Quê Nhà

Lượt đọc: 1523 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VII

THÁNG CHÍN NĂM ẤY MÁT TRỜI. Thế mà nhìn ra sông Cái, mặt nước vẫn đỏ ối. Những con lũ mùa hè qua từ lúc nào, bây giờ mới nhả ra những mảng cát xuộm đỏ và một dòng sông lư đừ như vừa vượt được cơn vật vã, mệt nhọc.

Từ Thanh Trì vào Kẻ Chợ, sau lưng một vành đê quai vạc, in bóng xanh đen uy nghiêm những rặng tre hãy còn ngấn bọt nước lụt vàng ngầu ngang lưng. Nhưng vào đến Đồn Thủy, những bờ lũy bỗng toang ngoảng đứt quãng. Quãng ấy, Tây đã mở đường giải đá dăm, trồng một hàng cây me tây. Những cây gạo và đôi ba cây bàng đã lên được hai làn tán.

Cờ ba màu Tây cắm hôm ấy mọc khắp mọi nơi. Xanh, trắng, đỏ la liệt. Không thấy một chiếc cờ kỳ, cờ đuôi nheo ở đâu. Vua quan bán đất Đồn Thủy cho Tây rồi, Tây không cho cắm cờ ta - người đến xem hội Trường Tây nói thế.

Những nếp nhà hai tầng, tường quét vôi trắng, mái ngói đỏ vuông từng miếng, ngoài cửa có lính đứng bồng súng, lưỡi lê lóe sáng nhọn. Mới độ nào quãng nào còn ngổn ngang gạch đá, bây giờ bên đường đã thành dãy phố nhà lá nhà Tây khấp khểnh nối nhau.

Xem ra sông bến ở đây sầm uất chẳng kém những phố khách trên Hàng Buồm, phố Mới. Nhiều hiệu ăn uống trên các phố ấy đã nhanh chân xuống đây mở cao lâu, trước cửa treo làm hiệu cái cần câu buộc chiếc vòng lua tua những sợi giấy hồng điều trang kim phấp phới. Chẳng bao lâu, lại thêm lò may, hiệu nhuộm, hiệu bán vải cũng như ở trên phường Đồng Lạc, phường Báo Thiên. Các hàng tạp hóa, hiệu thuốc bắc cũng treo bảng giống trên Hàng Ngang phường Diên Hưng. Rồi một dãy lều bán dầu của người các phường Đồng Xuân hay ở ngoài Cầu Dền, dưới Hồng Mai tới Cả trên Thụy cũng có lái xuống bán rượu, tranh khách với rượu phủ Từ bên Bắc. Ngoài làng Cổ Tân, ngay đầu bến đá mọc lên một cái chợ hôm - chiều đến, vạn chài quảy tôm cá lên bán đổi vai vào các phường.

Tiếng đồn Tây mở phố cưới chợ liền cả tháng. Phường tuồng được gọi về hát suốt ngày. Người các nơi quanh quanh nô nức rủ nhau đi xem. Có người gật gù rồi thở dài: cái thằng Tây thế mà lắm mẹo dỗ người. Đồn Thủy là đất chó ỉa nay đã thành Kẻ Chợ rồi. Tiếng lành đồn xa...

Lại nghe nói quan lãnh sự Đờ Kéc [17] mới dọn bàn giấy ngoài Trường Thi vào Đồn Thủy cho kịp hội khánh thành. Cáng xanh, cáng điều các quan ta trong thành ra dự. Xe song mã đưa các quan Tây còn ở Trường Thi tới. Người ta đứng xa xa thấy tấp nập loáng thoáng thế. Cái lúc lễ cắt băng mở hội khánh thành trong ấy nào có ai được vào mà biết. Hôm sau, đốt cây bông lúc chập tối, lại hát tuồng hát chèo cả ngày như mọi khi.

Đêm nay khác lệ thường, có chèo hát suốt đêm.

Người các nơi kéo đến đông ứ.

