Quê Nhà

Lượt đọc: 1529 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương XII

RỒI VIỆC HÀNG GIÁP VÀ CỖ BÀN, phần phò đã xong. Có người còn đi làng khác lo cúng đồng môn, năm nay học trò cũng giỗ thầy sớm hơn mọi năm.

Chưa thấy Tây lên.

- Hay là thằng Tây sợ ta lại chẻ xác nó ra như năm trước, chịu thua rồi.

Có người tỏ vẻ hiểu biết, đoán:

- Đánh lên Sơn phải đi đường sông khó hơn. Nó đợi lính thuỷ bên Tây sang đủ mới dám lên.

Mặc dầu, ngoài chùa đương nhộn nhịp lo công đức đúc chuông.

Một hiệp thợ, thợ cả lẫn phó nhỏ điếu đóm thành phường tới hơn hai mươi người, được đón ngoài Ngũ Xã ở Nam Tràng về. Hội chư bà ra hầu hạ thật chu đáo công của. Đúc có cái chuông bằng quả bí ngô mà cơm ăn cơm dỡ nhiêu khê đến thế - các cụ lão ông cười nhạo.

Bác phó hai cất công ra tìm đất sét làm khuôn ven hồ Tây. Kén cho được cái đất thó gan gà về trộn bột than trấu nếp rồi xăm cả vào mấy trăm giấy bản. Từ hôm vào mẫu cho đến hôm khuôn vỏ khuôn ruột khó miết nhất mà không còn ly ngấn tổ ong nào - mặt khuôn phẳng như mặt nước, các vãi thay nhau kinh kệ suốt đêm.

Cột khói nóc lò đã chuyển mầu. Tiếng các già tụng kinh dồn dập, khẩn thiết từ thềm chùa rền xuống tới bậc cửa nhà hậu. Hôm rót đồng chùa đông ních người. Khách thập phương mang hương cắm la liệt rồi vái ra tận gốc đa vườn chùa.

Cửa lò đã được nậy ra. Nước đồng chảy vào nồi chuyên. Lỗ đậu đỏ rực, nhìn suốt đáy khuôn loáng mắt ngỗng. Bác thợ cả chít khăn điều, bút lông gài mái tai, khoan thai nghiêng nồi rót mạch nước đồng vào lỗ đậu, giữa tiếng tụng niệm rào rạt nổi lên.

Một thoáng đã đổ xong. Nhưng nhà chùa đông vui đến tận tối. Các làng trong vùng nô nức đến, ai cũng lượn vào nhìn vành khuôn đúc đất thó lù lù như tổ mối đùn, rồi lại ra chen chân người xem người.

Dưới nhà hậu, phường thợ ngồi xếp bằng đánh chén la đà đến khuya. Bác thợ cả nói:

- Thường ra thì phải cắt canh cho tới một phiên chợ mới được tháo khuôn, thỉnh hồi chuông đầu mới là thành công quả. Nhưng mà trời đất thế này, tùy nhà chùa...

Sư thầy nói:

- Từ lần loạn năm Dậu, nhà chùa mất quả chuông, mười năm công của thập phương giờ mới lại tô được. Biết nghĩ thế nào?

Các vãi cũng băn khoăn.

Bác thợ cả lại nói:

- Chi bằng đến hẹn cũng đừng tháo vội. Để nguyên khuôn thế này cho kín đáo. Đợi Tết cơm mới, tháng Mười này mà được yên, anh em tôi về sửa lễ tháo khuôn, sang rằm tháng Giêng vào hội.

- Nhờ Phật tổ, nghe xem yên hàn thế nào đã.

Các bác thợ đúc nghĩ vậy, ai cũng bảo nói phải.

Khắp nơi vẫn êm ả.

Làng làng chờ đợi nghe ngóng. Ven sông Tô Lịch dọc đường quan lên đến Phùng, các làng vừa sốt ruột lại vừa như mở cờ. Đâu đấy đã sẵn sàng, khí thế lắm.

Những chuyện đồn thổi sôi lên.

Dồn dập qua các hàng cơm quán trọ, các lều chợ - không phải chỉ ở đường quan, mà tận những nơi khuất nẻo, những tin tức nghe được, càng bồn chồn.

