TẾT MÙNG NĂM THÁNG NĂM BẬN RỘN ĐẾN NƠI.
Từ chiều hôm trước, trẻ con đã rủ nhau đi hái mận, lấy dừa về để một góc nhà. Chập tối, bọn con gái đi ngủ - cả trẻ con nữa, giã lá móng rồi lấy mảnh lá dừa quấn vào mười ngón tay mười ngón chân. Sáng ra, cởi lá, thấy móng tay móng chân đứa nào cũng đã đổi màu hoa hiên. Nhuộm hai đêm thêm, đỏ thậm như phết cậy.
Ngát không còn ở tuổi trẻ con náo nức đợi tết mùng năm. Nhưng Ngát vẫn nhuộm móng tay, móng chân. Lại nhuộm răng sẵn từ đầu tháng, “Để đến mồng năm ăn mận khỏi ghê răng” - Ngát nói nghịch ngợm thế.
Và trong nhà, một mình Ngát mải lo sắm cho các cháu các thứ Tết. Từ mờ đất, cả mấy đứa đã bị dựng dậy. Chúng nó cũng chỉ chờ thế, không hờn, không nằm lăn lóc ngái ngủ như mọi khi. Cô Ngát vừa quát “Trỗi! Trỗi!”, thằng bé lên năm nhỏ nhất đã ngóc cổ, hỏi: “Tết rồi a, hả bá?”. Ngát cõng từng đứa ra sân. Chúng nó đứng cởi truồng trùng trục. Rồi Ngát xách cả bà bình vôi đến. Ngón tay làm chìa, Ngát khoanh một vòng vôi tròn quanh bụng rồi lấy hồng hoàng chấm một vết đỏ son giữa rốn mỗi đứa.
Những đứa trẻ đứng tây ngây cho cô vạch vôi và phết hồng hoàng vào rốn, không sợ. Chúng nó đã biết sau đấy thì sắp được ăn nhiều thứ bà Xuất vừa bê từ trong nhà ra. Cả rá mận chín vàng chín tím, một buồng dừa nước, một chõ rượu nếp dỡ ra rá. Người lớn đã bảo bôi những thứ ấy tha hồ quanh năm ăn quả chua cũng không đau bụng, tháo dạ.
Bà Xuất đeo vào ngực cho mỗi đứa một túm bồ túi [13] .
Mỗi chùm bồ túi có một chiếc vòng chỉ ngũ sắc, đeo lủng lẳng quả đào, con nhện tết chỉ vàng chỉ đỏ, óng ánh một mảnh khánh vỏ trai, lồng mấy hạt bột xâu chỉ điều tỏa lủa tủa xuống.
Đứa nào cũng hớn hở. Cứ cởi trần, rốn khoanh trắng chấm đỏ thế, chạy vào xóm tìm nhau, kéo bồ túi ở ngực lên khoe đứa nào nhiều thứ hơn. Đến nhà ai cũng được chén thả cửa những mơ, mận chín. Nước dừa được bật chũm, ngửa cổ nốc cả quả, lại chén từng bát rượu nếp ngọt đến say lư đừ.
Ngát vào bảo Nghĩa:
- Hôm nay nghỉ dệt cửi.
- Cô bắt dệt cửi ngày Tết a?
Ngát cười:
- Nhưng bắt anh làm giùm việc khác.
Hôm trước, những cử chỉ và cách ăn nói táo bạo của Ngát, lúc ấy có cả Gái, đã làm Nghĩa hốt, bây giờ lại nghe Ngát nói lửng lơ, Nghĩa đâm lo.
Nghĩa nhạt nhẽo, dè chừng:
- Anh đã phải trèo cây lấy lá móng rồi.
- Không đâu, còn đi hái lá mùng năm nữa mới là hết Tết.
Nghĩa chẳng muốn đi với Ngát hái lá mùng năm. Nhưng rồi hết buổi sáng, rồi đến khi bụi tre ngả rợp vào trước nhà, mặt trời đã tròn bóng dưới chân, Nghĩa vẫn phải đi, vì Ngát giục giã quá.
