CŨNG KHÔNG BIẾT BẤY GIỜ sang trống canh tư rồi hay đã tàn canh. Trông qua cửa giữa mà ông chủ nhà vừa ra mở hé một cánh, đã thấy thấp thoáng mặt ao có làn sương mờ hay khói đun nước làm lợn, bởi nghe tiếng lợn kêu eng éc từ gà gáy. Bóng núi đen sẫm sừng sững ngay trước sân, như núi đứng kề mặt nước. Khách đến lúc đêm, không biết nhà ở gần núi thế. Lúc khuya, có hơi lạnh, chủ nhà đưa cái mền cho ủ chân. Hơi núi đêm mát khác hẳn ngoài Kẻ Chợ đương độ nóng nực.
Bọn người nhà túc trực ngày đêm ở cả hai gian đầu hồi. Những ngọn giáo dài như hàng cọc rào dựng san sát lên đầu mái.
Trong gian giữa, trên mặt sập gỗ mít chân quỳ trải chiếu đậu, hai người đã thức.
Mùi thuốc phiện sực nức. Ba gian nhà, khói thuốc âm u cũng như sương ngoài mặt ao. Chiếc cóng sành đựng thuốc đã cạn, trôn cóng ghếch nghiêng lên thành khay đèn. Thật cũng không rõ chủ khách vừa mới thức hay họ đã hút thâu đêm, kiệt hết đến bao nhiêu cối thuốc.
Ông chủ trạc ngoài năm mươi, tóc rậm xõa kín hai vai rộng. Người vạm vỡ lực điền, hai hàng ria mép lưa thưa, mắt sắc như dao. Tấm áo nhiễu dài, dải lưng điều thắt bỏ giọt lòa xòa lên mặt chiếu. Ông nghiêng người nằm ghé xuống. Cái khăn lượt thâm chít trên đầu đã bỏ thành một cuộn để cạnh chiếc gối gỗ vuông to bằng viên gạch hòm sớ.
Thanh gươm tuốt trần sáng trắng để cạnh khay đèn. Chỉ nhỏm lên một cái, đã có thể tay gươm và chiếc gối, vừa mộc vừa khiên, nhảy ra đánh cản ngay được.
Khách trạc ngoài tứ tuần, đầu chít khăn vố, người còm nhỏm, mặt héo quắt, gày xo hai vai trong tấm áo the dài. Nhưng ông khách vốn nhỏ con, không phải người ốm yếu.
Khách nhẹ nhàng ngồi dậy.
- Ấy, ăn nốt điếu này đã.
Không dám từ chối, khách lại khúm núm nằm xuống bên khay đèn. Ông chủ nhanh nhẹn tiêm lấy điếu thuốc, đưa dọc tẩu sang cho khách.
Ông chủ nói:
- Tính tao thích một mình, làm thuốc lấy, nó tiện. Lúc nào cũng đứng dậy ngay được. Cho mấy con giời đánh nằm kèm vào đây thì có lúc hỏng bét đại sự. Thiếu gì lúc, có phải không chú mày!
Ông chủ cười to, trong khi khách xuýt xoa: “Rước ông. Xin phép ông” rồi lặng lẽ nghiêng dọc tẩu hơ điếu thuốc lên tim đèn, kéo một hơi. Tiếng nhĩ tẩu réo nhẹ nhẹ như người ngáy.
Ông chủ hỏi:
- Chú mày ra ngoài Đồn Thủy được bao lâu rồi nhỉ?
- Thưa ông, hơn một năm.
- Chóng quá.
- Thế mày vào làm chân gì?
- Con làm nhà bếp.
- Nấu nướng cho Tây ăn ấy à?
- Vâng. Con đã học được nghề nấu bếp. Con nấu, Tây ăn khen ngon.
- Hay lắm. Thế thì, bỏ thuốc độc cho nó như bỏ bả chuột chứ gì?
- Cũng không dễ đâu. Quan to nó hay đem các thức ăn cho chó ăn trước.
- Ha ha! Con chó được xơi trước quan Tây!
- Vả lại, con nghĩ chưa đến lúc, chưa nên nóng ruột. Cậy cục mãi chúng con mới lọt được vào đấy. Anh em các nơi tin cậy...
