LẠI ĐÃ SANG THÁNG NĂM.
Nước sông Cái có lũ sớm về đỏ mênh mang lên ngang trước mặt. Trên đường cái gay gắt nắng quanh Đồn Thủy, người nhón chân lật bật qua nhanh quãng đá dăm sắc lởm nhởm. Những cây me tây năm nay đã lớn vổng, mùa này trên làn lá xanh lăn tăn chi chít, ngù hoa như đơm lên những mâm xôi gấc đỏ ngùn ngụt đến chói mắt. Tiếng ve sầu râm ran hàng đàn trong cành cây, suốt ngày đêm đinh tai, bức bối kinh người.
Trong những dãy trại lính nhà hai tầng, cả lũ lính Tây cởi trần, đứng lố nhố sau những cửa sổ đóng chấn song như ở cũi. Lông lá, râu ria vằn vện gớm chết. Người nào cũng há mồm thở ành ạch, trông ra cái nắng quáng lòa. Cả đến những thành ghế, những thanh gỗ chắn cửa cũng nhờn nhễ nhại mồ hôi.
Một tòa nhà đứng giữa, tầng dưới liền mấy buồng, đấy là nơi ở và làm việc của các quan hầu quan Năm. Bọn lính gọi là các ông Một, ông Hai. Có người bảo bọn ấy chỉ là ách, là quản họ bắt gọi tôn lên cho oai - chứ chẳng biết thực là quan mấy.
Ngát được đưa vào làm đấy. Những mới lạ kỳ quái, cứ mỗi lúc một lạ lùng sao. Ngát thấy bác Bếp quen với quan Một. Quan Một bắt tay, vỗ vai, xì xồ.
Bác Bếp bảo Ngát, giọng thật ngọt:
- Cháu ở đây làm với ông quan Một này.
Bác Bếp cũng chẳng biết Ngát là con gái nên mới bảo Ngát ở với thằng Tây này. Ngát thì sợ, nhưng không dám hỏi.
Vừa gọi quan xong, bác Bếp lại gọi ngay nó đây.
- Nó như thằng câm ấy thôi. Nó trỏ tay ra hiệu thì cháu cứ tinh ý đoán làm ngay. Cái giống Tây chúng nó thích cái gì cũng nhanh.
Chừng đoán biết Ngát ngại, bác Bếp nói như khuyến khích:
- Nhìn nó tợn tạo thế mà nó đần độn lắm. Đừng lo, tao nấu ăn cho nó, ngày nào tao cũng sang đây. Chịu khó, cháu ạ.
Quan Một bước tới véo tai Ngát một cái, ngay trước mặt bác Bếp. Bác Bếp cười, nói: thế là nó bằng lòng cháu đấy. Chẳng hiểu ra sao, Ngát ngoẹo đầu. Nó lại nghênh râu lên cười.
Công việc của Ngát ấy a? Ngát không biết những việc như thế bao giờ. Nhưng Ngát cũng làm được ngay. Ngát theo lời bác Bếp dặn.
Ngày đêm, Ngát ngồi kéo quạt. Cái quạt bằng tấm vải tây vàng xếp nếp lại, dài như cánh phản, ngang rộng hơn sải tay. Cánh quạt ấy được hai cái móc mắc lên trần nhà. Con lăn cọ vào viên sắt ổ bi, chiếc trừng tròng qua đầu, thòng lòng ra ngoài cửa sổ. Ngồi vắt vẻo trên chiếc ghế đẩu ngoài ấy, hai tay Ngát cầm thừng kéo quạt. Thừng và ổ bi nghiến vào nhau ken két cun cút lôi chiếc cánh quạt phảy gió thoảng từng làn xuống gian phòng. Quan Một, quan Hai ngồi bàn giấy trong ấy. Những lúc các quan đi đâu vắng, Ngát cũng cứ phải kéo quạt đều đều, không được nghỉ.
Hai cánh tay mỏi muốn rã ra. Buổi tối, vẫn kéo nữa. Có chừng đến phải kéo quạt qua suốt mùa hè. Ngát nghĩ ra cách buộc thừng vào chân, giẫm lên, giựt. Đủ cách mà vẫn mỏi. Có lúc buồn ngủ quá, tay vẫn nắm thừng, mắt đờ ra, không kéo nổi. Hai quan Tây cởi trần, nhếnh nhoáng mồ côi, chạy ra xách hai tai Ngát lên. Cái quạt lại uể oải ken két... Mấy hôm sau, người ta đưa đâu về thêm được một thằng bé, thế là có hai đứa “bé con” thay nhau đêm ngày kéo cái quạt.
Tối rồi mà vẫn oi vật vã, nặng nề. Ngát đã kéo đỡ thằng bé từ chập tối. Ngát hỏi chuyện biết nó người bên phủ Khoái. Phải năm lụt, bố mẹ chết trôi sông cả. Chẳng biết có phải bác Bếp đem nó vào làm, cũng vì việc quốc sự như mình, Ngát không dám hỏi. Ngát thương nó đã mười lăm tuổi mà còi cọc, chỉ trạc đứa lên mười. Quan Một hay đánh nó - có lúc nó bị đá ngã giúi xuống. Ngát mắm môi bảo: từ giờ tao với mày gọi nó là thằng Một Ác, nghe chưa!
