Quê Nhà

Lượt đọc: 1519 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương III

TRONG BỜ LŨY, tiếng chặt tre đương chí chát. Có mấy người dưới ruộng sâu, lội bùn đến đầu gối đi lên, lưng giắt lủng liểng bó lạt.

Trông thấy người lạ, ngẩng đầu nhìn, rồi tíu tít kêu:

- Ơi giời ôi, ông Tư!

- Ông xuống chơi, lạy ông ạ!

Ông Tư chẳng thuộc mặt ai, nhưng đoán đấy là người trong làng.

Ông Tư hỏi to:

- Các chú đi đâu sớm thế?

- Chúng cháu ra rào lũy ngoài ạ.

- Bà Xuất tôi có nhà không?

- Chúng cháu đi vớt lạt từ tờ mờ sáng không biết. Ông về nhà bà cháu, chốc nữa chúng cháu vào chơi.

Rồi cả bọn đi về phía bờ tre đang có tiếng người cười nói, tiếng dao chặt.

Đến đây, Gái trở lại. Cứ kể, Gái còn muốn đi nữa, Gái đi nữa cũng được. Bây giờ Gái đã biết anh ấy tên là Nghĩa. Nhưng có mấy lúc, Gái đòi gánh hộ đôi tay nải mà Nghĩa không nghe, lại vằng đi. Trông thấy bước tập tễnh, khoeo chân sưng húp, người ta thương tình, lại còn lên mặt. Có lúc nghĩ tức anh ách, có lúc lại ái ngại. Chân đau thế kia, lại làm bộ vẻ nghiêm hơn. Rõ khéo, chỉ khi quay mặt đi mới dám nhăn nhó. Đau quá, tưởng người ta không biết đấy.

Bây giờ người trong làng ra thế là đã biết có ông Tư ở Ba Trại về chơi. Gái dùng dằng muốn trở về, lại ngại. Vì có ý, nên ngại. Lại cũng không muốn để bỏ nhỡ buổi chợ. Thế là đích ông Tư rồi. Vả chăng, việc anh giao cho chỉ có thế. Bởi Đề Cụt cũng chưa có dịp nào được tường mặt ông Tư ở Ba Trại. Tin thì có tin, nhưng cứ phải cẩn thận, biết thế nào. Nhưng chẳng phải đến tận cổng làng gặp người quen mới rõ ông Tư mà chỉ một thôi đường Gái đã biết cả chuyện ông Tư chuyện thật thà như đếm. Ông Tư ở Ba Trại dâu gia với nhà ông Xuất Vấn, anh Nghĩa là con trai út ông Tư. Nghe tin chẳng lành, ở xa mới biết, bây giờ ông Tư mới xuống được.

Men qua cái cầu chênh vênh một gióng, sang sông rồi, Gái dừng lại, chắp tay, nói:

- Cháu xin ông cho cháu về. Cháu còn phải đi chợ Canh bây giờ. Lạy ông ạ, lạy anh ạ.

- Cô không vào trong nhà được với bố con tôi a?

- Lạy ông...

Gái nhìn Nghĩa, cười ranh mãnh:

- Sắp đến nhà, anh Nghĩa cũng khỏi đau chân rồi.

Nghĩa nửa ngượng, nửa tức, mặt đỏ gấc. Nhưng chỉ biết cúi xuống, không nói lại được một câu.

Gái đã trở lại bên kia sông. Chợt nhớ, Gái hớt hải quay lại, hỏi to:

- Anh Nghĩa ơi anh Nghĩa, anh ở chơi dưới này còn lâu không?

Không thấy Nghĩa đáp, chỉ có ông Tư nói vọng sang:

- Bảo anh Đề lúc nào thong thả xuống chơi.

Đi lên tận cầu trên, thỉnh thoảng Gái còn dừng bước trông lại. Nhưng ông con ông Tư đã khuất vào bóng tre từ lúc nào. Gái đi, chốc vẫn quay nhìn rồi hình như mủm mỉm cười một mình, rồi lại bước nhanh.

Bố con ông Tư vào đến đầu xóm còn thấy lố nhố người quanh lũy tre. Làng nào, xóm nào cũng đương rào rấp lại cổng rong, bờ lũy - đông như đám chọi gà. Các cụ lọm khọm cũng mải mê ra làm. Việc vua việc quan chẳng bao giờ được người ta gióng giả như thế, chỉ việc làng mới có nhất loạt vậy.

Người trèo lên, hạ những cây tre chết róc đổ nghiêng trên búi xuống. Những cành tre lòa xòa ngang hào nước đã bị đẵn quang hẳn - dù kẻ cướp có lọt được qua lũy cũng không cách vượt nổi hào. Hào sâu, chỉ có cái thúng đi tuần bơi vòng hào, xóm ngoài vun vút vào xóm trong. Cả những lỗ chó chui cũng được rấp lại kỹ lưỡng.

Ông Tư ngả vành nón to tùm hụp, đứng lại, ngắm nghía lũy tre xóm.

Một người nói to:

- Ông Tư xuống chơi kìa. Cái Ngát đâu! Ra đưa ông về!

Có tiếng nói như quát lại:

- Cái Ngát đằng lũy ngoài bờ kia mà.

Quanh lũy tre làng, có một cổng chính, mỗi xóm lại một cổng đồng. Cổng làng Nha xây gạch vồ, trên có chòi gác. Hai cối cánh cửa lim chồng lên hai tảng đá to bằng chân cột đình. Gạch vồ và cánh cổng lim ấy chỉ những dinh thự nhà cao cửa rộng trong thành mới có. Không biết làng này kiếm đâu được cái gỗ quý thế hay đã đi khuân trộm trong thành về. Trộm từ bao giờ, có lẽ từ năm loạn Ngạc Nhe đánh thành Hà Nội.

Hôm Tây hạ thành, vùng ven nội xô vào hôi của, đông kìn kịt. Các làng bên trại lấy được không biết bao nhiêu các thứ. Trong Kẻ Noi khiêng về nguyên cả cỗ kiệu bát cống. Người ta bây giờ còn kể một chuyện thương tâm: một ông ở làng Nha suốt năm suốt đời chỉ có cái khố một, cứ lưỡng lự không biết có nên đóng khố một thế mà vào thành lấy của. Cũng chẳng biết làm thế nào. Sau thấy người ta đi nhiều quá, đâm ngốt, thế là cứ cởi trần đóng khố thế mà đi. Đến lúc vào nhà một ông quan, vớ được chiếc nón chóp bạc và cái áo gấm, đóng luôn bộ áo gấm nón chóp đi ra xúng xính. Qua cửa Bắc, Tây trên thành trông thấy, tưởng quan ta đem quân quan vào đánh nhau, bèn giương súng đòm một phát. Ông ấy thành người chết đường.

Khuân tiệt đồ ăn thức đựng rồi, người ta vác đến gạch, gỗ và đá tảng. Làng Nha cũng như các làng Yên Thái, làng Hồ, cả vùng Bưởi trèo vào thành dỡ gạch các dinh cơ công sở, về xây cổng, xây lũy.

Ông Tư vào làng Nha thường không hay đi cổng chính, - vốn tính kín đáo đã thành thói quen. Cổng đồng mỗi xóm cũng ba lần cánh cổng tán kín bưng. Cổng đồng này để phòng việc gấp vừa đường người và trâu ra làm đồng. Mọi việc vào cổng chính, đám ma cũng từ đầu làng đưa ra qua lũy xuống gốc gạo. Chỉ có trẻ con chết phải chôn lúc chập tối mới chỉ đi đằng cổng đồng.

Từ Phùng xuống, liền những cánh đồng, những khoanh tre, lại cánh đồng, lại khoanh tre khít tới tận đầu ô, làng làng trông ngoài cũng như làng Nha, khó phân biệt được. Như buổi chiều nào cũng giống nhau, trong một vùng ấy, lại thấy từng đàn cò trắng từ dưới đìa bay lên trắng xóa, kêu táo tác trên lũy rồi im dần theo mặt trời lặn, tờ mờ sáng hôm sau cả đàn lại tỏa đi kiếm ăn dưới đìa xa. Đã quen mắt quá, cũng không ai để ý.

Những khoanh tre rì rào lả lướt, nhưng giữa bụi tre gai xù ra như đàn chim tủa lông như bó chông chà. Cả đến những ngày hanh hao, trông vào vườn chuối chỉ thấy xờ xạc vàng mượt, lũy tre vẫn xanh đen. Lũy tre và cánh đồng đi cùng đời sống con người. Người ở đâu trồng tre đấy, người đến đâu đến với cây tre. Cái lều dưới bờ tre đánh dấu chỗ ở. Bờ tre để dấm mọi thứ tre pheo cho người ta được sang năm dựng nhà khang trang hơn.

Cánh đồng, lũy tre, làng này qua làng khác... Đứng ngoài trông vào chỉ thấy rậm rì. Nhưng bên trong chen chúc những đình chùa, xóm mạc, đôi khi, cả cái chợ đổi vai bán con cá mớ tôm ở bờ đầm, ngoài đầu bến. Trong khoanh tre, giang sơn mỗi làng, giặc cướp khó lọt vào được.

Bố con ông Tư đã đến chân tre đầu xóm.

Mọi khi, đây là cổng đồng, trông thông thống ra bờ ruộng đồng cao bên lối đi. Bây giờ bờ tre đã tỏa kín, nhìn kỹ mới nhận ra cổng rong lẫn bờ lũy, cũng đã vàng úa như cả loạt tre đương chết dóc giữa mùa hanh hao.

Không trông thấy ai, chỉ nghe tiếng giật giọng hỏi ra:

- Những người kia đi đâu?

Liền đấy có tiếng hỏi to, mừng rỡ:

- Ông Tư trên Ba Trại đấy phải không?

- Ầu, Tư đây.

Tiếng cười hê hê:

- Đích ông Tư rồi.

- Ông xuống chơi ạ.

Cánh cổng rong bật chốt, mở ra một lối vào vuông gọn như đục dựng ra đứng giữa bức tường xanh. Hai bên làng lũy bây giờ nhộn nhạo tiếng người mà lúc nãy ở ngoài cứ nghe văng vẳng, không biết đích đâu. Bởi thấy người lạ, tất cả đã lặng phắc, giờ mới lại cười nói vang động.

Ông Tư đứng lại.

- Các quan viên xóm ta ra dọn lũy a?

- Thưa ông, vâng.

- Trên kia chúng tôi không làm lũy xóm thế này.

- Thế trên ấy không phải làm lũy?

- Nhà nào cũng có rào, chúng tôi có lũy từng nhà rồi.

Một người, vẻ hiểu biết:

- Trên rừng chả lắm cướp mà.

Ông Tư nói:

- Ngăn con hổ, con trăn, con cáo vào quấy nữa.

- Ối giời ôi nhỉ!

Có người hỏi:

- Nhà nào cũng có lũy, ngộ thằng Tây mà lên trên ấy thì nó phải đánh nhau với từng nhà a?

- Phải thế chứ!

Mấy anh con trai từ trong bờ tre bước ra, chắp tay cung kính:

- Mời ông vào nhà bà cháu ạ.

Có người nhìn quanh quất rồi nói:

- Quái, vừa thấy cái Ngát đây mà. Rõ ràng tao trông thấy nó từ ngoài lũy làng vào.

Rồi gọi:

- Ới Ngát, ra đưa ông Tư về nhà.

Chẳng thấy cô Ngát thưa. Ông Tư đã thuộc đường cứ bước xăm xăm đi. Nghĩa gánh đôi tay nải, lững thững theo. Đến chỗ đông người ra làm lũy đứng nhìn, Nghĩa cố bước không khập khiễng.

Lại những bụi tre, những bụi tre không biết từ đời nào, không ai đánh gộc bao giờ, gốc tre cứ xù xì ra như đống rạ. Lệ làng cấm đào măng ngoài lũy, đến như nhà nào trồng tre bờ rào mà cũng chỉ được bẻ những cái măng lạc. Mỗi năm, vào những ngày đầu hè, tre non tủa lên như chông chà, xanh rợp mắt. Gốc tre từng vừng năm này sang năm khác, chồng lên nhau, cao thành bờ lũy tự nhiên, rìu bổ cũng khó vỡ.

Vẫn thấy những tre là tre. Người đi dưới bóng tre xao xác gió hanh trong búi tre chết dóc đỏ khé cả chòm. Qua đến ba rặng liền nhau mới vào đến đầu xóm. Mỗi lũy tỏa thành một bờ tre quanh xóm. Lại cũng như ngoài lũy làng, cách mỗi bờ tre, có một hào nước rộng nửa con sào, tre lòa xòa xuống mặt nước tù xanh đen. Hai lũy nữa, lớp hào nữa mới tới ao đình. Trên bờ ao có một cây đa cổ thụ. Mỗi ngày, những con trâu đi làm đồng về xuống đầm trong ao rồi lên đứng âm thầm cọ mình, mài nhẵn cả bốn phía những chùm rễ đa xù xì lòng thòng xuống như những mắt võng.

Nhà trong xóm, chỗ sùm sụp, chỗ lác đác. Cũng không khác năm trước. Con đường đi ngang, hai bên mặt ao, đỏng đảnh chiếc cầu tre. Thấp thoáng làn nước bình yên, nhịp cầu ao dưới bóng cây táo nắng lăn tăn trong lá. Cô gái giơ tay víu cành ổi lả xuống che mặt, ý tứ đưa mắt ra đường nhìn khách lạ, chân hờ hững khỏa đám bèo cái giãn loãng mặt nước xanh trong.

Những khoảng vườn có cổng tán kín đáo bên búi tre. Qua vườn tre đến vườn xoan. Bên cổng vào nhà bà Xuất nhô lên bức tường đất thấp, chằng chịt lớp xương rồng già, gai nở lẫn hoa li ti tán vàng như xôi đỗ.

Trong gian nhà ngang, tiếng khung cửi đương có người dệt. Nghe lào thào thoi qua mặt cửi và tiếng chân đòn trong lỗ đạp kêu lạch xạch. Dưới nhà ngang, mấy người đàn bà nạ dòng ngồi quay tơ. Ngoài hiên, hai đứa trẻ đánh “suốt”, ống tơ đẫm nước vỗ bắn quanh như đám mưa bụi.

Cả hai cây cau lùn trước nhà đương ốp buồng. Tàu cau rụng xuống, hoa cau trổ nhánh vàng rượi, thơm ngây ngất một khoảng sân. Khách đến chơi nghĩ giống cau liên phòng này tứ thời, chiêm cũng đâm buồng như cau mùa, quý thật - phải xin cho được giống ấy về ươm. Lại phảng phất đâu mùi hương đen đầm ấm. Vào mùa lạnh lẽo này chắc chỉ hương đen rấm chuối.

Nhưng bước chân lên thềm, trông thấy giữa giường thờ, hai cánh vải sô trắng buông, khói hương tỏa trong màn ra. Bên trong, đặt hai bát hương, một bát chính giữa, một bát cạnh. Hai nải chuối xanh trên đôi mâm bồng ngũ quả sơn then. Lại cảm ngay thấy mùi hương đen bây giờ chỉ có lạnh lẽo.

Ông Tư bước tới trước bàn thờ, không cần để ý biết có ai trong nhà. Tưởng như nếu ông không đến ngay thế, thật là thất lễ với vong linh người chết đương ngồi trên kia. Ông Tư buông cái tay nải nhỏ xuống bên chân cột, xếp bó hương đen lên góc mâm bồng, đứng lùi ra, chắp hai tay, lẩm nhẩm khấn.

Rồi ông Tư bưng một tay lên miệng, cúi mặt, kêu mấy tiếng thật to, hai mắt đỏ hoe:

- Ô hô! Ông ơi! Ô hô! Con ơi!

Nghĩa cũng đặt gánh, ngồi sụp xuống chắp tay vái lên bàn thờ. Bối rối, buồn thương, lo sợ, Nghĩa quên cả chỉ có đàn bà mới ngồi lễ như thế. Bao nhiêu nông nỗi trước sau, Nghĩa không muốn mở hai bàn tay đã úp chặt lên mặt.

Ông Tư lại bưng miệng ô hô khóc viếng lần nữa. Nghĩa ngỡ như tiếng bố gọi mình. Nghĩa cứ ngồi gục mặt, nức nở.

Ở dưới nhà ngang, Ngát chạy lên.

Ngát đến trước mặt ông Tư, Ngát òa khóc. Bấy giờ mọi người trong nhà cũng bỏ khung cửi, bước ra. Ai ở nhà dưới lên cả nhà trên đứng quanh Ngát và bố con ông Tư.

Đấy toàn con cháu trong nhà. Ông em ông Xuất cũng đã mất năm trước. Người em dâu và các con, hai đứa lớn đã có vợ có con nhưng vẫn ở quây quần cùng nhà. Nhiều nhà khác trong xóm cũng ở với nhau tam đại đồng đường như thế. Người ta lấy việc hòa thuận mấy đời một nhà là tốt đẹp.

Ông Tư nhìn ra, rồi nói:

- Đừng khóc nữa, các con ạ.

Nhưng rồi ông Tư nâng ống tay áo lên, lau nước mắt. Ngát mủi lòng, vẫn khóc to.

Từ lúc Ngát và mọi người trong nhà lên trước bàn thờ, Nghĩa chợt nhớ mình bây giờ không phải người vợ về đây khóc chồng, mà cô Trại đương là anh Nghĩa rồi. Nghĩ thế, Nghĩa ngượng. Không dám nhìn lại quần áo, quên cả đau chân, Nghĩa đứng vội dậy, lấy vạt áo chùi mắt.

Ông Tư quay lại, bảo Nghĩa:

- Con dỗ em nín đi.

Ngát ngước mắt, thấy người cầm tay mình là một anh con trai. Ngát im khóc và rụt tay lại.

Ông Tư hỏi:

- Mẹ đi đâu, con?

- Mẹ cháu đi chợ tơ.

- À hôm nay phiên tơ.

Ngát vẫn thút thít khóc, nói:

- Bây giờ đã đứng bóng, chắc mẹ cháu cũng sắp về.

Ngát trạc mười bốn tuổi. Từ khi bố và anh mất, nhà tuy đông, nhưng thực sự chỉ hai mẹ con quanh quẩn với nhau. Tự nhiên, Ngát cảm thấy mình xốc vác khác mọi khi. Mẹ vắng nhà, Ngát biết lo toan, điều mà trước kia chưa bao giờ Ngát nghĩ tới, bây giờ Ngát làm được.

Ngát rụt rè, khẽ hỏi:

- Thưa ông, ông đã thổi cơm chưa để cháu đi thổi.

- Khoan, con ạ. Ông với anh ăn cơm sáng sớm rồi. Ông còn ở chơi, đợi mẹ con về hãy hay.

- Cháu cứ đi thổi cơm đây.

- Khoan đã mà, mặc ông con tao.

Chợt nhớ, ông Tư bảo Ngát:

- Anh Nghĩa này là con trai tao. Tao cho anh Nghĩa xuống ở nhà ta cho vui nhà. Con đương quay tơ, cứ xuống làm đi. Cả nhà ai làm gì cứ làm, để tao đưa anh nó dạo quanh cho biết thông thổ.

Ông Tư và Nghĩa ra sân. Trước mặt, một cái chuôm ao nhỏ có cầu xuống bên gốc khế. Nhà trên năm gian hai chái, hai bên đặt khung cửi. Dưới nhà ngang, gian làm hồ. Đầu bếp đằng kia có cái chuồng trâu cạnh một góc gác lửng để cày bừa. Quanh nhà, um tùm mấy búi tre, lại còn vây kín những cây xương rồng ông làm tường rào dọc bờ ao.

Ông Tư nói:

- Dưới này không nhiều cướp như trên ta. Nhưng ở đây thằng Tây còn ác hơn kẻ cướp. Làng nào cũng phải hào lũy phòng nó, chắc chắn thế đấy. Thằng Tây ở đâu đến ngồi trên cái tàu lênh đênh ngoài sông Cái, mặt mũi xám ngắt, ngô ngọng nói không biết nghe, làm sao nó vào được từng làng từng nhà thế này. Những hào nước ngoài lũy sâu ngập con sào chứ không vừa đâu.

Ông Tư vừa đi vừa giảng giải cho Nghĩa. Nhưng Nghĩa không nhìn, cũng không nghe thấy gì. Nghĩa đương có cảm tưởng chập chờn thật thấy như thế, ở đâu, cạnh gốc cau, dưới nhà ngang, sau bếp, hay vừa ở ngoài cổng tán bước vào, đằng sau bàn thờ che hai cánh màn sô, trước bài vị quấn lá bùa vàng rợn, có một người đàn ông chít khăn lượt thấp thoáng. Không kịp trông rõ mặt, ngươi ấy nhẩn nha ngoài cổng tán lại thoáng sang chỗ tường, bờ rào, lại thoáng đi như từ hôm ở trên Ba Trại. Nước mắt mọng trong mắt, chỗ nào Nghĩa cũng thấy cái bóng ấy. Lạy anh, anh sống khôn chết thiêng, phù hộ độ trì cho cửa nhà được bình yên.

Từ nãy Ngát vào nhà ngang. Thấy ông Tư bảo xuống quay tơ, Ngát cũng không nghĩ ra việc gì khác, Ngát ngồi bên rổ tơ. Dù cố học cho ra người tháo vát, Ngát vẫn còn nguyên cái tính dễ bảo ấy của trẻ con.

Những chiếc rổ tơ đặt đầu hè, cạnh gốc cây táo. Mặt đất loáng thoáng nắng.

Táo còn xanh, nhưng quả đã mẩy, đã tròn mẫm bóng nằm bày trên từng tụm trên lá.

Tiếng cái vầy tơ nhảy lóc cóc. Con tơ ở chiếc vầy ánh vàng lên. Công việc nhẹ nhàng như ngồi chơi. Nghĩa ở nơi rừng sâu ruộng trằm, nghề thổ mộc nặng nhọc. Hai bàn chân ruỗi ra dưới gấu váy và bàn tay, khuôn mặt trắng xanh của người quanh năm ở trong nhà không thể tưởng đấy lại là người làm.

Chốc Ngát lại nhìn ra sân. Ngát vẫn chưa hiểu ông Tư nói cái anh ấy về ở dưới này là thế nào. Anh ấy chỉ phải cái ăn mặc đường ngược, áo dải bê chèo lụng thụng, quần nâu da bò chó cắn gãy răng, còn trông mẽ người ra dáng hơn cả con trai vùng này.

Ngát lại cười thầm mình. Thật thì không phải Ngát mới trông thấy anh ấy từ lúc vào nhà. Ngát đã nhìn ra ông Tư và anh ấy từ lúc hai người mới qua sông ở đầu làng. Lúc ấy, Ngát đương theo người ta ra rào lũy làng ngoài. Nghĩ thế nào, Ngát lẻn chạy trước về nhà.

Nhưng lại chợt nhớ ra một việc - việc chào hỏi mời đón của người lớn, Ngát đứng dậy, vào bếp, đem cái ấm đất, súc bã chè cũ rồi ra chum múc nước.

Ngát lại lên nhà lấy âu trầu. Chỉ một lát, Ngát đã tề chỉnh bày ra giữa chõng tre, bốn chiếc bát đàn uống nước. Nồi chè tươi khói thơm nghi ngút. Trên cơi đặt mấy miếng trầu mới têm và lá trầu không vừa ngắt ngoài dàn vào xếp ngay ngắn với miếng rễ đỏ cắt xếp khéo như vảy cá cạnh quả cau tươi tiện chũm bổ tư.

Ngát ra chắp tay, kính cẩn:

- Mời ông, mời anh xơi trầu.

Ngát rón rén bước theo sau hai người vào nhà.

Rồi Ngát bỗng hỏi Nghĩa, tưởng như câu hỏi bâng quơ.

- Thế còn chị ấy đâu, hả anh?

Nghĩa giật mình, quay lại, nhìn đôi mắt óng ánh tò mò, tinh nghịch của Ngát.

- Chị nào?

- Cái chị lúc qua cầu ngoài đầu làng ấy thôi.

Nghĩa còn đương lúng túng chưa biết đáp thế nào, ông Tư đã nói to:

- À cái Gái em chú Đề Cụt. Nó về đi chợ Canh rồi.

Kỳ tình, Ngát đã biết tỏng đấy là cô Gái.

Bà Xuất về đến ngoài ngõ.

Ngát gọi mẹ, như trẻ con reo:

- Mẹ ơi! Có ông Tư xuống...

Ông Tư ngỡ ngàng nhìn ra.

Thoạt trông, không thể tưởng người đương đi vào, ngả chiếc nón chóp lá đã thâm trên đầu xuống lại là bà Xuất. Nếu không nghe cô Ngát gọi mẹ, cũng chẳng thể đoán nổi. Bà mặc xống áo đàn ông. Bà Xuất cũng ra tướng đàn ông.

Vai đeo cái đãy to, bà bước xăm xăm. Quần xắn đến gối, bụi đường đỏ bay bùn đã khô bám lên ngang bắp chân. Nếu trông dáng mà phỏng chừng, cũng chỉ biết đấy là người đàn ông đứng tuổi. Cái áo kép bạc, một bên vai vá đổi miếng chồi nâu non. Lần khăn đầu rìu bằng vải thâm lộn với mớ tóc bơ phờ hoa râm nhưng vẫn còn đủ lọn để búi chon chỏn một núm sau gáy. Chiếc quần chồi nhuộm vỏ dà đã nhờ nhệch, đũng quần không rách mà đụp thêm một miếng vuông bằng cái quạt nan.

Nhưng đến khi trông nét quai hàm và miệng ăn trầu cắn chỉ, ông Tư nhận ngay ra bà Xuất.

Bà Xuất đặt đãy tơ ngoài đầu hè.

- Ông mới xuống, mời ông ngồi chơi...

Chỉ nói được một câu, nước mắt đã lã chã.

Thế rồi, bà Xuất cứ vừa nghẹn ngào, vừa mời, vừa hỏi: ông ngồi chơi... ông xuống bao giờ... tối hôm qua hai ông con ngủ đâu, đã cơm nước chưa...

Ngát đứng cạnh mẹ. Như để khoe khéo mình vừa têm trầu, đun nước, tươm tất mời khách. Bà Xuất hỏi con gái: trầu mày têm đấy à? Đem bình vôi vào đây. Bà mắng yêu: Têm trầu bao giờ cũng nhạt vôi. Rồi bà lại nói: mời ông xơi miếng trầu... Có lớn mà chẳng có khôn... Cháu chưa biết làm gì đâu... Ông xơi tạm... mời ông... Này... chú...

Hai người đã ngồi vào chõng tre trên thềm.

- Tôi xuống được một lúc lâu rồi. Cháu đã có giầu nước đủ cả. Ngoan quá, chóng nhớn quá.

- Ấy, bé người mà đã biết việc mình phải lo. Lắm lúc nghĩ cũng thương. Tôi thì chạy ngoài, hôm tối đi về không biết thế nào. Đàn bà con gái bây giờ, một bước cũng dễ giẫm phải gai, tôi cứ đem xống áo của ông cháu ra mặc lấy cái vía. Ông đừng cười.

Ông Tư khoát tay lên, nói to:

- Thời tao loạn, cốt sao cho được việc. Bà thế là giỏi.

Không phải là câu ông Tư khen lấy lòng, mà sự thật trong nhà này bấy lâu ông Tư đã biết, làng xóm cũng biết.

Từ xưa tới nay, khi còn sống, ông Xuất quanh năm chỉ có giao du đây đó. Một tay bà Xuất cáng đáng mọi việc nhà. Bà em dâu quá hiền, người trong xóm còn nói bà ấy có hơi đụn. Bà Xuất phải trông nom cả đến các cháu. Có khi ông Xuất đưa về hàng chục người làm khách trong nhà suốt tháng. Ban ngày các ông rủ nhau đi đâu không biết, tối về họp bọn quần thảo luyện võ suốt đêm, bàn bạc suốt đêm đến sang canh, cơm rượu xong vừa tảng sáng, lại kéo đi. Các ông đi đâu, những đâu, bà Xuất không biết, bà Xuất không bao giờ hỏi. Thật thì bà cũng mang máng nhưng cũng cứ như không. Bà chỉ biết chịu thương chịu khó lo toan mọi việc trong nhà cho chồng con. Bà chỉ biết chồng con, nhà cửa.

Bà Xuất kể:

- Dưới này tôi bây giờ ngổn ngang quá, ông ạ. Bố con ông nó thế là đi việc nước cả rồi. Trong nhà chỉ còn hai mẹ con với thím nó và một lũ cháu dại, có nhớn chưa có khôn. Nhà thì vừa việc ruộng vườn vừa canh cửi, đằng nào cũng phải có người chạy chợ, người hồ cháo. Việc trong nhà không như việc đồng còn mùa bận mùa nhàn, lúc nào cũng tối mặt tối ngày. Từ khi thằng cả nó đi việc nước với bố nó, khung cửi đành để trống đấy. Buổi đực buổi cái, nhà đã neo càng neo. Mà trời còn làm tao loạn thế này...

Ông Tư nói:

- Vừa hay, tôi cũng định thưa chuyện với bà. Trước kia cũng như bây giờ, một lời đã dao chém đá. Vợ chồng tôi xin cho thằng cháu út này được về làm dâu con ông bà. Ông đi việc nước thì cũng như ông ở nhà, lúc nào cũng có hai ông con vẫn ngồi kia, trông nhà trông cửa, với con cháu, ông chứng giám cho, xin ông bà nhận cho nó là con ông bà. Nghĩa ơi! Con lại đây. Con lạy bố mẹ đi.

Nghĩa bước lại, thong thả, trang nghiêm, quỳ gối, lạy bà Xuất hai lạy. Quay ra bàn thờ, lại quỳ xuống, cúi lạy. Rồi Nghĩa lùi lại đằng sau, đứng chắp hai tay, im lặng. Bà Xuất ngước nhìn Nghĩa.

Tay bà Xuất run run sờ lên cánh tay Nghĩa mà bà không nhìn ra được. Bà có một cảm tượng lạ lùng, bà không biết đấy là con trai bà hay đấy là con dâu bà. Tấm lòng thủy chung như nhất của ông dâu gia khiến bà xúc động. Bà Xuất gục mặt vào vai Nghĩa. Bà nắm tay Nghĩa, bà gọi: “Con ơi!” Rồi bà kéo Nghĩa bước lại trước giường thờ, bà ngồi sụp xuống, mếu máo vừa vái vừa khấn. “Ông sống khôn chết thiêng, bố con ông sống khôn chết thiêng, phù hộ cho mẹ con tôi”.

Bà Xuất đứng lên, quay lại, gọi Ngát. Tiếng mừng rỡ mà nước mắt cứ lã chã.

- Con ơi! Con ra nhận anh, anh con đây.

Nghĩa bước lại, đặt tay lên cánh tay Ngát, như bà Xuất vừa nắm cánh tay Nghĩa. Bây giờ Ngát không nguẩy đi như lúc nãy, Ngát để yên và rơm rớm nước mắt. Bà Xuất nhìn Ngát và Nghĩa, thấy như tự bao giờ, hai đứa ấy là con mình.

Bà Xuất ngắm nghía. Cái áo cái quần thô cũ, nhưng nét mặt hiền hậu. Bà Xuất cũng nghĩ như Ngát lúc nãy: người vùng này khó lòng ăn đứt được. Răng đen rưng rức hạt na. Nước da mịn, cười má lúm đồng tiền, như con gái. Chỉ mỗi đôi mày rậm mới thật dáng con trai.

Bà Xuất càng cảm kích tấm lòng vợ chồng ông Tư ăn ở chỉn chu. Dẫu cho sự thể đã thế này, người ta nghĩ thế nào cũng được, nhưng ông vẫn đưa con về. Nó về đây, ừ thì con trai hay con dâu cũng một đầu con. Càng nghĩ, lại thương lại mừng. Chữ tín nghĩa trên đồng rừng còn tròn vành vạnh, không như lòng dạ đưa đẩy lèo lá đầu đường xó chợ như dưới này. Từ khi người Tây đến nhiễu nhương, bọn khách buôn coi đồng tiền phân bạc nặng hơn lời nói, tâm địa con người ta bây giờ cũng xoay như con chong chóng.

Mấy hôm sau, một hôm, nhà bà Xuất cho người đi mời họ. Thoạt tiên không ai đoán ra việc gì. Giỗ đầu ông Xuất và anh cả Vấn đã qua, nhưng chưa tới kỳ giỗ hết. Sau mới biết là bà Xuất sửa lễ mời họ nhận con ông Tư trên Ba Trại về làm đầu con.

Bà Xuất chỉ phàn nàn không đứa nào lên Ba Cây Đề gọi anh em nhà Đề Cụt về “cho anh em nó mừng”. Chỉ bởi đã xem được ngày tốt, phải làm lễ gia tiên cho được ngày.

Ông Tư nói:

- Hôm về thế nào tôi cũng ghé nghỉ Ba Cây Đề, tôi bảo cho.

Bà Xuất lại tự nói cho mình yên tâm:

- Chúng nó là con cháu trong nhà, vậy cũng được.

Ông Tư nhớ lại đêm ở hàng Đề Cụt:

- Ngày sinh thời ông nhà, tôi có nghe ông nói đến thằng ấy, mà cũng chưa gặp nó. Xem ra cũng tay đáo để.

Bà Xuất vẫn cắm cúi bổ cau.

- Ông cháu quý anh em nó chẳng khác con đẻ.

Mới đánh tiếng mời họ mà mấy chi đã góp nhau khiêng con lợn hơn mười tháng đang được thịt đến hạ xuống giữa sân. Tiếng lợn eng éc khua trẻ con nháo nhác chạy tới

Từ gà gáy đã có người về làm giúp. Phải treo quang đèn ra đầu giại phía cổng ngăn vào cho tỏ đường xuống bờ ao. Đến sáng ngày ra, ở phản chõng đã có các bà ngồi têm trâu. Các chị đi rút cây rơm, gánh gộc tre về, bắc chõ thổi xôi giữa sân, nhộn nhịp như ngày giỗ họ.

Xế trưa, được chừng chục mâm đã bưng trước lên đặt suốt tầng giá cỗ ngoài hè. Người mang rượu, trầu cau, hương và tiền đến đông nghịt. Khói hương, khói bếp ngào ngạt, mù mịt.

Bà Xuất thay váy áo chồi nâu, ra thắp tuần hương mới.

Ông Tư đứng chắp tay cạnh phản giữa. Các cụ cao tuổi trong họ ngồi một loạt từ gian giữa trở ra, liền mấy mạch chiếu.

Ông Tư lúng túng, cảm động:

- Trình các cụ, ông Xuất cháu với anh cả nó chẳng may thất lộc. Nhưng đi việc nước thì dẫu đi đâu cũng vẫn về nhà về đình về miếu, các cụ ta đã bao đời nay lưu truyền thế. Chúng tôi đã có lời trước xin với ông bà Xuất cháu, thế nào chúng tôi cũng đưa một đứa con về làm đầu con ông bà. Bây giờ, việc dữ mà hóa lành, chúng tôi cho cháu về đây. Từ nay cháu nó là con cái trong nhà, trong họ, mọi điều ăn nhẽ ở nhờ các cụ bảo ban cho.

Cả những người đến làm giúp đương hái rau trên bè ngổ ngoài hào cũng bỏ đấy, chạy lên xem mặt anh con nuôi bà Xuất. Bà Xuất ngồi có Nghĩa và cái Ngát đứng bên. Nhiều người nói nhỏ với nhau: “Chẳng phải mang nặng đẻ đau, thế kia là sướng rồi”. Nghĩa cúi mặt. Đôi lúc chợt ngẩng lên, lần nào cũng tự dưng nhìn vào cái mâm bồng con bày ngũ quả trước bàn thờ. Những nén hương đen, khói lượn trên bát hương. Lá bùa giấy bản chữ son nhạt tô ngoằn ngoèo quấn quanh chiếc đũa tre trước bài vị - bài vị anh ấy. Nghĩ thế, Nghĩa lại bặm môi, cố cầm nước mắt.

Nghe ông Tư nói, nhiều người lặng ngó trân trân rồi, không bận gì mà nước mắt ai cũng cứ rơi xuống.

Mãi sau mới có tiếng thì thào.

- Bụng nghĩ được như ông Tư ở đời chưa dễ đã có mấy ai.

- Trên đường ngược người ta không biết chợ búa, không biết nói hai lời.

- Quý thật.

- Này, con giai mà bộ tịch ngượng nghịu như con gái.

- Hay là con gái?

- Trông tay chân thầy đồ thế mà không phải vừa đâu. Lúc nãy ra làm lợn, mổ đâu gọn đấy, nhanh lắm!

- Chắc cắt tiết Tây phải thạo.

- Còn nói!

Đến khuya, đã vãn khách, chỉ còn những bà con gần đã đến làm giúp cả ngày, bà Xuất dọn hai mâm - có nồi mười cháo nước xuýt, tất cả bắc lên giữa nhà. Ở mâm cỗ vét, ai nấy mới ăn uống cật lực, sau một ngày vất vả.

Ông Tư nhấp ngụm rượu rồi ngồi im lúc lâu. Như định nói gì, lại thôi. Ông Tư nhớ lại lúc náo nhiệt ban ngày. Khác nào cái cảnh đó các lần ông Xuất hội quân các nơi về Ba Trại lấy “hàng” đi, cũng đông thế. Anh em toàn người dưới Thái Bình. Tiếng Sơn Tây đã khó nghe, thế mà giọng Quần Anh, Quần Tín còn nặng hơn. Lần ấy, ông Tư đón về cả mấy tay thợ rèn giỏi ở Thừa Lệnh. Suốt vụ rét, các lò Thừa Lệnh đánh được đến mấy trăm thanh mã tấu. Khách cất hàng và thợ lò gặp nhau, bàn chuyện rèn gươm cả đêm.

Ông Tư hỏi bà Xuất:

- Mấy lâu nay có ai về ta không?

- Ông hỏi thế nào nhỉ?

- Người của ta có thường qua lại như trước kia...

- Vưỡn, ông ạ.

Ông Tư uống cạn chén ấy, rồi mới nói:

- Tôi đã dặn cháu đủ nhẽ. Các con bây giờ nối chí cha anh. Các con phải nối cho được chí của cha anh.

Khuya rồi, nghe tiếng gió ào ào trên lũy tre như sóng đánh.

« Lùi
Tiến »