Quê Nhà

Lượt đọc: 1524 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VIII

NGHĨA CÓ VIỆC RA NGOÀI BƯỞI.

Đất Kẻ Bưởi đã vào ven nội, làng trên chạ dưới thuần nghề giấy, nghề lĩnh. Những cổng xóm tường đình gạch vồ. Nhà ngói bức bàn san sát. Các làng ở ven nội cạnh phường phố, cứ ít lâu nghe yên yên, lại đông vui trở lại ngay.

Vả lại, sợ cũng không được. Làng nước kiếm ăn bằng nước sông gạo chợ mà ngơi tay thì chỉ còn có cách treo niêu.

Cho nên đất lành xem vẻ lại sầm uất như câu hát:

Kìa giếng Yên Thái như kia

Giếng sâu chín trượng, nước thì trong xanh

Đầu chợ Bưởi có miếu cầm canh

Kẻ đi người lại như tranh họa đồ

Người về chợ Bưởi từ Bắc Bỏi bên sông sang đò Hối, bên Tây Hồ qua cửa đình Võng. Một tháng sáu phiên, lại còn có thêm chợ giấy. Từ Cầu Dài dưới Yên Thái lên cổng làng Đông, làng Hồ, giấy các nơi về.

Bà Xuất sai Nghĩa ra Bưởi tìm Đề Cụt. Đã lâu, không thấy Đề Cụt về.

Từ ngày Gái chết, Đề Cụt như người phẫn chí. Ở nhà bà Xuất một dạo rồi bỏ đi lúc nào, chẳng bảo ai. Đề Cụt hay nói: “Bây giờ tôi còn một thân một mình trên đời, làm gì cũng được. Hôm nào phải ra Đồn Thủy giết chơi vài thằng Tây mới được”.

Nói rồi con mắt long sòng sọc, tiếng cười càng rợn. Bà Xuất cứ phấp phỏng lo.

Đời bố Đề Cụt, hai nhà đã đi lại, không phải ruột rà mà thân thiết lắm. Nguyên do chỉ vì có một năm, ông Xuất đi đánh chọi gà trên Phùng.

Con mã chuối chân vàng nghệ thối đá hay nhất sới. Mấy chục trận, không biết thua. Có cuộc đến tám hồ, tàn hương rơi trắng như cát. Con mã chuối ấy cổ như cột trụ rụt lại, ức nở, âu cánh khoành cao thành hai vòng tay lực lưỡng. Cánh ấy thúc lên, đối thủ kém gối cũng đủ ngã. Chưa kể cặp mỏ búp đa bíu như giứt thịt. Mỗi lần hai chân tung lên, nó phải chúi đến móc được con gà kia ra mới chịu buông.

Con mã chuối lần ấy đấu với con xám. Bây giờ mới gặp địch thủ. Sang hồ thứ bảy, mã chuối bị con xám đá mù cả hai mắt. Chủ gà đứng lắc đầu, chảy nước mắt, hai tay quơ ra như định bưng gà về. Nhưng mã chuối vẫn níu khít vào cổ xám, hai con gà đứng im rình nhau suốt hồ hương. Đến lúc sắp tàn hồ, thình lình mã chuối hai mắt lõa lợi máu nhảy phóng cả hai chân lên. Thế là con xám hốt hoảng bỏ chạy.

Mã chuối ấy được bưng về, còn để nuôi làm cảnh được mấy năm.

Từ đấy, bố Đề Cụt và ông Xuất coi nhau như anh em.

Đề Cụt và em gái đi lại nhà ông Xuất từ thời ấy. Tết nhất, giỗ chạp, động dao động thớt, lúc nào cũng có mặt. Nhất từ năm có giặc Tây, nhiều làng lập hội nghĩa, Đề Cụt hăng hái, việc nguy hiểm đến thế nào cũng theo ông Xuất, theo bố. Được cái tính anh chàng bỗ bã, dễ dãi, ông Xuất thường giao cho việc đi gặp gỡ các nơi dò la, nghe ngóng. Đóng vai khi phường thợ, khi lái trâu, khi quán xá...

Bà Xuất đã biết tin Đề Cụt đã ra làm ngoài Kẻ Bưởi.

Nghĩa lên làng Hồ, hỏi thăm được đến chỗ Đề Cụt. Bởi vì Đề Cụt giã dó một tay nhưng khỏe có tiếng, ai cũng biết.

Cuối làng Hồ phía giáp hồ Tây, có lối tắt sang đình Võng. Dưới một bờ tre có dãy lều cối đứng chen như những lều chợ. Tận khuya, trong làng ngoài hồ yên tĩnh, tiếng giã dó chày tay còn rộn ràng.

Đuôi chày cao đến vượt đầu người. Chiếc cần buộc đá bật chày gieo phần phật xuống mặt cái cối đá đại. Những mẻ dó đã nấu chín trong vạc được dỡ ra, đem đãi ngoài sông rồi bỏ vào cối. Một tay Đề Cụt - chỉ một tay, cái chày gỗ mít mà đầu chày to như chiếc cột nhỡ cứ nhịp nhàng nâng lên giã xuống. Chú bé ngồi vắt vẻo miệng cối bỏ dó.

Bột dó đã đùn cao lên thành đá, chú bé nhặt bỏ lại vào lòng cối. Cứ thế, cho đến khi chày va vào gờ cối, tiếng kênh kênh tựa tiếng chiêng, biết thế là mẻ dó đã tơi, đã được. Mỗi mẻ như thế, Đề Cụt cứ một tay giã thẳng đến xong mới chịu buông chày. Nổi tiếng dai sức vì thế.

Tiếng giã dó làng Hồ vang âm ven hồ Tây xanh ngắt bóng tre. Người dưới Thụy hay phía Nhật Chiêu đằng sông Cái vẫn còn nghe tiếng xì... tum, xì... tum trong làn sương sớm. Lại ngỡ tiếng chày từ đám thuyền gõ dồn cá mặt hồ đưa tới.

Trông thấy Nghĩa, Đề Cụt vơ mảnh khăn tay lau mồ hôi vắt trên dây rồi bước ra, cười nhăn nhó.

- Anh rúc ráy tre gai chỗ này mà chú cũng tìm ra, chú đáng mặt Xuất Nghĩa thật.

- Anh đi đến đâu, cả thiên hạ biết, em lạ thế nào được.

- Vài tay chày nữa xong mẻ này. Đợi một nhát rồi anh em ta chơi đến tận mai mới có việc.

- Để em vào bỏ dó với thằng phó nhỏ kia cho chóng.

- Phải đấy.

Đề Cụt lại một tay nhấc, cái chày nhịp nhàng lên xuống.

Tiếng chày rộn một dãy các cối ven hồ. Chẳng mấy lúc, mặt dó đã tơi, chày va vào thành đá. Tiếng tum tum vang qua mặt nước. Xóm Cung bên Tây Hồ nghe lại vẫn tưởng tiếng nhà chài gõ dồn cá quăng lưới chiều.

Đề Cụt cúi, bốc một nắm bột dó, khum ngón miết vào lòng bàn tay, nhìn kỹ.

Được rồi.