Nửa đêm, trời sấm sét rồi đổ mưa rào. Ngoài hiên mưa hắt, nhưng thế lại mát nhẹ người. Trong nhà, những người Tây uống rượu há miệng thở khao khao như con cá ngáp. Quạt kéo ở các buồng suốt một dọc liền nhau liên miên rền rĩ. Thằng bé ngoẹo cổ, nhắm mắt kéo. Ở xó tường gần đấy, Ngát nằm ngủ trong tiếng mưa xối xả. Chiêm bao thấy đương xắn váy lội dưới trời nước trắng xóa, đuổi đàn ngỗng chạy kêu cạp cạp.
Đôi khi quan Một chán quạt kéo. Có lẽ nhức nhối vì cái ổ bi kêu kẽo cọt như con mọt nghiến trong đầu. Quan Một vẫy tay gọi Ngát, trỏ chiếc quạt vả lông ngỗng dựng góc buồng. Ngát cầm quạt phẩy. Ngát bỗng nghĩ tủi thân. Ngơ ngác, Ngát lại không biết mình ở đây làm gì, đi quạt hầu thế này a?
Bác Bếp đội mũ vải trắng, áo khách trắng, bước vào hành lang.
Bác Bếp trông thấy mắt Ngát đỏ hoe, bác nghiêm trang nói:
- Khóc thế, Tây nó cười cho. Cháu chịu khó, rồi có lúc có việc đến.
Nghe vậy, Ngát nguôi cơn thổn thức. Nhưng lắm khi chán mà không dám phàn nàn với thằng bé kia. Chỉ lúc nào bác Bếp đến hỏi mới nói. Việc bí mật, Tây mà biết chắc nó giết chết. Ngát đã trông thấy hai người, chẳng biết lính hay người nhà bàn, nhà bếp, bị trói hai tay hai chân khiêng qua đây. Chắc chúng nó đem bỏ người ta xuống sông.
Một lần, Ngát ra cổng trại, qua chỗ cây đa hàng anh Đề Cụt năm trước.
Cây đa đã cao cao trên khoảng đất trống. Chị Gái bị nó đâm chết ở đấy. Chỗ ấy, anh Nghĩa bóp cổ hai lần chết hai thằng Tây. Mắt Ngát đã được rõ mối thù ngay trước mặt. Nhà ta có thù với thằng Tây. Công việc Ngát ra đây làm cũng là để lo cái thù ấy. Việc gì cũng kham, trá hình làm tôi tớ mà rình mò - anh Nghĩa căn dặn đấy như việc nhà, anh em ta phải làm cho được.
Nghĩ thế, yên tâm hơn. Ngày lại ngày, bây giờ không còn đến nỗi lẫn mặt, đã thuộc quan hai tên là Giăc Canh, quan một là Gà Vô [24] và tên cả những đứa hay ra vào bàn giấy. Nhưng lắm lúc Ngát nhớ nhà đến ngẩn ngơ cả người. Hai mắt lim dim. Kéo cái thừng quạt lên xuống hờ hững. Nhớ đêm mưa rào chiêm bao thấy con ngỗng kêu cạp cạp ở sân nhà mình.
Thằng bé kéo quạt uể oải. Nó đen như củ súng, lại hay phải đòn. Dường như mặt mũi Ngát còn đôi chút nhẹ nhõm, trận đòn cũng được nhẹ tay hơn. Quan Một đi ra, vừa đi vừa thở ành ạch, giơ cái tay lông lá hộ pháp xách quặn tai Ngát lên. Ngát tức đỏ chín mặt.
Nhưng Ngát nhớ lại: không phải đến đây chỉ kéo quạt trần, đến đây còn có việc.
Có lần bác Bếp bảo:
- Cháu để ý xem ở cái nhà việc bên kia có người nào hỏi chuyện cháu thì cháu bảo bác.
- Hỏi chuyện thế nào ạ?
- Chuyện gì cũng được. Hỏi cháu hay hỏi thằng bé con cũng được. Nhớ nói lại ngay cho bác.
Bác Bếp nhìn sang nhà bên rồi nói:
- Những người lính này ở xa lắm. Người ta nhớ nhà, đương muốn tìm đường về.
Ngát đoán việc quan trọng.
Nhà việc ở bên trái, cách một khoảng sân. Ngày ngày, Ngát ngồi víu tay vào cái dây kéo quạt nhìn rõ mồn một.
Ở trong nhà giấy có nhiều người vào ra luôn. Nhà việc bên ấy giống nhà Tây ở, suốt ngày có người đến. Cả nhà bồi, nhà bàn áo khách trắng, cổ đứng chốc chốc lại tới. Có khi bác Bếp cùng anh bếp người Tây mặt đỏ bóng mỡ, đội mũ vải trắng méo như cái bong bóng lợn trên đầu, vai vắt chiếc khăn mặt trắng, cũng hấp tấp vào đấy. Cuối ngày, bọn cai coi phu làm ngoài bãi kéo đến tấp nập, ai cũng xách một bọc, lại đeo ra cái túi đựng hàng chục quan tiền. Nhà việc đấy cũng là nhà giấy, nơi phát lương, phát tiền ai cũng phải đến. Nghe nói vậy, chẳng biết thế nào.