Nhiều trò chơi nực cười, xưa nay không thấy, chỉ có Tây mới nghĩ ra các trò oái oăm đến thế. Bọc tiền, bọc cát, bọc cứt, bọc nước lã treo trên đầu. Cứ bịt mắt vào mà cầm gậy chọc. Người reo ầm ĩ, người bịt mũi, người nhăn nhó... Trong cái chuôm cạnh chân hào dạo trước đào lấy đất nung gạch, có cuộc bắt vịt. Người cởi trần đóng khố bước ra, lính lấy miếng vải bịt mắt lại rồi đẩy xuống ao. Nghe vịt kêu chỗ nào, bơi đến quờ quạng. Trên bờ, người đứng xem reo ầm ầm. Lính Tây say lại bày trò tung tiền. Trẻ con nghe đồn Tây cưới chợ, có phát tiền, rủ nhau đi. Lính Tây đứng cười hô hố, ném lên từng vốc tiền kẽm. Trò này nhạt, không thấy trẻ con đến nhặt. Chỉ bọn lính đạo xúm vào giật nhau những đồng tiền kẽm đã gãy.

Hôm ấy, cửa hàng Đề Cụt cũng bộn người, mặc dầu ngày hội mà hàng vẫn chỉ rặt những thức hàng ngày. Rượu nhắm chân gà, lòng lợn chấm tương, bún xáo... Người đi xem la cà các hàng đã nghe đồn ở đây bán chân gà Tây quăng rẻ tiền hơn hiệu cao lâu khách. Người ta khảo giá. Xem xét, tính toán, càng đổ đến những quán cẳng gà, lòng lợn, quán Đề Cụt.

Người vào hàng có phần đông hơn và khác mọi khi. Không phải những cánh thợ thuyền, phu phen quen mặt. Nhiều người từ xa về. Xù Gạ, Canh Diễn, Trôi Gối, Gạch Bún... trông cách ăn mặc và nghe giọng nói, đoán biết được.

Không ai để ý những ông khách khăn đầu rìu, áo nhuốm cậy cứng kềnh, người nào cũng lực lưỡng, bàn chân hộ pháp lầm bụi, vai khoác tay nải nâu quá khổ, nặng trễ xuống - biết được đấy là lương khô cơm nắm ăn đường hay là con mã tấu.

Khách bước vào hàng hỏi to:

- Ông chủ có cái thuốc lào tỉnh Đông đấy không?

Chủ hàng nhìn khách rồi thong thả nói:

- Thuốc Vĩnh thật hiệu đây.

Rồi chủ hàng đưa ra cho khách chiếc điếu cày với rúm thuốc bọc mảnh lá chuối khô. Ông khách rít một hơi, tay vỗ miệng điếu tì xuống, lại hỏi qua làn khói thuốc đậm tỏa, tiếng khao khao.

- Hàng ta đông khách đấy nhỉ?

- Đông đủ cả rồi ạ.

Rồi, Đề Cụt nói một câu lửng lơ, không hiểu câu chào hay lời nhắn kín đáo:

- Thế nào chập tối ông anh cũng tạt lại nhé. Tối nay đốt cây bông vui lắm.

Xế trưa, ba mẹ con bà Xuất cũng đã ra tới nơi.

Đề Cụt ngồi trong cửa, trông thấy, đứng lên. Gái cũng đã chạy tới, nghé nghiêng rồi chào:

- Cả nhà ra xem hội Tây.

Đề Cụt ghé tai Nghĩa, nói nhỏ:

- Chưa thấy Noi Cáo, Bằng Vồi. Bên kia sông cũng chưa.

Nghĩa cười:

- Anh sốt ruột rồi. Đã hẹn cứ rải rác đến tận lúc hát giáo đầu mà.

Từng bọn lính Tây say la đà ngoài đường. Có người khật khưỡng vào hàng, đứng xem khách các người húp cháo ăn gặm chân gà. Nó cũng cúi, nhặt tự nhiên một cái lên, nhai rau ráu. Rồi nó đến bên vách, chỗ Gái đương xay bột, hất tay Gái ra, ngồi xuống nắm tai cối, hùng hục lắc, đổ nước bột trắng lềnh làng mặt đất. Ngay bên cạnh thế này mà giở miếng đòn hiểm của anh Nghĩa ra nhỉ. Gái nghĩ thầm. Dưới nếp khăn vuông nâu tùm hụp kín mít, Gái nhìn trộm ra - khó ai thấy được cô gái hàng cơm ấy là bà già hay con gái.

Người lính Tây cười khè khè quay lưng chệnh choạng bước đi.