- Nói vậy thôi, mày nghĩ thế phải.
- Thưa vâng.
- Cái giống Tây hôi hám lắm phải không?
- Hôi lắm.
- Mà nó mắt xanh như mắt mèo, lông lá như con chó xồm ấy phải không?
- Cũng nhiều thằng thế.
Ông chủ cười khà khà:
- Thế thì bằng con chó thôi. Chỉ tại mấy thằng cơm vua lộc nước trung thành đốn mả mới đến nông nỗi mất thành mất đất thế này.
- Bọn quan triều ngày càng hèn đớn, không ra thể thống gì nữa. Sang nghị bàn với Tây, nó chỉ đập bàn một cái, mặt quan nào cũng đã úa ra như tàu lá héo. Mà có gì đâu, cái tính thằng Tây thế, không dưng nó cũng đập bàn. Mắt con trông thấy các quan ta run rẩy mà nghĩ nhục thay.
Ông chủ gật gù:
- Được, mày về sắp sẵn đi, tao cho quân ra. Làm cỏ được món Tây Đồn Thủy rồi vào thành giết nốt bọn quan quân ta cầy sấy đi.
- Mọi việc con đã bẩm với ông.
- Được.
Một người đứng ngoài bậc cửa, chắp tay:
- Bẩm ông lớn, đã xong cơm.
- Cho dọn lên. Ra gọi ông Long, ông Hổ vào uống rượu vui.
Người đầy tớ cúi đầu “dạ” rồi lui ra.
Ông chủ nói:
- Ông Long, ông Hổ, được cái hai ông ấy cũng giống tính tao. Triệt đứa nào cứ xông thẳng vào tóm cổ nó tận ổ. Mình mà cương hơn, tất nó phải hốt. Chuyến này tao cho cả hai ông ra ngoài ấy giúp chúng mày một tay.
Rồi ông chủ vuốt ria cười khớ khớ, đầy tự đắc:
- Ví bằng hôm nào được cái thành Kẻ Chợ rồi tao phong cho mày làm thằng quan Khâm sai.
Khách đứng lên chắp tay, cung kính.
Ông chủ lại nói:
- Ở đời khó nhất có lá gan. Đấy mày xem, cả tổng này, chỉ nháy mắt, tao tóm hết lũ tôm tép chánh lý. À mà để lần sau, bây giờ mày còn phải đi cho kịp công việc, lần sau tao sai nó đi trói dăm thằng lý trưởng bên kia sông về, không thể để chúng nó dám hỗn láo nhung nhăng thế được.
Khách thoáng nhìn ông chủ. Trong việc mưu đánh Tây bấy lâu muôn vàn cái khó, cái nguy nan, thế nhưng ở đây, ông lãnh vuốt ria, ung dung rung đùi, người bên cạnh cũng đâm lây cái tự tin của ông.
Bởi vì, ông lãnh này nổi quân cứ tự nhiên như đi chợ. Vì thế, khét tiếng một vùng. Nguyên do vì ông đã làm một phen từ núi Thày vào đến Kẻ Chợ chỉ một ngày đường thong thả. Trước mặt, có cánh đồng, có sông, lại có núi tựa lưng. Thế tiến thoái như đi quân cờ. Thế là ông quyết cắm chỗ này. Cả tổng có tám xã, ông đã đem người đi lấy nửa buổi xong. Một mình ông vào thẳng nhà chánh tổng. Ông nắm búi tóc chánh tổng, lôi ra sân đình, nổi trống gọi làng. Quân gia thủ túc của ông lúc ấy cũng vừa điệu tám lý trưởng tám các xã đến.
Các quan ta trong thành biết chuyện quân nghĩa ông lãnh chiếm cả một mạn vùng Thày Vồ, cũng làm ngơ không dám hạch đến.
Tiếng mõ đổi canh sáng nổi lên. Từ đỉnh đầu núi xuống, lan ra các trạm gác đầu làng, cuối đồng.