Đúng ngọ, người trong xóm kéo nhau đi hái lá mùng năm. Các cụ bảo trưa mùng năm tháng năm, con thằn lằn đương bò trên bụi ruối tìm ăn quả cũng phải trốn biệt - đố ai thấy được con rắn trưa ngày mùng năm. Có trông thấy không, nhưng người ta cứ tin không thấy. Rồi giữa trưa nắng, người đi các bờ bụi lá cúc tần, lá sam sọng, lá vối, lá tre, lá ké, gặp lá gì hái lá ấy đem về phơi để nấu nước uống. Tin như thế thì quanh năm khỏi lo bệnh tật quấy nhiễu.
Ngát đi phía nào, Nghĩa theo. Nghĩa cầm rổ, Ngát hái. Lá bưởi, lá tre, lá ruối...
Hai người chuyện bâng quơ.
- Hôm ấy, anh Nghĩa nói với chị Gái nhiều chuyện nhỉ?
- Chẳng có chuyện gì đâu!
- Em nghe được hết rồi.
- Chị ấy về có việc thưa với mẹ chứ chẳng có chuyện gì với chúng mình cả.
- Không phải.
- Thế cô biết thế nào?
- Chị ấy bảo chị ấy...
Nghĩa nói chặn:
- Cái gì cô cũng hay nói dựng đứng.
Ngát bĩu môi.
- Thế không phải mà sao đến hôm nay anh còn thờ thẫn như người bị ma ám, hồn vía treo lên mây cả rồi. Cứ buồn mặt chảy cứ nãi ra, từ nãy chẳng hái đỡ em được mảnh lá nào. Có phải thế không?
Nghĩa mỉm cười thương hại. Giữa trưa nắng chang chang, nghe rõ cả tiếng con cánh quạt ró ráy trong chùm quả ruối vàng mọng. Ngát quay lại, bỏ nắm lá vào rổ, hai má chín rừ, mồ hôi lấm tấm từ chỗ đường ngôi tóc rẽ giữa chảy xuống trán. Ngát lại hỏi: “Có phải thế không?” Rồi Ngát vừa hái, vừa nói, chốc lại quay lại, bỏ lá vào rổ, vịn tay lẫn lộn cái thành rổ với nắm tay Nghĩa.
- Nhưng em không bằng lòng thế đâu!
- Cô bảo gì?
- Anh lại giả vờ điếc, khéo thế. Hay anh điếc thật, anh ăn phải bùa mê chị ấy rồi à?
Câu chuyện quanh quanh rồi gay dần. Phải gỡ cái khó khăn này ra mới được.
Nghĩa nói:
- Cô Gái về thưa với mẹ chúng mình về ngày giỗ bố giỗ anh tháng sau.
Ngát bỗng tức mình:
- Bận gì đến mà anh em cô ấy phải lo!
- Không, anh Đề Cụt nói muốn nhân dịp ấy hẹn các nơi về nhà ta.
Nghe vậy, Ngát hiểu ra câu chuyện quan trọng khác. Ngát lặng lẽ hái lá, không nói nữa. Một lát, nhìn ra đằng bờ giếng, đã thấy có người đội thúng lá về xóm. Ngát kêu:
- Nắng quá trưa rồi, không hái được nữa. Mình về thôi.
Câu chuyện Nghĩa vừa nói cho Ngát biết vẫn còn làm Ngát nghĩ ngợi, lặng lẽ. Ngát vốn tính nhẹ nhõm, chẳng mấy lúc yên miệng. Bây giờ cô bé đi một quãng mà không nói. Mỗi khi có việc dính đến quốc sự, luyện võ, rèn dao, quảy mã tấu đi giao hội nghĩa làng nào, Ngát lại nghĩ đến cái chết của bố và anh. Hình như còn mặt thằng Tây ở đây thì chưa ai làm gì yên được. Thằng Tây đã sinh ra bao nhiêu chuyện độc ác. Bây giờ ta đứng với nhau đây, chốc nữa có phải xa cách tận đâu, cũng chỉ vì một thằng ấy. Ngát hay băn khoăn đôi lúc buồn, và nghĩ tự nhiên như vậy.