Anh chàng buông chày cuối cùng rồi bước ra hồ hóng làn gió thổi lên lưng ngực trần cho ráo mồ hôi, mặc chú bé lúi húi gợt nốt mảy dó rồi bốc cả mẻ vào đôi sọt đã đặt sẵn đấy để mai đem đãi ngoài cống Đõ cửa sông.

Nghĩa cứ nói đi nói lại:

- Trông tay anh giơ chày như ông Ác trên chùa cầm thanh long đao, ghê quá.

Đề Cụt cười:

- Rõ chú khen phò mã tốt áo. Nghề phải thế chứ không thì nuốt cơm thiên hạ thế nào được.

Rồi nhìn Nghĩa, Đề Cụt nói nghiêm chỉnh:

- Anh không thể ví được với chú. Chỉ móc ngón tay mà thằng Tây lăn đùng ra rồi.

Nghĩa ngước nhìn, Đề Cụt bỗng gặp cái đuôi mắt long lanh của Nghĩa.

Đề Cụt thở dài:

- Bao giờ chú mày mà đi hội tháng tư làng Hồ thì con gái cả vùng này phải chen chân chạy theo.

Ngẫm nghĩ, lại chép miệng nói:

- Mắt chú liếc sắc như nước còn mắt anh cứ trô trố như mắt chó giấy, rõ chán.

Nghĩa cúi mặt, cười mỉm.

Lát sau, Đề Cụt lại nói chuyện khác:

- Anh vẫn thuộc cách chú dạy bóp cổ, anh vẫn tập. Chưa có dịp thi thố thôi. Nhưng mà kể cũng khó. Anh có mỗi bàn tay.

Nghĩa nói đùa:

- Bao giờ hai anh em bắt được một thằng Tây. Em giữ cẳng nó cho anh một tay bóp cổ. Một tay anh giơ nổi cái chày giã dó nặng thế, nó phải chết thôi.

Đề Cụt cười ha hả, quay vào. Nhà ở của Đề Cụt cũng là túp lều cối ấy. Những lều khác thợ về, hết buổi làm, bỏ trống. Chỉ mỗi mình Đề Cụt ở lại chỗ chơ vơ này. Mái lều lá mía giắt lẫn lá sen khô, mỗi hôm có gió to lại phải lợp lại. Nhưng Đề Cụt bảo ở đây tiện cái ăn, có đám thuyền ngoài hồ đem cá lên, chẳng phải nhờ đi chợ bến.

Tối ấy, mua được con cá trắm to. Cứ thế, luộc cá, luộc hành, chấm muối ăn vã, không thổi cơm. Đề Cụt tháo quả bầu lọ đựng rượu treo trên mái xuống. Tàn mùa sen từ lâu mà rượu rót ra hơi ngát như thoảng hương sen ngoài hồ đưa vào.

- Chú uống chơi với anh.

- Em kém rượu lắm. Anh đã biết rồi đấy.

- Chú này chán hơn cả đàn bà. Đàn bà con gái thuở giờ chè rượu chẳng chịu thua đàn ông đâu.

Nghĩa cãi:

- Kể ra em cũng uống được - Nghĩa hăng hái nói, nhưng em phải cái tội chưa nổi được một ngụm là người đã mần nổi đơn lên, ngứa mấy ngày chưa khỏi. Đành phải kiêng.

Đề Cụt cười:

- Là chú có máu nhiệt. Không sao, nước hồ Tây này mát tuyệt trần. Chốc nữa, uống rượu xong, chú cứ cởi truồng ra, nhảy ùm xuống hồ bơi một lúc. Rôm nổi đến thành gai ốc cũng phải sạch.

Nếu ban ngày, hẳn đã thấy Nghĩa đỏ mặt. Bấy giờ Nghĩa nói khéo:

- Được, anh cứ uống cho em nhấm nháp theo. Em không để anh phải ngồi một mình đâu.

- Thế thì anh vui rồi.

Chỉ vài ngụm đã ngà ngà, Đề Cụt đã chẳng để ý Nghĩa có uống hay không.

Trăng lên một vùng bên kia góc hồ. Ánh trăng chảy xuống mặt nước như những dải thắt lưng lụa mỡ gà gió bay bay.

Đề Cụt bó gối, thẫn thờ:

- Lắm lúc nghĩ tao buồn lắm.

Nghĩa hỏi:

- Anh buồn vì ở đây một mình phải không?

- Không phải. Tao lang thang trên đời đến năm nay đã là hơn ba mươi năm, chừng này tuổi đầu tao có biết buồn bao giờ đâu.

Nghĩa trông ra hồ. Sao trên trời và bóng sao mặt nước lồng lẫn vào nhau. Nghĩa bâng khuâng về câu nói của Đề Cụt. Nghĩa nghĩ ừ đời anh ấy thật là buồn, làm mình cũng buồn lây. Từ lúc ấy, Nghĩa cảm thấy tình cảm thân thiết êm đềm, không như vừa rồi cứ đôi lúc tự dưng trợn, chợt nhớ đêm hôm, nơi hoang vắng chỉ có mình mình với người đàn ông lạ.

Nghĩa mơ màng hỏi:

- Em nghe nói ở hồ Tây có chuyện con trâu vàng hay lắm, phải không anh?

- Tao cũng nghe kể thế. Ngày xưa, có người đến đây đúc được cái chuông đồng rồi đem đánh thử. Tiếng chuông vang tận đâu cũng nghe thấy. Trên phương bắc, có con nghé vàng lạc mẹ. Nghé nghe tiếng chuông, ngỡ tiếng mẹ gọi. Thế là nó cứ theo tiếng chuông gióng mà bồn về. Đến đây nghé vàng chạy quanh tiếng chuông, giẫm nát cả cánh rừng lim, thành ra hồ Tây bây giờ. Sông Tô Lịch là vết thừng ở cổ con nghé vàng chạy buông xuống.

- Rồi mẹ nó có về không?

- Không.

- Thế bây giờ con nghé vàng đi đâu?

- Tao không biết.

- Chuyện buồn quá.

- Chuyện từ đời nảo đời nào ấy rồi, tao nhớ lõm bõm kể lại, ai hơi đâu mà buồn. Tao chỉ buồn vì chuyện bây giờ.

Nghĩa im lặng, lòng rưng rưng, như đoán biết nỗi buồn của anh.

- Ví bằng không có việc gì, thì chú lấy cái Gái, có phải chú đã là anh em với tao rồi không.

Nghĩa nói lí nhí, Đề Cụt chỉ nghe loáng thoáng.

- Bây giờ em vẫn là em anh thôi.

Đề Cụt nói to:

- Rõ như chuyện! Anh nói ví như cái Gái mà nó còn sống.

Nghĩa trầm ngâm:

- Anh đừng buồn. Thuở giờ chúng em vẫn là em anh. Hôm nay mẹ bảo em ra tìm anh chỉ có việc này thôi. Đến tháng này giỗ bố em, giỗ anh em, anh nhớ về, đừng đi đâu.

- Tao nhớ chứ.

- Mẹ bảo anh nhớ về.

- Thế nào tao cũng về mà. Tao cũng có nhiều việc cần phải về.

- Việc a?

