TỪ SÁNG SỚM, trẻ con trong xóm đã biết có khách đem gà về chọi ở sân nhà bà Xuất. Chúng nó léo nhéo gọi nhau kéo tới. Đã mấy năm, sới gà sân nhà bà Xuất mới lại có đám.
Anh Đề Cụt thả gà xuống, còn nắm nắm hất hất, vừa vần gà giảng cho Nghĩa và Ngát cứ đứng ngẩn mặt nghe.
- Ôm gà, nâng gà, không phải ai cũng làm được đâu. Cô Ngát đi giã cho anh củ nghệ. Om bốp nghệ hai cái quản nó. Chăm gà bận hơn con mọn chứ không phải chơi.
Nghĩa toan nói: “Thế thì chơi làm gì”, nhưng lại thôi, vì nghe anh Đề Cụt nói, Nghĩa trông con gà của anh, thấy nó hách tợn, mình đỏ lửng, lưa thưa lông. Cái mào quắt, lật một bên, ngỗ ngược. Đứng cũng không chịu yên, thỉnh thoảng, cất chân đạp phăn phắt như ngứa đá.
Đề Cụt gật gù nói con gà này mắt hạt cau, gan to hơn gan người, đánh chết thôi chứ không biết lùi.
- Ấy, cái mỏ. Đốc to, đầu nhỏ, mỏ diều hâu, nó mà níu mỏ được, con kia phải đến rách thịt. Kìa các chú trông nó đi, nó đi kiểu gà nòi: thứ nhất, cái gì quên rồi, thứ hai lắc mặt, đòn nhanh như chớp. Nó đứng kìa, hay chưa, đứng cũng né quản, giữ miếng.
Ngát chép miệng:
- Thế thì gà của anh Đề Cụt nhất thiên hạ rồi.
- Không thể nhì được.
Đề Cụt không để ý những câu nói giễu, thật thà cười:
- Nghe người ta giảng thế, anh nói lại thế. Thật đấy.
Có bóng người từ ngoài cổng vào. Khách chững chạc, đội nón chóp dứa; tay xách lồng gà, phủ mảnh lụa hoa hiên.
Khách vào đến giữa sân, ngả nón mới rõ mặt, trong khi Ngát đã chạy ra đỡ nón.
- Lạy bác, bác Bếp đã về.
Bác Bếp chợt như ngỡ ngàng một chút nhìn Ngát, rồi cười:
- Mày đấy à? À mày. Thời buổi này, trẻ con đàn bà cũng khó nhọc, tội nghiệp. Hai thằng nữa, hai thằng ở Đồn Thủy dạo ấy đâu?
Lúc ấy, mọi người trong nhà đã ra chắp tay chào bác Bếp. Ai cũng tíu tít: cháu chạy về được... cháu chui bờ rào... Cháu không biết bác lúc ấy thế nào... Không biết từ bao giờ và ở đâu cũng vậy, cái dáng đĩnh đạc, khoan thai, cách nói mềm mỏng của bác Bếp đã cứ tự nhiên làm cho mọi người phải vừa kính nể vừa thân thiết.
Bà Xuất ra mời khách vào trong nhà. Bác Bếp đặt lồng gà ở đầu hè rồi bước vào. Rõ ra con người lọc lõi đất Kẻ Chợ - bác Bếp đây mới đáng mặt tay chơi gà chọi. Khăn lụa vân sa quấn quanh búi tóc củ hành, tấm áo chồi năm thân nhuộm điều. Chiếc quần tơ gốc vàng chóe. Đôi giày Tàu dạ Mông Tự đi êm ru. Dáng lượt là như bọn khách Hàng Buồm lắm của, mỗi bước ra đường lại thuê vệ sĩ lính Cờ Vàng đi hầu. Người này hẳn thường lui tới Hàng Buồm, phố Mới, những nơi tiền rừng bạc bể, cao lâu, hút sách, cờ bạc, đĩ bợm nghiêng trời. Những chốn ngày càng đông những bọn Khách theo Tây ở Vân Nam xuống, và không biết ở những đâu kéo đến nhộn nhạo tác quái một vùng phường phố giữa Kẻ Chợ.
