TỪ SƠN TÂY, đi vào núi Ba Vì, cả ngày đường vẫn chỉ qua một vùng đồi cỏ tranh xõa suốt tận chân núi. Tưởng đến quãng trước mặt thì cạn lối nhưng gạt cỏ ra lại thấy vết chân người đi. Từ bao nhiêu đời, đã có người qua lại rồi lâu dần, thành đường.
Những ai cả đời ro ró không ra khỏi chỗ đường cái chốt Nghệ đầu tỉnh, tưởng đâu có làng xóm trên ấy, đến khi thấy người phía trên xuống chợ mới biết trong chân núi cũng có người ở từ bao giờ.
Quãng này, một phía núi nghiêng lên trước mặt, đến mùa lũ đi xa trông lại còn thấy làn nước thác trắng xóa đổ xuống, lẩn vào khoảng trời xanh trong và dưới kia, triền miên những cánh đồi hoang tràn ra, hầu như đến tận sông Cái ngoài bến Phú Nhi.
Ven các bờ suối trong thung lũng, người Mường ở Lương Sơn về. Từ các cánh rừng lưng núi xuống, người Dao bên Tuyên, Thái mấy ngày đường trèo núi sang. Đầu tiên, đi tìm đất đốt nương, lâu dần, người đến ở hẳn với đồi với ruộng. Phía ngoài Sơn vào, từ ngã ba Suối Hai tới, có nhiều người vùng xuôi lên. Vài năm lại thấy nhấp nhô một quãng đất mới đỏ khé. Trước kia, còn ở rải rác, ruộng đâu nhà đấy, sau các nhà cứ ở gom dần lại trong những khoanh tre quanh từng cánh đồng nhỏ, cạnh những quả đồi trồng chè. Có khi giữa nương sắn lại thấy chon von một nóc nhà. Từ đấy được đặt tên là Ba Trại - cũng không biết thành tên bấy giờ là từ bao giờ.
Gốc gác nhà ông Tư lên Ba Trại dễ thường từ khi vùng này chưa có tên là Ba Trại, cũng như nhiều nhà lưu lạc đến đây. Chẳng ai để ý là Mường, là Dao hay người đường xuôi tới, chỉ biết mỗi con người ở đâu đã phải đưa nhau tới chốn này - đều cùng một cảnh ngộ tha hương, người vì đói khổ, người phải trốn tránh tù tội, biết bao nỗi éo le, bao nhiêu tình cảnh.
Đến đời nhà ông Tư ở Ba Trại đã là đời thứ năm, thứ sáu, không rõ. Con đàn cháu đống sinh sôi thành hai chòm một xóm nhỏ ở sít đầu cánh đồng.
Đất ấm hơi người đã ra nền nếp. Những vườn mít cây to một người ôm, trồng đã mấy mươi năm, lặc lè quả bằng cái chõ đại. Hàng cau liên phòng trước nhà như mành mành buông. Cau tốt chẳng khác những vườn cau xóm nhà sàn người Mường bên kia đồi. Rồi cũng giống mấy làng ở xuôi, trong những khoanh tre âm u che khuất mỗi chòm xóm cũng có đình thờ thần như dưới xuôi. Không có thánh hóa tại chỗ thì thờ vọng. Có chỗ thờ ông bắt ếch núi phải rắn cắn, có nơi thờ người thắt cổ được giờ linh. Cũng không biết từ đời nào truyền lại như thế. Lại có chùa, có đền, có văn chỉ, có miếu thần đất, ngoài đồng xa có mái cầu cho người làm đồng nghỉ trưa trong bóng mát những cây đề, cây trôi cổ thụ.
Ở đâu có đất sống, người ta cũng dựng được cơ ngơi và một tấc đất cũng tần tảo nên miếng cơm ăn. Nhưng dù ở đâu, các cụ đều có một điều mà đời nào cũng đinh ninh. Những người già, trước khi nằm xuống, dặn lại cho con cháu biết quê gốc nhà ta ngày xưa ở xuôi lên. Lời dặn ấy, đã truyền miệng, bây giờ trước khi “đi” lại trối trăng nữa. Người tha hương chỉ có hai bàn tay chịu khó, chí thú làm ăn, không ai biết đến chữ nghĩa và gia phả. (Có lần, làng cũng kén được thầy đồ lên ngồi bảo học. Nhưng chỉ vài tháng, thầy đồ sợ con hùm, sợ nước độc, bỏ về xuôi. Từ đấy thôi).
Lời dặn đã khắc sâu, con cháu phải biết, phải nhớ, phải nói lại. Các cụ quy tiên ngày trước có thể còn dặn dò kỹ lưỡng nữa, họ nhà ta cụ tổ ở mỗ tỉnh, mỗ huyện, mỗ xã, mỗ thôn. Nhưng trải bao đời cho đến bây giờ, các chi họ ở xuôi lên Ba Trại chỉ còn nghe để lại có một câu: gốc họ Lê nhà ta ở phủ Hoài.
Nhà ta ngày trước... Họ ta xưa kia... Cụ tổ nhà ta quê gốc ở...
Cả mấy đời cũng chỉ biết thế. Nhưng thật cũng chưa ai đã lần nào cất công đi tìm. Chưa ai biết phủ Hoài ở đâu dưới xuôi. Chỉ bởi tối ngày, đời cha hết đời con, chẳng cất đầu ra khỏi được cửa rừng. Vẫn chỉ vì miếng ăn. Có điều khác, ở xuôi nhà nào không có tấc đất thì có cơ chết đói, đây của rừng không thiếu, người ta cố nai sức ra cũng kiếm được cái sống trợ thời qua ngày.
Bây giờ, đến vùng Ba Trại, thấy được làng mạc quanh cánh đồng, những nhà Mường gác cao, khách nằm hóng mát kê gối lên cửa sổ trông xuống mảnh ruộng lúa thả cá trước cột sàn, rõ nghĩa câu ví phong lưu: cơm trên, cá dưới. Những nhà Kinh, buổi sớm buổi tối, gà quanh chuồng chen chúc táo tác như ngôi hàng gà giữa buổi chợ.
Không ai ngờ được xưa kia, đất hoang xơ xác, người đến ở lẫn với hổ gấu hươu nai, thế mà con người ta chí thú nên được cơ ngơi nhường ấy. Khác nào, nhà ông Tư bây giờ đã có bát ăn - nhà ông Tư và nhiều nhà trong làng cũng chỉ còn nghe kể lại đời các cụ vì đói khó mà phải lìa quê.
Kể từ đời các cụ mò mẫm lên tới đây, không ai biết, không bao giờ con cháu biết rõ ràng được tại sao. Chỉ đoán bởi tội nghèo. Có thể nghèo vì ốm đau, có thể vì cờ bạc. Không đủ vốn đẽo nổi khung cửi hoặc có sào ruộng đã cầm cố đi rồi. Đành trông vào cái đơm cái đó, cái mai đào rắn, bắt chuột - kế sinh nhai cuối cùng của con người. Cũng vẫn chưa yên. Có năm vỡ đê, trôi mất cả lều vó. Rồi lại giặc dã đâu đâu kéo đến, không biết chỗ nào mà tránh. Con cháu cũng chỉ tưởng đến những nỗi niềm cha ông phải tha phương cầu thực vì thế.