- Chú tưởng tao bây giờ chết gí ở góc hồ này mà thương nhớ cái Gái à. Không, ngày mỗi chồng chất những cái đau, có chết đến mấy đời cũng chưa hết, chết không được thì ngồi không thế nào. Tao vẫn có mối ra Đồn Thủy. Bây giờ ngoài ấy bên ta về còn đông hơn hồi tao ở. Tao thì tao không ra được nữa nhưng anh em nhắn về tìm người đưa vào làm cho Tây, làm giả vờ ấy mà...

- Em hiểu rồi.

- Mấy người cũng được. Nhưng chú có một mình là nhớn trong nhà, đi lâu không ổn rồi. Các em nhà thím có đứa còn bé, có đứa xem ra cũng chỉ biết rúc nách vợ con, không làm nổi trò trống gì. Tao định về bàn với mẹ cho cái Ngát ra Đồn Thủy. Cái Ngát nó gan lắm. Cũng như cái Gái trước kia.

- Ấy chết! Cái Ngát đi sao nên. Nó con gái con đứa. Sợ mẹ không cho.

Đề Cụt cúi nhìn vào mặt Nghĩa, rồi cười, khoái chí:

- Ừ, lo mẹ không cho nó đi thôi. Chứ đã đi thì chẳng thiếu cách. Anh đã có cách... anh có cách...

Nghĩa đã lờ mờ đoán cách nào.

Đề Cụt cười khà khà:

- Cho nó mặc làm con trai... Nó giả con trai...

Đề Cụt thì thầm, giảng giải:

- Chú không biết, bây giờ con gái giả trai đi quốc sự nhiều lắm. Thời loạn thì phải thế mà. Chú đi đường cứ ngắm kỹ người ta mà xem. Trông ai bây giờ cũng ngợ, không biết có phải đàn ông hay đàn bà.

Nghĩa bấm bụng không dám cười, nhưng mặt đã nóng bừng. Trong bụng vừa hồi hộp vừa nghịch ngợm. Nghĩa nghĩ: này anh sắp nói... giả con giai như chú... như mày. Chợt hốt hoảng, Nghĩa nhìn thoáng lại Đề Cụt. Nhưng trời tối và thấy anh vẫn nói tự nhiên. Không, không phải anh ấy sắp nói thế. Nghĩa ngồi yên, khép lại vạt áo, bâng khuâng nhìn ra ánh trăng. Nghĩa bồi hồi nhớ Gái, như thương nhớ con người đã đầu gối má kề. Nghĩa nhớ lại lúc mới gặp ở Ba Cây Đề cho đến ngày Gái nhắm mắt trên lưng Nghĩa. Trong lòng vẫn nguyên vẹn ước mơ về mối tình đôi lứa. Nghĩa rân rấn nước mắt. Không phân biệt được là thương Gái hay cô Trại thương thân mình.

Đề Cụt lại nói:

- Một thân anh đi đâu chẳng tìm được cái ăn. Nhưng ngày đêm anh chỉ nghĩ sao rửa được thù cho bố, cho anh em. Cái thù Tây của nhà ta nặng lắm, em ạ.

Đề Cụt kể:

- Anh đến Bưởi, vì đất này làm giấy, làm cả giấy bọc ngòi pháo, ngòi pháo cũng là thuốc nổ ấy mà. Anh đã vào Bình Đà, vào Chuồn Che, những nơi có lái ra ngoài Kẻ Bưởi cất giấy ngòi pháo. Anh đã theo phường bóc dó Tuân Lộ từ Yên Lạc lên rừng Lâm Thao, Nghĩa Lộ tìm xem cái cây dó Lâm làm ngòi pháo nó thế nào. Thuốc pháo thì sẵn. Thuốc pháo cũng làm thuốc súng được. Biết được thổ thuốc pháo rồi chúng ta cũng là đã có thuốc súng, làm được súng, làm nhiều súng chẳng kém Tây. Anh tìm được thổ mua thuốc rồi, anh tìm được rồi.

Đề Cụt còn cắt nghĩa một lúc cho Nghĩa biết đem thuốc nhồi mồi súng rồi châm ngòi, bắn ra thế nào. Súng ngắn cũng được, đến nhồi súng thần công cũng được. Nghĩa ngồi im. Không biết vẫn nghe anh ấy nói hay đương mải trông ra mặt hồ lênh láng ánh trăng, buồn quá.

Đề Cụt đứng dậy, bảo Nghĩa:

- Bây giờ chú cởi quần ra, xuống bơi một lúc rồi lên đi ngủ cho mát.

Nghĩa nhăn nhó, năn nỉ:

- Từ lúc uống rượu, em thấy gây gây sốt. Có lẽ hôm nay đi cả ngày, em bị cảm. Trời bây giờ lại hơi lạnh.

Đề Cụt hồn nhiên cười:

- Đến cái ao hồ Tây nhà anh mà chú không tắm thì thiệt quá. Nước hồ Tây mát lắm, rượu vào càng mát. Thôi để lần sau nhé.

Nghĩa mừng quá, quên cả câu nói run rẩy như người ốm vừa rồi.

- Vâng, lần sau, lần sau.

Đề Cụt đã cởi hết quần áo, tồng ngồng ra giữa sáng trăng. Đề Cụt giơ tay quấn lại búi tóc, nhảy xuống nước, gọn như con cá lặn. Thoáng đã thấy nhấp nhô ra xa. Chỉ một tay bơi mà nhanh thế. Lúc sau, lại thấy tự dưng nhô lên như con rùa ở ngay trước mặt. Đề Cụt khỏa nước bơi vào. Đề Cụt trèo lên bờ, lại đứng tô hô như lúc nãy. Như không biết Nghĩa.

Nhưng Nghĩa đã quay mặt trông sang phía xóm Cung bên Tây Hồ lúc ấy hãy còn lác đác đỏ đèn. Đề Cụt nghiêng đầu quay tóc mấy cái, rồi thong thả đóng cái khố một.

Bấy giờ mới nhớ có Nghĩa ngồi đấy.

Đề Cụt cười:

- Chỉ có cánh đàn ông chúng mình với nhau mới tự nhiên thế này được. Khuya rồi, chú ngủ đi.

Lại nói:

- Ở đây chỗ nào cũng là giường. Nằm ngoài này càng mát.

Nói rồi, Đề Cụt ngồi xuống, kéo đùi Nghĩa gối đầu, nằm kềnh ngay ra. Một lát, ngáy pho pho.

Nghĩa bối rối thật lạ lùng. Lùm tre ban đêm tối om trên bờ hồ. Ánh trăng sóng lấp lánh, bóng sao hay đom đóm, không biết. Làn gió mát cứ hây hẩy. Có lúc lặng yên. Có lúc thầm thì. Phía đình Võng, chợt rợn lại tiếng cú rúc. Nghĩa nhớ ngày trước còn bé ở nhà, trẻ con nghe cú kêu, đương ngồi tử tế cũng vội rụt chân lên phản, sợ sệt nhìn quanh. Đêm nay, tiếng cú lại nghe ra như tiếng ai đương cười. Cười trêu mình hay là ai đương cười mình.

