BA NĂM SAU.
Con người chân chỉ cày cuốc xứ Đoài đã thành chàng trai canh cửi đất Kẻ Chợ. Chiếc áo nhuộm vỏ dà quê kệch sạm đen đã được đút nút vào vò từ lâu. Cái quần nâu bạc mới khi bây giờ là tấm quần chồi cạp buông lá tọa nhuộm vỏ xó màu hoa hiên. Tết đến, Nghĩa chít khăn lượt. Tóc tốt như tóc con gái, búi tó đen nhánh. Chiếc thắt lưng nhiễu hoa lý bỏ giọt lỏa tỏa bốn múi. Thật đây người đẹp trai nhất làng.
Nhưng có điều ý nhị mà không ai để ý. Nghĩa không mặc áo khách chiết tà như con trai trong làng bây giờ đương đua nhau sắm. Tứ thời, Nghĩa đánh chiếc áo năm thân rộng thùng thình, dải tết bê chèo. Nghĩa bảo quen mặc áo này từ bé. Kệ cho Ngát chế giễu. Bà Xuất cũng chiều, chỉ may toàn một kiểu áo cũ kỹ ấy cho Nghĩa. Bà bênh Nghĩa: “Thời tao còn con gái, đàn ông người ta quần áo chỉnh tề như thằng Nghĩa ấy. Bây giờ mới đua đòi nhố nhăng, khuy áo cài đưỡn bụng ra như chú khách phố Mới. Ấy như thằng Nghĩa thế mà hóa ra nền”.
Tấm áo năm thân tà vuông, dài rộng của Nghĩa, trai tráng vùng này chê kiểu áo ấy cổ. Nhưng Nghĩa mặc cái áo cũ kỹ ấy nom vẫn nổi. Áo chồi không chuội vỡ mịn nền hoa cau, hợp với khổ người hơi đậm của Nghĩa.
Nghĩa đi qua bờ ao, bước vào cổng tán. Vòm tre mát rợi suốt mùa hè. Cành ngả xòa mặt nước, cành vươn lên xanh mỏng mảnh như làn khói.
Nghĩa đi khoan thai. Vành khăn lượt đỡ búi tóc cao lên. Cái dải áo lĩnh mỡ gà năm thân, gió bay bay. Người đi vào giữa đường tre, nét mặt nhẹ nhõm như chú học trò đi nghe giảng ở nhà thầy đồ về, - chứ không ra dáng anh thợ cửi.
Ngát đứng bên cổng ngăn, tủm tỉm cười, hỏi Nghĩa:
- Ngoài xóm đương đồn anh Nghĩa sắp về đường ngược rồi.
- Ai mà nói điêu thế?
- Người ta bảo anh đòi mẹ may một lúc những mấy cái áo năm thân để anh đem về trên ấy anh mặc dần.
Nghĩa biết cô em nói trêu.
- Cái áo khách xẻ tà cũn cỡn, tôi trông đã ghét rồi.
- Đàn ông bây giờ không ai người ta mặc như anh.
- Mình có mặc áo hộ ai đâu mà lo.
- Nhưng chúng nó cười.
- Ai cười người ấy hở mười cái răng.
- Em cũng không thích.
- Mẹ có bắt cô mặc áo này đâu.
- Rồi có lúc em giấu hết áo anh đi cho mà xem.
- Đố cô đấy?
Ngát trả lời Nghĩa bằng nụ cười mỉm rồi Ngát nói “được rồi, được rồi, nhớ đấy, thách rồi đấy” xong lại cười rinh rích đi theo Nghĩa vào sân.
Giàn thiên lý mọc lẫn trong dây đỗ ván cứ đến chập tối mùi hoa lý tỏa khắp xóm, càng khuya càng ngát.
Thế là sắp đến Tết mùng năm tháng năm.
Tết đến nơi, vậy mà các chợ Canh, chợ Cáo, chợ Diễn, chợ Bưởi bấy lâu họp lánh vào chân tre trong làng, ngày chợ vẫn còn lẻ tẻ, mặc dầu có nhiều người chạy loạn đã trở về. Người ta kháo nhau đã yên rồi. Nhưng thật hay không, bình yên sâu nông thế nào, chẳng ai biết. Những tin đồn thổi bối rối, trái ngược, khó hiểu. Thấy nói ngoài Kẻ Chợ, Tây không ở Trường Thi, cũng không còn đóng trong thành. Nhưng các người cố đạo lại ra chiếm đất làm nhà, lấy hẳn địa phận hai thôn Minh Cầm, thôn Tiên Nhị. Trên cánh đồng làng Chân Cầm bây giờ đương xây cho bên đạo từng dãy nhà tường đá mái ngói, nhà nào cũng có chữ thập ác trên nóc.
Tây đã xuống ở hết trong Đồn Thủy. Nghe nói dưới ấy bây giờ bỗng dưng vui nhất Kẻ Chợ. Tây muốn xóa tiếng ác, đến chỗ nào cũng bày trò giảng đạo, phát không các thuốc nhức đầu, đau bụng, tháo dạ, lại hay gọi phường tuồng chèo về hát ngay ở cuối chợ.
Nhưng đêm đến, có khi không chỉ có im vắng cũng bắn súng suốt sáng.
Bởi vậy người ta vẫn ngại tụ tập. Thằng Tây đương cười đùa múa may tử tế, nhưng bụng nó thế nào, nó trở mặt lúc nào, ai mà biết. Cho nên các chợ to cũng vắng người như những chợ hôm chợ mai rúc ráy đầu làng bến sông chốc lát.
Tết đến cũng thế.
Nhưng Tết cả trong từng nhà vẫn ấm cúng. Nhà bà Xuất đã sửa soạn hũ rượu nếp cẩm từ tháng trước. Lại giữ lệ, giết con gà, thổi nồi xôi, không bày vẽ thêm nữa. Cái Tết mùng năm tháng năm, náo nức nhất đám trẻ con. Sáng sớm, chúng đã tíu tít đi kiếm vôi vẽ vòng khoanh rốn. Rồi ăn mận, bổ dừa uống. Xuống ao làng, ra sông lội mấy sải, làm được những việc ấy, ăn như thế, người lớn bảo thế là cả năm, sâu bọ không dám vật đứa nào đau bụng được.
Trai gái đi tìm phèn, cánh kiến làm thuốc nhuộm răng. Tết mùng năm ai cũng lo nhuộm răng mới, nhuộm lại răng.
Nghĩa đương ngồi trong khung cửi.
Nghĩa đã trở nên người thợ giỏi bậc nhất nhì trong làng, mỗi đầu hôm lên đèn khuya dệt trọn cuốn cửi mà giàn hoa lý ngoài hiên vẫn chưa dậy hết mùi.
Mới ngày nào Nghĩa bước vào khung hồ, còn ghê mùi hồ cửi vừa chua vừa thối, bây giờ đã quen như không.
Nghĩa dệt khỏe, các khung khác không ai theo kịp. Tấm hàng Nghĩa dệt, biên phẳng tắp, mặt trong óng không một gợn gùn gút. Bà Xuất đem đi chợ, hàng đắt đến độ quen khách, lái chỉ đón đãy lính bà Xuất. Nghĩa dệt khéo, lại hay làm.
Bà Xuất quý Nghĩa như vàng, bà Xuất bắt được vàng - người ta ví thế. Cô Ngát còn có khi phải mắng, Nghĩa thì không bao giờ.
Ngát bĩu môi, hờn:
- Con trai bao giờ chả hơn con gái!
Ngát vào khung cửi. Nghĩa vừa dệt hết con “suốt” đương cắm văng rồi ngồi thẳng người trên đòn ngồi, lấy thoi ra tra cái “suốt” mới.
Nghĩa bảo Ngát:
- Chưa đầy cuốn, chưa phải sửa cửi đâu.
Ngát đứng lại, nói:
- Người ta đã vào sửa cửi đâu mà anh phải đuổi!
- Thế cô vào làm gì?
Ngát cười, giọng dỗ dành:
- Nhờ anh việc này.
- Việc gì nào?
- Chỉ sợ mẹ chửi thôi.
Nghĩa nói chặn:
- Tôi bỏ khung cửi ra thì mẹ chửi, không được đâu.
- Đấy, anh chưa biết thế nào mà đã đuổi em bùi bụi.
- Biết rồi. Cô chỉ có việc vẩn vơ con bò trắng răng chứ còn việc gì nữa.
Ngát cười:
- Anh chưa biết đâu. Nhưng anh có làm hộ em mới nói.
Ngát vẫn nhõng nhẽo trẻ con như mấy năm trước - dường như Ngát chưa muốn nhớ mình đã mười sáu, mười bảy.
Nghĩa hút sợi “suốt” rồi cau mày, nhăn nhó, làm mặt nghiêm trang:
- Cái gì nào?
Ngát hỏi:
- Anh lại sắp mắng em đấy hả?
Nghĩa vừa thương vừa bực mình, cũng phải bật cười.
- Cô nói ngay đi thì khỏi phải mắng.
Ngát thì thào, vẻ quan trọng:
- Tối nay chúng em ruộm lá móng, mà phải ruộm liền ba đêm, mỗi đêm hai bã. Đến sáng mùng năm móng tay mới đỏ đẹp được. Anh tỉnh ngủ, anh nhớ đánh thức để em buộc bã lá nửa đêm.
Nghĩa cau có:
- Bây giờ thì sai người ta đi lấy lá móng chứ gì.
Ngát cười tít mắt.
- Anh đoán được à, giỏi nhỉ? Chỉ tại cây móng đằng bờ giếng cao quá. Em mà biết trèo em đã chẳng phải nhờ anh. Mà con gái trèo cây, chúng nó kể vè cho. Anh lấy bốn mớ, năm mớ cũng được. Anh trèo cây tài lắm. Em nhớ rồi, năm kia anh lấy lá móng cho cả hội con gái xóm này nhuộm móng tay mà...
- Nhưng mà bỏ khung cửi bây giờ mẹ về mẹ đào mả lên cho.
- Có người vào dệt đỡ anh đây.
- Tôi không khiến cô. Thà để cửi đấy, phải lên đầu hôm khuya còn hơn cho cô mó tay vào cái thoi.
- Anh Nghĩa không nhớ ai biết dệt cửi trước ai.
- Nào lui cho tôi lấy chỗ bước ra.
Ngát cười hồn nhiên, biết Nghĩa đã bằng lòng đi lấy hộ lá móng.
Nghĩa gác đòn ngồi, ra khỏi khung cửi. Thật thì Ngát dệt cũng không đến nỗi, Nghĩa chỉ chê trêu tức. Giá không có việc đương nằn nì nhờ, hẳn Ngát đã sừng sộ cãi kỳ được. Nhưng lúc ấy Ngát lại đấu dịu. Còn Nghĩa chẳng muốn dùng dằng. Để Ngát nhũng nhẵng thế, dễ bực mình, mà nực cả người. Nghĩa vừa dệt một thôi gần đầy cuốn cửi. Mồ hôi đương còn xâm xấp lưng áo.
Ở khung cửi bên, dưới nhà ngang, mấy cô em cậu em thế nào mà đã biết, cứ hò lên, gọi với: Anh Nghĩa đi lấy lá móng cho cái Ngát a? Lấy hộ chúng em với. Cái Ngát mang rổ xảo đi mà đựng. Sáu đứa cả thảy. Mấy chục móng tay, cả móng chân nữa là hơn trăm... Rồi cười râm ran.
Nghĩa cầm rổ bước nhanh ra ngõ. Trong nhà ngang, giữa tiếng thoi, những tiếng cười vẫn đuổi theo. Nghĩ thế nào, lát sau, Ngát lại lõng thõng chạy theo Nghĩa.
Cây lá móng cổ thụ ấy bên lối ra giếng đất. Không biết các cụ trồng từ đời nào mà cây cao và sum sê, như cây bàng. Quả là cây móng này khó trèo. Thân nhẵn thín, những chòm lá chót vót tận ngọn, như nắm tóc trái đào trên đầu trọc em bé. Dễ bởi tết mùng năm tháng năm nào cũng nhiều người trèo hái lá nên cây mới trơn như đổ mỡ làm lá trụi lên gần đến ngọn như thế.
Nghĩa nhẹ nhàng thoắt một cái lên cây. Nghĩa trèo tài thật. Miệng Nghĩa cắn cái cạp rổ. Hai tay bíu vào thân rồi cứ thẳng gối, thẳng hai cánh tay, bắt lên như bắt sải thừng. Mấy bước lên đã tới nhánh chạc, không một quãng nào phải ôm cây toàn chân tựa trẻ con. Thành thạo như người xưa nay chuyên nghề trèo dừa, trèo cau thuê. Chả là con gái đường ngược vốn táo tợn đeo dao đi rừng kiếm cái ăn từ thuở để chỏm, chẳng khác con trai. Chạy gấu đuổi, leo cây gỡ trứng kiến, bắt tổ ong, hái quả ngõa, quả bưởi, Nghĩa leo trèo như vượn.
Nghĩa gác vành rổ lên chạc cây. Nghĩa tìm ngắt những chiếc lá móng non. Nghe tiếng cười dưới gốc, Nghĩa biết Ngát đã lại theo ra đây.
Nghĩa gắt xuống:
- Ơ kìa, lại ra!
- Anh có khiến em dệt hộ anh đâu. Em phải ra đây đỡ anh. Thế anh lại bảo em về a?
Nghĩa im không nói. Bao giờ cũng cứ vừa bực mình vừa thương. Nghĩa biết Ngát đã lớn. Hàng ngày tình cảm thân thiết anh em dần dần có đổi khác. Lửa gần rơm - cũng là lửa, là rơm, đôi lúc Nghĩa cười thầm rồi lại thờ thẫn thở dài. Ngát có ý với Nghĩa rồi. Hầu như cả nhà không nói ra nhưng ai cũng biết thế. Và còn hồ như muốn vun vào.
Tình yêu của Ngát, cô Ngát vừa ở tuổi lớn lên, cứ bối rối, lẫn lộn. Đôi khi, vẫn là trẻ con, thường táo bạo, bất ngờ. Lắm lúc Nghĩa lúng túng không biết xử sự thế nào. Lại chỉ đến canh khuya một mình nằm nghĩ mà thương thân, nước mắt giàn giụa ra.
Trên bờ giếng lúc ấy vắng không ai ra gánh nước, Ngát sấn sổ nói:
- Lên mặt anh à, không phải anh người ta đâu?
Nghĩa giật mình:
- Cô không được ăn nói thế?
Ngát tủm tỉm, thong thả:
- Ai nói gì ở đâu!
Rồi Ngát ngẩng mặt lên trong bóng cây, lại cười.
- Em nói thế đúng không đã. Đúng quá anh không cùng một cha mẹ đẻ ra, nhưng anh vẫn là anh em.
Nghĩa lại quát:
- Bây giờ cô về dệt hộ tôi đi. Tôi phải lấy lá móng cho một lũ ở nhà nữa, còn lâu đấy.
- Mặc anh. Em cứ đợi đây.
- Con gái nhớn đứng chơi không, người ta cười cho.
- Anh đã bảo đứa nào cười thì nó hở mười cái răng mà.
Có nói nữa, Ngát cũng chẳng chịu về. Nghĩa lặng im, ngắt lá móng, ngơ như không biết có Ngát ở dưới gốc. Nghe thỉnh thoảng tiếng tấm tức hỏi lên: “Anh Nghĩa điếc à?”, Nghĩa cũng không nói. Cầm trong tay túm lá móng, Nghĩa bỗng nhớ xa đến những Tết mùng năm này năm trước còn ở trên quê, Nghĩa cũng nhuộm ngón chân ngón tay như Ngát. Bây giờ trong cảnh éo le...
Nhưng bây giờ Nghĩa không hay có ý nghĩ tủi phận như dạo mới xuống đây. Gần gũi trong nhà, Nghĩa đem lòng thương bà Xuất như thương mẹ đẻ mình. Bà Xuất thật người đảm lược, tháo vát. Mình bà gánh đủ việc nhà, từ khung cửi ra đến bờ ruộng, lại chợ búa - cũng chỉ một tay bà. Anh em người các nơi đôi khi vẫn qua lại, bà đều lo cơm nước chu tất. Chẳng khác khi sinh thời ông Xuất. Từ ngày Nghĩa về, Nghĩa đỡ đần bà đâu ra đấy. Như đứa con lớn trong nhà đã đến tuổi biết nghĩ.
Các nơi vẫn về đợi hẹn lấy hàng quốc cấm. Những chuyến giáo mác, mã tấu trên Sơn thường tải về. Bố và các anh, cả người làng trên Ba Trại, tháng Mười gặt hái xong, thế nào cũng đưa hàng về. Đôi khi, có chuyến thình lình, ông Tư xuống. Bố con gặp nhau, làm cho Nghĩa cảm như nhà mình vẫn gần. Cũng khuây khỏa được nỗi nhớ.
Hàng trên ngược về, Nghĩa cũng đã mấy lần được chuyển đi. Có chuyến cùng bọn quẩy những đõ ngô hạt, dưới toàn lá chuối khô bọc mã tấu đôi một. Chuyến ấy đưa sang giao tận chợ Đông Ngàn bên Bắc, mấy ngày đường đi về.
Bà Xuất càng thương Nghĩa, nghĩ như con trai bà, thằng cả vẫn sống đấy. Nghĩa thì có cảm tưởng như bà Xuất biết Nghĩa là con dâu. Nghĩa mơ hồ như thế từ lúc mới xuống, bây giờ vẫn dai dẳng cảm tưởng ấy, không biết tại sao. Ngày kia, có khi nào Nghĩa sẽ thưa thật với bà Xuất. Nghĩ đi nghĩ lại, chỉ thương cái Ngát. Nhưng bố đã căn dặn. Việc nhà việc nước, đến khi nào... Bây giờ không để ai biết được.
Đứng tựa gốc cây, Ngát bực mình, nói tức.
- Lấy lá móng về luộc rau ăn đâu mà anh lấy lắm thế? Anh hái trụi cả cây, đứa khác ra lấy, nó rủa cho!
- Nó rủa những đứa nào ruộm móng tay móng chân.
- Nó rủa cái người hái.
- Tôi buông rổ xuống, cô bắt lấy này...
Ngát giơ hai tay. Nhưng lúc Nghĩa buông rổ, Ngát cứ kệ cho rơi. Lá móng tung toé khắp bãi cỏ.
Nghĩa tụt vội trên cây xuống, càu nhàu: “Cô này chẳng được tích sự gì”. Ngát không cãi, lại cười: “Bây giờ em đỡ anh một tay...”.
Hai người lúi húi nhặt từng cái lá móng lẫn trong cỏ.
Có tiếng hỏi to phía ngoài xóm đi vào:
- Các người tìm gì mà chúi vào nhau như bắt được bạc rơi thế kia.
Đằng kia, Gái đương đi tới. Ngát ngẩng nhìn Gái rồi lại điềm nhiên cúi xuống nhặt lá.
Nghĩa đứng lên, vờn vỡ:
- À cô Gái, cô về chơi, cô Gái về nhà tôi à?
Gái cười:
- Vâng, nhà tôi, em về nhà tôi ạ.
Câu nói chớt nhả khiến Nghĩa nhớ ra mình nói hớ. Ngát thì càng cúi gằm, hai mắt nhắm. Tưởng nếu không làm thế thì đến phải khóc nức nở lên mất. Chúng họ dám ăn nói như ở đây chỉ có chúng họ với nhau thế à. Ngát bỗng hóa ra nhãi con thò lò mũi xanh không ai cần để ý. Ngát vơ nốt nắm lá còn trên tụm cỏ ấu, rồi quăng quả cắp rổ, không chào hỏi ai, cứ thế phụng phịu đi về trước.
Gái nhìn Nghĩa:
- Cái Ngát nó ăn phải thuốc lú rồi, anh Nghĩa ạ.
- Nói dại nào.
- Nói thật đấy. Anh bỏ thuốc lú cho nó chứ ai.
Rồi Gái cười chúm chím:
- Nó thấy tôi về... nó giận đấy.
- Chỉ được cái bịa tạc giỏi thôi.
- Ai cướp được ai mà đã khéo lo.
- Thôi chẳng chuyện lăng nhăng!
- Anh không cướp ai thì chớ, chứ ai cướp được anh, phải không anh Nghĩa?
Rồi Gái cười, đầm ấm. Hai mắt say tít như hai sợi chỉ.
Nghĩa vẫn lửng lơ như không. Dáng lạnh lùng, nhưng đôi khi lại chợt vồn vã của Nghĩa - cũng là tâm trạng Nghĩa, khiến cho cả Gái, cả Ngát có lúc giận dỗi vì tưởng không được để ý, có lúc lại mê tơi đến ngơ ngẩn cả người.
Nghĩa thoáng thấy Gái hồi này ăn mặc sửa sang, làm dáng hơn năm trước. Tấm áo dài đổi vai, vạt the nâu thắt quả găng, thân trên so le miếng vải Đồng Lầm nâu non tươi. Cái váy chồi cạp lụa ý tứ nửa lửng nửa buông, giống kiểu cách váy mấy cô hàng tấm chợ Dầu. Trời nắng tháng năm, tùm hụp cái khăn vuông mỏ quạ cho mát đượm mồ hôi, lại khoác vai chiếc nón Kẻ Chuông rộng vành. Đất phường phố cứ thướt tha thế. Chẳng gì cũng mẽ cô gái Kẻ Chợ.
Nghĩa đã biết anh em Đề Cụt cũng như con cái bà Xuất trong nhà. Cả hai anh em cùng hăng hái lắm. Ở đâu cũng chuyên làm chân rết chắp nối cho các hội nghĩa, hội nào ới đi bàn chuyện đánh Tây, đi ngay.
Nghĩa xuống Nha được ngót một năm, Đề Cụt mới có việc tạt về nhà bà Xuất. Đề Cụt chạy vào tận khung cửi, một tay nắm cánh tay Nghĩa, lôi ra nhà ngoài, reo lên:
- A, cái chú xứ Đoài, cái chú xứ Đoài này bây giờ trông khác đáo để.
Nghĩa lúng túng gỡ tay Đề Cụt, mặt đỏ rừ.
Bà Xuất bảo:
- Nó là em mày đấy!
Đề Cụt nói:
- Quý hóa lắm. Năm trước, ông Tư con về qua đã kể cho con biết rồi. Mấy bận con định xuống uống rượu với chú ấy mà bấn quá, chưa lần nào cất công đi được. Bây giờ anh em chúng con lại ở xa nữa, ra tận ngoài Đồn Thủy.
Bà Xuất bảo:
- Được rồi, khi nào tao gọi thì hai anh em cùng về nhé. Đến giỗ ông năm nay.
Đề Cụt quệt tay vào má Nghĩa, nói bô bô:
- Vâng ạ. Nhưng mà chán cái chú này. Biết uống rượu, ăn thịt chó chưa?
Nghĩa lắc đầu, cười.
- Không xong rồi, thế thì hãy khoan được làm em anh, anh bảo thật.
Hồi ấy Đề Cụt đã ra làm hàng ngoài Đồn Thủy.
Tây đương mở phố ở Đồn Thủy. Ngày nào, dân phu và người đói các làng cũng lũ lượt kéo đến tìm việc làm. Chẳng phải Đề Cụt hám của, mà cũng như khi ở gốc đề ra bến Cốc, anh em hội nghĩa cắt cử Đề Cụt tìm cách ra Đồn Thủy mà dò la tình hình xem sao. Việc quốc sự không thể chùng chình, Đề Cụt đi ngay.
Ngày mới xuống Nha, thực tình Nghĩa cũng chưa biết rõ ràng thế nào là việc quốc sự. Trên quê, đàn bà con gái không được dự bàn những việc ấy của đàn ông. Ngay bây giờ cũng chưa ai nói với Nghĩa điều gì.
Nhưng rồi tự nhiên, Nghĩa để ý nghe những câu chuyện của khách qua lại. Dần dà, Nghĩa biết trong nhà, có việc đồng áng, canh cửi, lại có những việc xa xôi khác. Nghĩa lại biết anh em Đề Cụt khó nhọc tối ngày hàng quán cũng không phải vì đồng tiền phân bạc.
Nghĩa thấy như dễ thường cả xóm, cả làng, nhà nào cũng hàng ngày dệt cửi, cũng con trâu cái cày ra đồng, đi chợ, đôi khi có Tết nhất, giỗ chạp, cưới xin, tảo mộ, nhưng Nghĩa thấy người ta vẫn hay trò chuyện cả những chuyện khác và tưởng như hễ nghe bọn Tây kéo đi đâu, có ai gọi, thế nào nhà nào cũng vứt công việc đấy, vác theo đủ thứ giáo mác, hãy đi xem sao đã. Cả làng thế. Nhà này xưa nay cũng thế.
Đề Cụt bảo Nghĩa:
- Bây giờ anh không mở quán chỗ Ba Cây Đề nữa! Anh em về bảo ra ở ngoài Trường Tây.
- Làm phu Đồn Thủy à?
Đề Cụt cười:
- Ra làm thịt Tây ở Đồn Thủy thì có!
Rồi Đề Cụt lại nói:
- Đùa đấy, anh ra Trường Tây mở hàng bán cho phu xây nhà cửa ở Đồn Thủy. Hôm nào chú ra chơi. Cũng hàng quán như ngày ở Ba Cây Đề thôi.
- Cả cô Gái cũng ra ngoài ấy với anh à?
Đề Cụt không trả lời, ngắm Nghĩa rồi cười tủm, lát sau mới khẽ hỏi lại:
- Anh hỏi thực, chú có muốn lấy cái Gái nhà anh không?
Mặt Nghĩa đỏ gay.
Đề Cụt thủ thỉ ngọt ngào:
- Cứ nói với mẹ, mẹ bằng lòng thì anh gả em gái anh cho. Con ấy nó phải lòng chú từ hôm ấy. Anh nói thật.
Nghĩ đến tâm sự mình, chỉ có nước mắt, làm gì có phải lòng ai, nhưng nghe Đề Cụt nói thẳng thắn, thân thiết vậy, Nghĩa thật cảm động, thấy dưng dưng chớp mắt, muốn khóc.
Đề Cụt nói lại:
- Nhớ hôm nào hỏi mẹ cho phép ra chơi ngoài anh.
- Vâng ạ.
- Đến Đồn Thủy cứ hỏi thăm hàng cơm Đa Cụt.
- Chứ không phải Đề nữa a?
- Bây giờ hàng anh ở gốc cây đa.
- Cây đa cây đề lắm ma, anh không sợ à?
- Anh cũng là ma rồi, còn ma nào bắt nạt nổi anh. Ấy vì nom cái hoa cây me Tây cứ đỏ hoe cả mắt, tức mình, anh đi đánh cây đa về trồng trước cửa.
Đề Cụt lại lắc cánh tay Nghĩa, nói to:
- Hôm nào ra với anh, anh cho chú thử sức dễ dàng thế này thôi. Chú đi cắt cỏ ngoài bãi bờ sông Cái. Buổi chiều bọn Tây nhớ nhà hay dạo chơi tha thẩn. Cứ rình thằng nào ngồi trên bờ một mình, thình lình đến đẩy ùm nó xuống sông. Chỉ một chuyến đẩy được thằng Tây chết đuối thế về thì chú biết đánh chén thịt chó và uống rượu ngay. Chả khoái chí mà. Hôm nào bà cho chú ấy ra với con. Chúng con đã đẩy được xuống sông Cái mấy thằng Tây chết đuối cả giày, không kịp kêu...
Nghe Đề Cụt nói chuyện bày mẹo đánh Tây giết Tây cũng cứ như kể đi chợ Canh, chợ Nhổn chọn mua con chó ngon về làm thịt. Thế nào cũng bình thường, dễ như bỡn.
Nghĩa và Gái đi thong thả dưới vòm tre về nhà. Gái muốn cứ đi mãi không bao giờ qua hết con đường tre âm thầm hai bên kín bưng. Lá tre lủa tủa rì rào trong ánh nắng xanh óng. Làng xóm xa vắng đâu, đây chỉ có hai người sóng đôi trong bóng tre xôn xao nắng.
Gái hỏi Nghĩa:
- Mẹ có nhà không?
- Mẹ tôi đi chợ.
- Mẹ đi chợ sắm tết?
- Không, mẹ đi mua tơ.
- Tận ngoài Kẻ Chợ à?
- Hồi này các chợ tơ ở Kẻ Chợ có ai mua bán nữa đâu. Lính xạ phang bên Hàng Buồm đã mấy phiên ra cướp, người ta bỏ sang chợ Hàng Đào rồi.
Đình Hàng Đào, đình Hàng Gai là chợ tơ to nhất đông vui giữa Kẻ Chợ. Nhiều tỉnh đem tơ về bán cho các làng dệt lĩnh, dệt the, dệt lụa ở La Mỗ, ở Bưởi, ở Bùng ra mua. Tơ Thanh Trì, tơ Tứ Tổng, tơ Đốc Tín, tơ Phùng, cả tơ Yên dưới tỉnh Đông, tơ mái Quan Nhân tận dưới Nam cũng đưa lên Kẻ Chợ.
Nhưng mấy phiên nay, lính xạ phang, lính Cờ Vàng của Tây Đu Bi mới mộ thêm ở Vân Nam xuống họp bọn với lũ khách hàng bang thành quân cướp ngày. Chợ đương đông, chúng nó ra chăng dây, dồn người lại rồi giơ đại đao lên, lần từng hầu bao của người ta. Các lái tơ chạy vào kêu quan huyện Thọ. Lũ khách hàng bang cũng vào trình quan rằng bọn xạ phang Cờ Vàng ấy, tướng nó là Hoàng Sùng Anh đã về Tàu cả rồi. Chúng nó cướp của ngoài chợ đưa về quê bên Tàu làm quà thôi. Mấy phiên liền kẻ bán người mua bị vơ vét nhẵn. Nào ai biết bọn cướp khác hay vẫn bọn ấy ẩn náu trong hàng bang. Quan huyện Thọ đã được đấm mõm, làm ngơ không khám đến các hàng bang chứa cướp. Ngày phiên giữa Kẻ Chợ mà thưa hẳn người ra vào.
Nghĩa nói:
- Mẹ tôi lên Xù mua tơ. Trên ấy mà mua được, chỉ chốc nữa về. Nếu phải xuống Thanh Trì, thế nào mẹ tôi cũng tạt về, mẹ tôi đã dặn thế.
- Thế thì em đợi vậy.
- Đợi à?
Gái cười:
- Vâng. Đợi đến tận hôm nào mẹ anh về cũng được.
Nghĩa hỏi:
- Ở dưới Trường Tây, cô có phải xay bột làm bún như ở Ba Cây Đề không?
Gái cười liếc nhìn Nghĩa:
- Anh đuổi người khéo nhỉ!
Câu chuyện cứ mấp mé đến những quãng khúc mắc, Nghĩa không biết trả lời thế nào. Và chẳng bao giờ Gái chịu dừng lại chỗ ấy.
Gái hỏi:
- Anh Nghĩa có điều không bằng lòng em.
Nghĩa lúng túng:
- Không...
- Cả làng biết rồi. Anh Nghĩa phải lòng cái Ngát.
- Đừng nói thế mà mang tội. Mẹ tôi biết thì không nên đâu.
- Anh này sao mà thật như đếm. Chả trách cái Ngát nó xỏ mũi. Anh nuôi lấy em nuôi càng thêm thân chứ sao. Có phải ruột thịt đâu mà sợ.
- Cô không được nói nhảm!
Gái cười:
- Người ta nói đúng bụng thì đánh trống lấp.
- Tôi không chuyện với cô nữa.
- Thế anh nói chuyện với ai?
Nghĩa bị vặn, chỉ có cách làm vẻ nghiêm, và im lặng, mặt chín lừ. Gái đắm đuối nhìn Nghĩa, ra chiều thương hại anh chàng nhút nhát.
- Thôi nói chuyện khác vậy.
- ...
- Anh không phải lòng cái Ngát thì anh phải lòng ai?
- Lại phải lòng phải bề, cô này không còn chuyện nói nữa hay sao?
- Nhiều chuyện lắm, anh có muốn nghe không?
Gái lướt đuôi mắt, nhìn Nghĩa lặng im.
- Nói chuyện hội hè, chuyện đám rước, chuyện vui thôi.
- Ừ.
- Hội chùa trên quê em vui lắm. Đến tháng Ba vào hội, các nơi xa cũng trảy về xem, quán cơm chứa trọ la liệt. Khách ở xem hội hàng phiên, vui hơn rước đền Giá. Trai gái làng, trai gái thiên hạ kéo nhau lên chơi các hang núi chùa, đi chơi cả đêm, anh Nghĩa ạ.
- Đi chùa mà lại vào hang, cô lại nói chuyện nhằng rồi.
- Không phải. Trong hang nhiều cái xem lắm.
- Nhưng mà...
- Bao giờ bình yên, anh về hội chùa làng em thì biết.
- Trai gái nhảm nhí mà bảo là vui!
- Anh Nghĩa không thích thế a?
Rồi Gái cười nghĩ ước có tháng Ba đi với anh Nghĩa về hội chùa, xem hội tất tả các nơi. Chơi chùa Thày, đi hội đền Trại có đô tùy khố điều rước kiệu bay, hội vật Mễ Trì, hội bơi Đăm, hội Mọc đánh cờ người... Gái nghĩ: Chắc lúc ấy chúng mình đã lấy nhau, được đi tay đôi. Nhưng mà đã đến lúc lấy nhau rồi tha hồ hú hí ở nhà chứ còn hội hè chùa chiền gì nữa. Tơ tưởng luẩn quẩn một mình thế, mặt Gái đỏ hây. Đi trong bóng tre gió hây hẩy mà mồ hôi ánh quanh cổ. Nhưng Gái chỉ giữ trong bụng câu nghĩ ấy.
Gái hỏi Nghĩa:
- Anh không còn chuyện nói nữa à?
- Cô nói hết phần người ta rồi.
- Thế em lại nói nữa nhé...
Chuyện cứ nhũng nhẵng vậy. Nhưng cũng không kéo được con đường dài hơn. Thế rồi về tới cổng ngăn lúc nào.
Đã thấy Ngát đứng giữa cổng, giọng như mách như dọa:
- Anh Nghĩa bỏ cửi lâu thế, mẹ về chửi cho.
Nghĩa buồn cười. Ngát bắt Nghĩa đi lấy lá móng, Ngát lại kêu Nghĩa bỏ cửi.
Nghĩa không để ý Ngát đương bối rối, đương cần tức mình và cũng không tìm được câu nào khác để dọa Nghĩa.
Nghĩa đấu dịu:
- Anh vào dệt ngay đây mà.
Ngát vẫn chưa tan cơn bực, lại quay vào, càng cảm thấy mình lủi thủi. Tuy vậy, không phải Ngát cau có đến bối rối lên đâu. Trên chõng đầu hè, đĩa trầu đã được bày ra tươm tất.
Nghĩa mời:
- Cô Gái lên ăn giầu.
- Người nhà, em có phải khách đâu mà giầu nước!
Ngát bưng nồi nước chè tươi bốc khói dưới bếp lên. Ngát đã tươi cười quên câu gắt Nghĩa ngoài cổng ngăn lúc nãy và tưởng như Gái không biết.
- Chị Gái uống nước, mẹ em sắp về rồi.
Gái tinh nghịch, nói trêu:
- Anh Nghĩa vừa bảo mẹ còn xuống Thanh Trì mai mới về, chị cũng phải ở đợi đến mai.
Ngát không biết nói thế nào, chỉ lẳng lặng xuống đứng núp vào đuôi chạn bát, Ngát lấy dải yếm lau mắt.
Nghĩa xuống bếp trông thấy Ngát trong xó vách sau chạn, mắt còn hoe hoe, ngơ ngác.
Nghĩa hỏi tự nhiên:
- Làm gì đấy?
Ngát phụng phịu.
- Không bận đến anh!
Rồi Ngát nức lên một tiếng.
Nghĩa cười:
- Đừng có hờn ở đấy, ông vua bếp không biết dỗ cho nín đâu.
- Ai khiến anh dỗ!
Ngát vùng vằng lên nhà ngang, ngồi vào rổ tơ. Lồng tơ lại lóc cóc quay. Làm như không nghĩ nữa, nhưng sợi tơ cuốn vào ống đứt lúc nào, tay xóc cái lồng ống không mà chẳng biết.
Nghĩa lúi húi dưới bếp đến lúc Gái bưng nồi nước chè tươi xuống. Vừa đi vừa nói: “Đặt lên bếp, có khách vào uống cho ấm”. Chợt thấy Nghĩa, Gái hồi hộp tưởng từ nãy Nghĩa cố ý chờ mình trong bếp vắng vẻ.
Gái khẽ gọi:
- Anh Nghĩa!
Tiếng êm ái, làn mắt lư đừ, cặp môi ăn trầu cắn chỉ, má nồng nàn ửng đào, trong xó khuất kín.
- Anh Nghĩa!
Nghĩa cúi mặt, phảng phất tiếng thở dài. Thở dài cho số phận. Tiếng thở dài của Nghĩa, Gái làm sao hiểu được tiếng buồn oái oăm sâu thẳm ấy. Gái đương xúc động. Gái đặt nồi nước lên bếp rồi bước tới cầm tay Nghĩa.
Nghĩa bối rối.
- Ai trông thấy bây giờ...
Gái không buông.
- Không có ai đâu.
Gái vẫn nắm tay Nghĩa, cười:
- Chạy đi đâu người ta cũng bắt được!
Gái đâm liều. Nghĩa dịu dàng nói:
- Ai xuống bếp bây giờ thì ra thế nào!
- Chẳng ai biết đâu.
Nghĩa nói:
- Có người biết rồi.
- Ai?
Nghĩa trỏ tay:
- Ông vua bếp đây này.
Gái ngoảnh mặt vào bếp, lại cười. Thế là Nghĩa giựt được bàn tay ra. Gái suýt kêu lên. Chợt nhớ, Gái chỉ nói:
- A cái anh này thế mà khôn!
Nghĩa đã đứng ngay ngắn trước mắt Gái. Gái nhìn Nghĩa, thấy Nghĩa âu yếm nhìn lại mình. Nghĩa nói:
- Bây giờ cô lên nhà chơi đợi mẹ. Tôi phải vào dệt. Bỏ gần cuốn cửi rồi.
Gái ngoan ngoãn:
- Vâng ạ.
Ánh mắt Nghĩa nhìn Gái vừa rồi làm cho Gái hân hoan như chưa bao giờ thấy vui như thế. Và câu nói của Nghĩa êm ái như lời vợ chồng dặn nhau, lúc lên đến nhà trên, mặt Gái vẫn bừng bừng. Cho khỏi ngượng, Gái vào đầu hè, lấy miếng trầu trong cơi đứng nhai cho giập bã. Hơi trầu cay tỏa lên mặt đỏ lừ.
Bấy giờ mới sang nhà ngang với mọi người trong nhà.
Ngát vẫn đương quay tơ. Vừa rồi, Ngát không trông thấy Gái xuống bếp. Ngát cười với Gái rồi xách lồng vầy tơ xê ra ngoài hè, lấy chỗ cho Gái ngồi vào rổ tơ trống ở đấy và cầm lồng lên quay. Gái vừa quay tơ vừa râm ran chuyện với cả nhà.
Mặt trời mới đứng bóng, bà Xuất đã về. Bà Xuất vẫn mặc áo năm thân nhuộm vỏ dà của ông Xuất. Vòng khăn thâm quấn tai chó chênh vênh lẫn lộn với búi tóc hoa râm. Cái quần chồi sống cứng kềnh còn vàng sợi kén, gấu lá tọa buông đến gần đầu gối. Ra đường, ai biết ông cụ hay bà lão. Mà người có rõ bà lão thì người ta bảo đấy là bà đồng ông. Bà lão đồng ông, đàn bà nổi đồng ông đồng cậu, làng nào chẳng có người dở hơi thế.
Ngát ra sân đỡ chiếc đãy to trĩu lưng mẹ, đem vào thềm nhà, bấy giờ đã mát bóng những tàu cau. Bụi tre cuối vườn bắt đầu ngả vào sân trước. Những ngọn tre la đà chồm lên nhau như những làn gió quạt tới - đã xế trưa.
Bà Xuất quệt mép trầu, kéo vạt áo con lên nhấp mồ hôi trán, vừa thấy Gái bước ra.
- Cái Gái mày về từ bao giờ?
- Lạy mẹ, con mới về.
- Ăn giầu đi.
- Con vừa ăn hai miếng một lúc, mặt còn nóng rực lên đây.
Gái lấy trong tay nải ra hai đấu gạo đồ, hai nải chuối bụt, bó hương đen, bày lên giường thờ.
- Mẹ cho chúng con thắp hương bố con với anh cả.
Sau đấy, Gái khép váy ngồi xuống bậc cửa cạnh chân bà Xuất. Trong nhà, mọi người vẫn cắm cúi dệt cửi. Dưới nhà ngang, những vầy tơ nhảy lóc cóc trên vành tai rổ tơ.
Nhìn quanh, vắng người, Gái nói với bà Xuất.
- Anh con bảo về thưa với mẹ.
- Chúng mày vẫn ở ngoài Đồn Thủy?
- Dạo này ngoài ấy đông lắm.
- Hôm nào ta phải cất công ra xem cho biết cái chỗ Đồn Thủy bây giờ thằng Tây nó xây thành tròn thành méo thế nào. Nghe người ta nói lắm chuyện mà mắt chưa thấy.
- Anh con bảo về nói với mẹ...
- Cái gì thế?
- Giỗ hết ông con với anh Vấn con năm ngoái rồi. Năm nay, mai kia đến ngày mẹ thay áo cho ông con anh con thì mẹ cho chúng con được về đỡ mẹ. Nhiều nơi, đã hẹn nếu nhận được cớ nào để bàn việc Đồn Thủy. Anh em con thấy có cơ hội rồi. Mấy năm nay lũ Tây tưởng người ta đã để nó yên, nó cứ chạy như con chó sổng cũi ngông nghênh chẳng biết gì cả. Đến nỗi anh em vào rình, lăn được cả chục thằng xuống sông Cái mà nó vẫn tưởng lính nó đi giày Tây không bơi được nên sảy chân chết đuối.
Bà Xuất ngẫm nghĩ, cầm miếng trầu, quệt thêm vôi, nhai thong thả, nheo mắt lơ đãng ra ngõ, không nói gì. Gái phân vân nhìn bà rồi rụt rè:
- Mẹ định liệu thế nào chúng con cũng xin theo.
Bà Xuất nói:
- Tao cũng đương mong anh em mày. Nghĩ xem mời những đâu bây giờ. Nhưng thôi, việc ấy đã có anh em mày lo. Kể ra, làng nào cũng sùng bụng như làng nào thì có đến mười đời quân Tây cũng không lên nổi cái bến đò đình Thanh Hà. Năm nay xem ra lòng dạ có khác. Nhiều ông đồ ông cống cũng giở mặt rồi, càng ngày càng nhan nhản cái bọn xem của nặng hơn người. Cho nên, phải kỹ lưỡng tìm những ai còn tin cậy được. Rồi tao ra bàn thêm với anh mày.
Bà Xuất bảo Gái:
- Ở đây ăn cơm rồi hãy về.
- Sợ tối nhỡ độ đường, mẹ để cho con khi khác.
Bà Xuất cũng biết vậy, bèn nói:
- Tùy mày.
Gái khoác nón lên vai, về ngay. Bọn các cậu đương dệt cửi và mấy cô buông lồng tơ, cả chỗ đương mắc cửi, tíu tít chạy ra: Chị Gái về à! Chị Gái về à! Ngát đến nắm vành nón Gái hỏi to: “Chị Gái về thật à? Bảo ở chơi mấy hôm mà!”. Gái cười hồn nhiên: “Ừ, về thật. Vội lắm, không ở được!”. Rồi lại như trêu Ngát bằng được, Gái cất tiếng chào: “Lạy mẹ ạ! Lạy anh Nghĩa ạ. Lạy anh ạ. Các em nghỉ thong thả”. Gái đội nón lên, tong tả qua cổng ngăn ra cổng tán, đã đi khuất trong vòm tre.
Ngát bảo Nghĩa:
- Anh Nghĩa tệ đấy, không ra mời chị Gái ở lại ăn Tết mùng năm.
Nghĩa im, Ngát lại nói:
- Chị ấy đã bảo em là ở đến mai, bây giờ lại dỗi về. Chắc có điều không bằng lòng anh rồi.
Nói thế, Ngát cười. Ngát thấy Nghĩa cũng có vẻ thích chí cười với mình. Ngát sung sướng. Nụ cười của Ngát bây giờ thật hiền lành thỏa thuê đến ngẩn ngơ.
Nhưng Ngát không hiểu cái cười nhẹ được nỗi lo của Nghĩa.