Đã trông rõ đường cái những người vác cày dắt trâu ra cày nốt tràn ruộng đồng xa vừa được nước mưa mới. Con trâu thủng thỉnh bước một. Bác thợ cày mang lỉnh kỉnh lắm thứ, bùi nhùi và mồi thuốc, lại ấm tay nước vối. Những bà đi chợ sớm tất tả gồng gánh qua cổng làng vừa mở, cười nói râm ran.
Bấy lâu, thế là đã bình yên trở lại các xã vùng bán sơn địa này. Khách tần ngần, ngồi nhìn ra, nghĩ xót xa trong lòng. Cảnh yên vui ở một góc đồng con con mà đã lâu lắm, không được thấy ở đâu.
Ông Long, ông Hổ đã tới. Ai cũng quần đũi nâu xắn mũi hài, chân đi đất, mỗi người đeo bên sườn một thanh gươm vỏ bọc da đen.
Ông chủ nhãng mất tối hôm qua hai người thủ hạ ấy đã đến uống rượu, ăn thuốc cùng nhau bàn bạc tận khuya mới ra về. Hay là ông lại muốn khoe với khách:
- Ông Long, ông Hổ, mày biết không? Để rồi tao cho hai ông ra lấy cái Đồn Thủy với chúng mày.
***
Cái năm bố con ông Xuất chết trận ở Cống Vị, bấy giờ cả trong thành, ngoài trại và các làng ven sông Tô Lịch, đến mấy tháng mới có người chạy loạn trở về.
Bởi vậy, năm nay thay áo cho bố con ông Xuất cũng là thân thể làm ma khô. Vừa cải cát, vừa ma khô. Người đã khuất được ngậm cười mà vợ con cũng mát mặt với làng xóm. Ai cũng khen bà Xuất khéo thu xếp việc nhà.
Đám ma khô ông Xuất và anh Cả theo được đủ lễ, có phát tang và cả nhà sô gai như người vừa mới mất. Ngoài sân, che cót bắc rạp, hai góc hè, ngả tre vào làm giá cỗ chồng sáu, cao một với tay. Dưới nhà ngang đèn quang treo đến khuya, tận bờ chuôm vẫn sáng như nhà trên.
Gian trong ngồi đám phường kèn già nam đón được tận Sống Ốc ra. Khách tới viếng, hàng phường cất lên tiếng kèn ai oán. Quá nửa đêm, đến lúc phường kèn bắt chước chim kêu gà gáy ỷ eo. Thế là gia chủ biết hiệu dọn rượu mời ăn uống rồi nghỉ. Sáng hôm sau, tiếng kèn lại nỉ non. Từ sớm, Nghĩa chít khăn sô đại tang, chống gậy tre, đứng bên trái ban thờ, lễ đáp suốt buổi. Bà Xuất và Ngát khóc khản đặc cả tiếng.
Được giờ, nửa đêm một đám người giong đuốc ra đồng. Hai ngôi mộ đã đào sạch đất lộ nắp ván thiên. Một mình Nghĩa được xuống huyệt trước mở áo quan. Nghĩa xắn tay áo nhấc từng chiếc xương ra. Mả chôn đồng cao, lại gặp mùa cạn, xương cốt sạch khô như ngói. Mấy người xúm lại đỡ tay cho Nghĩa, đưa xương lên. Rồi cọ từng ngóc ngách đầu lâu, đến khấc xương cổ, xương sống, ống tay đốt chân. Nước trầm thơm tẩm rượu thay mấy lượt, bộ xương được đặt lại vào tiểu sành khéo và đúng chỗ như xương của người lúc sống.
Rửa đến xương anh Vấn, Nghĩa khóc, nước mắt tuôn ròng ướt đẫm hai ống tay áo. Anh ơi, anh đây ư? Chiều chiều ra đứng ngõ trông. Ngõ thì thấy ngõ, nhưng không thấy người. Ai làm nên nông nỗi đau đớn ấy. Lạy anh, anh sống khôn chết thiêng...
Ông Tư trên Ba Trại xuống từ mấy ngày trước. Hôm Nghĩa trông thấy bố, Nghĩa mừng rưng rưng nước mắt. Nhưng rồi Nghĩa lại tíu tít vào mọi việc. Nghĩa bây giờ là đầu đàn trong nhà. Lắm lúc, ông Tư quên cả nó là con gái út của mình. Nhưng mỗi khi chợt nhớ, ông lại ngậm ngùi thương đứa con số vất vả.
