TỪ KHI QUÂN TA GIẾT ĐƯỢC QUAN NĂM ở Cầu Giấy, bắt đầu trên thành Sơn phải phòng giặc. Ngót một năm đắp xong lũy Phù Sa - cái lá chắn che cho Sơn Tây. Đứng trên lũy, trông ra ngang sông phía trước đường cái quan xuống Gạch, xuống Bún, về Phùng. Không còn lối nào khác lên được Sơn, lối nào cũng phải qua đây.
Ở chốt Nghệ nhìn vào, đồn ải Phù Sa lổn nhổn cao ngang cột cờ trong thành. Ngỡ như mới mọc thêm ở đây cái núi chùa Thầy.
Vài hôm lại nghe quân Tây dòm dỏ lên. Các quan lại đốc dân phu về vót chông, đắp thêm ụ. Ròng rã hàng tháng, làng làng cơm ăn cơm dỡ đi việc quan.
Người đi phu về kể lũy Phù Sa dày ba vì tường. Một đường hào dưới chân, mặt nước mùa hanh hao vàng rợn những đám bèo tổ ong. Quanh hào, trong bãi cỏ, bụi ké, bụi mua cắm các thứ chông. Chông dài đâm vào mặt, vào lưng. Chông nhỡ vào bụng, vào đít. Chông chi chít trong chân cỏ. Tài thánh thằng Tây cũng không trèo qua nổi.
Chính tay người ta dựng lên, rồi lại người ta đâu đâu cũng đồn lũy Phù Sa ghê gớm. Ai cũng ngóng rồi có hôm về chợ Nghệ để được xem.
Giữa lúc ấy, lệnh quan sức các làng đem tuần đinh trai tráng lên giữ tỉnh - quân Tây sắp đánh lên rồi.
Thế là làng nào làng ấy đưa người về tỉnh. Nhiều người không được cắt đi cũng đi.
Người các làng lên phải đóng ngoài lũy, không được vào thành.
Hay là thế nào không biết, cánh trai làng Nha tới Phù Sa, ngoài lũy đã đen ngòm từng đám. Nào quân quan, nào các làng, mới thoạt nhìn cứ úi người lên. Nhưng rồi dần dần cũng nhận ra cơ ngũ đâu đấy.
Quanh chân lũy, từng ngũ [37] đứng gác. Một ông quản cơ, ông xuất đội, thắt lưng lụa vàng chóe, lủng lẳng thanh gươm cạnh sườn, làn khăn lam lấp ló dưới vành nón chóp dứa chỏm đồng. Ông bước qua mặt đám lính mà đi ve vảy hai tay, chân thũng hình chữ bát, dáng khoan thai như đi tiến tước giữa đám tế, không ra quân quan đương đợi giặc đến đánh nhau.
Những cánh trai làng xách gậy tầy, mã tấu mới lên cứ lóa mắt trông từng đội, từng cơ lính khuân ra những đại đao, đoản kiếm, giáo mác, siêu, khiên, mộc, lại cả bao nhiêu đồ trường, từng đống nỏ, súng hỏa mai và ống tên chất bừa bãi như ống đũa. Mấy cái máy bắn đá đã mòn nhẵn vẹt hai bên thành gỗ cũng được khiêng tới nằm phủ phục như những ông voi giữa những bao tẩu, bầu ngòi, chày nạp đạn súng thần công lẫn lộn đấy - tất cả mọi thứ đã chiến trận nhiều, lên nước xám bồ hóng.
Lũy trong, thấp thoáng một chiếc tán vàng. Người ta xì xào: có quan đề ở Kẻ Chợ lên đốc chiến, ngồi trong ấy. Quan đề đem hai cơ Chấn, cơ Định dưới Hà Nội lên hợp với cơ Hùng, cơ Dũng của Sơn Tây. Thảo nào, thấy có đội lính võ sinh đứng gác ngoài lũy, vai vác súng hỏa hổ, người nào cũng để râu quai nón.
- Giời ơi! Có quận Ất, quận Vênh tỉnh Đông lên với quận Sài [38] tỉnh ta, phải không?
Cũng chưa ai trông thấy tượng binh. Nhưng chỉ tiếng đồn có những thớt voi ra trận cũng làm người ta phấn chấn hơn.
Bên chân lũy, từng ngũ đương tập bắn súng điểu thương [39] . Súng điểu thương bằng gỗ mun bóng soi gương được, các quan gửi mua tận bên Quảng Đông. Vác nặng, nhưng được cái bắn xa đến nhìn hút tầm mắt còn thấy trúng. Súng quý, được phát từ năm nào mà tỉnh vẫn cất kho, bây giờ mới đem ra thử.
Mọi việc nhồi thuốc, tọng thuốc, thông nòng, bóp cò còn lóng ngóng lắm. Tập luyện việc quân mà cứ xúm xít như chọi gà. Ấn đến sái gân mới nẩy lửa cháy mồi. Thay hàng chục hòn đá đánh lửa mà vẫn chưa bén được thuốc bổi.
Tập cả buổi, suốt hai hàng xuất, đội người nào cũng nhức cánh tay. Thành thử, từ hôm phát súng phải tập suốt ngày. Lại còn tập thế nào cho đến lúc đi trận hăng nhất, gay go nhất cũng chỉ được mổ cò năm cái. Bắn dôi đạn ra, ông đội trưởng phạt một phát một quan tiền. Mỗi đội trăm con người chỉ được cầm có năm khẩu điểu thương mà tập tành cho tới lúc quen, thật khó nhọc. Phải thay nhau - cả ngày toàn lách cách bóp cò không cái đã.
Người ra đứng xem đông hơn người tập bắn. Cứ như đám đấu vật. Lại thêm mỗi lúc các làng xúm xít kéo đến. Ai cũng len vào để được trông thấy mặt mũi cái súng mới nó ra thế nào.
Trai tráng các làng rải rác lên đã được chứng kiến suốt dọc chân lũy sôi nổi những tiếng hô, tiếng thét, tiếng cò súng mổ côm cốp, tiếng roi mây, tiếng gậy song của các ông trưởng cơ, ông thập, ông ngũ vụt xuống lưng xuống đầu những người lính lẩy bẩy, túi bụi, rầm rập càng tăng thêm vẻ sát phạt trận mạc đến nơi rồi.
Lại càng uy nghiêm hơn, ở mỗi bậc cổng lên mặt lũy, sừng sững một người lính canh đội nón quang dầu, mặc áo chiến bằng da trâu thuộc mầu nghệ thối chỉ ngắn lửng lơ đến ngang lưng. Một tay cầm dựng cái giáo, tay xách chiếc khiên đan mây che ngang ngực. Mặt người nào cũng hầm hầm, thấy bọn mới tới đi qua không thèm nhìn. Con mắt còn dõi ra bờ sông.
Trai làng Nha kéo tới Phù Sa trong cảnh nhộn nhịp tơi bời như thế. Phía lũy sau, còn như thế nào, không ai biết. Đằng ấy, chỉ các cơ lính tỉnh được lai vãng. Cả tầng lũy ngoài này, toàn người các làng. Thoạt trông cũng biết.
Chỉ thấy những dao dài, dao ngắn, lủa tủa mấy cánh nỏ vác vai. Thỉnh thoảng, mới có người đeo hỏa hổ, cái nòng ngắn hủn hoẳn.
Đôi chốc, Nghĩa trông thấy, có người vác khẩu hỏa mai trên vai áo chàm bạc, thắt lưng giắt bao đựng thuốc nổ làm bằng miếng da báo lốm đốm. Đây là quân các làng trong núi ra. Nghĩa bỗng bồn chồn nhớ nhà. Nghĩa nhớ ngày trước khi đi rừng cũng mặc áo chàm bạc vai như thế. Nghĩa cảm thấy nước mắt rơm rớm. Nghĩa vội lấy cùi tay dụi mắt và nhìn quanh. Nhưng không ai để ý.
Rồi, mọi việc ào đến. Không còn thảnh thơi nghĩ ngợi vẩn vơ được nữa. Trong bọn các làng vừa tới, có người chỉ trỏ:
- Chắc ông ầm [40] ngồi trong kia.
- Đừng trỏ tay, quan ra hặc đấy.
Mọi người nhớn nhác nhìn phía chân lũy. Quân trong thành vẫn đổ ra tập súng, tập côn, tập đại dao ngày một đông trong tiếng hò hét, quát tháo rầm rĩ. Ai cũng phấp phỏng đoán ở các lũy trong, ở trên cao và tít vào trong thành thấp thoáng cột cờ, trong ấy quân ta có cả nghìn cả vạn người, oai hùng lắm.
Một ông lãnh binh bước tới, quát:
- Quân nào thế này?
- Bẩm quan, quân làng Nha phủ Hoài.
- Phủ Hoài á? Vào đây!
Ông lãnh ấy đội nón dứa chóp đồng, vai đeo khiên, chân quấn xà cạp xanh lá mạ. Ông cũng bước thủng thỉnh chân chữ bát thong thả, con mắt nghiêm không nhìn ai, như đi lễ đi tế, hệt các quan võ khác. Ông quay lại, giơ tay vuốt ria mép, đứng thẳng, giọng ỏn ẻn hét từng tiếng trước hàng quân mới đến.
- Các quan bổ cho chúng mày giữ khúc thành này. Sống cứ ở chỗ này. Chết cũng ở đây. Không được nhích đâu nửa bước, nghe chưa?
- Vâng ạ.
- Bây giờ chưa phải đánh nhau thì đi tìm đá gánh lên, chất vào bờ lũy!
Rồi quan lại ra lệnh:
- Lúc nào có giặc, nghe cho rõ việc phải làm này. Các quan trong thành bắn súng thần công. Nghe súng thần công bắn ra, chúng mày phải reo lên, reo thật to, nghe chưa. Giặc mà mò đến dưới lũy, lập tức lăn đá, ném đá, bắn nỏ. Đứa nào có gan cứ xông xuống chặt đầu nó. Mỗi cái đầu, cái tai đã có đặt thưởng từng hạng. Tây trắng, Tây đen, khố đỏ, lính đạo, lính tập. Nếu giặc leo lên lũy, phải nhảy ra, chém cụt chân nó. Xách được cái chân cái tay về trình cũng có thưởng, nghe chưa.
Tiếng reo vâng ạ à à...
- Đấy, các quan phân bổ là thế. Đứa nào làm sai thì phải vạ. Việc quan không ê a như việc làng nhà chúng mày đâu. Thằng nào là ngũ trưởng, đi theo tao dặn thêm.
Ông lãnh lại đĩnh đạc từ từ bước vào đám đông tất bật xung quanh.
Ông lãnh đến hò hét, ra lệnh. Bọn nào rõ việc bọn ấy xong, ông lại đến bọn khác. Một lát, ông sang lũy đằng kia. Rồi cũng không lần nào trở lại, và chẳng ai nhớ đến cái ông quan quát tháo ấy nữa.
Việc đầu tiên hối nhau bắc bếp thổi cơm ăn cái đã. Nhưng cả bọn đã đi trắng đêm qua, ông lãnh đã ra chỗ khác rồi, có người vừa ngồi phịch xuống đã ngả lưng gối lên tay nải, ngáy khò khò. Nghĩa cũng bơ phờ buồn ngủ lắm. Nhưng Nghĩa nhớ công việc người xuất đội mà ông lãnh vừa bảo, Nghĩa lại xuống chân lũy, bê lên mấy hòn đá, bắc làm ông đầu rau. Làm cơm ăn cái đã. Mấy người được cử làm ngũ trưởng, thấy Nghĩa cặm cụi thế cũng không dám nghỉ, phải xúm vào đỡ một tay. Hai người đổ gạo trong ruột tượng đi vo rồi ra bờ tre xóm gần đấy, kéo về mấy cành rong với một ôm mo nang. Một người ra ruộng, tìm rau.
Xóm quanh đây đã chạy hết, cửa rả nào cũng đóng kỹ, gọn ghẽ, không còn gì. Nhưng vùng Linh Chiểu sẵn rau cần, rau muống Linh, giống rau tiến vua có tiếng. Thời vụ đã đến độ sương muối mà rau vẫn mọc từng ống như nghể trên các mảnh ruộng trầm ngoài lũy tre. Thế là, được rau cần về muối dưa, lại để dành rau muống buổi mai.
Trên mặt lũy, ở góc tay trái, và các lũy khác, đã um lên khói thổi cơm của quân các làng.
Cơm xong, lại bắt tay ngay vào những việc ông lãnh binh đã chỉ vẽ. Chia nhau đi nhòm từng lỗ châu mai. Chỗ nào hở, lấy đá chèn thêm cho khít. Còn lại bao nhiêu người, đi khiêng đá.
Nghĩa xem lại vại nước ăn. Mở nắp mo cau ra, thấy có vại còn vơi, Nghĩa sang lũy trái bên ấy có các làng ở phủ Quảng xuống mượn được cây vầu về vác nước. Chỉ có Nghĩa biết cây vầu vác nước. Từ khi xuống dưới xuôi, Nghĩa mới trông thấy người quảy nước. Trên quê mình, ai cũng chỉ vác ống vầu.
Nghĩa vào trong làng tìm được cái giếng thơi ngay bên cây khế lúc lỉu quả vàng mọng. Nước giếng cạn, nhưng trong vắt. Cho tới chập tối, Nghĩa và mấy người nữa vác lên được đầy cả vại nước. Cứ đánh nhau cả tháng cũng không lo hết nước uống. Nghĩa lại trèo cây, ngắt một ôm khế chín. Vẫn tính con gái, thích của chua. Mấy anh trai làng lè lưỡi kêu chua. Nhưng rồi cũng nhá rau ráu cả buổi tối.
Mọi nhộn nhịp ban ngày đã dần dần biến mất. Cả những người lính gác chân lũy, bậc lũy cũng rút vào thành từ lúc nào rồi. Chiều vắng im. Bốn phía cánh đồng, sương bát ngát dâng lên. Trời càng tối, lũy càng xôn xao như đêm làng vào đám có phường hát về. Không lũy nào nhìn thấy nhau, người ta đâm nhớ nhà, chuyện cứ ầm cả lên.
Tiếng ồ ồ kể vè trống quân.
Thế gian ai kẻ ngồi rồi...
Cả hàng lũy cười ré.
Bỗng tiếng loa rồi tiếng quát - không biết lính võ sinh hay lính phòng thành, ở đâu chõ ra:
- Đứa nào bô bô làm loạn thế?
- Ông đấy.
- Muốn sống thì câm ngay!
Rồi loa réo văng vẳng:
- Bớ ba quân thượng hạ! Quan đốc binh ra lệnh chúng mày câm mồm, khóa khẩu. Đứa nào không tuân thì chém đầu lập nghiêm. Bớ ba quân thượng hạ...
Tiếng loa tỏa các ngả. Thế là người ngoài lũy im dần. Một lúc, lại thì thào. Thì ra, trong bóng tối có người vẫn đi lại dưới lũy mà không ai biết. Quân quan đi thám về. Tin tức chưa vào đến trong thành mà đã rỉ tai loang ngay ra các lũy.
Có người quay ra hỏi:
- Quân Tây lên à?
- Ừ, các thằng bỏ mẹ ấy đã lên đến Rau Cốc rồi, cả đường sông đường bộ.
- Bến Rau ngoài Vân ấy a?
- Phải.
Có người đứng lên nhìn ra sông. Phía nào cũng thấy tối đen, chỉ thấy lấp lánh sao.
Người ấy chép miệng nói vu vơ:
- Ồ, mặc sức thiên hạ!
Dần dần về khuya, những tiếng lào thào đã im nhưng vẫn có ánh lửa nhấp nhem. Đêm tháng Mười, nằm vạ vật ngoài trời, cái rét mỗi lúc một thấm. Không làm thế nào được, lại rủ nhau lần xuống ruộng nhổ gốc rạ về đốt sưởi.
Tiếng loa của quân phòng thành dội ra.
- Bớ ba quân thượng hạ! Đứa nào đốt lửa làm hiệu gọi Tây đến, quan ra chém đầu bây giờ.
Thế là chỉ còn tiếng gió trên những lũy tre đằng xa.
Nghĩa xếp tay nải gối đầu, rồi nằm xuống. Cứ nguyên cả cái áo dài nâu da bò, quần lá tọa, hai chân bê bết bùn từng mảnh, lúc nãy đã sát mãi vào nhau mà xem chừng đám bùn khô vẫn rơi lả tả chưa hết. Nhưng Nghĩa không tài nào chợp mắt. Bây giờ lại không buồn ngủ nữa. Hai tay khoanh lên ngực, nhìn lên trời. Dù đã đi suốt đêm, lại lủng củng dọn dẹp cả ngày, mà vẫn thao thức. Không phải vì nơi lạ. Bây giờ Nghĩa đã ăn sam nước, lại đương sức, đặt mình đâu ngủ đấy. Nhớ lại mấy năm nay, chỉ có đêm đầu tiên, đêm đầu tiên trên quê xuống qua hàng anh Đề Cụt, Nghĩa chong mắt suốt cái đêm sắp về làng Nha ấy. Bây giờ khác rồi.
Bây giờ, bao nhiêu lo toan đến khiến Nghĩa chưa chợp nổi mắt. Quân Tây đã lên tới bến Rau. Nó đi thuyền hay đi bộ? Đi bộ hay đi thuyền, đằng nào chắc là cũng qua làng Nha. Không biết làng nước ta thế nào. Đêm biết như cắt, mà những ông sao cứ sáng rợn. Trời này, mai nắng lắm, không biết làng nước dưới kia ra sao.
***
Quân Tây đánh suốt ngày vẫn chưa vào được làng Nha.
Bọn mật thám đã biết từ phủ Hoài suốt tới Phùng, lên Sơn, lên Hưng Hóa, các làng đều là dân dữ. Lần này lên đánh Sơn Tây vừa xua quân đi thẳng, vừa phải triệt hạ làng nào ở dọc đường xem ra gai mắt. Không dám dừng lại hẳn. Dừng lại, nhùng nhằng không biết đến bao giờ. Rồi nhỡ các làng cứ hùa nhau nổi lên. Mà trong cánh đồng, mỗi khoảnh tre là một làng, một xóm. Dẹp đến mấy năm chưa chắc đã tới được Sơn Tây. Lần trước, đánh ra Chèm. Chúng nó đã biết khó khăn ấy rồi.
Làng Nha kín bưng trong khoanh tre như con rùa đã chui vào mai rồi. Bắn cả buổi sáng, đạn như không xuyên hết các lũy. Chỉ nghe rào rào trên vòm tre. Đã mấy lần bọn Tây trắng lội qua tràn ruộng sâu mới cấy rau cần xâm xấp nước, áp vào tận chân lũy, kề súng bắn. Cũng chỉ nghe đạn nổ lốp bốp trên đám tre gai chằng chịt rồi im.
Một toán theo đầu cánh đồng vào. Đường làng vẫn phẳng lặng, không chỗ nào cắm chông. Mấy người lính đạo lò dò men vào tận cổng. Giữa gốc gạo xù xì, không trông thấy cổng rong tre khít chặt, ngoài trổ một lớp chông trà. Chúng nó xúm lại, lấy dao chặt một quãng, rồi một người bíu vào các mắt tre, trèo lên.
Bàn tay đã nắm được cái mắt tre. Giữa lặng lẽ phăng phắc, lập tức, một nhát dao bảy trong bụi tre lách ra, phập một cái. Cả người và bàn tay rời ra, rơi xuống. Bàn tay quẫy đành đạch giữa đường cái như đuôi con mối bị ngắt đứt.
Cả bọn xúm lại khiêng ra thằng lính đạo mất bàn tay. Không dám vào tận nơi nữa. Cứ đứng ngoài xa, bắn loạn xạ. Ở trong, vẫn im như không. Lúc nãy còn đoán trong làng không có người, bây giờ táng đảng ra rồi. Trong những lũy tre lầm lì bí hiểm ấy có người, có nhiều người ghê gớm đến không biết thế nào nữa.
Bọn Tây trên đê thúc thêm lính xuống. Một lũ đỡ những cây rơm, những đống rạ ở các ruộng vừa gặt chất vào đốt chân tre. Đến trưa, quanh lũy đen nhẻm một màu tàn rơm. Nhưng, những hộc tre cháy rồi lại tắt, các bụi tre vẫn nguyên thế.
Suốt đêm, quân Tây và bọn lính tập phải dựng lều ngủ ngoài ruộng.
Sáng sớm, lại hò hét vác đao, xách thang xông vào. Chặt tre đến đâu, bắc thang trèo, hung tợn quá. Có đứa bị nỏ bắn ra, ngã lăn xuống hào. Từ lúc ấy, chúng nó bắn từng chặp rồi mới leo vào. Không biết trong làng có bao nhiêu quân. Không nghe tiếng súng, trong làng không có súng. Chúng nó lại hò nhau chặt tre từng quãng rồi bắn, rồi bắc thang qua.
Trong làng thật cũng chẳng còn mấy nả người. Những tay khỏe nhất hăng nhất đã ở trong đám quân lên Sơn. Người già, trẻ con chạy sang Bắc từ lâu. Cả làng còn lởm nhởm vài chục người. Nhưng từ hôm có tin Tây lên, cũng chưa lần nào đứng lại thành bọn. Cả làng tản ra ngày đêm canh giữ quanh các lũy. Các chư bà và chú tiểu ngoài chùa cắt lượt đem cơm và ấm nước ra trạm gác. Các cụ kể làng ta từ bao nhiêu đời, người già truyền lại cho con cháu, chưa đám cướp nào lọt nổi qua bờ tre, ba khoanh hào. Lần này ai cũng chỉ nghĩ thế.
Bốn phía, tiếng chặt tre, tiếng chửi, tiếng la hét. Chốc lại vang một loạt súng nổ, một đám khói um quãng xóm giữa. Chúng nó hun rơm hay đã lọt vào đốt nhà trong làng. Người trong xóm đổ ra đằng ấy.
Bà Xuất ở chùa ra đội thúng cơm còn bốc khói. Bà Xuất hỏi những người đương chạy.
- Cháy đâu thế kia?
Chẳng ai dừng lại. Người ta mải xô về đám cháy. Có thể vì bà Xuất mặc cái quần, cái áo xồi nâu, nom như bác lái lợn hay ông khán thủ, chẳng ai buồn nhìn lúc ấy.
Bố con lão Vạn - vẫn cái khố đuôi lươn như con đỉa vắt vào đít, trời rét thế mà áo rách tả tơi hai vai, bên hông đeo chiếc ống bương dài lê thê.
Hai bố con cứ chạy tế lên cho ấm.
Vừa chạy vừa kêu:
- Ới làng nước ơi, thằng Tây đến xóm ngoài rồi.
Bà Xuất đứng chững lại.
- Nó vào xóm ngoài rồi à?
- Đấy, đấy... Cả xóm đồng cũng thấy rồi. Cháu vừa ở dưới ấy lên đây.
Lão Vạn toan chạy nữa, nhưng lúc trông rõ bà Xuất bèn dừng lại.
- Nghe bọn lính đạo bảo nhau tìm đốt nhà Xuất Nghĩa...
Bà Xuất hỏi lại:
- Đích thế à?
- Ngồi trên nóc điếm, nghe rõ mồn một thôi. Nó hò nhau vào đốt nhà Xuất Nghĩa từ lúc đương phá rào. Bà đi đâu bây giờ?
- Tao đem cơm ra lũy. Hai bố con lấy mấy nắm mà phòng thân.
Bà Xuất hạ thúng xuống, mở đệp lá chuối. Những nắm cơm bốc khói nóng nghi ngút.
Lão Vạn nói:
- Bà ra ngoài lũy bảo anh em liệu mà về giữ xóm, không để nó lổng hổng phá hết làng mình thế à!
- Bố con nhà mày đi đâu?
- Cháu về giữ xóm đây.
- Giữ xóm mà đeo cái ống vầu kia thì làm sao?
Lão Vạn trợn mắt, trỏ tay:
- Mỗi ống lèn mấy con mai gầm chưa mài nanh đấy, bà biết không!
Rồi hối hả mỗi người một phía.
Đúng lão Vạn nói, Tây đã vào được làng, qua lũy tre thủng đằng ấy. Khói đốt nhà càng dày đặc. Mắt tre bắt lửa nổ choạng choạc, chẳng khác ống lệnh.
Tiếng reo chập chờn trong gió khói, không rõ bên nào hò hét. Nhưng thế là đôi bên đang đánh nhau trong làng rồi.
Bà Xuất đưa cơm xong, tất tả về nhà. Đã thấy Ngát xách mã tấu chạy ra.
Ngát nói:
- Mẹ đừng ở trong xóm, nhỡ một cái thì khốn. Mẹ bảo cả nhà chùa, các chư bà chạy ra đồng thôi.
Bà Xuất hỏi Ngát:
- Mày đi đâu bây giờ?
- Mẹ cứ ra đồng trước đi.
Bà Xuất cũng nói:
- Không có lối chặn đằng sau mà sợ. Nó vào đến nơi tao chạy cũng vừa...
- Đừng, mẹ đừng...
- Tao cũng có cái này chứ.
Bà Xuất lôi trong xó cửa ra một ngọn giáo có mũi sắt vẫn dựng trong ấy.
- Mẹ ở nhà, con lo lắm.
- Mặc tao.
Bỗng Ngát nhăn nhở cười.
- Ờ mà mẹ mặc quần áo đàn ông, lại cầm cái giáo, nom như bác khán thủ chứ chẳng vừa.
Bà Xuất kêu lên:
- Ấy chết, mày vào lấy quần áo con trai mà mặc. Phải cẩn thận thế, mau lên, lấy quần áo...
Ngát reo:
- Ừ, con mặc quần áo anh Nghĩa. Có thế mà không nghĩ ra. Anh Nghĩa...
Ngát chạy vào chỗ thừng vắt quần áo trong buồng bên. Một chốc, Ngát trở ra. Thủng thỉnh trong tấm áo năm thân nâu vỏ già, cái quần chồi tím bồ quân. Đầu vấn một mảnh khăn lượt, Ngát giơ thanh mã tấu.
Ngát tủm tỉm cười, hỏi mẹ:
- Mẹ trông con đã giống anh Nghĩa chưa?
- Cha đẻ mẹ mày!
Rồi bà Xuất, không biết tại sao nước mắt cứ dưng dưng, - bà nghĩ thương con gái quá. Bà bước lại bên Ngát, thì thào:
- Làng này có đứa thông lưng với Tây hay sao, mà lão Vạn nói bọn lính đạo đương đi tìm đốt nhà Xuất Nghĩa.
Mẹ chỉ nói tới Nghĩa thế mà tự dưng Ngát cảm thấy đương ríu rít như mọi khi Nghĩa ở nhà. Ngát không để ý cả việc ghê gớm mẹ vừa nói.
Ngát ghé tai mẹ:
- Mẹ ạ.
- Cái gì hử?
- Anh Nghĩa bảo sang giêng này trên Ba Trại nhà anh ấy xuống nhà ta, nói với nhà ta...
- Xà, cái con ranh. Bây giờ mà còn chùng chình trong nhà, nó ập đến tận ngõ cũng không biết. Ra đầu xóm kia, thấy ai đã về, bảo nấp cả vào bờ tre, liệu xem nó nhiều ít thế nào mới biết mà đánh được.
- Nhưng mẹ có bằng lòng không đã.
- Bằng lòng thế nào.
Má Ngát đỏ ửng.
- Bằng lòng... Bà Xuất cười, lại mắng: “Con nỡm trẻ con vừa vừa chứ!” Rồi bà lấy ngón tay vuốt mép trầu hai bên mép, một tay đẩy lưng Ngát ra phía ngõ.
Thấy Ngát phịu mặt, bà Xuất cười:
- Được rồi.
- Mẹ nhớ đấy, mẹ bảo được rồi.
Ngát tong tả đi ra.
Được rồi... mẹ ừ... Ngát thấy ở mình có vẻ như trẻ con. Mình là trẻ con thật. Nỗi vui sướng hớn hở như khi Ngát còn nhỏ, hàng năm phấp phỏng đợi hội tháng Ba. Cờ bay phấp phới giữa tiếng trống liên hồi. Lúc kiệu thần làng dưới lên tới nơi, tiếng chiêng vang âm u. Đám rước có những cô nhà tơ đứng trước cửa đình, mỗi bên năm cô múa, múa dâng hoa, múa thét nhạc. Những cô nhà tơ ấy quê tận Quế Quyển, đã thành lệ từ đời mẹ đời con, năm nào cũng lên xin đám hội làng. Lúc ấy, trai kiệu khuỳnh tay nâng hai dải khố điều lên hai đầu gối quỳ xòe ra, từ từ gồng vai lên dâng chiếc kiệu bát cống nguy nga bò ngang sân đình. Những cô nhà tơ đi chân đất, áo the thâm vạt bỏ ngoài thắt lưng điều, tay cầm quạt giấy, tay cầm chiếc hoa đơn đỏ, yểu điệu múa quay bốn phía. Người cũng dẻo như những ngón tay uốn. Ai về hội còn đợi đến khuya xem các cô múa bỏ bộ, múa bài bông. Bé Ngát đứng xán vào các cô nhà tơ hát cửa đình cứ nhìn mà mê. Nỗi vui xa xôi thoáng qua, bộn rộn, tíu tít niềm vui trẻ con.
Ngát chợt nghĩ: Không biết ở Ba Trại vào đám tháng mấy? Ngát chưa được lên quê anh Nghĩa lần nào. Nhưng Ngát thường chỉ nghĩ và hỏi một mình, không dám nói.
Ngoài bờ tre, đã đông người đấy rồi. Nhiều người vừa mới đánh nhau ở xóm ngoài chạy về. Áo rách xã vai, búi tóc xổ tung. Cánh tay buộc lá nhọ nồi cầm máu, máu vẫn lã chã chảy xuống. Thế là đương cơn hăng, không biết gì cả, lại chạy vào bờ tre, nấp sau gờ đất, mũi giáo chăm chắm chĩa ra.
Bố con lão Vạn ngồi vắt vẻo trên một cây tre ngả ngang giữa vòm tre kín mít trên đầu, có đường đi qua dưới. Không để ý, không ai biết người núp trên ấy.
Lão Vạn buông thõng chân, nhồm nhoàm ăn nắm cơm nóng vẫn giắt lưng khố từ lúc nãy.
Có người quát:
- Muốn chết hay sao, xuống ngay!
Lão Vạn cười nhăn nhở, buông lửng lơ xuống chiếc ống vầu như trêu ngươi.
Tiếng hò hét, tiếng nổ và khói đốt nhà gần lắm, tạt khét lẹt. Không ai đứng chỗ nào yên. Đương núp, lại vùng về nhà, lại hớt hải ra.
Nắng rực lên những ngọn tre đầu đường. Một lúc im lặng. Mọi người trong bờ lũy, đã sắp sẵn giáo mác, cánh nỏ, ống tên thuốc. Trông ra cuối quãng nắng vàng hẳn đi, có một đám lính Tây mặt đỏ như quả nhót chín, một bọn lính đạo đen gắm đen gúi, lố nhố chui trong đám khói ra.
Chúng nó xách súng hùng hục sang.
Đến quãng giữa bụi tre, bỗng nhiên có một đàn rắn mai gầm quăng mình trên cây xuống. Những con rắn dài bằng cả chiếc đòn gánh, bóng loáng khúc trắng, khúc đen. Có con rơi bộp vào chiếc mũ trắng tùm hụp trên đầu thằng Tây, có con ngoằng dưới đất. Cả lũ lính đi trước đi sau trông thấy, nhảy lên hét lên như điên.
Chúng vừa chạy vừa quay lại kêu, kéo theo bọn khác không biết thế nào, càng khiếp đảm hơn. Trông đâu cũng những rắn hổ mang, rắn mai gầm bò ra. Cả mấy cơ lính rống lên, bồn tít ra giữa cánh đồng. Kinh hoàng chưa bao giờ thấy. Cả làng rắn bò đi tìm cắn chúng nó.
Trong làng, không còn một bóng giặc. Các xóm chạy sang dập tắt những đám cháy dở. Nhiều người vác cành rong, cắm chông tẩm nước đái đã trữ sẵn, rấp ngay lại lũy.
Ngát giắt thanh mã tấu vào thắt lưng, đi khiêng tre chuyển cho đám người đương rào lại làng. Bà Xuất ra chùa, xem chỗ gạo trữ trong hòm phản dưới nhà hậu. Còn phải đánh nhau, chưa thổi thêm cơm được. Chúng nó còn lố nhố ngoài đồng.
Những quả đạn từ khẩu đại bác đặt bên góc ruộng lại nã vào bờ lũy.
Lát sau, một người chạy vào chùa, gọi:
- Bà Xuất ơi, bà Xuất!
- Ai thế?
- Cái Ngát nó phải đạn rồi.
Ngát đã được khiêng vào điếm canh - chỗ hôm trước Nghĩa và cả bọn tụ họp ở đấy rồi đi lên Sơn. Ngát nằm nhắm mắt, lìm lịm. Vết đạn chảy máu ướt đẫm, cả thắt lưng, vũng xuống mặt đất.
- Ối con ơi, con tôi làm sao thế này...
Ngát mở mắt, quờ quạng nắm tay mẹ.
Tiếng đạn bác lại xé ngang trên đầu.
***
Trên lũy Phù Sa, đêm lạnh ghê người.
Nghĩa kéo mền trong tay nải ra, đắp lên ngực. Chiếc tay nải nâu, tháng trước Ngát mới khâu đưa cho Nghĩa bảo là em khâu cho anh cái tay nải để nhỡ có đi đánh nhau, lấy cái mà đựng các thứ. Thằng Tây đi trận, đứa nào cũng có túi dết đeo vai, cả nước uống nó cũng nhét vào đấy được, tiện lắm. Cái tay nải cũng thế. Nghĩa nằm nghiêng, áp má xuống tay nải. Hình như sương càng giá, má Nghĩa càng nóng hổi. Nhớ lại, thật thương hại Ngát. Ngát mê Nghĩa đến lắm lúc cứ như người ngẩn ngơ. Không biết bây giờ ở làng, hai mẹ con ra sao. Quân Tây chỉ kéo qua làng hay đã đánh vào làng.
Vẩn vơ, nghĩ lại thấm thoắt Nghĩa xuống làng Nha đã năm sáu năm rồi. Khi bố đưa đi, tưởng không thể đậu được vài ngày. Những nhớ nhà cũng đã đủ chết héo. Thế rồi chẳng bao lâu, trong hoàn cảnh éo le ấy, tình thương của Nghĩa với bà Xuất, với Ngát dần dần thân thiết, thấm thía chẳng khác với bố mẹ, với chị em ruột thịt. Bây giờ Nghĩa chỉ thấy ba mẹ con Nghĩa quây quần đùm bọc nhau. Bà Xuất thật người khoáng đạt, coi anh em thiên hạ như người trong nhà. Chỉ vì nạn nước mà người ta phải khó nhọc, bà Xuất thường bảo Nghĩa thế. Đức độ của bà đã vun đắp cho Nghĩa lòng yêu thương. Chỉ mấy năm mà đôi khi Nghĩa tưởng mình thật sự là con cái trong nhà, Nghĩa đã ở đây từ thuở lọt lòng.
Nghĩ xa nghĩ gần, Nghĩa lại nhớ hôm mới xuống, hai bố con ngủ quán ở Ba Cây Đề. Cái đêm lạ lùng suốt đời chẳng quên, ở đấy cũng có lối ra bến Cốc, bây giờ Tây đã lên quán Ba Cây Đề rồi à? Đây xuống đấy chỉ một thôi đường chứ mấy?
Nghĩa bỗng nghĩ đến Gái. Nghĩa thương Gái như tấm lòng chị thương em. Nhưng mỗi khi nghĩ đến Gái, Nghĩa lại ngậm ngùi và bâng khuâng. Nghĩa thương Gái hay Nghĩa thương cả anh em Gái, hay vì nghĩ như thế mà Nghĩa chạnh lòng đến thân phận mình rồi ra thế nào. Nghĩ đến cái chết thương tâm của Gái, nước mắt Nghĩa chảy xuống. Nghĩa để yên cho nước mắt bò lành lạnh trên má.
Trời dần dần rạng. Buổi sáng sương, cách quãng cũng chưa trông thấy người. Đột nhiên, nghe mơ hồ tiếng súng đứt quãng vang lại. Những bóng người trong lũy chạy cung cúc xuống giữa làn sương trắng mờ. Có lẽ lính ta ra thám thính.
Các lũy đương im lặng, bỗng có tiếng loa gọi vắt sang bên đông, vắt sang bên tây, ồn ào hẳn lên.
- Quan truyền đội nào cơ nào phải thổi cơm ngay bây giờ. Lúc tan sương thì cấm lửa. Bớ ba quân thượng hạ, quan truyền...
Nhưng chẳng đâu màng đến cơm nước nữa. Từ lúc nghe lác đác tiếng súng trước mặt, ai nấy đã tan hẳn cơn ngái ngủ buổi sáng rét buốt. Trong khi có những quân làng nào không biết, đám trai tráng giữ Phù Sa suốt lũy ngoài này, toàn người các vùng mà quân Tây có qua nổi các làng ấy mới lên đây được, ai cũng sốt ruột. Trôi Gối, Canh Thìa rồi Sơn Đồng, Sấu Giá, tạt bên này, nào kẻ Đăm, kẻ Cốc...
Tiếng súng lác đác xa. Một chốc, đùng một phát nổ to rất gần. Không biết súng của Tây hay ống lệnh, hay thần công trong thành bắn ra. Trời tang tảng sáng. Trông xuống, đã rõ ngọn cây đa đầu xóm Sen Chiểu trồi lên khỏi làn sương dầy. Càng sáng, chốc lại lọp đọp tiếng súng khoảng trước mặt.
Không ai bảo ai, mọi người ngồi im, hau háu trông về xuôi. Súng nổ thế, chắc có nhiều làng dưới kia đương ra đánh cản Tây. Đến lúc mặt trời đã lên cao, quang hẳn thành một ngày nắng to, cánh đồng đầy nắng rồi, thấy đằng xa có những đám khói lên. Khói cháy làng hay khói đốt rơm ngoài đồng. Lại những đám khác bốc lên gần lắm. Trong khói thấy cả ngọn lửa. Nghe tiếng ống nứa, ống tre nổ càng lúc càng gần. Một vùng trước mặt, trong các khoanh tre giữa cánh đồng, làng xóm nào cũng đương đánh nhau rõ ràng rồi.
Các làng trên lũy cứ nhảy lên. Nhưng chưa có súng thần công ta bắn, chưa dám reo. Ai cũng tưởng mình đương ở làng - như đánh nhau với Tây đã đến ngoài bờ tre.
Hình như lại mới có thám báo về. Chẳng thấy ông lãnh, ông đội nào tới nữa.
Nhưng tin tức đã bay suốt hàng lũy: “Tây lên đến Sen Chiểu rồi”.
Sen Chiểu trước mắt đây thôi. Thế thì nó đã đến nơi. Cả dãy lũy xắm nắm nhìn lên nhìn xuống. Chốc lại ngoái vào trong xem quân ta đằng ấy đã rục rịch thế nào. Xuống đánh nhau chứ, hay là đợi thần công bắn ra đã.
Nghĩa đứng, nắm chuôi mã tấu, nói to:
- Tây sắp đến rồi. Ai nấy theo tôi.
Mọi người nhìn Nghĩa, Nghĩa quắc thước khác thường.
Ai cũng biết tài Nghĩa đã bóp cổ chết tươi mấy thằng Tây. Điều mà khó người nào chân tay không, chỉ một mình dám làm thế. Nghĩa đã đi đánh trận ở Cầu Giấy, Nghĩa đã mấy lần xông pha giáp mặt Tây. Cả đến bọn trai làng này còn có người chưa tường thằng Tây mặt ngang mũi dọc thế nào. Những chuyện đồn thổi về cái giỏi của Nghĩa đã khiến anh em tin tưởng. Những câu chuyện dũng cảm đã làm cho vẻ mặt trắng trẻo, con mắt sắc dao cau, đã khiến có người ngỡ Nghĩa như gái giả trang đi đánh giặc cứu dân độ thế trong truyện ngày xưa. Như thế, khí thế Nghĩa càng hiên ngang.
Nghĩa đứng cạnh đống đá góc lũy, cầm thanh mã tấu lưỡi sáng ngời, đăm đăm nhìn ra. Lũy tre làng Sen Chiểu xanh mờ bên kia cánh đồng, có thấy nhúc nhích gì đâu. Đứa nào nhô khỏi bờ tre, đây trông rõ mồn một. Chắc chưa phải Tây lên đến đây.
Bỗng phía trong có tiếng ùng ục, tiếng ùng ục nối dài qua đầu rồi nổ oàng trên bụi tre trước mặt.
- Ối giời ôi, anh em ơi, ông Ầm ta, ông Ầm của ta...
Cả dãy lũy trong lũy ngoài hét nhảy lên.
- Bớ ba quân thượng hạ! Bớ ba quân thượng hạ.
Đột nhiên, có những bóng lùi lũi, những đốm trắng từ phía bờ tre xổ ra rồi thẳng đến. Đạn nổ khói trắng trước mặt. A, Tây vừa xông ra vừa bắn. Những tiếng hò hét khắp các lũy nổi lên. Thần công ta bắn vào Sen Chiểu. Chúng nó đã vào Sen Chiểu. Chúng nó chạy húc ra. Không biết chúng nó định sang cướp lũy hay chúng nó chạy trốn ông Ầm của ta. Chẳng ai hiểu thế nào. Đạn hai bên cứ dồn dập xé qua xé lại trên đầu. Súng to của Tây nã vào trong thành, không biết trúng chỗ nào, khói trong ấy tạt ra kín mít cả lũy ngoài.
Đại bác của Tây đã được kéo từ dưới sông lên bờ đê đằng kia. Tiếng nổ trong ngoài rối loạn. Nhưng mỗi lúc làn khói nhạt đi, vẫn trông thấy quân các làng lố nhố trên lũy, chỗ gọi ơi ới, chỗ reo ầm ầm: bớ ba quân thượng hạ... ông Ầm của ta... ông Ầm... Tứ phía, giặc ùn ra từ các làng rỗng không trong bờ tre, đen kịt như kiến bò. Thỉnh thoảng, trông rõ Tây trắng, mũ trắng, Tây đen váy trắng xùm xòe cưỡi ngựa lon ton chạy. Lại nhìn rõ lá cờ ba màu có người áo trắng quần trắng nẹp đỏ đi dưới, dáng hẳn đấy là thằng quan.
Tiếng đạn súng tay chan chát lên các lỗ châu mai.
Cánh làng Nha không có khẩu súng nào. Nhiều người dứt tóc giậm chân, gào lên. Một người quay lại, chắp hai tay, rụt rè, cung kính hỏi Nghĩa:
- Bẩm ông Xuất, bẩm ông...
- Ơ hay, cái gì thế?
- Bẩm ông, cho tôi ném chúng nó một cái, tức lắm.
Nghĩa nghiêm lại, giơ mã tấu:
- Khoan, nghe hô mới được ném!
Quân Tây đã lố nhố dưới lũy cả hai bên bờ rào.
Thế là một loạt đá lăn rào rào xuống. Dây nỏ nổ tanh tách bắn theo. Những cái lao hóp phóng như xía cá. Tiếng reo càng rền lên. Bóng người nhảy lùi, lóp ngóp dưới hào nước. Toán khác lại nhào vào. Các lũy lại lăn đá, lại nã nỏ. Không lên được, chúng lùi ra giữa đồng, nấp cạnh bờ ruộng, ghếch súng bắn. Tiếng đạn cắm vào thành đất, nổ toang toác trên đống đá đỉnh đầu.
Bấy giờ đã đứng bóng. Trời nắng hanh gắt. Những quả đại bác từ sau bờ tre bắn vào, các lũy trúng đạn mù mịt khói. Tiếng người la hét om sòm.
Lần này, chúng nó chạy vào tận quanh lũy.
Nghĩa hét:
- Quân ta đâu? Xuống đánh giáp lá cà thì nó không bắn được. Không sợ!
Những tiếng loạn xạ, lao xao.
- Anh em ơi! Người của ta đấy. Hượm nỏ lại!
- Lăn đá, lăn...
Chúng nó vẫn không vào được.
Chiều xanh rợi, rồi tối nhanh. Các lũy đã mờ mịt trong sương. Có lẽ bọn Tây vừa rút ra, nằm cả trên cánh đồng đầu làng. Thế mà ở nhiều góc, đã lố nhố những đám người ngồi che gió thổi cơm trong tiếng rì rào những chuyện bắn nỏ, lăn đá, phạt mã tấu, rõ ràng thấy thằng mũi lõ băng mất chóp mũ, ngã ngửa ra, thằng lính đạo bị một nhát đứt vai...
Những cơn gió bấc ào ào từ dưới đồng cuốn vào, đưa lên mùi máu tanh khẳn. Quân thám báo đã về nói thấy có xác chết dưới hào nước, lại cả ở ngoài ruộng.
Đêm nay, trời đầy sao như đêm qua. Nhưng cả vùng lặng im. Bọn Tây còn lại trong bờ tre cuối cánh đồng hay đã rút đi. Đám quân các làng muốn mò xuống xem thế nào. Nhưng không dám, sợ quan phòng thành biết.
Thế rồi, cũng có người trèo lũy xuống làng. Một lúc ôm lên một bọc khế như tối qua. Có người lấy được cả hai quả bòng to tướng. Chạnh nhớ sắp năm hết Tết đến rồi. Vùng Sơn Tây người ta trồng lắm giống bòng đại này. Những cây bòng lẻo khẻo bờ ao, quả nặng trĩu đất, mỗi quả phải một cái rế đỡ.
Đêm mù mịt.
Ngọn đèn hiệu trong lũy các quan đêm nay không thấy lấp ló.
Nghĩa buộc chặt thắt lưng, nằm ghếch đầu lên tay nải rồi rút cái mền nâu mở ra đắp ngang lên ngực. Những ngôi sao sáng rợn lung lay như sắp rơi xuống, bậu lên mặt. Đánh nhau cả ngày nhưng may anh em vẫn được đông đủ như hôm qua. Cũng chẳng ai què gãy, bị thương. Lại thì thào chuyện chẳng khác tối hôm qua. Bây giờ đương cãi nhau, gọi là quả bòng, hay là quả tỳ bà, quả thanh yên, hay là quả chanh yên... chẳng ai được ai...
Sốt ruột, Nghĩa nói sang chuyện khác:
- Phải cho thằng Tây vài đêm ngủ đường ngủ chợ long đong như ta thế này, thì rồi đến bố nó cũng phải xuống tàu về nước.
Nghe câu nói vui, mọi người cười yên tâm hơn.
Nghĩa cắt việc cho anh em. Bọn bí mật xuống lũy tìm đá vác lên. Bọn ngồi vót tên. Tiếng mài dao đều đều xèn xẹt. Những người rỗi rãi, ngồi ngáp rồi nằm xuống lúc nào, đã nghe ngáy o o...
Nghĩa quanh quẩn nghĩ về cái Tết sắp đến rồi chợp đi. Quá nửa đêm, đến lượt Nghĩa dậy đổi gác. Trời vẫn lồng lộng sao như chập tối, nhưng rét càng buốt hơn. Trong đêm thăm thẳm, những ngôi sao óng ánh mọng lên như mọc trên đồng nước. Nghĩa bỗng nhớ những ông sao trên hồ Tây buổi tối ngủ ở cái lều cối giã dó của anh Đề Cụt. Nghĩ lại thế trong bóng tối mà Nghĩa vẫn cảm thấy thẹn, hai má nóng rừ.
Tít xa dưới kia, không nghe một tiếng súng. Tây đã tràn qua làng rồi hay sao. Mẹ thế nào, cái Ngát thế nào. Anh Đề Cụt trận này theo quân Chánh Võ hay quân Tự So. Ý nghĩ miên man trong bóng đêm... Đến bao giờ được yên hàn, tôi về Ba Trại. Tôi vứt cái áo năm thân đi. Tôi lại mặc xống áo của tôi... Bao giờ lại thế này nữa thì nực cười. Cứ váy áo xúng xính đến tháng Ba mình về hội làng Nha. Bọn con trai trông thấy, thì thào: con gái ông Tư ở Ba Trại đấy à... sao nom giống anh Xuất Nghĩa thế... anh em nhà người ta có khác. Nghĩ loăng quăng, chốc Nghĩa lại mỉm cười một mình.
Bỗng có ánh đóm đuốc lập lòe với tiếng người rậm rịch trong lũy đằng sau. Hình như từ tối đã thấy, nhưng bây giờ đêm thanh vắng, càng rõ hơn và nghe mồn một. Cái gì thế?
Nghĩa lẳng lặng sang nghe ngóng chỗ các làng vùng Trôi giữ đầu lũy đằng kia.
- Cái gì trong ấy thế?
- Các cụ đương chữa ông Ầm.
- Làm sao?
- Ông Ầm bị hóc, nằm liệt giường rồi chứ làm sao. Từ lúc chiều có nghe ta bắn sang nó được phát nào nữa đâu.
Nghĩa trông lên trời.
- Bây giờ mà chưa chữa xong. Trời sắp sáng rồi còn gì!
Nghĩa buồn bã đứng lặng yên. Nghĩa nhớ lại lúc ban ngày. Từ thuở bé, bây giờ Nghĩa mới được trông thấy bắn súng thần công. Chán quá, tưởng thế nào. Được một quả đạn ra nòng, bao nhiêu lôi thôi trầy trật. Đạn súng to của Tây như mưa trên mặt lũy, khói bốc đến nỗi giáp mặt cũng không thấy nhau. Thế mà súng bên ta phát một cứ nhẩn nha như ông lãnh binh khoan thai, đủng đỉnh chân chữ bát đi tiến tước ở đám tế.
Nghĩa phải để ý một lúc lâu mới nghe một tiếng hô dõng dạc, rồi một tiếng hô “bái” to như hét từ trong đám các quan xúm quanh đấy vang ra. Rồi các ông chánh phó lãnh binh trông coi về súng thần công, có ông chưởng cơ mũ mãng uy nghi đứng vòng tay, cứ chốc lại phủ phục lên gối xuống gối, nét mặt sợ sệt khiếp đảm, chắp tay lễ hai ông Ầm đương được sửa soạn khai hỏa. Ông xuất đội được lệnh bước vào. Tay ông cầm cái sào dài, đầu sào buộc nắm bông nhuộm điều. Ông xuất đội thuốn sào vào nòng súng. Thong thả khoe đi khoe lại, ngoáy mỗi nòng đúng mười hai lần. Xong đâu đấy, ông xuất đội lui ra, đứng nghiêm, tay cầm dựng cái sào vừa thông nòng.
Đến lượt ông thập trưởng hoa cái bùi nhùi đã rấm lửa, vừa chạy vừa múa hai tay lên như múa bài bông. Đến trước khẩu súng có quả đạn được lắp sẵn, ông thập giơ bùi nhùi, quay một vòng rồi lom khom quỳ một bên gối châm cái ngòi thuốc dài hơn sải tay, vắt thòng lòng lên mặt án như có mâm ngũ quả bầy trước khói hương đương nghi ngút.
Một quả đạn được bắn ra. Quân reo rầm rầm trong làn khói trắng tỏa. Suốt lũy ngoài lũy trong quân các làng hô “bớ ba quân thượng hạ” rồi tiếp đó, lại nhộn nhịp tiếng dô ta, dô huầy. Cả một vệ xúm lại dô ta dô huầy đẩy khẩu thần công sang lũy khác. Chỗ nào có bậc, bốn bánh cút kít không lần được, phải khiêng lên. Nhỡ thằng Tây bắn lại, các ông Ầm đã được chuyển chỗ.
Được một phát thần công bắn ra, thật vất vả, khó nhọc.
Đến bây giờ vẫn chưa nguôi. Suốt đêm, vẫn nghe tiếng ầm ì tiếng quát, cả tiếng “hương bái” tế lễ nghê nga đằng ấy. Nhiều người rét quá không ngủ được. Các góc lũy lại góp chuyện vọng sang nhau về ông Ầm.
- Các cụ trong ấy đương lễ ông Ầm.
- Không biết hỏng cái gì?
Một người ra vẻ thành thạo:
- Cái giống này chỉ hay hóc thôi.
- Nghe nói khi nào ông Ầm hóc phải cho ông ấy uống thuốc. Chẳng biết có phải thế không?
- Tớ cũng nghe nói vậy.
- Đổ sâm đấy, phải đổ hàng lạng nhân sâm vào họng mỗi ông Ầm chứ chẳng chơi.
- Ừ nhỉ, cũng như người ốm ấy mà...
- Bây giờ mà các cụ ra đổ sâm cho chúng mình nhỉ. Một chén hạt mít thôi, mai xông xuống chém một nhát đứt đôi hai thằng Tây.
- Hà hà...
Chuyện cứ rả rích loăng quăng đến khi trời rạng sáng. Sương tan trắng xóa như lở từng tảng trôi bồng bềnh trên cánh đồng.
Trong làn sương, đại bác của Tây lại dội ầm ầm xuống lũy. Nó đánh sớm thế.
Những toán làng nào thổi cơm chậm, đành bỏ dở bếp, đứng cả dậy. Bây giờ chỉ có việc đợi thần công ta cất tiếng thì nhảy lên reo hò. Nhưng đợi mãi cũng chưa nghe tiếng. Mà đại bác Tây gióng giả từ phía bờ sông, cả trong làng, nã tới dồn dập.
Tiếng người hò hét đã loạn trước mặt. Chúng nó lại bắt đầu xông lên. Tiếng người kêu xối xả như đê vỡ, nước cuốn réo vào cánh đồng. Quân nó nhiều hơn hôm qua. Không trông thấy gì trong sương mù. Tưởng hàng trăm hàng nghìn người càng cuồn cuộn đông nữa.
Những tiếng hét đương trèo cả lên mặt lũy.
Nghĩa hô bừa:
- Ném đá! Ném đá! Bắn đi, bắn, anh em ơi!
Đá lại lăn rào rào. Tiếng nỏ bật chí chát như bật bông.
Những tiếng kêu thưa hẳn dưới lưng lũy. Lại nghe đằng sau, xì xồ ầm ầm. Phía ấy, sương đương tan. Trông thấy ngoi lên trên làn sương loãng một lá cờ ba màu - đúng chỗ lũy hôm qua có cắm cờ hiệu, súng thần công bên ta đóng đấy.
Từ lũy trong, một người hớt hải vác câu liêm ra. Người ấy mặc áo nâu dài, thắt lưng bó que, quấn tóc ngược. Không phải lính, nhưng cũng không nhận ra trai làng nào. Người ấy rối rít nói giọng Cổ Đô nặng trịch.
- Anh em làng nước ơi! Vào đỡ chúng tôi một tay. Tây lên đằng kia rồi.
Một người sửng sốt hỏi:
- Thế lính tỉnh đâu?
- Chúng nó khiêng ông Ầm vào chữa trong thành từ gà gáy chưa thấy ra.
- Súng hỏa nổ, súng điểu thương cũng vào thành a?
- Quân chết tiệt chạy hết rồi.
- Mày nói láo hay nói thật đấy?
Nhưng mà hỏi xong thế, chẳng biết nếp tẻ thế nào, tất cả lũy ngoài nhốn nháo, chạy vào. Tây đã lên được lũy đằng ấy.
Các lũy reo à à. Không biết bên nào ta hay bên giặc nữa. Thật sự, Tây đã vào đến chân lũy, lưng lũy. Có chỗ chúng nó đã bíu vắt vẻo lên tường thành. Đánh nhau giáp lá cà, tiếng kêu thất thanh, tiếng thở hồng hộc, tiếng hét, tiếng máu phun òng ọc. Người trong lũy chốc lại nhô lên ném đá xuống. Tiếng lao phóng, tiếng tên nỏ vút vút. Một bàn tay bíu bờ tường. Một thoáng mã tấu lia ra, phập một nhát. Tiếng người lăn khô khốc, tõm xuống hào nước.
Chúng nó đã bâu quanh lũy, rúc đầu lên, lại bị đẩy xuống.
Đánh nhau suốt cả một ngày. Không tiếng súng, chốc lại nổi lên những cơn reo à à.
Đến chập tối mới ngớt. Có người lũy bên luồn sang báo tin:
- Ta lấy được đầu một thằng quan ba rồi.
Mọi người xôn xao.
- Đích không?
- Người ta cướp về được cả ống tay áo ba vạch vàng, mắt tôi trông thấy mà.
- Ba vạch vàng thì đích quan ba.
- Có biết quân làng nào lấy được không?
- Không biết.
- Rắc rối to. Biết cho ai lĩnh thưởng bây giờ?
Một anh rung đùi, nói to:
- Tớ thì không được thưởng rồi. Nhưng tớ đã bảo mà, không có thần công hỏa hổ, chúng ông cũng giọt được cho mày nhe răng ra.
Không ai bảo ai, cũng chẳng biết Tây ở đâu, ra làm sao. Cả đêm, các lũy lại đốt lửa sưởi. Chẳng nghe một tiếng lính tráng các quan lũy trong quát tháo ra nữa. Rồi lại mò xuống cánh đồng, vẫn vác được lên, xếp sẵn củi, cả những cánh liếp, cánh cửa, cột cổng tán. Lại như đêm trước, vác nước, kiếm cái ăn. Đêm nay đi nhặt được nhiều bưởi. Những quả bưởi chín, mùi thơm dịu ngọt một góc lũy.
Không nghe ai nói gặp thằng Tây nào. Đêm đến, chúng nó lủi đi đâu rồi? Cắt được đầu quan ba có phải chuyện vừa đâu. Có khi bọn còn lại chạy tiệt về Đồn Thủy cũng nên. Ai cũng náo nức bàn tán đợi sáng. Trời rét buốt, mà những ngôi sao vẫn lóng lánh.
Nghĩa nằm gối đầu lên tay nải, như mọi đêm. Tấm mền nâu đã rút sẵn đắp lên ngực. Không hiểu đêm nay rét hơn mọi đêm hay vì suốt ngày, suốt hai ngày đánh nhau, thêm nỗi lo ngày mai, mà lại khó ngủ. Từ sáng toài lên chạy xuống hò hét, hoa mã tấu chém, bây giờ rát khé cả cổ.
Không phải vì mỏi, cũng không vì rét, Nghĩa lại nghĩ vẩn vơ. Đêm thanh vắng, Nghĩa trở về ngày còn bé. Có lẽ vì mình bạo dạn từ thuở ấy mà bây giờ phải gánh vác những cái vất vả - mẹ thường bảo thế. Ừ mà cái lần gặp hai con hổ, cũng chẳng biết sợ là thế nào thật... cái lần móc cổ chết thằng Tây, cũng chẳng biết trợn tay là gì... ừ, nhớ lại có hôm mấy anh em đi tìm trâu lạc rừng. Nghe tiếng mõ đạc mà lần vết theo, phải đến đêm mới đánh được trâu về. Nhưng cũng chẳng biết khó nhọc. Mỗi đứa đã tót lên ngồi trên lưng một con. Trâu đủng đỉnh đi, mình nằm ngửa mặt, nhìn sao long lanh - lại thấy thích như thế. Không biết hãi bóng đêm trong rừng hoang đâu. Mấy anh em còn đố nhau: tại con trâu đi đường khấp khểnh làm cho mắt thấy ông sao nghiêng ngả hay tại ông sao ấy đương lung lay sắp rơi.
Rồi Nghĩa chợp đi trong ánh sao loáng thoáng rơi.
Không một đám quân làng nào biết được từ chập tối đã có một bọn Tây trắng Tây đen, cả lính khố đỏ, lính đạo lên được mặt lũy trong, chỗ quan quân đã rút chạy bỏ trống không. Chúng nó nằm nín thở ở đấy.
Vừa sáng, ở lũy ngay trước mặt, tiếng súng đã nổ các lũy bàng hoàng.
Lại một ngày giằng co.
Cho đến chập choạng tối, Tây xô được vào trong. Đám các làng chạy ào xuống chân lũy. Nhiều người phải đạn ngã chồng đống. Trong tiếng hò hét inh ỏi, một toán Tây lố nhố lưỡi lê ập vào chỗ bọn trai làng Nha lúng túng không biết lủi đi đâu. Thế là bị bắt sống cả lũ.
Bấy giờ mặt trời đã vàng, sương mù đùn lên ngập chân tre. Trên cánh đồng ngổn ngang những con la con lừa lênh khênh, hai tai ve vảy kéo theo cái xe kín mít. Chiếc xe bánh sắt phủ bao tải chở hòm đạn, quả đại bác và những thứ gì nữa không biết. Những la, lừa kéo xe suốt từ các trại ở Đồn Thủy lên, không một quãng nào đường phẳng. Chốc lại khúc khuỷu, lại vấp. Một con la đương đi, bỗng ngoẹo chân. Cái xe nghiêng rồi sững lại.
Bọn Tây quát tháo, đẩy đám trai tráng vừa bị bắt trên lũy xuống thay con la khuỵu chân kéo những cái xe tải. Mới biết đoàn xe đã có nhiều người đi lẫn lộn với những con lừa, con la, con ngựa. Ròng rã mấy ngày qua đường qua cánh đồng, có khi tự dưng cứ lăn đùng ra. Con nào què, chúng nó lắp người bị bắt vào cầm bò. Đoàn xe cả lừa, cả la, cả người kéo, người đẩy lũ lượt theo đám lính và bốn khẩu đại bác chuyển về phía thành Sơn.
Từ Phù Sa vào chỉ một quãng. Quãng ấy bờ ruộng ao chuôm mấp mô quá. Bọn Nghĩa phải đẩy, xe đạn đại bác lắc lư chập choạng suýt lăn xuống ao. Thằng Tây đi áp tải hốt hoảng chĩa súng bắt mọi người kéo quanh ra cánh đồng. Chiếc xe lặc lè, hai bánh cao quá đầu người, phải bắt vòng từng bánh. Chật vật lắm cái xe mới gật gưỡng lùi ra được. Quãng ấy lại gặp mặt ruộng khô nẻ toác từng khe lọt bàn chân, không nhích được thêm nữa.
Đã tối hẳn. Những chiếc xe ì ạch như con trâu ốm vẫn quanh quẩn trên quãng đường Phú Nhi vào cửa tây.
Đêm nay lại chơ vơ giữa trời. Nhưng cả đám trai làng Nha và bao nhiêu làng khác không còn trên lũy mà đương phải làm tù đẩy xe đạn.
Phía thành Sơn đã nhạt tiếng súng từ nãy. Cũng chẳng ai rõ Tây đã vào thành hay thành ta còn giữ, hay là hai bên nghỉ đánh nhau vì trời tối.
Một toán phu, vừa ở trong thành trốn ra hay từ phía bờ sông lên, không rõ.
Có người dừng lại, rỉ tai:
- Bên ta đục thủng thuyền Tây dưới bến Phú Nhi, thuyền đạn chìm hết rồi.
Tin ấy lan đi lập tức. Quanh mỗi cái xe, cả trong thùng xe, có người các làng phải làm tù chỉ được ngồi một chỗ, nhưng câu chuyện như gió bay cứ thổi đi thổi lại có đầu có đuôi hẳn hoi. Người của ta tận trên ngã ba Hạc bơi về. Bọn thuyền chài Hạc lặn giỏi lắm. Chài các vạn Hạc đã lặn vào bến Phú Nhi đục hết cả tàu cả thuyền Tây dưới sông. Bao nhiêu đạn, rồi đồ ăn thức đựng, với cả trăm quân quan Tây về chơi với ông Hà Bá rồi.
Thế là Tây chưa vào được thành. Thế là dầu cho đêm ấy đêm thứ mấy phải vất vả rét cắt ruột, không biết sống chết lúc nào, nhưng ai nấy đều khấp khởi, thế thì bên ta sắp được rồi. Nó với ta chỉ hơn nhau hòn đạn mà nó hết đạn, nó chết đến nơi chứ còn sao nữa. Nghĩ vậy, lại trông xung quanh, thấy anh em làng mình vẫn đầy đủ, Nghĩa cũng vẫn đem được cái tay nải dưới nách, Nghĩa yên tâm hơn.
Trời đã tối hẳn. Những thằng Tây canh xe đi kiểm soát từng chiếc một. Rồi nó bắt lính tập đem thừng trói từng người tù vào càng xe. Các xe đỗ quây lại một chỗ.
Ở xe Nghĩa có ba người nữa. Người vào bánh, người vào càng. Nghĩa bị trói vào những bánh xe cao hơn đầu. Vai khoác tay nải mà không rút cái mền ra được, Nghĩa đứng chong chong thế. Đêm dần dần khuya.
Trời buốt sâu thẳm, sao vẫn đầy trời như rắc vừng tựa mấy đêm qua. Nghĩa chỉ có cảm tưởng mang máng thế. Không bụng dạ đâu vẩn vơ như đêm trước. Nghĩa đương mải nghĩ cách gỡ tay ra. Nếu bị trói đứng thế này cả đêm không biết sẽ thế nào. Chỉ mới một lúc, những nuột thừng tre thít vào đã làm hai bàn tay và cả nửa cánh tay sưng lên. Nghĩa cắn răng, cúi gầm đầu, nhả nước bọt nhấm từng vặn thừng.
Một lúc, Nghĩa đã tháo được hai tay.
Nghĩa đứng im cho đến lúc tay khỏi buốt rồi rón rén đến chỗ ba người cùng làng bị trói. Thoáng một cái, Nghĩa đã cởi được thừng cho cả ba người.
Một Tây, hai người lính đạo vẫn ngồi canh cạnh đống lửa.
Bọn này mới đổi gác. Lúc giao gác vừa đi đảo các xe rồi về ngồi sưởi, chúng nó cũng gật gưỡng như bọn trước.
Những người bị trói ở các xe xung quanh được bốn người lần đi cởi trói cho cả bọn. Lại lấy được một khẩu súng và bao đạn - chẳng biết ai đã kiếm được từ lúc nào.
Bọn trai làng Nha đem theo cả khẩu súng với bao đạn, ngay lúc ấy, bò ra chạy trong rét buốt mù mịt nửa đêm ngoài cánh đồng.
Đến tảng sáng, ước cũng chưa về được tới Gạch. Cả bọn ngồi lại giữa đồng. Đồng không, gió lạnh mỗi lúc một tê dại cả chân tay. Men đến một khoảng ruộng trũng, cả bọn ngã người xuống. Ban ngày giữa đồng trống, quân Tây đi phía nào đến cũng trông thấy. Nhưng ngồi đây nghe binh tình đã.
Cho tới sáng bạch, phía Sơn Tây, thấy khói tỏa lên với cả ngọn lửa, với tiếng reo hò. Thế này thì còn đương đánh nhau to. Đến sáng hẳn tiếng súng bỗng im.
Bốn phía im ắng như không. Sương tan dần, cánh đồng hửng lên. Chỉ thấy mênh mông gốc rạ đều tăm tắp. Đàn chim hét đen ngòm bay đi tìm lưng trâu đậu xuống. Nhưng không có con trâu nào trên những thửa ruộng xám ngắt. Con đường vào làng gần đấy trông rõ giữa chân tre, các cổng tán buông kín mít.
Bọn Nghĩa đã đến đầu làng. Trông thấy trong rệ cỏ lấp ló những chiếc chông đen sì lẫn như đất suốt tận cổng. Thế là biết trong làng còn người.
- Mở cổng cho chúng tôi vào với!
Trong bờ tre, một tiếng hỏi vọng ra:
- Các quan anh đi đâu sớm thế?
- Tây bắt tù, chúng tôi trốn trên Sơn về.
Trong bụi tre, từ cửa ngách nào không biết, hai người nhảy ra.
Một người hỏi:
- Các quan anh ở đâu?
- Chúng em quân Xuất Nghĩa đây.
- À quân Xuất Nghĩa. Thế ông Xuất Nghĩa đâu?
Nghĩa bước ra.
- Tôi đây.
Hai người kia sững sờ, chưa tin vào cái anh chàng tầm thước trắng trẻo ấy lại là con người nổi tiếng đánh Tây chỉ toàn bóp cổ. Nhưng rồi họ luống cuống mừng rỡ:
- Các ông anh theo chúng tôi.
Bọn Nghĩa quanh ra cuối làng, tắt cổng đồng vào. Hỏi chuyện mới biết làng này Tây có đánh, nhưng không vào được. Có lẽ vì đây gần Sơn, nó còn phải dồn quân lên trên. Trong làng vẫn y nguyên, nhưng vắng tanh. Hay là có người gác ở đâu mà không trông thấy. Đến cuối xóm, một bọn cả con trai con gái đổ ra đi theo xem khẩu súng dài cánh Xuất Nghĩa vác về có lưỡi lê, có bao đạn cẩn thận.
Nghe nói súng Tây bắn xa lắm, bây giờ nhiều người mới biết. Nhưng thấy nó cũng tựa khẩu điểu thương các cơ lính vẫn tập trên Sơn thôi.
Nghĩa nói:
- Từ nãy, đằng Sơn Tây im quá nhỉ?
- Mất thành rồi còn gì!
- Sao biết?
- Thì quân làng này mấy hôm nay lên giữ thành. Quân làng này trông rõ cả Tây đen mặc váy xông đến Vọng cung, ta bắn nó ngã ba thằng đi đầu. Anh em về đến làng từ lúc tờ mờ, đương ngủ lăn cả lũ trong điếm kia kìa.
Anh chàng đang vui chuyện.
- Nghe kể mới biết đáng nhẽ bên ta cũng chưa đến nỗi mất thành đâu.
- Thế thì sao?
- Ở ngoài Đông Tác chỗ gần chốt Nghệ, có thằng thầy lang đi đạo, nửa đêm lẻn vào cắm cờ Tây lên cột cờ. Thế là sáng ra quân mình trông thấy cái cờ ba màu tưởng Tây đã vào vít cả sau lưng. Đến khi chạy ra hết, mới biết bị lừa.
Ai cũng ngẩn người ra.
Hôm ấy, bọn trai làng Nha được đánh chén thật hể hả. Một buổi sáng mà trong xóm có đến mấy nhà mổ lợn chạy loạn. Người ta bưng cả rổ chân giò ra tận ngoài điếm “gọi là làng trên chạ dưới, quân anh quân em, có thời buổi loạn lạc mới được gặp nhau thế này, phải dễ đâu”. Sớm ngày ra đã được ngất ngưởng rượu với tiết canh lòng lợn.
Bốn mâm bày ràn rạn gian giữa điếm. Cả bọn con gái cũng táo tợn vào ngồi đóng hẳn một mâm tám chín đứa. Tiếng đồn con gái Sơn Tây đương cấy mà lên lột cả khăn người đi đường không đáp hát ví được, chẳng sai. Nghĩa cũng chén tiết canh như mọi người. Nhưng Nghĩa mới đụng có một ngụm ở cái bát đàn rượu, mặt đã đỏ lừ.
Các cô nhìn Nghĩa cũng cười rồi nhao nhao:
- Anh Xuất Nghĩa mà ở đây với chúng em à, con gái làng này cả ngày chỉ còn có việc đi đánh ghen với nhau thôi.
Một anh làng Nha thích chí, trêu các cô mâm bên:
- Các bác tưởng con gái dưới chúng em đụn à? Anh Xuất mà phải lòng cô nào ở đây, cái gì chứ cầm chắc ngày nào cũng có cả xóm con gái làng Nha lên tận nơi đòi người chứ chẳng chịu mất đâu!
Mọi người cười ầm lên. Như trong cỗ vui ngày làng vào đám.
Nhưng Nghĩa không còn bụng dạ nào mà ăn, mà đùa. Nghĩa nhếu nháo mấy miếng và vội bát cơm rồi đứng dậy, thúc cả bọn đi ngay. Có người được đôi ba chén cay, đã díp mắt, toan ngả lưng.
Nhưng Nghĩa đã ra giữa sân điếm, vai đeo tay nải, lại khoác khẩu súng Tây, tay lăm lăm cái lưỡi lê.
Nghĩa rướn mắt, nghiêm nghị nói: “Xong chưa, quân ta trảy thôi...”.