Cái cối to tướng trên mặt thớt đá trên vểnh một tai tròn có lỗ. Gái vẫn cắm cúi xay bột. Bếp đằng kia, than hồng rực. Làn bột trên khuôn vặn tròn lại, từng sợi lăn xuống nồi nước sôi. Một tay Gái nhấc tra thêm gáo nước lã. Một chốc, những sợi bún chín nổi lên, trắng như thóc nếp rang vừa nở. Gái lấy tay gạt ra chậu nước lạnh, bắt lên vành rổ, khoanh từng con, từng cối, sợi nào đứt để riêng ra làm bún rối. Gái vừa xay bột vừa làm bún, hong bún nhanh thoăn thoắt.

Mới chập tối, tiếng trống trò đã bập bềnh rung ngoài bờ sông. Trên ngọn tre la đà các phường ra tận hồ Gươm, tiếng trống còn vang động tới. Một vẩy trăng non vừa ngấn lên trong khoảng trời trong mát.

Đám hát chèo đêm nay kề bên bờ nước, ven con đê. Mọi khi, rạp dựng cẩn thận trong bờ rào. Tối lần đầu hát chèo được đưa ra đây cho rộng chỗ người xem. Các phường chèo đến càng đông. Đèn đường, đuốc đóm ánh xuống mặt sông soi rõ thấy san sát những cái nan đưa người bên Bắc sang.

Người hội nghĩa các nơi về đã trà trộn vào khắp mọi đám. Chen chúc thế này, nhiều người ta thế này, giá cứ chịt thắt lưng mà quật từng thằng Tây, cũng khó lòng ở trong trại chúng biết ngay được. Xem chừng chèo hát vui, lắm con gái và các trò chơi, thêm mấy đám đốt bông trên bè nứa, thế nào Tây chẳng khóa hết cửa bỏ trại ra xem.

Càng về tối càng tưng bừng.

Bỗng nổi lên tiếng kèn như hét chõ ra từ trong các bờ rào trại lính. Tiếng kèn đồng the thé, át cả trống chèo vừa dạo vỡ nước vào giáo đầu. Người ở đây, cả các hàng quán đã thuộc các độ kèn hiệu trong trại. Kèn chào, kèn cấm đi, kèn động, kèn ăn, kèn ngủ trưa, kèn gọi...

Lúc này, hàng quán đã vãn. Nhiều nhà đóng cửa, đổ đi xem chèo. Đề Cụt và Gái vẫn ở nhà. Từng lúc, anh em trong đồn ra báo động tĩnh. Bà Xuất và Ngát truyền tin đến các người lảng vảng, rải rác mọi nơi. Quanh đám xóc đĩa, đám đố chữ. Đông nhất chỗ hát chèo và người ngồi xúm đen xúm đỏ đợi xem đốt cây bông ngoài sông.

Đốt cây bông! Đốt cây bông! Người hội nghĩa đã có hẹn, khi cây bông thứ nhất trên bè ngoài sông mà buông hết chữ “Phúc”, sang pháo “hoa cà hoa cải” lên sáng xanh sáng tím thì anh em cũng bắt đầu ra tay. Nhất quyết lùng thịt hết bọn Tây trong đám hội. Lúc ấy, có hiệu tù và của ta bốn phía nổi lên trợ lực...

Đề Cụt hốt hoảng vào bảo Gái lúc ấy vẫn ngồi xay bột ở gian trong.

- Tao nghe như có phải kèn gọi...

- Mới chập tối mà. Chúng nó chưa ra xem đã gọi về là thế nào!

- Đấy... đấy... Tiếng kèn gọi.

Văng vẳng phía này, phía xa, suốt một dãy trại lính vùng Đồn Thủy. Đề Cụt bồn chồn nhận ra.

- Hay là lộ rồi. Chúng nó đánh hơi thấy rồi?

Người đi xem hội vẫn lũ lượt ngoài đường, không ai biết đâu nỗi lo ghê gớm của Đề Cụt. Đề Cụt đã nhận ra chỗ nào cũng có người của mình. Nghĩa vừa tất tả trở lại trong đám người chen vai đi. Nghĩa đương đi nhận dạng rồi phát lệnh cho từng bọn. Nghĩa thấy dần dần bước vào trận đánh nghiêm trọng. Nghĩa đã biết được có bao nhiêu Tây trong Đồn Thủy ra xem, đứa nào có thể bắt sống được, đứa nào giết tại chỗ. Người của ta đông lắm. Người của ta sẽ cùng ra tay một lúc.