Ba hôm, đã vãn khách người làng. Những chiếu xóc đĩa xúm xít sát phạt thâu đêm đã được cuốn lại, giã đám. Trong nhà, chỉ còn khách xa nấn ná chưa về. Ông Xuất vốn quảng giao, trước kia người tứ xứ vẫn cơm ngang khách tạm quanh năm. Bốc mộ ông, khách đến viếng đông chẳng kém xưa kia khi có động thớt, bà con trong họ ngoài làng kéo đến làm giúp. Mà thật chẳng ai rõ đấy là bạn chơi hay là hội nghĩa. Kể cả bọn chánh lý cũng cứ mang máng thực hư thế. Nhưng lão lý trưởng làng này, lần nào chỉ mới nghe mong manh giặc Tây, giặc khách cả nhà cũng đã chạy rồi. Còn phó lý thì là người của ta, hôm ông Xuất kéo quân lên Cống Vị, ông phó lý quan làng cũng vác thùng lùng đi trong đám quân nghĩa.
Phải lúc tao loạn, việc quốc sự ở đâu cũng bàn như công chuyện làm ăn. Nước có yên, việc nhà mới gọn được, người ta nghĩ thế. Mà chỉ có ở đất Kẻ Chợ này đã bao năm liên miên bối rối, lắm lúc ngẫm nghĩ, không biết đi đằng nào.
Vua quan cầm cân nẩy mực bây giờ, người thì ra mặt theo Tây, người thậm thụt đi kết bọn nuôi cướp, lại mở cửa hàng buôn với khách hội quản Hàng Buồm, người thì nằm nhà, nghe hơi tiếng súng ở đâu đã run như cò gặp bão. Nay Tây bảo điều đình, mai Tây lại đánh cho chạy cong đuôi.
Thằng Tây ở đâu đến, càng ngày càng nhiều, nhâng nháo ở đất người ta như nhà nó. Tây trắng đi giày ống, Tây đen mặc váy trắng [14] , Tây cố đạo áo dài thâm, áo dài trắng lướt thướt lêu đêu như ma cây gạo, hết sức nhố nhăng, lại thêm lính khách Cờ Vàng, lính Xạ phang đội nón cói, lính đạo mặc áo khách đen, suốt ngày la cà dò la đánh hơi, muốn vào nhà ai khuân của ra cũng được.
Giặc sờ sờ đấy, mà các quan cứ trơ mắt ếch. Ông Thống đóng quân thủ hiểm trên rừng Hưng Tuyên. Ông Lưu bên Tàu sang làm quan cho ta mà quá sang làm giặc. Quân ông Lưu chui lũy vào làng nào, đến lúc quân trảy, cả làng phải ra khuân của các ông lấy đi theo.
Đi với ai bây giờ cho yên thân. Chẳng biết thế nào, mỗi làng lại chỉ biết làm sai giữ được trong khoanh tre thăm thẳm một mình ấy. Làng nào cũng buông kín ba lần cổng tán, lũy, hào nước. Có động ở đâu, thì câu liêm, thùng lùng, giáo mác vác ra.
Đấy là quang cảnh các làng miền Kẻ Chợ những năm nhiễu nhương.
Những người đến làm giúp nhà bà Xuất đã ăn thêm bữa cỗ vét rồi ra về từ trưa, hôm nay chỉ còn con cháu trong nhà phục dịch.
Ông Tư cũng ngồi vào mâm. Nhưng ông là người nhà, chốc lại đứng lên. Bà Xuất lên xuống gọi bưng mâm, lấy nước rửa tay, và cho khuân sẵn cả chục vò rượu ra bày trước thềm hè. Vẫn theo phong tục, đàn bà không ngồi mâm với các ông. Bà Xuất đứng hầu rượu, chắp hai tay, tựa cột, miệng nhai trầu bỏm bẻm.