Anh ấy ngủ đã lâu hay vừa mới ngủ. Bây giờ còn sớm hay khuya rồi. Nguồn cơn bối rối quá. Đầu Đề Cụt nặng, Nghĩa không duỗi được chân. Một bên chân, bên sườn dần dần dại đi. Nhưng Nghĩa vẫn ngồi yên, để Đề Cụt nằm gối như thế không rút chân ra. Nghĩa ngồi yên. Nghĩa tựa lưng vào cái chày giã dó, cao như cột nhà sừng sững sau lưng.

Một ông sao đổi ngôi, rơi xuống lòng hồ. Đêm càng sâu, càng nghĩ ngợi xôn xao. Không biết như thế nào. Nước mắt tự nhiên từng lúc cứ giàn giụa, nóng hổi hai bên gò má, Nghĩa ngồi như thế không biết bao lâu rồi lại nhấc Đề Cụt để gối đầu sang bắp chân bên này. Người vẫn ngủ ngon lành, không cựa, như giấc ngủ đứa trẻ.

Chân trời và mặt nước dần dần rạng. Hơi sương hơi nước mặt hồ bốc lên, đã ẩm nặng hai vai áo. Những vì sao lặng lẽ nhạt dần, có lẽ đêm sắp qua rồi. Thế mà tuyệt nhiên Nghĩa không buồn ngủ. Có lúc Đề Cụt trở mình nằm nghiêng, Nghĩa run rẩy đặt bàn tay lên trán. Trán anh ấy mát rợi. Nghĩa muốn khóc lên thành tiếng. Không hiểu vì hồi hộp hay vì buồn quá.

Nghĩa để nguyên bàn tay trên trán anh ấy như thế một lúc lâu, trong khi mặt hồ đã sang sáng. Nghĩa bồi hồi chẳng muốn trời sáng. Nghĩa vẫn ngồi như thế.

Tiếng gà trong làng Võng và phía xóm Đông Lân làng Hồ hai bên đã gáy dồn. Những cơn vạc một mình đi ăn đêm ngoài hồ về qua trên mặt nước sương loãng trắng kêu tiếng rời rạc ngang trên đầu.

Đề Cụt chợt thức, ngáp ối một tiếng rõ to. Tay nắm chặt bàn tay Nghĩa, Đề Cụt nhỏm phắt dậy. Nghĩa giật thót mình.

Bỗng Đề Cụt cười hề hề, lại nằm xuống, vít bắp chân Nghĩa, muốn gối ngủ giấc nữa. Nghĩa chưa tan cơn hoảng hốt thì Đề Cụt lại nắm tay Nghĩa, mắt vẫn nhắm, nằm nói giọng ngái ngủ:

- Tao tưởng đứa nào định bóp cổ tao.

- Con vạc kêu làm anh thức à?

- Ừ, vào quãng này đêm nào ở đây cũng có con vạc bay qua kêu. Mà cũng từ giờ tới sáng, tao không ngủ được. Một lúc nữa thì nghe tiếng chuông chùa Thiên Niên đằng Quán La.

- Anh nói thế em lại nhớ anh kể chuyện con nghé đi tìm mẹ. Bây giờ còn nghe tiếng chuông ấy không?

- Đấy là chuyện cổ tích ngày xưa thôi.

Đề Cụt ngẩng mặt nhìn giàn sao trên trời chỉ còn loãng li ti. Có một mình ngôi sao mai mới mọc, đứng chênh vênh lóng lánh trên mép nước ngay trước mặt.

Đề Cụt hỏi:

- Tối hôm qua mày có ngủ được không?

Nghĩa cười không trả lời. Đề Cụt vẫn nắm tay Nghĩa.

- Quái, cái tay mày mềm như tay con gái. Cái bẹn mày ấm quá.

Nghĩa vẫn khúc khích cười.

- Thật đấy, tay mày mềm thế này. Xem tay kia thế nào nào.

Nghĩa đưa bàn tay kia cho Đề Cụt và nói:

- Anh nhớ em đã bóp cổ chết hai thằng Tây ở Đồn Thủy đấy.

- Tao quên thế nào được!

- Đấy!

- Ừ, tay mày mềm như cái lạt, cái lạt mềm nhưng cái lạt thít vào thì có mà giời gỡ ra. Anh biết tài chú rồi. Đêm qua anh ngủ, mà chú bóp cổ anh thì anh chết rồi nhỉ.

- Chỉ nói dại!

- Chú giỏi lắm, chú Nghĩa ạ.

Đề Cụt níu bàn tay Nghĩa, ngồi dậy, thiết tha:

- Chú ạ, bàn tay này của chú có thể vẫy thiên hạ đến đầy cửa được. Đừng để lỡ thời vận. Anh sẽ đi tìm người. Anh sẽ theo chú dựng cờ. Anh đã nghĩ thế từ lâu. Xuất Nghĩa con ông Xuất Vấn làng Nha có kém cạnh ai. Không, không, nhất quyết chú làm nổi việc ấy...

- Anh Đề, anh...

Đề Cụt càng hào hứng:

- Xuất Nghĩa! Anh xin theo hầu chú, anh xin cầm tay thước đi hầu chú trước hàng quân.

Khoái chí, Đề Cụt cười to rồi lại nằm xuống vơ gối Nghĩa, kê đầu lên, tay vẫn quơ lên bóp hai bàn tay Nghĩa. Cái đầu Đề Cụt xõa tóc ra nảy rung cả người Nghĩa. Nghĩa rùng mình. Nhưng Nghĩa trấn tĩnh được ngay.

Đề Cụt lặng im một lát. Rồi lại nói thầm thì. Tính Đề Cụt vẫn thế, cứ đương vui, tự dưng lại buồn lặng hẳn đi.

- Đời tao toàn những mối thù, ngày càng nhiều...

Im lặng.

- Chú Nghĩa, chú Xuất Nghĩa, chú có biết sự tích anh mất bàn tay này...

Nghĩa cúi xuống. Tay Nghĩa nắm đốt xương lửng giữa khuỷu tay Đề Cụt.

Đề Cụt âm thầm nói:

- Không bao giờ tôi nhắc đến chuyện ấy. Không bao giờ tôi kể với ai những chuyện ấy. Đôi khi, tôi đếm: thế là thù cha đã trả được một lần, nhưng bao giờ thì cái bàn tay cha mẹ cho mình, mình mới trả được...

“Nghĩa ơi! Anh nói cho em biết, trong cái trận bên ta giết được thằng Ngạc Nhe, trận ấy, ông Xuất và cả bố anh cùng bị đạn. Lúc ấy, tao với thằng Vấn xông lại. Chỉ có ông Xuất còn thoi thóp. Ông Xuất xua tay ra hiệu đuổi: chúng mày chạy đi, chúng mày phải sống mà báo thù cho chúng tao. Đạn vẫn bắn tới rào rào. Tay trái này của tao bỗng thấy lủng lẳng, như không phải tay tao nữa. Thằng Vấn cõng tao xuống cánh đồng, núp trong gốc cây đa. Cái tay tao thế là phải đạn gãy rồi. Tao bảo Vấn: ‘Đằng nào tao cũng hỏng tay này, mày chặt nó đi cho tao khỏi vướng’. Nó ngần ngừ. Tao lại giục: ‘Mày chặt đi’. Thằng Vấn kê cái tay gãy của tao vào gốc đa rồi giơ mã tấu chặt một nhát. Rồi nó xé áo, buộc chặt lại. Máu tao vẫn phun ra, nó lẩy bẩy buộc, vừa buộc vừa khóc. Rồi nó bảo tao: ‘Bây giờ anh nằm đây, tôi quay lại đem hai ông về’. Tao gàn nó đừng đi. Nhưng tao lả vào gốc cây, không còn đủ sức nói nữa. Tao trông thấy nó xách mã tấu, lại qua cánh đồng. Đến nửa đêm, cũng không thấy nó trở lại, rồi tao ngất đi. Sáng sớm, người của ta đi tìm anh em, cõng tao về. Mới biết thằng Vấn phải đạn chết ngoài Cống Vị rồi”.