Đề Cụt càng sốt ruột. Sao các trại lại lên kèn gọi về giữa lúc này? Thế là thế nào? Đề Cụt ngóng vào phía Đồn Thủy.

Có một người từ phía cổng trại ra. Trông trước trông sau, tụt vào cửa hàng Đề Cụt. Người ấy mặc quần nâu, đi chân đất. Cái áo trắng nhà bếp đóng hàng khuy giữa ngực, cổ cao hai đốt ngón tay. Người nhà bếp, nhà bàn trong trại - người của bác Bếp Chính vẫn quen mặt ra đây.

Đề Cụt hỏi ngay:

- Bác Bếp nhắn gì không?

Người ấy lắc đầu:

- Không xong rồi.

- Chú nói cái gì?

- Bỗng dưng nó cấm trại.

- ...

- Không thằng Tây nào được ra. Đứa nào đương ở ngoài, thu ngay về hết.

- Ô hay!

- Đấy kèn gọi từ nãy vẫn rống lên. Chúng nó đương kéo về.

Người ấy nói vội:

- Bác Bếp bảo cho các ông biết thế mà liệu.

Rồi lật đật đi luôn.

Đề Cụt bảo Gái:

- Tao phải chạy đi tìm chú Nghĩa. Không khéo mất ăn rồi.

Gái nói:

- Người của ta đông lắm mà.

Đề Cụt gắt:

- Nó không ra thì đánh chó à?

Rồi Đề Cụt đi biến.

Từng bọn lính Tây đương la cà các nơi. Chiếu xóc đĩa, bàn đố chữ. Các bàn nước bàn rượu. Cả ở bờ sông đợi xem đốt bông... Đâu đâu cũng nghe kèn gọi. Không ai để ý kèn gì trong trại. Người ta đều biết Tây hay thổi kèn. Trong khi trời đã tối hẳn, các phường kéo đến, mỗi lúc một nô nức nghìn nghịt. Ở nơi đô hội lúc nào cũng dễ đông người tụ lại. Chẳng cứ đám rước, đám ma, chỗ nào sảy đám cháy, có người trẫm mình, người say rượu, đám cãi nhau, thế là kéo đi xem.

Mỗi đám Tây trở về trại, Đề Cụt lại như lửa đốt trong người. Gặp đứa nào đi một mình, Đề Cụt ngơ ngẩn tiếc.

Đề Cụt ra bờ sông đã được một lúc lâu.

Ở nhà, có tiếng lạt xạt ngoài phên, Gái ngẩng mặt. Cầm dõi cửa, Gái đứng lên.

Một lính Tây xồng xộc vào. Tay nó úp giấu cái mũ ra sau lưng, như để khỏi ai trông thấy. Hai chân loạng quạng. Say rồi mà nó vẫn tỉnh, vẫn nhớ thế. Hình như thằng này trong bọn ban trưa đã vào đòi nghịch quay bột bún. Được rồi, mày vào đây. Nhưng nhìn lại trong nhà, còn có một mình, Gái đâm trợn. Gái bíu tay vào liếp. Không lủi, nhưng cũng không dám mở. Gái nắm chặt dõi cửa.

Người lính nọ co cẳng đạp bật một lúc hai chốt. Liếp cửa rách tung. Một cái mặt rượu bự rự, đỏ gấc, nhô vào.

Gái giơ dõi phang thẳng xuống đầu nó. Nó loạng choạng lạng vào vách. Gái đánh liên tiếp. Nó lảo đảo gượng lại rồi thật là ghê gớm, nó cứ từ từ đứng lên giữa trận mưa gậy của Gái đương nện xuống. Nó rút con dao găm bên thắt lưng, xô vào.

Vừa lúc ấy, Nghĩa về đến cửa. Với cả bà Xuất với Ngát và Đề Cụt. Biết Tây đã báo động gọi lính về trại, Nghĩa trở lại cửa hàng để gặp anh em các nơi nghe tình hình lại.

Cái liếp rơi xuống một mảnh. Mọi người ùa vào. Nghĩa xông đến đấm vào gáy, thằng lính Tây ngã sấp mặt xuống. Rồi Nghĩa và Đề Cụt nhảy vồ tới.