Người ta kể ngày nào quân nghĩa bên ta cũng lọt vào Kẻ Chợ. Bọn Noi Cáo dám ra Đồn Thủy giữa ban ngày, tìm bắt được cả mấy lão lý trưởng theo Tây rồi trói giật khuỷu tay, áp mã tấu vào gáy, giải ra giữa cánh đồng cắt tiết, như không biết có quan có lính nào ở đâu.

Chính đám quân nghĩa Kẻ Sấu về qua chỗ quán cơm ra bến Cốc, ngủ ghé đêm ấy kể chuyện họ vừa vào Hàng Khay đốt cháy hai nhà cố đạo Lăng Đe, cố đạo Bét Tô [31] - hai cha cố chuyên đi mộ người vào lính khố đỏ. Gà gáy, lọt vào chém được bốn lính thủy Tây canh nhà. Cố đạo Lăng Đe biết có động, lấy cái kèn đồng thổi vang lên. Ta tưởng có bọn đến cứu, bèn đốt nhà rồi rút ra. Thế là ở trong, nó trèo cửa sau trốn vào Đồn Thủy. Hoài của.

Ở Đồn Thủy đã có viện binh dưới Hải Phòng lên thêm. Bọn lính bàn giấy các nhà việc khỏi phải tối tối ra ngủ giữa sông. Nhưng mà cũng chẳng được yên. Quân ta vẫn rình quanh bờ rào, Tây đào hầm, đắp ụ đứng gác. Quan Ba đêm ngủ phải nằm dưới tầng hầm nhà. Có đêm, súng thần công quân ta đặt bên kia sông bắn sang. Súng đặt chỗ cửa đền Ghềnh trông về bến đá đầu làng Cổ Tân. Bắn từng phát thong thả như đánh trống cầm canh. Cả đêm chúng nó cứ ngóc cổ, thấp thỏm, rồi phải gọi thêm quân ở Sài Gòn ra. Có hôm quan từ Bécte [32] dẫn lính sang, đôi bên đánh nhau ở dốc Gạch giữa làng Gia Lâm.

Phía Bưởi, từ ba làng Yên Thái xuống bốn làng Nghĩa Đô, làng nào cũng rào giậu kín bưng. Làng Hồ năm trước đã mua gạch, dỡ gạch trong thành về xây tường làng. Người qua lại phải có giấy phép quân nghĩa. Khác nào lính võ sanh gác thành Cửa Bắc. Chẳng quan làng nào dám ho he.

Tây cho hai tàu chiến [33] ngược sông Cái diễu ra oai. Guồng tàu ầm ầm sủi nước. Các làng tận trong cánh đồng tổng Trung cũng nghe tiếng. Chốc tàu lại dừng, bắn một phát đại bác. Tàu lên chưa tới đầu làng Hạ Trì, bị quân ông Thống rúc tù và bắn đuổi suốt hai cánh bãi. Hai cái tàu lại đùng đùng cuốn nước xuôi về Đồn Thủy.

Những chuyện táo tợn ấy mỗi ngày càng nhiều thêm.

Một hôm, có tin quan năm Bi-sô [34] ở Sài Gòn ra phao tin dọa làm cỏ các làng quanh Hà Nội cho biết tay.

Làng nào cũng tức. Mấy ngày, quân nghĩa kéo đi như mắc cửi. Các ông xuất, ông thập cầm quân các làng ước nhau dàn thành ba lớp lũy làng này tiếp làng khác. Một đường từ Chèm xuống Phú Gia, qua Yên Thái men sông Tô Lịch đến Cầu Giấy. Suốt đêm, vang tiếng tù và, tiếng reo hò. Một đằng qua phủ Hoài vào Noi, tụ lại trên bến Chèm. Đường sau cùng xuyên các làng bên này sông Nhuệ, sông Đáy từ Sống Ốc ra Canh Thìa sang Trôi Gối, sang Đăm ra Cốc.

Quân các làng đóng khắp các nơi.

Trai làng Nha náo nức, hầu như không ai yên tâm ở trong làng mình, cứ muốn kéo đi. Mỗi người đeo một mo cơm, xách chiếc mã tấu.

Tối hôm trước, Nghĩa ở trên Tứ Tổng về qua điếm canh, quát to:

- Anh em nổi trống lên, nổi trống lên gọi làng ra.

Tiếng ngũ liên dội vào lũy các xóm.

Nghĩa nói:

- Nhiều làng đã kéo về Tứ Tổng. Có khi Tây lên đường sông. Anh em trên Tứ Tổng rủ ta lên đón đánh nó cho đông.