Cánh tay Đề Cụt, chỗ ấy chỉ còn thây lẩy miếng sẹo sót lại. Nước mắt Nghĩa đầm đìa ướt bàn tay Đề Cụt.

Đề Cụt đưa bàn tay ướt nước mắt Nghĩa vuốt lên mặt Nghĩa rồi cười to:

- Ông Xuất Nghĩa không được khóc!

Nghĩa úp mặt trong bàn tay Đề Cụt, vẫn nức nở.

Đề Cụt nói nhỏ:

- Nghĩa ơi, chú nín đi. Chú là Xuất Nghĩa. Bây giờ chú là ông Xuất Nghĩa. Anh em ta phải trả thù nhà...

Chuông chùa Thiên Niên bên kia hồ gióng tiếng, những tiếng dẳng tiếng trầm, lửng lơ trong thinh không.

Đề Cụt nói:

- Thế là tan canh rồi. Chú nghe mà xem...

Đề Cụt kể cho Nghĩa biết mỗi hôm đến lúc chuông chùa gióng sáng thế này, mười hai phường quanh hồ Tây từng nơi thức dậy một khác. Phía Quảng Bá, Nhật Chiêu bắt đầu tiếng chài ra hồ gõ dồn cá để quăng lưới. Đằng Hồ Khẩu, Yên Thái, tiếng chày tay giã dó i uôm... Quãng mù sương ở giữa là vùng Kẻ Cáo trồng cam trồng cà, làm liềm seo, có đền sóc thờ vọng ông Gióng. Người Sở Quán La lội hồ, bắt cua, soi đơm cá, đuốc đóm lập lòe từ gà gáy. Các làng Sài, Bái, Nghĩa Đô canh cửi, tiếng nghè lĩnh trên mặt đá kê bờ ao vang đến tận đây, sáng ra còn thanh vắng, nghe rõ mồn một.

Đề Cụt chợt nhớ, sửng sốt hỏi Nghĩa:

- Giời ơi, hình như anh nằm gối đầu vào đùi chú cả đêm thế này, chú ngủ làm sao, ngủ ngồi à?

Nghĩa cúi mặt, mỉm cười. Nhưng trời còn tối đất, không trông thấy Nghĩa mặt đỏ tía tai. Vả lại, Đề Cụt đã ngồi dậy, cũng chẳng thấy nụ cười ngượng nghịu của Nghĩa.

***

Đề Cụt về nhà bà Xuất - như đã nhắn với Nghĩa. Cái gì chứ lo đánh Tây thì bao giờ cũng sốt sắng, khác nào việc làm ăn sinh sống, vẫn thế.

Nhưng Nghĩa dùng dằng chưa dám nói với mẹ việc Đề Cụt đương tìm người của ta ra Đồn Thủy, giả người làm trong đồn, mà Đề Cụt muốn xin cho cái Ngát đi.

Mãi gần đến hôm giỗ, Nghĩa mới nói.

Bà Xuất lau nước mắt, thừ người một lát.

Không ngờ, bà Xuất nói:

- Được, cho nó đi. Cho mấy đứa đi cũng được. Rồi tao bảo với thằng Đề Cụt. Kể ra con cháu nhà này cũng có đứa đần độn, nhưng không phải chúng nó hèn cả đâu.

Trước kia bà Xuất chỉ như cái bóng ông Xuất. Đối với bà, việc nước việc nhà lẫn lộn trong mọi lo toan gánh vác âm thầm của bà. Cả Đề Cụt cũng không tưởng được bà Xuất bây giờ lại sốt sắng và cương quyết được đến thế.

Ít hôm sau, Nghĩa đưa Ngát và hai em trai con nhà thím ra Bưởi. Ngát mặc giả trai. Cả đám thành bốn chàng trai trẻ. Ngát đi như ra Kẻ Chợ bán lĩnh ở Hàng Đào. Ngát không nghĩ ngợi mà thấy được đi với Nghĩa có phần Ngát lại vui hơn. Ban ngày, không tiện cả bốn người trai tráng thong dong qua các làng. Thời buổi nhốn nháo, ngại người ta đổ là quân dắt đất, quân cướp đường. Lại sợ gặp lính nó sinh nghi, Nghĩa đưa cả bọn đi tắt qua các cánh đồng. Chập tối mới ra đến chợ Bưởi. Cũng không nghỉ trọ, lại vội vã lên cống Đõ, vào dãy lều giã dó ở chân tre cuối làng trông ra hồ Tây.

Đề Cụt reo lên:

- Năm anh em ta cứ thế này vào đánh Đồn Thủy cũng được rồi. Nhưng khoan khoan, hãy ngơi một cái đã chứ.

Đề Cụt đến bụi tre, kéo ra một thuyền thúng con vẫn buộc giấu trong ấy. Hồ đương cả sóng, nước đánh tung vào tận chân cối. Một tay Đề Cụt chèo vãy như con cá một vây, thoắt cái, chiếc thúng đã biến mất giữa làn sóng hồ chập tối. Không biết vào Võng lấy rượu hay sang xóm Cung mua cá.

Một lát, cái thúng đã trở lại như từ trong nước đâm ra. Ở vành khoang thuyền nhảy đành đạch mấy con cá trắm. Một cái bong bóng trâu đen xỉn đựng rượu buộc ở mũi thúng.

- Các chú đến, anh phải mừng đã. Còn chỗ ngủ không lo. Hồi này rét, không mấy cối giã đêm. Ăn xong, đứa nào chui vào lều nào nằm cũng được. Hàng trăm con người trú chân ở đây, cũng không ai biết đâu. Gió hồ thoáng bốn phía, con chó cũng chẳng biết hơi người đằng nào mà cắn. Tao đã ngắm sẵn chỗ này. Khi nào vào đánh Đồn Thủy ta nghỉ quân ở đây rồi lại đi, chỉ khoảng trống canh đã vào tới.

Đề Cụt nhìn Ngát đương loay hoay níu cái thúng, xách lên từng con cá trắm to bằng bắp chân.

- Con gái bao giờ cũng hay làm hơn những thằng ngay lưng này.

Ngát ngoảnh lên, cãi:

- Anh nhầm rồi.

Đề Cụt cười hô hố:

- À quên, tao nhầm. Anh Ngát, thằng cu Ngát. Cái Ngát mặc đàn ông thế mà xinh trai!