Không ai có thể tưởng người như bác Bếp hôm nay mà dạo trước đã sống giữa trại lính Đồn Thủy, đóng cái áo trắng cổ đứng. Vừa trong bếp ra, lại thành anh nhà bàn, một tay vắt khăn mặt, khúm núm nghiêng chai rót rượu mời các quan Tây. Những người giang hồ ngang dọc thế này trăm công ngàn việc phải lo, phải tính, có thế mới là người thời bây giờ.
Khách ngồi xuống phản giữa, cầm miếng trầu ăn, cười khà:
- Hỏi thế thôi, chứ tôi cũng đã biết các cháu bình yên về được cả.
Ngát hỏi:
- Bây giờ bác làm ở đâu? Bác không...
- Ừ không về Đồn Thủy nữa, về thì nó chặt đầu. Nhân sinh bách nghệ, bây giờ tao làm nghề khác.
- Thế hôm ấy rồi bác đi đâu?
- Đi đâu a? Tao phải xách cái đầu lâu thằng quan Năm về phủ Hoài. Chứ lại xếp xoong chảo ngồi xe trở về Đồn Thủy sao được!
Câu chuyện dữ dội bỗng tan trong trận cười rầm rĩ.
Đề Cụt từ ngoài sân vào.
- Bây giờ quan anh xơi giầu xơi nước rồi xin đưa gà ra cho gà đàn em hầu một hồ.
- Thong thả, mở hộ cái mành cho gà thuộc thung thuộc thổ cái đã.
Bác Bếp đứng dậy. Bóng nắng ngoài sân đã vào ngang gốc cau.
Bác Bếp nói:
- Tháng tám mà còn nắng thế. Ừ, làm một hồ cho nó mát mẻ.
Đề Cụt đỡ:
- Vâng, xế chiều rợp sân lại chơi hồ nữa.
Người đã tới xúm xít quanh. Nén hương đen đã được cắm xuống cạnh vòng sới. Đo một gang tay, vạch vôi phía trên, đánh dấu một hồ.
Bác Bếp cởi áo ngoài, vắt lên sợi dây mây giữa nhà. Bác ôm con gà, nâng niu như bọc vào dải thắt lưng nhiễu hoa cau xòe ra. Con gà của bác Bếp xấu mã kém hẳn gà Đề Cụt. Lông ống cứng quếu, lộ từng mảng da nhợt nhạt. Hai tròng mắt, hai quản gà đen như hai dóng mía lùi. Nó lử đử bước ra giữa sới.
Chú gà đỏ tía tai như cái hoa hồng bụt của Đề Cụt vừa được thả đã hồng hộc xô vào. Một con đờ đẫn, u ám như cơn mưa. Một con vênh vang, hùng hổ. Gà tía xông tới, nhảy lên, đá phách một cái. Con xám né cổ. Tía ta vươn mỏ níu. Xám lờ đờ quay lại. Nó buông một đá rồi bước quanh. Tía bừng bừng đuổi theo. Xám đứng lại, bất thần nhảy một cái đấm thuốn giữa mỏ gà tía.
Gà tía thất thần, quéc một tiếng, như kêu giời ơi! Giời ơi! Rồi chạy giật lùi, chịn đuôi vào tận chỗ người ngồi xem.
Đề Cụt ra nhấc gà bỏ vào giữa sới. Nhưng bây giờ con xám chỉ vươn cổ, nghe con tía đã kêu quéc quéc, quay đầu chạy.
Xung quanh cười ồ.
Đề Cụt cũng ngửa mặt cười với mọi người rồi lại ra bê gà đẩy vào sới.
Vừa đặt chân xuống, gà tía chạy luôn. Lần này tía chạy luồn qua cả khoeo người ngồi xem, đến cạnh vại nước. Đứng thảnh thơi xa xa, gà tía vẫn cất tiếng hốt hoảng quéc quéc.
Mọi người lại cười rầm rĩ.
Nén hương hồ cháy mới ngấn bằng nửa hạt thóc, chưa rụng tàn.
Bác Bếp nói:
- Gà chọi mà kêu như gà pha thế kia, cho vào nồi thì vừa.
Một người đứng xem, tán: Cho vào nồi! Quéc quéc... Nó bảo cho vào nồi.
Thế là tan đám.
Mấy người quay lại, hỏi mát Đề Cụt:
- Ban nãy anh bảo gà anh gan to bằng gan người cơ mà.
- Hay là còn cho gà dưỡng sức đến chiều đá luôn hai hồ cho bõ?
Đề Cụt nhơn nhơn:
- Chiều thì mời các chú mày lại nhắm tao thết rượu thịt gà.
Ngát hỏi Đề Cụt, vẻ tưng hửng:
- Sao anh bảo gà anh thế này, tài lắm mà.
Đề Cụt cười hì hì, rồi ghé tai Ngát nói thầm:
- Tao biết gà qué gì đâu. Mượn con gà che mắt thế gian mà.
Rồi, nhìn trước nhìn sau, Đề Cụt bảo:
- Bác Bếp mà về chơi chọi gà, cũng vì việc khác. Em đã ra ở Đồn Thủy, em biết việc gì rồi.
Ngát nói:
- Anh cũng giỏi làm ra vẻ thạo gà, được đấy.
Người xem chọi gà đã về hết. Bác Bếp gọi Đề Cụt và Nghĩa lên ngồi phản giữa.
Bác Bếp nói:
- Việc này nóng lắm. Chốc nữa, chú Đề phải đi với tôi ngay. Chú Xuất Nghĩa lo tập quân ở làng, làm thế nào nếu Tây đến phải sẵn quân đánh mà lúc tôi cho gọi thì quân đi được ngay. Thằng Tây dạo này lại hỗn lắm, tình thế gấp gáp đến nơi. Nói thế, các chú hiểu...
Cơm trưa xong, bác Bếp lại đi. Bà Xuất giữ lại, bác Bếp nói:
- Ở nhà ta thì tôi ở đời được. Thôi để khi nào bình yên.
Nhưng cứ trông dáng bác Bếp, không ai có thể đoán được bác đương lo việc nóng việc lạnh đến thế nào. Chiếc nón dứa chóp bạc thấp thoáng trong bờ tre đầu xóm, tay xách lồng gà, bác Bếp bước khoan thai như người phong lưu rỗi rãi đi thăm hỏi bà con ngày ba tháng tám.
Đề Cụt đi ngay lúc ấy với bác Bếp.
Con gà tía, Nghĩa đem nhốt lại vào lồng. Trẻ con vác đi chọi. Bây giờ nó thành tật sợ đòn rồi. Chỉ mới trông thấy con gà nhép, mà thằng tía hộ pháp này đã quay cổ, lại chạy, kêu quéc quéc. Một đòn con xám làm nó khiếp vía.
Mùng một tháng ấy, các vãi có lễ ngoài chùa. Được ngày phiên tơ, chư bà ra chùa từ chiều.
Lễ Phật chùa trên rồi các vãi xuống nhà hậu. Sư cụ chùa làng tịch đã lâu, chỉ còn sư thầy và mấy chú tiểu. Chùa nghèo, một thầy và trò nhang đèn với sào ruộng hậu. Mười năm trước, hồi loạn Ngạc Nhe, chùa có cái chuông, không biết kẻ trộm hay quân Cờ Đen đi qua, đã khiêng mất. Chùa mất chuông từ hồi ấy. Ngày còn sư cụ, mùa hè năm nào người cũng cho sư thày đi khuyên giáo thập phương. Rồi cả làng lo vào, bây giờ mới gom được một ít đồng nát, công quả suốt mấy năm trời. Vẫn định được ngày sẽ đúc chuông mới. Mấy lâu nay đã bàn đi bàn lại.
Nhưng hôm ấy nhà chùa không bàn việc tô chuông.
Bà Xuất nói với chư bà:
- Người trong thành ra nói Tây sắp đánh lên Sơn. Khéo chừng lần này nó đánh to, rập rình mãi rồi. Các ông chánh ông lý tổng Trung đã nhớn nhác chạy loạn, người có máu mặt tránh vào thành. Nhà chùa ta cũng phải tính thế nào. Đánh lên Sơn, nó phải qua vùng ta...
Nhiều người nói:
- Ngày còn sư tổ cũng thế, bây giờ thày cũng thế, vãi chúng tôi xin theo nhà chùa.
Sư thầy nói:
- Phật pháp ở đâu, nhà chùa đấy. Ví bằng khó khăn thế nào, trước sau nhà chùa vẫn vậy, chư vị ạ.
Các vãi bàn vào.
