗi câu nói của bà Xuất. Nghĩa lại sửng sốt, lại thấm thía, bỗng nhiên tưởng như bấy nay vẫn là như thế, vừa buồn thương, vừa cảm kích nước mắt chan hòa hai bên má.

Hai đứa em con thím ở dưới chuôm chạy lên, kêu: “Anh Nghĩa đã về”.

Nghĩa ngẩng lên, mặt vẫn nhòa nước mắt. Nghĩa mỉm cười.

***

Tháng Chạp năm ấy, bà Xuất và Nghĩa đi tảo mộ tổ trên Ba Trại.

Trước bàn thờ có mâm ngũ quả bày nải chuối lá mật, bà Xuất thắp hương rồi vái:

- Thời buổi loạn lạc mới nên nông nỗi này, dâu họ con gái họ phải gánh phần đàn ông đi tảo mộ... lạy tổ mớ bái...

Đâu ra đấy, việc dương gian cũng như việc đường âm, bà Xuất bao giờ cũng đầy đủ, cẩn thận vậy.

Hôm nay bà Xuất đã thôi mặc bộ quần áo nhuộm vỏ xó của ông Xuất mọi khi. Bà đóng tấm váy chồi mới, áo tơ gốc đổi vai, đội chiếc nón Kẻ Chuông rộng vành. Nghĩa vẫn như mọi khi, khăn nhiễu tam giang, quần chồi mộc, áo năm thân nhuộm vỏ dà, đeo tay nải. Như cậu con trai cùng mẹ đi chợ rồi về thăm Tết họ xa, cuối năm.

Tây vào được thành Sơn rồi đi đánh đâu nữa, các quan chạy những ngả nào ai biết, ai không biết, rối tơ vò giữa mọi việc sinh sống ăn làm vẫn cứ phải cặm cụi trong khoanh tre mỗi làng. Người ta lại chửi rủa mãi về sự ông Thống có ba thớt voi đóng ở Vân Chủng cách Sơn Tây có một quãng chưa đường giập bã trầu mà không dám xuống cứu thành Sơn. Cả quân tướng vua Thanh, bọn các ông quan Mạc, quan Giã, quan Đường, quan Điều khét tiếng giết người cướp của, thế mà chỉ nghe Tây chiếm lũy Phù Sa đã chạy tháo lên Hưng Hóa [41] . Đến khi Tây đánh Hưng Hóa, nó thả lên trời mấy quả bóng có người ngồi trong nhìn xuống, đâu cũng trông thấy người bay, thế là hốt quá, cả bọn trốn thẳng về Tàu [42] .

Những chuyện đâu đâu, trong vùng lại đồn đại dậy lên.

Nhưng cũng như mọi khi, lần nào cũng vậy cứ nghe ngóng ít lâu, mọi việc ăn làm dần dần lại bình thường. Các lũy tre lại rào giậu chắc chắn, kín đáo. Những bè tre ngâm, xoan ngâm vớt lên, nhà mới dựng. Tiếng cưa xì xoẹt, tiếng tràng đục ký cách cả ngày. Bà Xuất đã sang bên Bỏi bàn với thím hai về sang năm cất nhà lại. Mấy hôm Tây vừa rút, bà Xuất đã cho hạ một bụi tre ngâm xuống chuôm. Bà Xuất định làm nhà năm gian, sáu hàng chân, xà soi kẻ ván. Khi ông Xuất còn sống, ông vẫn ước khi nào làm lại nhà, xoay hướng nam hóng gió mát, cột cái, cột lưng, cột trốn, nhà hẹp lòng làm lửng cho thoáng. Bà Xuất đã tính tháng Hai thì dông dáo lên...

Những cánh ruộng quanh các làng được tháo nước vào đầy như các mặt ao liền nhau. Có chỗ lúa đã bén chân, xanh rờn, gió thổi vướng lá lúa rì rào. Làng nào cũng nhộn nhịp cấy chiêm. Sợ vụ mùa bất trắc, không biết giặc giã còn thế nào, người ta tát nước cấy chiêm lên tận các xứ đồng cao. Thấy cây lúa đã như thấy được ăn, thấy vườn tược cày cuốc, biết không chết đói... Ruộng cần giống Hòa Lạc, những cái ao dừa chi chít làng Giá, hội vật ở Láng, ở Mai Động, hội núi chùa Thầy lại mơ màng trở lại trong ao ước của người ta. Quanh làng, cái no ấm cấy hái tới đem lại bao nhiêu yên tâm.

Các nơi tấp nập mọi nghề, mọi công việc. Bún Cổ Đô. Mấy khung dệt lượt Thu Quyến. Thợ mộc Phù Sa đi các nơi. Các lò vôi Hoàng Xá nhả khói. Rồi hương đen Đồng Lục, cày bừa Vĩnh Lộc, Tràng Đôn đan thuyền... Thế nào thì cũng phải sinh sống...

Nhưng đường cái hàng tỉnh thì đã lâu vẫn để cỏ tranh mọc. Hoa lau trắng mờ ngút ngàn hoang vắng. Người đi và chợ búa rúc ráy trong các bờ tre nhiều năm đã quen thế.

Mẹ con bà Xuất theo đường tắt lên Sơn. Ra khỏi làng từ tối đất. Gió bấc ào ạt từ ngoài đồng trống thốc lên cành đề, bứt nốt những chiếc lá vàng chóe lả tả bay vào nền trời xám tro, như gió rét càng thúc giục người đi đường.

Có hai quán hàng dưới gốc đề. Túp lều mới dựng lại, vẫn tựa vào gò đất tránh gió.

Hàng cơm Đề Cụt lại đã về chỗ ấy như năm xưa.

Trước cửa, trên gốc đề, ngổn ngang lăn lóc những buộc mây, những bó song, những khiêng củ nâu. Đã lâu, đường nước không yên, các lái trên ngược không dám xuôi bè, của rừng xuống xuôi phải gánh vai từng chặng. Những sọt xếp dãy đậy lá cọ, chiếc đòn xóc còn để nguyên như chập tối hôm qua lẳng xuống. Những gánh khác mắt, trông không đoán được. Như gánh trầu vỏ bọc lá chuối cẩn thận cho giữ được tươi, hay hũ mật mía mật ong. Nhưng cũng có vẻ nặng, hoặc gánh sơn ta, vì sợ sơn ăn mặt, phải bện lá kỹ vậy. Không chừng mà đây vẫn những gánh dao các lò rèn miền ngược chuyển về các hội nghĩa. Chẳng rõ nữa. Bởi những của quốc cấm ấy cũng không phải là của hiếm trên những đường ngang ngõ tắt khuất nẻo.

Trong hàng còn ngộn những người trọ lại đêm qua nấn ná chưa đi. Khách ngồi kín quanh hai mâm chõng ghép. Đế ý, thấy mỗi người nhấm nháp đểnh đoảng một cách. Hầu như cốt cho sáng ngày ra có cái lèn vào bụng cho ấm và lấy sức qua thêm một độ đường. Nồi ba cơm vừa bắc trong bếp ra, mở vung sẵn. Mùi gạo mới bốc thơm gây. Thức ăn độc có liễn sáo chó cách đêm còn lại. Không kịp hâm, mỡ đóng váng trắng quanh mép cái liễn da lươn. Mấy ông kềnh càng, sáng sớm uống rượu suông tráng miệng thì ngồi dẹp vào một góc.

Những câu chuyện càng đậm, rôm rả. Một người nói to:

- Có sự tích mới hầu chư ông đây, hay lắm. Chốc nữa, mỗi người mỗi ngả, được câu chuyện mới bỏ vào tay nải làm quà đem theo cũng hay.

- Kể đi, gì mà kè nhè, dài dòng...

- Tớ vừa ở Kẻ Mảy ra.

Có tiếng rè rè cất giọng:

Cốm Vòng, gạo tám Kẻ Mảy

Tương Bần, húng Láng...

- Im cho người ta nghe!

- Chuyện này thật mắt thấy.

- Đầu đuôi thế nào?

- Cái anh tuần phủ Ninh Bình mắc chứng thổi ống đu đủ, một hôm đem cống các quan Tây ngoài Hà Nội hai con voi. Toán lính dẫn voi qua địa phận Mễ Trì, đi đường này chẳng đi lại dẫn xác vào hang hùm Kẻ Mảy. Ông Tự So cho quân ra buộc giẻ vào đuôi voi rồi châm lửa. Hai con voi tế lung tung đi, thế là thằng nịnh mất đồ lễ.

- Chuyện này cả tỉnh Kẻ Chợ biết rồi.

- Còn khúc nữa chưa ai biết. Mới vài hôm nay thôi. Quan tỉnh tức lắm, sai đề đốc Tại đi Kẻ Mảy dẹp loan Tự So.

- À cái anh lãnh binh Đặng Văn Tại ra hàng Tây được thăng đề đốc, ai mà lạ!

- Hội nghĩa ta trên Sơn Tây đã bắn thủng một mắt nó đấy.

- Tỉnh sai đề Tại về triệt hạ làng Mễ Trì.

- Thế thì sao?

- Thằng chột mắt đã mất nửa vía, nấn ná mãi, không dám đi.

- Thế rồi sao?

- Nhưng rồi sợ cũng phải đi. Cả vùng Kẻ Mảy xông ra đánh đòn hội chợ. Đề Tại chết tươi ngay bên ao đình.

Một người nhấp bát rượu, gật gù.

- Cái ngày lãnh Tại chưa được thăng đề đốc, phải hội nghĩa trên Sơn Tây lấy mất một mắt, có ông thâm nho đã gửi đến mừng chửi nó đôi câu đối.

Gươm giặc trao tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại

Dao găm để bụng, yêng hùng chỉ có một ngươi thôi.

Người ta cười ré lên. Cái ông vọc vạch chữ nghĩa ấy ư ử ngâm to đôi câu đối lên một lần nữa. Chuyện đề đốc Tại bị người Mễ Trì đánh chết ồn ào một lúc rồi lại lan man sang mọi chuyện không đầu không đuôi khác.

Ở hàng cơm, quán trọ, cũng như trong bữa cỗ chia phần hàng phe hàng giáp, chòm xóm, những cuộc chén chú chén anh lâu ngày gặp nhau, mấy năm nay, thì chuyện quốc sự vẫn là hào hứng nhất, mặc dầu Tây đánh ra đánh vào, thuở giờ vẫn như thế, người các làng chẳng có gì đổi khác cả.

Những tích hội quân, lò rèn mã tấu, rồi mọi chuyện nghe ngóng thằng Tây các nơi hồi này thế nào, Tây có hỗn có láo lắm không, Tây buôn phố Mới, Tây đạo Nhà Chung, Tây lính Đồn Thủy. Chúng nó kéo nhau đi đánh những đâu. Rồi lại trở về chuyện Tây hạ thành, các quan ta trèo thành chạy ra mặt cắt không còn hạt máu. Rồi lại cùng nhau cười ha hả, đập chén ăn thề, chẳng có tang ma ai trong nhà mà cũng chít khăn trắng, khăn sô bảo là để tang mất nước. Rồi mỗi người lại bôn ba mỗi nơi, đem theo chí báo thù. Không phải những ông đề ông lãnh nào đâu, đây là những người nghĩa khí làng nào, xóm nào cũng có.

Mơ ước của những người muốn dọc ngang thiên hạ ấy, có khi lạ lùng đến hồn nhiên. Ước được ngồi ăn cỗ uống rượu rồi đi chơi đâu cũng được, chỗ nào cũng đánh bạn được, có cá, có gạo tám, có hội thả chim, hát xoan, đấu võ, quanh năm vùng này vùng khác. Nhưng chỉ là những ước ao để đấy. Rồi lại tối mặt trong mọi việc đồng áng quanh năm. Thế nhưng mỗi khi gặp nhau, lại những hẹn hò, thức suốt sáng cũng chưa hết chuyện bàn, chưa đi xong được miếng hiểm một đường khiên, một thế quyền...

Cũng là vận hội đất nước đến lúc. Người các lứa tuổi đi đâu cũng thấy, lúc nào cũng sôi nổi, coi sống chết như không. Gặp gỡ phương trời, thấy nhau một lần đã ra keo sơn. Như ông Xuất với ông Tư, với bố Đề Cụt, như bác Bếp, như bao nhiêu gái giả trai đi việc nước.

Từ ngày anh em bảo trở về mở lại hàng, bây giờ chỉ có một mình Đề Cụt xoay xỏa. Quán xá lèo tèo quá. Có hôm thịt con chó, khách đến phải xúm làm đỡ, xong lại bắc bếp thổi cơm. Có người hội nghĩa qua lại. Cũng khi những ông bợm rượu đã đôi ba chén cay rồi, hăng hái cùng với chủ quán cắt tiết, thui chó, làm lòng rồi luộc, cả nấu nồi sáo, ai nấy đều làm giúp coi như thường. Cũng chẳng sao. Nhiều khách vào hàng không phải vì miếng ăn - người có việc đến, thế nào cũng đến. Lâu dần, cái trễ nải suồng sã cũng đâm quen mắt. Khách quen không quan tâm tới quán hàng tềnh toàng. Niềm hiu quạnh của Đề Cụt cũng bớt một phần.

Đám khách gồng gánh vừa ra vãn, mẹ con bà Xuất bước vào. Cánh đồng dưới kia tan sương rồi bốc lên mù mịt từng mảng, vào đến trong cửa mới rõ mặt. Nghĩa bỗng thoáng ngại và có ý ngượng. Không biết mẹ có nói với anh ấy mình là con gái?. Có thể mẹ sắp nói. Có thể mẹ giữ kín. Nhưng nghĩ đến công việc mình cần phải gặp anh Đề Cụt, Nghĩa bình tĩnh lại.

Đề Cụt chạy ra, hớn hở:

- Kìa mẹ! Kìa chú! Vào đây, vào đây, đi từ gà gáy à?

Nghĩa bảo Đề Cụt:

- Có chuyện nói ngay với anh đã, rồi sau mới thong thả được.

Đề Cụt đã thuộc tính Nghĩa vốn gọn mà nhanh. Đề Cụt lặng lẽ vào theo Nghĩa.

Nghĩa ngồi xuống trước bếp, giơ tay vần nồi cơm còn đỏ than trên vòng rơm Đề Cụt vừa quấn lên mặt vung. Đề Cụt ngồi ngoài, một tay để nguyên trên đầu gối, nhìn Nghĩa một cách kính cẩn. Đề Cụt đương nghĩ mình là quân của Xuất Nghĩa, của hội nghĩa làng Nha, Nghĩa cũng nghiễm nhiên có cảm tưởng ấy, đã quen.

Nghĩa nói nhỏ, không nhìn Đề Cụt, tự nhiên như chuyện nhà, nhưng giọng lạnh:

- Bác Bếp...

- Bác Bếp về nhà ta à?

- Bác Bếp về thu xếp việc ông lãnh Thày Vồ hợp quân với ông chánh. Bác Bếp bảo ngày chợ Phùng này, bác lên. Anh ra Sơn Đồng thưa trước với ông Chánh, rồi sang ông Tự bên Sơn Lộ.

- Chú với mẹ về Ba Trại?

- Bác Bếp gặp anh rồi cũng lên Ba Trại. Em cũng về đấy gặp ông Chánh, ông Tự với bác Bếp. Chuyến này phải đặt nhiều hàng lắm. Người bên Bãi Sậy sang đợi. Em theo mẹ lên tảo mộ, nhưng cũng vì việc ấy nữa. Làng mình bây giờ có được đủ một cơ rồi, cũng phải sắm thêm. Mấy người ngồi ngoài hàng đương để ý chúng mình kia. Thế thôi nhé. Anh phải cẩn thận, chim mồi chó săn ngoài đường bây giờ nhiều lắm.

Nghĩa bước ra. Đề Cụt đứng dậy, theo sau.

Bà Xuất vẫn ngồi ngoài ổ rơm, tay nải khoác vai, như lại sắp đi.

Đề Cụt chèo kéo:

- Mẹ với chú ăn cơm cái đã.

- Vừa buông bát thì lên đây mà. Thôi để đi cho được đường.

- Chú làm một bát nước cay cho ấm bụng. Còn sớm chán.

Nghĩa mỉm cười, không nói.

Bà Xuất đứng dậy.

- Hôm nào về đã. Nhớ mẹ con tôi không ưa cái thịt cầy đâu.

- Có sẵn đôi gà kia rồi ạ.

Mẹ con bà Xuất lại tất tả xuống đồng. Bây giờ sương đương tan xa, đã trông thấy hàng chân tre trước mặt.

Đám khách còn lại, lúc nãy thấp giọng xì xào thầm thì, bây giờ nhao nhao.

Một người đứng tuổi, áo vỏ dà, đầu cạo trọc bịt cái khăn nâu như một sư bác, vẻ quê kệch lam lũ, lúc ấy, cứ tủm tỉm cười, nhìn Đề Cụt rồi nói:

- Cái anh này mà có duyên thầm.

Đề Cụt lững lờ nói:

- Duyên với nợ gì, bá ngọ cái lão sư phá giới này, từ giờ đừng nói lăng nhăng nhé.

Một người ra vẻ thạo, nhìn người vừa nói, có dáng nhà sư.

- Thế chư ông chưa nghe tiếng Xuất Nghĩa à?

Người ngồi đằng đầu ghế, hỏi với lại:

- Xuất Nghĩa nổi quân ở làng Nha ấy a?

Câu trả lời hể hả:

- Xuất Nghĩa đấy! Xuất Nghĩa vừa đi ra đấy, phải không anh Đề? Ai ngờ được cái anh chàng mặt búng ra sữa ấy mà tài thế.

- Nhưng trông kỹ, mặt đẹp mà nghiêm. Người ấy có tướng cầm quân.

Cái bác có dáng nhà sư vừa tủm tỉm cười nói trêu Đề Cụt lúc nãy bây giờ đủng đỉnh hỏi:

- Ông anh bảo Xuất Nghĩa nào?

- Cái người đẹp giai, trắng như con gái đi cùng với bà Xuất vào đây vừa ra.

Người nọ trợn mắt, đứng dậy, nói to:

- Bé cái nhầm! Bé cái nhầm!

Rồi cười khớ khớ, tưởng đến vỡ nhà.

- Chư ông chẳng biết gì ráo! Đấy là con gái ông Tư Ba Trại mặc giả trai về làm dâu nhà bà Xuất Vấn.

Rồi kể:

- Tôi còn biết tên nó là cái Trại.

Mọi người ngớ ra. Cả cái quán bỗng lặng im một cách khác thường. Mãi sau mới có người hỏi nhỏ:

- Sao ông anh biết?

- Thì tôi là người ở Ba Trại. Tôi đến ăn cưới cái Trại hôm ấy mà. Cỗ cưới vắng chú rể. Thương thật, thương thật.

Nói thế rồi người ấy thong thả lắc đầu, nhấc ống tay áo quệt hàng nước mắt đương ứa ra.

Đề Cụt chỉ “à” một tiếng. Như coi chuyện ấy là thường, biết rồi. Thời loạn, gái giả trai có cả trăm người đi ngoài đường kia, không có gì phải xì xào. Nhưng thật trong lòng Đề Cụt đương bâng khuâng, xao xuyến, bối rối quá.

Tự dưng Đề Cụt nhớ lại năm trước, lúc chập tối, Nghĩa đến, có người kêu lên: ô con trai mà cười má lúm đồng tiền, khéo con gái... Lần ấy, đầu tiên Nghĩa tới đây...

Rồi Đề Cụt nhớ miên man... càng nhớ ra... càng nhớ ra, Đề Cụt càng ngượng, cứ luống cuống nói thầm một mình: thảo nào, thảo nào... Gẫm ra chỉ có mình thật là đụt. Mình giữ chân tai mắt cho các hội nghĩa, thế mà có điều ấy ngay trước mắt, sao bấy lâu mà không biết, không nhận ra.

Đề Cụt bước ra cửa nhìn cánh đồng. Sương đã tan hẳn. Trên lối đi về đằng ấy có những búi hoa mua tím, hoa sim nở sớm, cánh đỏ hây. Không phải. Anh chàng nhìn nhầm những mô đất cạnh gốc rạ. Mùa này chưa mùa hoa sim.

Mẹ con bà Xuất đã đi khuất vào chân tre đằng kia từ lâu.

Nha Trang, 1978

« Lùi
Tiến »