Câu chuyện gái giả trai, đàn bà mặc đàn ông ở thời buổi loạn lạc hầu như người ta cho là thường quá. Có thế, chỉ muốn đi đường được ngay thẳng, đã phải trí trá như vậy - cho tiện mọi nỗi.

Ngát nguẩy người nhìn Nghĩa lúc ấy đương đến đỡ Ngát kéo mép thuyền thúng neo hẳn lại để Ngát bắt nốt cá.

Nghĩa đùa tự nhiên:

- Ví bằng tớ là đàn bà tớ cũng mê cái Ngát thôi.

Ngát đỏ hây mặt, nói chín lừ:

- Anh mê em thật à?

Thế là Nghĩa lại tịt mít. Nói đùa thế là vì Nghĩa thương Ngát. Ngát biết phải xa nhà, biết mình đi việc khó khăn, nhưng Ngát cứ thảnh thơi như chẳng có gì. Rồi những ngày tới đây, Ngát xoay xỏa đối phó thế nào ngoài ấy? Ngát chưa hề đi đâu xa, mà lại sắp xông pha vào nguy hiểm, biết thế nào. Mẹ bảo con thế, tùy con, đi hay ở nhà cũng được. Ngát đã nói: thế thì để con ra Đồn Thủy. Ngát cười, bảo mẹ: con ra ngoài ấy để dò la tin tức cho anh em. Con làm được việc ấy.

Những câu chuyện kinh thiên động địa, bao nhiêu gian nan, thế mà vào lúc loạn ly, làm thân con gái cũng chẳng biết phân biệt, đường nghìn dặm chỉ thấy như ngoài cửa. Trại đấy, ngẫm từ ngày Trại xuống đây, rồi cũng như ở nhà, mọi công ăn việc làm. Bây giờ Ngát đi... Ngát quả quyết: Con làm được.

Bà Xuất cười, chửi yêu: Mẹ mày! Ăn mặc con trai mày cũng tự nhiên như thế thì tao bắt mày mặc con trai luôn. Nhà này từ giờ có hai thằng con trai. Ngát nói: Mẹ chẳng bắt con mặc con trai con cũng mặc. Làm đàn bà thời loạn thiệt lắm.

Ngát đi bây giờ, Nghĩa thầm thương. Trong nhà bấy lâu, các thứ lo liệu, việc nước cũng như canh cửi, mới bề Ngát đều làm bằng mọi người. Có điều Nghĩa biết tính trẻ con của Ngát và Nghĩa biết mà càng cảm thương nỗi lòng sâu kín của Ngát lúc này.

Ngát bồng bột chưa biết lo ngày mai ngày kia đâu. Có khi, không biết chừng - Nghĩa đoán, Ngát đương hí hửng chỉ vì bây giờ được cả ngày đi với Nghĩa. Mà thật như thế.

Nhưng một lúc, Ngát sụt sịt khóc rồi ngẩn ngơ hỏi Nghĩa:

- Hôm nào em vào Đồn Thủy? Em vào một mình a?

Nghĩa chỉ nói:

- Còn ở đây đợi.

- Em sắp vào Đồn Thủy rồi.

- Nhiều khó khăn lắm đấy, em phải biết liệu.

- Em chỉ lo không biết hôm nào mới lại được về.

Một lát, Ngát nói như trả lời cho mình:

- Đi lâu quá thì em phải trốn về thôi, anh Nghĩa ạ.

Thế là hai đứa cùng cười. Bởi Nghĩa cùng đương nghĩ trẻ con như Ngát. Quên phứt cả nỗi lo.

Ăn uống xong đã lâu, Đề Cụt lại khề khà nói chuyện cổ tích hồ Tây. Chuyện hồ Tây kể biết mấy năm mới hết. Đề Cụt tính vui, lại có tính tự hào đến đâu cũng thấy ta được tới chỗ nhất thiên hạ, không đâu hơn. Nhưng mai qua nơi khác lại thấy đấy nhiều cái hay, lại thấy hay hơn. Ba Cây Đề, Đồn Thủy, bây giờ cống Đõ hồ Tây được vô khối chuyện lý thú muốn kể.

Trời sương mù mịt không trăng sao, không đốm lửa chài, lửa bếp nào còn vương vất. Gió kẽo kẹt đánh đu trên lũy tre. Tiếng sóng uồm oàm đuổi nhau xô vào bờ, canh khuya càng mù mịt như muốn đẩy những ngọn nước sắp tràn cả lên đây. Miên man có thế, buồn đứt ruột. Vậy mà ngồi thầm trong bóng tối, chuyện anh Đề Cụt nở như ngô rang. Chốc chốc, cả bọn lại rộ lên cười.

Tao ấy a? Ở chỗ này tao là chúa hồ Tây. Ban ngày tao ngồi đây trông sang được khắp Kẻ Chợ. Tao là chúa Kẻ Chợ. Bao giờ đuổi được Tây đi, tao trông nom cai quản Kẻ Chợ chứ ai biết Kẻ Chợ hơn tao. Nhưng cái ấy chưa hay. Biết không, suốt dải bờ này, chỗ nào tao cũng tìm được các thức nhắm. Chú mày chưa biết, rượu sen Võng Thị hơn cái rượu Sấu Giá nhiều.

Còn cá thì đến bao giờ anh em mình chén cho tiệt được cá hồ Tây! Lần nào các chú đến đây vào mùa hè, ối chao, hoa sen hồ Tây đưa lên ngào ngạt, đêm ngủ không muốn dậy. Ngủ trong hoa sen, say hơi sen, thế mới là say. Cái giống sen đêm mới ngát làm sao. Tắm hồ lên mùi sen vẫn mát khắp người. Nhưng sen mùa nắng cũng chưa bằng cái thú những cái ăn được bây giờ. Đêm nay trời quang, sáng mai có sương mù, thế nào đám sâm cầm cũng về nhiều. Con sâm cầm to bằng con vịt, đen như quạ, thịt nó bổ hơn nhân sâm. Ăn một con sâm cầm đủ sức vật một Tây. Cứ chén một con lại tăng sức đánh một Tây, chén mãi được. Giống chim ấy sao mà bổ thế. Mai đám nhà chài Nghi Tàm đánh lưới được sâm cầm, thế nào cũng mang cho tao, chúng mày ăn thử xem.

Đề Cụt kể lan man, say sưa. Về khuya, đã nhạt. Chuyện Đề Cụt lại đến sự tích khác.

- Các chú chưa biết chùa Nghi Tàm đằng kia ngày xưa có bà sư tên là Quỳnh Hoa, thuở trẻ bà Quỳnh Hoa đã có phen búi tóc ngược, giả trai cầm quân đi đánh giặc.

Nghĩa tủm tỉm cười trong bóng tối.

Ngát hỏi:

- Bà ấy là sư à?

- Khi bà còn trẻ bà đã giả trai cùng chồng đi đánh giặc.

Ngát nắm tay Nghĩa, ghé tai nói:

- Đấy, như em bây giờ.

- Ừ cô cũng giả trai đi đánh giặc như bà Quỳnh Hoa, chỉ khác con gái bây giờ chưa cần lấy chồng đâu.

Ngát cứ nắm chặt tay Nghĩa, không buông.