Nghe đồn chuyến này Tây lên Sơn, nó mà qua làng nào, hội nghĩa làng ấy đánh, chặt chân không cho nó đi được. Làng ta có anh Xuất Nghĩa ra đốc quân rồi. Làng nước bề bộn lắm việc lắm. Già nào đem con cháu đi chạy loạn cứ đi. Không thể chùng chình được, nhỡ một cái...
- Ai ở lại thổi cơm nấu nước việc quân thì hãy ở lại, vãi nào chạy loạn thì đi. Đằng nào cũng theo con cháu cả.
Sư thầy nói:
- Nhà chùa tôi xin ở lại giữ chùa.
- Bạch thầy...
Lại nhiều người nói:
- Thế nào cũng phải tô xong chuông, có chạy mới chạy. Việc công đức, chùa ta cứ đứng lên gióng giả cho thành công quả đã.
- Mười năm lo công đức bây giờ đến lúc sắp nên công quả mà lại xếp đấy thì không đành. Làng có hỏi, nhà chùa cứ trình làng thế cho hội vãi chúng tôi.
Ngoài làng, xóm nào cũng đương nhộn nhạo.
Đình làng Nha bên gốc đa cổ thụ tuy nhỏ, nhưng cũng đủ lệ bộ nhiêu khê. Trong hậu cung ẩm thấp, trên cái ngai gỗ mít, bộ mũ áo vàng của thành hoàng làng đã bạc. Sân đình viền thềm đá, mùa hè cả xóm ra ngồi hóng mát trông ra sông. Người ta hay kể chuyện về con nghê trên trụ bức trấn phong đầu đình. Mưa nắng rầu rã, vẫn nổi màu da lươn bóng, con nghê nhe răng nhìn cây đa. Nghê này tận trong Thanh mang ra. Đời trước, có bà con gái làng lấy chồng thiên hạ giàu có, về cung tiến đôi nghê sành, bây giờ còn một con.
Ngày vọng ấy đông đủ các cụ ra đình. Bao đời nay, mỗi tháng đến kỳ xóc vọng, từ các đời chi họ Lê ngược về trước, khi cụ tổ nhà ông Tư phải tha hương lên Ba Trại, hầu như lệ làng có lúc đậm lúc nhạt, nhưng cho đến bây giờ vẫn tương tự thế.
Những cụ có chữ nghĩa nói làng ta thờ ông quan hầu. Nhà vua trảy quân lên Ba Vì, ngài quan hầu qua đây thì hóa.
Sự tích ông thánh nhiều làng cũng bình thường thế thôi. Chẳng phải làng nào đều có được thành hoàng làng tiếng tăm oai linh. Như sự tích ông bà bán dầu, lính phòng thành đẩy xuống chết đuối ở sông Thiên Phù, được hiển thánh, phường Yên Thái được thờ. Ông em nghe tin ông anh bị nạn, chạy từ Kẻ Cáo xuống, giữa đường vấp ngã chết. Cũng được giờ linh, làng Bái lập miếu thờ đức thánh Chú cạnh đầm Ao Cá.
Các cụ còn nhớ những họ này đến ở đất này trước. Họ Nguyễn ngày xưa cũng chẳng nhiều thế. Khi chúa Nguyễn lên ngôi, nhiều quan gia, lính tráng phò Lê, phò Trịnh, hay vì sợ sệt đâu đâu, đã bỏ làng đi nơi khác, cải theo họ Nguyễn. Thế mà vẫn có mấy nhà họ Lê. Không biết tại sao còn sống sót được. Trong làng, ai cũng tỏ rõ gốc gác nhau, người ta bên khinh bên trọng cũng nghĩ theo thế. Họ Nguyễn, họ Vũ vẫn là họ to, nhiều đinh, nhiều người chức việc thủ chỏm. Đi vác mặt lên, đứng chống nạnh, ai cũng nể sợ. Còn như bố con lão Vạn ngụ cư, ngủ lang đầu đình, bị khinh là hèn. Biết thế, mà không đời nào ngửa cổ lên được.