Hai người ngồi nghỉ dưới bụi tre. Những gốc tre nhẵn nhụi, sạch sẽ như hàng người chen chân đứng liền khít, ngay bên đường. Cái xóm vắng ngủ thiu thiu dưới nắng trưa. Lúc ấy Ngát cũng vẫn lặng yên, mặt đăm đăm. Ngát lại nghĩ bố và anh chết trận trên Cống Vị. Ngày giỗ, anh Đề Cụt sẽ hẹn người hội nghĩa các nơi về. Anh em anh ấy chẳng khác ruột thịt với mình, bấy lâu cùng lo mọi việc trong nhà. Chị Gái cũng như anh Đề Cụt. Chị Gái chị ấy về vì công việc thôi. Chị Gái không tình ý gì với anh Nghĩa đâu. Ta chẳng được tưởng ra điều xằng ấy.
Nghĩ vậy, Ngát liếc nhìn Nghĩa, cảm thấy yên tâm lạ thường. Tự nhiên, không phải là hờn dỗi, không phải đêm mong ngày nhớ, lúc này tưởng như anh Nghĩa với mình số kiếp được làm người đã run rủi thành vợ thành chồng. Hai vợ chồng rồi ra đứng đảm đương cáng đáng việc nhà, lo báo thù cho bố cho anh. Ngát lại bùi ngùi cảm thương. Ngát thấy bịn rịn, Ngát vịn vai Nghĩa, hai người cùng đứng dậy.
Ngát vẫn lặng yên trở về. Nhưng Nghĩa không hiểu được những ý nghĩ thấm thía ấy của Ngát. Thấy Ngát lầm lì, Nghĩa tưởng Ngát lại có điều mới bực bội thế nào đây.
Một hôm, bà Xuất đi với Nghĩa ra Kẻ Chợ xuống Đồn Thủy.
Con đường đất quanh những bờ tre men hồ Tây vào làng Thụy sang Yên Quang rồi lại vẫn theo lũy bờ sông Tô Lịch đến tận ô Hàng Cau, ô Hàng Mắm - qua cửa sông phố xá hàng quán sang đò đình Thanh Hà đầu ô Tây Long đến Cổ Tân tới Đồn Thủy, - đâu đâu cũng vẫn xanh rờn lũy tre thấp thoáng vây quanh.
Nhưng ngay trong Đồn Thủy bây giờ thì tre pheo lại xơ xác không còn gì. Chỗ nào cũng chỉ thấy hang hốc đào bới như trên bãi tha ma tháng trọng đông đương cữ táng mả. Chốc chốc, một toán lính Tây đeo súng đi trước đi sau dẫn phu ra vác đá. Cả đến những đám thợ xây, thợ mộc làm nhà cũng có lính kèm. Lính gác và bờ rào che chắn cứ đẩy ra thúc vào, có hàng mấy trăm con người chạy đói chạy lụt từ mọi nơi đến suốt ngày vùi đầu làm kiếm miếng ăn. Thợ đá So Sở núi Thày ra đẽo đá bó thềm, đầm chân tường. Các làng bên sông, bao nhiêu năm liền đê vỡ nước ngập lút ngọn tre đến nỗi cả một vùng tỉnh Bắc tỉnh Đông đã hóa ra bạt ngàn bãi sậy. Hôm nào còn thấp thoáng cái lều vó, bây giờ chỉ thấy từng đàn le, đàn cốc lượn vòng trên mặt nước mênh mông. Người đói khát bao nhiêu nơi kéo đến tìm cái sống qua ngày ở Đồn Thủy...
Vừa đến Bến Đá đầu làng Cổ Tân trông sang đền Ghềnh bên kia sông, đã rối mắt cảnh ngổn ngang chưa từng thấy. Cái Bến Đá đã quang hẳn những bụi lau sậy um tùm. Trước kia, chỉ đến giêng hai trảy hội đền Ghềnh mới có đò ngang cả ngày. Bây giờ gỗ, đá, gạch ngổn ngang khắp các làng Cựu Lâu, Hậu Lâu tan hoang - hai thôn đã bị triệt hạ để làm bãi kho. Một hàng thuyền đại chở gạch từ bến Bát Tràng ngược sang. Những bè gỗ dài như cả chặng rừng trôi sông cạnh những thuyền đá hộc, đá sỏi, nhấp nhô trần trụi xám như tảng đá. Những người đóng khố một ngạt cổ cắm cúi kéo bè đi dọc bờ.
Lũy tre các làng xung quanh đã bị chặt hết. Bây giờ vào Trường Tây phải qua những đống đá, những ụ sỏi cát bề bộn như bàn cờ. Đứng lại, mới nhận ra cạnh các lối đi, chen chúc những mái lều thấp lè tè, lổm ngổm như cóc ngồi. Đấy là các quán hàng cơm, hàng cháo, có cả lều thầy bói. Phu mọi nơi đến làm phải sớm đi, tối về, rồi ra ngủ trọ tận cửa sông Tô Lịch trên Hàng Buồm.
Trong kia, trông thấy nhô lên những dãy nhà, các nơi ở ta chưa thấy kiểu nhà nào thế ấy. Nhà nhà đều nhau tăm tắp, cái nào cũng vuông như bát xôi nén. Mỗi hòn ngói đỏ hoe to bằng tờ giấy phóng, cả mái ngói đỏ ối. Nửa nhà lửng tầng dưới như nhà sàn. Có lẽ để phòng nước sông Cái lên tràn vào mà vẫn ở được. Nhà trên, cửa sổ sơn xanh rợ mắt, mở trống trếnh cả bốn phía, bốn mặt tường đều khoét lỗ lấy chỗ ghé súng bắn ra được.
Bấy giờ, vừa tan buổi làm, người ùn ùn đi ra. Làm thuê cho Tây cũng khác đời. Hết buổi, Tây xem đồng hồ rồi ra thổi kèn đuổi người về hết. Sớm mai lại đến chầu chực ngồi ở các hàng quán hay lê la ngoài bờ rào, đợi kèn gọi mới được vào. Ngày nào cũng thế.
Loáng mắt, người đi cung cúc từng bọn đã tản vào các làng quanh đấy hay sang đò ngang lố nhố giữa sông. Cả vùng lại vắng ngắt. Mấy người Tây thấp thoáng trong Đồn Thủy, đi dạo hay đi canh không biết. Trông xa chỉ thấy đầu mũ trắng phếch, tròn như cái nấm ma. Lại cũng như bọn người sô gai mũ mấn đại tang, cứ lặng lẽ bước tới bước lui.
Bà Xuất và Nghĩa đứng nhìn quanh. Rồi mới nhận ra chỗ này đã đến bờ sông gần Đồn Thủy.
Bà Xuất hỏi một người đương đi tới:
- Bác ơi, bác có biết hàng cơm anh Đa Cụt chỗ nào không?
Người ấy trỏ tay:
- Đằng kia, cái lều cạnh cây đa con con ấy.
Lều hai gian, một gian trổ lối ra vào, ban ngày dựng phên lên thành cửa hàng. Chiếc chõng dài, có lẽ vẫn những chiếc mâm chõng quán thịt chó trên Ba Cây Đề vác xuống đây. Nhà vừa lạ mắt, cũng vừa bề bộn các thứ đồ nghề quen thấy ở mọi hàng cơm. Áp vách, có một thúng chân gà, cái vàng chóe, cái nhợt nhạt, cái xám xì. Ở đâu ra lắm chân gà thế? Không phải thịt gà cả con mà chỉ rặt một giống cẳng gà thôi.
Trông thấy tay anh Đề Cụt, cả mặt nhày nhụa vết mỡ gà. Anh đương ngồi cầm từng chiếc chân gà, cắn mớm vào răng rồi xé dứt ra. Xương cho vào một cái mẹt, gân và da gà để trong rá cũng bày cả trước mặt. Gian trong kín đáo, nồi nước luộc chân gà còn đương bốc khói.
Trong vách khuất, Gái đương ngồi xay bột làm bún.
- Ơ kìa mẹ đã ra. Cả chú Nghĩa nữa.
- Lạy mẹ, lạy anh ạ.
Rồi Đề Cụt đứng cắt nghĩa ồn ào cho bà Xuất và Nghĩa nghe.
- Thằng Tây sợ thịt chó, thế là nó cấm người ăn thịt chó. Ai bán thịt chó nó ra đốt lều. Đốt mấy cái rồi đấy. Bây giờ người ta thôi bán thịt chó. Vậy mới phải xoay ra cái mặt hàng khó nhọc này. Những của này Tây không nuốt được, vứt đi, mình nhặt về ăn vậy. Mà Tây thì thằng nào cũng sún răng, chẳng gặm nổi cái chân gà. Nồi này luộc lòng lợn. Cả đến lòng lợn quý thế mà Tây cũng không biết ăn. Từ gà gáy sớm mai đã có người đến đợi buổi làm nên phải dọn hàng sớm. Lúc thì bún, lúc thì cháo đặc như bánh đúc. Cháo sụn chân gà, lòng lợn với bún chấm tương, thêm vài bát rượu đưa cay. Cả lò thằng Tây cũng không biết chén ngon bằng mình!
Chập tối, đã im ắng hẳn. Vào giờ này, không còn ai ngoài các phường còn được vào lai vãng quanh. Mà người uống rượu ở đây cũng khác. Chiều tan việc, từng bọn phu làm đồn đổ vào các quán, gọi rượu bát. Cứ cầm bát uống đứng như người khát nước. Cạn bát, chùi mép bước ra chen chúc giữa đám người lam lũ qua. Bụi mù mịt đỏ cả vùng trời chạng vạng ven sông.
Có tiếng gọi ngoài cửa:
- Ông chủ ơi, nhà có khách à?
Đề Cụt nói với ra:
- Mời bác vào.
Một người đàn ông đã đứng tuổi, chững chạc mặc áo đũi năm thân nhuộm màu cậy. Người ấy nhấc chiếc bị cói trên vai xuống.
- Chào cụ, chào chư vị.
- Mẹ em và chú nó trong quê ra chơi.
Người ấy lấy trong bị ra từng bó như bó đũa, toàn cẳng gà còng queo. Vừa đặt xuống vừa nói:
- Cụ ra chơi chắc phải nực cười. Ấy, mang tiếng ở nơi chân giày chân dép mà chúng cháu bây giờ toàn đi nhặt những cái của Tây quăng đem về gặm lại. Thế có sướng không ạ? Vậy mà các chú khách Hàng Buồm cũng còn xuống mua hớt. Chúng nó đem về bóc lấy da lấy sụn, nấu canh nấm hương bán cao lâu đấy ạ.
- Cái ăn thì người khách người ta khéo bày vẽ lắm.
Rồi bà Xuất chặc lưỡi:
- Chỗ ấy... phải đến hàng mấy chục con gà.
- Mỗi ngày các trại chúng nó ăn hết hàng trăm, hàng mấy trăm con.
Người đem chân gà bán cho Đề Cụt đã ra khỏi. Đề Cụt nói với bà Xuất:
- Bác ấy làm nhà bếp trong trại Tây.
- Thảo nào, có chân gà bán.
Đề Cụt nói nhỏ:
- Bác ấy cũng người bên ta.
Bà Xuất ngạc nhiên:
- Vậy ư?
- Vâng, phải thế mới được ạ.
Trời đã chiều hẳn. Nghĩa ngủ lại đây. Gái mừng luống cuống, xay bột một chốc lại đứng dậy, không ngồi chỗ nào yên. Anh Đề Cụt đã buông cánh liếp cửa hàng, kéo chiếc chõng lui vào trong. Bà Xuất đến cạnh liếp làm bún với Gái. Nghĩa đẩy củi, nổi lửa đun nồi luộc lòng lợn. Mọi việc sửa soạn cho buổi hàng sớm mai. Trong nhà ấm áp hẳn lên.
Đề Cụt lại vừa tước xương gà, vừa chuyện bông lơn:
- Chốc nữa, anh với chú nhắm rượu chân gà. Nếm xem. Ngon đáo để. Chân gà luộc giòn ngon bằng mấy vó bò, mấy tai lợn chấm tương gừng. Tới nay anh em mình phải túy lúy một bữa. Lâu lắm, từ cái ngày trên Ba Cây Đề.
- Năm ấy, anh còn là anh Đề.
- Ờ ờ... Bây giờ là Đa, mai kia không biết chừng là Gạo, là Vối...
- Để em làm đỡ anh một tay.
- Chẳng cần. Không bận đâu. Chẳng ma nào vào hàng lúc này nữa. Chỉ còn đến lượt mấy thằng người trong trại ra trèo lên thắp đèn quanh bờ rào, thế là đêm hết người qua lại.
Những con đường thành hình quanh mỗi khoanh nhà. Ngôi nhà công sự một tầng, vừa ở vừa phòng đánh nhau, tường dầy ba bốn vì gạch, lỗ châu mai chi chít như lô cốt. Bây giờ cả vùng Đồn Thủy không còn lũy tre. Chỉ thấy mọc lên những cây ca cao lá lăn tăn như lá chua me. Tây đem giống ở đâu về, cứ trước nhà trồng mỗi cây, người làm đường gọi là cây me Tây. Vào mùa hè, hàng đàn ve sầu kêu ra rả suốt tháng trong những chòm hoa đỏ nhức mắt. Gió sông như táp lửa lên, cái nóng càng oi nẫu người ra.
Từng tốp lính đi quanh các đầu nhà thắp đèn. Một người Tây vác súng, hai người lính đạo khiêng bằng đòn ống một thùng sắt vuông đựng dầu Tây. Rải rác trên đường vào, cột đèn cắm ra tận cửa Tây Luông. Chỗ ấy dựng lên hai cây cột tre néo làm thay gióng, ngăn khu Trường Tây với cánh đồng làng Cựu Lâu. Trên lưng mỗi cột, treo một chiếc đèn bốn mặt lồng kính.
Trời đã nhập nhoạng. Bọn lính đến từng cột đèn, đặt thùng dầu Tây đấy. Một người trèo lên gióng tre, ôm xuống cái đèn kính. Người lính đứng dưới đã sắp sẵn gáo dừa múc đổ ngữ dầu vào phao hộp sắt. Rồi lại đặt đèn lên chỗ cũ, cài lại móc sắt cẩn thận cho gió sông đêm thổi đèn khỏi lắc lư. Đứng giữa bậc thang, người lính vung mồi rơm, vùi đóm lấy lửa rồi mở cửa kính, châm đèn.
Phía đường sang Cựu Lâu, sang Cổ Tân, những cột đèn được đặt cao hơn. Lính bắt đầu đi tuần một lượt dưới dãy đèn le lói rồi về thẳng. Cũng như mọi đêm, nơi các quan Tây ở trong nhà, thắp đèn đất sáng choang một chỗ, còn đi ngủ chỗ khác.
Trời đã sẫm hẳn. Phía sông Cái, lúc nãy mặt nước còn mờ mờ ngang bờ cỏ, bây giờ không còn trông thấy.
Đề Cụt ngồi ngoài nói vào:
- Cái Gái ra tra dõi cửa, tao đang giở tay. Nhớ cẩn thận, trông xem không có người rồi hãy ra...
Tuy anh thường dặn “đàn bà con gái ở đất giặc cướp phải cẩn thận, nhỡ một cái” nhưng Gái cũng không mấy lúc để ý, Gái ở Đồn Thủy đã mấy tháng, thường tối đến vẫn ra cài chốt cửa.
Lúc ấy, Gái trông ngược phía thằng Tây rồi trở vào ngay.
Gái nói:
- Có một thằng Tây đương đi ra.
- Phía này à?
Gái đoán:
- Chắc nó đi thắp đèn.
- Lính đã ra thắp đèn lúc nãy mà. Thôi để xem nó đi thế nào đã rồi hãy ra hạ cửa.
Bà Xuất chưa bao giờ trông thấy mặt thằng Tây. Tò mò cũng có, lại nghe có thằng Tây đương đi tới, đột nhiên bồi hồi nghĩ nỗi nhà, bà Xuất run rẩy vịn vách, hé mắt nhìn ra khe liếp.
Người Tây đội mũ trắng, áo trắng lôm lốp. Râu và bóng tối đen ngòm mặt. Xà cạp tím quấn bắp chân trên đôi giày đen cổ cao như móng lợn. Người cao lớn bước chệnh choạng, như say. Tây say rượu.
Người Tây đã đến ngay trước cửa. Lúc đầu nó đứng chững, rồi lòng khòng đầu gối, đi rúi vào cửa. Người Tây say đã trông thấy Gái đằng phía trong vách với bà Xuất. Nó bước lại, nhanh quá.
Đề Cụt đứng ơ, chưa biết làm thế nào.
Từ đằng sau, lẳng lặng, Nghĩa nhảy thoắt lên lưng người Tây say. Trong lúc tất cả còn bàng hoàng, Nghĩa đã đẩy nó vập mặt xuống đất. Hai tay Nghĩa móc thúc vào quai hàm nó. Đề Cụt, cả Gái, cả bà Xuất xô đến giữ hai cẳng nó đương giãy giụa. Không kêu được, không lật người lên được, cổ nó khò khè như rắn hổ mang phun. Rồi trong nháy mắt, cả người nó rúm lại, nhuôi ra, như con gà bị cắt tiết đúng huyệt.
Đề Cụt hỏi Nghĩa:
- Nó chết rồi a?
Nghĩa gật đầu, rồi buông tay, đứng dậy, mặt hơi tái.
Đề Cụt lật đật ra cửa lấy dõi chèn cánh liếp lại.
Ngoài trời đã tối thui.
- Chú làm thế nào mà... nó chết...
Một con cú, trên cây gạo đâu đấy, thong thả rúc từng tiếng. Bóng đêm rợn lên, sâu thẳm.
Gái chằm chằm nhìn Nghĩa, sợ hãi, rồi Gái đến chắp hai tay trước mặt Nghĩa. Không có Nghĩa lúc này, không biết sẽ ra sao... Nghĩa mỉm cười, cầm tay Gái. Bây giờ Nghĩa mới thấy tay mình run run.
Bà Xuất hỏi nhỏ:
- Cái thằng Tây này...
Đề Cụt nói:
- Đào lỗ chôn!
Nhưng rồi lại nói:
- Không được. Tiếng đào đất... mà chốc nữa nó thổi kèn ngủ, điểm thiếu người nó đi tìm.
- Làm thế nào?
Đề Cụt hỏi:
- Cái đãy của mẹ đâu?
- Đây.
Đề Cụt cầm chiếc đãy lên.
- Nhét nó vào đãy, đem bỏ xuống sông. Chúng mày ở nhà với mẹ...
Nhưng Nghĩa ngăn lại.
- Ngộ nó đến khám nhà, mà không thấy anh, không được.
Thế là Nghĩa xăm xăm vác cái đãy lên lưng bước ra. Đề Cụt cản lại không kịp.
Trời đã tối hẳn. Ngọn đèn dầu hỏa đầu đường nhấp nháy lẫn với hàng đàn đom đóm bay thành từng vốc lốm đốm, có lúc tạt đi như gió cuốn một vùng sao sa. Nghĩa bước thục mạng. Không gặp một ai. Từ đây ra Cơ Xá còn xa, nhưng tới bến Đá chỉ một quãng dốc. Chạy mấy bước xuống đã lút bóng vào trong cỏ tranh, không trông thấy người nữa.
Nghĩa đặt đãy, nhìn ra bến. Ánh lửa đóm lập lòe, rải rác mặt nước. Các nhà đò đương bữa cơm tối. Không trông biết được đông thuyền hay vắng, chỉ nghe tiếng trẻ con. Tiếng cười the thé, tiếng khóc hờn ê a vời vợi.
Nghĩa hỏi to:
- Đò nào sang bây giờ không?
Một tiếng khàn khàn nói vào bờ.
- Cơm nước thong thả nào, đi đâu vội.
- Bác làm ơn giúp. Sang sông em còn phải đi nữa cho được độ đường. Em trả thêm...
Tiếng nước óc ách, biết chiếc đò có người đương chèo đến.
- Mấy người?
- Có mình em thôi.
Đò đã chuồi khỏi bờ cát. Trời tối mờ trên mặt nước sang sáng. Một trời một nước mênh mang mù mịt như nhau.
Bác lái đò vui chuyện, cất tiếng hỏi:
- Cái gì mà nặng dềnh nghiêng cả thuyền thế? Lưỡi cày đưa sang Bắc à? Trên ấy làm mùa chậm nhỉ?
- Hàng đồ thô thôi.
Đò lẳng lặng trôi giữa dòng nước xiết. Ánh lửa các hàng đò thổi cơm trắng bến đã chìm hẳn vào sương đêm.
Nghĩa cười, nói:
- Bác muốn xem hàng em không?
- Tôi hỏi chơi thôi không thóc mách đâu, ông anh đừng ngại tần phiền.
Nghĩa vẫn cười:
- Em có sợ bác cướp đường đâu. Em bảo bác xem cho vui đấy. Hàng này hiếm.
Đến lượt bác chở đò ngang ấy chợt dạ vì câu nói khó hiểu của Nghĩa. Ở chốn sông hồ thời buổi này, đã quen với biết bao nhiêu chuyện khác thường xảy đến mà không thể mảy may đoán trước được, bác lái đò bình thản trở lại và lại tò mò hỏi:
- Hàng gì mà hiếm thế?
- Hàng Tây.