Vài ba năm lại có người lưu lạc đến đây ở làm dân ngụ cư mới. Cái chuyện kể đi kể lại người nào cũng vẫn chỉ chồng chất những giày vò, những đau khổ đói khó đến cùng cực, phải bò lên đường rừng thôi.
***
Ông cụ tổ chi họ Lê phiêu bạt lên đây, xưa kia phải ra đi rồi khuất núi ở Ba Trại đã không bao giờ kể lại chuyện cụ phải bỏ làng như thế nào. Bởi nông nỗi ấy đã là cái khổ, lại còn khổ còn nhục hơn cả cái đói. Không bao giờ muốn kể lể, muốn nhớ.
Đấy là cái hèn, còn nhục hơn cả cái đói, cái hèn chỉ vì đói khó quá không gánh vác được lệ làng mà phải bán xới. Lệ làng! Lệ làng! Đất có thổ công, sông có hà bá, làng có quan làng, có lệ làng... Cả đời người ta no đói cũng chỉ vì lệ làng. Đời cha đời con đời cháu xoay vần, còn lệ làng thì không hề biết đến đời người, vẫn cứ trơ ra như thế.
Trai làng mười tám tuổi bạch đinh, bắt đầu làm tuần phiên hầu làng rồi chạy tiền lên chân cai cờ, cai kiệu được trông coi cai quản đô tùy, khỏi nỗi phu phen. Rồi phải bắt lính, tiếng là lương lính một tháng Hai quan tiền, một phương gạo, nhưng tiền gạo ấy của xóm, của nhà đổ ra nuôi. Lấy đâu mà bù được. Đến khi được tuổi tam tứ tuần, dù cho có rớt mùng tơi cũng phải biết dành dụm, vay mượn, bán sống bán chết lo bữa cỗ trình làng cho lên lình. Rồi năm sáu mươi tuổi chạy lên lão, bảy mươi tuổi lên thượng thọ.
Khi được phúc, có tuổi cao, lại làm thủ từ, làm ông chùm, làm tế chủ. Việc gì cũng phải đắp tiền ra lo khao vọng, tuổi nào cũng đầy những lo. Lệ trọng ấy với tất cả mọi người.
Kể chi những nhà giàu, người chữ nghĩa đỗ đạt được vào hàng tư văn, làm thủ bạ, làm chánh lý - các quan làng đặt ra lệ làng. Lại kể chi những người một chữ cắn đôi không biết nhưng nhà ruộng cả ao liền, được mua hương hào, lý hào, vừa đến tuổi bước chân vào đình đã ngồi chiếu cạp điều. Lệ làng thật nghiêm. Những người nghèo khó cứ cả đời vừa điêu đứng lo sợ cũng vừa ao ước, vừa áy náy, đăm chiêu.
Mới chỉ lo lên lình, lo được ghé đít vào ngồi chiếu mộc ngoài cột đình bắt đầu vào hàng lão ông, nào đã “câu đương” chức dịch gì. Làm sao, chạy đâu tiền nuôi được con bò thờ. Con bò mộng ấy tha hồ lộng hành, lệ như thế.
Bò ăn lúa ruộng nhà ai cũng không dám kêu. Bò vào vườn nhà người ta cứ đi thong dong, không ai đuổi, quơ gì cũng được. Con bò béo mượt, tròn khoáy mông. Đến tháng Một qua Tết cơm mới, bò được ngả thịt mời làng. Các quan viên, các cụ lình lão, các ông “câu đương” chức dịch đi ăn cỗ lên lình. Từ hôm ấy, cả làng không được gọi trống không ông cả, ông hai, mà ai nấy cũng kính gọi ông ấy là ông lình Giáp, ông lình Ất...
Ông nghĩ mà sướng, ông nghĩ mà lo. Không lo được vọng, thì cả đời như con chuồn chuồn lang thang vật vờ ở bờ ao chẳng dám bén mảng chốn đình trung, đi đường không ngẩng được mặt.
Ông tổ chi họ Lê này ngoài bốn mươi tuổi rồi đã nghĩ, biết lo từ thuở trẻ mà bây giờ cũng không đào đâu ra tiền tậu được con bê, con bò. Không biết trông vào ai. Dù có trong họ ngoài hàng, nhưng đã là người nghèo khó thì chỉ có trông vào bơ vơ. Ông cũng không nuôi nổi con lợn thờ. Con lợn thờ phải kén giống ăn cám trộn cháo gạo nếp, nước mía - người cũng chẳng có của ấy đổ vào mồm, nữa là lợn. Quanh năm, ông đóng khố một, kéo vó đánh tôm. Ông chẳng có gì cả. Mà lệ làng như quả núi dựng đứng trước mặt. Hương đảng chi hữu sự lệ. Do triều đình chi hữu pháp kỷ. Làng nước có sự lệ. Cũng như triều đình có luật pháp... Các quan làng hét thế kia mà.
Không biết làm thế nào. Nghìn đời nay làng nước khinh rẻ những người không gánh nổi lệ làng, đến bạc đầu vẫn phải đeo cái tên bố cu, bố hĩm. Sống tủi hổ trong sự khinh bỏ, không thể sống. Chỉ có thắt cổ hay là bỏ làng đi. Bỏ làng! Bỏ làng! Hai tiếng bỏ làng bao nhiêu đau đớn. Làm thế nào bây giờ. Đã sinh ra ở trong làng, làm thế nào thoát được cái sung sướng mà chết người ấy. Trời cho sống được nửa đời người, phải chạy trâu chạy bò chạy lợn cho làng ăn để được lên lình, rồi lên lão, rồi thượng thọ, rồi còn được làm cụ thủ từ giữ đền, giữ đình - đời con người ở làng, ai cũng phải lo để được trải qua. Hết thời trai tráng đứng ngoài giải vũ, thu vén đủ lệ làng, được bước vào trong đình, được ăn “một miếng giữa làng”. Bây giờ đến tuổi vào bậc lên lình, không bước nổi thì làm thế nào. Lại còn đóng góp hàng phe hàng giáp, lại còn chịu phần việc họ lễ chi trên chi dưới. Người nghèo cứ bối rối trong nông nỗi tơ vò ấy đến chết.
Không, ông nghĩ cái lo truyền kiếp ấy đã lâu rồi. Ông sợ. Nhưng ông không buồn phiền phải đến nỗi trẫm mình, phải thắt cổ bờ bụi nào. Rồi ông không sợ nữa. Ông đã định rồi.
Gà gáy một đêm kia, cái ông họ Lê không thể lo được bò lợn trình làng lên lình năm ấy lủi thủi dắt vợ con ra khỏi lũy tre cổng làng. Chẳng một ai trông thấy.
Không biết đã nghe ai mách bảo hay cứ liều bước, cả nhà lênh đênh những đâu rồi trôi dạt lên Sơn, rồi lần mò vào sinh sống ở chân núi Ba Vì.
Đã mấy đời rồi. Bao nhiêu cay đắng vì cái làng ngày trước, thế mà đời nào các cụ cũng dặn lại con cháu: nhà ta xưa kia là người phủ Hoài lên lập nghiệp ở đây. Cả mấy đời cũng chẳng có người biết cầm cái bút lông, chỉ nghe truyền miệng lại thế.