Mấy đời, hết họ Nguyễn sang họ Vũ làm lý trưởng. Thế nhưng làng này cũng chưa lần nào lên tranh được chân chánh tổng trong vùng. Trên Kẻ Cốc, nhiều nhà giàu, lắm ruộng chắc chân, người ta bỉ báng các làng canh cửi là những dân gạo chợ nước sông. Mà làng thờ ông quan hầu, hình như bị cái hèm không có người ăn học đỗ đạt. Lắm lúc người làng Nha ngồi đố với nhau, cũng không ai thuộc được chức tước quan cách ngoài Kẻ Chợ. Hèn đến nỗi chẳng bao giờ màng đến công việc và chức tước ấy cả. Chỉ láng máng quan bố, quan tuần, ông lãnh binh, ông hiệp. Làng này mà đi lính chỉ hòng đóng đến ngũ trưởng, thập trưởng, ăn tháng Hai quan tiền, hai phương gạo của làng góp cho đã là may. Thăng quan, tiến chức đến hàng xuất đội là mong mỏi, là chuyện giễu cợt xa xôi. Người làng chỉ biết đến quan phòng thủ úy, được thế đã gọi là quan phòng thành. Đấy là bọn quân quan, xem nom các làng ngoại thành nên người ta thuộc chức thuộc mặt mà thôi.
Làng nước chỉ biết cái cày, cái khung cửi. Cả đời còng lưng khiêng lệ làng không hết.
Hôm ấy, sáng sớm, ông từ mở ba cánh cửa giữa đình rồi vào hậu cung thắp hương, khép một bên cánh lại. Sang tả vu, thong thả đánh ba hồi bốn tiếng trống. Tiếng âm ư vọng trên lũy tre các đầu xóm, nhắc nhở cho ai cũng biết hôm ấy mùng một.
Làng xưa nay không lệ có mõ - vì hèm ông thành hoàng là quan hầu. Việc xóc vọng quanh năm chỉ cắt lượt từng nhà trong hàng giáp. Nhà đăng cai đội ra mâm xôi. Con gà trống luộc, nằm khoanh giữa mâm, mỏ ngậm cái hoa đơn đỏ. Ganh nhau, nhà này lo xôi gà khéo hơn to hơn nhà kia, giáp Mỗ hơn giáp Ất...
Nhưng tuần mùng một hôm nay không phải chỉ có các cụ ra lễ rồi lấy phần như mọi khi. Ông lý trưởng nghe người nhà về báo không biết làm gì mà thấy trương phiên, khán thủ, trai tuần cũng kéo ra đình, đi cùng với thằng Nghĩa con nuôi nhà bà Xuất. Đã đành cái thằng Nghĩa này ghê gớm lắm, người ta đồn nó đã xuống Đồn Thủy giết Tây, cả nhà nó táo tợn đã ra Cầu Giấy đánh trận giết quan Năm vừa rồi. Ai cũng xì xào thằng Nghĩa làm giặc nổi tướng đến nơi. Nhưng mà nó là cái đứa con cái nhà tha phương cầu thực bao nhiêu đời bây giờ về ngụ cư, nó đã công lênh gì đâu cho làng mà dám hống hách ra phá đình làng người ta hay sao.
Cửa đình đã mở, cả cụ già lụ khụ chống gậy mò ra. Các cụ ngồi chiếu trên hai gian đại bái. Ngoài thềm, một bọn đứng lố nhố. Có cả bác khán thủ đeo cái ốc tù và lủng lẳng bên sườn. Một bọn trai tuần mỗi đứa lăm lăm cầm tay thước. Lại một lũ trai trẻ chẳng phận sự gì cũng nhâng nháo kéo vào đình. Hai bố con lão Vạn mọi khi nằm ngoài hiên tả vu - gặp tuần xóc vọng đã dậy lẩn đi từ sớm, bấy giờ, bố con lão Vạn đứng tựa ngoài cột cái. “Quân này cứ nồng nỗng đóng khố một, lại cái giỏ bắt cua bắt rắn đeo mông đít. Còn ra thể thống đâu nữa. Cái đình hay cái chợ thế này!”.
Ông lý trưởng quắc mắt bước tới, đã thấy Nghĩa vào phía trong, có cả bà Xuất. Quá lắm, bà lão này từ năm ông ấy chết trận, cứ như người nổi đồng, lúc nào cũng đóng quần áo đàn ông. Mà đàn bà con gái dám vào chỗ đình trung thế này thì loạn đến nơi thật.