Ngát nói:

- Mà em chỉ đi đánh giặc, em không đi tu đâu. Hôm nào anh đưa em lên chùa Nghi Tàm xem bà sư ấy mới được.

- Đấy là chuyện ngày xưa.

Nghe các chuyện anh Đề Cụt kể, ai cũng mê. Nhưng dần dần rồi có cậu ngáy khò khò trên mảnh chiếu buồm ngay đấy. Trời lạnh, nằm chui rúc, co quắp nhau thế nào cũng được.

Đề Cụt vỗ vai Ngát:

- Nằm đây mà ngủ. Bây giờ mày cũng hóa ra con trai như chúng nó rồi, chẳng sợ gì.

Ngát đẩy ra nói:

- Không, không thế được.

- Anh nói đùa thôi. Chú sang nằm lều bên.

Nghĩa nói:

- Có cái mền trong tay nải, em lấy đắp tạm.

- Tối quá, chẳng biết lều ở lối nào.

- Chú Nghĩa thổi bùi nhùi lên, đưa em sang rồi về đây uống rượu với anh. Trời xuống sương thế này, anh em mình uống suốt sáng đợi phường chài Nghi Tàm đem sâm cầm đến.

Nghĩa lấy cái mền nâu ra đưa cho Ngát. Vừa tới cửa lều, gió dưới hồ thốc lên, Ngát bíu Nghĩa: “Ối giời, gió to quá”. Nghĩa huơ bùi nhùi rơm cho lửa bùng lên rồi sờ soạng tìm đĩa đèn. Chẳng thấy gì, chỉ có ổ rơm xơ xác lỏng chỏng cạnh cối đá.

- Em nằm đây. Khuya rồi, em chợp đi một tí.

- Anh ngồi xuống em bảo.

Không đợi Nghĩa ngồi, Ngát víu vai Nghĩa xuống.

Ngát lúng túng:

- Anh... anh...

Nghĩa rợn người như cảm thấy một điềm gì xấu. Cái đêm Đồn Thủy cõng Gái về, lúc sắp chết, Gái hấp hối hỏi trên vai Nghĩa. Anh... anh...

Ngát nói:

- Anh, anh bảo thế nào?

Rồi Ngát sờ tay vào mặt Nghĩa.

- Sao anh khóc, anh Nghĩa?

Nghĩa vẫn im.

- Anh khóc thế là anh không thương em, phải không?

- Anh thương em lắm.

- Anh thương em thế rồi mai kia em về em bảo mẹ cho em lấy anh, anh có bằng lòng không?

- Thuở giờ công việc còn nhiều, đừng nói chuyện ấy vội.

- Nhưng anh phải hẹn trước với em.

Nghĩa im. Hay là Nghĩa có trả lời Ngát mà tiếng sóng hồ dữ quá, át cả tiếng người.

Ngát bảo Nghĩa:

- Anh không nói thì mai em không đi Đồn Thủy nữa.

- Ừ, anh hẹn.

- Người ta phải dọa rồi mới hẹn. Thế là chưa thật bụng rồi.

Giữa lúc ấy, Đề Cụt gọi to:

- Ới chú Nghĩa!

Nghĩa cầm tay Ngát, nói: “Đấy, đừng để anh ấy gọi, không tiện” rồi Nghĩa bước ra. Ngát còn thấy như hơi người nóng hổi, Ngát nhắm mắt lại.

Trưa hôm sau, có một người từ cống Đõ đi vào dãy lều cối. Không phải dáng tất tả các bác thợ giã bìa thấp thoáng dưới rặng tre mọi khi. Người lạ ấy mặc áo the dài, đội nón chóp dứa. Đứng trong này đã trông được vẻ nền nếp, không phải người đi việc quan hàng xã hàng tổng, mà đây hẳn cũng là chân phong lưu.

Đề Cụt nhìn ra, rồi nói:

- Bác Bếp đến.

Ngát ngơ ngác hỏi bác nào.

- Bác Bếp về đón các chú.

Ngát phụng phịu.

- Bác ấy ở đâu mà đến sớm thế?

Đề Cụt cười gắt:

- Rõ chuyện! Việc vua việc nước phải có buổi, không rề rà được.

Cũng lạ, cái bác Bếp thế mà rồi cũng ra người chí thiết với Đề Cụt. Lúc đầu vì mở quán cơm ngoài Đồn Thủy mà biết bác Bếp. Việc hội nghĩa không phải mối người chắp mà mối hóng. Tự nhiên hợp với Đề Cụt thường nghĩ cái gì cũng chỉ có thuận lợi. Đề Cụt tưởng như trong thiên hạ bây giờ không hỏi thì thôi, hỏi đến, chắc ai cũng có bụng đánh Tây. Khi biết tâm sự bác Bếp, Đề Cụt cũng nghĩ thế. Thì ra những kẻ ăn người ở quanh Tây lại ghét Tây. Thế rồi, tưởng như khách qua đường mà thành thân tình. Nhưng, bác làm nghề nấu bếp, thì gọi là bác Bếp, hay là bác Bếp Chính cũng chẳng rõ tên thật là gì, mà cũng chẳng cần biết.

Lần ấy, bác Bếp ghé vào hàng:

- Này anh Đề Cụt có lấy cẳng gà tớ để cho.

Đề Cụt ngắm người. Không phải khách thường đến mà sao biết tên mình ở nơi khác. Bèn hỏi lại:

- Trông bác không phải cánh thợ ngõa...

Bác Bếp cười to:

- Vậy mà tớ đã biết quán Đề Cụt từ khi còn ở trên bến Cốc.

Thế là từ đấy thành chỗ đi lại.

Có khi, bác Bếp nói:

- Làm cho Tây mà lại thù Tây, nỗi này thì ít người hiểu.

Đề Cụt nói:

- Em hiểu rồi.

- Nhưng có cái chú chưa biết hết.

- Điều gì ạ?

- Anh có cái thú nhất trên đời.

- Làm bếp cho Tây, miếng nào ngon mình được xơi trước nó.

Hai người cười to.

- Mình ho khạc đờm vào chảo, nó cũng phải chén tất.

Hai người lại cười khớ khớ.

Tính bác Bếp kín. Bác nói gì, biết thế. Không muốn nói, hỏi cũng chẳng cạy được răng. Đề Cụt giữ ý, cũng chưa khi nào tò mò sự tình quê quán bác Bếp ở đâu.

Bác Bếp đã vào tới đầu lều. Bác ngả nón chóp, mới thấy cái nón của bác đã thâm lá, xơ xác, long mất cả khua nón.

Bác Bếp hỏi ngay:

- Cả bốn cậu này cùng ra Đồn Thủy?

Đề Cụt nói:

- Có ba chú, bác ạ.

- May quá, thế là tốt rồi.

Đề Cụt trỏ Nghĩa:

- Đây là chú Xuất Nghĩa.

Bác Bếp đã gặp Nghĩa từ hôm về ăn cỗ làm ma khô ông Xuất. Bác Bếp chạy đến, nắm chặt cánh tay Nghĩa, nhìn dõi vào tận mặt Nghĩa, lạ lùng như chưa quen bao giờ.