Những ông thông ngôn ký lục ngày hai buổi đúng giờ đến nhà giấy. Quan Tây có các thày thông thày ký cũng đi, nói líu lo. Thầy thông ngôn thầy ký thường mặc giống nhau. Ai cũng ngăm đen, mặt ngựa dài ngoẵng. Các thày áo dài xuyến đen, giày Gia Định hàm ếch, mắt đeo kính râm. Tiếng nói vùng nào, giọng nặng khó nghe. Nắng cũng như mưa, khoác tay chiếc ô lục soạn cán sừng nạm bạc. Đôi khi, cũng thày ấy nhưng diện đôi giày Tây gan gà, áo quần trắng lốp, cổ đeo dây cà-ra-oách vằn sặc sỡ.
Người ra vào nhà việc tấp nập nhất Trường Tây. Nhưng hễ tan tầm chiều, rồi trời tối, các trại lính cửa sổ ánh đèn đã hắt lên đỏ nhòe, thì nhà việc khóa im ỉm, vắng trơn không còn người.
Hàng hiên dài hun hút, chỉ có một tốp lính tập đến gác đêm. Ngát đã thuộc các thứ lính canh, lính gác, lính ma tà, lính đạo, lính tập và lính Cờ Vàng của Tây buôn Đu Bi.
Đêm nào có lính tập đến gác, Ngát biết ngay. Những người lính tập ấy quê ở đâu xa, nghe nói Tây đem tận Lục Tỉnh ra đây, người nào cũng loắt choắt thấp bé, đen như tam thất, mặt ủ ê, chỉ trông thấy cũng muốn lây cái buồn thiu.
Lúc chưa nghe kèn thổi giục đi ngủ, các chú lính tập hay hát. Tiếng trọ trẹ nặng trịch vừa nghe vừa đoán.
Rồng chầu xứ Huế
Ngựa tế Đồng Nai
Tiếng hát cất lên, khắc khoải, rầu rĩ, như khóc.
Một câu hỏi vọng sang chỗ hai cậu bé kéo quạt:
- Nghe dui không, tụi bây?
Ngát chẳng rõ chú lính nói gì. Nhưng Ngát chợt nhớ. Thế có phải là người bên ấy hỏi chuyện mình như bác Bếp dặn. Ngát đã kể lại cho bác Bếp như thế. Bác nghe rồi gật đầu.
Một hôm, bác Bếp bảo Ngát việc khác.
- Tối mai, có người nào đến hỏi cháu có phải “bé con” kéo quạt không, cháu vâng rồi người ấy lại hỏi cháu: mấy hôm nay cháu có thấy ông Nhiêu không. Người hỏi đúng câu ấy là người có họ với bác. Nếu không đúng câu ấy, là người của Tây, nó hỏi gì cũng bảo không biết. Hỏi đúng câu ông Nhiêu rồi thì cháu trả lời: cháu mới gặp ông Nhiêu hôm qua. Người ấy lại hỏi: Ông Nhiêu dặn gì thế? Cháu trả lời: Ông Nhiêu bảo ngày mười sáu tháng này, sang trống canh tư, ông Nhiêu về xóm đồng bắt con trâu đứt mũi. Cháu nói thử những câu bác dặn xem đã thuộc chưa?
Hôm sau, chập tối, Ngát đương đói, uể oải kéo quạt. Phải kéo quạt tàn bữa tiệc của quan Một, quan Hai mới được đi ăn. Bấy giờ, lão quan một Gà Vô đi đâu không biết. Nhưng quan không bảo nghỉ tay, dầu phòng bỏ trống, cũng cứ phải ngồi giựt thừng quạt.
Ngoài sân, bóng một người đi vào. Thoạt trông nhận ra đấy là người lính đạo. Người lính đạo áo thâm, chân xà cạp đen - lính đạo ác có tiếng. Bọn lính đạo ở đây chỉ quanh quẩn chơi với nhau. Cả cơ khố đỏ, lính tập, các nhà bồi, nhà bếp, nhà bàn không ai đụng tới lính đạo bên Nhà Chung sang:
Người lính đạo ấy còn trẻ, mà mặt cau có khắc khổ, như người trong lầy lội đồng chiêm lên. Nhìn vào phòng, không thấy ai, người ấy thình lình hỏi Ngát:
- Chú có phải “bé con” kéo quạt không?
Câu hỏi đúng như bác Bếp bảo. Ngát hồi hộp đáp:
- Vâng ạ.
Người ấy lại hỏi:
- Mấy hôm nay cháu có thấy ông Nhiêu không?
Ngát nhìn lại người lính đạo, Ngát ngờ ngợ chưa tin là người lính ác mà lại có họ với bác Bếp. Nhưng những câu hỏi thật đúng như bác dặn. Không dám nghi ngờ, e hỏng việc bác Bếp, Ngát trả lời bình tĩnh:
- Cháu vừa gặp hôm qua.
- Ông Nhiêu dặn gì thế?
- Ông Nhiêu bảo mười sáu tháng này, sang trống canh tư, ông Nhiêu về xóm đồng bắt con trâu đứt mũi.
Ngát đã nói xong câu sau cùng bác Bếp dặn, Ngát vẫn trờn trợn. Người lính đạo ấy thế nào. Người ấy là anh em ta, là người họ nhà bác Bếp hay là mật thám. Lính đạo độc ác, không ai dám chơi với kia mà. Thế thì cũng có lính đạo hội nghĩa hay sao. Ngát không hiểu. Nhưng bác Bếp đã bảo như thế, Ngát làm thế. Chắc có nhiều việc quan trọng. Ngát thong thả kéo quạt, quên cả bụng cồn cào đói.
Người lính đạo đã lững thững trở ra.
Một đêm kia, tất cả các trại trong khu Đồn Thủy đèn sáng trưng. Dưới sông Cái, đoàn tàu và nhiều thuyền đậu xúm quanh đương áp mạn vào bờ cũng treo những dây đèn quanh thành tàu - xa trông như sao hội đèn cù.
Đám lính đi qua thì thầm.
- Đi đâu?
- Có khi xuôi Nam Định.
- Hay là lên Sơn đánh nhau với ông Thống [25] .
- Không phải, ra phủ Hoài đấy. Đôi bên đã gởi lời thách trước rồi mà.
Không biết, nhưng các trại binh đã đột ngột phải sửa soạn. Đêm hôm sau nữa, lại rậm rịch thế, mà chưa thấy đi.
Rồi đêm thứ ba. Những con la con lừa cao lớn, tai to như chiếc lá đại, kéo cỗ đại bác phủ bạt kín chỉ thò nòng ra, rầm rập kéo đi lúc gà gáy canh một. Từ lúc ấy, huyên náo hẳn lên. Một toán lính Ả rập sắp hàng áo trắng cháo lòng, quần lòe xòe. Lính khố đỏ nhìn ra, nói: kia kìa Tây đen mặc váy cũng ra rồi. Lần lượt, các cơ các đội khố đỏ trang nghiêm thắt lưng điều cẩn thận, đứng hàng đôi hàng tư dọc đường đá từ bờ sông Cái xuống hồ Gươm. Lại lính tập, lính đạo đi nữa. Tiếng chân đất bước rào rào, xa nghe như tiếng gió cuốn cát. Chốc chốc, rạo rạo tiếng giày lính Tây, tiếng bánh sắt lăn cút kít. Một con ngựa phi lên, móng gõ lốp cốp như tiếng mõ. Bọn quan lính các tàu, các thuyền dưới sông đã lăn hết bờ từ lúc còn tối đất.
Cỗ xe hai ngựa từ nhà để xe ở Trường Thi chạy xuống đỗ trước thềm nhà giấy quan một Gà Vô. Bốn phía nhộn nhạo, lục sục khác thường, nhưng quạt các buồng vẫn kéo đều cả đêm như mọi khi.
Từ gà gáy, đến lượt thằng bé kéo quạt, Ngát vào ngủ ngồi trong xó tường. Bên ngoài, các trại vận chuyển rầm rầm mà Ngát không biết. Muỗi như trấu rắc vào mặt, cũng không đánh thức được con người tuổi ăn tuổi ngủ cả ngày đã ngồi kéo quạt đến lử lả.
Lúc ấy, thằng bé vào lay Ngát:
- Trỗi, trỗi! Quan gọi.
Ngát bàng hoàng ngồi dựng lên. Chỉ như ngủ mê nghe tiếng “quan gọi”, đã hốt. Búi vội tóc, Ngát lật đật chạy ra.
Quan một Gà Vô còn đấy. Quan hai Giắc Canh đã ra trước. Quan vừa vào đóng cửa trại trong ra. Lính đi trận hết. Chỉ bọn Cờ Vàng phải nhốt lại. Tây buôn Đu Bi đã bán lính Cờ Vàng cho Đồn Thủy. Nhưng lũ giặc khách này vốn giết người cướp của đến Tây cũng phải không bằng lòng. Chỉ mới nghe nói sắp phải đi trận ra Cầu Giấy, tướng Cờ Vàng đã đi bắt về hơn một trăm người đàn bà, nhốt vào trại, cho mặc áo dấu, đội nón giả làm lính. Chúng nó sắp sẵn cho theo để vào phá đâu, có người khuân của ra ngay. Nhưng có đứa mách quan Tây. Tây sợ chưa đánh nhau đã loạn. Thế là bọn Cờ Vàng bị cấm trại. Tướng nó là Hoàng Sùng Anh phải xích chân. Chỉ được đi quanh một chỗ rồi lại nằm xuống hút thuốc phiện.
Quan một Gà Vô mặt đỏ gay ngồi trong nhà. Thằng bé con kéo quạt lia lịa. Trời đêm về gần sáng đã dịu. Nhưng các quan Tây sợ nóng nực đến đỗi nghiện quạt. Quan Một ngồi khoanh tay lên mặt bàn, đặt chai rượu ngang. Nửa đêm mà quan Một bệ vệ đủ lệ bộ. Như sắp có duyệt binh ở Trường Thi ngày hội Tây. Đầu quan đội tùm hụp cái mũ trắng. Áo trắng phẳng nếp. Ống tay đeo lon vàng chóe. Quần trắng là cứng, mỗi bên ống một nẹp đỏ chấm xuống đến đôi giày da có cổ, chốc lại co lên, gót đập cuống quít, như bị con rết chui vào cắn. Rượu nốc nữa, lại nốc, mũ, giày, quần áo nóng bức lễ mễ thế, trông cũng đã ngốt.
Bác Bếp đương thu dọn xoong chảo, mọi thứ đồ lề nhà bếp ra chiếc xe một ngựa đỗ chỏng chơ liền ngay sau chiếc song mã có người xà ích Ả Rập đánh ngựa đã tới trước từ nãy.
Ngát hỏi khẽ bác Bếp:
- Việc gì thế, hả bác?
- Nó đi trận.
- Phải ăn cơm ở đấy à?
- Ừ.
- Cháu cũng đi à?
- Cháu phải đi quạt cho nó.
- Quạt kéo ạ?
- Ngoài đồng có chỗ nào mà mắc quạt kéo. Nó cho cháu đi, đã có quạt lông. Bác cũng có việc sai cháu ngoài ấy. Cháu vào lấy đôi quạt lông, buộc cẩn thận lại, cắp vào nách. Lúc nào cũng nhớ cắp vào nách. Nó gọi quạt mà mất quạt thì mất đầu - đi trận, nó chém đầu người như bỡn, cháu nhớ chưa?
Ngát nhanh nhẹn làm theo bác Bếp. Mỗi ngày, Ngát càng hiểu bác Bếp làm với Tây, nấu ăn cho quan, cho lính, nhưng ngày đêm bác lại lo mọi việc để giết Tây. Nhiều người ta làm trong các trại, người giặt là, người quét sân, người kéo xe, chắc cũng lắm người như bác Bếp. Có lẽ ai cũng ghét Tây: Cứ tưởng lính đạo ác theo Tây cả, thế mà lính đạo cũng có người của ta. Lại như bọn lính tập miền trong bị đem ra đây, đêm ngày chỉ oán than, chỉ muốn về.
Xe đồ nhà bếp loảng xoảng xếp lên giữa lúc các trại quân lũ lượt kéo qua ngoài bờ rào, trong khi quan một Gà Vô vẫn vểnh ria ngồi uống rượu từng cốc to. Rồi chốc lại giơ tay kéo cái đồng hồ quả quít bạc mặt kính lóng lánh đeo ở thắt lưng da đặt trong lòng bàn tay xem giờ, xong lại ra quát người khiêng thức ăn uống vào xe.
Trời đã tang tảng. Những toán lính trảy qua, trông rõ bọn lính thủy đánh bộ râu rậm quần đỏ đã đứng đợi lệnh đi từ nãy, người hấp tấp cưỡi ngựa, người chạy bộ.
Quan một Gà Vô đứng dậy, ra xe. Quan một ngồi ghế cạnh người xà ích mặt đen bồ hóng áo trắng, đội mũ ngù đỏ. Xe song mã ấy, quan Năm vẫn để đi dạo, đi công việc, qua các đường phố, vào thành. Xe bánh sắt rào rạo, mui vải nam, rèm buông tua hạt bột đỏ. Chiếc roi người xà ích dứ xuống. Hai con ngựa cất vó. Khi ấy, bác Bếp và Ngát, hai bác cháu đã ngồi vào hòm chiếc xe đằng sau, người lẫn lộn cạnh đùi thịt bò, rau cải, cần tây, tải bánh muối và thùng rượu, mấy chai mật ong, với xoong chảo lỉnh kỉnh.
Hai xe ruổi nối nhau. Chiếc song mã lượn quanh đằng trước, thật hiên ngang rồi rẽ sang trại chính, dừng lại trước cổng. Trên bậc thềm, quan Năm đã đứng đợi. Quan Năm cũng cúi nhìn cái đồng hồ quả quýt bạc đeo thắt lưng da rồi bước xuống đường. Quan một Gà Vô nhảy trên xe ra, đứng cộp giày, giơ tay chào rồi cúi xuống mở cửa xe. Quan Năm bước lên, ngồi vào ghế bành phía sau. Quan Một lên theo, đóng cửa rồi lên ngồi bên người xà ích nhìn chăm chắm đằng trước. Hai con ngựa cất vó.
Chiếc song mã trở ra. Xe nhà bếp một ngựa chạy theo. Đến Trường Thi, bắt kịp những toán lính đi sau còn ùn lại cạnh những con la lênh khênh kéo xe đạn, xe bánh, những thùng rượu kèm bồ đựng những chai, những bi đông nước hay rượu không biết.
Rầm rầm qua ngoài chợ Cửa Nam.
Ngát lại hỏi bác Bếp:
- Nó đi đâu bây giờ, hả bác?
Bác Bếp ghé tai:
- Cống Vị.
Ngát hỏi lại:
- Nó ra Cống Vị?
Bác Bếp giơ tay bịt miệng Ngát. Rồi bác ngồi im tay giữ bao tải, không biết trong đựng cái chai, cái hộp, cái gì mà mỗi lần xe xóc, cứ va lục cục.
Mắt bác đăm đăm nhìn ra. Đã gần đầu ô Cầu Giấy, bụi tre mờ mờ hai bên đường.
Bác Bếp lẩm bẩm nói một mình:
- Giảng Võ rồi.
Những tiếng ngựa chững lại. Rồi im hẳn. Xung quanh bỗng lặng như tờ. Trong lũy tre đen thẫm, tiếng gà eo óc mơ hồ đâu xa. Từ tờ mờ đất ở Kẻ Chợ ra tới đây, những chiếc xe ngựa đã vượt lên trước tất cả các hàng quân chạy bộ đương còn ở đằng sau.
Trời đã sáng rõ.
Bây giờ mới trông rành các quan ngồi xe ngựa đi trận mà mặc lòe loẹt sặc sỡ, trắng lốp như ngày lễ Tây. Các lon tay và hai bên ngù vai vàng chóe. Đỏ khé từng dãy mề đay áo ngang ngực. Khác các quan lính thủy đánh bộ, quần trắng sòng sọc đỏ.
Chiếc song mã của quan Năm và những xe một ngựa của các quan tham mưu, quan thày thuốc, quan hầu đã đỗ trên ngã ba vào Giảng Võ. Tờ bản đồ trải lên thành xe trước mặt như cái bàn, đặt chiếc la bàn đỏ to bằng quả gấc chín. Mọi người xúm quanh quan Năm, như nghe điều gì khẩn cấp. Trong khi đó, những toán quân đằng sau bắt kịp, rầm rập tiến ra Cầu Giấy.
Bác Bếp nhìn quân trảy, nói gì với người xà ích ta đánh xe ngựa tải đồ.
Vẻ hốt hoảng, bác không thì thào nữa, bác hỏi như hỏi ai, cả Ngát cũng nghe tiếng.
- Sao bảo nó ra đằng Cống Vị cơ mà?
Người xà ích nhìn bác Bếp, ve vẩy roi:
- Nó lại ra Cầu Giấy, thế nó mới thâm. Bác Bếp đã bảo cho bên ta biết chưa? Bên ta phải thâm thiểm bằng mấy thằng Tây ấy chứ.
Bác Bếp nhìn người xà ích tảng lờ ngắm con la rũ bờm ướt sương, kỳ tình đương nghiêng tai lại sau lưng.
Bác Bếp thong thả, chậm rãi:
- Thế ra bác vẫn ngờ tôi là người hội nghĩa a? Mất công bác.
- Tôi hỏi chơi thôi, bác đừng để ý.
Bác Bếp vẫn thong thả, nhưng dằn giọng, nhắc khéo.
- Bác lạ đâu khi đã muối mặt đi làm cho Tây, bên ta mà gặp chỉ còn có việc lấy đầu tế cờ, chứ ai tình nghĩa gì nữa với cái giống chó săn chim mồi.
Bác Bếp nói câu sau cùng như nấc lên. Người xà ích cười khẩy một cách khó hiểu:
- Cũng chả biết thế nào, bác ạ.
Rồi, như không để ý bác Bếp nói nữa, người xà ích lại gật gù, lảm nhảm nói:
- Phao tin một đằng lại đi một đằng. Nói ra Cống Vị rồi ra Cầu Giấy, thằng Tây vậy mà thâm...
Không lâu, đám quan quân vừa tụ lại xem bản đồ nhận lệnh của quan Năm cũng chia ngả đi ngay. Đám quân quan đi thành hàng dài, bóng in trên những đầm nước trắng xóa phía Giảng Võ.
Quan Năm giắt chiếc gậy nạm bạc vào dây lưng. Con ngựa quan Một vừa đưa đến đã sẵn trước mặt.
Chiếc xe song mã ấy chỉ còn một mình quan Một lên. Ngát cũng được chuyển sang ngồi dưới sàn, nhưng vẫn loay hoay giữa những thứ lỉnh kỉnh, hòm rượu, đồ hộp, chai nước và vải lều bạt vừa được vứt sang. Ngát lại chúi vào một góc thành xe, khư khư ôm đôi quạt lông.
Cũng mưu mẹo đấy. Xe song mã quan Năm vẫn lên Cống Vị, làm nghi binh. Trong khi đó quan Năm ruổi ngựa trong hàng lính, phóng ra Cầu Giấy.
Lúc Ngát phải đổi xe, bác Bếp rỉ tai Ngát.
- Cháu lên Cống Vị, gặp ai còn trong làng cũng bảo xuống Cầu Giấy. Tây ra Cầu Giấy, xuống Cầu Giấy ngay, gấp lắm. Đến Cống Vị rồi, cháu tìm cách chạy xuống Cống Cót, gặp Đề Cụt ở đấy. Bảo tao đã ra Cầu Giấy rồi. Ông Long ông Hổ lên Cầu Giấy ngay. Cháu, đến trận này thế là cháu hết việc ở Đồn Thủy. Cháu về thẳng nhà thôi.
Cái xe thức ăn có bác Bếp và người xà ích khó hiểu nọ lại lọc cọc theo ngựa quan Năm, chui vào bờ tre ra đầu ô.
Quan Một bây giờ một mình hách dịch ngồi xe song mã. Quan hai Giăc Canh đi ngựa giữa bọn lính Ả Rập mặc váy cưỡi ngựa đi trước. Tất cả rầm rầm rẽ vào trại Liễu Giai. Cả vùng vang động, bụi mù như sương. Trong lũy tre còn tối om, vẫn thấy người chạy ra. Không biết làng chạy loạn hay người ở lại kéo đi phục ở Cống Vị.
Vào đến giữa làng, xe không thể chạy được. Một quãng đường đã bị xẻ thành hào nước, chông cắm dày đặc hai bên.
Toán lính dừng lại, bắn rào rào một lúc vào lũy tre.
Quân kỵ mã và lính chạy bộ, người khiêng hòm đạn, những tải đựng thức ăn, thùng rượu. Cả bọn men bờ hào cắm chông.
Người xà ích tháo ngựa ở xe ra, đóng yên. Quan Một cưỡi ngựa thủng thỉnh bước một. Người xà ích xách cương dắt ngựa đi. Quan Hai đã bon lên trước từ nãy. Đằng sau, mấy người lính vác theo liền những hòm rượu, hòm đạn. Ngát bị quàng yên lưng một cái tải to như cái tay nải. Cái tải đè xuống, Ngát chỉ lạch được từng bước. Mặc dầu, tay Ngát vẫn ôm cặp quạt lông.
Ra đến đầu cánh đồng trông lên Cống Vị, cả bọn dừng lại. Quan Một ra hiệu cho lính đóng cọc cắm lều ở đám ruộng khô sau gò. Những chiếc lều bạt xám ngắt được dựng lên. Bao bánh, hòm đồ, thùng nước, thùng rượu bỏ vào cũi đạn xếp quanh vòng ngoài làm tường.
Quan Một, quan Hai xuống ngựa, vào lều cùng nhau uống rượu vang sớm. Đám lính Ả Rập đã buộc ngựa lại. Lính đạo khuân vác, người xà ích bây giờ cũng khoác súng đi với lính Ả Rập. Tất cả sắp hàng một, mỗi người lần lượt vào uống một gáo dừa rượu ngang.
Người lính Ả Rập da đen mờ, váy áo lòe xòe khăn quấn đầu được uống hai gáo rượu một lúc. Mỗi lính ngửa cổ, cạn một gáo, lại quay ra đứng cạnh ngựa. Quan bỗng hét một tiếng. Cả bọn phốc lên ngựa, phóng ra cánh đồng. Những con ngựa hồng hộc chồm qua đám ruộng khô, bụi mù.
Quan hai Giăc Canh đi sau, giơ súng, bắn chỉ thiên từng phát. Thế là cả bọn tới tấp bắn ra như mấy trăm tay súng đương tiến. Trong mù mịt, tiếng đạn râm ran về phía Cống Vị - mặc dầu chẳng trông thấy gì ở đằng ấy.
Khói súng và bụi đất đầy cánh đồng.
Bọn lính đã lên đến sát bờ thành xuống Cống Vị. Còn có một mình quan một Gà Vô ở lại lều đằng sau. Quan Một ngồi phịch, phanh áo ngực. Cánh tay lon vàng trễ xuống, bụi bám nhờ nhệch mà không biết. Quan một làm hiệu hất tay.
Ngát biết thế là nói gọi quạt. Rượu bốc đỏ lự trên mặt. Quan Một thở phì phì. Tiếng súng càng ran lên phía Cầu Giấy, ở đây cũng nghe được. Quan Một bồn chồn, vẫy tay rối rít.
Ngát đến quạt thốc mấy cái sau lưng. Quan Một quay lại, nghiến răng, túm ngực áo Ngát. Ngát giật bắn mình, nhưng nhanh trí, cúi khom bàn tay nắm áo. Nó lôi Ngát chuyển ra quạt trước mặt. Quan Một lúc nào cũng nghi ngờ, bắt bé con phải đứng quạt trước mặt.
Quan Một vẫn đờ mặt nghe ra đằng trước. Trên Cống Vị, từ nãy lặng tờ, không tiếng súng. Một ngày nóng nực bắt đầu. Từng tảng mây sớm đã vàng nắng ngùn ngụt bay qua. Ở đây đến trưa thì đến chết nắng. Nhanh lên, nhanh lên. Quan Một đứng dậy, xốc bao súng bên sườn. Quan Một vươn tay, ấn vai Ngát xuống. Ngát hiểu nó nói: bé con ngồi đấy, bé con ngồi yên chỗ này...
Quay ra, quan Một nhảy lên con ngựa vẫn đứng vắt cương trước lều.
Ngát ngồi đấy.
Tiếng súng bên Cầu Giấy càng khiến Ngát sốt ruột quá. Từ nãy, không thấy bóng một ai. Mà Tây hung hăng thế này, người nào dám ló ra đường nữa. Hay đi đằng Cống Cót? Không đi lúc này thì lúc nào, dịp may quá.
Ngát trông trước trông sau, chạy một mạch vào bờ tre. Nhưng chỉ thấy bụi cây cối xay hoa vàng rộ giữa vườn hoang. Chỗ này là một xóm trại, người đã bỏ đi từ lâu. Liền mấy cái chuôm to, không có lối đi qua.
Phía Cầu Giấy, súng lại ran lên trên vòm tre, càng sốt ruột.
Ngát nhớn nhác quay lại. Không ngờ, Ngát thấy con ngựa của quan một Gà Vô đã được quăng cương lên nóc lều, đương đứng đập móng. Quan Một cởi trần, thở ành ạch. Trông thấy Ngát, quan Một đứng phắt dậy. Con mắt trợn lòi ra, quan Một túm lấy Ngát.
Nó giựt soạt một cái. Cả vạt trước tấm áo năm thân nâu da bò lùng thùng của Ngát đứt toang. Thằng Tây bỗng thấy một cô gái trắng xanh bị toạc cả vạt áo trước đến ngang bụng.
Giữa lúc ấy, một tảng đá ném vào giữa mặt quan Một. Quan Một chới với ngã chúi vào góc lều.
Một tiếng quát nhỏ, giựt lên:
- Chạy đi!
Ngát nhỏm dậy, hai tay tự nhiên vơ vạt áo rách ôm lên ngực, lật đật chạy. Ngát trông thấy người lính đạo - đúng, người lính đạo hôm nọ, người nhỏ bé, đen cháy, đương giã báng súng xuống mặt quan Một đã nằm nhuôi dưới ruộng.
Đám lính Ả Rập, lính đạo và khố đỏ vẫn rộn rịch trên đầu Cống Vị. Lại có tiếng ngựa dồn dập, quan hai Giăc Canh bon về lều tìm rượu.
Người lính đạo cầm ngược khẩu súng, đứng thu mình một bên cánh lều vải.
Tiếng súng đằng Cầu Giấy càng râm ran. Bây giờ ở Cầu Giấy mới thực sự vào trận.
***
Chiều hôm ấy, một vùng các làng bên này sông Cái đâu đâu cũng loan tin bên ta nhử được Tây vào bẫy Cầu Giấy, quân ta chặt được đầu quan Năm ở chỗ làng Vòng...
Cả mấy dãy phố chen chúc quanh Đồn Thủy cũng nghe tin thế. Lập tức, Đồn Thủy như vỡ chợ. Chẳng biết đứa nào đốt, hay nhà ai vô ý lúc chạy của, một nhà bốc cháy, rồi loang khắp. Chỉ một thoáng lúc chập tối, cái phố trên bờ sông trước Đồn Thủy đã cháy tiệt. Người ở đấy sợ quân ta về hỏi tội đến ở với Tây, đã biến đi đâu cả.
Bọn còn lại trong Đồn Thủy cũng hốt hoảng lên. Cả phòng việc quan ba Đuy Boóc [26] có bốn quan đi trận, chỉ còn một Đuy Boóc sống sót Quan một Gà Vô, quan hai Giăc Canh mất đầu cả rồi. Quan ba Đuy Boóc như chui dưới huyệt lên, râu tóc, mặt bê bết đen máu khô lẫn với bùn.
“Bốn giờ sáng đã phải dẫn quân đi. Qua sở Đúc Tiền, rồi Trường Thi, không gặp một người ngoài đường. Tôi hay bói điềm gặp người áo đen hay áo trắng. Nghi ngại lắm. Không hiểu sao, uống rượu nhiều thế mà trong người vẫn lạnh, nhưng không dám bảo trung tá đừng đi hôm nay. Người ta sẽ bảo tao nhát gan.
“Chỉ thấy lính thủy đánh bộ quần áo xám ngắt. Cái gì cũng xám. Mỗi người đeo trĩu cổ mấy trăm viên đạn, bình toong nước, túi dết đựng bữa trưa, mặt dài như đi đưa đám ma. Đã bói thế nào cũng gặp cái chết.
“Đến ngã ba Giảng Võ, thằng Gà Vô ngồi xe trung tá giục lính đi. Đi đâu, không biết. May mắn, không phải tao đi.
“Trung tá đã qua Cầu Giấy. Ba khẩu đại bác 65 ngựa kéo cũng sang nốt. Ác quá, bên nó nấp chỉ cách trăm thước. Khói súng bắn đọng trong lá tre dày kín không rõ chỗ nào. Tức như điên. Chỉ còn bắn bừa vào rặng tre. Thế này là mù mắt rồi, chết đến nơi rồi.
“Nghe kèn gọi lui quân. Chỉ đợi có thế. Nhìn lại, đã thấy quân địch đuổi theo kín lưng. Lại nghe mã tấu phầm phập chặt đầu người. Chạy loanh quanh đến trưa mới mò được về tới các chùa, chỗ quan ba Ban Ny chết trận mười năm trước. Số phận run rủi, gặp cái xe ngựa. Trên xe đã nằm sẵn hai thằng bị thương. Không biết bị thương thật hay chúng nó giả vờ trốn về nằm đấy.
Chúng nó đã biết chuyện trung tá chết trận rồi. Chúng nó nấp cạnh đấy, đã trông thấy. Nó lại trông thấy lính khố đỏ, lính đạo đương bắn thế này lại quay ra đâm chết quan Tây. Trong đám lính có nhiều người bên kia. Có ghê rợn không? [27] .
Các thầy thông ngôn, thầy ký ở các nhà giấy chạy ra thành bọn nhốn nháo cả Đồn Thủy.
Bị chết ở trại trong, lính Cờ Vàng thấy lính tập đi hết, chúng gào lên. Còn có mấy người lính Ả Rập ở nhà thương ra chạy rối rít. Bọn chúng càng hò hét. Xích sắt đập xoang xoảng vào cánh cửa.
Không đứa nào còn mắt mà để ý chú bé con kéo quạt chạy đâu. Có lẽ chú bé cũng người hội nghĩa, không biết ai thế nào nữa.