Ngát chạy lại nâng Gái lên.

- Việc gì không, việc gì không?

Mặt Gái bợt trắng. Vạt áo trước ướt đen, sẫm xuống váy. Gái lả đi.

Nghĩa buông xác thằng Tây, bước lại. Nghĩa bỗng nhận ra nụ cười đau đớn thoáng trên khuôn mặt nhợt nhạt của Gái nhìn Nghĩa.

Đề Cụt nói:

- Buộc cửa lại, đi thôi.

Ngát hỏi:

- Đi bây giờ?

Nghĩa nói:

- Hỏng rồi. Các nơi đã được hiệu rút cả rồi.

Rồi Nghĩa hỏi Đề Cụt:

- Còn thằng này?

Đề Cụt nói:

- Bỏ xác nó ở đây. Ta không trở lại đây nữa.

Nghĩa cúi xuống. Gái nói bên tai Nghĩa:

- Em không đi được.

- Đã có anh...

Trong nhà tắt hết bếp rồi, tối om. Như người đã đi ngủ hay ra rạp hát chưa về.

Một chốc, tất cả đã đi ngoài đường lẫn trong đám dập dìu xem hội.

Nghĩa cõng Gái. Làn khăn vuông kéo xuống che kín mặt Gái. Có ai để ý cũng chỉ ngỡ như người đi xem hội bị làm sao, phải cảm hay rắn cắn, người nhà cõng về.

Đi đã xa Đồn Thủy.

Tiếng trống chèo vẫn dào dạt theo bóng nước trong đêm. Tận đây còn nghe tiếng người reo tiếng đám chơi. Đèn đuốc cây bông chập chờn lung linh sang cả góc trời đằng ấy. Mỗi tiếng pháo lệnh nổ, cây bông lại xòe ánh trắng phun hoa cà hoa cải. Chốc chốc, Đề Cụt lại lẩm bẩm: Hoa cà hoa cải rồi... Hoa cà hoa cải rồi... Rồi lại lặng lẽ đi. Đằng ấy, tiếng người vang động hơn nữa.

Liên tiếp một loạt tiếng nổ đùng đoàng giựt lên.

Đề Cụt nhìn lại.

Ngát ngơ ngẩn hỏi:

- Có phải pháo đốt bông hay pháo lệnh của ta?

Đề Cụt đáp:

- Không, súng của Tây thôi.

Đề Cụt nghe ngóng rồi như nói một mình:

- Lại kèn động... kèn động... Nghe rõ tiếng nó thổi kèn động

Bỗng nhiên, phía đằng ấy lặng phắc. Những tiếng âm ầm như tiếng reo, tiếng súng, rồi bặt hẳn. Vụt một cái, đóm đuốc tắt ngấm. Bóng nước bây giờ thẫm đen. Cả một vùng mờ mờ vào ánh trăng non phẳng lặng như không.

Đề Cụt nói:

- Chắc là nó tìm ra xác thằng Tây: Nó bắn súng dẹp đám hội đấy.

Vào đến Hà Khẩu, xuống cầu Đông, cả bọn theo sông Tô Lịch đi ra ngoài thành.

Trên vai Nghĩa, Gái gọi khẽ:

- Anh ơi!

Tiếng Gái thổn thức. Nghĩa nghe giọng Gái khác hẳn, như lạc đi. Nghĩa đã thấy nóng ẩm khắp lưng. Máu ở người Gái chảy ra thấm ướt áo Nghĩa.

- Cô thấy trong mình dễ chịu chưa?

- Không...

- Nín đi. Sắp đến nhà rồi.

- Mình... Anh có thương...

- Có thương, nín đi.

- Mình...

Hai bàn tay Gái với lên bám quặt xuống vai áo Nghĩa. Dần dần, Nghĩa cảm thấy bước vướng đầu gối. Hai chân và cả người Gái ôm chặt Nghĩa, tưởng không thể nới ra được nữa. Nghĩa lã chã nước mắt. Nghĩa biết thế là Gái đã chết rồi. Nhưng Nghĩa im không nói với ai. Vẫn cõng Gái nguyên trên lưng như thế, Nghĩa lặng lẽ bước.

Trăng đã lặn. Cánh đồng bát ngát liền lên với vòm trời, người bước qua bóng sao lấp lánh trên mặt ruộng nước.

« Lùi
Tiến »