- Trời ơi!... Xuất Nghĩa... Óng ả như con gái thế này thì đến bố Tây có gặp cũng chịu không biết được. Thế mà tiếng tăm chú bây giờ Tây trong Đồn Thủy biết hết, sợ mất vía đấy.

Đề Cụt chặc lưỡi.

- Chắc lại bọn chó săn đem tin về...

- Đích rồi. Thằng Tây có mắt cũng như thong manh, phải có giống phạm nhan ăn máu tháng đàn bà, nó mới biết được đường đi lối lại. Nhưng mà cái tiếng Xuất Nghĩa bây giờ ghê lắm ở Đồn Thủy. Cứ một đồn mười, nó bảo từ trước tới nay hơn chục thằng Tây mất tích quanh Đồn Thủy đều một tay ông Xuất Nghĩa bóp chết cả. Xuất Nghĩa chỉ có một bàn tay mà bóp cổ một cái chết tươi. Xuất Nghĩa có phép tàng hình, vào tận giữa Đồn Thủy, thằng Tây có ống dòm dài bằng cái điếu cày, lúc nào cũng đeo lủng lẳng bên mông đít mà cũng không trông thấy. Xuất Nghĩa đi trên mái nhà như người ta đi dưới đất.

Thế là thần hồn nát thần tính, từ ngày hội khánh thành Đồn Thủy có thằng Tây bị bóp cổ chết ấy, cứ chập tối chúng nó đã cấm trại, bố bảo cũng không dám ra cổng. Sợ vía Xuất Nghĩa. Thế mà ông Xuất Nghĩa đây, hiền lành thế này, ối giời ôi, ông Xuất Nghĩa đây a?

Đề Cụt nói:

- Chú nó đã gặp bác hôm ở nhà rồi mà.

Bác Bếp kéo Nghĩa cũng ngồi, miệng nói: biết rồi, và lại chăm chú nhìn Nghĩa.

Đề Cụt ra bảo bọn Ngát vớt cái giỏ vẫn bỏ dưới rệ hồ lên, bắt nướng mấy con cá chuối.

Bác Bếp đã cởi áo the thâm, gấp cẩn thận lại rồi thong thả kể:

- Dưới ấy bây giờ thật lắm việc. Nó mới đem nhiều lính đạo ngoài Nhà Chung vào làm lính hầu. Nghe xì xào, có quan Năm ở Sài Gòn sắp đưa tàu to chở lính ra hỏi tội cụ Hoàng [18] cứng cổ. Nó mà cho ra đến quan Năm là to lắm. Ngày trước thằng Ngạc Nhe chết trận cũng chỉ mới đóng lon quan ba. Chúng nó bảo quan Năm chuyến này mà ra vật được cụ Hoàng xuống, lấy xong Kẻ Chợ rồi lấy nốt đất nước mình.

Cả bác Bếp và Đề Cụt cùng lặng im. Bác Bếp quơ tay, nhấc điếu cày rít một hơi rồi thong thả lắc đầu.

- Cũng chưa biết thế nào. Cụ Hoàng quả quyết lắm. Nhưng mà một mình cụ Hoàng chắc đâu đã ăn thua.

Đề Cụt hỏi bác Bếp:

- Anh em hồi này thế nào?

Bác Bếp cười nhếch mép:

- Nghề đời vẫn thế, nó càng mộ lắm người hầu, lắm lính tráng, ta càng nhiều người lọt được vào.

Anh em ta đông, không khó như hồi chú còn ở. Ngoài ấy bây giờ, chỉ còn thiếu mở chợ. Bọn các chú mà xuống thì lẫn lộn ngay.

- Hay là bác cho em lại ra mở hàng?

- Nó đương rình ông Xuất Nghĩa tay cụt, chú ra nộp mình à. Chỉ có ông Xuất Nghĩa thật bây giờ mà xuống mới là bất ngờ.

Bác Bếp đứng dậy, lại mở cái áo the vừa gấp.

- Công việc như lửa, tôi phải đi.

- Thì hẵng đánh chén cái đã.

Bác Bếp cười:

- Nói vậy chứ đến hồ Tây mà chưa ăn cá thì đi thế nào!

Xế trưa, bác Bếp và ba anh em Ngát mới rục rịch đi.

Bác Bếp bảo Nghĩa:

- Anh em ta rồi còn nhiều việc với nhau.

Ngát nắm tay Nghĩa. Bấy giờ mới bịn rịn, rồi khóc.

- Anh nhớ chứ?

Chẳng biết nói thế nào, Nghĩa nói: Nhớ!

***

Một chốc, mọi người đã khuất vào lũy tre đầu làng Thụy. Ít lâu sau, một buổi sáng, nghe những tiếng nổ ì ầm vang rền phía Kẻ Chợ. Rồi, bên này hồ Tây trông sang, thấy khói cháy nhà bốc đen cuồn cuộn. Đến trưa, những người quảy dầu ra bán chợ Hàng Bè đã lõng thõng, nháo nhác quay gánh chạy về. Nói Tây ở Đồn Thủy vào hạ thành rồi, cụ Hoàng chết rồi.

Cả mấy ngày, người các phường chạy ra rỉ tai rải rác những chuyện hốt hoảng chắp nối. Các quan ta chạy tán loạn cả, cụ Hoàng thắt cổ, Tây đã lên chiếm cả bốn cửa thành.

Thì ra quân Tây đã tính từ trước việc đánh thành. Đến lúc quan Năm ra, nó đem thêm lính thủy Tây, lính khố đỏ và đại bác vào Hải Phòng rồi lên Hà Nội, thế là đánh luôn. Nó cũng vờ đặt chuyện thư từ đi lại để các quan ta càng chẳng ngờ. Sáng sớm, giữa lúc quan án Bá [19] trèo cửa thành ra đưa thư cụ Hoàng trả lời, Tây bắn luôn vào thành. Quan án Bá sợ cong đuôi trốn thẳng vào Mọc, không dám quay lại. Đốc Trinh [20] hốt hoảng, cũng bỏ cửa Đông. Lãnh Trực [21] núng thế, rút sang cửa Tây. Lão Tường [22] giữ cửa Nam, cho quân bắn nháo nhác mấy phát rồi lẩn đi đâu không biết.

Phía cửa Bắc, cụ Hoàng cưỡi voi ra thúc trận với phó Phong [23] , còn giữ được tới nửa buổi. Lính Tây bắc thang trèo lên trên mặt thành, đôi bên đánh nhau giáp lá cà. Bốn phía, các kho thuốc súng, kho gạo, kho tiền bốc cháy, lửa đỏ trời. Tây tràn khắp nơi rồi.

Cụ Hoàng lui vào thành nội, bảo quản tượng giữ voi đứng đợi rồi cụ một mình đến trước cửa Võ Miếu, cụ cởi cái thắt lưng hoa lý ra, treo cổ lên chết trên cây đại. Ai cũng đồn thế, mà chẳng ai trông thấy.

Làng nào làng nấy lại táo tác gồng quảy chạy loạn. Nhiều người quen mui cái ngày mười năm trước, vào thành hôi của. Ngày nào cũng lũ lượt khuân ra các thứ lấy được ở các nhà quan và các nhà giàu bỏ của chạy lấy người.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang