NGÁT CHẠY VỀ ĐẾN NHA, ĐÃ CHẬP TỐI.
Ba lần cổng rấp rong, như bịt mắt lại. Nhưng Ngát là người làng. Lũy tre kín đến đâu người làng vẫn biết chỗ bí mật lách được.
Ngát đã vào giữa xóm, đứng lại ngoài cổng tán. Ngát nắm thân tre dựng cổng, tay run bần bật. Đi qua làng, không nghe một tiếng động, bỗng ghê hẳn người.
Không có ai ở nhà. Nhưng mọi thứ quen mắt nhìn thấy trong bóng tối, đã đoán được quang cảnh nhà. Không có xống áo trẻ con trong dây vách. Thím hai với con dâu và các cháu chắc đã chạy loạn sang Bắc Bỏi. Vại hứng nước mưa dưới gốc cau đầy nước. Ngát uống một ngụm nước. Bếp tro vẫn ấm có lửa rấm. Vách nhà trên, chỗ cắm những thùng lùng, quắm, mã tấu, không thấy cái nào. Chắc cả nhà đã ra Cầu Giấy. Nghĩ thế mà nhà lại không có người, Ngát đâm lo. Từ sáng sớm, đánh nhau ở Cầu Giấy to lắm. Một góc trời cháy đỏ xuộm trên những bờ tre chất ngất.
Không biết thế nào! Làng này hay cả vùng xưa nay vẫn cứ bất kể đêm hôm, nghe đâu trống ngũ liên hay tiếng tù và, thế là ai nấy sắm nắm tay thước, câu liêm đi lập tức. Cả những khi nghe Tây rập rình đánh ra, làng nào cũng đã sắp sẵn. Ngát đã nghĩ quen, đã biết những cảnh ấy. Nhưng vẫn lo.
Ngát duỗi cẳng ngồi thừ ngoài hiên. Mỗi lúc càng tối. Phía Cầu Giấy đã im tiếng súng từ lâu, nhưng lửa cháy vẫn rực lên, lại bối rối hơn. Lạ lùng, chưa bao giờ Ngát để ý nhà mình có lúc không người như thế này. Ngát ngồi co ro thu mình lại.
Bỗng một bóng người lúi húi vào. Ngát đã trông rõ dáng mẹ.
Bà Xuất đứng giữa sân, hỏi hóng một câu thật to:
- Đã đứa nào về chưa?
Ngát toan chạy ra. Nhưng ngoài cổng tán có tiếng đáp vào:
- Con đây.
Tiếng Nghĩa! Ngát nhảy chồm ngay ra. Miệng gọi: “Mẹ ơi! Mẹ ơi”, nhưng lại ôm choàng Nghĩa, khóc òa. Mẹ hỏi: “Cái Ngát đấy ư?”. Giọng mẹ vẫn êm ả như mọi khi mẹ vừa đi đâu về. Ngát nức nở bíu chặt một bên vai Nghĩa.
Bà Xuất xuống bếp thổi đống rấm, châm quang đèn xách lên, bước lật đật. Đĩa đèn soi vào đầu hè, Ngát bỏ tay níu Nghĩa. Vạt áo trước rách sã bỗng rơi theo tay xuống.
Bà Xuất kêu:
- Con ơi! Sao thế này?
- Không, không. Con đánh nhau đứt áo...
Lúc bấy giờ Ngát mới thấy ngượng và buông hẳn Nghĩa ra. Mặt Ngát nhoèn nước mắt và lấm như ai bôi bùn vào mặt. Nghĩa cũng vậy, từ đầu đến chân lầy lội những bùn, không còn ra người. Rồi Ngát nhìn lại, thấy mẹ cũng thế.
Xống áo, mặt mũi người nào cũng đen sì như vùi vào bóng tối.
Ngát bẽn lẽn nhìn Nghĩa. Nghĩa cầm tay Ngát, ngậm ngùi xót xa nỗi anh em lâu ngày mới gặp lại, Ngát mủi lòng, lại ứa nước mắt.
Nghĩa hỏi:
- Em không việc gì chứ?
Ngát nói:
- Em chạy từ Cống Cót về. Em xuống Cót tìm anh Đề Cụt cho bác Bếp, nhưng không thấy. Anh ra đánh nhau ở Cầu Giấy a?
Nghĩa chỉ “ừ” một tiếng rồi ngồi xuống như đổ người vào chân cột nhà. Con mã tấu, chẳng kịp dựng, buông xuống thềm, va vào hòn đá kê chân cột, kêu choang một tiếng. Cũng không nhặt lên nữa. Mắt đã díp lại. Buồn ngủ quá. Cả mấy chục trai làng ở Cầu Giấy kéo về đến đầu ngõ, ai cũng lẳng lặng đi tất tả.
Đêm ấy, rồi mấy người trong nhà đều lần lượt về. Hai chú ở lại ngoài Đồn Thủy cũng chạy thoát. Các chú ấy chui vào trại lính. Lúc xế trưa, có tin về nói quan năm, quan ba chết trận cả rồi, quân bên ta sắp vào tận tổ Tây, đã đánh đến Cổ Tân rồi. Ngoài phố, cháy nhà đùng đùng, tre nứa nổ như ống lệnh. Bao nhiêu người làm trong các trại ở Đồn Thủy cứ thế chui rào ra hết. Mấy người lính khố đỏ đương ốm cũng vứt cả thắt lưng điều chạy ra theo hàng phố... Tây canh trại không dám bắn. Chúng còn đương cuống cuồng tìm đò bơi ra trốn ngoài tàu đậu giữa sông.
Cả đêm, trong làng êm ả như không. Phía Cầu Giấy suốt đêm hơi lửa tàn vẫn sáng mờ. Người ở nơi trận mạc về dần, không ai trông thấy ai, mà sao cảm thấy vẻ đầm ấm làng đã có người.
Ba mẹ con bà Xuất nằm ngủ ngay đầu hè. Tay Ngát nắm tay Nghĩa. Đương thổn thức thế mà Ngát cũng đã gà mắt, ngủ lúc nào. Sự yên tâm kéo cơn ngủ của người ta đến càng mau.
Gần sáng, tiếng tù và không biết từ phía nào rúc lên. Đang mê mệt thế mà tất cả ngồi phắt ngay dậy. Nhưng xung quanh vẫn lặng ngắt. Chỉ có Ngát co quắp nằm đến sáng bạch. Cái áo rách toang. Có lẽ Ngát ngủ quên cả vạt áo rách. Nhưng lúc gà gáy mẹ đã đắp lên cho cái mền.
Nghĩa chống tay ngồi dậy, vuốt ngược tóc, búi tạm, quay nhìn Ngát. Ngát vẫn như dạo trước. Tội nghiệp con bé - hay tội nghiệp cho mình, thời loạn làm thân con gái phải giả trai giả gái lẫn lộn cả. Khuôn mặt Ngát lúc ngủ ngây ngô trẻ con - mà cũng đương tuổi còn trẻ con. Cái môi dưới phịu ra như hờn, như làm nũng. Thương hại, âu yếm, Nghĩa quấn xong tóc, thuận tay khẽ vuốt má Ngát.
Không ngờ, Ngát nắm lấy tay Nghĩa rồi mở mắt, mỉm cười tinh nghịch như từ lúc nào vẫn thức hé mắt rình. Rồi Ngát cứ nắm tay Nghĩa, lại lim dim mắt, muốn ngủ lại, bộ giả vờ thế.
Bà Xuất trông thấy. Bà lặng lẽ quay mặt phía khác.
Một lúc sau, bà Xuất đến vỗ vào lưng Ngát nói:
- Bảnh mắt rồi, dậy thôi. Xống áo bùn bẩn gớm chết thế này. Gớm, cứ như cháy nhà.
Rồi bà Xuất vào dây vắt quần áo trong buồng, tìm dải yếm, áo nâu, váy chồi thâm của Ngát mọi khi.
Cả ngày, ngoài đường vẫn vắng tanh. Hai hàng bóng tre rỗng không. Chẳng bù với suốt đêm trước, cả làng thức rồi kéo ra Cầu Giấy. Một đám trai đến đi với Nghĩa. Nghĩa đeo mã tấu trong bọn. Đến lúc ra cánh đồng quang mới biết. Cả người có tuổi cũng đổ đi, bà Xuất cũng chạy theo mọi người xem thế nào.
Sau trận Cầu Giấy có đến một dạo, mọi chuyện đồn thổi thì thào cứ vòng vèo tưởng không bao giờ dứt mà cũng không ai nghe thủng đầu đuôi từ chỗ nào.
- Mười năm mà ta chém cụt đầu hai thằng tướng. Phen này quân Tây phải co vòi. Dử thính cũng không dám nho nhoe.
- Lần này nó chết thằng quan to nhất. Nó chỉ có đến quan bảy mà đã chết đến quan năm rồi.
- Cho nó sang đến quan mười, quan trăm cũng chết đỏng tử cả thôi.
Một người hóm hỉnh nói pha:
- Bao giờ Tây cho đến thằng quan tài sang thì mới khỏi chết được.
Tất cả cười hô hố.
Mỗi hôm, lại sang chuyện khác.
- Có người ngoài Kẻ Chợ về nói các quan ta ngoài ấy lại đương bàn tán sắp ký kết bán đất cho Tây đấy.
- Thằng Tây phải bán nước nó cho mình thì có. Nó thua rồi mà.
- Chuyện cái lão điếc lác này chán thiu lên. Là vua quan bên mình sắp đem bán đất cho nó ấy.
- Giời ơi, ta được trận mà ta lại phải đớn thế a?
- Ấy mới ngược đời.
Có người cất tiếng hát:
Thằng Tây nó ở bên Tây
Bởi vua chúa Nguyễn rước thày đem sang
Cho nhà cho nước tan hoang
Cho thiếp ngậm đắng, cho chàng ăn cay
Cha đời mấy đứa theo Tây
Có người còn hồ nghi, lại gạn hỏi:
- Thế các quan ta mới cầm quân đánh nhau ở Cầu Giấy đâu cả rồi?
- Vẫn cả đấy. Thật thì thằng quân ta cắt được đầu quan năm, quan ba chứ có ông quan nào dám thò tay ra đâu.
- Cái trận Cầu Giấy phải tính công về các làng nữa chứ. Ai chẳng biết đấy.
Im lặng rồi có người gật gù: phải, phải... Có người hỏi:
- Có phải quân ông Thống lại lên Sơn Tây?
- Cả mười cơ, cả năm thớt voi, vệ Hùng Vũ, vệ Hùng Định, vệ Phấn Uy cũng rút rồi a?
- Rút rồi mà cũng chẳng dám đóng ở thành Sơn.
- Thế đóng đâu?
- Kéo nhau chui vào ngủ trong núi Ba Vì như mọi khi.
Một người chép miệng:
- Chắc vào chân núi tìm được chỗ có cỏ tốt cho voi.
- Thế còn quân ông Lưu?
Tiếng thở dài đánh thượt một cái.
- Mòng gì cái quân cướp ngày ấy. Cũng tếch lên ngược rồi.
- Chỉ còn có làng nước ta ở đây với nhau thôi à?
- Thế nào nữa!
Những câu chuyện đầu đình, cuối làng cứ quanh quẩn không bao giờ cạn được.
Mấy lâu sau, cả vùng lại êm ắng.
Rồi mọi công việc làng nước bình thường năm này qua năm khác lại như thế. Như bất cứ bao giờ đến quãng tháng năm tháng sáu, có chim tu hú về kêu, mùa vải lại chín đỏ bãi. Những chân ruộng chiêm sâu đã được gặt. Trên xứ đồng cao quanh làng còn mấy luống cà bát muộn cũng vừa hái nốt để lấy đất cày vỡ. Trưa đến nắng rát, trong mái cầu rêu ẩm dưới bóng cây muỗm cổ thụ giữa đồng, hai bác thợ cày nằm ngáy pho pho một giấc nặng nề. Những con trâu đầm trong vũng lầy hâm hấp như một miếng bùn ướt nhoáng im lặng. Chỉ nghe cái đuôi đập ruồi thỉnh thoảng đánh tét lên khỏi mặt bãi bùn. Chốc nữa, nắng xế dịu, người và trâu trở dậy, lại lặn lội cày nốt đến lúc trăng lên.
Trong các làng canh cởi, chập tối, quang đèn treo lắc lư giữa cửa sổ. Các khung cửi đã lên đèn đầu hôm. Đêm trăng sáng khắp những làng làm giấy ngoài Bưởi, dưới Cầu Giấy, Cống Cót ở những nơi tháng trước vừa có đánh nhau to. Người ra đãi bìa bột dó ngoài sông Tô Lịch. Vạc nấu dó, những tảng vôi vàng mờ đọng như gò của người Đại Từ lên nấu thuê ở ngụ cư lâu đời thành cả xóm Vạc bên bờ sông đầu làng Yên Thái. Làng xóm lại ra cửa đình ngồi chơi trăng đêm hè. Người hóng mát về vừa đi vừa cầm quạt nan gãi lưng. Người gánh nước, người đãi bìa. Chiếc đài mo cau kéo nước lạt sạt thành giếng với những câu chuyện, tiếng cười đến khuya mới theo trăng lặn vào xóm.
Thấm thoắt, đã lại sắp Tết rằm tháng bảy. Mấy tháng nay, Tây kéo quân tiếp viện ra nhiều lắm. Chúng nó ở trong thành và trong Đồn Thủy.
Cũng nghe có lần chúng nó đi tàu thủy xuống đánh Nam Định, lại bị chết thêm ông quan Năm như trận Cầu Giấy [28] . Hay còn đi đánh những đâu không biết, nhưng vùng này thế là yên yên. Bà Xuất cho sang Bỏi gọi thím hai với các cháu về ăn Tết rằm.
Những người làng dưới dạo trước ra Đồn Thủy kiếm việc, lại trở về làng giữ chân thợ cửi như mọi khi. Ngoài ấy bây giờ Tây bắt lính xây đồn, không mượn phu các nơi về nữa. Những phố xá quanh đồn đã lác đác dựng lại. Nhưng cũng chưa bằng trước. Dẫu sao thì quan quân chết trận ở Cầu Giấy, ở Nam Định nhiều như thế thằng Tây ốm nặng đã lại người ngay sao được. Một lần, hội nghĩa vùng đồng chiêm lên gọi Nghĩa đi bàn nghe tình hình vậy.
Đã lâu Đề Cụt lại đi đâu, không thấy về.
Nhưng các khung cửi trong làng đông vui dần.
Mấy tháng bỏ đấy, mà chân đòn, cuốn cửi, ván tỳ đã mốc trắng. Nghĩa phải mất mấy ngày sửa sang cả hai khung. Anh em chia nhau đi chợ, mua “khổ” và thừng đay néo, các thứ đồ nghề lặt vặt.
Lồng tơ và ống không lại bày ràn rạn khắp nhà ngang. Những con tơ Phùng vàng óng quay ra được nhiều sợi mành, mốt, chẳng có một đoạn sẩn. Đến hôm đủ tơ mắc cửi, cả nhà thật bận rộn. Một gian tơ vàng rộm, người mắc cửi đi tới tấp, nhịp nhàng. Rồi những khung hồ được lắp lên. Bà Xuất, thím hai, các cháu lo quấy hồ, làm hồ.
Cuốn cửi đầu tiên được mắc vào khung có chiếc vỏ khổ mới, giấy tiếp vàng chóe. Cửa nhà bỗng vui như buổi dệt cửi mở hàng ngày đầu năm. Khung của Nghĩa vừa đầy cuốn cửi, Ngát tranh vào gỡ.
- Em gỡ cửi mở hàng cho thì anh may tay cả đời.
Không ai có thể tưởng đấy là cô Ngát dạo trước đã mặc giả trai ra ở Đồn Thủy.
Đêm ấy, Nghĩa lên đèn cuốn cửi đầu hôm. Cũng gọi là dệt đầu hôm cho được ngày. Lâu lắm, trong nhà mới sáng sủa, có cửi dệt tối. Ánh quang đèn dầu thấp thoáng ngoài cửa liếp. Đầy cuốn cửi, Nghĩa gõ văng, gọi. Ngát ra khung cửi.
Ngát hỏi:
- Em tưởng anh dệt cuốn nữa, nửa đêm hãy nghỉ.
Nói trêu được Nghĩa, Ngát cười khúc khích.
Phiên chợ ấy, mẹ con đi chợ - một ngày chợ tơ bình thường. Cũng bình thường chứ sao. Nhưng cả ba mẹ con cùng đi xem chợ. Các bà các chị trong làng còng lưng vác đãy cồng kềnh những tấm lĩnh mộc trơn.
Đình Hàng Đào, Hàng Gai nghịt người các nơi đổ đến. Phường buôn trong Nam, lái Quảng Nam, Quảng Ngãi được gió nồm cũng đi mành ra cất lĩnh Bưởi, đem về chuội nhuộm bóng, đưa vào bán tận Gia Định. Tơ Yên, tơ Phùng bày vàng rực mấy gian đại bái cửa đình. Cả phường tơ mái Quan Nhân dưới Nam cũng thấy lác đác có lái đeo đãy đến. The La, lượt Bùng, lính Bưởi, đông đủ. Bỏ mất mấy tháng chạy loạn, chợ tơ bây giờ lại tấp nập. Người mua bán, hàng quà bánh la liệt khắp mặt đường, trước các hàng cơm chứa trọ, các lò thợ ruộm.
Nghĩa đeo đãy đi trước, bà Xuất và Ngát đi không, theo sau. Mẹ con men hồ Tây thong dong. Tưởng như không còn ai nhớ chỉ ba tháng trước, trên thành cửa Bắc, ta với nó đánh nhau, cụ Hoàng cưỡi voi vào trận... Và cũng trên đường này, Ngát với Nghĩa đã lúc đi lúc về, ra Đồn Thủy cũng việc quốc sự mấy lần... Những chuyện nhớ mà không muốn nhớ.
Cũng chẳng việc gì khiến cả ba mẹ con phải kéo đi chợ. Nhưng Nghĩa và Ngát muốn đi xem chợ Tết.
Bán hàng xong, mẹ con sang Hàng Bè. Chợ Hàng Bè đông hơn vào đám. Quanh gốc những cây bàng cổ thụ mát rợi buộc hàng đàn bò tơ từ bên Bắc dắt sang. Suốt dãy hàng lợn, tiếng eng éc đinh tai. Sắp rằm tháng bảy, Tết ăn ốc trông trăng có khác, các xóm sinh sống nghề sông nước ven sông Cái đã đưa lên cả thuyền thúng ốc nhồi.
Mới yên một cái mà đã vui thế.
Trở về, Nghĩa đeo đãy tơ. Bà Xuất cân được hai mái tơ Yên. Trong tay nải, bọc lá chuối mấy mớ bánh cuốn Thanh Trì, mớ đậu kẻ Mơ và những buộc bánh mật hàng chục chiếc - gọi là quà Kẻ Chợ.
Nghĩa nói:
- Chợ Hàng Bè có rượu Vân, mẹ mua sẵn xem có khi anh Đề Cụt về nhà ta ăn Tết rằm.
Ngát ngẩn ngơ nói:
- Ờ nhỉ.
Bà Xuất rầu rầu mặt.
- Đi đâu mà không thấy người! Còn sống hay là làm sao rồi cũng nên.
Nghĩa nói:
- Anh ấy chết thế nào được. Cứ trữ xó rượu, mẹ ạ.
Nghe các con tíu tít nói, bà Xuất lại vui.
- Ờ mà nó ưa rượu sen hồ Tây hơn. Chốc nữa về qua Thụy lấy rượu cũng được.
Ba mẹ con qua cầu Đông, men sông Tô Lịch đi ra. Chiều nắng êm như không. Bóng tre vờn xanh rờn mặt nước. Đằng hồ Tây, nghe không biết phía nào, đã xôn xao tiếng gõ dồn cá sửa soạn buổi chài đêm của các nhà chài Nghi Tàm.
Các phường vào chợ búa trong Kẻ Chợ bây giờ về đã lũ lượt đi chen chân. Người Thạch Khối bán vôi. Làng Thụy, làng Võng vào bán rượu khoác vai xấp bong bóng không - rượu đã hết, đầu đòn gánh bên này quàng mấy chục xâu men Bắc trắng bệch như bánh bỏng ngô rang. Bọn ở Tây Hồ gặp phiên bán chỉ về đông nhất, các phường Đồng Xuân, Vĩnh Xuân bán than hoa để hãm thuốc, đun nước pha chè. Phường Đình Ngang, người ở Cáo, ở Quán La buổi sớm gánh trĩu vai đôi thùng dầu lạc, dầu trám, bây giờ hai quang lồng một thong dong về. Người đi đường chế giễu sao bác hàng dầu chưa thắp đèn mà mặt mũi đã đỏ phừng rồi, - chả là các bác phường dầu có thói vừa đi vừa uống rượu đưa chân.
Ở những chiếc cầu thượng gia hạ trì kín đáo mái che bắc qua sông Tô Lịch, ở làng Thụy, đến cống Đõ ra đầu chợ Bưởi, người ngồi hóng mát và kéo vó.
Buổi chiều, đông thêm các làng ngoài Kẻ Chợ về, người tất tả, người thong thả. Quán hàng cửa chợ, có nước chè tươi lúc xế nắng, khách ghé uống một bát đầu hôm. Người vào vì bát nước bát rượu hay người mượn cớ để to nhỏ chuyện quốc sự. Nào ai biết. Sáng sớm chập tối, cứ hối hả các đầu ô ra vào. Nhưng, đường quan liền bên vách, nơi quán xá lúc nào chẳng chạ đủ thứ người, hơi đâu mà nghi hoặc.
Về đến đầu xóm, trăng rằm êm ả đã vành vạnh lên đằng chân tre.
Ở nhà, đã xong cỗ rằm. Cỗ bàn thời loạn chẳng có gì, cái chính là mong nhớ có một ngày thong thả trông trăng. Lệ trông trăng rằm tháng bảy các cụ đặt ra từ bao giờ, bây giờ vẫn ước ao thế. Tuy đương buổi tao loạn, không có được êm ả như mọi khi bình thì, nhưng trẻ con cũng được nồi chè lam, lại gói bánh khoai, bánh bột lọc, bánh mật, ăn đã mấy hôm rồi.
Giữa sân, hai mẹt bánh đúc lá riềng xanh ngắt, tròn xoe như hai ông trăng mọc trên hai cái mâm chõng. Trẻ con chọn chỗ ngồi cạnh nồi ốc, cứ chen nhau chí chóe. Tương đã rót ra mấy bát riêng. Còn phải đợi bà rán xong đậu. Sợ các cháu sốt ruột, hét ăn, bà Xuất khuân ba ông đầu rau ra, bắc ang rán đậu lên trước mặt cho chúng nó nhìn thấy.
Lũ trẻ reo à à. Ngát lấy cái que tre cật xắn mẹt bánh đúc. Nghĩa giã gừng bỏ vào tương - bát tương gừng vừa đặt lên chõng. Rồi Nghĩa vào bếp bưng ra một nồi ốc bươu vừa chín. Khói thơm lá chanh bốc um. Nắm gai xam xọng giắt ở khe chõng, mỗi đứa trẻ đã nhăm nhăm cầm sẵn một cắc.
Mùa cạn đến, ốc đương béo. Ốc bươu chấm tương, ăn với bánh đúc lá riềng, rả rích cho đến lúc trăng lên tới lưng cây cau, không phải châm đèn cũng nhể được ốc, - đến lúc ấy buồn ngủ, nằm xem trăng mà ngủ ngay đấy, - rằm tháng bảy, năm nào trẻ con cũng nhớ.
Nghĩa ngồi nhìn các cháu nhăn nhó, ngoẹo mặt cầm gai khều ốc mà vẫn cãi nhau giữ phần. Nghĩa cười, phải chạy ra nhấc mỗi đứa ngồi xa ra một góc.
Bà Xuất nói:
- Có mấy đứa mà đã loạn thế. Vài chục đứa thì vỡ nhà.
Ngát bảo Nghĩa:
- Anh Nghĩa có nghe mẹ nói không?
- Mẹ bảo sao?
- Mẹ bảo nhà này rồi phải đẻ lấy vài chục trẻ con.
Chẳng ai cười, Ngát cũng cười ngặt nghẽo, hỏi lại:
- Có phải thế không, hả mẹ?
Nghĩa tủm tỉm:
- Cô này vô duyên, chưa nói đã cười!
Bà Xuất lặng im, nhìn đàn cháu. Bà Xuất yêu trẻ, lúc nào cũng muốn cho trẻ con ăn, ăn thực nhiều. Bà thích ngồi xem chúng nó ăn cơm chen chúc như lợn đàn. Rậm người hơn rậm cỏ, bà ao ước con cháu ríu tít đầy sân. Nhưng lúc ấy bà Xuất chỉ nhìn Ngát và im lặng. Mà Ngát hỏi câu ấy rồi cũng chẳng để ý nghe mẹ trả lời hay không, Ngát vẫn đương cười nhìn Nghĩa xốc nách một cháu đằng kia sắp sinh sự cãi cọ nhau. Thằng bé co chân lên, đòi chùn lại chỗ cũ rồi cứ kêu réo, không ra khóc, không ra hét. Cả nhà cười ồn sân.
Bỗng tiếng ai vang vang từ cổng tán vào.
- Vui quá nhỉ, vui quá.
Mọi người reo:
- Ơ anh Đề! Anh Đề!
Bà Xuất cằn nhằn:
- Chúng mày quên đóng cổng tán. Nhỡ một cái, có chết không.
Đề Cụt đã vào tới giữa sân sáng trăng nói to:
- Đóng rồi, tôi đóng cả ba lần cổng, tra dõi cẩn thận.
Bà Xuất chép miệng, cười:
- Để kẻ trộm đóng cửa hộ thì còn chuyện gì!
Đề Cụt bưng trên tay một bọc phủ mảnh vải đỏ. Thả xuống sân, cái bọc đứng được. Mở ra, đấy là con gà chọi. Con gà chọi cao lộc ngộc, cũng đứng yên như cái ghế.
Lũ trẻ xô đến, vứt cả gai nhể ốc, tranh nhau ôm gà.
Đề Cụt xua tay:
- Ôm một tí thôi, kẻo hỏng gà của tao. Rồi chúng mày bỏ vào lồng gà của ông cho tao, cái lồng gà vẫn bỏ không ấy, còn không.
Ngát nói:
- Để nó ngủ bếp ấm hơn.
Đề Cụt nói đùa:
- Bỏ vào nồi ấm nhất!
Rồi khoe:
- Con gà này, ban ngày ấy ạ, đến con cáo to nhất lũy tre này nó cũng mổ đánh được. Bây giờ thì anh ả quáng gà, cái giống gà nó thế, tối đến thì quáng gà:
Bà Xuất nói, vẻ sành sỏi:
- Gà mà mổ chuột, mổ cáo, thế cũng đòi chơi gà chọi!
Gà chọi khác kia.
Rồi bà Xuất nói:
- Chẳng biết có còn lồng hay trẻ con chơi gãy rồi!
Nghĩa vào sau bếp. Từ ngày ông Xuất mất, cái lồng không vẫn treo đấy. Thỉnh thoảng, đứa nào bắt được tổ sáo hay con vàng anh non, đem nhốt vào. Nhưng rồi cái lồng gà gãy thưa cả nan, thả lọt chim, chúng nó vứt đấy.
Bà Xuất bảo Đề Cụt:
- Chúng nó đã mua trữ cho mày xó rượu sen. Chưa cúng rằm mà đã lù lù về. Thiêng thế.
Đề Cụt ngồi vào giữa đám trẻ đương nhể ốc.
Bà Xuất hỏi:
- Bây giờ lại chơi gà chọi à? Người ta bảo mày đi những đâu những đâu mà lại thong thả thế a?
- Thấy anh em chơi, con cũng đua đòi một tí.
- Chúng nó cứ ngóng cứ lo. Thằng Nghĩa bảo rằng mày đã được thiên tào xóa sổ từ cái trận Ngạc Nhe, bây giờ giời đánh cũng không chết được mày.
Đề Cụt cười hà hà:
- Vâng, con là người nhà giời rồi.
Nghĩa đã mang lồng gà đến. Chiếc lồng cao, nan tròn, như lồng nuôi khướu. Ngày trước, lồng gà này đặt bên chái nhà, chỗ bóng mát giàn đậu ván. Chỉ khi đi chọi, ông Xuất mới bỏ gà vào, phủ vuông vải điều che đến lưng lồng rồi xách đi. Cái lồng bây giờ xiêu một bên, trong bóng trăng cũng trông thấy hổng mấy nan.
Bà Xuất lại hỏi:
- Thế hôm ra đánh ở Cầu Giấy mày ở chỗ nào?
- Con ở cánh quân dưới Cống Cót với hội nghĩa ông lãnh trông Thày Vồ.
- À.
Đề Cụt nói:
- Năm nay đánh nhau thật lạ, các làng ra đông thế, rầm rập suốt cả đêm. Thế mà bọn mật thám mù mắt không biết ta đã đón đánh nó ở Cầu Giấy.
- Là đón lõng hay đón được thật?
Đề Cụt bỏ gà vào lồng. Nó đứng yên như con gà gỗ, khiến lũ trẻ cười, chọc thử xem gà có động đậy.
Đề Cụt lại nói:
- Không phải hôm ấy mà từ năm bảy hôm trước, chỗ Cầu Giấy đã rộn rịch rồi. Quân ông Thống về đóng ở Yên Quyết. Đêm nào các làng cũng kéo ra như đi chợ, gậy tày mã tò, thùng lùng mã tấu. Vâng ạ, chưa bao giờ hội nghĩa các làng ra đông như năm nay.
- Sao bảo nó lừa ta lên Cống Vị?
- Mẹ hỏi chú Nghĩa thì biết nó lừa ta hay nó mắc bẫy ta.
Rồi Đề Cụt cười:
- Nó đến đồng đất người ta mà lại định lừa người ta, lừa thế nào. Chỉ tiếc trận này, ông Long ông Hổ thủ túc ông lãnh đều chết trận cả. Tiếc quá.
Một lúc sau, Đề Cụt gật gù như nói một mình:
- Con có chết bây giờ cũng sướng. Một đời được trông thấy hai thằng tướng Tây to chết thẳng cẳng.
- Cha đẻ mẹ nó, tao chưa tường mặt cái thằng Tây đâu!
Nghĩa nói chen:
- Kìa mẹ, hôm ngoài Đồn Thủy mà...
Bà Xuất cười, đã lại lấy trầu nhai bỏm bẻm từ lúc nào.
- Ừ, nhìn rồi mà vẫn quên.
Đề Cụt kể:
- Chúng nó cũng mưu lắm. Nhưng ăn thế nào được mưu ta. Nó bắn nát trại nhãn bên Cầu Giấy rồi mới sang. Cả thằng quan Năm cũng theo súng đại bác đến tận giữa làng Dịch Vọng Trung, thế là ta từ trong lũy tre đánh thúc ra. Chúng nó thổi kèn tò te thu quân không kịp. Hai bên lũy rặt bụi tre với ruộng nước. Chúng nó xông vào chặt tre, định chạy tắt trở lại Cầu Giấy. Cái giống tre nhà mình ghê thật. Thằng quan Năm thế mà cũng gan. Xe đại bác bị sa lầy. Lính bắt bánh lên chưa được, nó nhảy xuống bắt bánh với lính. Thế là nó ăn một phát đạn vào vai. Rồi đạn cứ tới tấp bắn. Ngựa bị đạn bắn rống như bò. Bấy giờ mới là lúc tợn đây. Quan Năm ngã rồi, bên ta rúc tù và xông lên.
Ngát hỏi Đề Cụt:
- Nghe nói các quan treo thưởng tám mươi lạng bạc cái đầu quan Năm phải không?
Đề Cụt cười:
- Tao cũng không biết ai được.
Rồi Đề Cụt cao hứng:
- Cái lão quan Năm này râu quai nón hệt lão Ngạc Nhe, đầu tóc đen như cái củ chuối. Đem lên bêu ở chợ Nghệ, mấy hôm sau còn mọc thêm râu ra, lấp cả mặt! Gớm thế.
Bà Xuất hỏi:
- Có phải thằng quan Năm thì có năm vạch khâu bằng vàng vào cánh tay.
Ngát tỏ vẻ hiểu biết:
- Ở Đồn Thủy có năm cái vạch khâu vào ống tay áo thôi.
Đề Cụt hỏi Ngát:
- Nó cũng đem mày đi trận à?
Ngát không nói.
Nhưng Đề Cụt đã cười ha ha, chẳng hiểu cười gì.
Bà Xuất lại hỏi:
- Sao hôm ấy đánh nhau xong mày không về đây? Tao sốt ruột quá.
- Con đã được tin cả nhà ta bình yên rồi con mới không về. Dạo này con phải đi nhiều.
- Nghe đã yên hàn mà.
- Rối như canh hẹ, yên thế nào!
Đề Cụt im lặng, rồi nói:
- Con lại sắp về mở hàng cơm chỗ Ba Cây Đề.
- Thế à?
- Chuyến này con hẹn một ông khách về nhà chơi chọi gà, nhân thể, có việc bàn với chú Nghĩa. Con còn đợi.
Bà Xuất hỏi:
- Khách về sớm hay muộn?
- Cũng quãng lững thững trưa mai.
- Bảo chúng nó chạy đi chợ cho kịp.
- Con đã lấy thịt chó ngoài kia rồi.
- Lại thịt chó! Cái thịt “con giời”, thằng Nghĩa nó không ăn đâu.
Đề Cụt cười:
- Chú ấy có số thờ, con biết rồi.
Trăng đã lên ngang thân cây cau, tỏa sáng khắp sân. Bà Xuất vào trong nhà.
Lũ trẻ con, cả Ngát nữa, cũng đi ngủ từ lúc nào. Ngoài sân, lại chỉ còn Đề Cụt với Nghĩa ngồi dưới bóng trăng, càng khuya trăng càng trong leo lẻo.
Nghĩa vẫn cắm cúi vót mảnh tre để cài lại mấy nan lồng gãy. Từ lúc bà Xuất vào nhà, Đề Cụt lầm lì không nói. Chỉ có Nghĩa nhớ lại đêm năm trước trên hồ Tây, cũng sáng trăng như ban ngày thế này. Vẫn thế, đêm trăng lồng lộng tháng bảy. Nhưng hình như trăng bây giờ sáng hơn mọi năm. Bởi mấy tháng trước tưởng không còn được ngồi đây, thế rồi bình yên trở lại, ánh trăng bỗng nhiên như sáng hơn.
Đề Cụt thở dài, nhìn Nghĩa:
- Chú Nghĩa ạ, cứ trông thấy chú thì tao lại nghĩ.
Nghĩa không ngạc nhiên vì đã hiểu cái nghĩ của Đề Cụt và nói như gạt đi:
- Giặc giã bề bộn thế này, nghĩ làm gì!
- Mày có ở cảnh tao mày mới thấu được. Thôi thôi, mà chú nói phải. Nhiều việc phải đến tay chú mới xong, để mai chúng ta bàn.
Nghĩa mủi lòng thương Đề Cụt. Nghĩa liếc nhìn nét mặt đăm đăm của Đề Cụt rồi Nghĩa cúi xuống, thở dài.
Đề Cụt lại im, lúi húi sửa nan lồng với Nghĩa. Nghĩa vót lại, cắm thử rồi chèn bốn chiếc nan gãy bằng những mảnh tre cật. Đề Cụt bắt con gà chọi bỏ vào lồng. Nghĩa đem vào treo lên cột đầu mái tranh.
Lúc Nghĩa trở ra, đi trong ánh trăng, dưới bóng những tầu cau rào rào gió nam, mát rợi.
Nghĩa biết Đề Cụt lại đứng nhìn mình, Nghĩa quay mặt đi - mặc dầu Nghĩa biết Đề Cụt nhìn “chú Nghĩa” một cách tự nhiên, thân thiết mà đau buồn. Đề Cụt nhớ cái Gái. Nghĩa lại thở dài, lây cái nhìn buồn thảm của Đề Cụt. Đến lúc Nghĩa ra tới trước mặt Đề Cụt, vẫn thấy ánh mắt người con trai rầu rầu nhìn mình như thế, Nghĩa bồi hồi. Nghĩa hiểu cái nhìn ấy.
Đề Cụt gượng cười, rồi nói:
- Lúc cái Gái còn sống, nó phải lòng mày, mê mày như điếu đổ. Tao biết.
Nghĩa cúi mặt, tự dưng hai bàn tay ngượng nghịu, mân mê xếp lại cái vạt áo ngắn.
- Tao vẫn định bao giờ yên vui, chúng mày mà thành vợ thành chồng thì tao về ở cùng. Tao ở với chúng mày, về già anh em nương tựa nhau.
Nghĩa thẫn thờ nhìn ra ánh trăng đọng trên mặt vại nước thành một khoảng tròn vành bằng cái khâu nón, có từng chấm lấp lánh như nước mắt. Nghĩa nghĩ nếu bây giờ anh ấy biết mình là con gái thì thế nào. Không dưng, Nghĩa nhớ những đêm dệt đầu hôm, bước ra khung cửi, dây hoa lý ngoài giàn đậu ván vừa dậy mùi khuya.
Đề Cụt lấy chổi phảy rồi xếp hai cái mâm chõng nối vào nhau.
- Anh nằm ngoài sân à?
- Nằm sáng giăng cho mát.
- Chốc nữa khuya có sương lạnh, anh ạ.
Đề Cụt ngồi bó gối, nghiêng mặt nhìn trăng, rồi lại thở dài thượt một cái.
- Lúc nào sương xuống hãy hay. Nhưng mà quái, cái đêm nằm với mày ở hồ Tây chẳng lạnh lẽo gì cả.