Cũng có người nhớ các cụ đời trước bảo dưới xuôi họ ta làm nghề canh cửi. Còn câu chuyện đói khó không kham nổi lệ làng, phải bỏ làng thì không ai biết. Cụ tổ đầu tiên lên đất này không giối giăng lại chuyện xấu hổ ấy. Thế là quê gốc nhà ta ngày trước ở dưới kia. Khắc khoải, thiết tha thế, nhưng cũng chưa đời nào con cháu đã lần mò đi tìm được.
Cho đến đời bố ông Tư.
Bấy giờ vừa qua vụ gặt tháng Mười, việc đồng áng còn thong thả. Làng xóm chỉ còn đi rừng vác của về lo sưởi Tết. Cụ cố và ông Tư là người con cả xuống tỉnh Sơn.
Năm trước, nhân trong ngày giỗ tổ ở nhà thờ họ, ông cố có nói với các cụ đến góp giỗ nhà chi trưởng:
- Lạy tổ phù hộ, thế nào tôi cũng cất công một lần.
Cả xóm đến bàn đi bàn lại. Có khi cả đêm, câu chuyện càng thấm thía về nơi làng quê ở đâu, chưa ai được trông thấy. Làm như ngày mai bố con ông đã về dưới xuôi ngay không bằng.
Thế rồi chuyến ấy, đi ba ngày đường ròng rã, quanh co rồi bố con hỏi thăm được về phủ Hoài. Đến đâu cũng kể lể như van: “Nghe tổ chúng tôi nói lại làng có nghề dệt lĩnh. Chúng tôi cũng như con cháu các cụ. Con chim lạc đàn, bây giờ tìm về tổ. Các cụ phúc đức bảo cho...”. Lặn lội lần mò rồi cũng về tới được.
Người ngày trước phải bỏ làng đi vì đói, vì không chịu được lệ làng. Bây giờ con cháu chưa hề biết mặt mũi cái làng của cha ông xưa ra sao, thế mà hỏi thăm người ta bảo đến đây là làng Nha, làng này có họ Lê, có nghề dệt lĩnh, ô hay, đã cảm thấy ngay đây là nơi chôn nhau cắt rốn thân thiết dường như đã biết từ lâu rồi.
Bố con ông Tư đứng lại, nhìn lên cây đa bên bờ ao làng. Cây đa cổ quái. Những vè rễ xù xì vắt ngang vin hai gốc cây to thành một, bành ra những tảng rễ cao lởm nhởm.
Bố bảo con:
- Dễ thường cây đa này có từ thời cụ tổ nhà ta còn ở làng. Có khi còn trước nữa. Tốt tươi quá. Thế mà bây giờ vẫn còn. Đất tụ thế này là làng xóm thịnh vượng đây.
Rồi hai mắt ông bố rưng rưng.
Ở làng, cũng chẳng ma nào biết họ ấy ngày xửa ngày xưa lại có một chi lạc lên tận chân núi Ba Vì. Bây giờ, bỗng nhiên thấy có người ở đâu vào hỏi thăm. Những chiếc nón quả bứa lá gồi tết cả núm, chắc chắn, ôm khư khư trước mặt như cái khiên. Cậu con đi theo ông già mặc áo năm thân nhuộm chàm. Tiếng nói lạ tai, nặng trịch. Nghe đến mấy lần mới tường.
Hai ông con hạ xuống hai gánh nặng, những sọt sắn mới dỡ và những quả bầu lọ đựng mật ong. Lại túi mật gấu, túm lá gồi bọc miếng cao hổ - quà đường ngược, của rừng. Chưa ai được rõ ràng những người này ở đâu, câu chuyện còn đang tíu tít dở dang, nhưng cứ nghe nói đây là người làng ta đời trước lạc lên ngược, ai cũng mừng. Hầu như mọi người hôm ấy đều tạt đến nhà thờ họ. Họ Lê không phải là họ to. Lại càng náo nức đổ đến xem mặt “bà con tận đường rừng về nhận họ”.
Không có gia phả ghi lại, nhưng đã có trí nhớ. Các cụ ông, các cụ bà, mỗi người nhớ một ít, chắp lại. Ngày xưa, nghe ông bà kể, nghe cụ cố kể. Họ ta thường có người đi lang bạt. Đời nào cũng có người phải bỏ làng không biết đi những đâu. Chẳng ai biết được ông tổ lên ngược này thuộc chi cánh nào. Mặc dầu, rậm người hơn rậm cỏ, người tìm tông chim tìm tổ, thế này là quý rồi.
Nhà thờ họ làm cái lễ cho bố con ông họ Lê trên đường rừng về được nhận họ. Mươi hôm sau, mấy cụ trong họ cùng lên ngược với bố con ông. Các cụ ra mua bó hương đen ở chợ Bưởi, gói lá chuối khô cẩn thận, đeo vào tay nải.
Nửa tháng sau, các cụ từ Ba Trại về, kể cả năm cũng không biết những chuyện làm ăn xa lạ mà làng Nha chưa ai được biết bao giờ.
Người Mường, người Mán ra chợ, váy áo xanh đỏ, vòng tay vòng cổ lóng lánh như người động tiên đi chơi. Người trên ấy làm đồi làm nương gieo lúa mố không phải cấy mà có cơm ăn, lại kiếm được của rừng, ruộng cũng như ao, thả cá bơi vào đến cổng ngõ, quanh năm no đủ, với tay ra có cá, có gà, có hươu nai, thịt luộc, thịt nướng ê hề, không như dưới ta chỉ trông vào mảnh ruộng chó ỉa với thước cửi đi chợ. Của rừng tha hồ chẳng bao giờ cạn thật. Củ nâu, bó song, mây lăn lóc vứt đi như cục đất, nhưng khuân được về đến Ô Quan Chưởng ngoài Kẻ Chợ nó đã hóa thành đống tiền, thành của. Người trong làng nghe chuyện nơi khác phong lưu, bao giờ cũng thở dài. Dẫu thế nào, thân phận mình vẫn là nghèo hèn, hình như thiên hạ ở đâu cũng hơn mình.
Từ năm ấy, thành lệ, cánh họ Lê làng Nha cứ tháng cuối năm thong thả lên Ba Trại ăn giỗ tổ chi trên ấy rồi năm sau, bà con trên ấy lại về Nha tảo mộ.
Đến đời ông xuất Vấn và ông Tư vẫn đi lại như thế, có phần càng thân hơn. Có năm, cả đám trai trẻ trong xóm không phải người họ cũng nô nức đi. Về kể chuyện uống rượu từng vò, hút rượu bằng cái xe làm bằng sợi mây uốn cong như xe điếu ống. Rồi lại cũng đã quen như thường, cứ tháng Ba tới dịp hội làng, một đám người đường ngược về, cách ăn mặc loi thoi khác người là lượt đất canh cửi, nhưng ai nấy đều quảy nặng trĩu gánh gà trống thiến đuôi dài, mào đỏ rực, rõ ra gà rừng. Có khi hai người khiêng theo một con lợn nái.
Một năm kia, ông Tư về chơi vào vụ gặt tháng Mười vừa xong. Nhà làm ruộng, công việc đồng áng ung dung thong thả từ giờ đến Tết. Ông Tư đi có một mình. Ông quảy một gánh nếp cẩm và đôi gà về làm quà đường ngược. Ông Tư nói nhà bây giờ còn rỗi rãi, ông xuống chơi Kẻ Chợ, có gì sắm Tết nhân thể.