- Hàng Tây?
- Hàng thằng Tây ấy mà. Bác thổi bùi nhùi hút thuốc lên em mở đãy ra cho mà xem.
Bác lái đò với cái bùi nhùi huơ lên, vừa lúc Nghĩa huếch ra hai cái tai đãy. Đứng đẩy chèo, bác lái nhìn xuống ánh lửa lom đom thấy nhô lên cái đầu thằng Tây, gồ mũi nhọn trắng bệch, thò ra giữa một đám tóc râu lồm xồm.
Tiếng động chèo im hẳn. Người lái đò thì thào.
- Bác ơi, bác đem nó đi đâu? Nó chết chưa? Bác giết nó đấy à? Ôi giời ôi...
Nghĩa buộc đãy lại, vẫn thong thả dịu dàng gióng một như lúc nãy:
- Thôi, ông anh khỏi phải ra xa mà mất công. Cứ cho đò đến chỗ nước xoáy đổi dòng, em quẳng nó xuống đấy. Rồi ông anh quay đò cho em vào bến trên. Còn ông anh tối nay chịu khó sang nghỉ bến Đền, đừng trở lại bến Đá, Tây nó sắp ra khám đấy.
- Vâng ạ.
Tiếng chèo lại khoan thai. Nước vỗ óc ách đều đặn hai bên mạn.
Nghĩa trở về quán Đề Cụt, vai vắt chiếc đãy không. Trông thấy Nghĩa, bà Xuất mới tin là Nghĩa sống. Bà Xuất ôm Nghĩa, nước mắt bà đầm đìa. Nghĩa chỉ vừa bước vào, Đề Cụt và Gái bỗng thấy Nghĩa khác lúc nãy, khác hẳn mọi khi. Đề Cụt mừng rỡ đến đỗi cứ chắp tay cung kính như ngày xưa đứng trước mặt ông Xuất. Gái nhìn Nghĩa, thán phục và kỳ lạ, vẫn chưa hết bàng hoàng.
Gái bước lại, nắm cánh tay Nghĩa, gọi:
- Anh Nghĩa ơi!
Rồi không biết nói thế nào nữa.
Đề Cụt bảo:
- Các trại lính nó sắp đổ ra đến nơi. Nghe có cả tiếng ngựa nhốn nháo rồi.
- Tắt hết đèn đóm đi. Ta dọn cơm ăn thầm vậy.
Trong nhà tối mò, nhưng mọi người lắng nghe ra ngoài.
Gái ngây ngô hỏi:
- Anh Nghĩa làm thế nào mà nó chết ngay. Bóp mũi nó a?
Nghĩa phì cười rồi thì thầm:
- Ai đã đi làm rừng cũng phải biết miếng ấy để giữ mình. Bóp vào hầu đến con hổ cũng phải đứt hơi, huống chi con người. Cô Gái nghe này. Hai ngón tay này móc xương hàm, lại ấn chịt cuống họng. Chỉ một tí là nó tắc cổ chết nguôi ra đứ đừ. Có thế thôi.
Rồi Nghĩa lặng im. Lúc ấy, Nghĩa bỗng nhớ chuyện bảy tám năm trước, Nghĩa đã ở cả ngày với hai con hổ trong hang. Không hiểu sao, không biết sợ.
Đề Cụt ngồi lên, đi đến chỗ phên nứa bàn thờ treo gian giữa. Đề Cụt thổi nhẹ tàn than, châm nén hương rồi quỳ xuống. Một bàn tay chắp lên ngực, Đề Cụt lâm râm khấn: “Ông sống khôn chết thiêng, anh Cả sống khôn chết thiêng. Ta có người rồi... ta có người rồi...”. Đề Cụt cứ quỳ thế, cúi đầu một lúc thật lâu.
Tiếng gõ khẽ ngoài vách.
Đề Cụt áp tai vào phên nứa rồi hỏi nhỏ ra:
- Ai?
- Tôi đây.
- Bác Bếp à?
- Trong này anh em biết rồi. Giỏi! Giỏi!
Bóng người lại biến vào bóng tối.
Ngoài đường, từng tốp lính giong đuốc chạy qua. Tiếng vó ngựa phóng ràn rạt. Ánh lửa vung vào chập chờn từng cửa, lùng tìm xuống tận bến Đá - cả bến trên bến dưới.