Trong đám khách, nhiều người ở Cầu Giấy lên, trong Đăm cũng có người ra. Quan viên Kẻ Mảy quần áo xốc xếch như lái trâu đường ngược. Cái khăn tai chó vắt vai, nón bứa úp ngật ra sau lưng, đấy là các người ở Phùng xuống.
Đây không phải là những ai đã lừng tiếng hội nghĩa thiên hạ, những ông lãnh, ông đốc, như Đề Kiên Tây Tựu, Quận Chữ Hồ Khẩu, cánh quan gia ông Tự So bên kia sông Nhuệ. Bạn bè xưa nay của ông Xuất, đây là những tay chơi mà hầu như làng nào cũng có. Không xưng đề xưng lãnh, nhưng đâu có người dựng cờ, các ông kéo đến giúp một chân. Những ông đề, ông lãnh, ông thống nổi quân đều phải gọi đến những mặt ngang tàng này ở các nơi. Người đi thiên hạ đã lõi như ông Xuất chỉ mới được tôn đến chân “xuất” mà thôi. Cũng không phải ông tự đặt tên ấy. Mà vì ngày trước, có thời ông đi lính quan ta đã đóng chân xuất đội.
Tuy nhiên, những ông lãnh, ông đề nổi quân một vùng rồi cũng lắm người nản chí về đi cày, đi tu hay đi đâu mất, không ai biết. Có ông hăng hái bị vua quan tróc nã gọi là giặc, đóng gông giải vào kinh, cũng thật oan khuất. Những người như ông Xuất và bè bạn các làng hết đời bố đến đời con, từ ngày Tây sang, lần nào đánh Tây, mọi người đều có mặt. Các ông ấy là hàng trăm hàng nghìn con người đất Kẻ Chợ, những người nay đông mai đoài, những người thường ngày làm ăn ở các làng, mà đi trên đê, rồi xuống cánh đồng trông vào làng chỉ thấy những khoanh tre im lìm. Thế nhưng nhà nào cũng vẫn thủ con dao, mũi mác gác sẵn lên mái tranh. Ngày ngày, người ta vào khung cửi, đi đánh giặm, ra đồng bừa nốt đám chiêm muộn, mai mốt đâu có tin giặc Tây giặc khách lăm le, anh em về nhắn một câu, là hăm hở đi ngay. Các ông đến ăn giỗ nhà bà Xuất hôm nay là những người như thế.
Các mâm đã dọn ra đầy đủ, bà Xuất đứng cạnh cột giữa, có cả ông Tư và Đề Cụt vừa bước tới.
Bà Xuất chắp tay vái mọi người rồi nói:
- Các cụ đã có lòng thương về uống rượu thay áo ông con nhà cháu, xin các cụ tự nhiên cho.
Đề Cụt nhìn suốt mâm rồi nói to:
- Các quan anh bỏ lỗi cho đàn em thưa một lời. Xin các quan anh cho gọi chú Nghĩa em lên hầu rượu. Chú Nghĩa nhà em, tháng trước đây, chân tay không mà bóp cổ chết tươi một thằng lõ ở Đồn Thủy, ngay trước mặt đàn em này. Rồi suốt đêm chúng em ngồi xem Tây nháo nhác đổ đi tìm nhau.
Mọi người đương ồn ã bỗng dừng đũa, nghe chuyện Đề Cụt, rồi quay lại tìm Nghĩa, gọi Nghĩa: lên đây, lên đây. Có người kêu lên vì không ngờ, bấy giờ mới để ý, mọi khi thấy Nghĩa như trẻ con. Nghĩa đương bưng liễn nước suýt, lúng túng, không biết nên đi lên hay lùi xuống bếp. Bà Xuất cười, đuôi mắt nhăn nheo ứa nước mắt: “Con ơi! Các cụ đã dạy, con lên mời rượu các cụ. Thưa các cụ, cái lúc ấy nhà cháu cũng có ở đấy. Cứ kể đến bác đồ tể vật bò cũng không nhanh bằng”.
Bà Xuất bước ra kể rành rọt - có lúc vui chuyện, còn làm hiệu giơ tay, cúi xuống, cho người như trông thấy những điều Đề Cụt vừa nói. Câu chuyện càng ngọn ngành rùng rợn hơn lên.
Rồi bà Xuất nói:
- Ấy thế mà đến lúc nó ôm cái đãy không về, mặt cứ như không, còn nói con vứt xuống sông rồi như ta dọn đống rác ngoài vườn. Chịu cái gan con cái nhà!
Ông Tư lặng lẽ vào bàn thờ, rút sáu nén hương mới, châm lên bát nhang ông Xuất và chỗ bài vị anh Vấn rồi chắp tay, ngẩng mặt lên lầm rầm khấn.
Một bác nói tiếng Cổ Nhuế nặng trịch, cười hể hả:
- Thế là chú theo đòi anh em được. Lại còn hơn bố đấy. Con hơn cha nhà có phúc. Từ giờ ta gọi nó là Xuất Nghĩa. Xuất Nghĩa, mày cứ kéo cờ lên, cả ba làng Noi chúng ông ra theo mày.
- Xuất Nghĩa! Xuất Nghĩa!
- Cái trí lự của bố con ông Xuất tôi bây giờ lại được ông Tư vốn nòi đánh Tây đã dấm tận đường ngược đưa về. Thế này thì phúc đức lắm. Trên rừng người ta bắt hổ bắt báo chán tay bây giờ xuống đánh đấm cái thằng mũi lõ này có thấm tháp vào đâu, phải không các cụ?
- Phải, phải. Được rồi.
Một cụ đã già lọ mọ, râu tóc bạc phơ mà làn da nhăn nheo vẫn đỏ lịm - nghe giọng nói trong Mễ Trì.
- Phải, con ạ. Con cứ phất cờ lên. Quân các nơi về thì ối. Gọi một tiếng, đuổi đi không hết. Tha hồ kén.
Đám rượu lại ồn ào dần.
Đề Cụt nói:
- Các quan anh ạ, nhất quyết ta giập cho nó một đòn hôm khánh thành Trường Tây. Các bác cháu ngoài ấy cũng bảo thế. Phải vậy không, bác Bếp? Cho nó một trận, chư vị nghĩ thế nào? Anh em tôi ra đấy đã cả năm nay, thông tỏ mọi ý ăn nhẽ ở của quân chúng nó rồi. Đến hôm nào nó đắp xong đường cái, các quan Tây ra đặt chức lãnh sự thì nó làm hội khánh thành, hội to lắm. Cái thằng Tây này thâm. Nó muốn làm cho cái đất tha ma Trường Tây phải tiếng tăm bằng mấy đất Kẻ Chợ kia.
- Sao bảo nó còn phải xây mấy năm nữa mới xong?
- Nó đang thúc các quan ta để đất trại lính nó lấn ra tận ô Tràng Tiền [15] .
- Nó chẳng đương đẵn tre phá lũy đến ô Tràng Tiền đấy sao?
- Nếu không cho làm thế, nó cứ ở ỳ Trường Thi. Sang năm không mở được khoa thi [16] , các quan tỉnh đến phải gông đóng chóng mang giải kinh chứ chơi đâu.
- Thế là cho nó ra.
- Chẳng cho mà được!
Đề Cụt nói:
- Tôi nghe cuối năm Tây đóng ở Trường Thi dồn về hết Đồn Thủy.
- Đấy, đấy, cho nó trận giáo đầu này mà hay.
Bác Bếp Chính đứng dậy, chỉ nói một câu:
- Ta đánh nó bây giờ là phải hơn cả, các quan ạ. Tôi đã có hội quân với các nơi rồi.
Ai cũng biết bác Bếp là người hội nghĩa ta lọt được vào chân nấu ăn cho Tây ở Đồn Thủy. Bác đã nói thì đích xác. Chưa ai biết bác nói: “phải hơn cả” là đầu đuôi thế nào, nhiều người đã nói theo: phải, phải đấy.
- Tôi xin bàn với các cụ...
Khuya lắm, công việc đã sắp đặt xong, mà mọi người còn lào xào bàn tán. Ai nấy một lòng thế nào phen này cũng ra đánh Đồn Thủy. Kế hoạch nhất định đánh vào đêm nó hội khánh thành. Nghĩa nghiễm nhiên được ngồi bàn với mọi người. Nghĩa ngượng nghịu ngồi ghé đầu phản. Nhưng ai cũng cứ nhìn Nghĩa thật kính nể. Nghĩa ngại, chẳng nói được câu gì. Giữa các cụ và những tay tứ chiếng ngang dọc đương hăng hái, Nghĩa chỉ nhớ lại mình những ngày còn để chỏm, con cón đeo dao theo người lớn đi rừng. Nghĩa không thấy đáng được tài giỏi gì cả. Gặp con thú ác sắp ăn thịt mình, mình phải tìm cách triệt hạ nó mà thôi. Từ thuở còn bé, đã được dạy ai người đi rừng gặp hổ, gặp gấu thì làm thế nào, lừa nó thế nào, đánh thế nào... Trèo lên cây... Giả chết... Bóp cổ, bám vào nó... Chỉ có dạy đánh không có dạy chạy. Rồi Nghĩa lại miên man nhớ một năm. Tháng Giêng năm ấy, chị em đi hội đền Thượng trên núi. Nghĩa mặc Mường, khăn vuông trắng, váy chàm, yếm thêu. Bọn trai Mường đi hội, đuổi theo chòng ghẹo... Nhớ đến mà sao như giấc ngủ mê.
Nghĩa đứng dậy, xuống bếp bưng nồi nước chè tươi.
Từ lúc đám đàn bà con gái cơm nước dưới nhà ngang xong. Gái vào bếp ngồi đun nước. Cái que cời đẩy rơm liền đến mấy nồi nước sôi. Lúc nãy còn các cô ríu rít chen vai ngồi vừa đun bếp vừa đùa, bây giờ đã đi nằm rấp đâu cả.
Mấy hôm khó nhọc hầu nước hầu tăm, ai cũng rời rã cả người.
Nghĩa xuống bếp thình lình. Gái đương chập chờn ngủ gật. Gái giật mình.
- Được nước chưa, cô?
- Sôi rồi. Vừa toan bưng lên.
- Để tôi bưng cho.
- Hượm, hượm nào...
- Sao?
Gái cười, hai má đượm hơi lửa, nóng bừng:
- Nhưng anh xuống thì nước lại chưa sôi.
Nghĩa thật thà hỏi:
- Sao thế?
- Sao trên giời ấy.
- Lại ỡm ờ rồi. Các cụ trên nhà đương đợi.
- Mặc ai đợi, còn phải đun cho chín chè mới được.
Nghĩa đã để ý từ sau hôm ở Đồn Thủy, còn mấy lần Gái về Nha, vẻ Gái đối với Nghĩa, khác mọi khi. Bây giờ Gái chỉ thân thiết nói trống không, Nghĩa bối rối nhớ cái đêm ghê gớm ấy ở Đồn Thủy. Gái tựa vai Nghĩa, trong gian nhà âm thầm, ngoài đường rầm rập vó ngựa lính đi lùng. Gái ứa nước mắt. Nước mắt Gái thấm ướt một bên vai áo Nghĩa.
Nghĩa loanh quanh cạnh ổ rơm, toan bước vào bắc nồi nước. Nhưng Gái đã ngồi chắn mất lối.
Chợt có tiếng ngoài sân, nói vào, hốt hoảng, thất thanh:
- Mẹ gọi đem nước lên, anh Nghĩa ơi!
Tiếng Ngát choang choác, the thé. Mẹ bảo Ngát xuống giục hay Ngát vẫn đứng rình đâu đấy. Tiếng Ngát nói như sắp khóc. Chỉ thấy trong ánh lửa rơm vừa bùng lên, mắt Gái óng ánh, miệng nửa tủm tỉm nửa phụng phịu nhìn Nghĩa, như không nghe tiếng Ngát giục.
Nghĩa bưng nồi nước qua sân.
Ngát vẫn đứng nguyên ngoài bóng tối, hỏi:
- Có mỗi nồi nước mà xuống lâu thế?
- Bây giờ nước mới sôi.
- Nói điêu!
Rồi Ngát ngoảy đi vào nhà ngang.