Mấy hôm ông ra Kẻ Chợ rồi về nhà ông Xuất. Có những hôm cả hai ông cùng khăn gói đi Kẻ Chợ. Ông Tư vốn vui chuyện, mỗi lần ông ở trên ngược về, người đến trò chuyện có khi khuya rồi vẫn nghe trong vách tiếng nõ điếu ran tanh tách.
Nửa đêm, trăng đã lặn, càng rét căm căm, mọi người đến chơi từ chập tối đã lản tản ra về. Hai ông vẫn ngồi gật gưỡng hút thuốc lào vặt.
Ông Tư bấy giờ mới hỏi ông Xuất:
- Em ở trên kia nghe dưới Kẻ Chợ ta nhộn nhạo lắm mà về dưới này em thấy chợ búa vẫn đông vui...
Dù đã có tuổi, nhưng khi nói chuyện, ông Tư có thói quen xưng “em” nhún nhường như vậy.
Ông Xuất thở dài:
- Bề ngoài yên đấy thôi.
- Cướp à?
- Thỉnh thoảng, mấy cái tàu Tây ở đâu bơi về đậu ngoài bãi Cơ Xá thả lính Cờ Vàng lên bến kiếm ăn. Nó mua thì ít, mà chỉ thấy đánh người cướp của. Người ta còn đồn là quân nó là quân dò la muốn dắt Tây về cướp cả vùng Kẻ Chợ này. Chẳng biết có thật hay không. Bọn giặc khách Cờ Vàng chẳng là quân thằng Tây Đu Bi nuôi ăn mà. Nhộn nhạo là thế, ông ạ.
- Em nghĩ đứa nào thò lên cướp của hàng phố, ta hè nhau đánh què cẳng cho nó chừa làm càn đi chứ.
- Bác ở trên rừng, bác làm chúa sơn lâm, bác thét thế nào cũng ra lửa chứ bác không biết tình cảnh nông nỗi chúng tôi ở đây. Các quan bên mình thì trăm người cũng như một con cáy, cả lũ ăn hại, chẳng dám làm trò trống gì. Chỉ khi thằng Tây, thằng Cờ Vàng bước đi rồi mới lại cong đuôi lên, còn lúc nó đến thì cụp đuôi xuống, thế thôi.
- Quan hèn, đã có dân, sợ gì ạ.
- Ừ quan hèn thì đành làng nước ta ta phải giữ lấy. Chúng tôi cũng biết như thế. Nhà nào cũng sắp sẵn vài ba thứ phòng thân rồi.
- Cũng như ở trên rừng chúng em đánh con hổ hay đi đuổi con hươu vào lưới, cứ đông người cùng đuổi cùng bắn, hổ hay hươu cũng không thoát được.
Ông Xuất cười:
- Kể ra thì có vài ba cái tàu, mấy thằng Tây, mấy thằng Cờ Vàng, mà mình hàng huyện người thế này, chẳng khác cả xóm các ông ra đuổi con hổ, con hươu thật. Tôi đã nghĩ cứ cả trăm, cả nghìn cái thuyền cùng tủa ra, mỗi thuyền chỉ lao vào xỉa một nhát đinh ba, thì có đến mấy chục tàu Tây cũng phải đắm, huống hồ vài cái... Ngẫm nghĩ các quan bên mình đớn thật.
Câu chuyện lại nói về các vua các quan ươn hèn. Dân nghĩ như thế, vẫy một cái người ta theo lên cả trăm, thế nhưng vua quan còn chạy chọt thậm thọt ký giấy má bán đất. Bán ba tỉnh, bán sáu tỉnh, làm như bán mớ tôm ở chợ Hôm không bằng. Dễ thường có người còn được chấm mút vào đấy. Mà nào nó có để cho yên, vẫn phải chạy loạn thất điên bát đảo. Chưa thấy vua quan thời nào mà chạy như cờ lông công thế.
Hai người bỗng cười ha hả. Tiếng cười rộ lên, rồi ngắt giữa đêm. Không biết cười thật hay cười đời.
Một lúc, ông Tư vào vách, lấy trong tay nải ra một gói dài bọc mấy lần lá dong khô lại buộc lạt chắc chắn như cái bánh tét. Ông Xuất ngồi nhìn ông Tư lặng lẽ bóc mấy lần lá dong giữa chiếu. Thì ra đấy là một thanh mã tấu chuôi gỗ lim hun, dọng dầy mà lưỡi suốt mỏng như nước lấp lánh trong ánh đèn nhấp nhoáng. Các lò dưới xuôi chẳng thể rèn được loại mã tấu tốt thế này. Chắc chém ngọt lắm!
Ông Xuất gãi ngón tay vào lưỡi dao rồi áp con dao lên một bên má, lên trán, cười hê hê, khoái trá.
- Cái này một nhát ngang lưng cũng đứt băng hai người.
- Vâng, em nghĩ có thuyền ta ra đánh tàu Tây phải có cái này trên tay mới được. Chỉ vung lên một cái, nó cũng đủ hoa mắt. Có cái này thì lúc giáp lá cà, súng Tây cũng bằng vứt đi.
- Bác nói chí phải.
Ông Tư thì thào:
- Bác Xuất à, trên chúng em sẵn giống này lắm. Xưa nay dân người ta vốn có phong tục thế, nhà nào cũng phải có đôi ba thứ gác mái bếp để giữ nhà, để kiếm ăn. Cứ độ rỗi rãi mùa màng, chòm xóm lại đụng con bò, đánh cày cuốc, từng hội một, rèn mã tấu, đinh ba xĩa cá, làm dao đi rừng.
- Ở dưới này, các quan tỉnh có lệnh sức cấm nhà nào tàng trữ, cả dao bảy, thùng lùng cũng không được.
- Trên kia thì rừng núi của người ta, cấm chẳng ăn thua.
- Ừ nhỉ!
- Em xin thưa thực với bác, chuyến này em về chơi thăm hai bác, nhân thể em mang về món này bác xem thử. Khi nào động dụng đến, bác cho người lên bảo em một tiếng. Cả trăm con cũng có. Em dám hẹn với bác thế.
- Các cụ linh thiêng run rủi thế nào mà bác lại khéo nghĩ ra vậy?
- Chúng em ở chỗ thâm sơn cùng cốc mà cũng thấy được tình thế nó đã rối như canh hẹ rồi. Thỉnh thoảng em về đây, nghe qua ý tứ câu chuyện, bác chẳng nói với em em cũng hiểu, em cũng vọc vạch những điều bác tính đếm. Không biết có phải thế không, bác bỏ qua cho. Ở đâu bây giờ cũng phải lo nghĩ cả việc của trời đất loạn lạc, bác ạ.
- Trên ấy cũng thế a?
- Ngày ngày chúng em trông về Kẻ Chợ cả thôi.
Bấy giờ ông Xuất mới nói:
- Nghe chừng còn loạn chứ chẳng đã yên được: Trông vào vua quan thì vua hèn quan hèn, còn bọn giặc khách vốn nó là nòi kẻ cướp xưa nay. Cho nên chúng tôi bảo nhau các làng thì biết chạy đi đâu, dẫu trời cho được đỏ da thắm thịt hay lúc trời làm tao loạn, làng xóm nào cũng vẫn một chỗ, cho nên bây giờ chỉ còn có cách làng nào giữ làng ấy, trăm làng như một, mình trông vào thân mình chứ nhờ cậy ai. Chúng tôi bảo nhau mỗi làng mỗi xóm một khoanh tre, sắm mã tấu, giáo mác, người già cho trai tráng chịu khó tập tành, giặc Tây giặc khách mà bén mảng đến à. Làng mình mình thông thuộc chứ ai bằng. Nhất quyết phải làm chúng nó chưa lọt vào được bờ tre cổng làng, đã phải để đầu lại rồi. Nói có bác là anh em trong nhà, làng nào người ta cũng sắp sẵn như thế đấy.
- Thế ra đâu đâu thiên hạ cũng như thế. Lòng trời xui khiến rồi. Cần đến bao nhiêu cái này, bác cứ bảo em.
- Vâng, xin vâng.
Ông Xuất ung dung cầm thanh mã tấu đứng dậy bắt tay phải sang tay trái, xắn hai tay áo rồi xuống tấn, vung lên một đường dao. Trong ánh đèn quang dầu nhập nhòe, lưỡi dao hoa nhoang nhoáng. Con dao nặng mà ông cảm thấy nhẹ thênh. Ngồi xuống, ông Xuất lại gại ngón tay vào mé lưỡi, vỗ vào dọng dao, nói một câu, vẻ mặt thật phớn phở.
- Phúc đức quá! Phúc đức quá!
Ông Tư trầm ngâm một lát, rồi nói:
- Cái chí của ta bây giờ em nghĩ cũng tựa như các cụ ngày xưa đã thế. Ở trên ấy em được nghe trước kia làng Đường Lâm gần Sơn Tây có nhà họ Phùng đánh giặc Đường, khi thắng tràn xuống bao vây đến tận hồ Tây. Thời gần đây có cụ giáo thụ phủ Quốc [12] nổi lên, cũng bôn ba khi Kẻ Chợ, khi Lương Sơn, khi Ba Vì, đời nào thì xuôi ngược cũng một chí ấy cả.
Thế rồi ông Xuất Vấn lên Ba Trại tảo mộ năm ấy, cùng đi có đông trai họ và nhiều cụ có tuổi.
Người đường xuôi, đốt ngọn đèn trên quang treo cũng phải mua mất vài tiền, bây giờ lên đây mới được thấy thế nào là tiền rừng bạc bể. Cái Tết đường ngược rả rích từ khi gặt hái xong, tiếng trâu kẽo kẹt kéo mật suốt từ tháng Mười trở đi. Lá gai mọc hoang trong đồi, bánh gai đen nhánh hạt na, nhà nào cũng đựng hàng chum bánh, ăn qua tháng Giêng chưa hết. Rượu chung nhau nấu cả thạp, đêm đông ngồi đợi uống rượu nóng nước đầu ngay cạnh lò than củi cây đỏ rực...
Người ở đây không mấy khi biết mặt đồng tiền, thế mà cái gì cũng đủ. Có đi chợ la cà chơi thì đi, chứ cả đời không cần chợ, trong nhà vẫn sẵn mọi thứ.
Đúng như ông Tư kể, mỗi chòm vài ba nhà cũng có một lò rèn. Thường ngày, chữa cày, đánh cuốc, làm vòng chân lưới, làm đinh đỉa, chẳng mấy lúc ngớt việc.
Trong bữa rượu đầu năm ở nhà ông Tư, cả xóm la đà, nghiêng ngả.
Ông Tư chắp tay nói:
- Em xin thưa một điều, bà con thể tất cho, cũng thật bụng chúng em như thế từ lâu. Người đồng rừng chúng em nghĩ sao cứ nói vậy. Đi xa rồi phải về gần, đời con người ta là như vậy, chúng em đã xin cho một cháu gái được về làm dâu con nhà bác Xuất đấy ạ.
Một cụ vuốt râu, cười ha hả:
- Các bác đã ăn lời với nhau rồi bây giờ lại để nhà gái trình làng, nhà gái mà trình làng à!
Ông Xuất tủm tỉm cười:
- Bẩm cụ, bác cháu đã thưa là xin các cụ thể tất cho mà... Có nhẽ thế đấy ạ.
Cả mấy cụ cùng cười to:
- Lại còn có nhẽ không nhẽ gì, nhưng mà phải nhà trai có lời trình làng trình họ cả làng cả họ mới bằng lòng.
- Vâng ạ, vâng ạ.
- Ai lại chỉ có nhà gái ngỏ lời, mà lại nói trước. Thời buổi này lắm cái lạ thật.
Một cụ nói to:
- Được, thế là được, làng nước bảo thế là được. Đã vui càng vui.
Thế là hôm ấy cũng như hai họ ăn cỗ chạm ngõ. Rồi còn lễ dạm mặt, lễ hỏi. Thế là việc cưới xin đất Ba Trại đã giản tiện nhiều lắm.
Ông Xuất Vấn tính vốn chu đáo. Nhưng điều ông ưa trước nhất là thấy được trên đất này cơ ngơi nền nếp. Người tứ xứ đến đây lập nghiệp mà xem ra ai cũng sùng bụng. Việc quân mà được chỗ này dựa không còn gì phải lo. Trước tiên, ông thật quý cái thế thủ hiểm. Từ việc ấy mới nghĩ ra đường đi lại. Ở dưới làng, cũng có người gièm: dù cách bao nhiêu đời rồi cũng vẫn họ đồng tông. Nhưng cả hai ông đều nói: Xa lâu, bây giờ gần lại, sum họp càng vui. Nhiều cụ cũng bằng lòng, đã bảo họ mạc “lại càng vui” đấy mà.
Ông Tư Ba Trại có cô con gái út cũng trạc tuổi Vấn - cô lanh lợi, xốc vác lắm, ông Xuất lên đây chơi đã để ý. Làng nước ở nơi bóng núi rừng xanh, người ta khó nhọc phá trời dựng đất mới được miếng ăn, xem ra con người nào cũng khoát đạt, không so đo quanh quẩn như người phường gạo chợ nước sông dưới ta. Ông Xuất càng thiết tha hơn từ khi được ông Tư đưa xem chiếc mã tấu rồi lại cùng nhau than thở nạn nước. Đến hôm lên Ba Trại, vào nhà nào chơi cũng nghe nói chuyện đánh cướp đánh Tây. Ở đây người ta đem việc quốc sự ra bàn cả ở hàng chòm, ở đình cũng được. Có lúc ông hỏi: Không sợ mật thám đi báo Tây à? Người nào cũng cười, nói: Mật thám mà mò được đến đây thì chẳng còn xác mà về được với vợ con... Cả cái ông Tư nhà mình cũng cứ tính chuyện dẹp giặc như chuyện buổi sáng đi làm đồng mà thôi. Ông Tư mà bàn quốc sự, dù cho việc đương rắc rối đến thế nào, ông tính gỡ ra cũng cứ như ngon ơ. Giặc Tây, giặc khách ông ví nó cũng bằng con hươu, con hổ ẩn nấp ở cánh rừng sau nhà. Để yên sinh phúc cho nó được sống thì thôi, nếu muốn bắt, chỉ việc cắp cái súng hay rủ anh em vác lưới đi quây là được ăn. Nghĩ thế, lại càng thấy đất Ba Trại thật nơi dụng võ. Vả chăng, xa cũng là gần, được làm dâu gia thế này, bây giờ thế là đôi nơi một nhà rồi.
Bà Xuất không nói ra, nhưng thoạt đầu cũng có ý không bằng lòng. Bởi ông bà nhà chỉ có một mình cậu Vấn là đầu con trai. Bà vẫn ước được đứa con dâu gần gựa, làng trên chạ dưới. Nhưng bà không nói ra. Rồi về sau nghe ông bàn bạc xa gần thế, bà lại thấy ông định liệu như vậy là phải, mặc dầu trong bụng bà cũng không cắt nghĩa được. Xưa nay, ở trong nhà bao giờ ông cũng quyết đoán, bà chỉ thấy ông phải và khi nào bà cũng làm như ông bảo thế và như thế đã thành thói quen.
Ông Xuất đã ngỏ lời trước với ông Tư rồi. Ông Tư mừng hơn được của, bây giờ có các cụ dưới làng lên đông đủ thế, ông Tư bồng bột hả hê ra mặt. Gả bán con gái đấy mà ông tưởng như chính ông được trở về quê cha đất tổ từ đây.
Tháng Ba năm ấy, hai bố con ông Xuất lên chơi Ba Trại. Đánh tiếng đi chơi, nhưng là ông Xuất đem con trai đi xem mặt vợ. Hai họ tỏ tường cả rồi, chạm ngõ rồi, chú rể mới đi xem mặt. Không sao, Vấn cũng chỉ biết nghe lời bố.
Ở mấy hôm mà Vấn cũng chưa biết vợ là cô nào. Mỗi hôm, từ gà gáy, dưới bếp đã bập bùng ngọn lửa thổi cơm. Rồi trời chưa rạng, trong khi hai ông và cậu cả Vấn ngồi nhà trên, uống cạn nồi nước chè tươi vò nóng sủi lên, thì dưới nhà ngang người nhà đã thắp đuốc ăn cơm sớm, rồi ngoài cổng ngăn tiếng gọi nhau ơi ới, các dõi chuồng trâu buông xuống, người đánh trâu ra đồng đi làm trong làn sương sớm lùa vào trắng mờ chưa trông rõ cổng đồng đâu. Đến lúc đã tang tảng sáng, Vấn theo anh con trai thứ ông Tư ra đầu xóm đốt tổ ong trên cây tràm. Ong kéo đàn đến làm tổ từng dãy như những cái thúng cái trên ngọn cây. Những ngọn bùi nhùi huơ lên, ong về thấy lửa thì sợ, hốt hoảng bay đi. Thế là mọi người trèo tót lên gõ những miếng khoái đầy mật xuống.
Vấn ở dưới xuôi chưa được biết cái thú bắt ong thế bao giờ, cứ mặc cho những con ong bâu đến đốt sưng vù cả trán mà vẫn leo lên. Đêm hôm ấy, nghe tiếng hươu ở rừng xa gộ trong rặng trám ngay nơi vừa bắt tổ ong ban ngày. Có hươu mới về tìm ăn quả trám rụng. Sáng hôm sau, thế là Vấn lại theo cả xóm vào rừng săn hươu. Lưới chăng chặn các ngả. Người đi sục bờ bụi, lên tận nguồn nước, khua mõ cho hươu ở đâu hoảng chạy ra, đâm quàng vào lưới. Con hươu mắc lưới được xả thịt ngay, chia đều cho tất cả những người có mặt trong buổi săn, người gõ mõ, người xua bụi cây, người chăng lưới, người hò reo... Vấn đi theo xem mà cũng được phần một miếng. Đến tận chập tối mới về.
Bấy giờ khói bếp đã tỏa đầu bụi tre. Ở ngõ, một đám mấy cô làm đồng, đi hái dâu về, người gánh lá, người quảy gông cỏ, tíu tít chẳng khác ban sáng. Các cô vào đứng trong cửa nhà ngang, cô áo nâu, cô áo chàm, cô áo hoa cà, cô mặc váy Mường, khăn vuông trắng. Cứ tíu tít lên, cả những cô trong xóm cũng đến ngó nghiêng anh trai đường xuôi đi với bố lên xem mặt vợ. Thế thì làm thế nào Vấn biết được cô nào cô nào.
Tối đến, nhà trong xóm đã lên đèn. Những hàng cau thân trắng kẻ đều như buông mành. Nghe xa có tiếng cồng nổi. Bọn con trai trong xóm lại đến rủ Vấn sang chòm Mường xem đánh cồng ở các xóm Nghê, xóm Úp Bát, xóm Che Tai, mỗi đêm đi nghe cồng lại biết thêm một tên xóm mới.
Cho đến hôm về Vấn cũng chỉ loáng thoáng trông thấy những người con gái đi vào trong sân, xếp quang gánh, vác ống vầu cao như cột nhà, đựng đầy nước, dựng trước cửa bếp - chẳng biết ai là ai.
Ông Xuất cũng không hỏi Vấn thế nào. Mà Vấn cũng thật chưa biết mặt người nào đi ngoài sân là vợ mình. Nhưng Vấn cũng không băn khoăn. Vấn yên tâm một cách bình thản thế là bố mẹ đã hỏi vợ cho. Mai kia, Vấn làm rể trên Ba Trại - Vấn có số lấy vợ người thiên hạ, bọn trai gái làng Nha nói thế và càng chế giễu tợn.
Mỗi năm, tháng Tám tháng Mười, nhà trai sêu Tết nhà gái. Đường xa, đôi bên cùng châm chước, chỉ đi mỗi lần vào dịp cơm mới. Đôi ngỗng, có khi chục chim ngói, mấy vỉ cốm Vòng gói lá sen, hai chục hồng chín bày vừa mâm ngũ quả. Có năm, thằng trưởng con nhà thím hai quảy lên, cùng đi với một lũ trai làng, như đi chơi, như các cậu ấy cũng đi xem mặt, các cậu ấy cũng muốn nhòm ngó tìm vợ ở Ba Trại.
Đến hôm sêu Tết về, mỗi người một gánh nặng. Đôi sọt mới đan xếp lưa thưa một hàng củ nâu. Không người đi đường nào biết được ở dưới lưng sọt, đặt khít từng bọc mã tấu. Trời đã sang thu, mát mẻ. Họ đi như chạy, một ngày đã về qua tỉnh Sơn. Thổi cơm ăn giữa cánh đồng, nghỉ đến lúc trăng lên, lại cất gánh. Vừa sáng về đến làng. Một chuyến lên ngược, được hai công việc.
Năm ấy qua tháng Mười rồi mà không thấy người nhà ông Xuất lên. Mà cả năm cũng không thấy ai lên lần nào. Mọi khi ngày dưng, có khi ông Xuất cũng thường lên. Người làng trên chạ dưới cho là hai ông ấy hợp nhau, vừa dâu gia, vừa tri kỷ, mà không mấy ai để ý, vì ông Xuất vốn giao du rộng. Còn một nhẽ nữa khiến ông Xuất hay lên Ba Trại, ông mê cái lò rèn. Đất này rèn khéo, đủ các thứ mã tấu, đinh ba, giáo mác...
Ông Tư lại đã đưa ông Xuất xuống chơi các lò rèn ở Thừa Lệnh, dưới Bất Bạt. Đất Thừa Lệnh có tiếng làm cày, cả tỉnh Sơn chỉ kén cày Thừa Lệnh. Nhưng Thừa Lệnh còn đánh đại đao khéo không đâu bì. Quân nghĩa tận bên Bắc cũng sang thửa dao Thừa Lệnh.
Ông Xuất cũng đã rao tiếng cho nhiều nơi biết. Mỗi khi có người đến tìm mối, ông lại lên Ba Trại rồi xuống Thừa Lệnh đặt làm hàng “quốc cấm”. Ông già đeo tay nải con con, áo lụa nâu, quần xắn móng lợn, tay cầm chiếc quạt dài bằng tay thước, vừa quạt vừa che nắng, vừa làm gậy phòng thân. Ai không biết ngỡ là được khi thong thả, ông lên chơi nhà dâu gia.
Cho đến cuối năm, cũng không thấy ai dưới Nha lên.
Ngày phiên, ông Tư ra chợ, phiên nào cũng đi. Sốt ruột, đi ngóng. Có bọn gánh dầu dưới tỉnh lên bán, hay kể chuyện dưới ấy.
Ít lâu, nghe dồn dập chuyện đồn Tây hạ thành Hà Nội, lại có tin quan Tây đem quân ra đánh nhau ở ô Cầu Giấy bị quân ta chặt đầu thằng quan ba giữa cổng làng Thủ Lệ.
Phiên nào những người đi chợ đường núi cũng xúm đến dãy hàng dầu dưới Sơn lên, nghe có tin gì mới. Lại chuyện dưới Kẻ Chợ Tây hạ thành, chuyện đánh Tây, nhốn nháo không hiểu thế nào. Ông Tư thật phấp phỏng. Nếu thật có đánh nhau dưới ấy, thế nào mã tấu Ba Trại, đại đao Thừa Lệnh chắc là đã được ra quân trận này.
Nhưng mà không biết ông Xuất thế nào.
Thế là ông Tư đeo khăn gói xuống Nha.
Ông Tư ở Nha về được ít lâu thì một hôm, nhà ông Tư có đông người đến. Như mọi khi nhà có giỗ chạp gì. Trẻ con trong xóm chơi quanh cửa, xúm vào đám mổ lợn ngoài ao xem người lớn ngả mấy cái nia lót lá chuối tươi. Thế mà chỉ một lát đã làm lòng, pha xong cả con lợn nhỡ rồi nồi ba mươi bắc luộc luôn trên bờ nước.
Người ra vào chật ba gian nhà. Các cụ bà áo nâu dài, có cụ bên chòm Mường sang, váy chàm mới, ngồi ngoài phản hè, vừa têm trầu vừa thì thào kể lại những chuyện nghe ngoài chợ: dưới Kẻ Chợ đánh Tây. Mùi hương đen, mùi trầu cau và khói bếp ấm nồng nhà trên nhà dưới. Các cụ ông ngồi tương phản giữa, chưa rượu mà đã nói choang choác. Vẫn lại chuyện đánh Tây dưới Kẻ Chợ.
Cơm cúng đã sửa xong, ông Tư thắp thêm tuần nhang, cầm bầu rót chén rượu cúng rồi đặt cả cái be bên thành mâm, mở sẵn nút lá chuối.
Ngoài rạp, cỗ xong, những chồng mâm gỗ được dỡ ra. Đám con trai và những người đến làm giúp bưng lần lượt từng mâm lên bày suốt ba gian. Từ lúc thắp hương cúng, ông Tư đã thay áo năm thân, mặc tấm áo dài nâu nhuộm vỏ xó, chít khăn lượt. Ông nghiêm nghị ra quỳ giữa phản giữa, chắp hai tay nâng lên ngang trán, mắt đăm đăm, miệng lẩm nhẩm khấn, rồi lẳng lặng một lúc thật lâu mới đứng dậy. Cả nhà im nhìn vào ông Tư. Mặt ông ngước lên. Trong làn khói hương ngào ngạt, ông Tư thì thầm thưa chuyện với ông bà ông vải. Như ông đương khóc trong lòng mà người trần mắt thịt không thể thấy. Như ông đương cầu xin, đương van lạy. Cái lúc lặng im thành kính thiêng liêng ấy, trong nhà chỉ còn có ông với tổ tiên mà thôi.
Rồi ông Tư bước xuống cạnh phản, quay ra, thong thả nói. Ông nghẹn ngào, người ta nghĩ như ông Tư ở đường âm với các cụ vừa về đây, tiếng còn lạc đi, chưa thật.
- Trên có các cụ dưới có bà con anh em, hôm nay tôi có sửa chén rượu nhạt, các cụ đến mừng cho cháu. Tôi đã khấn tổ tiên nội ngoại cho được trình gia tiên, ngày mai tôi cho cháu Trại nó về ở riêng dưới làng.
Ba gian nhà càng im phăng phắc. Nghe thoáng buồng trái bên có tiếng thút thít, tiếng thì thào. Thường ở mọi đám cưới, trong vách buồng cô dâu, đương giữa cỗ bàn đông vui ồn ào, vẫn nghe tiếng thổn thức, trong đám cưới nước mắt cũng như tiếng cười, ai cũng ngỡ là như nhau. Nhưng hôm nay, ở đám cưới cô Trại, nghe tiếng khóc của cô dâu, nhiều bà lấy dải yếm lau nước mắt. Một cụ nhấp chén rượu. Nghe rõ tiếng chôn chén đặt xuống cạnh thành mâm gỗ.
Ông Tư nói:
- Việc vui mừng của con Trại nhà tôi cũng lắm nỗi éo le. Thế nào thì các cụ đã rõ mọi nông nỗi cả. Quê cha đất tổ dưới Nha kia, nhờ phúc tổ mà vợ chồng tôi được làm dâu gia với ông bà Xuất cháu dưới ấy, mấy năm nay đã sêu hỏi, họ hàng đã biết cho, đã mừng cho. Phải khi trời làm đất nước lắm tai nạn, giặc Tây kéo đến nhiễu nhương, chẳng giấu gì các cụ, giấu các cụ thì các cụ đã biết cả rồi, cái hôm Tây đánh ra ô Cầu Giấy, ông con ông Xuất tôi kéo quân đến Cống Vị vào trận, hai ông con ông Xuất đều quy tiên.
Đến đây, ông Tư mắm môi, như giữ tiếng nức lại, nét mặt vạc xuống. Ba gian người ngồi bàng hoàng thở dài - mặc dầu tin bố con ông Xuất chết trận, ai cũng đã biết rõ từ lâu rồi, thế mà bấy giờ có người đứng lên, hai tay ôm cột nhà, cứ im thế, ngẩn ngơ như lo lắng, như sửng sốt.
Ông Tư vẫn nhợt nhạt nói:
- Thôi thì bố con ông ấy đi việc vua việc nước đành một nhẽ. Còn vợ chồng tôi bây giờ ở trên đời này chúng tôi đem chữ tín mà ăn ở cho thuận nghĩa. Ngày mai, tôi cho cháu Trại xuống Nha. Chúng tôi cho cháu về hầu hạ, lo toan gánh vác nhà chồng nó. Việc dựng vợ gả chồng, nhân gian ở đâu cũng vậy, chúng tôi sửa mâm cơm cúng, có chén rượu nhạt, xin các cụ với bà con đánh chữ đại xá, mừng cho chúng tôi.
Mặc nhiên nghe lời ông Tư nói là phải, họ hàng làng xóm đã đến góp mặt chứng kiến. Hoàn cảnh có khác, nhưng đám cưới nào xưa nay vẫn một tục lệ cha mẹ gả bán. Cả làng ái ngại thay cho cảnh cô Trại. Song ai cũng khen ông Tư là người tín nghĩa.
Nửa đêm qua, nửa đêm kia, mấy đêm, ông Tư bảo con gái:
- Con về dưới làng, hầu hạ mẹ chồng, trông nom công việc nhà chồng. Nhà chồng con xưa nay đã tiếng tăm trọng nghĩa khinh tài. Con là gái, nhưng bây giờ con là trai, thời loạn gái cũng là trai, bổn phận con phải nối chí cha ông nhà chồng con.
Ông Tư bỗng nghiêm mặt, nói xa vắng, từng tiếng:
- Con ơi! Bố đã nghĩ kỹ lắm rồi. Con phải là đứa con trai, con là con trai đi gánh vác, đi rửa thù cho nhà chồng con.
Đã mấy đêm, mẹ lủi thủi bên cạnh con như bóng con. Nước mắt lúc nào cũng ướt đẫm dải yếm. Hai chị của Trại lấy chồng làng bên, cả ngày về quấn quít với em. Mẹ sắm cho con tấm quần nái nâu. Trại quấn ngược mái tóc lẫn vào trong làn khăn chàm của người anh mọi khi vẫn đi rừng. Chiếc áo năm thân, Trại mặc vừa vặn.
Ông Tư cười nhệch nhạc như mếu, nói:
- Con ơi! Ăn ở lấy cái nghĩa thủy chung, từ giờ bố đặt tên cho con là Nghĩa, thằng Nghĩa, cái nghĩa thủy chung. Con nhớ lấy.
Trại cúi mặt:
- Vâng, con nhớ.
Rồi hai mẹ con ôm nhau, thổn thức.
Tiếng gà gáy eo óc.
Ông Tư bước ra sân. Trời còn tối đen kịt. Phía chân núi, ngôi sao mai vẫn sáng rời rợi.
- Trời rạng rồi. Ta đi cho được đường, con ạ.
Hai bố con ra khỏi cổng làng. Cả xóm không ai trông thấy. Nhưng các anh các chị trong nhà đã đưa em ra tận ngoài cửa ngăn.
Trại ơi Trại, thế là Trại về nhà chồng. Mẹ đứng đầu ngõ, tay cầm vốc muối, ném theo vào sương mù. Mẹ gửi điềm lành đưa chân con. Rồi mẹ lại chạy theo, nắm chặt tay đứa con gái từ thuở lọt lòng chưa đi xa bao giờ. Cả nhà bịn rịn quanh con bé út nhất. Nhưng không ai khóc.
Con gái lớn thì về nhà chồng. Nỗi niềm thân phận người con gái mỗi người mỗi cuộc đời. Trại đã hiểu từ khi cha mẹ nhận lễ chạm ngõ. Trại biết mình sẽ đi lấy chồng xa. Xóm giềng bảo dưới ấy mới là quê gốc, xa mà gần. Dù sao, cũng là người con gái đi lấy chồng xa. Trại chưa tường mặt chồng thế nào. Cái lần người ta lên “xem mặt”, Trại vẫn đi hái dâu, chiều tối về, không dám bước chân lên nhà trên, cúi mặt đi lẫn lộn với chị em vào nhà ngang trong tiếng cười rúc rích xung quanh rồi chúi vào bếp.
Bố nói rằng bây giờ vì nạn nước mà chồng Trại đã ra đi vì việc nước rồi. Nhưng lời ước hẹn thì bao giờ cũng đinh ninh như vàng như đá. Trại về nhà chồng, lo toan, cho phải đạo vợ chồng, Trại đi gánh vác việc nhà chồng, thay chồng. Trại nghĩ hệt như lời bố dặn. Trại chỉ nghĩ như lời bố dặn.
Những người trong làng, từ ngày trước đã tin vào cái số. Số Trại có khi rồi vất vả. Con gái mà tính gan góc, ương bướng, thường phải mua cái khó nhọc vào mình. Ấy là mọi người nghiệm thế. Chẳng hay hớm đâu thứ đàn bà con gái ngang ngược tai quái. Người ta lại nói thế. Đến bây giờ, làng nước càng đổ cho cái đời cô Trại rồi ra đúng là như vậy.
Chỉ vì một câu chuyện đã xảy ra, độ ấy Trại mới trạc lên mười hai, mười ba. Trại vốn chịu khó, xốc vác, hay làm. Tinh mơ mẹ gọi, vừa trỗi, chỉ quấn xong cái tóc, Trại đã nhào vào việc rồi. Khi mùa cạn, Trại ra mò cá ngoài suối. Hôm ấy cũng thế, trời ít mưa, sông suối đã hiếm nước.
Đêm trước, có hai con hổ ở rừng sâu ra vờn nhau, tay đôi vui chân thế nào dồn nhau ra cửa rừng, quá bước đến sáng rồi vẫn còn luẩn quẩn dưới cánh đồng. Ban ngày, hổ không dám đi qua chỗ đồng trống. Hổ men theo bờ suối, tìm chỗ ẩn.
Trại ngẩng lên, thấy hai con hổ nối đuôi nhau đương đi tới. Trại buộc giỏ vào lưng, rảo bước núp vào bụi rậm cạnh tảng đá.
Hai con hổ cũng chui vào trú chân nép vào chỗ bụi cây có tảng đá ấy.
Suốt ngày, cả nhà, cả xóm đổ đi tìm Trại. Dò khắp các vực sâu xem nó có ngã chết đuối ở đấy. Lúc thấy trong ruộng lỗ chỗ vết chân hổ, ai cũng kêu lên: thế là hổ ra vồ cái Trại, hổ tha vào rừng mất rồi.
Đến lúc trời chạng vạng tối, người đứng trong xóm trông ra chợt thấy hai con hổ chạy ngang ngoài đầu đồng. Cả xóm gõ ninh rồi vác dao vác hỏa mai đổ ra đuổi hổ.
Nhưng chỉ thấy cái Trại lủi thủi đi ra từ phía hai con hổ vừa chạy qua. Chiếc giỏ vẫn đeo đằng lưng. Mấy con cá trong giỏ đã chết khô cong từ bao giờ.
Người ta hỏi mày ở đâu từ sáng?
- Tôi ngồi trên ngách đá có hai con hổ ngồi dưới hang.
- Mày sợ không?
- Tôi chỉ buồn ngủ!
- Hai con hổ lên ăn thịt mày thì mày làm thế nào?
- Xóm Mường bên kia có người đã biết mẹo bóp chết hổ rồi, tôi không sợ.
Ai cũng lè lưỡi lắc đầu:
- Con bé này gan chín mề...
Nhưng người ta lại chép miệng:
- Xưa rày đàn bà con gái to gan lớn mật, dẫu có làm nên công lênh gì cũng không qua khỏi cái gian truân.
Mấy lâu, mẹ Trại cũng thở dài âm thầm mường tượng như thế.
***
Hai bố con mải miết đi trong đường sương buông mù mịt chân núi. Mãi tới lúc mặt trời lên quá ngọn tre đến một con sào mà sương vẫn còn lan đầy chưa tỏ hẳn mặt người và bố con ông Tư chưa ra đến đường cái quan.