Có người bàn:

- Lên đông quá thì còn hở chỗ nào mà được đánh. Hay là xuống Cầu Giấy đón lõng xem sao. Biết đâu lần này cái công bắt sống thằng quan Năm lại chẳng về làng ta.

Nhiều người reo lên. Chờ mãi, bây giờ mới được nhúc nhắc, ai cũng háo hức.

Nhưng lại có người bàn khác:

- Lên Chèm hơn. Tây đi bộ hay đi tầu lên Chèm ta đều được đánh. Mà lại được trông thấy cái tầu Tây.

- Tôi chưa trông thấy cái tầu Tây bao giờ.

Nghĩa nói:

- Ừ, lên Chèm. Ta lên Chèm.

Thế là tất cả đều muốn đi. Trước cửa đình, ùn lại một đám. Nghĩa chỉ chọn hơn mười người. Không ai chịu ở lại. Nhưng Nghĩa cương quyết “nhỡ Tây nó ra đường này thì sao, phải có người ở làng giữ chứ để nó đến làng à”. Ngát cũng đòi đi. Nếu cho Ngát đi, chắc bọn con gái các xóm sẽ mặc xống áo đàn ông vào rồi đòi à theo.

Lão Vạn ở ngoài đồng xồng xộc về, tay xách giỏ. Lão mới biết tin trai làng sắp kéo lên Chèm giúp anh em Tứ Tổng.

Lão Vạn đuổi theo Nghĩa.

Lão gọi:

- Ông Xuất... Ông Xuất...

Nghĩa đứng lại, chợt mỉm cười.

- Xuất, Xuất... thế nào...

Lão Vạn nói:

- Cụ lý bây giờ cũng phải bẩm ông Xuất nữa là đàn em. Trước kia, vùng ta theo cụ Xuất nhà, bây giờ cờ đến tay ông, ông phất lên cho dân làng người ta theo.

Nghĩa sốt ruột, hỏi:

- Có việc gì? Tôi đương vội đây.

- Ông Xuất cho em lên Chèm với.

Nghĩa nhìn lão Vạn. Cao lớn, hai vai trần đen xám. Râu quai nón kín thái dương, chẳng kém râu Tây. Quanh năm lam lũ, trông xốc xếch như ông cụ, nhưng chưa chắc lão đã đến tuổi năm mươi. Vóc người còn vững lắm.

Nghĩa do dự.

Lão Vạn lại nói:

- Lên đường sông, có khi được đánh tầu thủy, ông Xuất ạ.

- Anh em cũng đoán thế.

Lão Vạn vỗ đùi, cười to:

- Thế thì hay, hay...

Lão Vạn ghé tai Nghĩa:

- Ông Xuất chưa biết ngày trước em đã được kén vào thủy vệ [35] đi việc quan ba năm sông nước rồi đấy.

- Ờ, thì đi.

Lão Vạn cười giơ tay tạt đám râu ria sang mang tai rồi cung cúc chạy gọi thằng con.

Đương cữ cuối tháng bảy. Trời u ám đổi tiết, gió chớm lạnh đưa những trận mưa dầm rả rích về. Dưới nhà bắc bếp bung nồi ngô ăn câu dầm mấy bữa. Vừa sáng sớm đã như xế chiều, mưa suốt đêm mà sáng hôm sau trời đất vẫn ủ dột giọt ngắn giọt dài. Trong lũy tre, không lúc nào nghe dứt hạt. Những con gà quanh quẩn chạy mưa, đầu cánh nhô lên lướt thướt buồn bã. Nước sông Cái cuốn lên to. Người ngoài bãi đuổi trâu bò chạy nước vào các làng trong đồng. Trong mưa gió gồng gánh lũ lượt, không biết đâu người chạy nước, người chạy loạn, đâu là quân nghĩa quân các làng đi đón đường đánh Tây.

Phía Nhật Tân, đại bác từ mặt sông nghe dội lên. Trong vòm trời sũng nước, lúc nào cũng như sắp sập tối. Những tiếng nổ lẫn tiếng nước réo húc đổ từng vạt đất. Tiếng hò hét, tiếng ốc, tiếng ngũ liên tràn ra các lũy tre.

Đại bác nó bắn, thế là Tây đương lên. Phía Chèm Vẽ cũng lại oang oang trong mù mịt. Chưa biết quân nó đã đến làng nào. Coi chừng nó phải chọc thủng cả vòng vây mưa dầm dày đặc này, mới nhích lên được.

Đấy là câu chuyện đùa cười giữa những đám quân nghĩa.

Nhưng đấy cũng là chuyện thật. Những cánh quân quan năm Bi-sô kéo ra, có tàu thủy dưới sông bắn dọn đường, đã hai ngày mà mới mò được tới đình Chèm.

Trời mưa, đường sống trâu trơn quá.

Những cỗ đại bác ngựa kéo chật chưỡng, chốc lại kềnh xuống ruộng. Có chỗ thụt bùn đến lưng ống chân.

Bụi mưa vẫn mù mịt trước mặt.

Những lũy tre đằng xa, lúc mờ khuất hẳn không trông thấy đâu. Phải tới được những lũy tre kỳ quái ấy. Quân đội nước Pháp không thể thua trận - lệnh của quan sáu Bu-ê [36] ra cho quan năm lính thuỷ Bi-sô.

Lũy tre các xóm làng Gạ mờ mờ trên mặt nước đỏ ngầu. Tưởng như nước sông cứ lên mỗi lúc một khác thế này, con đê quan vạc nứt ra, Tây đã đến Chèm, không làng nào dám đi hộ đê, thì chỉ trong đêm nay, cả đến những ngọn tre trong cánh đồng cũng phải ngập nước mất tăm.

Đại bác tầu ngoài sông lại nã vào. Bây giờ đã biết được đạn rơi liên tiếp xuống làng Gạ. Có đại bác bắn trước vào đâu, thế là biết hiệu quân nó sắp đánh vào đấy.

Nhưng chúng nó lên làng Gạ thế nào. Cả mấy xóm làng Gạ đã chới với giữa những con sóng quẩn còn ngập đầu người, mà bọn lính đóng ở cửa đình Chèm chỉ có xe ngựa.

Đạn đại bác vẫn rơi xuống các xóm. Tiếng nổ trên bụi tre lại oàng một cái rồi toang toác liên tiếp như bao nhiêu đốt tre chết dóc gặp ngày hanh hao cùng nổ một lúc. Đàn cò sợ hãi bay ra trong mưa, lại lảo đảo đậu xuống bụi tre khác.

Cánh làng Nha lúc ấy cũng đương trú trong xóm làng Gạ. Thế là cùng trai làng chia nhau ra canh các cổng đồng. Nhưng sương và mưa khiến mắt người không nhìn xa quá được một con sào. Mới giữa trưa mà vòm trời đã xám như chập tối. Sóng vỗ trong đồng, nghe ào ào như lên tận ngọn tre.

Một chiếc thuyền thúng nhô ra, lướt nhanh vào cổng đồng. Cái thúng đỏng đảnh như chiếc lá tre rụng trôi vút theo sóng. Đấy là thúng của làng thả đi thám bên đình Chèm về.

Trong lũy, tiếng hỏi nhao nhao ra.

- Thế nào? Có gì không?

- Nó sắp sang. Có mấy cái thuyền ván.

- Đến đâu rồi?

- Đương xếp đạn xuống thuyền. Nó định cho cai đem mấy thuyền khố đỏ sang đây ngủ đêm, mai xuống phủ Hoài gặp nhau với cánh quân ở Cầu Giấy ra.

- Nói dễ nghe! Ai cho xuống mà nó được xuống!

Cổng đồng đã mở. Cái thúng chèo thẳng vào tận điếm canh đầu xóm. Trong điếm lúc ấy đã đông người ra, ai cũng chỉ đóng một khố đơn như sắp lội xuống nước cả. Người kín ba gian nhà, ngồi đội mưa cả ngoài sân.

Một người quát từ trong ra, tiếng sang sảng:

- Anh em nghe lệnh làng đây. Làng cần mười người lấy thúng bơi ra, lặn xuống đục tất cả thuyền lính, thuyền đạn chỉ chừa lại cho nó một cái. Phải hét cho bọn sống sót biết chúng ông đi phá đê, đêm nay đê vỡ trôi đình Chèm, chúng mày chết hết.

- Ông Xuất...

Nghĩa quay lại. Lão Vạn đã đứng sau lưng từ lúc nào. Hai con mắt lão ngời lên trong khuôn mặt râu rậm rì.

- Ông Xuất cho em đi với đám này.

- Lão đi làm sao!

- Ông Xuất đã biết ngày trước em là lính thủy vệ. Em bơi như thuồng luồng ấy chứ. Mấy chú này vùng vẫy sao bằng em. Họ biết tay em rồi. Mấy hôm nay em dạy nghề cho các chú đấy. Em không cần thúng, không cần dùi đục. Chân tay không em lặn ra, em dỡ ván, thuyền nào cũng vỡ hết.

Cả bọn nghe tiếng, mọi người reo. Lão Vạn nghiễm nhiên đã đứng giữa bọn, chỉ trỏ quát tháo như người thủ chỏm, quên cả mình vừa khúm núm trước mặt ông Xuất Nghĩa ngay đấy. Thì lão vẫn là đàn anh ở đây. Mấy hôm, lão đã dạy cho anh em các khóe lặn. Ai cũng một điều cung kính với lão: thưa ông thủy vệ, thưa ông thủy vệ...

Một lát những cái thúng từ trong chân tre lao ra. Người chúi đầu xuống, tay cắt nước nhanh như xay thóc. Quanh lũy tre vẫn mù mịt, chốc chốc, một quả đại bác bắn nhịp đến.

Tiếng đại bác rời rạc hơn rồi một lúc lâu không nghe nữa. Những người ngồi trong điếm mới để ý thấy thế. Nhiều người chạy ra cổng rong xem sao. Nhưng mặt nước vẫn xám mờ. Chỉ có tiếng sóng oàm oạp. Không thể tưởng được những gì đương xảy ra ngoài kia.

Mọi người băn khoăn. Có thế nào, đại bác nó mới thôi bắn. Im đã lâu lắm.

Một cái thúng vút về trong sóng nước xám ngắt. Người trên thúng nhoài ra, gạt nước cho thuyền nhảy sóng vào. Còn một người vẫn ngồi vắt chân đằng sau. Cả bờ tre cùng hò lên như lệnh vỡ.

- Ông thủy vệ đã về!

Người hỏi lao xao:

- Anh em ta đâu?

Lão Vạn vào điếm, vừa đi vừa nói:

- Đang về cả ngoài kia.

- Thế nào?

- Đắm tiệt rồi.

- Ấy chết, hỏng. Làm thế, Tây ở Chèm nó tưởng bọn ấy sang được. Đã bảo mà. Đứa nào láo thế?

Lão Vạn thủng thẳng nói:

- Xin các quan anh tha tội cho, cái này tại em.

Nghĩa giật mình. Chết nỗi, người ta gô cổ cả nút lại bây giờ. Đất Sù Gạ này hăng có tiếng, không vừa đâu. Biết thế chẳng cho cái lão rồ dại này đi.

- Căn do nó là thế này. Chúng tớ trông rõ cả năm cái thuyền ván, cho một cái thoát cũng tiếc. Tớ nói thế thì tớ ra mẹo. Bọn mày vào đục thủng cả năm cái cho tao. Năm cái thuyền chìm. Chúng nó kêu khóc ghê quá, ở đây có nghe tiếng không. Tớ lặn dưới nước cũng nghe gào thét lọng óc. Tớ đi mò lấy hai thằng lính. Quờ được thằng chân giầy, tớ buông ngay. Chỉ có Tây mới đi giầy. Mà mình không cần Tây. Tớ tìm được hai thằng khố đỏ đi chân đất. Tớ cắp mỗi đứa một bên nách, lặn về chỗ đám thúng nhà mình đậu, móc cổ cho nó òi nước ra, bắt nó sống lại.

Xung quanh mải nghe lão Vạn kể, không để ý lúc ấy có mấy cái thúng nữa đã vào đến cổng rong, đương bỏ thuyền, nhô nhốt chèo lên bụi tre.

Đến đây, khoái chí, lão Vạn cất giọng:

- Các quan anh ơi! Em quát hai thằng chết rồi ấy rằng: ông thương chúng mày còn bố mẹ già, vợ dại. Muốn sống muốn tốt cút ngay, đừng đi theo Tây nữa, lần sau thì không gặp được ai như ông làm phúc cứu chúng mày đâu. Em na hai thằng một quãng, đến cửa đình Chèm, thả lên. Lại dọa chúng ông lặn đi đục đê đây. Cái đê Chèm vỡ đêm nay, cả đến thằng quan mười nhà chúng mày cũng chết trôi sông, con ơi! Mày gặp thằng nào quen, mách cho nó biết, nó chạy chết thì chúng mày được phúc. Hai thằng run lên, lạy như tế sao. Đấy đấy... có nghe đại bác bắn nữa đâu... Tàu chiến cũng xuôi về Đồn Thủy cả rồi.

Đêm ấy, một đống lửa to như hàng chục cây đình liệu đốt cùng một lúc. Không sợ đại bác bắn tới nữa. Mưa sụt sùi mà lửa cứ rừng rực. Trời vẫn rả rích, - mưa tràn qua cả tháng bảy. Chuyện làng Gạ đục thuyền chết hết cả Tây cả lính ở đình Chèm lan vào đến các phường trong Kẻ Chợ.

Sang tháng tám, nước sông Cái lại êm ả xuống. Như mọi năm, mùa này gió giải đồng thổi trên lũy tre, dào dạt qua làng, qua những cánh đồng trống trải.

Lần này, quan sáu Bu-ê lại soạn quân đánh ra: Những chiếc thuyền đắm, Tây căm lắm. Chúng muốn bắt câu chuyện phải được đồn thổi ngược lại. “Quân Pháp không thể thua trận” - Quan năm Bu-ê đã ra lệnh thế.

Tháng Mười.

Cánh đồng lúa trổ vàng được gặt quang. Năm nay, tưởng mùa gặt đến sớm, ai cũng mong chóng được thóc vào bồ. Rồi lại sắp đến Tết cơm mới. Vườn cải sớm lên bẹ phấn trắng. Các chư bà bàn đã đến hẹn dỡ khuôn chuông. Nhưng nhà chùa vẫn đắn đo, muốn rốn lại.

Sáng sớm, các người đi chợ hớt hải chạy về.

- Tây đương dàn quân ra phủ Hoài, đi đông như kiến.

Người trên sông Cái xuống nói:

- Đàng Chèm cũng tắc bến rồi. Tàu Tây qua bến Hối từ gà gáy.

Nhưng mọi việc vẫn thong thả. Mấy lâu, Tây vẫn dậm dọa thế thường.

Ở ngoài điếm về, Nghĩa nói với bà Xuất:

- Mẹ ạ, có lính quan chưởng cơ về kén mỗi làng hai mươi người lên đắp lũy Sơn Tây.

- Bao giờ đi?

- Con đưa anh em đi bây giờ.

Nghĩa vào buồng đầu nhà nhét mớ quần áo vào tay nải, vét vại lấy mấy đấu gạo, tất tả rút thanh mã tấu rồi bước ra, chỉ nói một câu vội vã lạy mẹ, con đi. Một bên vai còn vác thêm cái câu liêm.

Bà Xuất đứng trong thềm nhìn theo. Rồi bà lủi thủi ra chùa.

Ngát hớt hải đến điếm canh. Cả bọn còn đứng đấy đợi người chưa ra đủ.

- Anh đi mà không bảo ai ở nhà?

Nghĩa không hiểu câu Ngát hỏi trách, chỉ thật thà nói:

- Anh đã xin mẹ rồi.

Ngát dân dấn nước mắt.

- Anh lên Sơn à?

Thấy Ngát sắp khóc, Nghĩa an ủi:

- Nghe nói đi đắp lũy ở Phù Sa. Vài hôm lại về ấy mà.

Ngát im lặng nhìn Nghĩa. Đôi mắt đen sẫm long lanh nước mắt, chợt nồng nàn, chợt ủ ê, không dứt ra được.

Ngát nói nhỏ, lại như hôm lên Chèm:

- Em đi với.

Nghĩa cười to, nói dõng dạc - như cũng để mình khỏi ngượng:

- Các quan tỉnh chưa lấy đến lính đàn bà đâu.

Ngát nghiêm trang:

- Cái khi bác Bếp đem vào làm việc Đồn Thủy, em mặc đàn ông, anh cũng biết đấy thôi.

- Bây giờ việc cơ ngũ, có làng nước trông vào, không thế được.

Rồi Nghĩa chẳng muốn Ngát lằng nhằng nói lại, Nghĩa gạt đi.

- Việc em là phải ở nhà. Các cháu chạy loạn rồi, nhà vắng lắm. Nhà có một mình mẹ thì không đi được.

Ngát tiu nghỉu mặt rồi trân trân nhìn Nghĩa. Cả làng này đã biết cô ả Ngát mê anh ả Nghĩa đến tơi tả cả người. Mặc chế giễu, Ngát vừa ngượng vừa thích được nghe người ta cười thế. Bây giờ đương việc quân quan bối rối, cũng không ai chú ý có Ngát ngồi đấy. Cái điếm canh vắng vẻ mọi khi, lúc này nhộn lên. Trên giá gác những thùng lùng, thiết lĩnh, anh em đã lấy đi cả, chỉ còn lỏng chỏng lại mấy gậy tre đực. Có anh rút nốt chiếc gậy bảy làm đòn gánh hai tay nải, rồi cứ đứng ngắm đầu ngắm đuôi. Mấy người xúm lại tự dưng cười ầm. Cảnh túi bụi như sắp gồng quảy chợ búa, không phải đi giữ thành quan. Người mải buộc lại túi, xắm nắm con mã tấu. Có người vác thang, vác quắm như Nghĩa.

Lúc sau, đám trai làng được chọn đi đã đến đủ, Nghĩa xốc lại tay nải, nách cắp mã tấu, vai vác câu liêm. Vẫn lỉnh kỉnh như thế, Nghĩa ra đứng giữa sân điếm:

- Anh em xong chưa, ta đi nào!

Người làng đứng xem vòng trong vòng ngoài. Nghĩa nhìn hàng quân đã yên tề rồi quay mặt nói với mọi người ở lại:

- Bây giờ anh em chúng tôi đi việc quan mấy hôm.

Có người xướng:

- Nhớ hẹn đấy.

Người hỏi:

- Hẹn gì nào?

Một người hát ví một câu bâng quơ:

Yếm cấp hoa anh đề con nhạn

Hỏi bao giờ cho nhạn biết bay.

Hình như họ đã sắp sẵn thế để đùa Nghĩa. Tất cả cười ran. Nghĩa cũng đã quen với cảnh nghịch ngợm tương tự. Lúc ấy chỉ cười đưa mắt nhìn Ngát rồi nói to:

- Thôi thôi vứt cả nhớ yếm nhớ váy lại. Hãy nhớ đây này, chúng tôi đi gặp Tây đâu đánh đấy. Còn anh em ở nhà không được để một đứa nào lọt vào làng. Nhớ cái hẹn thế không?

Người đi người ở lại cười hỉ hả.

Cả bọn đã ra khỏi ba lần cổng tán. Ngát vẫn lõng thõng tất tưởi chạy theo.

Mọi người cười khúc khích, mặc, Ngát cứ đi.

Nghĩa ngượng, gắt:

- Về chứ!

- Cho em ra đến đầu đồng.

- Về đi!

- Em đến chỗ bờ tre kia.

Ngát vẫn bước cạnh Nghĩa.

- Em cứ theo làm cho anh đâm ra nhớ nhà. Ngộ đương nhớ nhà mà gặp thằng Tây, anh run tay, thế là hỏng việc quan. Không được.

Nghe nói thế, Ngát đứng lại.

Người đi đã xa, Ngát òa khóc. Đến khi dụi mắt ngước nhìn lên chỉ còn thấy xung quanh vắng lặng đến tận bờ tre xanh mờ phía sông Cái. Ngát tha thẩn, phụng phịu về.

Sớm hôm sau, nghe tiếng súng ùng ục phía Chèm, suốt dọc sông Cái.

Có lẽ Tây lại đánh lên Sơn.

Rồi đàng phủ Hoài cũng râm ran tiếng súng từ gà gáy. Người ta đổ ra đánh nhau với quân Tây ngay ở đầu các làng Trôi, làng Gối. Tận chiều vẫn còn nghe súng lẻ tẻ. Đêm đến, tối mịt, chỉ có tiếng tù và rùng rợn. Nhưng tiếng tù và là tiếng của bên ta. Tiếng tù và rúc bốn phía. Người trong các chân tre hiểu đấy là các làng lên tiếng: anh em tôi đây, có làng ta đây. Tiếng tù và ánh ỏi suốt đêm khắp nơi trong gió heo may. Tưởng như những đoàn quân nghĩa đương trảy từ làng này qua làng khác.

Nửa đêm, nghe tù và, Ngát hỏi mẹ, anh Nghĩa bây giờ đã lên đến Sơn chưa. Bà Xuất chỉ ừ rồi lặng im.

« Lùi
Tiến »