Ông lý đã vào tới gian giữa. Mọi khi, chỉ thấy ông lý các cụ ngồi đứng đã dẹp ra, chào hỏi. Bây giờ toàn trai lạ, chúng nó cứ giương mắt ra. Vài người gần đấy lấm lét nhìn ông lý. Còn tất cả ngoảnh về Nghĩa. Lúc ấy Nghĩa đương nói, giọng Nghĩa thanh thảnh:
- Chúng tôi vì biết việc thế nên phải ra trình làng. Trên có các cụ, chúng tôi xin...
Ông lý quát:
- Cái gì thế này...
Bác trương phiên kéo cái tù và cầm lên tay rồi đến trước mặt ông lý.
- Bẩm cụ, có thằng Nghĩa nhà bà Xuất ra trình làng Tây ở trong thành lại sắp đánh ra. Nó bảo làng ta phải liệu thế nào, phải trình quan phủ...
Ông lý quát:
- Ai cho nói thế? Tao là quan phủ, quan huyện ở làng này đây.
Nghĩa rướn đôi mày rậm, khí thế hẳn lên:
- Bẩm ông lý, bây giờ làng trên chạ dưới làng nào cũng lại sắp ra đánh Tây, trai tráng chúng tôi xin hỏi ông lý thế thì làng ta theo Tây hay làng ta đánh Tây?
Ông lý trưởng nghe câu nói dữ dội, buông hai tay chống nạnh xuống.
Một chốc mới hầm hừ nói:
- Việc giặc dã đã có các quan trên lo.
Nghĩa quắc mắt rồi cười nhạt, nói trống không:
- Bây giờ loạn rồi, không quan nào còn dám ra cổng thành bén mảng đến làng ta đâu. Việc làng ta ta phải lo lấy thôi.
Câu nói xấc xược quá. Nhưng lão lý trưởng cũng đương nghĩ thầm thế. Chánh tổng ở nhà chánh tổng, quan tri phủ ngồi ở phủ, trời đất mưa to gió lớn thế này quan nào cũng chẳng dám đi đâu. Trong mỗi vùng có những làng tiếng dữ, hoặc sùng bụng, hoặc ở đồng chiêm hóc hiểm, độc có một đường nước ra vào, thời thường quan trên cũng ít dám lui tới. Đã bao năm, từ khoa lý trưởng trước, làng Nha cũng chẳng thấy mặt quan phủ. Đổi mấy quan phủ cũng chưa có quan nào lai vãng đến. Quan cũng giữ thân quân. Bây giờ thời loạn quan cũng phải có hai tai thính, nghe đằng này, nghe đằng kia, nếu không, chết chẳng chạy kịp. Tiếng đồn còn dăng dăng cả tám xã vùng trên, lý trưởng, chánh tổng mất đầu hết, hội nghĩa người ta đem tế cờ... Từ năm Tây sang, làng này nổi lên nhà Xuất Vấn. Mọi việc phủ huyện đều bỏ chết cho chánh tổng phó lý. Nhưng chánh tổng cũng cấm thấy mặt đâu. Mà ông phó lý ấy thì còn ghê hơn kẻ cướp. Mới nghe Tây ra đã vác giáo lên tận Cống Vị đợi đánh. Cái ăn cái nói thời bây giờ là thời con dao, cái súng. Đấy, đấy, đám tuần phiên với thằng Nghĩa, đứa nào cũng ngược mắt lên, mã tấu sáng trắng giắt bên nách thế kia.
Ông lý đứng như người bị chôn chân, không còn bặng nhặng như lúc mới ra. Rồi lặng lẽ ngồi xuống chiếu, càng nghĩ càng run răng. Bây giờ ông lý im thin thít. Đến trong đình cũng rối lên rồi, còn nói gì nữa.
Bà lão Xuất đứng đằng kia cất tiếng:
- Tôi xin trình làng, các vãi chúng tôi đã hội ngoài chùa là năm nay cũng như năm trước, ai chạy loạn đi với con cháu hay ai có sức ở làng cũng là đỡ việc con cháu giữ làng. Nhưng mà có chạy cũng ngoài tháng tám, nhà chùa còn phải tô chuông cho xong công quả đã. Vãi tôi mạn phép các cụ trình làng có thế.
Nói xong, bà Xuất chen đám người lộn xộn, bước đến chắp hai tay vái ông lý rồi đi ra.
Nghĩa nói:
- Xin trình trên có cụ lý, trai tráng chúng tôi đã bàn rồi. Là làng ta phen này cùng với làng trên chạ dưới, quyết giữ làng. Ngày trước, các cụ đã đánh cho Tây không vào được làng, năm ngoái chúng tôi đã ra Cầu Giấy với quân hội nghĩa các làng cả tổng Dịch Vọng đánh Tây. Bây giờ vẫn thế. Chúng tôi nghĩ đường bộ từ đây lên Phùng, đường nước đến Phú Nhi, có lũy Phù Sa chặn cửa thành Sơn. Vít đường ngang Gạch Bún đã có quân tám xã cụ Chánh Võ, cụ lãnh Thầy Vồ...
Một ông ngẩn ngơ nói:
- Làng ta cũng có người ở cơ lính tỉnh. Hay là bây giờ đi gọi về.
Một nụ cười, đập cái gậy lụi vào cột đình chan chát:
- Quan tỉnh quan phủ còn lo giữ tỉnh giữ phủ chưa xong, nói đâu đến gọi lính về giữ làng.
Một người ước vu vơ - hay là anh ta nói đùa:
- Chẳng rõ ông Thống đã đem mấy thớt voi trong Ba Vì ra chưa?
Không ai đáp lời, nhưng có tiếng tặc lưỡi:
- Lính cơ của tỉnh của phủ à, những thằng lính chạy giấy ấy thì ra gì!
Mọi người cười om lên. Bởi ai cũng nhớ thỉnh thoảng, đến độ làng vào đám tháng Ba, thường có mấy chú lính cơ trong phủ Hoài về xem hội. Các chú chen ra chen vào, xúng xính bộ áo vàng khuy tết, khăn đại xanh, nón dấu chóp đồng. Nhưng các chú cứ xán đến đám gái nào đám ấy chạy tiệt. Gái làng cũng biết tỏ cậu ngũ cậu thập ở doanh, ở đội, trông mẽ thế mà móp bụng, vẫn về cõng lương nhà đi ăn mà thôi.
Một người nói to:
- Việc đánh Tây đã có anh Xuất Nghĩa đứng ra cáng đáng cho làng. Ai hấm hứ gì nào? Anh Xuất Nghĩa! Xuất Nghĩa làng Nha con ông Xuất Vấn. Chúng tôi danh xưng Xuất Nghĩa thế đấy. Thời loạn, trai làng phải ra gánh việc.
- Đứa nào xì xào đằng ấy? Anh Xuất Nghĩa không phải người làng Nha a? Cụ tổ đời trước nhà ấy không phải người làng Nha thì người ở đâu? Không phải người làng Nha mà ông Tư Ba Trại lại cho con ông ấy về quê cha đất tổ à. Bây giờ phải có người đứng mũi chịu sào, có thế mới mở mặt với làng trên chạ dưới được.
Tiếng thì thào bặt im đằng ấy.
Rồi người ta nhao nhao: Xuất Nghĩa, Xuất Nghĩa. Mừng như vừa mới gặp. Quên mất ông lý trưởng còn ngồi đấy. Cả đình xôn xao chuyện đánh Tây như chuyện việc làng. Đằng hiên, hai cái thớt côm cốp thi nhau chặt thịt gà. Làng có việc. Bố con lão Vạn cũng được làng chia cho nắm xôi.
Có người hỏi:
- Phen này thì lão Vạn chạy loạn đi đâu?
- Bố con tôi ở làng.
- Ở làng thì phải có dao có gậy mới đánh Tây được.
- Cái này của tôi bằng mấy dao gậy của các người đấy.
Lão Vạn chìa chiếc giỏ đeo bên sườn. Trông qua nan giỏ, thấy con rắn mai gầm cuộn tròn khúc vàng khúc đen nhếnh nhoáng.
- Con này à?
- Không, con này tôi đã cạo răng, cạo nọc, chốc nữa làm thịt ăn thôi. Mai tôi đi bắt trữ sẵn vài con khác. Cái giống này đồng ta thiếu gì.
Vạn con ngồi cạnh bố nghếch mặt lên hóng chuyện. Nhưng tay vẫn kỳ cạch con dao dựa đẽo đoạn tre đực vát nhọn. Chốc lại dựng lên ngắm nghía. Nhiều người cũng thế, ngồi rỗi lấy dao ra gọt ngọn côn, cái gậy bảy... Có người làm chốt thang. Nói là lúc đánh trận cần nhiều thang.
Nghĩa bước đến, chắp tay vái ông lý trưởng rồi hỏi:
- Cụ lý ở với làng hay mai kia vào thành. Có ông chánh tổng Trung vào thành theo Tây, cụ biết chưa?
Ông lý đương ngồi nhấm nháp ngụm rượu với miếng thịt gà chấm muối.
Ông giãy nảy:
- Không, không, sao... anh... Xuất rủa tôi thế. Tôi sắp đến cõi rồi, tôi vào thành làm gì?
- Cụ ở làng với anh em chúng tôi à?
Ông lý rên khừ khừ, cúi mặt thở, nói nhỏ:
- Tôi phải sang bên kia sông với cháu. Việc làng nước nhờ anh. Đến lúc yên hàn, quan trên không phụ người có công đâu.
Ông lý trưởng ấy vốn cả lo, lúc bối rối càng lo. Hai lần Tây hạ thành, ông đã phát ốm. Bây giờ Tây sắp ra, ông lại ốm. Nhưng, thế cũng còn là ông quan làng có đức vào thời buổi này. Có người theo Tây trốn vào ở trong thành ngay khi Tây rục rịch. Cứ xem bọn chó săn chim mồi này chạy ra chạy vào, có thể đoán biết Tây thế nào - như điềm con cóc kêu trời nắng trời mưa. Nhưng cũng bao nhiêu kẻ thâm độc và mưu đồ. Câu chuyện ngày trước còn kể lại để đời là cái năm quan ba Ngạc Nhe đánh Hà Nội, quan thượng Bùi [29] , quan đề Trắc [30] lúc Tây hạ thành chạy trốn ra nhà người thư lại ở Mọc, bị nó báo cai tổng Đức bắt nộp Tây. Cai tổng được thưởng năm trăm quan tiền, Tây cho làm tri huyện Thanh Trì. Ông lý trưởng làng này chẳng có cái gan ấy và dẫu sao cũng còn là người không đến nỗi.
Suốt các làng hai bên sông Cái, đêm đêm chỉ nghe tiếng tù và thổi. Làng túc trực suốt sáng ngoài điếm canh. Mấy hôm, nhộn nhạo hẳn lên. Các khung cửi lại xếp xó. Nhà nào cũng lại sắp sẵn quang gánh, tay nải. Tưởng như Tây trong thành ra ập tới nơi ngay. Các nhà chạy no đã mổ lợn. Tiếng lợn eng éc từ sáng sớm.
Cả ngày lại đi rào lại lũy. Ba tầng hào và bờ tre, không còn chỗ nào con chó chui lọt đuôi. Bùn các hào đắp lên. Trời đã se se lạnh, bố con lão Vạn vẫn đánh cái khố một, bì bõm lội dưới hào.
Lũy làng sửa xong, rào đến bờ tre xóm. Mỗi ụ tường đầu nhà được cắm thêm mấy hàng mảnh chĩnh. Trước điếm các xóm và ở những nơi nhà có sân rộng, lúc nào cũng có người đến luyện võ. Người ta đẵn tre để cả cây, làm roi tập đấu. Múa côn, đánh xiên, lăn khiên, chống giáo nhảy qua hào...
Có người nói pha:
- Chỉ thêm môn tập bắn súng có cái máy đá thì trai làng ta bằng võ sinh vào đề nhị đệ tam trường võ đấy.
Kỳ ra đình ngày rằm ấy, các cụ bàn:
- Tháng Mười mới đến việc hàng giáp, nhưng giặc giã như trước lên, biết sao mà đoán. Hay là năm nay ta nhích việc hàng giáp sớm hơn mọi năm.
Thế là các việc hàng giáp sớm lên trước một tháng. Ăn hàng giáp sớm kẻo Tây đánh lên thì mất ăn. Làng bốn xóm có sáu giáp. Lệ hàng giáp mỗi năm cắt một đinh đăng cai một giáp. Trai làng cứ mười tám tuổi được vào giáp. Có năm mổ trâu, mổ bò. Năm nay ngại đi chợ xa, giáp nào cũng ngả hai lợn.